Wednesday, February 19, 2014

TIN TỨC THẾ GIỚI

    

Hà Nội: Biểu tình chống TQ nhân kỷ niệm chiến tranh biên giới

Người biểu tình hô khẩu hiệu chống Trung Quốc trong lễ tưởng niệm 35 năm cuộc chiến tranh biên giới, ngày 16/2/2014.
Người biểu tình hô khẩu hiệu chống Trung Quốc trong lễ tưởng niệm 35 năm cuộc chiến tranh biên giới, ngày 16/2/2014.
CỠ CHỮ

Đường phố Bắc Kinh, tháng Giêng năm 2014
Đường phố Bắc Kinh, tháng Giêng năm 2014
AFP
Nghe bài này

Những dấu hiệu khó khăn của nền kinh tế Trung Quốc ngày càng rõ rệt hơn. Nhưng khi nền kinh tế đứng hạng thứ nhì thế giới mà bị suy trầm, hoặc thậm chí hạ cánh nặng nề thì kinh tế thế giới sẽ bị ảnh hưởng ra sao? Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về kịch bản này.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, từ đã lâu trên diễn đàn này, ông nói đến nhiều dự báo không lạc quan về tình hình kinh tế Trung Quốc và nhắc tới những thử thách hay cơ hội cho các nền kinh tế khác. Vừa qua, tập đoàn ngân hàng Société Générale của Pháp lại có một báo cáo công bố tuần trước về kịch bản hạ cánh nặng nề của Trung Quốc với hậu quả bất lợi cho kinh tế toàn cầu, thí dụ như nếu đà tăng trưởng kinh tế xứ này từ hơn 10% mà giảm tới mức 2% thì tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới sẽ mất 1,5 điểm bách phân. Vì sao lại như vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ điều đầu tiên mà chúng ta cần mường tượng ra về Trung Quốc thì phải thấy được nhiều mâu thuẫn quan trọng. Trước hết, đấy là một quốc gia lớn mà lại rất nghèo. Thứ hai, sau hơn ba chục năm tăng trưởng khá ngoạn mục, xứ này đang phải đổi hướng vì những bất toàn trong mô hình phát triển của họ. Thứ ba, vì hệ thống chính trị bên trong, xứ này khó chuyển hướng êm thấm mà có thể sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí rủi ro khủng hoảng và trong giả thuyết ấy, thế giới sẽ lại bị hiệu ứng, cũng đáng ngại như vụ khủng hoảng tại Mỹ năm 2008 hay của khối Euro năm 2010. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về những mâu thuẫn này.
Vũ Hoàng: Vâng thưa ông, đầu tiên thì tại sao Trung Quốc có nền kinh tế đứng hạng nhì thế giới về sản lượng mà lại là một nước cực nghèo?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc là một nước lớn, có lãnh thổ bằng diện tích của Hoa Kỳ mà là một lãnh thổ thiếu hai phương tiện sinh sống căn bản cho con người là đất và nước. Diện tích khả canh của họ chỉ bằng một phần ba của trung bình toàn cầu. Nếu tính theo đầu người của xứ này thì lượng nước ngọt, từ sông hồ đến giếng sâu và nước mưa thì thuộc loại thấp nhất Á Châu, và Á Châu thiếu nước nhất trong các lục địa của thế giới. về địa dư hình thể thì lãnh thổ xứ này là một bao lơn hiểm trở khắc nghiệt vây quanh và nhìn xuống vùng đất tương đối phì nhiêu hơn ở vùng duyên hải. Xưa nay, biển người từ bao lơn ba phía đổ xuống vùng Trung Nguyên đã làm nên lịch sử hợp tan của Trung Quốc.

Một nông dân Trung Quốc tận dụng những mảnh đất để trồng rau, phía sau là dự án nhà cao từng ở An Huy, Trung quốc. AFP
Một nông dân Trung Quốc tận dụng những mảnh đất để trồng rau, phía sau là dự án nhà cao từng ở An Huy, Trung quốc. AFP
Với thực tế ấy, lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc có hơn 30 năm tăng trưởng từ 1979 đến 2009, trung bình là tăng 10% một năm. Từ một xứ có một tỷ 350 triệu người, đà gia tăng ấy quả là đáng kể khiến cho xứ này có sản lượng kinh tế thứ nhì thế giới sau Hoa Kỳ và trước Nhật Bản kể từ năm 2010. Nhưng sự thật thì Trung Quốc vẫn là một nước cực nghèo. Theo thống kê của Bắc Kinh thì chỉ có 60 triệu dân kiếm ra hơn hai vạn đô la một năm; 60 triệu người thì đông thật, mà vẫn chỉ là thiểu số hơn 4% giữa một tỷ 350 triệu. Trong khi ấy, có khoảng 600 triệu người không kiếm ra hai đồng một ngày để sống và có 400 triệu người giàu gấp đôi vì kiếm được từ hai đến bốn đô la một ngày. Vị chi, có một tỷ người Tầu chưa đạt mức lợi tức là bốn đô la một ngày! Thế giới chỉ nói đến một số đại gia tỷ phú ở chung quanh đảng mà quên cả tỷ người bần cùng ấy của Trung Quốc.
Vũ Hoàng: Mâu thuẫn thứ hai mà ông nhắc tới là những bất toàn trong mô hình phát triển của Trung Quốc. Thưa ông, đấy là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc đã có 30 năm tăng trưởng ngoạn mục, chủ yếu là nhờ sức đầu tư rất cao, có lúc lên tới phân nửa của Tổng sản lượng, còn thì thường xuyên cao hơn 40%. Với sức đẩy lớn lao này thì quả nhiên là người ta đạt tốc độ hơn 10%. Nhưng nếu mà xét về phẩm chất hay nội dung thật của tài nguyên được đưa vào sản xuất thì phải nói đến hiện tượng gọi là "sản nhập" vì nhập lượng ở đầu vào lại có giá trị cao hơn xuất lượng ở đầu ra. Lý do của sự thể ngược ngạo ấy là người ta đếm sản lượng ở đầu ra theo trị giá hay giá cả mà cái giá ấy không phản ảnh giá trị hay những hy sinh ở đầu vào. Đây là một khái niệm khá rắc rối về kế toán mà những người làm công tác tuyên truyền hay quảng cáo thường bỏ qua một bên.
Vũ Hoàng: Cũng vì khái niệm kế toán rắc rối ấy, xin ông nhắc lại hoặc đơn cử một thí dụ.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin trước tiên nhắc lại vài phạm trù kế toán với Anh ngữ để thành phần thính giả trẻ đã có kiến thức về kế toán tài chính nắm vững được vấn đề. Sau đó là thí dụ.
Thế giới bên ngoài Trung Quốc chỉ đếm phương tiện đưa vào sản xuất theo mệnh giá hay face value. Người ta đã lầm trị giá (price) với giá trị (value) của nhập lượng (input) rồi kiểm kê xuất lượng (output) để gọi đó là sản lượng (production) mà không khấu trừ nhiều phí tổn (cost) của nhập lượng này. Trong đó có những phí tổn ngầm mà ta phải gọi là "ẩn phí", shadow cost, như phí tổn về môi sinh bị hủy hoại, hoặc phí tổn về thời cơ của tư bản là opportunity cost vì dùng tiền vào chỗ này thì không có cơ hội dùng vào chỗ khác có giá trị hơn.

Một cửa hàng bán máy điều hòa không khí ở Thượng Hải, Trung Quốc. AFP
Một cửa hàng bán máy điều hòa không khí ở Thượng Hải, Trung Quốc. AFP
Thí dụ dễ hiểu ở đây là nhà nước huy động sức tiết kiệm rất cao của dân chúng và trả tiền lời ký thác rất thấp, gần như số âm nếu kể thêm mức lạm phát. Đấy là một hình thái trưng thu hay bóc lột từ gốc. Nguồn tiết kiệm rẻ này lại được hệ thống ngân hàng của nhà nước đưa vào khu vực là doanh nghiệp của nhà nước hay công ty đầu tư của nhà nước ở cấp địa phương, để thực hiện các dự án sau này được kể là sản lượng kinh tế. Một cây cầu hay một nhà máy thép hình thành như vậy và được tính là sản lượng dù có giá trị kinh tế rất thấp. Cầu có hư phải sửa lại và thép có ế mà nằm chất đống thì vẫn cứ được coi là sản xuất. Chả ai tính ra cái mất mát của hiện tượng này.
Vũ Hoàng: Bây giờ bước qua mâu thuẫn thứ ba là vì sao Trung Quốc khó chuyển hướng một cách êm thắm mà lại bị rủi ro hạ cánh nặng nề?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Từ cả chục năm nay, lãnh đạo của Trung Quốc đã thấy vấn đề này, cụ thể nhất là thấy mức đầu tư quá cao so với sức tiêu thụ quá thấp của nền kinh tế, vì vậy, họ đã muốn cải sửa. Thí dụ như trong Kế hoạch Năm năm thứ 11, từ 2006 đến 2011, lãnh đạo đảng đã đề ra yêu cầu nâng cao sức tiêu thụ nội địa, vậy là kết quả lại trái ngược. Năm 2000 thì sức tiêu thụ của tư nhân Trung Quốc ở mức 46% Tổng sản lượng, dù có thấp so với các nước cùng trình độ phát triển thì cũng chưa đến nỗi nào. Nhưng kết quả thì năm 2012, sức tiêu thụ ấy lại sụt tới mức 36% của Tổng sản lượng. sau Đại hội 18 vào cuối năm 2012, việc chuyển hướng lại được Hội nghị kỳ ba nêu ra vào cuối năm ngoái mà chưa biết là có thực hiện được hay chăng?
Vũ Hoàng: Thưa ông, đâu là những lý do cản trở việc cải cách này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin lấy một thí dụ khác liên hệ đến chuyện tiêu thụ lẫn hậu quả cho quốc tế là tỷ giá đồng Nguyên mà họ gọi là Nhân dân tệ Renminbi.
Trung Quốc đầu tư mạnh, sản xuất nhiều và phải xuất khẩu sản phẩm đó cho thế giới. Chế độ duy trì hệ thống ngoại hối có kiểm soát, là ghìm giá đồng bạc thật thấp nếu so với các ngoại tệ mạnh của thế giới như Mỹ kim hay Euro chẳng hạn. Họ muốn là nhờ tỷ giá thấp mà hàng rẻ và dễ bán hơn. Khi bán hàng rồi thì nhà nước thu về ngoại tệ, thí dụ như đồng đô la, và lập được một kho dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, nay lên tới con số tương đương là ba ngàn 800 tỷ đô la. Bối cảnh ấy che giấu sự thật là đồng Nguyên được định giá thấp hơn thực tế, hãy tạm lấy một mức thấp là bằng 10%. Nếu muốn chuyển hướng thì một trong các biện pháp họ nên áp dụng chính là nâng hối suất đồng bạc thêm 10% so với Mỹ kim chẳng hạn. Hậu quả sẽ ra sao?

Công nhân Trung Quốc trong một công xưởng sản xuất máy lạnh.
Công nhân Trung Quốc trong một công xưởng sản xuất máy lạnh.
Hậu quả là công nhân và doanh nghiệp mà góp phần xuất khẩu được một đô la thì sẽ có lợi tức gia tăng được 10% và nhờ đó nâng cao được sức tiêu thụ. Đấy là cái "được" của thành phần sản xuất và sẽ tiếp tay điều chỉnh cơ chế kinh tế lệch lạc hiện nay. Nhưng cái "mất" của biện pháp này là nhà nước bị mất 10% nguồn thu từ ngoại tệ đem về. Thí dụ cho dễ nhớ là mất 10% của khối dự trữ ngoại tệ 3.800 tỷ đô la, tức là mất 380 tỷ đô la. Sự thật thì khi duy trì tỷ giá thấp, Trung Quốc đã mất hàng ngày vì những chênh lệch về xuất nhập khẩu mà chưa bút ghi khoản mất đó. Bây giờ, với biện pháp điều chính tỷ giá thì người dân được 10%, nhà nước hợp thức hoá khoản mất đó. Dù thế giới đã khuyến cáo, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn không muốn như vậy nên người dân không được khoản 10% này và việc điều chỉnh vẫn chưa tiến hành. Lý do ở đây là nhà nước sợ mất tiền bạc và thế lực của mình, dù rằng cái mất đó lại là cái được của người dân.
Vũ Hoàng: Đây mới chỉ là một thí dụ cụ thể về lý do cản trở việc chuyển hướng, hẳn là ông còn thấy nhiều lý do khác nữa chứ?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Một thí dụ khác là Hội nghị Trung ương kỳ ba vào Tháng 11 năm ngoái có để ra việc chuyển 20% dân số từ thôn quê ra các tỉnh thành trong kế hoạch đô thị hóa. Sự chuyển dịch ấy có nghĩa là lương bổng và phúc lợi của người dân từ quê ra tỉnh sẽ được cải tiến và lợi tức gia tăng sẽ nâng mức tiêu thụ của tư nhân trong thị trường nội địa. Nhưng chính quyền tại các thành phố ở địa phương lại không muốn gánh chịu khoản tốn kém ấy mà còn lo gia tăng nguồn thu về thuế khóa nên dồn phương tiện cho các dự án đầu cơ địa ốc. Họ vừa lấy đất của dân vừa lập công ty đầu tư tài chính để vay tiền làm ăn. Khi bị hạn chế và kiểm soát thì họ vay ngoại ngạch, ngoài ngân hàng, trong hệ thống tài chính chui có mức rủi ro rất cao.
Vũ Hoàng: Như vậy, vì rất nhiều nguyên do phức tạp trong nội bộ, Trung Quốc sẽ khó chuyển hướng và nguy cơ hạ cánh nặng nề mới khiến thế giới quan tâm. Khi đó, ta mới tìm hiểu về hiệu ứng Trung Quốc khi nền kinh tế này bị suy thoái trong những năm tới.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trung Quốc là một thị trường nhập khẩu lớn của thế giới, trị giá đến 30% của Tổng sản lượng với rất nhiều nguyên nhiên vật liệu nuôi sống các nước xuất khẩu. Khi kinh tế xứ này bị trì trệ, với tốc độ tăng trưởng dưới 7%, hoặc suy trầm hay suy thoái mạnh, thì lượng hàng nhập khẩu sẽ giảm mạnh và gây thiệt hại cho các nước bán thương phẩm, từ Úc đến Indonesia hay Malaysia và các nước Trung Đông bán dầu khí. Đấy là một lẽ. Nhưng giá thương phẩm sút giảm lại là điều có lợi cho xứ khác vì sẽ giảm phí tổn sản xuất.
Song song, có một khía cạnh còn đáng ngại hơn vậy là Trung Quốc đang có một núi nợ rất lớn và dễ sụp đổ sau khi đã ào ạt bơm tín dụng để kích thích kinh tế. Núi nợ lên tới mười mấy ngàn tỷ dô la, trong đó có nhiều khoản khó đòi và sẽ mất khi sản xuất bị đình trệ. Nếu mà núi nợ này sụp đổ thì nhiều ngân hàng vỡ nợ dây chuyền và hậu quả toàn cầu sẽ còn kinh hoàng hơn những gì đã thấy sau vụ khủng hoảng tại Hoa Kỳ năm 2008 hay tại Âu Châu năm 2010. Người ta nói rằng đây là "đợt sóng thần thứ ba" có thể xảy ra trong những năm tới. Qua một kỳ khác, ta sẽ tìm hiểu thêm về đợt sóng này.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa và hẹn lại một kỳ sau.

Vì sao du khách Việt bỏ trốn khi du lịch nước ngoài?

Hòa Ái, phóng viên RFA
2014-02-19
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
000_Hkg9478885-600.jpg
Du khách tham quan Nhật.
AFP photo


Thông tin cho biết nghiều người Việt Nam đăng ký đi du lịch nước ngoài, và khi đến tại một số nước họ bỏ trốn ở lại tại những nơi đó. Tình hình đó dẫn đến các nước sở tại tỏ ra khó khăn hơn trong việc cấp thị thực nhập cảnh cho du khách Việt Nam.
Trong cuộc trao đổi với báo Tuổi Trẻ, được đăng tải hôm 16/2, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Nguyễn Văn Tuấn cho biết khách du lịch Việt đến một số quốc gia ở Châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Hongkong, Nhật Bản trốn ở lại tìm việc làm hoặc tìm đường sang nước thứ ba có xu hướng gia tăng. Đây được cho là nguyên nhân dẫn đến việc du khách từ VN xin visa du lịch nước ngoài ngày càng khó khăn. Mặc dù Tổng cục Du lịch VN có biện pháp xử lý nặng, rút giấy phép những công ty có du khách bỏ trốn khi đi du lịch nước ngoài nhưng hiện tượng du khách Việt trốn lại vẫn không thuyên giảm.
Vụ việc mới nhất được ghi nhận xảy ra ở Israel hồi đầu tháng 12 năm ngoái. Thông tin từ Đại sứ quán VN ở Israel cho biết có ba đoàn khách với 21 người bỏ trốn, trong đó 4 du khách đã bị phía Israel bắt được và trục xuất về VN. Trả lời câu hỏi của đài RFA có phải hiện tượng du khách Việt bỏ trốn khi đi du lịch nước ngoài ở mức độ đáng lo ngại, ông Thiên Phong, một hướng dẫn viên du lịch, cho biết quan điểm cá nhân của mình:

“Thật ra thì cũng phản ánh một phần nào thôi chứ không phải đúng sự thật. Bởi vì có những trường hợp trốn như trường hợp ở Israel và đương nhiên có một số trường hợp trốn ở Hàn Quốc và đa phần hình như là người ở miền ngoài nhiều hơn ở trong nam. Các tour đi Châu Âu hay Mỹ thì không có tình trạng trốn. Trốn vì có đường dây đưa họ qua đó để lao động”.
Hàn Quốc, quốc gia có nhiều công nhân người Việt ở lại bất hợp pháp sau khi hết hạn hợp đồng xuất khẩu lao động cũng là nơi nhiều du khách Việt chọn trốn lại. Theo số liệu của Hiệp hội Du lịch VN năm 2012, có khoảng 120 ngàn du khách Việt đến Hàn Quốc trong một năm. Tuy nhiên, số liệu người trốn lại quốc gia công nghiệp phát triển ở Đông Á này là bao nhiêu thì không được công bố. Anh Chín, 1 người Việt trốn lại Hàn Quốc 10 năm sau khi mãn hạn hợp đồng lao động, cho biết trong mấy năm gần đây có nhiều người Việt trốn lại bằng cách đi du lịch. Anh Chín nói:
Đa số những người bạn của Quang đều rất thành đạt và có điều kiện về kinh tế ở VN thì họ cũng suy nghĩ sẽ mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ.
- Anh Quang
“Có nhiều, đa số đi du lịch qua rồi trốn luôn. Trốn bằng cách nào thì do có bạn bè hay thân nhân, anh em ở đó rồi. Lúc có visa thì điện thoại trước cho người ở bên đó, báo ngày đến thì ra phi trường đón rồi trốn luôn. Đa số người Việt mình đi đến một nước nào giàu hơn VN mà có thân nhân thì Chín nghĩ họ sẽ trốn lại”.

Với thân phận một người trốn lại Hàn Quốc trong một thập niên, sinh sống và làm việc trong điều kiện bất hợp pháp, anh Chín cho biết nhiều người Việt chọn cách trốn lại vì dù hoàn cảnh sống có khó khăn đến mức nào chăng nữa thì đồng tiền họ cực khổ mang về trong một tháng cũng gấp 10 lần đồng lương trung bình mà họ có thể kiếm được ở VN. Cuộc sống dù lay lắt, bấp bên, không ngày mai, không tương lai, không biết ngày nào bị bắt, bị trục xuất về VN nhưng họ vẫn cố sống ngày nào hay ngày đó, cố gắng làm bất cứ công việc nào mà họ tìm được. Anh Chín nói thêm:
“Khi đã sống quen bên Hàn Quốc thì chuyện đi đứng hay chuyện bắt bớ, cực khổ thì không còn ngại nữa mà người ta chỉ ngại về VN sẽ làm gì. Với đồng tiền dành dụm ít ỏi, làm thì sợ thua lỗ, bị hết tiền. Còn đi làm công nhân thì lương có một triệu mấy, hai triệu”.

Vì lý do kinh tế?

000_SAHK980115163040-250.jpg
Lao động VN ở Hàn Quốc, ảnh minh họa. AFP photo

Có phải chỉ thành phần người lao động ở VN tìm cách trốn lại nước ngoài qua các kênh xuất khẩu lao động hay qua kênh đi du lịch? Theo thông tin từ các công ty du lịch trong nước, trong số 21 người bỏ trốn lại Israel có chức vụ tổng giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng kinh doanh của các công ty. Vì sao những thành phần được cho là thành đạt, có thu nhập ổn định lại cũng tìm cách đi ra nước ngoài? Trả lời báo chí trong nước, ông Nguyễn Tiến Đạt, Giám đốc kinh doanh công ty du lịch Trans Viet Travel, cho rằng nền kinh tế của VN đối mặt với nhiều khó khăn nên một trong những nguyên nhân bỏ trốn của người người giàu có là đi để trốn nợ.
Không thuộc thành phần bỏ trốn, anh Quang, một người thành đạt và có cuộc sống tốt ở Sài Gòn lại quyết định chọn Hoa Kỳ để định cư sau chuyến du lịch đầu tiên của mình đến nơi đây. Anh Quang cho biết anh chắc chắn hài lòng với cuộc sống mới ở một đất nước phát triển vào bậc nhất nhì trên thế giới, điều kiện môi trường sống rất tốt và phù hợp với những người năng động như anh. Anh Quang chia sẻ:
Khi đã sống quen bên Hàn Quốc thì chuyện đi đứng hay chuyện bắt bớ, cực khổ thì không còn ngại nữa mà người ta chỉ ngại về VN sẽ làm gì.
- Anh Chín, Hàn Quốc
“Đa số những người bạn của Quang đều rất thành đạt và có điều kiện về kinh tế ở VN thì họ cũng suy nghĩ sẽ mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ. Và họ cho con cái qua đây đi học vì nền giáo dục ở Mỹ thì không có nơi nào sánh bằng được. Và đặc biệt sự tự do ở Mỹ càng thôi thúc người ta tìm đến đây hơn. Với cá nhân Quang và bạn bè của Quang thì rất thích qua bên này, đang tìm cơ hội qua đây để phát triển”.
Tác động của Công văn số 17 của Tổng cục Du lịch VN và Nghị Định 95 của Chính phủ vừa ban hành trong nổ lực của Nhà nước nhằm ngăn chặn tình trạng người Việt bỏ trốn lại nước ngoài qua kênh du lịch hay kênh xuất khẩu lao động vẫn còn chưa đánh giá được nhưng qua các thông tin trong bài phóng sự này thì nguyên nhân sâu sa ngày càng có nhiều người Việt tìm cách ở lại các quốc gia bên ngoài cố quốc dù bằng bất cứ hình thức hợp pháp hay không hợp pháp là minh chứng cho thấy đối với những thành phần phải bỏ trốn quê nhà VN hiện tại không còn là miền đất lành cho họ nữa.

Nợ xấu VN cao hơn số liệu NHNN 'ba lần'

Cập nhật: 12:53 GMT - thứ tư, 19 tháng 2, 2014 
 

Theo báo cáo mới nhất của hãng đánh giá tín dụng Moody’s, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam ước tính ở mức thấp nhất là 15% tổng tài sản. Con số này cao hơn gấp ba lần số liệu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) công bố vào cuối năm ngoái là 4.7%.

Trao đổi với BBC từ cuối năm ngoái, Moody’s đã tỏ ‎ý không tin tưởng số liệu của Ngân hàng Nhà nước, nhưng phải đến bây giờ họ mới có số liệu ước tính cụ thể.
“Vốn hiện hữu không đủ để bù các khoản lỗ có thể phát sinh từ những yếu huyệt tràn lan trong chất lượng tài sản,” Gene Fang, Phó chủ tịch của Moody’s và là chuyên viên nghiên cứu cao cấp cho biết.
“Thêm vào đó, trong vòng 12-18 tháng tới, sẽ không có nhiều cải thiện đáng kể trong việc huy động để bổ sung vốn.”

Ông Fang cho rằng nhu cầu vay nợ thấp từ khách hàng đã làm giảm mạnh tỷ suất sinh lời của các ngân hàng, khiến cho việc giải quyết những vấn đề tồn đọng càng khó khăn hơn.
Nếu ước tính của Moody’s là chính xác, con số nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam gần bằng với quốc gia đang chìm trong khủng hoảng của Châu Âu là Hy Lạp (17%), và cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan (2.7%), Indonesia (2.1%), hay Trung Quốc (0.9%), theo số liệu của World Bank.

Nhiều tổ chức tài chính quốc tế khác cũng có chung nhận định với ước tính của Moody’s. Rabobank, tập đoàn tài chính-ngân hàng của Hà Lan, cho rằng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam rơi vào khoảng 8-16%.
‘Vấn đề từ gốc’

"Không thể nào lại có ngân hàng trung ương mà để xảy ra hoạt động trong hệ thống ngân hàng thương mại mà chúng ta thấy như thế trong cả 10 năm nay được"
Bùi Kiến Thành, Chuyên gia tài chính
Moody’s tiếp tục đưa ra những cảnh báo về tính thiếu minh bạch trong hệ thống ngân hàng, trong khi đánh giá các chính sách đề ra là chưa hiệu quả.
Những quyết định gần đây, ví dụ như thành lập công ty xử l‎ý nợ xấu VAMC, không trực tiếp giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hệ thống ngân hàng, Moody’s cho biết.
Trong một cuộc phỏng vấn với BBC mới đây, chuyên gia tài chính tế Bùi Kiến Thành cho rằng Ngân hàng Nhà nước đã ‘không nghiêm túc’ và ‘thiếu trách nhiệm’ trong việc giải quyết các bất cập của hệ thống.
Bình luận sau phán quyết của tòa về qui trách nhiệm cá nhân thay vì trách nhiệm ngân hàng với lập luận là ngân hàng “không biết” [hoạt động lừa đảo], ông Thành nói "quản lý ngân hàng ở Việt Nam nó có vấn đề từ gốc của nó chứ không phải là một trường hợp riêng lẻ."
“Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đang hoạt động ngoài vòng pháp luật, không tôn trọng điều khoản của luật về vấn đề lãi trần cho vay, vân vân.
"Mọi chuyện rất đáng trách, NHNN ở đâu mà không xử lý các việc vi phạm của cả hệ thống ngân hàng như thế? Đưa đến nợ xấu tràn lan, chiếm tới 15%-17% tổng dư nợ là như thế nào? Đồng thời tạo điều kiện để giết chết hàng vạn, hàng chục vạn doanh nghiệp với lãi suất độc hại hai mươi mấy phần trăm là như thế nào?
"Tức là anh có biết rõ trách nhiệm và quyền hạn của một ngân hàng trung ương hay không? Hay là anh không biết? Không thể nào lại có ngân hàng trung ương mà để xảy ra hoạt động trong hệ thống ngân hàng thương mại mà chúng ta thấy như thế trong cả 10 năm nay được.

"Do vậy quản lý ngân hàng ở Việt Nam nó có vấn đề từ gốc của nó chứ không phải là một trường hợp riêng lẻ", ông Thành nói thêm.
Trong báo cáo kể trên, Moody’s đánh giá cao sự ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam và cho rằng các biện pháp của chính phủ sẽ có tác động tích cực trong khoảng hai đến ba năm tới. Tuy vậy, triển vọng của hãng này về hệ thống ngân hàng vẫn ở mức tiêu cực.



No comments: