Tuesday, January 14, 2014

ĐẶNG TẤN HẬU * PHẬT GIÁO KHỜ ME

PHẬT GIÁO KHỜ ME
 
Giới Nghiêm Đặng Tấn Hậu
 
Vua Cao Miên được tôn vinh là “thiên vương” (devaraja) có quyền tấn phong vị sư lên làm “vua sãi” (sangharaja) trông coi tất cả tăng chúng. Phật giáo là quốc giáo của xứ Cao Miên có khoảng 100,000 tu sĩ trước năm 1975; nhưng chỉ còn lại không tới 100 vị dưới sự cai trị của cộng sản trong vòng 4 năm từ 1975 đến 1979 mà đa số trở thành dân tỵ nạn cộng sản tại Thái Lan và VN.
Lần lượt, chúng ta thử tìm hiểu Phật giáo Khờ me dưới lăng kính lịch sử và chính tri.. Tác giả không đề cập đến Phật Pháp hay tranh luận về giáo lý vì không phải mục đích của bài viết. Tác giả tự biết sự hiểu biết của mình về Phật giáo Khờ me rất hạn chế, xin các bậc cao minh bổ túc để cho bài viết được đầy đủ.
 
LỊCH SỬ
Lịch sử Cao Miên có thể tạm chia ra làm 6 thời kỳ: lập quốc, huy hoàng, suy thoái, thực dân, cộng sản và ngày naỵ
 
Lập Quốc
Từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ bảy, văn minh Phù Nam (Funan) ảnh hưởng đến toàn vùng Đông Nam Á phát xuất từ Nam Dương bao gồm các quốc gia Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan, Cao Miên, Miền Nam VN và Làọ Phật giáo đại thừa và Ấn Độ giáo được truyền bá đến Đông Nam Á từ các vị sư Ấn Độ qua Ấn Độ Dương trong khoảng thời gian nàỵ
Vào thế kỷ thứ 5, dân tộc Khờ me (Cao Miên) chống lại ảnh hưởng của đế quốc Nam Dương lập thành đế quốc Khờ me với nền văn minh Chân Lạp có diện tích lớn hơn VN gấp 3 lần gồm có Thái Lan, Cao Miên, miền nam VN và Làọ Đế quốc “chân lạp” được phân chia thành vùng khô (Lào) và vùng nước trũng (Cao Miên) nên có tên “thủy chân lạp” và “lục chân lạp”.
Vào thế kỷ thứ 10, người Cao Miên tin tổ tiên của họ là ông Campu cưới rắn thần hóa thành thiếu nữ (thần nữ). Rắn dịch từ Phạn ngữ là “Naga” còn được hiểu là rồng. Thí dụ, bồ tát Long Thọ dịch từ chữ Nagarjuna gồm có 2 chữ ghép Naga là rồng và Juna là câỵ Dân tộc Khờ me mới chọn tên cho xứ của họ là Campuchia (Cao Miên) lấy từ tích nàỵ
 
Huy Hoàng
Các hoàng đế Cao Miên trị vì từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 15 là thời kỳ hoàng kim của dân tộc Khờ mẹ Thí dụ, vua Jayavarman II (802-834) chống lại văn hóa “phù nam” để độc lập. Ngài tự xưng là “chakravartin tức là hoàng đế của thiên ha.. Vua Indravarman V có công đưa ra chương trình “dẫn thủy nhập điền” để giúp người dân trồng lúa hay con của ông là Yasovarman I là người đầu tiên thành lập kinh đô tại Angkor.
Vua Survavarman cho xây Angkor Wat trong vòng 37 năm là nơi thờ thần Ấn Độ Vishnụ Ông đã đem quân xâm chiếm các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Mã Lai, Chàm (miền trung VN), Lào, kể cả Đại Việt. Ông mất vào năm 1150.
Năm 1177, con của ông bị quân Chàm đánh bại tại Tonle Sap, nhưng vua Jayavarman VII (1181-1219) có công chiếm lại đất đã bị mất vào năm 1203. Vị này là người đã cho xây Angkor Thom có nghĩa là “thành phố vĩ đại” với các hình tượng của chư vị bồ tát đại thừa Phật giáo như ngài Quan Thế Âm. Nhà vua được xưng tán là “pháp vương” (dharmaraja).
 
Suy Thoái
Vua Indravarman II (1218-1243) là tín đồ Ấn Độ giáo nên ông cho phá chùa chiền và sửa các tượng bồ tát Phật giáo thành hình của các vị trời Ấn Độ giáọ Ông không có khả năng cai trị xứ Miên với diện tích rộng lớn nên các quốc gia láng giềng đem quân đánh chiếm Cao Miên như nước Chàm (miền trung VN), Thái Lan (triều đại Sukhothai) v.v. để dành lại đất. Vua Srindravarman (1295-1309) là người đã du nhập Phật giáo tiểu thừa từ Tích Lan về Cao Miên.
Đại đa số người dân Cao Miên tu theo tiểu thừa mặc dù tiểu thừa tới Cao Miên sau đại thừạ Sự tiến hóa thay đổi từ Ấn Độ giáo đến đại thừa sang tiểu thừa xảy ra rất êm thắm tại Cao Miên; điểm đặc biệt là “thực dân Pháp” muốn phật tử Cao Miên cải đạo trở thành tín đồ thiên chúa giáo, nhưng không thành công vì giáo lý không thích hợp với tâm linh của người Miên chăng?
Năm 1431, vua Barom Reachea dời thủ đô từ Angkor về Nam Vang (Phnom Penh) trước sự xâm lăng của Thái Lan. Phnom Penh có nghĩa là “mụ già trên núi” (thiên mụ?) vì Penh có nghĩa là “mụ già”. Theo truyền thuyết, có một bà nhìn thấy tượng Phật trôi sông, bà vớt tượng Phật lên và đem về thờ trên núi nên vua Cao Miên tin nơi đây là vùng đất thiêng.
Thái Lan và VN (nhất là Thái Lan) đe dọa xâm chiếm Cao Miên thường xuyên qua nhiều thế kỷ từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 18. Vì thế, người Miên không bao giờ tin người Thái và người Việt trong bất cứ hoàn cảnh nào vì họ có quá nhiều kinh nghiệm xương máu với hai quốc gia láng giềng luôn có mộng mưu đồ xâm chiếm đất đai của ho..  
 
Thực Dân
Khác với VN do thực dân Pháp áp đặt, Cao Miên tự nguyện xin thực dân Pháp đến cai trị xứ Miên để bảo vệ Cao Miên thoát khỏi sức ép của hai nước Thái Lan và VN có manh nha chiếm đất và đồng hóa ho.. Năm 1863, Pháp đặt Cao Miên vào Liên Bang Đông Dương dưới sự cai trị của toàn quyền Pháp tại VN. Thái tử Sihanouk là cựu học sinh trường công lập Chasseloup-Laubat tại Saigon. Trường này đổi tên lại thành trường công lập J.J. Rousseau dưới thời đệ nhất cộng hòạ
Chính phủ Pháp cho mời thái tử Sihanouk trở về Cao Miên để đăng quang lên làm quốc vương năm 1941. Vua Sihanouk tuyên bố Cao Miên độc lập vào năm 1953. Trên lý thuyết, Sihanouk chủ trương Cao Miên trung lập; nhưng trên thực tế, Sihanouk có khuynh hướng thân cộng; Thí dụ, Sihanouk cho CSVN đem quân vào miền nam VN qua đường mòn Hồ Chí Minh và cho CSVN đóng quân trên đất Miên.
Cố vấn Ngô Đình Nhu chống đối đường lối trung lập “thân cộng” của vua Sihanouk. Ông đã gởi tặng vua Sihanouk 2 gói đồ có để chất nổ; nhưng vị phụ tá của vua Sihanouk đã mở phong bì nên bị chết ngay tại chổ. Vua Sihanouk coi cố vấn Ngô Đình Nhu là kẻ thù không đội trời chung. Vua Sihanouk nổi tiếng đu dây giữa hai nhóm hoàng gia cực hữu và cộng sản cực tả để áp đặt đường hướng theo ý muốn của ông.
Năm 1970, lợi dụng Sihanouk đi Bắc Kinh, tướng Lon Nol và hoàng thân Sirik Matak làm đảo chánh lật đổ vua Sihanouk do CIA giật dây nên khi HK bỏ rơi “Cao Miên”, ông Sirik Matak đã từ chối lời mời của đại sứ Mỹ di tản sang HK. Ông đã viết thư trả lời cho đại sứ HK “tôi chỉ có cái sai lầm là tin tưởng vào người Mỹ”. Ông bị Miên Cộng giết chết một ngày sau khi Miên Cộng chiếm lấy Nam Vang.
Lon Nol ra lệnh cho tất cả CSVN/MTGPMN phải rời khỏi Cao Miên trong vòng 72 tiếng đồng hồ sau khi ông đảo chánh Sihanouk. Được sự ủng hộ của Miên Cộng, CSVN không những không rút quân, lại còn phản công đánh lại quân đội hoàng giạ Vì thế, sinh viên và dân chúng Cao Miên tức giận, kéo nhau đi biểu tình và kiếm người VN đang sinh sống tại Cao Miên để “cáp duồn” (chém đầu).
Quân đội VNCH bắt buộc phải đem quân qua Cao Miên để bảo vệ người Việt đang sinh sống tại đất Miên. Người Miên càng ghét người lính VNCH bao nhiêu thì CSVN ngư ông đắc lợi bấy nhiêụ Họ thừa cơ hội để bắn giết quân đội Cao Miên và lính VNCH. Ông Sirik Matak là người có công dàn xếp và xoa dịu tình thế bất ổn tại Cao Miên.
Sihanouk hợp tác với Miên Cộng với sự ủng hộ của TC, chống lại quân đội hoàng gia của tướng Lon Nol. Tưởng cần nhắc lại, Lon Nol bị bệnh đột quỵ bất ngờ nên trao quyền lại cho hoàng thân Sirik Matak lên làm thủ tướng. HK bán đứng Cao Miên cho cộng sản nên cúp viện trợ cho Cao Miên. Kết quả, thủ tướng Sirik Matak không có tiền trả lương và cung cấp khí giới cho quân độị Nam Vang bị thất thủ vào ngày 20.4.1975, tức là 10 ngày trước khi Saigon lọt vào tay CSVN. 
 
Cộng Sản
Đa số những người lãnh đạo Miên Cộng đều theo học chương trình giáo dục của Pháp như Khieu Samphan, Pol Pot, Iang Sary (sanh tại Trà Vinh VN), Nuon Chen (đầu gà đít vịt), Son Sen (sanh tại Trà Vinh VN cũng là đầu gà đít vịt) v.v Những người này muốn đưa xứ Cao Miên tiến nhanh đến thiên đàng cộng sản nên họ sẳn sàng tiêu diệt tất cả những chướng ngại mà họ nghĩ làm cản trở con đường cách mạng vô sản của ho..
Miên Cộng đã giết trên 2 triệu người Miên và gần 100, 000 tu sĩ PG trong vòng 4 năm cầm quyền. Họ giết trung bình mỗi tháng ít nhất là 40, 000 người; đó là chưa kể, họ đày người dân đi vùng kinh tế mới, bỏ đói người dân, làm cho gia đình ly tán v.v đời sống dưới chế độ cộng sản còn ghê rợn hơn địa ngục được kể trong sách vở.
Đảng viên Khờ me đỏ không bao giờ tin VN, nhất là CSVN nên họ đem quân đánh CSVN, chiếm lấy đảo Phú Quốc v.v Vì thế, CSVN lợi dụng thế giới lên án Miên Cộng về tội “diệt chủng”. Họ đem quân đánh chiếm Cao Miên, nhưng không ngờ Miên Cộng học cùng thầy với CSVN về chiến thuật “thí quân” nên Miên Cộng chống cự ác liệt và làm chết nhiều lính CSVN.
CSVN phải rút quân ra khỏi Cao Miên sau 10 chiếm đóng Cao Miên vì Liên Hiệp Quốc lên án CSVN về tội “xâm lược”, vì TC dạy cho CSVN bài học dám đánh đàn em của họ và vì binh tướng CSVN chết quá nhiều mà phần đông lính tráng bị chết là con cháu của người lính VNCH bị làm bia đở đạn cho quân đội CSVN.  
    
Ngày Nay
Sihanouk hợp tác cùng với tân chính phủ (do CSVN dựng lên) và cùng tổ chức bầu cử tự do tại Cao Miên dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Mặc dù phe hoàng gia chiếm đa số, nhưng họ phải hợp tác với chính phủ cộng sản (thân CSVN) để tạm thời cai trị đất nước. Ngày nay, thủ tướng Hun Sen phản phé CSVN. Ông ta bắt tay với TC và ủng hộ TC trong vấn đề Biển Đông.
TC gia tăng viện trợ cho Cao Miên và gởi người sang Cao Miên để khai thác tài nguyên và chuẩn bị tấn công CSVN qua 4 hướng: bắc từ biên giới TC, tây từ Cao Miên, đông từ Biển Đông và nam từ thượng nguồn sông Mékong với “tam đập” (three gorges dam) làm cho ruộng lúa miền nam thiếu nước ngọt và nước biển tràn vào đồng ruộng của miền nam VN.
Kết luận, Cao Miên luôn ở trong vị thế đu dây giữa Thái/VN và Pháp, giữa cực hữu hoàng gia và cực tả cộng sản, giữa CSVN và TC, giữa pháp tông phái (đến từ Thái Lan) và đại tông phái (đến từ Tích Lan). Sihanouk kêu gọi người dân Cao Miên thuộc bộ tộc Môn (Cao Miên), Khrom (đồng bằng Cửu Long) và Surin (Thái Lan) đoàn kết lại để tái lập đế quốc Khờ mẹ
Mộng của Sihanouk là thành lập vương quốc  Khờ me vào năm 2020 có dân số trên 60 triệu (so với hiện nay Cao Miên chỉ có 15 triệu dân) và diện tích mới sẽ tăng lên gấp đôi (nếu tính luôn vài tỉnh miền nam VN và vài tỉnh miền đông Thái Lan); nhưng ước vọng của ông chưa thực hiện được thì ông chết vào ngày 15.10.2012.   
 
PHẬT GIÁO
Phật giáo Khờ me cũng tạm chia ra làm 6 thời kỳ: đại thừa, tiểu thừa, thực dân, VNCH, Khờ me đỏ, CSVN
 
Đại Thừa
Khoảng từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 10, Ấn Độ giáo và Phật giáo đại thừa được truyền bá sang các quốc gia Đông Nam Á. Thí dụ, Nam Dương có ngôi đền Phật giáo đại thừa xây theo cấu trúc “mandala” mật tông có tên là Borobudur vào cuối thế kỷ thứ 8 (750-850). Tổ sư mật tông Tây Tạng là ngài Atisa (980-1054) đã sang Nam Dương tu học gần 12 năm về pháp “bồ đề tâm” vào đầu thế kỷ 11.
Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy vua Cao Miên xây các đền đài Angkor Wat và Angkor Thom dựa theo khuôn mẫu của chùa Borobudur ở Nam Dương với nhiều hình tượng bồ tát đại thừa, các vị trời Ấn Độ giáo, Đức Phật 4 đầu và cấu trúc của đền đài Angkor theo hình “mandala” với núi “Tu Di” ở giữạ

Tiểu Thừa
Phật giao tiểu thừa còn biết dưới danh từ Phật giáo nam tông (Theravada) đến Cao Miên vào thế kỷ 11 do chư tăng từ Tích Lan truyền sang. Tưởng cần biết, thái tử và công chúa, con của đại đế A Dục (Asoka) tại Ấn Độ, xuất gia và truyền bá đạo Phật đến Tích Lan, từ Tích Lan xuyên qua Ấn Độ Dương đến Đông Nam Á; đặc biệt truyền thừa vào Thái Lan và Cao Miên.
Vua Srindravarman là tu sĩ tiểu thừa tu học tại Tích Lan nên khi ngài trở về nước năm 1190, ngài đem giáo lý nam tông vào trong nước và lập thành “đại tông phái” là quốc giáo tại Cao Miên. Vì thế, đại tông phái có thể kể là tông phái truyền thống của Cao Miên. Đại đa số chư tăng thuộc về “đại tông phái” và sống rất gần gũi với người dân Cao Miên.
Vào thế kỷ 19, vua Norodom mời các sư Thái Lan thuộc “pháp tông phái” đến Cao Miên để truyền dạy giao lý nên “pháp tông phái” (Thammamyut) được sự ủng hộ của hoàng gia Cao Miên. Tông phái này chuyên gìn giữ giới luật, dạy pháp và thiền đi.nh. Điều cần biết, các quốc gia đại thừa đọc kinh bằng tiếng Hán (*) và các quốc gia tiểu thừa đọc kinh bằng tiếng Palị
Tóm lại, đa số dân Miên là tín đồ “đại tông phái”; chỉ có những người quyền thế, hoàng gia là tín đồ “pháp tông phái”. Nhiều người Miên không tu theo “pháp tông phái” vì họ nghĩ tông phái này đến từ Thái Lan mà Thái Lan và VN là kẻ thù chung của người Miên. Mỗi tông phái đều có vị trưởng lão hòa thượng (**) trông coi và được nhà vua sắc phong là “vua sãi” (sangharaja).
 
Thực Dân
Phật giáo Cao Miên ít tham gia hay lên tiếng về chính tri.. Chùa là trung tâm của làng xã. Mỗi ngôi chùa có từ 5 đến 70 vị tăng. Trẻ em từ 7 tuổi có thể xin xuất gia vào chùa gọi là chú tiểu “tuổi đuổi quạ”, từ 7 tuổi đến 20 tuổi mới gọi là sa di và muốn trở thành vị tỳ khưu, tu sĩ phải có trên 20 tuổi đời, thọ 227 giới, chưa kể 10 giới căn bản và 5 giới phải theo là: không ăn phi thời (ăn ngọ), không đàn ca, không đeo nữ trang, không nằm giường cao và không giữ tiền.
Tu sĩ Phật giáo tiểu thừa phải sống đời độc thân, không tham gia chính trị tức là không đi bầu cử hay đi làm chứng trước tòa án. Nếu vị nào phạm vào lỗi trên thì bị bắt buộc hoàn tục. Người dân Cao Miên rất kính trọng tu sĩ có trên 20 tuổi hạ thường được xứng tán là thượng tọa (maha thera). Một tuổi hạ đạo được tính mỗi khi chư tăng an cư trong chùa vào mùa mưa mỗi năm từ tháng tư đến tháng 7; đây là thời gian chư tăng sám hối, học kinh, nghe pháp và thiền đi.nh. 
 
VNCH
CSVN và Khờ me Đỏ thường lẫn trốn trong chùạ Họ biết quân đội VNCH hay quân đội hoàng gia Cao Miên không dám pháo kích hay nhả đạn vào chùa vì sợ giết nhằm tu sĩ trong chùa, hay phá hoại chùa chiền hoặc làm hư hại tượng Phật. Trong khi đó, cộng sản coi Phật giáo là kẻ thù số 1 vì họ tin Phật giáo sẽ cản trở CS tiến tới con đường xã hội chủ nghĩa, vì đạo Phật chủ trương từ bi nghịch lại với CS chủ trương cách mạng đổ máụ (Stalin có nghĩa đen là bàn tay sắt giết người). 
 
Khờ me Đỏ
Điều 20 của Hiến Pháp Khờ me đỏ năm 1976 ghi “Phật giáo là quốc giáo”. Thực tế, Khờ me Đỏ đã giết gần 100,000 tu sĩ Phật giáo Cao Miên trong vòng 4 năm. Tu sĩ Cao Miên còn lại không tới 100 vị, đa số đều lánh nạn tại các trại tỵ nạn ở Thái Lan và VN (mà CSVN đã cưỡng chiếm miền nam VN vào ngày 30.4.1975). Thật tội cho tu sĩ Cao Miên tránh võ dưa tại Cao Miên lại gặp võ dừa tại VN!
Hai “vua sãi” (Sangharaja) Cao Miên đã chết trong thời gian 4 năm cai trị của Khờ me đỏ mà nguyên nhân chính thì ai cũng đoán được là bị giết chết trong đêm tốị Phần đông những vị còn sống sót là các vị sư trẻ tỵ nạn tại các quốc gia láng giềng và được định cư tại các quốc gia tây phương. Thí dụ, có 21 tu sĩ Cao Miên cho 12 ngôi chùa Cao Miên tại HK vào năm 1984; trung bình có 2 vị sư trông coi 1 chùạ Đa số các tu sĩ trẻ Cao Miên kém về giáo pháp và tiếng Pali vì thiếu người chỉ dạy giáo pháp trong thời gian tỵ nạn.
 
CSVN
CSVN xâm lược Cao Miên vào năm 1978, dựng lên chính phủ Cao Miên bù nhìn. Các sư quốc doanh VN làm lễ “tái xuất gia” cho các vị sư Cao Miên đang tỵ nạn tại VN. CSVN đưa các vị này trở về Cao Miên để phục vụ cho CSVN dưới hình thức “quốc doanh” theo chỉ đạo CSVN. Dân chúng Cao Miên thường tỏ ý nghi ngờ tu sĩ Cao Miên đến từ VN vì họ nghĩ các vị này do CSVN đào tạo, làm tình báo và tu không đúng chánh pháp.
Liên Hiệp Quốc tổ chức bầu cử tự do tại Cao Miên với sự tham dự của 2 đảng chính gồm có đảng hoàng gia Funcinpec (Sihanouk) và đảng cộng sản CPP (Heng Samrin/Hun Sen đều là cựu đảng viên Khờ me đỏ). Đảng CPP (KPRP) là hậu thân của đảng cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh thành lập năm 1930. Về sau, Cao Miên có thêm đảng thứ 3 (CNRP) do ông Sam Rainsy thành lập.
Tưởng cần biết, ông Sam Rainsy đang chống đối và tố cáo chính phủ đang cầm quyền (Hun Sen) gian lận lá phiếu trong ký bầu cử 2013 với kết quả: Hun Sen chiếm 68 ghế và Ramsy được 55 ghế trong quốc hộị Ông Rainsy kêu gọi người dân biểu tình chống chính phủ trong ôn hòa cho đến khi nào “sự thật” được phơi bàỵ
Tưởng cần nhắc lại, pháp tông phái chủ trương không tham gia chính trị, không đi bầu cử. Đại tông phái chủ trương tham gia chính trị, nhất là tu sĩ trẻ kêu gọi tất cả chư tăng đi bầu sau khi biết Liên Hiệp Quốc tuyên bố “tù nhân” và “tu sĩ” có quyền đi bầụ
Tu sĩ Cao Miên ở hải ngoại như Âu Châu và Bắc Mỹ trở về nước càng ngày càng đông để phụng sự xã hội và làm sống lại Phật giáo tại Cao Miên với các chương trình từ thiện, dân chủ của các tổ chức “xã hội dân sự” (NGO); thí dụ, tổ chức NGO của nước Đức HBF- Heinrich bolt Foundation (trang nhà:
http://www.kh.boell.org/).
Các chương trình xã hội như tranh đấu cho nhân quyền, bảo vệ phụ nữ, đi gỡ mìn do cộng sản gài, bảo vệ môi trường, ngăn chận phá rừng v.v đòi hỏi người làm việc phải có khả năng ngoại ngữ để đối thoại với ngoại quốc. Đây là thử thách “dấn thân”, nhập thế của tu sĩ Phật giáo tiểu thừa Cao Miên ngày naỵ
Nơi đây, chúng tôi tạm kể ra bốn vị tiêu biểu cho PG Cao Miên là tu sĩ Sam Bunthoen, tu sĩ Nhem Kim Teng, cư sĩ Buth Savong và vua sãi Tep Vong như sau:.
* Ngài Sam Bunthoen sanh năm 1957, thọ tỳ khưu năm 1980, chủ trương ăn chay, tu thiền “Tứ Niệm Xứ” theo phương pháp của cư sĩ Goenkạ Ngài thành lập nhiều trung tâm thiền tại 13 tỉnh ở Cao Miên. Ngài chủ trương tu sĩ phải đi bầu, bảo vệ phụ nữ/trẻ em và tham gia chính trị để bảo vệ Phật Pháp. Ngài bị kẻ lạ ám sát vào tháng 2, 2003.
* Ngài Nhem Kim Teng là tu sĩ tỵ nạn cộng sản tại VN năm 1973. Ngài đổ tiến sĩ xã hội học tại đại học Delhị Ngài trở về nước để phụng sự cho người dân Cao Miên. Ngài tham gia tổ chức Santi Sena năm 1994 do ngài Heng Mony Chendra lãnh đạọ Ngài Nhem Kim Teng thành lập trung tâm BDF (Buđhism Development Foundation) để giúp người nghèo, xây nhà thương và nuôi trẻ em mồ côi v.v.  
* Ngài Buth Savong sanh năm 1960. Mẹ của ngài bị Pol Pot giết chết trong thời kỳ Miên Cộng cầm quyền (1975-1979). Ngài xuất gia ngay sau khi Miên Cộng bị CSVN tấn công vào năm 1979. Ngài cởi áo tu vào năm 1984 và noi theo gương của cư sĩ Anagarika Dharmapala (Tích Lan)  để phụng sự Phật Pháp.
Ông Savong mặc áo tràng trắng cư sĩ (theo truyền thống tiểu thừa), cạo đầu và sống độc thân. Ngài thường dạy Phật Pháp tại thành phố Battambang năm 1990, dạy Vi Diệu Pháp tại Nam Vang năm 1997 và hay lên tiếng chỉ trích những sai lầm, phạm giới của chư tăng không nghiêm trì giới luật hay lợi dụng Phật Pháp để làm kế sinh nhaị
Các trung tâm tu học của ngài rất có lớp lang, ngăn nấp và sạch sẽ. Phòng ốc của chư tăng đều có cửa sổ luôn mở ra để các vị giám thị có thể kiểm soát hành vi của tu sĩ. Tổ chức của ngài đều có các lớp dạy về tiếng Pali, giáo pháp, vi diệu pháp và thiền đi.nh. Độc giả có thể viếng thăm trang nhà của cư sĩ Savong để biết thêm chi tiết:
http://www.dhamma4khmer2.org/buthsavong.html
* Vua sãi Tep Vong xuất gia tại VN. Ngài được CSVN đưa trở về Cao Miên và được sắc phong làm vua sãi từ năm 1981 đến năm 1991. Năm 2006, ngài được tặng danh hiệu “đại tăng thống” của đại tông phái (great supreme patriarch). Nhưng dân Miên thường chống ngài vì nghĩ ngài là tay sai của CSVN và đặt tên ngài là Hochimonk. 
 
KẾT LUẬN
Ngày nay, dân Cao Miên có tự do đi bầu dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Mặc dù có sự gian lận lá phiếu trong lúc bầu cử, nhưng qua thời gian, các đảng phái thiểu số có thể đoàn kết lại để chống lại sự gian lận của đảng cầm quyền.
Cao Miên luôn ở trong tình trạng đu dây giữa hai cực. Vào thế kỷ 19, Cao Miên mượn tay “thực dân Pháp” để chận đứng tham vọng của Thái Lan và VN. Vào thế kỷ 21, Cao Miên lại mượn tay TC để chống lại Thái Lan và CSVN; đó là sự sống còn của dân tộc Cao Miên.
Phật giáo Cao Miên đã có thời hoàng kim với các trường cao học Pali và Phật học. Vua sãi có nhiều uy tín trong dân chúng và trên thế giới với kiến thức Phật Pháp và dầy kinh nghiệm tu tập thiền đi.nh.
Ngày nay, tu sĩ Cao Miên còn non trẻ với nhiều thử thánh mới như: - phải có pháp học và pháp hành – phải dấn thân vào công tác “xã hội dân sự” - phải có kiến thức cần thiết để gia nhập vào trong xã hội toàn cầụ
Tóm tắt, PGVN là Phật Giáo “quốc doanh” đang bị ô nhiễm bởi lý thuyết Mác Lệ PG Lào đang bị CS Lào kìm kẹp. PG Khờ me đang trở thành PG “dấn thân”, vừa có trách nhiệm làm sống lại PG trong nước, vừa có trách nhiệm giúp người dân vượt qua tâm lý “khủng hoảng”, ám ảnh bởi chính sách “diệt chủng” của Khờ Me Đỏ.
10.12.2013
Đặng Tấn Hậu
 
Ghi Chú:
 
(*) VN chưa có bộ đại tạng kinh Phật giáo dịch ra tiếng Việt. Các chùa VN hải ngoại thường trưng bày bộ đại tạng kinh bằng tiếng Hán trên kệ sách, nhưng ít ai mượn kinh sách để đọc hay tham khảo vì không biết tiếng Hán; ngoại trừ vài bộ kinh đã được dịch ra tiếng Việt. Nhu cầu cấp bách ngày nay là chư tăng VN cần dịch đại tạng kinh từ tiếng Hán ra tiếng Việt trong tương laị     
(**) Vị tỳ khưu nam tông có 5 tuổi hạ được gọi là đại đức (thera), có 20 tuổi hạ gọi là thượng tọa (maha thera). Vị nào có trên 60 tuổi đời và 40 tuổi hạ mới được hội đồng chư tăng cứu xét và (có thể) phong chức “hòa thượng” (nayaka maha thera). Do đó, tuổi hạ rất quan trọng trong phật giáo tiểu thừa vì chức phận không dựa trên “sống lâu lên lão làng”.
 
 

No comments: