Saturday, February 15, 2014

HOA ĐÀO

 

1.Nhà văn Đào Tuấn: Hoa đào biên viễn
Tháng 2 năm nay (2014), những cây đào Tổng Chúp, Hưng Đạo, Cao Bằng bỗng dưng đỏ loét trong cái nắng trái mùa. Trên đồn biên phòng Pha Long, Lào Cai, thật lạ, chỉ duy nhất một gốc đào đơm hoa. Còn ở pháo đài Đồng Đăng, Lạng Sơn, những cây đào khoe sắc vô duyên bên nền đá xám xịt và lau lách tùm lum của một pháo đài hoang phế đã đi vào quên lãng.

Trong ngôi nhà nhỏ ở dốc cầu Nà Rụa, phường Tân An, Cao Bằng, bà Nguyễn Thị Quỳ cũng có một cành đào nhỏ trước ban thờ chồng, người 35 năm trước bất đắc dĩ trở thành “tù binh chiến tranh”. Câu chuyện liên tục ngắt quãng khi đôi vai của người phụ nữ nhỏ nhắn run lên bần bật trước những hồi ức từ 35 năm trước. Chiến tranh đã lấy đi của bà một đứa con. Và sau 35 năm, vết thương ấy chưa bao giờ lành khi hàng đêm, hình ảnh đứa nhỏ tím tái chết trong mưa lạnh vẫn ùa về như một nỗi kinh hoàng không bao giờ phai nhạt.

Sáng 17.2.1979, trời rất mù và lạnh. Từ thị trấn Nước Hai, bà Quỳ chỉ còn biết cắm đầu cắm cổ chạy loạn khi tiếng pháo của lính Trung Quốc “như bom Mỹ rải thảm” khắp nơi. Bệnh viện Hòa An bị đánh sập, người sản phụ khốn khổ đang mang thai đến tháng thứ 9 chỉ còn biết vác bụng lặc lè để chạy. “Cô chạy vào núi đá Mỏ Hách. Rồi từ Mỏ Hách chạy sang Đại Tiến. Chạy ngược với tiếng pháo”. Đám người chạy loạn bị lính Trung Quốc phát hiện, truy đuổi, và lại tứ tán khắp nơi. “Chúng nó đông lắm cháu ơi! Đâu đâu cũng thấy lính Trung Quốc”.

Trong gần một tuần lễ trốn trên động đá, bà Quỳ đau đẻ trong cái đói, trong cái rét, trong trời mưa lạnh, trong tối tăm mò mẫm. Không một hạt gạo mang theo. Không một tấm chăn. Cả đám người đói khát, rét mướt và lo sợ đến hoảng loạn. Chỉ ngay phía dưới, lính Trung Quốc đông lúc nhúc, vây hãm khắp nơi. Những con người khốn khổ lấy nước bằng cách hứng từ giọt gianh trong một tấm nilon rộng chừng 2 bàn tay. Ăn tất cả những gì mà ban đêm mấy người đàn ông mò mẫm được từ bờ cây, gốc sắn… ngay sát nơi lính Trung Quốc dựng trại.

Đến hôm đau đẻ, bà được đồng bào gom cho thìa đường cuối cùng, hòa với vốc nước “để có sức mà đẻ”. Đứa con đầu lòng được sinh ra trong hang đá nhưng 3 hôm sau thì qua đời. Bia thảm sát tại Tổng Chúp, Hưng Đạo, Hòa An, Cao Bằng. Bà Hậu, một người dân Tổng Chúc xưa từng cắp con chạy loạn bảo rằng: Bà không thể quên những ngày tháng 2 năm ấy. “Cô sinh cháu và gói trong một chiếc áo. Và rồi đó cũng là chiếc áo liệm”- người cựu binh chống Mỹ khốn khổ đưa tay lên dụi mắt. Những giọt nước mắt mờ đục lăn dài trên khuôn mặt “một ngàn nếp nhăn” tưởng chừng đã không còn có thể đau khổ được nữa: “Lúc đó cô yếu quá, bỏ mấy đồng nhờ một ông già mang cháu đi. Chắc vứt nó ở một đâu đó”.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó. Đêm ngày 25.2, người chồng nửa đêm đi kiếm ước uống bị sa vào tay lính Trung Quốc. Ông bị giam giữ cho đến ngày 3.6 và từ sau đó, những đồng nghiệp của ông ở Ty Thể thao Cao Bằng cho biết ông bỗng dưng có thói quen ăn cơm với nước lã. Còn bà Quỳ, quãng thời gian trong động đá và cái chết bi thảm của đứa con đầu lòng khiến bà trở nên trầm uất suốt 3 tháng. Tuyến sữa viêm tắc khiến sau đó người phụ nữ khốn khổ phải cắt đi một bên ngực.
35 năm, bằng đấy thời gian chưa đủ để bà Quỳ quên đi hình ảnh đứa con đầu lòng chết tím tái. “Đau xót lắm cháu ơi. Cô đi cúng, Thầy bảo nó không có nhà, lang thang ở một gốc cây nào đó”…(hết trích).

2.Khi giặc đến nhà
Ngày 17.2.1979, Trung Quốc đã dùng một lực lượng quân sự chính quy lên tới 60 vạn quân tấn công Việt Nam trên khắp chiều dài 1.200 km biên giới 6 tỉnh phía Bắc. Cao Bằng chính là một trong những trọng điểm đánh phá của quân đoàn 41A với sự tham gia của xe tăng và pháo binh. Theo nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12.2005, cuộc tấn công của Trung Quốc phụ thuộc phần lớn vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.

Nhưng hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng. Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó khăn lớn. Việc đi chậm khiến Xu Shiyou, lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở mạn phía đông và nam.

Trong một bài phát biểu được nhà nghiên cứu Dương Danh Hy dịch ra tiếng Việt ít năm trước, nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Đặng Tiểu Bình đã xác nhận đó là cuộc chiến "giết gà đã phải dùng dao mổ trâu". Cụ thể “vũ khí, quân số đều gấp mấy lần Việt Nam. Chiến đấu ở Cao Bằng chí ít là năm đánh một, sáu đánh một, chiến đấu ở Lạng Sơn, Lào Cai cũng đều gấp mấy lần, thậm chí sáu đánh một, bảy đánh một”.

Trang mạng quân sự milchina.com của Trung Quốc 3 năm trước đã cho đăng thư của một cựu chiến binh Trung Quốc từng tham gia chiến tranh biên giới 1979 phần nào giải thích lý do: "Mục đích của cuộc chiến tranh này là tàn phá, hủy hoại quốc lực của Việt Nam chứ không phải là chiếm lĩnh lãnh thổ, nên sau hai ngày đánh nhau, lính tham chiến bắt đầu chấp hành mệnh lệnh bán chính thức là “không bắt tù binh”, “không để lại cho Việt Nam một lá cây ngọn cỏ”...(hết trích).

(Nguyễn Trãi cách đây hơn 5 thế kỷ đã phẫn nộ lên án quân xâm lược nhà Minh phương Bắc: Tội ác của chúng quả là "trúc rừng không ghi hết tội, nước biển không rửa sạch mùi")
Phần 3: Bia trấn ải - nơi tổ quốc được tô màu đỏ
Từ 35 năm nay, vào dịp tháng 2 mỗi năm, Đại tá Triệu Quang Điện, trưởng Phòng Cảnh sát truy nã Công an tỉnh Lạng Sơn đều đến đền Mẫu để thắp hương cho đồng đội của mình. 35 năm, thời gian chưa đủ để ông quên đi bữa cháo nếp cuối cùng. 35 năm, ông vẫn nhớ như in hình ảnh của những người đồng đội trong tổ tam tam: Những Trần Văn Thái. Những Vi Văn Cao.

Năm đó, binh nhì Triệu Quang Điện vừa cưới vợ được 4 tháng, cũng vừa qua khóa huấn luyện 4 tháng ở Đông Khê, trở lại Lạng Sơn vào đúng buổi chiều ngày 16, khi phía Trung Quốc cho người đuổi trâu dò phá những bãi mìn biên giới. 5h sáng, khi pháo bắn cấp tập vào Đồng Đăng, ông cùng hai người đồng đội trong tổ thậm chí còn chưa kịp ăn nồi cháo gạo nếp đã đặt trên bếp để vội vã xách súng lên chốt ngay tại khu vực Đền Mẫu, pháo đài Đồng Đăng. Tới 7h, sương còn chưa tan thì lính Trung Quốc đã kéo sang khắp nơi. Ba người kê súng bắn. Ông Điện, giữ súng trung liên bắn suốt 1 giờ đồng hồ. “Hồi huấn luyện, tôi bắn bia được 3 điểm 9 - ông Điện nhớ lại - nhưng hôm đó, lính Trung Quốc lên quá đông, có lẽ là không cần bắn giỏi cũng có thể trúng”. Riêng tại chốt Đền Mẫu, binh nhì  Điện đã tiêu diệt tới 30 lính Trung Quốc.

Lính Trung Quốc cứ theo tiếng kèn lớp lớp xông lên. Bị hắt ngược trở lại, rồi lại xông lên. Trong một thời khắc, khi ông vừa nhảy xuống hào thay đạn thì chỉ nghe “bầm”. Ngoảnh lại, nơi 2 người đồng đội nằm chỉ còn lại một hố pháo đen xì. Không còn chút vết tích. Tới 10h, xe tăng Trung Quốc đã tràn ngập khắp nơi. Pháo binh Trung Quốc nã đạn vào pháo đài trong suốt nửa ngày 18. Bấy giờ trong hang Đền Mẫu, ngay phía dưới chốt của ông Điện có tới 300 - 400 dân tới tránh pháo.

Đến tối 18, đơn vị ông nhận được phương án đưa dân trong hang ra. Và chỉ trong một đêm, binh nhì Triệu Quang Điện trực tiếp đưa dân, ra ra vào vào 3 lần để cõng được ra 3 người đồng đội bị thương nặng.
Ít năm sau đó, khi gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong một buổi lễ, ông thậm chí không trả lời được vì sao chỉ trong 1 đêm, với quãng đường 17km, một người chỉ nặng chưa tới 49kg đã 3 lần bò vào cõng đồng đội bị thương ra nơi an toàn.
Chúng tôi theo lối mòn trèo lên pháo đài Đồng Đăng, nơi bị đánh phá ác liệt nhất trong cuộc chiến biên giới.

Vào ngày 17.2.1979, 2 sư đoàn bộ binh Trung Quốc dưới sự hỗ trợ của 1 trung đoàn xe tăng và 6 trung đoàn pháo binh đã tấn công ác liệt nơi này. Trong cuốn Lịch sử sư đoàn 3 Sao Vàng còn ghi rõ: Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh và nhân dân tới đây trú ẩn.

Tháng 2 năm nay (2014) , pháo đài trở nên cô đơn, trơ trọi giữa sự náo nhiệt của lễ hội Đền Mẫu.
Hoặc như ở chính cái nơi mà lính Trung Quốc xả súng vào chiếc xe cứu thương 12A 04-35 của bệnh viện Lạng Sơn đi Đồng Đăng cứu nhân dân bị thương, giết chết cả người lái xe, cả BS Nguyễn Thu Thủy, y tá Trịnh Thị Sâm, giờ một con đường mới đã được mở ra dập dìu xe cộ, hàng hóa thông thương qua cửa khẩu Hữu Nghị.

Ở Tổng Chúp có tấm bia ghi bại vụ thảm sát này. Tấm bia giờ vẫn còn sau 35 năm, dù chiếc giếng cạn, nơi năm xưa chứa đầy xác phụ nữ, trẻ em bị hành quyết bằng rìu bổ củi giờ đã lấp đầy cây lá.
Quá khứ không dễ quên. Nhất là khi đó là những gì đau thương nhất. Cho dù theo thời gian, những nhân chứng chiến tranh giờ đã lần lượt ra đi. Ông Hoàng A Tỉn, nhân chứng thảm sát trong sân Bách hóa tổng hợp Bát Xát đã mất 2 năm trước.
Đến Tổng Chúp, lại nghe tin ông Nông Văn Ất, nguyên trưởng trại giống Đức Chính, người đã mất vợ và 4 đứa con trong vụ thảm sát Tổng Chúp giờ cũng không còn.

Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long
Nhưng cũng có những tấm bia trấn ải mới được dựng lên. Ngay bên tay phải đồn biên phòng tiền tiêu Pha Long, Mường Khương, Lào Cai, có những dòng chữ mới, được in trên bia đá:
Nguyên Thần Bổn Mệnh giữ núi non / Nam Sơn bốn cõi tựa sách trời định. Thiên thiên nhật nguyệt linh linh ứng / Tuyệt tuyệt long phụng báo quốc an / Bình nhất hà Việt Nam Quốc thổ.
Thạc sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh dịch: "Nguyên Thần được giao sứ mệnh giữ núi non. Núi nam bốn cõi đã quy định trong sách trời. Nghìn nghìn mặt trời, mặt trăng linh thiêng và ứng nghiệm (điều đó). (Có) rồng phượng tuyệt vời bảo vệ an nguy tổ quốc. Đất Việt Nam yên bình nhất là ở đây".
Thiếu tá Phan Đức Mạnh, chính trị viên đồn Pha Long cho biết tấm bia trấn ải vừa được dựng hồi tháng 5, đúng vào điểm đối diện đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Bên này từng hàng, từng hàng tên tuổi của 37 liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc được khắc chìm trong đá xám. Năm ấy, những chiến sĩ công an vũ trang còn trẻ măng đã đánh đến viên đạn cuối cùng, đã đâm gẫy đến chiếc lưỡi lê cuối cùng để bảo vệ tổ quốc.
Ngày 17.2.1979, sau khi bắn viên đạn cuối cùng, một người lính Pha Long đã gửi bức điện cuối cùng về hậu phương. Và cũng chỉ vài chữ, đại ý: Chúng tôi hết đạn. Xin Vĩnh biệt.
Chợt nhớ đến những câu thơ Vương Trọng: "Mắt rưng rưng, dò đọc từng dòng / Gặp điệp khúc Tháng Hai năm Bảy chín / Lời vĩnh biệt nhói trời Pha Long...Đến lúc này tôi mới hiểu ra / Vì sao đường Biên giới bản đồ / Của Tổ quốc được tô màu đỏ!..".
Năm nay, chỉ duy nhất một, trong số gần bảy chục gốc đào ở Pha Long đơm hoa. 
Không xa Pha Long là điểm cao Tả Ngải Chồ, nơi một đồng nghiệp của chúng tôi, nhà báo, anh hùng liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết đã tay bút tay súng hy sinh vào ngày 17.2.1979.
Có lẽ, chính những người lính biên phòng, chính những nhà báo liệt sĩ, chính nhân dân anh hùng, những người đã ngã xuống từ cả ngàn năm nay, những người đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc năm 1979 mới là những tấm “bia trấn ải” thiêng liêng nhất mà mỗi người làm báo chúng tôi cần phải nhắc lại để thế hệ con cháu còn có được cảm xúc thiêng liêng, tự hào khi nhắc đến hai chữ “Tổ Quốc”. (Source: Blog quechoa)

Chú thích thêm: 
(i) BBC (13-2-14): 
Báo điện tử "Một Thế Giới" phải gỡ loạt bài kỷ niệm 35 năm chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc chỉ vài giờ sau khi đăng tải. Trong khi đó, lãnh đạo ngành tuyên giáo bác bỏ liên quan với lý do "không biết việc này".
Chiều thứ Tư 12/2, báo mạng mới thành lập của Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam đăng chùm phóng sự của nhà báo Đào Tuấn về sự kiện xảy ra ngày 17/2/1979. Loạt phóng sự này gồm ba phần có tựa đề "Biên giới, hồi ức 35 năm", "Đồng chí với nhau, ai nghĩ sẽ đánh nhau" và "Bia trấn ải - nơi tổ quốc được tô màu đỏ"; với nhiều phỏng vấn các nhân chứng của cuộc chiến biên giới ngắn ngủi nhưng khốc liệt. Cạnh đó, Một thế giới cũng đăng bài viết "Phút bi tráng ở Pò Hèn" của Ngọc Uyên, nói về cuộc chiến đấu của cán bộ, chiến sỹ Đồn biên phòng Pò Hèn, xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái (Quảng Ninh), với quân Trung Quốc vào rạng sáng 17/2/1979, trong đó toàn bộ 45 chiến sỹ biên phòng Việt Nam đã hy sinh.

Tuy nhiên, chỉ vài giờ sau đó, các bài viết này đã bị gỡ bỏ và nay khi truy cập, người đọc chỉ thấy dòng chữ báo lỗi "Không tìm thấy trang".
Còn ba ngày nữa là đúng 35 năm ngày quân đội Trung Quốc tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam trong chiến dịch mà lãnh đạo Trung Quốc khi đó, Đặng Tiểu Bình, gọi là "dạy cho Việt Nam một bài học". Cho tới giờ, cuộc chiến biên giới 1979 vẫn không được ghi nhận trong sách giáo khoa lịch sử và gần như không được nhắc tới trong báo chí chính thống.

Hôm 11/2, báo Lao Động đăng phỏng vấn với thành viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Giáo sư Vũ Minh Giang, nói hội này dự tính sẽ có lễ tưởng niệm cuộc chiến biên giới. GS Giang cho hay lễ tưởng niệm dự kiến sẽ được tổ chức gắn với một hội thảo khoa học về chủ đề này. Ông cũng nói theo lệnh của Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN, trong quá trình biên soạn bộ lịch sử Việt Nam, cuộc chiến 1979 sẽ không bị bỏ qua.

Ông nói: "Tới đây, các sự kiện như Hoàng Sa, Trường Sa bị đánh chiếm, hay việc Trung Quốc đưa quân đánh Việt Nam năm 1979 cũng sẽ được đưa vào sách giáo khoa lịch sử. Nếu chúng ta không nói gì sẽ là mảnh đất màu mỡ cho xuyên tạc". Ý tưởng đưa các cuộc đụng độ với Trung Quốc vào sách giáo khoa lịch sử đã được chính Thủ tướng Nguyến Tấn Dũng đề cập trong buổi làm việc với các sử gia hàng đầu Việt Nam hôm 30/12/2013....BBC (13-2-14): đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thế Kỷ, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương và câu hỏi đầu tiên được đặt ra với ông Kỷ là liệu tờ "Một Thế giới" gỡ bài phóng sự được chuẩn bị công phu có phải do mắc sai phạm gì hay không?

Ông Nguyễn Thế Kỷ:  Tôi nói rất thực là tôi không biết về việc này. Việc họ đưa lên hay đưa xuống thì chắc chắn là việc của họ. Còn tôi không có tác động bất cứ gì vào chuyện đấy. (Ông Nguyễn Thế Kỷ từng đảm nhiệm vị trí Vụ trưởng Vụ Báo chí xuất bản thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Giám đốc Đài PTTH Nghệ An, Tổng biên tập báo Nghệ An, Phó ban Tuyên giáo tỉnh Nghệ An, Bí thư huyện ủy Nam Đàn (Nghệ An))
BBC: Về cuộc chiến năm 79, nếu báo chí đưa thông tin đúng sự thật, có kiểm chứng thì có được đưa tin thoải mái, hay có hạn chế gì không?
Ông Nguyễn Thế Kỷ: 
Tôi nghĩ cái này là suy nghĩ của Tổng Biên tập các báo. Tôi nghĩ là thế này, ví dụ như chỉ vì một ai đó có thời kỳ có gì đó trong quan hệ trong quá khứ có điều gì đó không ổn chẳng hạn, nhưng trong hiện tại khi hai bên đang cố gắng có thiện chí để thiết lập quan hệ tốt hơn thì thường người ta cũng có cân nhắc xem ngồi với nhau thì có nên kể lại những chuyện ngày xưa hay không. Thì đó là cái ứng xử tôi nói là của cá nhân với nhau để rồi mình nói rộng ra hơn là giữa các quốc gia với nhau.

BBC: Gần đây có những tâm lý về tranh chấp biển đảo, tranh chấp lãnh hải, một số người cho rằng TQ từ trước đến nay vẫn có ý bành trướng, xâm lược VN, vậy đưa những thông tin lịch sử, những câu chuyện như vậy liệu có phải là điều có lợi cho người dân?
Ông Nguyễn Thế Kỷ: Tôi nghĩ điều này thì cơ quan truyền thông tự cân nhắc lấy, xem việc đó có lợi hay không, với sự bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt, với trách nhiệm với đất nước.

(ii) Hoàng Mai: 
Quan hệ Việt-Trung trong suốt chiều dài lịch sử của hai nước, có thể gói gọn trong một nhận định: Đó là lịch sử thôn tính và xâm lược với mưu đồ “mở mang bờ cõi” của nước Trung Hoa đến từ phương Bắc đối với dân tộc Việt phương Nam. Đồng thời cũng là lịch sử chiến đấu và chiến thắng oanh liệt của người Việt giáng trả đích đáng bọn xâm lược Trung Quốc.
Nhìn lại lịch sử của Dân tộc Việt, ta thấy, ông cha ta luôn uyển chuyển trong quan hệ với Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng nhận định rõ Trung Quốc luôn luôn là kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc, để từ đó có thái độ dứt khoát, không bị nhầm lẫn trong quá trình xây dựng và bảo vệ Đất nước. Tiêu biểu cho nhận định về Trung Quốc, trong vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà ông cha ta đúc kết và để lại, đó là vua Trần Nhân Tông (1258-1308),

Ông để lại lời dặn: “Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là họa nước Tàu. Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu”.
Cha ông ta là như thế, nhưng thời đại, mà hôm nay ta gọi là “Thời đại Hồ Chí Minh”, người Việt đã mắc sai lầm mang tính lịch sử, để rồi đất đai, biển đảo, chủ quyền đang dần thuộc về Trung Quốc. Đặc biệt, trong quan hệ với Trung Quốc, lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã đi hết từ sai lầm này đến sai lầm khác, đặc biệt là trong việc xác định bạn thù đối với Trung Quốc; mà theo đó, trái ngược hoàn toàn với di sản quý báu mà ông cha ta đã để lại, như đã nêu trên.
(Blog BXVN)

(iii) VOA (13-2-14):
Carl Thayer: Việt Nam im tiếng trước ngày đánh dấu chiến tranh Biên giới
Nhiều người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam những ngày qua đã sử dụng hình ảnh hoa sim tím hay hoa đào để tưởng nhớ các chiến sỹ Việt hy sinh trong Chiến tranh Biên giới năm 1979. Trong khi đó, gần tới ngày 17/2, báo chí trong nước hầu như không đề cập gì tới cuộc chiến gây thương vong lớn giữa hai nước láng giềng từng được coi là có mối quan hệ ‘môi hở răng lạnh’.

Lãnh đạo một tờ báo ở Việt Nam nói với VOA Việt Ngữ với điều kiện không nêu danh tính rằng cơ quan ông đã nhận được một chỉ thị mật từ Ban Tuyên giáo Trung ương liên quan tới việc đưa tin về Cuộc chiến Biên giới Việt - Trung. Nhà báo này nói rằng nhiều cơ quan báo chí lớn ở Việt Nam đã chuẩn bị sẵn các bài viết về sự kiện xảy ra năm 1979, nhưng hiện đang ở trong tình thế ‘tiến thoái lưỡng nan’.

Khi được hỏi về sự dè dặt này, giáo sư Carl Thayer của Học viện Quốc phòng Úc nói rằng Hà Nội không muốn thu hút sự chú ý tới một thực tế là Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam trong cuộc chiến hơn 35 năm trước vì không muốn nó làm tổn hại quan hệ song phương. Ông nói : "Tinh thần dân tộc là một con dao hai lưỡi. Nó có thể thúc đẩy đoàn kết dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể được sử dụng để chống lại Trung Quốc, một kẻ thù từng xâm lược và tấn công Việt Nam. Chính vì thế, cả hai nước muốn bỏ qua giai đoạn này trong lịch sử và không giải thích rõ chuyện gì đã xảy ra".

Chuyên gia người Úc hiện đang có mặt ở Việt Nam để chuẩn bị trả lời một kênh truyền hình dành cho giới trẻ về cuộc chiến.
Ông cho VOA Việt Ngữ biết rằng bản thân ông khá ngạc nhiên vì lời mời xuất hiện trên sóng truyền hình quốc gia để nói về sự kiện xảy ra năm 1979. Theo nhà nghiên cứu này, ông đã biết được các thông tin về việc Bắc Kinh không muốn các cuộc kỷ niệm sự kiện đẫm máu trên biên giới biến thành một cuộc công kích chống Trung Quốc. Ông nói : "Trung Quốc và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ 10 năm sau cuộc chiến biên giới và mối bang giao này đã tiến xa. Hai năm trước, họ còn đạt một thỏa thuận định hướng dư luận để không làm biển Đông và các vấn đề khác gợi lại giai đoạn sóng gió trước đây. Việt Nam lo ngại việc kỷ niệm cuộc chiến biên giới có thể biến thành một cuộc công kích chống Trung Quốc cũng như sự công kích rằng chính phủ Việt Nam đã không làm đủ để tưởng nhớ những hy sinh trong cuộc chiến". Ông Thayer còn nói thêm rằng Trung Quốc không bao giờ ngần ngại phàn nàn với phía Việt Nam mỗi khi có sự kiện có thể được sử dụng để khơi gợi tinh thần chống Bắc Kinh.

Vài ngày trước đây, phiên bản điện tử của tờ Petro Times đã cho đăng tải bài viết với tựa đề ‘Biên niên sự kiện chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979’, trong đó có dẫn lời của ông Đặng Tiểu Bình nói ‘dạy cho Việt Nam’ một bài học. Tuy nhiên, cho tới tối ngày 12/2, bài viết này ‘đã bị gỡ bỏ’ theo như thông báo hiển thị khi click vào bài báo. Tờ báo thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam không giải thích lý do. Một năm trước, nhiều tờ báo lớn ở trong nước cũng đã có một loạt bài đánh dấu ngày xảy ra Chiến tranh Biên giới Việt - Trung.

Mới đây, khi phát biểu tại một trung tâm nghiên cứu chính sách có uy tín ở thủ đô Washington DC của Mỹ, đại sứ Việt Nam tại Mỹ, ông Nguyễn Quốc Cường, nói rằng Hà Nội muốn có mối bang giao tốt đẹp với nước láng giềng lớn của Việt Nam. Ông cũng đề cập tới việc năm ngoái, giới lãnh đạo hai nước lần đầu tiên sử dụng đường dây nóng Việt - Trung sau nhiều năm thiết lập, dẫn tới các đồn đoán cho rằng phía Bắc Kinh đã nhân dịp đó ‘nhắc nhở’ Hà Nội về các vấn đề gây trở ngại cho quan hệ giữa hai quốc gia.

Ông Cường cũng nói về mối quan hệ đối tác toàn diện với Trung Quốc, nhưng cũng công khai thừa nhận hai bên vẫn còn những bất đồng. Nhà ngoại giao này nói: "Tôi cũng phải nói rằng chúng tôi [Việt Nam - Trung Quốc] vẫn có quan điểm hết sức khác nhau về các tuyên bố chủ quyền ở biển Đông. Chúng tôi đã thể hiện mối quan ngại của chúng tôi. Chúng tôi đã nhiều lần lặp lại quan ngại của chúng tôi về các động thái gần đây của Trung Quốc ở biển Đông như lệnh cấm đánh bắt cá chẳng hạn". Tháng trước, một cuộc xuống đường của người dân để tưởng nhớ một sự kiện đẫm máu ở quần đảo Hoàng Sa xảy ra 40 năm trước giữa hai quốc gia đã bị chính quyền địa phương giải tán.

Tin cho hay, hiện một số nhà hoạt động ở trong nước cũng đang tính tới việc tổ chức kỷ niệm Chiến tranh Biên giới.
*****

(i) Đỗ Trung Quân: Hoa đào đỏ từ nghìn thu trước...
vì sự khốn nạn của chúng mày
với đồng bào ta
vì sự cướp giật của chúng mày
với biển đảo ta
mày!
chính mày !
đã vớt ta lên từ đáy chai rượu
mày !
chính mày !
đã đặt đôi bàn chân tưởng quên gai góc của ta xuống mặt đường
cảm ơn mày Tung Của.
vì sự hèn nhát của quý vị
nhân danh đủ thứ mỹ từ
ổn định - hòa bình - tàu lạ - kẻ lạ...
đã vớt ta lên từ đáy chai rượu
đã lôi ta tuột khỏi nệm giường
chân dài - chân ngắn.
đã giúp ta thôi lóe mắt vì ánh đèn phù phiếm
ta cảm ơn quí vị !
những kẻ cùng màu da nhưng khác tóc
ta thà cạo trọc
không để đuôi sam.
đây một nén nhang
một ly rượu nhạt
cúi đầu tưởng niệm những chàng trai, cô gái
vị quốc vong thân.
hoa đào đỏ
đỏ từ nghìn thu trước
vẫn nguyên màu hoa của Việt Nam. (đtq - 12 Tháng 2 /2014) 

(ii) Bùi An Nguyễn: Dặn Con
 khi con học bài văn và sử ở trường,
 đọc to lên những điều về " Ngụy ".
 Ba ngước lên bàn thờ nội - ngoại
 ( hai ông " ngụy già" đã bước xuống mồ).
 Nỗi đau của ba dâng lên làm nghẹn cổ.
 Thôi thì cho qua,
 vì đã thành nội sử.
 Gieo cho con làm chi hận thù quá khứ.
            Khi con học bài văn và sử ở trường,
            đọc to lên những điều vinh quang của Đảng
            Tiếng cười của ba không thoát ra,
            mà chui xuống bụng xì hơi.
            Thôi thì bây giờ học cũng như chơi
            không lẽ ba bắt con đi móc bọc.
  Nhưng nếu một hai năm tới,
  thầy cô còn giảng cho con về một thứ chủ nghĩa:
  Chủ Nghĩa Anh Hùng Cách Mạng,
   sản phẩm của" Đảng ta".
   Ba muốn con phải bịt tai tức khắc.
   Vì tự cổ chí kim,
   không một Dân tộc nào
   không một thứ chủ nghĩa anh hùng nào
   lại sợ, không dám vinh danh
   các anh hùng Vị Quốc Vong Thân. (Sài Gòn 12/2/2014)

(iii) Nguyễn Duy: Ải Chi Lăng
Ải Chi Lăng! Ải Chi lăng !
lưỡi gươm đẫm máu Liễu Thăng thuở nào
gập ghềnh lũng thấp đồi cao
vũng lầy thành ruộng đã bao nhiêu mùa
          Chập chờn trận mạc xa xưa
          quân reo ngựa hí gươm khua dậy trời
          thịt xương xưa hóa đất rồi
          nợ xưa còn để nặng đời sau ư ?
Gió trên vách đá ù ù
nghe
tù và dội xuống từ cao xanh... (Mặt trận Lạng Sơn, 23. 2 .1979)

(NQL: Nhà thơ Nguyễn Duy năm 1979 là phóng viên báo Văn nghệ, anh có mặt tại Lạng Sơn ngày 18/2/1979, một ngày sau Quân Trung quốc xâm lược gây hấn trên toàn tuyến biên giới phía bắc nước ta. Nguyễn Duy gửi cho Quê Choa một chùm thơ mặt trận Lạng Sơn 2/1979 và ghi chép anh viết trong những ngày căm hận ấy).

(2) Dương Thành Tân: Đức tính cần có của lãnh tụ Việt Nam trong tương lai
Với thương hiệu Hồ Chí Minh, đảng cộng sản đã thêu dệt huyền thoại của lãnh tụ tài đức song toàn. Nhưng công tâm xem xét, ngay trong tự truyện viết ra để tâng bốc mình, huyền thoại của vị cha già dân tộc, hy sinh vì nước vì dân chẳng có gì phi thường, vượt bực.

Nỗi gian nan của ông Hồ tìm đường cứu nước thì người vượt biên nào cũng đã trãi qua. Thường thì nguy hiểm hơn gấp nhiều lần. Chuyện ăn cơm độn ngô ở hang Pắc Bó thì người dân nào cũng nếm phải trong thời bao cấp. Nhiều khi chỉ muốn ăn ngô, khoai, bo bo thôi mà cũng chẳng được. Đảng cộng sản lấy nhà sàn của ông Hồ làm biểu tượng cho sự giản dị, tiết kiệm. Nhưng đố ai tìm được một khung cảnh phong thủy hữu tình hơn chốn này ngay giữa lòng Hà Nội. Ngược lại, nó chứng minh rằng Hồ Chí Minh là một người rất sành hưởng thụ !!!!

Cái tài của Hồ chí Minh và các đồng chí nó ở chỗ khác, chẳng đời nào dám nói ra : Khả năng dùng mọi thủ đoạn để tiêu diệt đối kháng mà không đếm xỉa gì đến nhân tâm, đạo đức hay sinh mạng !!!

Vì sống trong với môi trường cộng sản, nhiều người đấu tranh, nhất là những người trẻ cũng ước ao có một người đầy đủ tài đức đứng ra chỉ huy cuộc cách mạng chống cộng sản. Một thứ minh chủ, lãnh tụ, leader… tài đức song toàn và siêu việt. Những người này vướng phải 2 sai lầm:
Thứ nhất xem lãnh tụ chỉ là một người mà không phải là một quần thể lãnh tụ.
Thứ hai là người lãnh tụ này phải có khả năng siêu phàm mà không còn là một con người bình thường như mọi người khác.

Lãnh tụ khác với lãnh đạo. Trong ngôn ngữ Việt Nam, lãnh tụ là một danh từ. Lãnh đạo vừa là danh từ, vừa là động từ. Lãnh tụ là một biểu tượng. Lãnh đạo là người chỉ huy, điều hành. Lãnh tụ thuyết phục những người khác hành động. Lãnh đạo ra lệnh cho những người khác hành động. Lãnh tụ có quyền lực tâm lý khi chưa có quyền lực thật sự. Lãnh đạo phải có quyền lực, nếu không thì chẳng làm được gì. Lãnh tụ chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh đấu tranh, xây dựng thế lực từ hai bàn tay trắng. Lãnh đạo là người thừa kế, nhờ có vốn liếng sẵn mới phát huy những gì mình có sẵn để thêm to tát.

Một lãnh tụ, một đảng phái sẽ dễ độc tài.
Trong cuộc chiến đấu dành độc lập chống Pháp của Việt Nam có rất nhiều đảng phái, nhân vật. Nào là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học... Nào là Cao Đài, Hòa Hảo, Quốc Dân Đảng, Đại Việt... Không ít thì nhiều, họ vẫn có công lao cống hiến cho đất nước và là những biểu tượng ái quốc. Cộng sản cố tình bỏ quên hay làm lu mờ những lãnh tụ này. Lịch sử bị lèo lái theo một hướng duy nhất: Hồ Chí Minh vĩ đại, đảng cộng sản muôn năm.
Nếu ai cũng khư khư ao ước được một nhân vật đứng ra lãnh đạo thì sớm hay muộn gì cũng dẫn đến độc đảng và độc tài. Một ông vua và một triều đình.

Quốc gia dân chủ không thể có một độc đảng, một lãnh tụ duy nhất. Nếu có thì họ chỉ là nhân vật của một giai đoạn mà thôi. Những lãnh tụ, đảng phái nào tự cho rằng chỉ có mỗi mình mới có thể cầm quyền mãi mãi đều trở thành những chính quyền độc tài. Nếu ai còn bênh vực cho Hồ Chí Minh thì hãy nhìn những nhân vật khác như Mao Trạch Đông, Stalin, Nã Phá Luân, Lý Thế Dân, Kadafi, Kim Nhật Thành…
Trong mọi cuộc cách mạng, lúc nào cũng có nhiều nhân vật, tổ chức, đảng phái khác nhau. Trong cuộc chiến chống lại đế quốc Anh để dành độc lập. Ngoài George Washington ra, Hoa Kỳ còn lắm anh hùng khác như La Fayette, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson…
Trong việc lập quốc nước Do Thái. Ngoài Ben Gourion ra, còn nhiều nhân vật của các đảng phái then chốt khác như Menahem Begin, Moshe Dayan, Golda Meir...
Nhiều người lãnh đạo được lịch sử ghi lại như những lãnh tụ như Nelson Mandela, George Washington, Ben Gourion... khi từ nhiệm ở đỉnh cao quyền lực. Chuyện mà chẳng có một lãnh tụ cộng sản nào làm được!

Lãnh tụ phải siêu phàm?
Lịch sử Đông Tây đã chứng minh, lắm vị lãnh tụ, anh hùng dân tộc lại là những nguời bình thường. Thậm chí rất bình thường. Nelson Mandela là một anh chàng háo sắc. Gandhi là một người cha rất tồi. Winston Churchill là một người thất bại trong hôn nhân, nghiện rượu, bị trầm cảm, từng muốn tự tử và thích dùng bạo lực !!!!! Vậy cái gì đã làm những người bình thường này trở thành lãnh tụ? Giới nghiên cứu cho rằng người có khả năng lãnh đạo, và nếu hoàn cảnh cho phép, sẽ trở thành lãnh tụ nếu có bốn đức tính sau đây : Lạc quan, tự tin, chân thật và quyết đoán.

- Sự lạc quan, thái độ tin tưởng tương lai tốt đẹp không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của khả năng vượt qua khó khăn hiện tại để tiên liệu về tương lai. Ai đó đã nói lãnh đạo là tiên liệu. Không những người lãnh đạo chính trị tiên liệu được tương lai, mà còn phải tiên liệu được hành động của mình và đường lối của đảng phái đối với người khác. Nếu đường lối, cách ứng xử, những phát biểu của đảng mình như vậy, như vậy... thì hậu quả sẽ như thế, như thế...

Như mọi người, một lãnh đạo lạc quan sẽ có những tự tin cần thiết. Sự tự tin sẽ lan tràn đến các thành viên của đảng phái mình. Ở đâu cũng vậy, trong quốc gia, hãng làm, đảng phái hay gia đình, lúc nào những người tự tin cũng là những nhân vật đầu tàu. Nói trước làm trước và tạo ra những thành quả vượt bực.

Vì lạc quan và tự tin, người lãnh đạo sẽ không ngần ngại chia sẽ những khó khăn một cách thành thật với các thành viên khác để tìm ra giải đáp. Ngược lại, những thành viên cũng thành thật khai báo những khó khăn, khuyết điểm của mình để người lãnh đạo tìm cách bù đắp, sữa sai. Người lãnh đạo đã tạo ra một không khí thành thật không cần phải dối trên lừa dưới, đối kỵ hay bè phái. Có lạc quan, tự tin và thành thật rồi vẫn chưa đủ. Người lãnh đạo còn phải có khả năng cuối cùng là quyết đoán. Sự quyết đoán là những gì tinh hoa nhất của một người lãnh đạo. Những quyết định tài tình sẽ đưa bản thân, đảng phái, quốc gia…  vượt qua khó khăn kinh tế, nguy cơ bị đồng hóa hay bị tiêu diệt.

Hiện nay các cấp lãnh đạo của đảng cộng sản không có những yếu tố kể trên. Cứ nghe những phát biểu, việc làm của các bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, bộ trưởng… và phản ứng như thế nào của dân chúng thì biết ngay là họ không có khả năng lãnh đạo quốc gia.

Và nhiệm vụ của người lãnh đạo có tầm vóc của lãnh tụ là gì? Nói cho nhiều, nhưng chỉ có ba nhiệm vụ chính mà thôi: (a) Thuyết phục những người khác hành động bằng nhân cách sống, lối ứng xử, cách giải quyết… của mình. (b) Qua sự giao tiếp, hiểu rõ và đáp ứng nguyện vọng của những thành viên. (c) Sát cánh và hổ trợ những người cộng sự có công với tập thể, tổ chức. Những đức tính này lại có trong quần thể đấu tranh cho dân chủ. Những hành động của họ, dù nhỏ nhoi vẫn là những khích lệ, thúc đẩy những người khác đi vào con đường đấu tranh. Hơn thế nữa, họ đã chứng tỏ đầy đủ bản lãnh để thành rường cột cho quốc gia khi Việt Nam thay đổi chính trị.
Với những tuyên bố quyết liệt ngay khi còn trong tù,  Lê Thị Công Nhân, Đỗ Thị Minh Hạnh, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Phương Uyên… có thể đứng đầu những tổ chức công đoàn, đoàn luật sư để bảo vệ công nhân, nông dân, dân oan.
Trịnh Hội đã huy động tiền bạc cứu giúp người Việt ở Phillippine hiệu quả hơn hẵn đại sứ quán. Đặng Xương Hùng đã ly khai trong đỉnh cao quyền lực trong bộ ngoại giao, cởi bỏ chức vụ đọc và chép để thành một người đấu tranh tự do. Sau này họ có thể là rường cột của bộ ngoại giao - gạch nối liền giữa người Việt ở trong nước và  hãi ngoại.

Với kiến thức và can đảm về chính trị, những người như ông Nguyễn Gia kiễng, gia đình Huỳnh Ngọc Tuấn, nhà báo Đoan Trang, Hà Sĩ Phu… có đầy đủ khả năng làm việc trong quốc hội, vạch những đường lối chính trị để Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường.
Với khả năng ăn nói, viết bài lưu loát vốn là nghề nghiệp của mình, Trương Duy Nhất, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Đức Kiên, Mẹ Nấm, Nguyễn Hưng Quốc, Tưởng Năng Tiến… cùng với những người điều hành của blog Dân Luận, Dân Làm Báo, Anh Ba Sàm, quechoa… có đủ chuyên môn để làm ở đài truyền hình, bộ giáo dục.
Xin các người đấu tranh khác thứ lỗi cho việc liệt kê sơ sài này. Tác giả không thể ghi hết tên và khả năng của tất cả. Chỉ ghi vài tên tuổi để chứng minh rằng: Giới trí thức đấu tranh trong và ngoài nước hoàn toàn dư giả nhân tài để thay thế đảng cộng sản trong mọi lãnh vực. Cũng như một công ty kinh tế, tìm được giàn nhân vật để làm đầu não rồi thì tìm những người thừa hành dễ hơn. Một Tình trạng hỗn loạn quốc gia, mà dân chúng lo sợ sau sự ra đi của nền chính trị độc tài sẽ không xảy ra.
Các đảng viên cộng sản yêu nước và có thực tài cũng nên yên tâm. Hãy nhìn Đặng Xương Hùng, Phạm Chí Dũng,  Lê Hiếu Đằng... đã được phe đấu tranh dân chủ chào đón như thế nào. Trong chế độ dân chủ, những phần tử tinh hoa đều có cơ hội để phát huy tài ba của mình. Thay vì phải học thuộc, đọc lại, làm theo...  chế độ chuyên chế. Nếu chính trị Việt Nam không thay đổi bằng máu thì không có lý do gì mà các đảng viên cộng sản bị trả thù.
Trở về với hai câu hỏi mà nhiều người sắp đấu tranh thắc mắc: Lãnh tụ chống cộng sản là ai? Xin trả lời là quần thể những người đã và đang đấu tranh. Đang sống ở hải ngoại, vô gia cư, đang chăn vịt, ngồi trong tù, bị quản thúc, đánh đập, theo dõi... Lãnh tụ không là một người, mà là nhiều nhân vật khác nhau. Sau này dân chúng, những tổ chức dân sự, đảng phái chính trị... sẽ lựa chọn người đại diện cho chính phủ. Sau này là sau này. Đừng đòi hỏi một chuyện mà chỉ có thời gian mới có thể trả lời.
Và những lãnh tụ này muốn chúng ta làm gì? Xin thưa, họ mong muốn chúng ta hành động tùy theo khả năng của mỗi người chúng ta. Người nào đấu tranh được thì đấu tranh. Không công khai được thì ngấm ngầm. Hỗ trợ được thì hỗ trợ. Không vật chất được thì tinh thần. Hãy làm những gì mà mỗi chúng ta có thể làm và dám làm. Vì những người lãnh tụ, cũng như chúng ta, cũng chỉ là những người bình thường. Họ cũng chỉ làm những gì mà họ có thể làm.
Trong một thể chế Dân chủ đa nguyên, mỗi một người chúng ta vừa là kẻ thừa hành và cũng vừa là lãnh tụ. (Source: Thông Luận, Paris).
(3) Thơ
(i) Trần Mạnh Hảo : Hoa Đào Năm Ngoái
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
(Thôi Hộ)
Hoa đào năm ngoái còn tươi
Mắt môi thuở ấy nét cười thẳm không
Hồn hoa he hé gió đông
Tiếc xuân đợi nỗi cải ngồng tháng ba.
          Mỗi người chúm chím đào hoa
          Để tôi hồn vía tan ra cùng trời
          Bướm ong còn cất lên lời
          Mà tôi im lặng một thời đào phai.
Yêu hoa đào, ngắm hoa mai
Tôi về nam gửi hồn ngoài Thăng Long
Hoa đào xưa gió long đong
Mới hay tài sắc đừng mong xuôi chèo.
          Bướm ong còn biết vượt đèo
          Hoa đào xưa của ta theo một đời
          Hồn hoa năm cũ lại cười
          Một thời xuân bởi còn người đào hoa...
(ii) Chế Lan Viên: Hoa Đào Nở Sớm
Hoa đào trước ngỏ em qua
Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa
Đầy vườn lộc biết cây tơ
Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu
          Bỗng dưng một đóa hoa đầu
          Nghe như đất lạ năm nào gặp em
          Phải rằng xe xích thời gian
          Vầng dương bên ấy mọc sang bên này?
Nắng hoe, bướm trở mình bay
Cành non nở vội kịp ngày chào hoa.
Lòng anh tự độ em qua
Hoa bay bướm dạo cùng ta vào đời

Cành Đào Nguyễn Huệ
Hẳn nhớ Thăng Long, hẳn nhớ đào?
Mai vàng xứ Huế có khuây đâu?
Đào phi theo ngựa về cung nhé!
Nở cạnh đài gương sắc chiến bào 
(iii) Đinh Hùng: Hoa Bay Về Ngàn
Em đi , rừng núi vào Xuân ,
Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa bay .
Búp lan dài mướt ngón tay ,
Cả lâm tuyền nhớ gót giầy phong hương .
Nghe như đàn lả cung thương ,
Bầy chim bên suối soi gương tự tình .
Cỏ thơm nếp lụa đồng trinh ,
Mây giăng cánh bướm cho mình lên non .
Sông rừng uốn khúc lưng thon ,
Nụ cười hoa dại nét son não nùng ,
Tình vương xóm Mán trập trùng ,
Lòng như xuân tỏa hồn rừng hoang vu .
Cầu treo nối nhịp tương tư ,
Lắng trong cây lá , giấc mơ về ngàn .
Nắng soi ấm mái nhà sàn ,
Hơi xuân ủ cánh phong lan nõn nà .
Óng vàng mái tóc tiên sa ,
Cỏ đồi chải phớt lược ngà buông lơi .
Nhớ về Bản nhỏ lưng trời ,
Xuân đi , còn lẩn nụ cười trong mây 
(iv) Tản Đà: Vịnh Cánh Hoa Đào
Trời để trời nuông, trời phải dạy
Dẫu rằng bé bỏng khéo kiêng khem
Trải bao mưa nắng cùng mưa móc
Vẫn một màu son với chị em
Cười trận gió đông hăng hái thổi
Thương con bướm trắng phất phơ thèm
Xin ai yêu đến đừng ham nó
Hễ mó tay vào ố nhọ nhem 
..................................................................................................

No comments: