Friday, January 10, 2014

HUY LÂM * MÁY MOC VÔ TÌNH


 
Viết từ Dallas: Máy móc vô tình
Huy Lâm

Đã từ lâu, khi các ngành kỹ thuật có những bước tiến thật xa, thật nhanh, người ta vẫn không ngừng nêu câu hỏi: Đến bao giờ thì máy móc sẽ thay thế con người? Hay nói cách khác, đến bao giờ thì máy móc sẽ đẩy con người sang bên lề và làm những công việc mà trước đây vẫn là độc quyền của con người?
Mà đây là những lo lắng không phải không có căn cứ. Hãy cứ nhìn xung quanh mà xem, máy móc đã thay con người làm rất nhiều công việc, từ những công việc sản xuất đến việc văn phòng, từ dịch vụ ngân hàng đến việc rất nhỏ như tính tiền/ trả tiền ở siêu thị, v.v…


Vào năm 2012, công ty Amazon mua lại Kiva Systems, là công ty chế tạo ra loại robot có khả năng nhận đơn đặt hàng từ nhà kho, sau đó đóng thùng và đưa món hàng đó tới khu vực để gửi đi cho khách hàng. Hiện nay Amazon đã có 1.382 người máy robot như thế tại ba trung tâm nhận đơn đặt hàng và gửi hàng đi, nghĩa là công ty Amazon có thể sẽ không cần phải mướn nhiều ngàn nhân viên làm việc cho họ, nhất là vào mùa lễ bận rộn như cuối năm.


Trong thời gian gần đây, nhân viên làm việc cho hệ thống nhà hàng thức ăn nhanh ở nhiều nơi trên toàn nước Mỹ đã có những cuộc đình công đòi tăng lương, đưa đến những cảnh báo từ các nhà nghiên cứu dưới sự bảo trợ của nhiều hệ thống nhà hàng rằng nếu chi phí trả cho những nhân viên nấu ăn cao quá, họ có thể dễ dàng thay thế những nhân viên này bằng người máy. Việc này chưa xảy ra nhưng những cuộc nghiên cứu vẫn đang được tiến hành và rất có thể trong một tương lai gần sẽ trở thành hiện thực. Hiện nay, hệ thống nhà hàng McDonalds tại Âu châu đã thay thế nhân viên tính tiền bằng các máy điện tử tự động, người mua chỉ việc bấm nút chọn thức ăn và tự trả tiền. Đó là lý do chúng ta có thể tin rằng cái ngày những người máy nướng bánh hamburger cho khách hàng sẽ không còn bao xa.


Kỹ thuật xe tự động trong mấy năm gần đây đã tiến triển rất nhanh, và hiện nay, những công ty như Toyota và Google đang tiến hành những cuộc nghiên cứu nhắm vào loại xe dành cho hành khách. Nhưng không thể không nghĩ tới những loại xe vận tải chở hàng chạy đường trường và một khi kỹ thuật xe tự động thành công, công việc tài xế cho những loại xe tải này có thể thay thế bằng những người máy được điều khiển từ xa, và hãy nhớ rằng những người máy này lái xe không bao giờ biết mệt và không lạc đường. Như vậy có nghĩa là với 5,7 triệu tài xế đang làm công việc lái xe tải đường trường trong tương lai sẽ phải đổi nghề khác để kiếm sống.


Ngay cả trong ngành canh nông cũng đã có những bước tiến dài trong việc áp dụng kỹ thuật tự động đến nỗi ta có thể nói hầu như chẳng còn mấy ai làm công việc tay chân trên những cánh đồng bao la bát ngát ở Mỹ này nữa. Ngoại trừ một số người đang điều khiển những máy móc thay thế nhà nông làm những công việc như cày bừa và gặt hái. Nhưng thậm chí luôn cả những người đang làm công việc điều khiển máy đó cũng không thể tiếp tục giữ vững được công việc của họ bao lâu nữa. Với những tiến bộ của những loại máy nông nghiệp được điều khiển bằng máy điện toán, những tọa độ nhất định trên cánh đồng được chấm sẵn và thế là cứ để chúng chạy tự do ngày cũng như đêm.


Những ví dụ vừa nêu để cho bạn đọc có chút khái niệm rằng cái ngày mà những máy móc tự động thay thế phần lớn công việc của chúng ta, nhất là công việc của giới lao động tay chân, không còn bao xa.
Phải chăng con người ngày càng ra sức phát triển kỹ thuật để rồi đến một lúc nào đó kỹ thuật sẽ hoàn toàn thay thế chúng ta làm việc và đẩy chúng ta vào đội ngũ của những người thất nghiệp kinh niên?
Giáo sư kinh tế Tyler Cowen của Đại học George Mason tiên đoán một thế giới với khoảng 10 – 15% thành phần dân số là có đủ kỹ năng để làm việc cùng với những loại máy móc thông minh trong tương lai. Ông tin rằng nhóm người này sẽ trở nên hết sức giàu có, khá giả, trong khi phần còn lại sẽ phải đương đầu với khó khăn trong công việc hoặc lương bổng cứ teo dần đi.


Đối với nhiều người, khoảng cách khác biệt ấy giữa nhóm người với kỹ năng cao và phần lớn những người lao động khác là điều rất đáng lo ngại. Có người thấy rằng sự bất quân bình đó có hại cho nền dân chủ; người khác thì nghĩ rằng vấn đề đó sẽ tạo nên khủng hoảng và có hại cho sự tăng trưởng kinh tế.
Nhưng cái thế giới mà Cowen đã miêu tả đó có thật sự đang đến hay không? Có nhiều lý do chính đáng để ta có quyền nghi ngờ. Ngay từ cuối thế kỷ 18 khi cuộc cách mạng kỹ nghệ bùng phát, người ta đã vội tiên đoán kỹ thuật sẽ giết chết giới lao động. Nhưng cho đến nay, lời tiên đoán đó sai. Quả thật, lương bổng của giới lao động thuộc thành phần trung lưu có khựng lại thật, ít nhất là trong một hai thập niên qua. Nhưng trên đường dài, kỹ thuật đã giúp cho phần lớn lớp lao động bình thường tương đối khá giả hơn trước. Nhờ kỹ thuật, mức lương trung bình ở Hoa Kỳ, sau khi điều chỉnh thay đổi ở giá sinh hoạt, đã tăng hơn 10 lần so với 200 năm trước. Dựa vào điểm này, ta có nhiều lý do đủ mạnh để nghi ngờ về sự tiên đoán của Tyler Cowen.


Nhìn lại khoảng 200 năm qua, kể từ những năm đầu của cuộc cách mạng kỹ nghệ, mỗi khi kỹ thuật mới xuất hiện thì nó lại bổ sung một số kỹ năng và thay thế một số kỹ năng khác mà không tạo ra sự bất quân bình quá mức.
Dạo gần đây, người ta đang nói nhiều tới sự khác biệt giữa giàu và nghèo ngày càng lớn. Nhưng có người cho rằng sự bất quân bình về lợi tức ngày càng gia tăng đó có thể chỉ là hiện tượng nhất thời. Lịch sử cho thấy trong thời gian đầu của cuộc cách mạng kỹ nghệ đã phát sinh chiều hướng kinh tế cũng tựa như chúng ta thấy ngày nay. Một nhóm nhỏ ưu thế gồm các chủ nhân, thợ máy và kỹ sư – là những người đầu tiên biết lợi dụng cơ hội phát minh ra những máy hơi nước, máy dệt vải, và những kỹ thuật cơ khí liên quan – nhận thấy lợi tức của họ tăng rất nhanh, trong khi lợi tức của giới thợ thuyền khựng lại. Nhưng khi kỹ thuật được hoàn thiện và kỹ năng mới trở nên tiêu chuẩn hóa hơn thì lợi tức cũng được san sẻ đồng đều hơn.


Hãy lấy ví dụ chiếc máy ATM (ta thường nôm na gọi là máy rút tiền tự động). Đây là loại máy thông minh có thể làm được những công việc trước kia thuộc về nhân viên ngân hàng làm việc tại quầy (bank teller). Trong quá khứ, khi chiếc máy này được giới thiệu tới công chúng, nhiều người tiên đoán rằng số nhân viên làm việc tại ngân hàng sẽ giảm sút đáng kể.


Nhưng trong thực tế thì ngược lại. Con số nhân viên ngân hàng lại tăng, và mức lương của họ cũng tăng đều đặn trong mấy năm qua. Từ năm 1999 đến 2009, số nhân viên ngân hàng làm việc tại quầy tăng thêm 123.000 lên đến 577.000, mặc dù tình trạng kinh tế trì trệ; và mức lương của họ tăng khoảng 3% sau khi điều chỉnh mức lạm phát. Lý do là vì những nhân viên này làm được một số việc phức tạp mà máy ATM không làm được và điều quan trọng hơn, những nhân viên này tạo được mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng của họ. Khách hàng sẽ vui vẻ tự mình rút tiền từ máy ATM, nhưng nếu họ muốn trả xong một món tiền nợ, hoặc muốn ký thác tiền vào nhiều trương mục khác nhau cùng một lúc, hoặc cần mượn một món tiền hay mở một trương mục hưu trí, người khách hàng muốn có một nhân viên ngân hàng bằng xương bằng thịt có thể giải thích cặn kẽ cho họ và trả lời những câu hỏi thắc mắc.


Như vậy, ta có thể nói người và máy vẫn có thể làm việc chung với nhau và vẫn mang lại hiệu quả.
Nhân viên ngân hàng chỉ là một ví dụ. Nhu liệu về kế toán lấy đi một số công việc, nhưng số nhân viên kế toán và nhân viên giữ sổ sách vẫn tăng; máy móc thông minh thay thế cho công việc đánh máy, nhưng số thư ký và nhân viên tiếp khách (receptionist) vẫn tăng đều, làm những công việc mới bổ sung cho kỹ thuật văn phòng mới. Từ năm 1999 đến 2009, số thư ký tăng 216.000, số nhân viên tiếp khách tăng 64.000. Con số tăng trưởng này bù vào những công việc bị mất đi như đánh máy, trả lời điện thoại.


Ta có thể thấy những kỹ thuật thông minh ngày nay ngày càng được thông dụng tại những nơi làm việc. Và những ví dụ trên cho thấy là vẫn còn nhiều công việc đòi hỏi những kỹ năng vừa phải thôi chứ không cần cao lắm để con người có thể làm việc chung với những kỹ thuật mới này. Dựa vào những bằng chứng nêu trên, không có lý do gì để nghĩ rằng chỉ có 15% những người làm việc trong tương lai mới đủ khả năng để làm việc chung với máy và được cho là những phần tử lao động có giá trị.


Máy móc là vật vô tình. Tự nó không thể nối dây cắm vào ổ điện, không thể tự mình nhấn cái nút “on” để kích hoạt, chúng vẫn cần người nào đó cắm dùm dây vào ổ điện, nhấn dùm cái nút “on” cho chúng. Đứng một mình thì chúng vẫn chỉ là cục sắt vô tri vô giác không hơn không kém. Chỉ nghĩ tới điều đơn giản đó thôi cũng đủ cho chúng ta an tâm phần nào để hướng về phía trước và tiếp tục đi nốt đoạn đường còn lại.
Huy Lâm

No comments: