Friday, February 21, 2014

TIN VIỆT NAM

 Người Việt trước ý đồ Hán hóa

Cập nhật: 03:24 GMT - thứ sáu, 21 tháng 2, 2014
Lịch sử Việt Nam là chiều dài của những chiến tích chống ngoại xâm. Nhiều lần bị Bắc thuộc rồi nước Việt cũng giành được độc lập, tự chủ. Nhiều lần bị xâm lăng rồi dân Việt cũng đánh đuổi được giặc ngoại xâm.
Qua hàng nghìn năm, lịch sử đã chứng minh Trung Quốc luôn muốn biến đất Nam Việt thành một tỉnh của họ nhưng không thành. Các đoàn quân với binh hùng, tướng mạnh sau những chinh phục lẫy lừng ở nhiều nơi khác, khi đến biên cương Việt Nam đều phải khựng lại vì sức kháng cự của dân Việt.
Nhưng lịch sử cận đại vẫn cho thấy hiểm họa xâm lăng từ phương bắc thời nào, lúc nào cũng có.
Tháng 1/1974 lãnh đạo Bắc Kinh đưa chiến hạm xuống chiếm Hoàng Sa, lúc đó còn là một phần của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Dù không giữ được các đảo, những người lính hải quân Việt Nam Cộng hòa đã anh dũng chiến đấu và hy sinh để bảo vệ miền đất đó. Trong trận hải chiến Hoàng Sa, 74 binh lính Việt Nam Cộng hòa đã tử trận.
Năm năm sau, khi đất nước đã thống nhất, đêm 17/2/1979 Trung Quốc lại đem 60 vạn quân tấn công vào các tỉnh dọc biên giới phía bắc của lãnh thổ Việt Nam. Cuộc chiến kéo dài một tháng trước khi bộ đội Việt Nam đẩy lui quân xâm lăng về qua biên giới. Bảo vệ được đất nước nhưng con số binh lính và dân Việt hy sinh trong cuộc chiến này lên đến 6 vạn người.
Chiến tranh biên giới còn âm ỉ kéo dài nhiều năm sau đó và có lúc đã nóng lên ở Hoàng Liên Sơn.
Đến tháng 3/1988 Trung Quốc lại đem tàu chiến xuống chiếm các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Trong trận hải chiến Gạc Ma, 64 bộ đội hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hy sinh.

Ý đồ Hán hóa

Lịch sử Việt Nam từ xa xưa với Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo đánh bại đoàn quân Mã Viện, chôn vùi giặc trên sông Bạch Đằng, nhưng gần đây xung đột biên giới, đụng độ trên Biển Đông là nhắc nhở dân Việt về ý đồ Hán hóa nước Việt từ phương Bắc vẫn còn.
"Nếu không cảnh tỉnh, cùng nhau đoàn kết trong tinh thần Diên Hồng thì hiểm họa lại bị Bắc thuộc có thể xảy ra."
Nếu không cảnh tỉnh, cùng nhau đoàn kết trong tinh thần Diên Hồng thì hiểm họa lại bị Bắc thuộc có thể xảy ra.
Nhiều người Việt đã nhận thức được điều này. Trong nước dù có những khó khăn, nhưng để khơi dậy tinh thần Diên Hồng nên từ vài năm qua, đặc biệt là vào đầu năm nay nhân dịp kỷ niệm 40 năm Hoàng Sa, một số cơ sở truyền thông đã nhắc đến trận chiến và sự hy sinh của 74 binh lính Việt Nam Cộng hòa trong việc bảo vệ Tổ quốc.
Mới đây Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng tán đồng việc đưa chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa vào chương trình giáo khoa. Tuy nhiên các báo sau khi đưa tin về đề nghị này lại phải gỡ bài xuống, rồi chương trình tưởng niệm Hoàng Sa tại Đà Nẵng bị hủy bỏ vào giờ chót. Những sự kiện đó cho thấy sự phức tạp của vấn đề.
Ngày 17/2 vừa qua là mốc thời gian ghi dấu 35 năm cuộc chiến tranh chống lại tham vọng bành trướng của Bắc Kinh.
Ở thủ đô Hà Nội, sáng Chủ nhật 16/2 dự trù có tập họp tưởng niệm trước tượng đài Lý Thái Tổ, nhưng nơi đây đã bị giới chức chính quyền giành chỗ, cho dựng sân khấu và đúng lúc cuộc biểu tình diễn ra, giới chức năng thành phố đã mở nhạc cho ca hát nhảy múa, một việc làm bị nhiều người lên án là hành động vô ơn và sỉ nhục đối với anh linh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ.
Tại Sài Gòn, tuy số công an theo dõi đông hơn số người tham dự, sáng 18/2 khoảng 30 nhân sĩ, trí thức đã tụ họp dưới tượng đài Trần Hưng Đạo ở công trường Mê Linh để tưởng niệm chiến tranh biên giới 1979.
Xét về ý nghĩa thì địa điểm tại Sài Gòn thật thích hợp với truyền thống dân tộc vì nơi đó mang danh những anh hùng đã được người Việt của mọi thời đại tôn vinh.
Dấu tích lịch sử chống xâm lăng từ phương Bắc của dân tộc Việt được thể hiện qua việc đặt tên đường phố, tên đơn vị hành chánh trên toàn lãnh thổ, đặc biệt là tại thủ đô Hà Nội và tại Sài Gòn, thủ đô cũ của Việt Nam Cộng Hòa.

Biểu tình trước Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc ở San Francisco để phản đối chính sách bành trướng của Bắc Kinh (ảnh Bùi Văn Phú)

Không nên ngăn cản

Hà Nội có con phố và một quận mang tên Hai Bà Trưng thì Sài Gòn một thời cũng đã có con đường lớn ghi công hai vị nữ anh hùng cỡi voi dẹp quân Nam Hán. Trước năm 1975, lễ Hai Bà Trưng được tổ chức lớn tại thủ đô miền nam.
Sài Gòn và Hà Nội đều có đại lộ Trần Hưng Đạo là dũng tướng dẹp quân Mông Cổ, có đường Lý Thường Kiệt là tác giả bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt: “Nam quốc Sơn hà Nam đế cư”. Sài Gòn đã từng có những trường cấp ba mang danh Trưng Vương và Hưng Đạo.
Thủ đô của Việt Nam ngày nay có đường Quang Trung, anh hùng đại phá quân Thanh, có quận Đống Đa. Trung tâm Sài Gòn giờ vẫn còn phố Nguyễn Huệ là một tên khác của vua Quang Trung, vẫn có đại lộ Lê Lợi ghi công anh hùng áo vải đất Lam Sơn đã thắng quân Minh, có đường Trần Bình Trọng, bị giặc bắt và đã để lại câu nói bất hủ “Ta thà là quỉ nước nam còn hơn làm vua đất bắc”. Những con đường lịch sử đó của Sài Gòn đã có từ hơn nửa thế kỷ.
Những năm qua một số tỉnh thành đã đặt tên đường Hoàng Sa, Trường Sa là sự khẳng định chủ quyền quốc gia trên những vùng đất đó.
"Trước hiểm họa mất đất mất biển là có thật, nhà nước không nên ngăn cản sinh hoạt tưởng niệm những người đã chết để bảo vệ Tổ quốc và cũng không nên phân biệt những chiến binh đã hy sinh."
Tuy nhà nước có tỏ động thái bảo vệ lãnh thổ một cách hòa bình và trong tinh thần ngoại giao, nhưng mặt khác lại có những sự việc làm nhiều người bức xúc. Đó là khi dân muốn biểu tỏ lòng yêu nước qua những phát biểu, những bài viết hay những cuộc xuống đường để phản đối chính sách hung hãn, âm mưu lấn chiếm biển đảo của Trung Quốc thì lại bị ngăn cản.
Trong một số trường hợp nhà nước còn bỏ tù nhiều người, như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Phương Uyên, Tạ Phong Tần. Nhiều người lên tiếng phản đối chính sách xâm lăng của Bắc Kinh đã bị trấn áp dưới nhiều hình thức.
Trước hiểm họa mất đất mất biển là có thật, nhà nước không nên ngăn cản sinh hoạt tưởng niệm những người đã chết để bảo vệ Tổ quốc và cũng không nên phân biệt những chiến binh đã hy sinh, dù họ đứng ở phía nào trong cuộc chiến Nam Bắc trước đây, dù bỏ mình ở Hoàng Sa năm 1974, dọc biên giới phía Bắc năm 1979 hay ở Gạc Ma năm 1988.
Như thế mới khơi dậy được tinh thần Diên Hồng trong lòng dân Việt trước sự đe dọa từ phương Bắc ngày một lớn. Như thế mới thể hiện được tinh thần dân tộc như đã biểu hiện qua những hùng ca vang tiếng: Hội nghị Diên Hồng, Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang; hay như ca từ trong một bài hát được nhiều người lắng nghe: “Truyền thống cha ông, gìn giữ non sông / Từ thuở Thăng Long vẫn mang trong lòng…”
Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/02/140221_buivanphu_vietchina.shtml


 Vì sao du khách Việt bỏ trốn khi du lịch nước ngoài?
Hòa Ái, phóng viên RFA
2014-02-19
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
000_Hkg9478885-600.jpg
Du khách tham quan Nhật.
AFP photo


Thông tin cho biết nghiều người Việt Nam đăng ký đi du lịch nước ngoài, và khi đến tại một số nước họ bỏ trốn ở lại tại những nơi đó. Tình hình đó dẫn đến các nước sở tại tỏ ra khó khăn hơn trong việc cấp thị thực nhập cảnh cho du khách Việt Nam.
Trong cuộc trao đổi với báo Tuổi Trẻ, được đăng tải hôm 16/2, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, ông Nguyễn Văn Tuấn cho biết khách du lịch Việt đến một số quốc gia ở Châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Hongkong, Nhật Bản trốn ở lại tìm việc làm hoặc tìm đường sang nước thứ ba có xu hướng gia tăng. Đây được cho là nguyên nhân dẫn đến việc du khách từ VN xin visa du lịch nước ngoài ngày càng khó khăn. Mặc dù Tổng cục Du lịch VN có biện pháp xử lý nặng, rút giấy phép những công ty có du khách bỏ trốn khi đi du lịch nước ngoài nhưng hiện tượng du khách Việt trốn lại vẫn không thuyên giảm.


Vụ việc mới nhất được ghi nhận xảy ra ở Israel hồi đầu tháng 12 năm ngoái. Thông tin từ Đại sứ quán VN ở Israel cho biết có ba đoàn khách với 21 người bỏ trốn, trong đó 4 du khách đã bị phía Israel bắt được và trục xuất về VN. Trả lời câu hỏi của đài RFA có phải hiện tượng du khách Việt bỏ trốn khi đi du lịch nước ngoài ở mức độ đáng lo ngại, ông Thiên Phong, một hướng dẫn viên du lịch, cho biết quan điểm cá nhân của mình:


“Thật ra thì cũng phản ánh một phần nào thôi chứ không phải đúng sự thật. Bởi vì có những trường hợp trốn như trường hợp ở Israel và đương nhiên có một số trường hợp trốn ở Hàn Quốc và đa phần hình như là người ở miền ngoài nhiều hơn ở trong nam. Các tour đi Châu Âu hay Mỹ thì không có tình trạng trốn. Trốn vì có đường dây đưa họ qua đó để lao động”.
Hàn Quốc, quốc gia có nhiều công nhân người Việt ở lại bất hợp pháp sau khi hết hạn hợp đồng xuất khẩu lao động cũng là nơi nhiều du khách Việt chọn trốn lại. Theo số liệu của Hiệp hội Du lịch VN năm 2012, có khoảng 120 ngàn du khách Việt đến Hàn Quốc trong một năm. Tuy nhiên, số liệu người trốn lại quốc gia công nghiệp phát triển ở Đông Á này là bao nhiêu thì không được công bố. Anh Chín, 1 người Việt trốn lại Hàn Quốc 10 năm sau khi mãn hạn hợp đồng lao động, cho biết trong mấy năm gần đây có nhiều người Việt trốn lại bằng cách đi du lịch. Anh Chín nói:
Đa số những người bạn của Quang đều rất thành đạt và có điều kiện về kinh tế ở VN thì họ cũng suy nghĩ sẽ mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ.
- Anh Quang
“Có nhiều, đa số đi du lịch qua rồi trốn luôn. Trốn bằng cách nào thì do có bạn bè hay thân nhân, anh em ở đó rồi. Lúc có visa thì điện thoại trước cho người ở bên đó, báo ngày đến thì ra phi trường đón rồi trốn luôn. Đa số người Việt mình đi đến một nước nào giàu hơn VN mà có thân nhân thì Chín nghĩ họ sẽ trốn lại”.
Với thân phận một người trốn lại Hàn Quốc trong một thập niên, sinh sống và làm việc trong điều kiện bất hợp pháp, anh Chín cho biết nhiều người Việt chọn cách trốn lại vì dù hoàn cảnh sống có khó khăn đến mức nào chăng nữa thì đồng tiền họ cực khổ mang về trong một tháng cũng gấp 10 lần đồng lương trung bình mà họ có thể kiếm được ở VN. Cuộc sống dù lay lắt, bấp bên, không ngày mai, không tương lai, không biết ngày nào bị bắt, bị trục xuất về VN nhưng họ vẫn cố sống ngày nào hay ngày đó, cố gắng làm bất cứ công việc nào mà họ tìm được. Anh Chín nói thêm:
“Khi đã sống quen bên Hàn Quốc thì chuyện đi đứng hay chuyện bắt bớ, cực khổ thì không còn ngại nữa mà người ta chỉ ngại về VN sẽ làm gì. Với đồng tiền dành dụm ít ỏi, làm thì sợ thua lỗ, bị hết tiền. Còn đi làm công nhân thì lương có một triệu mấy, hai triệu”.

Vì lý do kinh tế?

000_SAHK980115163040-250.jpg
Lao động VN ở Hàn Quốc, ảnh minh họa. AFP photo 
Có phải chỉ thành phần người lao động ở VN tìm cách trốn lại nước ngoài qua các kênh xuất khẩu lao động hay qua kênh đi du lịch? Theo thông tin từ các công ty du lịch trong nước, trong số 21 người bỏ trốn lại Israel có chức vụ tổng giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng kinh doanh của các công ty. Vì sao những thành phần được cho là thành đạt, có thu nhập ổn định lại cũng tìm cách đi ra nước ngoài? Trả lời báo chí trong nước, ông Nguyễn Tiến Đạt, Giám đốc kinh doanh công ty du lịch Trans Viet Travel, cho rằng nền kinh tế của VN đối mặt với nhiều khó khăn nên một trong những nguyên nhân bỏ trốn của người người giàu có là đi để trốn nợ.
Không thuộc thành phần bỏ trốn, anh Quang, một người thành đạt và có cuộc sống tốt ở Sài Gòn lại quyết định chọn Hoa Kỳ để định cư sau chuyến du lịch đầu tiên của mình đến nơi đây. Anh Quang cho biết anh chắc chắn hài lòng với cuộc sống mới ở một đất nước phát triển vào bậc nhất nhì trên thế giới, điều kiện môi trường sống rất tốt và phù hợp với những người năng động như anh. Anh Quang chia sẻ:
Khi đã sống quen bên Hàn Quốc thì chuyện đi đứng hay chuyện bắt bớ, cực khổ thì không còn ngại nữa mà người ta chỉ ngại về VN sẽ làm gì.
- Anh Chín, Hàn Quốc
“Đa số những người bạn của Quang đều rất thành đạt và có điều kiện về kinh tế ở VN thì họ cũng suy nghĩ sẽ mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ. Và họ cho con cái qua đây đi học vì nền giáo dục ở Mỹ thì không có nơi nào sánh bằng được. Và đặc biệt sự tự do ở Mỹ càng thôi thúc người ta tìm đến đây hơn. Với cá nhân Quang và bạn bè của Quang thì rất thích qua bên này, đang tìm cơ hội qua đây để phát triển”.
Tác động của Công văn số 17 của Tổng cục Du lịch VN và Nghị Định 95 của Chính phủ vừa ban hành trong nổ lực của Nhà nước nhằm ngăn chặn tình trạng người Việt bỏ trốn lại nước ngoài qua kênh du lịch hay kênh xuất khẩu lao động vẫn còn chưa đánh giá được nhưng qua các thông tin trong bài phóng sự này thì nguyên nhân sâu sa ngày càng có nhiều người Việt tìm cách ở lại các quốc gia bên ngoài cố quốc dù bằng bất cứ hình thức hợp pháp hay không hợp pháp là minh chứng cho thấy đối với những thành phần phải bỏ trốn quê nhà VN hiện tại không còn là miền đất lành chim đậu.

No comments: