Thursday, November 21, 2013

ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM

Lời dặn nhau

Nguyễn Lân Thắng viết cho RFA từ VN
2013-11-04
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ image-305.jpg

Trở về nhà trên xe của bộ Công an sau 18 tiếng "làm việc" cùng cơ quan an ninh, tôi đã có một cuộc tranh luận nho nhỏ ngoài biên bản với các chiến sỹ an ninh về tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, chuyện trao Tuyên bố 258... Chuyện thì cũng vui vui thôi, nhưng đến cuối cùng chị T cục A67* nhắc nhẹ: "...Anh lưu ý, nói là một chuyện, làm là một chuyện khác nhé..."


 Công an ngăn chặn người dân biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 22/7/2012. AFP photo
 Lời dặn dò cuối cùng cứ văng vẳng trong đầu làm tôi suy nghĩ mãi, không biết lời dặn này có phải là có ý cho phép tôi cứ nói đi, còn làm nên dè chừng...??! Có một câu chuyện vui thế này: "Cả thế giới đều phải kiêng nể người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm rồi mới nói. Người Nhật lại sợ Trung Quốc vì Trung Quốc không nói mà làm. Nhưng rồi tất cả chúng nó sợ ai??? Xin thưa, sợ nhất Việt Nam vì Việt Nam nói một đằng làm một nẻo…".


Nói đùa thì là như vậy, nhưng nói thật, tôi vẫn nhớ như in khẩu hiệu "Người cày có ruộng" năm xưa và hình ảnh đám lính mờ mờ cầm khiên đi cưỡng chế đất trên cánh đồng Văn Giang năm 2012. Tôi không thể quên lời hát "có sách mới áo hoa đây là nhờ ơn..." và hình ảnh đám trẻ con dân oan nheo nhóc ngoài vườn hoa hôm nay. Hôm trước thì trên Facebook có bạn nào đó nhắc lại chuyện năm 2010, một vị "tứ trụ" khẳng định tập đoàn Vinashin năm 2013 sẽ có lãi... Cách đây mươi ngày, tập đoàn này lặng lẽ quay về mô hình tổng công ty, và nợ thì chưa biết sẽ thế nào!

Tôi bối rối lắm, trả lời phỏng vấn mấy đài quốc tế rõ ràng rồi mà nhiều bạn bè Facebook cứ trách móc, sao ông chẳng lên tiếng gì nữa, hay là ông đã có thỏa thuận gì chăng? Hình như họ muốn tôi phải hô to lên để tố cáo chế độ, hét to lên để buộc tội chính quyền cầm tù tôi 18 tiếng đồng hồ. Chuyện của tôi nhỏ lắm, đâu đáng nói bằng bao nhiêu việc oan trái trên đất nước này.

img_1316a(4)-250.jpg

 
Dù thế nào thì một điều rõ ràng là họ đã sợ. Họ sợ cả những điều tôi và bạn bè đã nói và những việc chúng tôi đã làm. Họ rất quan tâm xem tôi gặp ai, ở đâu, làm gì. Họ có thể tạm chấp nhận thả cho tôi tự do một thời gian vì sức ép của truyền thông quốc tế và hoàn toàn có thể bắt tôi trở lại bất cứ lúc nào mà họ muốn bằng những bản án nặng nề. Vâng, tôi biết... Tôi biết quá rõ những bản án trước đây cho những con người, chỉ vì muốn nói, muốn hát, hay muốn gửi gắm khát vọng vào thơ ca mà phải trả giá bằng cả cuộc đời trong tù ngục. Tôi biết quá rõ những điều tôi nói, những việc tôi làm mà chỉ bị câu lưu thế này là một sự "nhân nhượng" không hề nhẹ... 

Cảm ơn các anh chị đã lắng nghe và ghi chép tỉ mỉ từng lời nói của tôi, ít ra ta đã được nói với nhau một lần sòng phẳng. Nhưng có lẽ các anh chị vẫn tiếc là bằng ngần ấy thời gian, nhưng chẳng thể thuyết phục gì ở tôi... và tôi thì cũng tiếc, tiếc là tôi nói còn kém quá, chắc là anh chị cũng chẳng thay đổi được chút gì. Tôi biết công việc của các anh chị vất vả vô cùng, phải có một tình yêu và niềm tin mãnh liệt thế nào thì các anh chị mới ngày đêm làm việc như thế được. Nhưng xin các anh chị hãy hiểu, những gì tôi nói, những việc tôi đã làm cũng chỉ vì có những kẻ đáng ra phải làm được những gì như đã nói, đáng ra phải biết xấu hổ trước nhân dân... họ đã tự tước bỏ niềm tin từ tôi và bao nhiêu người khác nữa mất rồi.


Là những người có trọng trách trong ngành an ninh, chắc hẳn các anh chị được đào tạo bài bản và biết rất rõ về Karl Marx. Mộ của Karl Marx nằm trong nghĩa trang Highgate tại London vì ông đã sống lưu vong và qua đời tại đây. Đó là một nghĩa trang rất thanh bình với những kiến trúc Gothic tuyệt đẹp thời Victoria. Là cha đẻ của chủ nghĩa xã hội, trên bia mộ của ông có khắc một dòng chữ rất nổi tiếng: Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!** Nhưng ít người để ý bên dưới tấm bia này còn khắc một dòng chữ khác: Nhà triết học chỉ cố gắng kiến giải thế giới theo nhiều cách khác nhau, nhưng điều quan trọng là phải cải tạo nó.***

Tôi thì không có tham vọng cải tạo thế giới. Tôi chỉ muốn làm làm gì đó để người nông dân mình không còn bị mất đất, trẻ em chúng ta không bị tiêm chủng nhầm thuốc co giãn tử cung và ngư dân ra biển của mình đánh cá mà không phải lạy thằng Tàu... Tôi không đánh giá cao kết quả thực tiễn những lý thuyết của ông Marx, nhưng tôi sẽ nghe ông ấy về chuyện là phải hành động. Chỉ nói không thôi chưa đủ giải quyết vấn đề.
Tôi là người vô thần, tôi tôn trọng niềm tin hay tín ngưỡng của người khác. Nhưng nếu bắt tôi phải tin vào những điều mà tôi không phục, bắt tôi phải yêu những điều mà tôi ghét... thì không bao giờ các anh chị nhé!
Chào thân ái và quyết thắng!
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA
_________________________
* A67: Cục Bảo vệ chính trị VI (Chống khủng bố, phản động trong nước)
** Workers of all lands, unite
Những nghệ nhân chạm khắc tại vỉa hè Hà nội
RFA *** The philosopher have only interpreted the world in the various ways. The point however is to change it


Chia sẻ In trang này Những nghệ nhân chạm khắc tại vỉa hè Hà nội




  • Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
    Phần âm thanh Tải xuống âm thanh Những người Hà Nội hoài cổ vẫn còn đâu đó giữa Hà Nội với một chút tiếc nuối về một thuở tàu điện leng keng, một không gian Hà Nội chầm chậm, mặt hồ liễu rũ, lòng người thanh tân, nếp sống thanh lịch…

    Những nét đẹp ấy đã tan biến cùng sương khói thời gian, thay vào đó là một Hà Nội pha tạp nhiều giọng nói, nhiều kiểu sống mới lạ và đặc biệt là nhiều hành vi ứng xử khiến cho người gốc Hà Nội phải chau mày và buồn tiếc một thời đã qua. Sự hiện hữu những người ngồi khắc con dấu, khắc triện ở phố Hàng Quạt, giữa Hà Nội Ba mươi sáu phố phường, trong một ý nghĩa nào đó, giống như ấn chứng về vẻ đẹp Hà Nội xưa.
    Ở số 6, Hàng Quạt, Hà Nội, người ta vẫn không quên hình ảnh một vị thầy giáo mắt đeo kính cận, dáng người phúc hậu, tính tình cởi mở, hòa nhã.. . ngồi cặm cụi chạm khắc từng thớ gỗ. Thầy Phạm Ngọc Toàn, nói ông là thầy giáo cũng đúng vì ông từng thế, mà bảo ông là nghệ nhân chạm khắc cũng không sai. Là chủ cửa hàng Phúc Lợi, chuyên làm khuôn bánh, khuôn oản, khuôn xôi và những con dấu, con triện. Một không gian nhỏ, vừa đủ hai người ngồi trong một căn xếp nhỏ cũng vừa đủ treo một số khuôn bánh in, khuôn xôi, khuôn oản các loại, một thầy, một trò, trước mặt hai người là một chiếc làn đựng những con triện, con dấu bằng gỗ thị, gỗ lekima với nhiều hình ảnh sinh động như mười hai con giáp, bộ lân long qui phụng, tháp Rùa hồ Gươm, tháp Bút Hồ Gươm, Hồ Tây, những bộ truyện tranh ngộ nghĩnh dành cho tuổi đồng dao. 

    Anh Phạm Ngọc Toàn kể về công việc của mình:
    “Năm nay chú gần 60 rồi, trước đây thì chú đi học, đi dạy học, nhưng sau đói quá, không ăn thua sau về làm cái này. Chú ngồi đây từ năm 1993, nhưng mà cái chất nghề thì đã từ bé rồi. Một ngày, ví dụ như những hình phức tạp thì cũng được 3 – 4 cái, còn những hình này có thể nhiều hơn, (hình những chiếc hoa đơn giản, hình 12 con giáp…) hình này theo thói quen rồi, chứ còn cái này mình nghĩ, nó sinh động như hai đứa đi xe máy, hai đứa chèo thuyền… thì được độ 3 – 4 cái. Nghề này là nghề gia truyền, cũng mấy đời rồi, có ông tổ nghề, ở Hà Tây cũ. Cái trò này hay lắm mà cái này vào Hội An là 150 ngàn đồng luôn!”

    Với anh Toàn, dường như công việc của anh không dừng ở ý nghĩa kiếm sống thường nhật và động cơ làm giàu bằng nghề này hoàn toàn không nặng, dường như phía sau những ngày cặm cụi gọt giũa, cắt tỉa hình thù con chữ, từng con mèo, on khỉ, con rồng… người làm công việc này đã ký thác một chút Hà Nội xưa kiêu hãnh, lãng mạn và nồng ấm trong đường nét, thớ gỗ. Có lẽ chính vì thế mà khi khắc xong giùm chúng tôi vài con dấu, thấy đẹp quá, chúng tôi có nhã ý tặng thêm anh một chút tiền uống cà phê, anh Toàn vui vẻ từ chối và nói với chúng tôi rằng niềm vui của anh nằm ở chỗ chúng tôi thấy thích, thấy quí trọng những nét tinh xảo trên con dấu, con triện chứ không phải ở khoản tiền nhiều hơn bình thường.

    Các loại khuôn bánh in.  Các loại khuôn bánh in. RFAVì lẽ, một người Hà Nội đích thực rất coi trọng công lao động của người khác, nó quí như chính công sức của mình. Lấy tiền vừa đủ với công sức của mình cũng có nghĩa là biết quí trọng người khác đã lao động khổ nhọc biết nhường nào để kiếm ra đồng tiền. Và có một điều nữa là những ai biết quí trọng cái tên của mình cũng đồng nghĩa với chuyện biết quí trọng danh dự, chữ Tín và chữ Nhân của mình, đôi khi, việc tự tìm thợ khắc một con dấu để in vào uốn sách, ghi dấu khoảnh khắc và mang nó theo suốt đời có ý nghĩa hơn rất nhiều so với chuyện đạt được một địa vị nào đó, để ai đó mang con dấu đến cho mình đóng, xong việc, con dấu ấy lại vứt đi và người ta chẳng biết tìm đâu ra người đóng dấu khi nhiệm kì đã qua… Đó cũng là một triết lý vui của một người Hà Nội thâm trầm.

    Lưu giữ nét xưa

    Một khách du lịch tên Thời, người Đà Nẵng, cảm động chia sẻ với chúng tôi rằng khi đến phố Hàng Quạt, nhìn những khuôn bánh in lưu dấu một thuở xa xưa, thời mà kinh tế đất nước còn nghèo nàn, lạ hậu nhưng lòng người thơm thảo, sống nghĩa tình ấm áp với nhau, thời mà cuối năm, mẹ anh đi rang nếp, rang gạo, rang đậu xanh, còn gọi là đi chấy ngũ cốc, mang về xay thành bột, rồi tối đến hong bột trên mái nhà hoặc trên chiế ghế cao trước hiên để sương tháng chạp quyện vào, làm cho bột trở nên dẽo thơm, sau đó trộn với đường bát cạo mỏng, vo bột cho đủ dẽo rồi in thành từng hiếc bánh đủ các hình hài, từ đàn gà, đàn lợn cho đến nàng tiên, chú cuội…
    Cơn gió thị trường cuốn xô mọi thứ, nhưng đâu đó, một chút trầm lặng, một chút thanh khiết và một hút kiêu sa của những nghệ nhân có thu nhập thấp nhưng lại có đời sống tinh thần phong phú, nhẹ nhàng và hào sản lại làm cho Hà Nội trở nên huyền nhiệm, cổ độ và thấp thoáng dấu xưa của một thiên đường đã mất
    Bánh in được hong trên lửa than cho dòn, thơm và được cất kĩ trong hộp lót giấy trắng, đợi ngày cúng chạp, buổi giao thừa hoặc ngày đầu năm mới mang ra mời người già nhâm nhi uống nước trà, mời trẻ nhỏ chút quà đầu năm… Cái không khí ấy tuy đạm bạc nhưng rất đỗi hồn vía, mang mang âm hưởng của bốn mùa và lòng người, hân hoan sắc xuân nhưng cũng sâu lắng tâm hồn đất đồng khói rạ, nao nao tuổi đời và ý niệm thời gian. Dường như những cảm giác ấy đã mất hẳn trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thay vào đó là một thị trường xô bồ, cái Tết cũng cập rập, nhiều toan tính, mất đi sự tĩnh lặng, sâu thẳm cuối năm. Thế rồi, giữa Hà Nội hiện đại, tốc độ và hào nhoáng, bắt gặp những chiếc khuôn bánh bằng gỗ, ký ức xưa lại ùa về.

    Một khách du lịch khác tên Phượng, chia sẻ với chúng tôi rằng lần nào đi Hà Nội, chị cũng cố gắng ghé lại phố Hàng Quạt để khắc một con dấu mang tên người thân hoặc bạn bè làm quà kỉ niệm. Cũng có người rất quí món quà này, cũng có người nhận vì nễ mích lòng, bởi vì trong thời kinh tế thị trường, tặng nhau một con dấu có đôi khi không được coi trọng bằng tặng một tờ vé số. Thế nhưng, dẫu sao chị cũng tin rằng những món quà tặng chứa tình cảm và sự hoài cổ của chị một ngày nào đó sẽ gợi nhắc điều gì đó về tuổi thơ đã qua của những bạn bè thân.

    Đặc biệt, chị Phượng lấy làm hạnh phúc khi chị mang về tặng mẹ một chiếc khuôn bánh in có hình lân, long, qui, phụng. Mẹ của chị rất thích món quà này bởi nó gợi nhắc kỉ niệm ngày xưa cha chị đã tặng cho mẹ chị hồi mới quen nhau, món quà ấy đã bị thất lạc trong những năm gia đình chị chạy trốn, vượt biên mà không thành.

    Những chiếc khuôn gỗ được chạm khắc ông phu với giá tiền xấp xỉ một trăm ngàn đồng, những con dấu mang tên chủ nhân của nó với giá chưa tới 50 ngàn đồng, giữa một Hà Nội xa hoa, số tiền kiếm được của người thợ chỉ xấp xỉ một trăm ngàn đồng đến hai trăm ngàn đồng mỗi ngày, trong một góc phố nhỏ, chỗ ngồi cũng nhỏ, nhưng lại chứa cái bao la của thời gian, ký ức và tâm hồn con người.
    Có thể, không phải ai làm nghề khắc dấu, khắc triện và làm khuôn bánh cũng quan niệm giống như anh Toàn, bởi cơn gió thị trường cuốn xô mọi thứ, nhưng đâu đó, một chút trầm lặng, một chút thanh khiết và một hút kiêu sa của những nghệ nhân có thu nhập thấp nhưng lại có đời sống tinh thần phong phú, nhẹ nhàng và hào sản lại làm cho Hà Nội trở nên huyền nhiệm, cổ độ và thấp thoáng dấu xưa của một thiên đường đã mất!
    Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

    http://www.rfa.org/vietnamese/reportfromvn/wood-seal-caver-hanoi-11202013075248.html


    Quảng Bình- mảnh đất của song kiệt


    Quảng Bình Quan
    Quảng Bình Quan
    Wikipedia
    Một buổi chiều thu lãng đãng lang thang, tôi ghé lại một ngôi thiền viện ở Cali. Viện nằm trên mô đất cao thoai thoải nhìn ra một con lộ nhỏ uốn quanh. Thiền viện vốn là chi nhánh của Trúc Lâm, do một vị tăng thống trong nước chuẩn y và giúp đỡ về đào tạo tăng sĩ. Cảnh trí yên lặng tĩnh mịch đến hơi rợn người. Tôi chọn ghế đá dọc theo lối lên chùa để ngồi nghỉ mệt.

     Cảnh vọng viễn hướng tâm như vậy làm tôi chợt nhớ đến những chiều Sài Gòn khi đi ngang qua mấy nhà thờ ngoài mặt tiền thấy hằng hà sa số con chiên đứng từ ngoài đường mà lòng vẫn hướng vào bên trong giáo đường, dù bên cạnh họ thì cuộc đời vẫn lao xao đến lộn xộn trên vỉa hè hay lòng lề đường. Mưu sinh vẫn ngay sát nơi Thánh Đường, ngay trong lúc chuông đã vang lên, không giống như cảnh chung quanh Thánh Đường Hồi Giáo nghiêm trang và vắng lặng ở một nước Trung Đông mà tôi từng ghé qua. Nhu cầu tâm linh của dân Việt lúc nào cũng quá khổ trong cái áo vô thần mà họ bị khoác lên mấy chục năm nay.

    Đang thiu thiu ngủ vì gió mát dịu giuẵ cảnh trí yên bình mênh mang thì từ phía cửa chánh điện có một vị sư già chống gậy đi về phía mình. Thấy bước chân ông run run nên tôi cũng khó xử, chả lẽ thanh niên trai tráng lại không tới đỡ ông đi. Nhưng nghĩ lại tôi lại thôi, vì mình là khách vãng lai, còn chuyện đi đứng thì ông cụ phải lo mỗi ngày. Thế là tôi yên tâm mà đọc sách. Đúng như dự đoán, ông lão đi về phía mình, hóa ra ông muốn nhờ tôi đem lá thư ra để ở thùng thư ngoài đường, vì từ ghế đá đến đầu đường cũng khá xa và đường đốc đứng. Tôi vui vẻ nhận lời và sẵn dịp hỏi thăm sức khỏe ông luôn. Thấy tôi mở lời, ông có vẻ thích chuyện trò nên nửa muốn đi nữa không. Tôi mời ông ngồi xuống ghế đối diện và xếp sách lại để hầu chuyện.

    Tổng thống Ngô Đình Diệm (Files photos)

    Câu chuyện mênh mang lung tung không định hướng, từ chuyện di cư, tị nạn rồi chuyện nguồn cội. Nghe giọng ông giống Huế nhưng không phải Huế, tôi hỏi: "Ôn có phải người Huế không mà con nghe giọng nói ông hơi lạ?" Ông cười nói: "Mi hay đó, ai cũng nói tao là người Huế nhưng thiệt ra là dân Quảng Bình".

    Sẵn cái tên Quảng Bình đang nóng lên vì chuyện ông Tướng lớn mới qua đời nên tôi gạ chuyện hỏi ông: "Ông còn bà con ở Quảng Bình không ? Vừa rồi tướng Giáp mới chết họ làm tang lễ lớn lắm". Ông mỉm cười nói: "Có nghe đứa cháu điện qua nói tang lễ lớn lắm. Mà ông là nhân tài Quảng Bình nên dân họ tự hào lắm". Trầm ngâm một chút rồi ông nói tiếp: "Nhưng ổng cũng gây nghiệp nặng lắm. Cả triệu người theo ông mà chết oan. Nhiều huynh đệ của ông bị trù ém tiêu diệt mà ông không cứu được, để họ oan ức còn ông thì làm thinh để sống cho yên thân, sống lâu quá trăm tuổi. Tôi nghĩ ông cũng không được an lạc trước khi ra đi. Mà linh hồn ông bây giờ biết đi đâu, Chúa không nhận vì có tội với con chiên của Chúa, Phật cũng không mở cửa Niết Bàn vì ông đâu có tâm hướng Phật, vì ông là cộng sản vô thần, từng gây nghiệp ít nhiều với con dân của Chúa và Phật Tử.Tội nghiệp lắm."

    Chữ tội nghiệp nghe quen mà lạ, vì có lẽ đây là lần đầu tiên tôi nghe có người tội nghiệp cho một đại danh tướng của nước Việt, cũng có lẽ ông tội nghiệp cho người đồng hương tài ba nhưng chọn lầm chúa mà thờ. Vì bên kia người ta vẫn tiền hô hậu ủng, người người vô cùng thương tiếc, có người chỉ đáng tuổi chắt của ông cũng ông cột mà khóc, nước mắt ràn rụa trên mặt báo lề đảng, còn thơ văn phúng điếu thì tuôn rào rào còn hơn những cơn mưa tháng Sáu ở Sài Gòn. Nhưng chưa mãn hạn tang lễ thì họ đã cuốn cờ rũ để đón thiên triều Trung Cộng. Ôi cũng xong một kiếp người.
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp
     Chuyển qua đề tài khác, khi tôi nói Quảng Bình đến giờ vẫn nghèo so với mấy tỉnh khác nhưng vẫn là địa linh nhân kiệt, ông nói: "Đúng rồi. Quảng Bình còn có ông Diệm, một hiền tài xuất sắc, một chí sĩ yêu nước, từng làm Thượng Thư Bộ Lại triều Nguyễn, tài năng học vấn và đức độ được dân biết ơn. Hàng triệu dân Bắc 54 và bọn tui là dân ăn theo chạy vào Nam mà có được cuộc sống no ấm thời 9 Năm, con cái được giúp đỡ học hành. Sau này qua Mỹ có được cuộc sống no đủ cũng vì tị nạn cộng sản lần thứ hai. Người Công Giáo biết ơn ông Diệm lắm. Khi cả triệu người vào Nam, gia đình và chính phủ ông Diệm cho cơm ăn áo mặc và giúp chúng tôi sống no ấm".
    Đại tướng Võ Nguyên Giáp (qbvn.com)

    .Lịch sử Việt Nam thế kỷ trước cũng ba bốn đường binh như trong trò xập xám chướng, ai muốn nói binh sao cũng được, kẻ thắng cuộc hay thua cuộc đều có phiên bản riêng của mình. Nhưng lòng dân, nhất là những người dân lành thấp cổ bé họng thì không thay đổi. Sống sao cho dân thương, cho hậu thế ngưỡng mộ qua chính sử, chứ tung hô hay bôi sơn trét phấn thì có ngày các lớp che giấu ấy cũng bong ra mà thôi.

    Về tới Quận Cam lại nghe Radio Việt ngữ bàn về tổ chức ngày giỗ 50 năm của vị cố Tổng Thống trong mấy ngày tới, hay đúng ra là ngày cách đây 50 năm ông bị thảm sát, mà nghi án này được cho là có bàn tay của Mỹ muốn "thay ngựa giữa dòng" vì ông giữ vững lập trường dân tộc không cho Mỹ tăng quân số hay leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Nhiều khán giả lớn tuổi gọi vào chia sẻ lòng biết ơn và ngưỡng mộ. Nhiều người Công Giáo gọi ông là ân nhân cho dòng họ không bị chết đói vì đấu tố và khủng bố tinh thần ở miền Bắc.

    Quảng Bình đúng là địa linh nhân kiệt, cùng một giai đoạn lịch sử mà có đến hai đại nhân kiệt. Lịch sử Việt Nam sẽ không bao giờ để linh hồn của hai ông yên nghỉ, vì sẽ xét lại công và tội, một bên cứu cả triệu người khỏi cảnh đói ăn và đói thực hành đức tin tôn giáo nhưng vướng nghi án đàn áp Phật Giáo, còn một bên đẩy hàng triệu thanh niên vào sa trường và làm ngơ trước nỗi đau cũng đồng loại qua chính sách đấu tố, giết địa chủ và cuộc chiến huynh đệ tương tàn.
    Quảng Bình ơi, còn nhân tài nào làm mẹ Việt Nam đau nữa đây ?
    tp://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/quang-binh-song-kiet-11052013071837.html
     
     Số phận của các thuyền nhân khi về Việt Nam
    Tường An, thông tín viên RFA
    2013-11-20
    Email
    Ý kiến của Bạn
    Chia sẻ
    In trang này
     
    Thông tin từ Viet Boat People (VietBP) cho biết đã có hơn 80 thuyền nhân Việt Nam tại Úc  bị cưỡng ép và trục xuất về Việt Nam trong thời gian qua. Tình trạng của những thuyền nhân này ra sao khi họ về đến Việt Nam?
     000_Hkg7903450-305.jpgĐể ngăn ngừa làn sóng tị nạn của thuyền nhân ngày một đông đến Úc châu. Bắt đầu từ ngày 19/7 Chính phủ Úc thực hiện chính sách siết chặt vấn đề định cư của thuyền nhân đến Úc. Cụ thể tháng 10 vừa qua, đã có hai đợt thuyền nhân Việt Nam bị trục xuất, tổng cộng đã có 30 thuyền nhân  bị trả về Việt Nam. Đợt 1 có 2 người bị trả về ngày 2 tháng 10. Đợt 2 gồm có 28 người bị trục xuất ngày 23 tháng 10.  Số phận của những người này ra sao?
    Chúng tôi liên lạc về Việt Nam và một thuyền nhân, tạm gọi là anh Minh, là 1 trong 28 thuyền

    Cảnh sát Indonesia canh gác những thuyền nhân người Pakistan và Afghanistan đang trên đường đến đảo Christmas hôm 09/10/2012, ảnh minh họa.
    AFP photo

     nhân bị cưỡng chế về Việt Nam cho biết ngay khi về đến Việt Nam anh đã bị công an cửa khẩu bắt nhốt hơn 10 ngày để điều tra, ở đó anh bị đánh và đối xử rất tồi tệ. Anh Minh cho biết:
    “Họ điều tra, họ hỏi sao bỏ Việt Nam mà đi, họ hỏi em đi như vậy có giấy tờ hay không ? Họ bắt em khai ra người, em không biết thì họ bạt tai em, họ tát vào đầu, vào mặt em mấy cái họ bắt em khai sự thật mà em có biết gì đâu. Họ đối xử rất là tệ, ăn rất là khổ, họ cho ăn gì thì ăn cái đó thôi, còn thua cho chó ăn nữa.”

    Họ bắt em khai ra người, em không biết thì họ bạt tai em, họ tát vào đầu, vào mặt em mấy cái họ bắt em khai sự thật mà em có biết gì đâu.
    - Anh Minh
    Anh Minh rời Việt Nam cùng với 84 thuyền nhân khác, sau 14 ngày lênh đênh trên biển, được tàu Úc vớt vào đảo Christmas, sau đó họ về trại Darwin, sau 3 tháng ở trại Darwin, anh bị đưa về trại Yongah Hill , ở đây chưa được 1 ngày thì bộ Di Trú bắt anh cùng 27 người khác nhốt vào một căn phòng và sau đó đưa lên máy bay về Việt Nam, anh kể lại:
    “Họ nhốt trong phòng 28 người họ không cho đi đâu hết. Họ nhốt trong phòng 28 người rất ngột ngạt, họ không cho nói luôn. Họ đọc tên, họ đọc danh sách những người bị trục xuất về Việt Nam . Họ đưa ra máy bay họ đưa về Việt Nam luôn.”

    Anh Minh cho biết bộ Di trú Úc nói với họ rằng nếu ký giấy tự nguyện hồi hương thì họ sẽ bảo đảm về Việt Nam an toàn, còn nếu không ký thì họ sẽ không chịu trách nhiệm cho các thuyền nhân khi về đến Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều người ký giấy tự nguyện hồi hương, về đến Việt Nam họ vẫn bị công an bắt giữ nhiều ngày để hỏi cung và nhiều trường hợp đã xảy ra bạo hành trong quá trình hỏi cung. Anh Minh là một trong những người đã ký giấy tự nguyện hồi hương, nhưng anh vẫn không được bảo đảm an toàn. Qua 10 ngày bị nhốt điều tra, sức khoẻ anh Minh  rất yếu, anh phải vào nước biển trong khi trả lời chúng tôi. Và cho tới hôm nay, những người bạn của anh vẫn còn bị giam giữ trong đồn công an.


    Người đi cùng chuyến tàu 84 người với anh Minh là anh Trần Quang Hiếu. Anh Hiếu cũng ký giấy tự nguyện hồi hương và bị trả về cùng lượt với anh Minh ngày 23 tháng 10, tuy nhiên cho tới hôm nay anh Hiếu vẫn còn bị giữ tại đồn công an Phước Cơ. Gia đình không được gặp mặt. Chị Minh, Mẹ của anh Hiếu, cho biết khi anh Hiếu về đến phi trường, họ chỉ đem anh về nhà khoảng 15 phút để làm biên bản, sau đó đem anh lên thẳng đồn công an Phước Cơ nhốt cho đến bây giờ. Gia đình không biết được tình trạng của anh Trần Quang Hiếu ra sao trong đồn công an. Mẹ anh Hiếu than thở:


    “Coi như là mình không được vô trong đó thăm, chỉ gửi cơm thôi. Từ lúc cháu vô đây tới giờ là gửi cơm được 2 lần con không gặp mặt cháu. Họ không cho gặp cháu đâu. Tôi có hỏi, xin cho gặp cháu chừng 5 phút mà cũng không được. Họ nói cán bộ trong trại không gặp được nữa làm gì mà gia đình gặp được. Tôi cũng nóng lòng gặp con xem như thế nào mà họ không cho. Gia đình rất nóng ruột mà không biết làm sao. Bây giờ ngồi đây mong chờ con thôi chứ không biết làm sao để giúp con được để mà con về. Gia đình hoàn cảnh cũng khó khăn lắm, tiền bạc cũng không có, tôi ngồi đây chỉ khóc với chờ con thôi.”


    Trong số những người bị trục xuất có hai anh em Thông và Hoàng , hai thuyền nhân này bị trục xuất đợt 1, họ về Việt Nam ngày 2 tháng 10. Sau khi về Việt Nam, họ chỉ bị giữ tại đồn công an điều tra 1 ngày, sau đó thì được thả về nhà, anh Thông cho biết lý do điều tra của công an:
    “Riêng con thì không có rắc rối, công an nó kêu lên nó hỏi này kia thôi. Họ hỏi biết ai là người tổ chức không ? Họ muốn biết người tổ chức đi nhưng con không biết ai là người tổ chức đi nên họ cũng không hỏi gì thêm.”


    Đối tượng bị trục xuất về Việt Nam thuộc nhiều diện khác nhau: đó là những người bị trả hồ sơ, không qua vòng 1, những có người đã qua vòng 1 cũng vẫn bị cưỡng bức hồi hương. Có những người chưa hề được xét hồ sơ cũng vẫn bị trục xuất. Nói chung việc trục xuất hầu như không dựa theo một tiêu chuẩn nào nhất định. Hai anh em Thông và Hoàng đang xét vòng 1, bộ di trú đòi hai anh em phải bổ túc hồ sơ, nhưng chưa bổ túc hồ sơ thì họ bị bộ di trú gọi lên, bắt nhốt riêng và sau đó đưa lên máy bay về Việt Nam , không thông báo trước. Anh Thông nói hai anh em Thông và tất cả 28 người về cùng chuyến với Minh đều bị xử dụng hình thức đánh lừa và  bắt cóc này để tránh các sự phản kháng có thể xảy ra như biểu tình, tự vận…v.v…anh Thông kể lại:


    “Họ nói là con không được chấp nhận ở lại Úc thì họ ép con về. Có giấy mời hai anh em con xuống, giấy mời là 2 tiếng đồng hồ , giấy đó là kêu xuống nhận đồ. Tụi con xuống 2 tiếng đồng hồ sau họ nhốt con với em con, đến 2 giờ sáng thì họ bắt con với em con về. 28 người kia là cũng bị bắt cóc về đó .”
    Khi được tàu Úc vớt, hai anh em anh Thông và Hoàng được đưa vào đảo Christmas, rồi đưa vào đất liền ở trại Darwin, sau đó chuyển đến trại Yongah Hill được 3 tháng thì họ bị công an xuất nhập cảnh CP A18 gọi lên điều tra và sau đó 2 tháng thì họ bị cưỡng bức về Việt Nam. Sau 14 ngày lênh đênh trên biển và hàng tháng trời chuyển từ trại này sang trại khác với một tâm trạng hoang mang, bất ổn. Cuối cùng hai anh em Thông và Hoàng cũng bị trục xuất trở về nơi chốn họ đã bỏ đi trong tâm trạng buồn chán, não nề. Ngoài nỗi buồn tiền mất, tật mang, Họ lại mang thêm nỗi xấu hổ với hàng xóm láng giềng, không dám gặp ai, người em tên Hoàng thì đã bỏ đi mất tích vì không muốn gặp người quen.  Anh Thông tâm sự:
    Riêng con thì không có rắc rối, công an nó kêu lên nó hỏi này kia thôi. Họ hỏi biết ai là người tổ chức không ? Họ muốn biết người tổ chức đi nhưng con không biết ai là người tổ chức đi nên họ cũng không hỏi gì thêm.
    - Anh Thông
    “Bị trả về thì hai anh em con cũng buồn lắm. Nói chung cũng thao thức, cũng lo sợ về bên này thì công an nó đánh đập. Tụi con muốn sống chết trên biển để kiếm cuộc sống mới mà qua bên đó nước Úc nó trả tụi con về. ..Con rất là buồn!...Về đây vì xấu hổ nên em con nó trốn đi đâu con cũng không biết nữa, bây giờ nó trốn đi mất tích rồi, nó về được 1 ngày rồi nó đi luôn. Nó đi đâu bây giờ liên lạc cũng không được. Còn con bây giờ cũng không biết làm gì, ra xã hội thì họ coi thường tụi con lắm. Bây giờ về thì họ nói này, nói kia, họ nói ra đi không được cái gì hết, mất tiền mất bạc rồi không được cái gì hết. Nhiều lúc con cũng không muốn chạm mặt người ta nữa, nên người ta cũng khinh thường tụi con lắm.”


    Ngày 19/7, cựu Thủ tướng Úc Kevin Ruud đã ra quyết định: “Kể từ nay, bất kỳ thuyền nhân nào đến Úc để xin tỵ nạn sẽ không được tiếp nhận định cư ở Úc nữa.”
    Đương kim Thủ Tướng Tony Abbott cho biết là sẽ tiếp tục chính sách siết chặt để giải quyết vấn đề thuyền nhân trong vòng 3 năm tới đây. Luật sư Phạm Việt Dũng, phát ngôn nhân của VietBP cho biết:
    “Chính phủ Úc thì có chính sách từ ngày 19/7/2013 sẽ vĩnh viễn không được định cư đến Úc nếu mà họ đến bắng tàu. Nếu mà đủ tư cách tị nạn thì họ sẽ định cư tại đảo Papua New Guinea (PNG) Đối với những thuyền nhân đến trước ngày đó cũng sẽ không bao giờ được định cư tại Úc mà chỉ được quyền tạm trú tại Úc trong vòng 3 năm. Trong vòng 3 năm tạm trú này, họ không được quyền bảo lãnh gia đình của họ cũng như không thể xin ở lại qua bất cứ một diện chiếu khán nào khác.Những người thuyền nhân mặc dù đủ tư cách tị nạn cũng sẽ vĩnh viễn không được định cư tại Úc. Họ chỉ được tạm trú tại Úc trong vòng 3 năm mà thôi.”


    Mặc dù chính phủ Úc đã có chính sách quyết liệt như thế hầu ngăn trở làn sóng thuyền nhân tiếp tục đến Úc, nhưng anh Minh vẫn còn có nguyện vọng:
    “Em rất là muốn được quay trở lại bên đó.”
    Anh Thông cũng nuôi hy vọng:
    “Con cũng muốn có cơ hội gì qua bên đó, con cũng muốn thoát khỏi nơi đây lắm.”
    Người ta nhớ lại làn sóng thuyền nhân sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Một thời, họ cũng đã từng bị kết tội là kẻ phản quốc. Nay những thuyền nhân ngày ấy đã trở lại quê hương trong vòng tay đón chào của nhà nước. Lịch sử thuyền nhân lập lại sau 38 năm, nhưng số phận của các thuyền nhân hôm nay vẫn còn quá bấp bênh như con thuyền của họ trên sóng nước đại dương.
     http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/fate-asylum-seeker-wh-return-vn-11202013120540.html



    No comments: