Thursday, August 15, 2013

TIN TỨC VIỆT NAM & THẾ GIỚI

Trung Quốc thoái trào, cơ hội cho Việt Nam?

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2013-08-14
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Công nhân Trung Quốc giờ cao điểm tại bến xe
Công nhân Trung Quốc giờ cao điểm tại bến xe đường dài trong Yunyang quận, Trùng Khánh, Trung Quốc, ngày 17 tháng 2 2013.
AFP
Nghe bài này
Đến bây giờ thì hầu hết các trung tâm kinh doanh và nghiên cứu của thế giới đã đồng ý về một thay đổi lớn trong luồng giao dịch toàn cầu, là khi kinh tế Trung Quốc đi vào một giai đoạn thoái trào kéo dài. Trong giai đoạn ấy, nhiều quốc gia có thể tìm ra cơ hội trám vào khoảng trống do Trung Quốc để lại sau nhiều thập niên tăng trưởng và thu hút đầu tư quốc tế. Việt Nam có cơ hội đó hay không? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về chuyện này qua phần trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Dấu hiệu khủng hoảng của TQ
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, sau 30 năm đạt mức tăng trưởng vượt bậc so với 30 năm khủng hoảng liên tục thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc đã có dấu hiệu trì trệ và phải cải sửa chiến lược phát triển nên sẽ có đà tăng trưởng thấp hơn, với nhiều rủi ro bất ổn ở bên trong. Chiều hướng ấy đã bắt đầu sau năm năm bơm tiền kích thích kinh tế mà chỉ kích thích sự lãng phí và để lại một núi nợ khổng lồ. Bên cạnh Trung Quốc, khối công nghiệp hoá Âu-Mỹ-Nhật cũng cố gắng cải sửa từ năm năm nay và bây giờ đã có nền móng tương đối quân bình hơn và bắt đầu hồi phục để đóng góp đến 60% vào mức gia tăng sản xuất của toàn cầu. Ngược lại, nhóm kinh tế đang phát triển lại có triệu chứng mệt mỏi và suy trầm, chứ không thể là đầu máy tăng trưởng cho kinh tế thế giới như người ta đã trông đợi trước đây....
Khi nhìn lại thì sự thay đổi sau năm năm sóng gió vừa qua, và nhất là sự sa sút của Trung Quốc sau mấy chục năm bung lên rất mạnh, đang đưa kinh tế toàn cầu vào một hoàn cảnh mới. Thưa ông, trong hoàn cảnh đó, Việt Nam có thể làm gì để khai thác cơ hội và giảm thiểu rủi ro?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ông vừa nêu lên một số điểm chính trong bối cảnh. Đó là thứ nhất, nạn suy trầm của khối kinh tế đã phát triển khiến các nước công nghiệp hóa trải qua giai đoạn cải tổ lớn và nay đã tạm có nền móng quân bình hơn để đạt mức tăng trưởng cao hơn, dù chưa mạnh thì vẫn có ảnh hưởng nhất vì đóng góp đến 60% vào đà gia tăng sản xuất của toàn cầu. Phần còn lại, là 40%, thuộc các nước đang phát triển, ngày nay cũng lại có triệu chứng hụt hơi chứ không sáng láng như họ đã mơ ước. Trong khung cảnh ấy ta mới nhìn vào Trung Quốc....
Đã vậy, vì quá lệ thuộc vào đầu tư và xuất khẩu, khi thấy kinh tế toàn cầu bị Tổng suy trầm năm năm về trước, Trung Quốc bơm tiền kích thích kinh tế mà bơm không đúng chỗ và chỉ thổi lên bong bóng đầu cơ trong nạn sản xuất thừa nên sẽ bị khủng hoảng như các nước Đông Á đã từng bị
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Xứ này có dân số rất đông, áp dụng chiến lược phát triển của Nhật Bản và Đông Á nói chung, là khai thác lợi thế nhân công rẻ để làm gia công cho thế giới nhờ xuất khẩu hàng chế biến với giá cực thấp. Vì khởi đi từ một mức gần với số không, Trung Quốc có đà gia tăng ngoạn mục mà thật ra vẫn thiếu phẩm chất trong tăng trưởng. Khi lợi thế lương rẻ đã hết công hiệu, họ không bước lên trình độ sản xuất cao hơn, có giá trị gia tăng lớn hơn, như các nước tân hưng Đông Á là Nhật Bản, rồi Đài Loan và Nam Hàn. Đã vậy, vì quá lệ thuộc vào đầu tư và xuất khẩu, khi thấy kinh tế toàn cầu bị Tổng suy trầm năm năm về trước, Trung Quốc bơm tiền kích thích kinh tế mà bơm không đúng chỗ và chỉ thổi lên bong bóng đầu cơ trong nạn sản xuất thừa nên sẽ bị khủng hoảng như các nước Đông Á đã từng bị.
Các nữ công nhân TQ trong môt cơ sở may hàng xuất khẩu cho Hoa Kỳ. AFP
Các nữ công nhân TQ trong môt cơ sở may hàng xuất khẩu cho Hoa Kỳ. AFP
 
Chúng ta cần nhắc lại chuyện đó để thấy là sau khi bị khủng hoảng năm 1991, Nhật Bản không dám cải sửa nên trải qua 20 năm lụn bại đến nay mới có vẻ hồi phục. Ngược lại, Nam Hàn bị khủng hoảng năm 1997 mà lập tức cải cách nên có cơ sở vững mạnh hơn và cạnh tranh thắng lợi với chính Nhật Bản là một khuôn mẫu đi trước. Những bài học đó có thể là kinh nghiệm cho Việt Nam khi môi trường chung quanh đang có thay đổi, vừa mở ra cơ hội mới mà cũng đặt ra nhiều thách thức, chưa nói gì đến vấn đề an ninh vì vị trí riêng của xứ này bên cạnh Trung Quốc.

Thuận lợi và không thuận lợi của VN
Vũ Hoàng: Từ cái nhìn toàn cảnh về cả thời gian lẫn không gian để nói tới nhiều đổi thay đang xảy ra và có thể kéo dài khá lâu trong tương lai, thưa ông, đâu là những định đề chủ yếu mà Việt Nam cần quan tâm?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là như mọi nước nghèo vừa bước vào giai đoạn khởi phát hay "cất cánh", Việt Nam cần vốn nên phải huy động đầu tư từ bên ngoài. Các quốc gia kia, kể cả Trung Quốc, đều trải qua giai đoạn ấy. Khi đó, vấn đề chủ yếu là ta có gì hấp dẫn hơn xứ khác để thu hút đầu tư?
Thế rồi, sau mấy năm hồ hởi khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO với lượng đầu tư quốc tế tăng vọt vào năm 2007, tình hình lại sa sút, từ đỉnh cao là hơn 70 tỷ đô la vào năm 2008 lại sụt tới 23 tỷ năm 2009 và năm qua chỉ còn 13 tỷ so với kỳ vọng 17 tỷ. Mình cần nhìn lại chuyện này vì đấy là lúc mà khối công nghiệp hoá đang bị co cụm và họ dồn đầu tư vào các nước đang phát triển để tìm cơ hội kiếm lời cao hơn. Nghĩa là vì những sai lầm và thậm chí lạm dụng trong quản lý vĩ mô, khi thiên hạ tìm nơi đầu tư thì họ lại tránh Việt Nam.

Sau hai năm sóng gió và nhiều biện pháp cải sửa giữa những tai tiếng về các đại gia làm ăn phi pháp và về một núi nợ xấu chưa biết thanh toán thế nào, Việt Nam lại chớm có hy vọng thu hút đầu tư kể từ đầu năm nay, với ngạch số gần 12 tỷ trong bảy tháng đầu năm. Nhưng ta không quên là nhóm công nghiệp hoá lại thất vọng với các thị trường đang lên và rút vốn đầu tư về để khai thác tiềm năng phục hồi của khối Âu-Mỹ-Nhật ở nhà. Vì vậy, bên cạnh hy vọng vừa chớm nở và cơ hội sẽ thuận lợi hơn khi tư bản triệt thoái khỏi thị trường Trung Quốc để tìm nơi đầu tư có lợi hơn, Việt Nam nên thấy rằng mình không tất nhiên là nơi hấp dẫn nhất.
Mình cần nhìn lại chuyện này vì đấy là lúc mà khối công nghiệp hoá đang bị co cụm và họ dồn đầu tư vào các nước đang phát triển để tìm cơ hội kiếm lời cao hơn. Nghĩa là vì những sai lầm và thậm chí lạm dụng trong quản lý vĩ mô, khi thiên hạ tìm nơi đầu tư thì họ lại tránh VN
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Vũ Hoàng: Ông hàm ý Việt Nam cần xây dựng một môi trường thuận lợi cho đầu tư quốc tế khi các doanh nghiệp có thể rút khỏi thị trường Trung Quốc để tìm vào nơi có lợi hơn?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta cần nhìn ra quy luật phũ phàng của kinh tế hay kinh doanh là "vui lòng khách đến, buồn lòng khách đi". Trong chuyện này, khách là các doanh nghiệp có vốn đầu tư.
Thứ nhất, họ ào ạt trút tiền vào rồi thất vọng bảo nhau triệt thoái thì đều có thể gây chấn động cho nền kinh tế, đấy là chuyện mà các nước tân hưng Đông Á đã thấy từ vụ khủng hoảng 1997-98. Thứ hai, các doanh nghiệp có thể quyết định đem tiền đầu tư vào rất nhanh thường là loại nhỏ và vừa, với những yêu cầu khác biệt với các tập đoàn lớn. Đầu tư vào một quán bán thịt bầm ngoài phố có khác với đầu tư của Intel hay Samsung ở vùng ngoại thành. Thứ ba và quan trọng nhất, Việt Nam nên nhớ rằng lợi thế nhân công rẻ không là yếu tố bất biến và vĩnh cửu vì chúng ta bán sự nghèo khổ cho khách đầu tư bằng lương bổng thấp để mong rằng nguồn vốn đó sẽ làm cho dân mình giàu hơn, tức là phải có lương cao hơn sau này nên ưu thế về lương sẽ phải hết.

Do đó, ngay từ khi thu hút đầu tư để dân mình làm gia công cho thiên hạ thì đã phải nghĩ đến việc tiến lên bậc thang cao hơn của chu trình sản xuất, để chế tạo mặt hàng có giá trị hơn, đòi hỏi tay nghề và kỹ thuật khác. Khi đó ta mới hy vọng giữ khách đầu tư ở lại để tìm doanh lợi cao hơn. Muốn vậy, nhân công của ta phải có năng suất cao và phải được giáo dục đào tạo theo hướng khác hơn là chỉ giữ khách bằng lương rẻ, vì ngoài Việt Nam còn có Miên Lào, Miến, Ấn, hay Bangladesh cũng sẽ khai thác lợi thể lương thấp. Đó là chuyện về dài mà phải sớm thấy ra.

Vũ Hoàng: Thưa ông, ngay trong hiện tại thì Việt Nam có những lợi thế nào khả dĩ huy động được nguồn lực đầu tư của các nước khi họ rút khỏi thị trường Trung Quốc?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thú thật là không mấy lạc quan với chuyện hứng tiền chảy từ Trung Quốc vào Việt Nam. Trước hết, các tổ hợp quốc tế Âu-Mỹ-Nhật đã đầu tư vào Trung Quốc từ lâu và xây dựng được một chu trình cung cấp hội nhập, nôm na là làm cơ phận này để ráp chế với cơ phận khác cũng sản xuất tại Trung Quốc trước khi xuất khẩu ra ngoài. Với tình trạng thoái trào hiện nay, lãnh đạo Bắc Kinh đang cố gắng kích thích tiêu thụ thay vì kích thích đầu tư sản xuất để xuất cảng, vì vậy, thị trường nội địa của Trung Quốc vẫn còn sự hấp dẫn của nó nên chưa chắc là các tập đoàn đầu tư, kể cả Nhật Bản, đã rút hết và nhìn vào Việt Nam với thiện cảm.
Khi Intel hay Samsung đang nói đến chuyện bạc tỷ trút vào Việt Nam và đào tạo một thế hệ mới có khả năng rất cao về công nghệ tin học thì Hà Nội lại đòi bịt mắt giới trẻ bằng mạng lưới kiểm soát thông tin và gây phản ứng từ các tập đoàn Google hay Microsoft thì đấy là một cách quảng cáo xuất sắc về sự lạc hậu của lãnh đạo
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Thứ hai, khi quyết định đem tiền đầu tư vào Việt Nam chẳng hạn, thiên hạ chú ý đến những gì? Họ chú ý đến hạ tầng cơ sở. Hạ tầng này gồm có vật chất là hệ thống xây dựng và giao thông vận tải lẫn hủy thải phế vật. Hạ tầng này cũng có loại vô hình là nền tảng luật lệ thông thoáng minh bạch và bộ máy hành chính liêm khiết, hữu hiệu. Thứ ba, hạ tầng này còn có loại tinh thần là trình độ kiến năng, là kiến thức và khả năng của nhân công vì các tổ hợp quốc tế suy nghĩ cho 5-10 năm tới chứ không chơi trò mỳ ăn liền. Trong năm mười năm đó, họ sẽ đào tạo ra lớp nhân viên có tay nghề và có khả năng tiến lên bậc thang cao hơn của chu trình sản xuất. Do đó, họ quan tâm đến hệ thống giáo dục và đào tạo, nhất là trong các ngành kỹ thuật và quản trị.

Khi kiểm lại dù sơ sài như vậy, ta cũng thấy ra nhiều nhược điểm của môi trường Việt Nam là chưa có trục lộ giao thông hay mạng lưới yểm trợ hạ tầng tỏa rộng mà chỉ tập trung vào Sàigon, vùng đồng bằng Cửu Long và chung quanh Hà Nội, Đà Nẵng. Việt Nam cần khai thác tiềm lực của nhiều địa phương khác thì mới có được sự phát triển cân đối và công bằng, là điều Trung Quốc muốn làm từ lâu mà thất bại nên mới rơi vào thoái trào.

Vũ Hoàng: Nói về hạ tầng cơ sở của kiến năng như ông trình bày, thì kỳ trước, chúng ta cũng vừa nhắc đến Nghị định 72 về việc kiếm soát mạng lưới điện toán, ông nghĩ sao về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng đấy là tai họa vô lường và là một vụ tự sát chính trị.
Khi Intel hay Samsung đang nói đến chuyện bạc tỷ trút vào Việt Nam và đào tạo một thế hệ mới có khả năng rất cao về công nghệ tin học thì Hà Nội lại đòi bịt mắt giới trẻ bằng mạng lưới kiểm soát thông tin và gây phản ứng từ các tập đoàn Google hay Microsoft thì đấy là một cách quảng cáo xuất sắc về sự lạc hậu của lãnh đạo. Hoá ra Hà Nội cũng chẳng khác gì Bắc Kinh!

Từ đó, thiên hạ còn suy ra một chuyện khác. Cái gọi là ưu thế ổn định chính trị của Việt Nam cũng chỉ là chuyện ảo. Giới đầu tư quốc tế sẽ sớm hiểu ra nỗi lo sợ của chế độ và còn thấy rõ hơn khi lãnh đạo của Việt Nam vẫn duy trì vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước để bảo vệ quyền lợi của tay chân và thân tộc. Nói cách khác, nếu Việt Nam chỉ là một sao bản con con của Trung Quốc thì chưa thể là một giải pháp thay thế khi người ta đã thất vọng với Trung Quốc.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

 Kinh tế Trung Quốc hạ cánh nặng nề : Nhiều nước âu lo

Cảng container Doanh Khẩu, Liêu Ninh. Ảnh chụp  9/08/ 2013.
Cảng container Doanh Khẩu, Liêu Ninh. Ảnh chụp 9/08/ 2013.
REUTERS/Stringer
Mai Vân
Sau nhiều đợt báo động liên tiếp, gần đây nhất là của tập đoàn ngân hàng Pháp Société Générale, về khả năng suy trầm sắp tới của nền kinh tế Trung Quốc, ngày 08/08/2013 vừa qua, công ty thẩm định tài chánh quốc tế Standard & Poor's vừa loan tin : Nếu Trung Quốc "hạ cánh nặng nề" với tốc độ tăng trưởng chỉ còn là 5% một năm, thì sẽ khiến nền kinh tế của Úc bị suy trầm và thất nghiệp tăng vọt lên mức 10%. Theo giới phân tích, trong kịch bản đó, không chỉ có Úc, mà nhiều quốc gia khác cũng chịu tác động.

Phải nói là sau nhiều thập niên tăng trưởng vượt bậc, kinh tế Trung Quốc đã bắt đầu có dấu hiệu co thắt, và lãnh đạo mới của nền kinh tế đứng hạng nhì thế giới đã phải điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng là 7,5% trong năm nay (2013) và 7% trong mấy năm tới.


Thế nhưng giới quan sát kinh tế quốc tế cho rằng đà tăng trưởng ấy vẫn còn cao so với thực tế, và một kịch bản « hạ cánh nặng nề - hard landing » có thể xảy ra. Trong trường hợp đó, hiệu ứng suy trầm của Trung Quốc có thể lan rộng ra nhiều xứ khác, kể cả Úc hay Việt Nam.
Phân tích của Standard & Poor's chỉ tập trung vào trường hợp nước Úc vì lẽ Bắc Kinh là đối tác thương mại chủ chốt của Canberra, chuyên mua các loại khoáng sản, nguồn xuất khẩu chính của Úc. Trong nghiên cứu của mình, S&P đã dự trù ba kịch bản cho nền kinh tế Trung Quốc, và các tác động có thể có trên nền kinh tế Úc.

Kịch bản thứ nhất gọi là « trường hợp căn bản – base case », có nghĩa là kinh tế Trung Quốc tăng trưởng theo tỷ lệ 7,3% trong tài khóa 2013, gần đúng với ước tính của chính quyền Bắc Kinh. Trong trường hợp này, kinh tế Úc sẽ chỉ đạt tăng trưởng 2,5% trong năm 2013, và 2,9% năm 2014, còn tỷ lệ thất nghiệp lần lượt ở mức 5,7% và 6%.

Kịch bản thứ hai là « hạ cánh trung bình – medium landing », tức là tăng trưởng Trung Quốc giảm manh hơn, chỉ đạt 6,8%. Hệ quả đối với Úc sẽ là một tỷ lệ tăng trưởng 2,1% cho năm 2014 và một mức thất nghiệp 6,5%.
Kịch bản tệ hại nhất gọi là « hạ cánh nặng nề - hard landing », với GDP của Trung Quốc bất ngờ chỉ tăng trưởng 5%. Trong trường hợp này, kinh tế Úc sẽ bị co thắt với tỷ lệ âm 1% trong năm 2014, còn tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên thành 10% . Không những thế, Úc sẽ còn bị mất điểm cực tốt ba chữ A, dùng để đánh giá các nền kinh tế phát triển lành mạnh.

Standard & Poor's cũng công nhận là kịch bản « hạ cánh nặng nề » là một khả năng « khó xẩy ra ». Cho dù vậy, hãng thẩm định tài chánh này cho rằng nhiều mối lo ngại về kịch bản đó đang xuất hiện vào lúc kinh tế Trung Quốc bộc lộ một số điểm yếu kém.
Trả lời phỏng vấn hôm nay của RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ sẽ giải thích thêm về tình trạng hạ cánh không an toàn của một nền kinh tế, cũng như tác động có thể có của hiện tượng này đối với các nền kinh tế khác trên thế giới.

RFI: Xin thân ái chào anh Nghĩa. Là người nhiều lần dự báo rằng kinh tế Trung Quốc sẽ sa sút vì những vấn đề chồng chất ở bên trong, hiển nhiên là anh không mấy ngạc nhiên với kịch bản "hạ cánh nặng nề" của Trung Quốc mà công ty Standard & Poor's vừa nhắc tới. Kỳ này, xin đề nghị anh phân tích hậu quả quốc tế từ nạn suy trầm kinh tế của một quốc gia đang có nền kinh tế hạng nhì thế giới sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Trước hết, thưa anh giới kinh tế cứ nói đến chuyện "hạ cánh nặng nề", thì đấy là cái gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sau một giai đoạn tăng trưởng cao kéo dài khá lâu, nếu sản lượng kinh tế lại đột nhiên co cụm mạnh thì đấy là một vụ "hạ cánh nặng nề". Muốn tính ra một con số để định nghĩa về hạ cánh nhẹ nhàng, hạ cánh nặng nề, thậm chí hạ cánh tan tành thì còn tùy tốc độ tăng trưởng nguyên thủy, thí dụ như 9-10% của Trung Quốc trong 20 năm liền. Theo định nghĩa của S&P thì nếu kinh tế xứ này chỉ tăng 5% đã là hạ cánh nặng nề.

- Với Trung Quốc, ta khó xác định một con số chính xác vì nhiều lý do. Thứ nhất, số liệu kinh tế của họ thiếu sự chuẩn xác đáng tin mà chỉ phản ảnh một trào lưu. Thứ hai, xưa nay lãnh đạo xứ này vẫn coi 7% là đà gia tăng tối thiểu để tránh động loạn và nay đành chấp nhận một chỉ tiêu thấp hơn trong khi phải tiến hành cải cách để tìm lực đẩy khác hơn là đầu tư và xuất cảng. Thứ ba, dù phải chuyển hướng như vậy, họ vẫn sợ gây ra hốt hoảng nên có những lý luận hay dữ kiện tô hồng, và nhiều tổ hợp đầu tư quốc tế đang làm ăn tại Hoa lục cũng nói theo để trấn an thị trường, vì vậy định mức "hạ cánh nặng nề" trở thành cái gì đó khá co giãn.

- Tuy nhiên, sự thể khách quan là sau Nhật Bản năm 1991, Anh quốc năm 92, Nam Hàn năm 97 và Hoa Kỳ năm 2008, Trung Quốc khó tránh khỏi một vụ khủng hoảng tài chánh vì mắc nợ quá nhiều. Sau đó là giai đoạn co rút kéo dài. Nếu lãnh đạo xứ này thành công trong việc cải cách từ lượng sang phẩm và nâng sức tiêu thụ nội địa từ 35% hiện nay lên 50% thì kinh tế Trung Quốc chỉ có đà tăng trưởng khoảng 3-4% trong mươi năm tới. Sau giai đoạn tăng trưởng ngoạn mục và mua vào nguyên nhiên vật liệu để sản xuất đến dư thừa, khi kinh tế Trung Quốc bị thoái trào thì quả thật là thế giới có thể bị ảnh hưởng. Nhưng thật ra thế giới không chỉ có Trung Quốc.

RFI: Anh nói thế giới không chỉ có Trung Quốc vì nghĩ đến các khối kinh tế khác hay sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng nếu muốn nhìn ra bối cảnh rộng lớn của một vụ suy trầm, thậm chí suy thoái, là dépression tại Trung Quốc, chúng ta cũng nên nhìn ra nhiều chuyển động lớn của các nền kinh tế khác sau năm năm khá đặc biệt vừa qua.
RFI: Anh nói về những chuyển động lớn sau năm năm vừa qua, đấy là gì và có ảnh hưởng thế nào đến tình trạng co thắt tại Trung Quốc?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sau vụ khủng hoảng và Tổng suy trầm 2008-2009, người ta vội chôn sống khối kinh tế đã phát triển Âu-Mỹ-Nhật và đặt kỳ vọng vào các nước đang phát triển, đứng đầu là nhóm B.R.I.C, gồm có Brazil, Liên bang Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Vì sự hồ hởi sảng đó, tiền đầu tư đã từ Tây phương trút về Đông và tìm lực đẩy của các nền kinh tế đang lên.
- Bây giờ tình hình lại đảo ngược. Khối công nghiệp hoá Tây phương là Âu, Mỹ, Nhật, đã chấn chỉnh lại thất quân bình và tạm hồi phục. Dù chưa mạnh thì cũng đóng góp đến 60% vào sản lượng phụ trội của kinh tế thế giới. Ngược lại, các nền kinh tế đang lên đều có triệu chứng hụt hơi và hết là đầu máy tăng trưởng toàn cầu, kể cả nhóm BRIC này.


- Vụ Trung Quốc hạ cánh cần đặt trong bối cảnh rộng hơn vì liên hệ đến chiều hướng tái cân bằng chung. Tất nhiên là một xứ chuyên bán quặng sắt cho tiến trình công nghiệp hoá và đô thị hóa của Trung Quốc như nước Úc phải hụt hẫng và sợ nạn suy trầm cùng thất nghiệp. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Về không gian, các nước sống nhờ bán nguyên liệu hay thương phẩm đệ nhất đẳng đều bị thiệt hại. Về thời gian thì sự thoái lui của Trung Quốc không chỉ là một chu kỳ co cụm đột ngột và nhất thời mà có thể kéo dài cả chục năm.

RFI: Thưa anh, trong bối cảnh rộng lớn và lâu dài như anh vừa có ý nhấn mạnh thì người ta vẫn tự hỏi vì sao riêng Trung Quốc có thể bị suy sụp nặng như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một cách ngắn gọn thì Trung Quốc có ưu thế số một là dân số rất đông và họ khai thác thành lợi thế lương rẻ để sản xuất các mặt hàng chế biến rẻ hơn thiên hạ, nhất là các nước công nghiệp hoá. Vì thế họ tổ chức hệ thống sản xuất quanh lợi thế này và vì cả nước còn nghèo nên chẳng mua nổi sản lượng quá lớn đó thì họ phải xuất cảng. Mặt kia, họ còn phải tiếp tục đầu tư và sản xuất cực rẻ với mức lời thật thấp để tạo ra việc làm và tránh động loạn. Hai yêu cầu trái ngược đó dẫn tới sự thể là họ dựng lên một hệ thống sản xuất kém hiệu năng, đầy lãng phí mà cứ tính vào số tăng trưởng làm thế giới khâm phục.

- Thế rồi, khi kinh tế toàn cầu bị suy trầm làm xuất cảng sa sút, Trung Quốc phải bơm tiền kích thích, mà lại kích thích nạn sản xuất thừa và trợ cấp cho sự bất tài rồi chất lên núi nợ thối. Vì vậy, khủng hoảng tài chánh dễ bùng nổ. Sau đó là nạn suy trầm, cho đến ngày nào đó mà họ có thể kích thích tiêu thụ thay vì kích thích sản xuất loại hàng kém phẩm chất và gây ô nhiễm và lỗ lã. Chuyện hạ cánh nặng nề là kịch bản có xác suất cao của tình trạng quái đản này.
RFI: Câu hỏi cuối, thưa anh, nếu sự thể xảy ra như vậy thì tình hình các nước sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có thể nhìn từ hai vế khác nhau.
- Trung Quốc bán ra hàng chế biến với giá rẻ nên cạnh tranh với các nước đang phát triển cùng trình độ kỹ thuật hay kém hơn khi thu hút đầu tư và tăng gia sản xuất. Nhưng khốn nỗi xứ này "chưa giàu đã già" và lợi thế nhân công rẻ của họ đã hết. Khi kinh tế suy trầm thì cả triệu doanh nghiệp phá sản, ngân hàng vỡ nợ và cả chục quốc gia sẽ có cơ hội trám vào khoảng trống của Trung Quốc nếu có nhân công tương đối rẻ và có tay nghề. Cơ hội đó cũng khiến các nước ấy có thể tiếp nhận thêm đầu tư của nước ngoài. Đó là trong trung hạn vài ba năm, chứ trước mắt thì vẫn là nhiều biến động đột ngột thất thường. Nhưng đột ngột hơn cả lại thuộc về vế kia.

- Để duy trì đà tăng trưởng ảo và sản xuất đến dư thừa, Trung Quốc ào ạt mua vào nguyên nhiên vật liệu, như năng lượng, nguyên liệu gốc kim loại cho công nghiệp, làm giá thương phẩm tăng vọt và đem lại mối lợi cho các nước xuất cảng. Khi kinh tế sa sút thì giá thương phẩm sụt mạnh, các nước xuất cảng đều vừa mất thị trường vừa mất mối lợi là bán ra loại hàng cao giá. Các nước như Brazil, Nga, Nam Phi hay Venezuela, chứ không chỉ có Úc Đại Lợi mới bị điêu đứng nặng vì bán nguyên liệu. Và mấy dự án bauxite tại Việt Nam lại càng sớm vỡ nợ! Giá dầu thô cũng có thể giảm vì Trung Quốc là nước ngốn dầu nhiều nhất nên gây họa cho các nước bán dầu từ Đông Nam Á qua Trung Đông.


- Song song, Trung Quốc lại mắc cái tật là "chưa hùng đã hung" nên mua vào rất nhiều võ khí và quân cụ. Khi kinh tế suy trầm thì khoản nhập cảng quân sự ấy cũng giảm. Liên bang Nga sẽ bị thiệt hai lần vì hết là nơi tiếp liệu võ khí và lại thất thế vì năng lượng sụt giá. Dầu thô mà rớt dưới 90 đô la một thùng là ngân sách của ông Putin bị lủng.

- Trong khi đó, nhà nước Trung Quốc vẫn có tiền. Khi có biến thì họ càng tẩu tán tài sản ra ngoài để khỏi sợ lỗ, nhưng không qua ngả đầu tư vào các nguồn tiếp vận thương phẩm hay năng lượng ở các nước Á Phi hay Nam Mỹ, mà chạy vào Mỹ và các nước công nghiệp hoá vì an toàn hơn.
- Nói chung, tôi nghĩ rằng người ta mới chỉ chớm thấy một sự xoay chuyển mấy chục năm mới có một lần nên sẽ còn thời giờ quan sát và điều chỉnh những dự đoán sau này.
RFI: Đài RFI xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa đã trả lời từ Hoa Kỳ.
 http://www.viet.rfi.fr/kinh-te/20130813-kinh-te-trung-quoc-ha-canh-nang-ne-nhieu-nuoc-au-lo

  Uyên – Kha: Phép thử đầu tiên cho “đối tác toàn diện”
Phạm Chí Dũng gửi RFA
2013-08-14
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Hai sinh viên Phương Uyên và Nguyên Kha tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An ngày 16 tháng 5, 2013
Hai sinh viên Phương Uyên và Nguyên Kha tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An ngày 16 tháng 5, 2013
RFA files
Sài Gòn một buổi chiều nắng vàng rộm và buồn. Hai ngày nữa, phiên xử phúc thẩm Phương Uyên và Nguyên Kha tái khởi sự. Một cảm giác nặng lòng trì lên mọi người. Căn phòng nhỏ như chìm trong một cảm xúc đè nén khó tả.
Phép thử đầu tiên cho đối tác toàn diện-sau chuyến đi của ông Trương Tấn Sang – nhân vật số hai của Đảng - đến Washington, với hàng loạt thỏa thuận mở ra một “kỷ nguyên mới” cho dân tộc Việt Nam, tái hiện bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Mỹ Harry Truman gần bảy chục năm về trước.

Những bạn trẻ đều đã trưởng thành
Mẹ của Phương Uyên kể với tôi, vài ngày trước có một số điện thoại lạ gọi vào máy chị, khuyên nhủ và cả khuyên giải làm sao để Uyên không “căng” với cơ quan an ninh điều tra. Nhưng bé Uyên làm sao biết được chuyện này? Uyên lớn rồi, đã đủ trưởng thành, và hơn nữa còn đủ tư cách để tự quyết định về cuộc đời của mình, về con đường mà Uyên đã và sẽ đi theo.
Tôi chợt nhớ lại hình ảnh một cô bé Phương Uyên trong trại giam Long An vào lần tôi được gặp. Cặp mắt vẫn hồn nhiên, nhưng có một áng gì đó thăm thẳm, suy tư và đau đáu về những gì còn ở phía trước. Một nét đẹp dịu dàng và thánh thiện mà không cho phép người khác tưởng rằng Uyên sẽ buông xuôi tất cả.

Căn phòng nhỏ của chúng tôi cũng chìm trong suy tư. Suy tư về số phận của những người bạn trẻ như Uyên và Kha, về những dấu hiệu và động thái xuất hiện vài ngày trước phiên tòa phúc thẩm. Mọi người đều đã biết Kha buộc phải viết đơn từ chối luật sư bào chữa. Mọi người còn nghe vài nguồn thông tin từ Long An cho hay, thậm chí mẩu chuyện điều tra đối với Kha có thể “chuyển hướng” nếu Kha chịu nhân nhượng một vài điểm nào đó.
Không ai tranh luận hoặc đưa ra quyết định về những việc đang xảy đến với Uyên và Kha. Anh Nguyễn Tường Thụy và anh Kha Lương Ngãi chỉ nói rằng “những bạn trẻ đều đã trưởng thành”, và không có lý do gì phải thỏa hiệp với những chuyện không cần thỏa hiệp
Không ai tranh luận hoặc đưa ra quyết định về những việc đang xảy đến với Uyên và Kha. Anh Nguyễn Tường Thụy và anh Kha Lương Ngãi chỉ nói rằng “những bạn trẻ đều đã trưởng thành”, và không có lý do gì phải thỏa hiệp với những chuyện không cần thỏa hiệp.

Cách đây vài ngày, một phái đoàn của Hạ nghị viện Hoa Kỳ đã đến Sài Gòn. Ít nhất cũng đã diễn ra một thỏa hiệp không tuyên bố khi phái đoàn này gặp cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển mà không bị gây khó dễ gì đáng kể. Không khí có vẻ bớt siết nóng như vậy lại khá là khác với những cố gắng không thành công của Phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ Dan Baer khi ông muốn tiếp xúc với hai nhà bất đồng chính kiến có tiếng ở Việt Nam là Luật sư Nguyễn Văn Đài và bác sĩ Phạm Hồng Sơn. Câu chuyện thất bại của Dan Baer lại xảy ra đúng vào dịp một cuộc đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ được tái lập tại Hà Nội vào tháng Tư năm 2013, sau khi bị phía Mỹ đình hoãn vào cuối năm trước.

Những nhân vật sốt sắng với chủ đề nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam trong phái đoàn Hạ nghị viện Mỹ đã tìm hiểu nhiều, rất nhiều về những gì đã và đang xảy ra ở Hà Nội, Sài Gòn, Nghệ An, Tây Nguyên và cả An Giang. Không chỉ là những tù nhân lương tâm còn bị giam giữ như Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ…, mà cả những người đang có nguy cơ bị xếp vào vòng lao lý hoặc giới blogger có triển vọng “nhập kho” - như một từ ngữ dân gian đang được kích hoạt ở Việt Nam.

Và nghe đâu, những người đã thúc đẩy cho sự hình thành Dự luật nhân quyền Việt Nam lẫn Dự luật chế tài nhân quyền Việt Nam đã không bỏ qua hai trường hợp Phương Uyên và Nguyên Kha sắp đưa ra xét xử phúc thẩm. Nếu chiếu theo quan điểm của những người đã tiếp ông Trương Tấn Sang vào cuối tháng Bảy năm 2013 thì những trường hợp như Uyên và Kha phải được trả tự do vô điều kiện.
HR 1897 – số hiệu của Dự luật nhân quyền Việt Nam – vừa được Hạ nghị viện Hoa Kỳ thông qua có lẽ cũng vì lý do ấy.

Ngay tại thời điểm này, một trùng hợp ngẫu nhiên sắp diễn ra là phép thử đầu tiên sau cuộc gặp của ông Sang với người Mỹ lại là Nguyên Kha - một người đồng hương với ông. Sự trùng hợp này cũng có thể khiến người ta nhớ đến một sự trùng hợp khác: ngay trước chuyến đi của ông Sang đến Bắc Kinh gặp Tập Cận Bình, một người đồng hương khác của chủ tịch nước là Đinh Nhật Uy đã bị bắt khẩn cấp, với cáo buộc liên quan điều 258 Bộ luật hình Sự.

Hai trùng hợp nhỏ biến thành một trùng hợp lớn: cả Nguyên Kha lẫn Nhật Uy đều có cùng một người mẹ. Chỉ trong chưa đầy một năm, người mẹ đó đã bị tước đi cả hai sinh linh nương tựa của mình.
Còn bây giờ, những người cầm quyền ở Việt Nam sẽ “nương tựa” vào đâu? Người ta đang nói không ngớt về câu chuyện “đi dây” giữa Bắc Kinh và Washington. Chỉ có điều, Biển Đông lại cách nước Mỹ cả một Thái Bình Dương, khác hẳn với “người bạn Bốn tốt” cùng chung đường biên giới mà không ít lần gây tai họa cho người láng giềng vẫn cam phận “Mười sáu chữ vàng” của mình.

Nắng chiều vẫn rơi nhè nhẹ, nhưng hoàng hôn đã bớt sậm màu. Anh Huỳnh Kim Báu, một trong những người nhiệt thành của phong trào Lực lượng ba ở Sài Gòn trước năm 1975, vào lần này cũng nhiệt tình không kém với đề nghị tất cả mọi người cùng đi thăm Phương Uyên và cùng tham dự phiên tòa phúc thẩm Uyên - Kha.

Sáu năm sơ thẩm cho Uyên và tám năm sơ thẩm cho Kha là quá nặng, ai cũng nghĩ thế và nói như thế. Và nếu có thể trải lòng hơn, những mầm non của dân tộc không đáng bị vùi dập đến thế.
Chưa bao giờ, chưa ở đâu, những con người viết hoa phản đối đường lưỡi bò Trung Hoa lại cần được thăng hoa như ở đây, vào lúc này.
Những tín hiệu và động thái đối ngoại vẫn chầm chậm biến hiện. Nghe nói gia đình Nhật Uy đang được gợi ý làm thủ tục bảo lãnh cho Uy được tại ngoại. Mà nếu được tại ngoại thì sẽ có nhiều khả năng được đình chỉ điều tra.

Tất nhiên, vụ của Uy không thể là lớn nếu xét theo hệ quy chiếu nội bộ. Và nếu quả thực vụ việc Đinh Nhật Uy ổn thỏa, những người yêu chuộng dân chủ có thể hy vọng một tương lai không đến nỗi tăm tối cho Phương Uyên và Nguyên Kha.

Thế cờ ngoại giao và “đối tác toàn diện” đã giăng ra, việc có hay không luật sư bào chữa cũng có thể chỉ là tiểu tiết. Vấn đề chỉ còn là án được giảm như thế nào mà thôi.
Thậm chí, nếu thẩm phán Lê Thị Hợp sớm khỏi bệnh và luật sư Lê Quốc Quân được đưa ra xét xử vào thời điểm này - nửa tháng sau tuyên bố về đối tác toàn diện Việt - Mỹ, thì hẳn số phận của Quân có thể đồng cảm với một cái ghế nào đó trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đặc cách dành cho Việt Nam.
Chiều đã tắt nắng, nhưng căn phòng chợt thoáng một nét cười. Chúng tôi sắp được gặp Phương Uyên rồi…
 

ASEAN đòi Trung Quốc chấp nhận Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông

Các Ngoại trưởng ASEAN nắm tay nhau thể hiện sự đoàn kết tại cuộc họp ở Brunei ngày 30/06/2013.
Các Ngoại trưởng ASEAN nắm tay nhau thể hiện sự đoàn kết tại cuộc họp ở Brunei ngày 30/06/2013.

Thụy My
Các nước ASEAN họp tại Thái Lan hôm nay 14/08/2013 đã nhất trí trong việc gây áp lực đòi Trung Quốc phải chấp nhận Bộ quy tắc ứng xử trong việc giải quyết các tranh chấp tại Biển Đông. Hãng tin Pháp AFP dẫn nguồn tin từ Bộ Ngoại giao Thái cho biết như trên.

Các Ngoại trưởng của mười nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong hội nghị không chính thức kéo dài hai ngày tại thành phố nghỉ mát Hua Hin, Thái Lan, đã thỏa thuận « nói cùng một tiếng nói » trong việc tìm kiếm một « kết luận nhanh chóng về Bộ quy tắc ứng xử ». Được biết các Ngoại trưởng ASEAN sẽ gặp các quan chức Trung Quốc tại Bắc Kinh vào cuối tháng này.
Cụ thể, theo một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Thái Lan, thì : « ASEAN sẽ phải có một tiếng nói duy nhất và tỏ ra thống nhất. Điều này không có nghĩa là phát biểu chống lại bất kỳ ai…ASEAN đoàn kết lại thì sẽ dễ dàng thảo luận hơn. Bộ quy tắc ứng xử cần có mục tiêu củng cố niềm tin giữa ASEAN với Trung Quốc…và ngăn chận mọi sự cố bất lợi xảy ra tại Biển Đông ».
Từ hơn một thập kỷ qua, các nước ASEAN đã cố gắng tìm kiếm một hiệp ước an ninh với Trung Quốc thông qua một Bộ quy tắc ứng xử hợp lệ. Bắc Kinh đòi hỏi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông, kể cả những vùng biển nằm kề vùng duyên hải của các nước láng giềng nhỏ yếu hơn. Nhà cầm quyền Trung Quốc luôn ngần ngại không muốn chấp nhận Bộ quy tắc ứng xử, sợ rằng những nhượng bộ sẽ làm yêu sách của mình giảm đi trọng lượng.

Trong diễn đàn an ninh khu vực vào tháng Sáu, các quốc gia ASEAN đã tỏ ra chia rẽ về vấn đề này. Cam Bốt, nước làm chủ tịch luân phiên vào lúc đó đã từ chối ủng hộ đề nghị của Philippines là phải có thái độ cứng rắn hơn với Bắc Kinh. Nhưng theo Bộ Ngoại giao Thái Lan, sau hai ngày thảo luận, hôm nay Phó thủ tướng Cam Bốt đã chấp nhận thống nhất với quan điểm của ASEAN về Bộ quy tắc ứng xử.

Căng thẳng trong khu vực đã dâng cao do tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, được xem là giàu tiềm năng dầu khí và là điểm nóng về mặt quân sự hiện nay. Các nước ASEAN như Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia cùng với Đài Loan đều đòi hỏi chủ quyền.
Trung Quốc từ chối nâng cấp bản « Tuyên bố về quy tắc ứng xử » năm 2002 lên thành Bộ quy tắc ứng xử có giá trị luật pháp. Bắc Kinh chủ trương thương lượng song phương với từng nước để có thể dùng sức mạnh áp đảo.
Việt Nam và Philippines trong những năm gần đây lên án những hành động ngày càng hung hăng của Trung Quốc để tăng áp lực cho yêu sách của mình tại Biển Đông. Năm ngoái, các chiến hạm Trung Quốc đã chiếm giữ bãi cạn Scarborough, chỉ nằm cách đảo chính Luzon của Philippines có 140 hải lý.
tags: ASEAN - Biển Đông - Châu Á - Chính trị - Trung Quốc
 http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130814-asean-thong-nhat-doi-trung-quoc-chap-nhan-bo-quy-tac-ung-xu-tai-bien-dong
 

No comments: