Monday, August 26, 2013

TIN THẾ GIỚI

 

Mỹ xoay trục sang Châu Á, Bắc Kinh - Washington chạy đua vũ trang

 
Hàng không mẫu hạm USS Carl Winson thăm vịnh Malina ngày 15/5/2011. Tàu chiến Mỹ vẫn thường xuyên ghé thăm các nước ASEAN.
Hàng không mẫu hạm USS Carl Winson thăm vịnh Malina ngày 15/5/2011. Tàu chiến Mỹ vẫn thường xuyên ghé thăm các nước ASEAN.
REUTERS/Romeo Ranoco

Đức Tâm
Trong tháng Tám này, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Trung gặp nhau hai lần, ở Washington và tại Brunei, và theo như lời hai vị lãnh đạo, là nhằm thúc đẩy hợp tác giữa quân đội hai nước, trong các lĩnh vực trợ giúp nhân đạo, cứu hộ, chống khủng bố, tổ chức tập trận chung, thực hiện các chương trình trao đổi đào tạo v.v... Thế nhưng, chiến lược tái cân bằng quân sự của Mỹ trong vùng Châu Á - Thái Bình Duơng, nơi mà Trung Quốc đang cố gắng mở rộng ảnh hưởng của mình, đã thúc đẩy hai cường quốc này lao vào một cuộc chạy đua vũ trang, tập trung vào vũ khí quy ước.

001_GR336986-305.jpg
Sơ đồ chỉ vùng biển Trung Quốc giành chủ quyền trên biển Đông
AFP
Khi được hỏi về chiến lược « xoay trục » sang Châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, tướng Thường Vạn Toàn, đã nhắc lại câu nói của Chủ tịch Tập Cận Bình : Thái Bình Dương có đủ chỗ cho hai cường quốc lớn là Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Trong khi đó, Bắc Kinh lại có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với các đồng minh và đối tác của Washington trong khu vực, cụ thể là với Philippines, Việt Nam ở Biển Đông và với Nhật Bản tại biển Hoa Đông.
Hoa Kỳ đã nhiều lần tuyên bố không đứng về bên nào trong các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và kêu gọi các bên liên quan giải quyết hồ sơ này một cách hòa bình, không dùng bạo lực.
Theo giới phân tích, đó là những tuyên bố ngoại giao, mang tính nguyên tắc của cả Trung Quốc và Hoa Kỳ. Còn trên thực tế, hai bên theo dõi sát mọi động thái của nhau và tăng cường chạy đua vũ trang.
Cuối tháng Tám, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tới Philippines. Hiện nay, Washington đang đàm phán với Manila một thỏa thuận cho phép quân đội Mỹ tiếp cận dễ dàng các căn cứ quân sự tại Philippines.
Theo bà Bonnie Glaser, cố vấn cao cấp về châu Á, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế - CSIS, được trang web Atimes.com trích dẫn, Trung Quốc không ngạc nhiên về triển vọng hợp tác quân sự giữa Mỹ và Philippines. Đối với Bắc Kinh, chiến lược « xoay trục » của Mỹ là nhằm ngăn chặn ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc ở trong vùng.

Giới phân tích ghi nhận là có những dấu hiệu rõ ràng về một cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Trung Quốc, trong lĩnh vực vũ khí quy ước. Theo Học viện nghiên cứu Hòa bình Stockholm – SIPRI – trong năm 2012, hai nước có ngân sách quốc phòng cao nhất thế giới, Mỹ là 682 tỷ đô la, còn Trung Quốc đạt mức 166 tỷ. Một báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ trong năm 2013 nhận định là Trung Quốc đã nỗ lực đầu tư vào lĩnh vực chống tàu chiến, tấn công trên bộ, tên lửa đạn đạo, lá chắn chống tên lửa, khả năng tin học…

Các phương tiện này là một phần trong chiến thuật chống tiếp cận và phong tỏa khu vực – A2/AD nhằm ngăn chặn khả năng hành động của Mỹ. Để đối phó, Hoa Kỳ chủ trương áp dụng chiến thuật Không-Hải Chiến, vốn có từ thời Chiến tranh Lạnh, chống lại nguy cơ tấn công kết hợp không quân và hải quân của Liên Xô tại Châu Âu.

Chuyên gia Glaser nhấn mạnh: « Cuộc chạy đua về vũ khí quy ước giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc chủ yếu tập trung vào việc quân đội Mỹ tiếp cận khu vực. Trung Quốc đang phát triển các khả năng chống tiếp cận và phong tỏa khu vực, nhằm ngăn chặn Mỹ tiếp cận khi xẩy ra khủng hoảng, trong khi Mỹ quyết tâm tăng cường khả năng tiếp cận và tác chiến ».
Vẫn theo giới chuyên gia, cho dù vẫn từng bước phát triển vũ khí nguyên tử, Trung Quốc không muốn lao vào một cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ về loại vũ khí chiến lược vì hai lý do : Thứ nhất, điều này làm dấy lên phản ứng mạnh mẽ, đáp trả từ phía Hoa Kỳ và các nước khác trong vùng. Thứ hai, chi phí cho cuộc chạy đua về vũ khí nguyên tử rất lớn và lãng phí.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ: Quân đội sẵn sàng tấn công Syria

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel cùng với đồng nhiệm Malaysia Hishammuddin Hussein trong buổi họp báo tại Kuala Lumpur 25/08/2013.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel cùng với đồng nhiệm Malaysia Hishammuddin Hussein trong buổi họp báo tại Kuala Lumpur 25/08/2013.
REUTERS/Bazuki Muhammad

Tú Anh
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel vào hôm nay 25/08/2013 tuyên bố quân đội đã sẵn sàng. Mọi phương án tấn công vào Syria đã được chuẩn bị chỉ còn chờ quyết định của tổng thống Obama.

Đang dừng chân tại Malaysia chặng đầu của vòng công du châu Á, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel tuyên bố với báo chí là « Tổng thống Obama đã yêu cầu Bộ Quốc phòng chuẩn bị mọi phương án để đối phó với mọi tình huống. Mọi việc đã làm xong và quân đội sẵn sàng thi hành lệnh ».
Theo Reuters, thì hôm qua thứ Bảy, Tổng thống Mỹ đã triệu tập các cố vấn an ninh thảo luận tìm một phương án thích nghi nhất để trả đũa chế độ Damas đã sử dụng vũ khí hóa học sát hại thường dân. Trong cuộc họp tại Nhà Trắng , các cố vấn đã trình bày « một loạt biện pháp » theo như bản thông cáo của phủ Tổng thống Mỹ nhưng không nói rõ chi tiết.

Song song với áp lực của Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao Mỹ tiết lộ là vào thứ năm 22/08/2013, tức một ngày sau khi đối lập Syria tung hình ảnh tố cáo chính quyền Damas sử dụng hơi ngạt giết chết 1300 người, Ngoại trưởng John Kerry đã có động thái « ngoài thông lệ » là gọi điện thoại trực tiếp khuyến cáo ngoại trưởng Syria,Walid Muallem là nếu « chính quyền Syria không có gì che dấu thì hãy để cho phái bộ chuyên gia Liên Hiệp Quốc đã tới Damas tự do đến tận nơi quan sát ». Tuy nhiên chính quyền Syria tiếp tục « cản trở và gia tăng tấn công trong khu vực để xóa dấu vết ».

Áp lực của Tây phương bắt đầu làm cho Damas và Matxcơva lo ngại. Bộ trưởng Thông tin Syria Orman Zoabi hôm nay tuyên bố là nếu Syria bị tấn công thì « cả khu vực sẽ rơi vào vòng lửa đạn ». Trong khi đó, dân biểu Nga Alexei Pushkov, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Viện Duma thẩm định là Hoa Kỳ đang « tiến gần đến một cuộc chiến tranh phi pháp ».


VIỆT NAM - 
Bài đăng : Thứ tư 21 Tháng Tám 2013 - Sửa đổi lần cuối Thứ tư 21 Tháng Tám 2013

Chính sách nhân quyền mâu thuẫn của Việt Nam

Tổng thống Mỹ Barack Obama (P) tiếp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Nhà Trắng hôm 25/07/ 2013.)
Tổng thống Mỹ Barack Obama (P) tiếp Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Nhà Trắng hôm 25/07/ 2013.)
REUTERS/Yuri Gripas

RFI
Chính sách nhân quyền của Việt Nam được đánh dấu bằng những mâu thuẫn và nghịch lý, thể hiện qua việc tăng cường mở cửa nhưng tiếp tục trấn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến. Để làm rõ vấn đề này, giáo sư Carlyle Thayer đưa ra ba giả thuyết. Bài viết được đăng trên trang web Asian Currents thuộc Hiệp hội nghiên cứu Châu Á của Úc, tháng Tám năm 2013.

Bất kỳ đánh giá nào về nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đều phải đối mặt với những mâu thuẫn trong việc thực hiện chính sách và nghịch lý lớn.
Hiến pháp Việt Nam năm 1992 có điều khoản về tự do ngôn luận. Điều 69 quy định « Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật ». Mâu thuẫn trong thực hiện chính sách phát sinh từ Điều 4 về việc thành lập một hệ thống chính trị độc đảng. Điều này quy định, « Đảng Cộng sản Việt Nam ... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội ».
Đồng thời Việt Nam phải đối mặt với một nghịch lý lớn. Kể từ đại hội Đảng gần đây nhất được tổ chức vào đầu năm 2011, Việt Nam đã tìm cách chủ động hội nhập vào hệ thống toàn cầu. Do tìm cách mở rộng quan hệ với Hoa Kỳ và Châu Âu, Việt Nam đã phải chịu áp lực yêu cầu cải thiện tình hình nhân quyền.

Ví dụ, Quyền Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, ông Joseph Yun, đã điều trần trước Tiểu ban Châu Á và Thái Bình Dương, Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện ngày 05/06 : Chúng tôi đã nhấn mạnh với các lãnh đạo Việt Nam rằng người dân Mỹ sẽ không hỗ trợ việc nâng cấp đáng kể mối quan hệ song phương nếu không có những tiến bộ rõ ràng về nhân quyền. Các quan chức khác của Mỹ đã gắn vấn đề bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí và đạt thoả thuận về Hiệp định Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với « những tiến bộ rõ ràng về nhân quyền ».

Nghịch lý lớn là ở chỗ tình hình nhân quyền Việt Nam đã trở nên tồi tệ, không được cải thiện trong những năm gần đây, do đó gây khó khăn hơn cho mục tiêu tự đề ra là chủ động hội nhập quốc tế.
Bởi vì Việt Nam là một Nhà nước độc đảng không có cơ quan độc lập để bảo đảm là các quyền tự do nêu trong Điều 69 được tôn trọng. Những mâu thuẫn vốn có của thực tế chính trị này đã dẫn đến tình hình hiện nay, mở cửa chính trị chưa từng thấy thông qua internet và trấn áp cùng đồng thời tồn tại.
Trong đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam, trong năm 2012, Tổ chức Ân xá Quốc tế đã kết luận thẳng thừng: Việc đàn áp những người chỉ trích chính phủ và các nhà hoạt động trở nên tồi tệ, với những hạn chế nghiêm trọng về tự do ngôn luận, hội họp. Ít nhất 25 nhà bất đồng chính kiến ​​ôn hòa, bao gồm cả blogger và nhạc sĩ, đã bị kết án tù nhiều năm trong 14 vụ xét xử không theo chuẩn mực quốc tế.
Đồng thanh với kết luận này, báo cáo hàng năm về nhân quyền của Bộ Ngoại giao Mỹ cũng đề cập đến các sự kiện trong năm 2012, ghi nhận là « có một xu hướng đàn áp và khủng bố ngầm do Nhà nước yểm trợ nhắm vào những cá nhân có các phát biểu vượt qua ranh giới và đề cập đến các vấn đề nhạy cảm như chỉ trích các chính sách đối ngoại của Nhà nước liên quan đến Trung Quốc hoặc chất vấn về sự độc quyền nắm giữ quyền lực của Đảng Cộng sản ». Tuy nhiên, báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng nhận thấy là « ở bề ngoài, ngôn luận cá nhân, báo chí công khai, và thậm chí phát biểu chính trị tại Việt Nam cho thấy có những dấu hiệu tự do hơn ».

Một đánh giá về sự phát triển quyền con người ở Việt Nam trong nửa đầu năm 2013 cho thấy vẫn tiếp tục có những mâu thuẫn trong thực hiện chính sách nhân quyền của Việt Nam và nghịch lý của việc vừa tìm kiếm gia tăng cam kết với Hoa Kỳ vừa đẩy mạnh đàn áp các nhà hoạt động nhân quyền trong cùng một thời gian.

Vào cuối năm 2012, cuộc đàn áp của Việt Nam đối với các nhà bất đồng chính kiến đã khiến Hoa Kỳ đột ngột hủy bỏ tham gia vào các cuộc đối thoại nhân quyền hàng năm với Việt Nam tại Hà Nội. Cuộc đối thoại này đã được tổ chức vào tháng Tư năm 2013. Đại diện của Hoa Kỳ là ông Daniel Baer, ​​Quyền Phó Trợ lý Ngoại trưởng về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động. Trong chuyến thăm này, ông đã bị ngăn chặn, không cho gặp những người bất đồng nổi tiếng Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày) và Phạm Hồng Sơn.

Hai tháng sau, ông Baer điều trần trước Tiểu ban Châu Á và Thái Bình Dương, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ và lưu ý đến những mâu thuẫn trong việc thực hiện nhân quyền của Việt Nam. Một mặt, ông Baer ghi nhận : Các bước tích cực như việc thả nhà hoạt động Lê Công Định (cho dù đi kèm với những hạn chế tự do), tạo thuận lợi cho một tổ chức nhân quyền quốc tế thăm Việt Nam, và số lượng đăng ký hoạt động công giáo gia tăng một cách khiêm tốn ở Tây Nguyên ... các cuộc thảo luận giữa Chính phủ và Tòa thánh Vatican, và cũng như diễn biến tích cực tiềm tàng trong vấn đề nhân quyền cho những người LGBT [đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng giới, hoán tính/chuyển đổi giới tính] ... [và] tràn ngập ý kiến của ​​công chúng về dự thảo Hiến pháp ...

Mặt khác, ông Baer kết luận : Thế nhưng, những bước tiến này không đủ để đảo ngược xu hướng tồi tệ kéo dài trong những năm qua. Cũng không có các biện pháp tích cực riêng rẽ tạo dựng một mô hình phù hợp. Với số lượng ngày càng tăng, các blogger tiếp tục bị quấy rối và bị bỏ tù vì những phát biểu ôn hòa trên mạng và các nhà hoạt động tiếp tục phải sống dưới đám mây đen ...
Giờ đây thì mọi người biết rằng, vào cuối tháng Ba và tháng Tư năm 2013, các quan chức Mỹ và Việt Nam đã bắt đầu thảo luận về chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chuyến thăm đầu tiên của một nguyên thủ Việt Nam kể từ sáu năm qua. Hoa Kỳ chính thức ngỏ lời mời vào tháng Bảy và Việt Nam đã chấp nhận. Không có bằng chứng cho thấy Việt Nam đã tìm cách dàn xếp chuyến thăm của ông Sang bằng cách thả bất kỳ các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nào. Có một dấu hiệu mong manh. Ngày 08/07, chính quyền Việt Nam đột ngột hoãn phiên tòa xét xử nhà hoạt động vì dân chủ nổi tiếng, luật sư Lê Quốc Quân.

Tuy nhiên, vẫn trong sự mâu thuẫn, Việt Nam tiếp tục đàn áp các nhà bất đồng chính kiến, có thể gây ra rủi ro cho chuyến viếng thăm Washington của Chủ tịch Sang. Trong hai tháng Năm - Sáu, Việt Nam kết án và áp đặt bản án khắc nghiệt đối với hai sinh viên đại học (Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha) và bắt giữ ba blogger nổi tiếng (Đinh Nhật Uy, Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào), nâng tổng số tù nhân chính trị và các blogger bị bắt trong nửa đầu năm 2013 lên tới 46 người.
Tổng thống Obama và Chủ tịch Sang đã gặp nhau tại Nhà Trắng ngày 25 tháng Bảy. Trong cuộc họp báo chung, Tổng thống Obama tuyên bố, "chúng tôi đã có một cuộc trò chuyện rất thẳng thắn về sự tiến bộ mà Việt Nam đang thực hiện và những thách thức tồn tại". Ông Sang thừa nhận sự khác biệt và tiết lộ rằng Tổng thống Obama hứa sẽ làm hết sức mình để tới thăm Việt Nam trước khi hết nhiệm kỳ.

Một tuyên bố chung được công bố sau cuộc gặp, xếp vấn đề nhân quyền đứng hàng thứ tám trong số chín chủ đề thảo luận. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận lợi ích của đối thoại thẳng thắn và cởi mở để tăng cường hiểu biết lẫn nhau và thu hẹp các bất đồng về nhân quyền. Không thấy đề cập đến những vấn đề nhân quyền mà Tổng thống Obama nêu lên. Điểm thứ tám của tuyên bố chung dành bảy trong chín dòng để tổng kết những gì Chủ tịch Sang đã thảo luận với đồng nhiệm Mỹ. Đáng chú ý, Chủ tịch Sang khẳng định rằng Việt Nam sẽ ký Công ước Liên Hiệp Quốc chống tra tấn và sẽ mời Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo và Tín ngưỡng đến thăm Việt Nam vào năm 2014.

Chuyến thăm của Chủ tịch Sang đã bị lu mờ bởi một cuộc tuyệt thực kéo dài của nhà hoạt động chính trị Nguyễn Văn Hải. Ông Hải thành lập Câu lạc bộ các Nhà báo tự do và hoạt động vì nhân quyền và cải cách dân chủ. Mặc dù có các quy định về tự do ngôn luận trong Hiến pháp, ông đã bị kết án tù 12 năm vì tiến hành « tuyên truyền chống lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa » thông qua các blog trên internet và các bài trên các đài phát thanh nước ngoài. Khi ông Hải bị bắt giam, Tổng thống Obama công khai kêu gọi trả tự do cho ông.

Ông Hải bắt đầu tuyệt thực vào cuối tháng Sáu để phản đối cách đối xử với ông ở trong tù, trong đó có việc kéo dài thời gian biệt giam. Hai ngày sau khi Chu tịch Sang kết thúc chuyến thăm Mỹ của ông, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao của Việt Nam thông báo là họ sẽ điều tra những lời tố cáo của ông Hải. Ông Hải đã chấm dứt cuộc tuyệt thực vốn kéo dài trong 35 ngày.
Vậy làm thế nào có thể giải thích những mâu thuẫn trong việc thực hiện chính sách nhân quyền của Việt Nam ? Hơn nữa, làm thế nào có thể giải thích được nghịch lý là Việt Nam tìm cách gia tăng quan hệ với Mỹ đồng thời cùng lúc lại đẩy mạnh trấn áp ?
Có thể có ba giải thích, nhưng chúng không loại trừ lẫn nhau, về những mâu thuẫn và nghịch lý của Việt Nam.

Trước tiên, việc tiếp tục đàn áp chính trị là kết quả của quá trình quan liêu của Bộ Công an (MPS). Khi một nhà hoạt động chính trị thu hút sự chú ý, Bộ Công an thường bắt đầu lập hồ sơ qua việc thu thập chứng cứ. Sau khi Bộ Công an xác định rằng một nhà bất đồng chính kiến đã vi phạm luật an ninh quốc gia được diễn đạt một cách mơ hồ của Việt Nam, cơ quan này bắt đầu một chiến dịch đe dọa và sách nhiễu nhà bất đồng chính kiến ​​và gia đình, bạn bè của người bất đồng chính kiến. Nếu nhà bất đồng chính kiến ​​từ chối sự kiềm tỏa của Bộ Công an, thì bộ này tìm kiếm sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền cao hơn để bắt giữ và tổ chức một phiên tòa.

Tại sao một số người chống đối bị đàn áp trong khi những người khác được phép phát biểu ý kiến ​​tương tự mà không bị trả thù? Nói cách khác, tại sao lại có sự mâu thuẫn giữa gia tăng mở cửa và tiếp tục đàn áp?
Việt Nam công khai thúc đẩy mạng Internet và khuyến khích các công dân nói lên một số vấn đề. Tuy nhiên, các nhà bất đồng chính kiến ​​sẽ là đối tượng bị trấn áp nếu họ vượt qua lằn ranh đỏ mà ai cũng biết như tiếp xúc với người Việt hải ngoại, đặc biệt là các nhóm hoạt động chính trị như Việt Tân mà chế độ coi là phản động. Tóm lại, Bộ Công an kết luận rằng những nhà bất đồng chính kiến ​​là một bộ phận của "âm mưu diễn biến hòa bình", theo đó các lực lượng thù địch bên ngoài liên kết với bọn phản động trong nước để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Một giải thích khác cho rằng sự mâu thuẫn trong việc đồng thời mở cửa và trấn áp là đấu đá trong nội bộ Đảng Cộng sản. Các nhà bất đồng chính kiến, đặc biệt là các blogger, nêu các vấn đề nhạy cảm liên quan đến tham nhũng, gia đình trị và lợi ích kinh doanh của các nhân vật chính trị hàng đầu. Trong những trường hợp này, các nhà bất đồng chính kiến ​​bị lôi ra để trừng phạt theo lệnh của các quan chức cao cấp của Đảng hay những người ủng hộ họ. Nói cách khác, các tính toán cân nhắc chính trị nội bộ là động lực chính của hoạt động trấn áp.

Giải thích thứ ba cho rằng việc đàn áp chính trị gia tăng tại Việt Nam được chỉ đạo bởi những người bảo thủ trong Đảng tìm cách cản trở gây rối, nếu như không phá hoại, sự phát triển mối quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ, đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng-an ninh. Ví dụ, người ta cho rằng các nhân vật bảo thủ trong Đảng chỉ huy cuộc đàn áp các blogger hồi tháng Sáu, để phá hoại chuyến thăm Washington đầu tiên của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Các nhân vật bảo thủ trong Đảng sợ rằng quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ sẽ làm cho quan hệ với Trung Quốc xấu thêm. Đặc biệt, họ nhắm vào các blogger và các nhà hoạt động, những người chỉ trích việc xử lý mối quan hệ với Trung Quốc của chính phủ. Các nhân vật bảo thủ trong Đảng bác bỏ áp lực của Mỹ về nhân quyền, kêu gọi Hoa Kỳ gia tăng tài trợ để giải quyết những di sản chiến tranh bom mìn và chất độc da cam, và đòi Mỹ chấm dứt phân biệt đối xử cấm vận vũ khí. Lời giải thích thứ ba này giải thích nghịch lý của việc vì sao Việt Nam không giải quyết hồ sơ nhân quyền để củng cố quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ trong bối cảnh có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông.
(Carlyle A. Thayer là Giáo sư danh dự, Đại học New South Wales ở Úc Học viện Quốc phòng).
tags: Châu Á - Chuyên mục trên mạng - Hoa Kỳ - Mỹ - Nhân quyền - Tham nhũng - Trung Quốc - Việt Nam -

Trung Quốc lại khẳng định chủ quyền trên các vùng biển tranh chấp

Việt Hà, phóng viên RFA
2013-08-23
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này


Phát biểu với báo chí nhân chuyến thăm Mỹ mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc một lần nữa khẳng định lập trường kiên quyết bảo vệ lợi ích cốt lõi của Trung Quốc trong khu vực. Đây có thể được coi là một thông điệp nhắn gửi đến các nước đang có tranh chấp về chủ quyền trên biển với Trung Quốc tại châu Á Thái Bình Dương. Liệu điều này cho thấy Trung Quốc đang trở nên cứng rắn hơn với các nước trong khu vực và Mỹ hay chỉ là một lời nói không mang sức nặng? Việt Hà có bài tìm hiểu sau đây.

Quyết tâm bảo vệ lợi ích cốt lõi
Chuyến thăm đến Hoa Kỳ ngày 19 tháng 8 vừa qua của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Thường Vạn Toàn được cho là nhằm giúp xây dựng mối quan hệ về quân sự giữa hai cường quốc trên thế giới với những hứa hẹn được đưa ra từ cả hai phía. Thế nhưng, cũng ngay trong chuyến công du này, người ta cũng thấy vấn đề lợi ích cốt lõi của Trung Quốc tại khu vực châu Á Thái Bình Dương và việc chuyển trục chiến lược của Mỹ tới khu vực này dường như vẫn còn nhiều khúc mắc.
Phát biểu với báo chí trong cuộc họp báo ngày 19 tháng 8 tại Pentagon, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Thường Vạn Toàn khẳng định qua lời thông dịch viên:
Không một ai nên có ý nghĩ rằng Trung Quốc sẽ đánh đổi những lợi ích cốt lõi của mình. Đừng đánh giá thấp quyết tâm không thay đổi của chúng tôi trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cũng như quyền và lợi ích trên biển.

Mặc dù ông Thường Vạn Toàn không chỉ đích danh vấn đề biển Đông nơi Trung Quốc đang có tranh chấp với một số nước ASEAN, hay khu vực quần đảo Senkaku đang tranh chấp với Nhật bản, nhưng những người theo dõi tình hình có thể ngầm hiểu đây là lời nhắn đến các nước có liên quan, những đồng minh của Mỹ ở châu Á Thái Bình Dương.

Hiện tại, Philippines, nước có tranh chấp gay gắt với Trung Quốc tại biển Đông, cũng đang ráo riết đàm phán với Hoa Kỳ để gia tăng sự hiện diện của quận đội Mỹ tại đây, một bước trong quá trình chuyển trục chiến lược của Mỹ tới châu Á Thái Bình Dương.

Phát biểu mới đây của ông Thường Vạn Toàn cũng làm người ta nhớ đến năm 2011, khi ông Đới Bỉnh Quốc, một lãnh đạo cao cấp của Trung Quốc lúc đó, lên tiếng nói rằng biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Câu nói này đã khiến nhiều học giả quốc tế lên tiếng thắc mắc và quan ngại vì nếu Trung Quốc coi biển Đông là lợi ích cốt lõi thì chính sách mà Trung Quốc áp dụng tại đây cũng giống như những gì mà Trung Quốc áp dụng với Đài Loan và Tây Tạng.

Tuy nhiên, theo giới học giả Trung Quốc, thì ngày chính tại Trung Quốc vào lúc này, vấn đề lợi ích cốt lõi của nước này tại biển Đông vẫn chưa được thống nhất một cách rõ ràng. Trung tướng Chu Thành Hổ, thuộc học viện Quốc phòng Trung Quốc, phát biểu trong một hội thảo gần đây ở New York về vấn đề này:

Ở Trung Quốc có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Có người đã hỏi ông Đới Bỉnh Quốc là biển Đông có phải là lợi ích cốt lõi không. Có nhiều người tin biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc vì nó thuộc vào yếu tố toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Trung Quốc. Một số người cho rằng biển Đông không giống Đài loan hay Tây Tạng. Vào lúc này chúng tôi vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về vấn đề này.

Dù có định nghĩa thống nhất hay không thống nhất thì từ nhiều năm nay, Trung Quốc vẫn luôn khẳng định chủ quyền không xoay chuyển tới 80% khu vực biển Đông. Với chính sách này, Trung Quốc hàng năm áp dụng lệnh cấm đánh bắt cá trên một vùng rộng lớn tại đây từ khoảng tháng 5 đến tháng 8. Các tàu bán quân sự của Trung Quốc liên tục có hành động như cắt cáp tàu Việt Nam, đuổi bắt và bắn vào các tàu cá của Việt nam gần khu vực quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp giữa hai nước.

Gạt tranh chấp để hợp tác phát triển
000_Hkg8782027-250.jpg
Người dân đến xem Bản đồ Việt Nam triển lãm tại Bảo tàng Quân đội Hà Nội hôm 10/7/2013. AFP photo
Một mặt khẳng định lợi ích cốt lõi, mặt khác lãnh đạo Trung Quốc cũng lên tiếng tỏ ra mềm mỏng. Hôm 31 tháng 7, truyền hình Trung Quốc dẫn lời của Chủ tịch Tập Cận Bình nói về biển Đông rằng Trung Quốc khẳng định chủ quyền thuộc về mình nhưng có thể gác tranh chấp, cùng khai thác, thúc đẩy hợp tác hữu nghị và cùng có lợi, tìm kiếm và mở rộng các lợi ích chung.

Mới nghe thì phát biểu của ông Tập Cận Bình có hướng xây dựng tích cực. Trên thực tế, lời nói này chỉ là lập lại lập trường của Trung Quốc đã từng được Thủ tướng Đặng Tiểu Bình nói tới vào năm 1978 trong tranh chấp xung quanh quần đảo Senkaku mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư với Nhật Bản. Lời đề nghị này của ông Đặng Tiểu Bình đã bị Nhật khước từ và hiện Nhật vẫn là nước quản lý quần đảo Senkaku. Thời gian gần đây, căng thẳng hai nước Nhật và Trung Quốc cũng gia tăng vì tranh chấp này.

Hôm 22 tháng 8 vừa qua, phát ngôn viên Hồng Lỗi của Trung Quốc cũng mạnh mẽ bác bỏ phát biểu của Thượng Nghị sĩ Mỹ, John McCain về chủ quyền của Nhật với quần đảo Senkaku. Ông Hồng Lỗi nói quần đảo Điếu Ngư là lãnh thổ thuộc Trung Quốc. Bất cứ nỗ lực nào nhằm khước từ sự thật này đều vô ích. Ông Hồng Lỗi cũng cảnh báo các Thượng Nghị sĩ Mỹ nên chấm dứt việc đưa ra các lời nói mà ông gọi là vô trách nhiệm làm phức tạp thêm tình hình tại khu vực.

Nói về vấn đề gạt tranh chấp và cùng khai thác phát triển ở biển Đông theo lời của ông Tập Cận Bình, giáo sư Renato Cruz de Castro, thuộc trường đại học De La Salle, Philippines, nhận xét:

Không có gì thay đổi. Theo tôi đó chỉ là một tín hiệu cho các thành viên đảng cộng sản Trung Quốc, trong bộ chính trị là không có gì thay đổi trong chính sách của Trung Quốc. Tuyên bố là Trung Quốc sẵn sàng tham gia hợp tác phát triển với điều kiện chủ quyền của Trung Quốc phải được tôn trọng, đó là một điều kiện làm hỏng mọi thứ. Ý tưởng cho hợp tác phát triển chung là không có điều kiện tiên quyết.
Sắp tới đây, Trung Quốc và các nước ASEAN sẽ tiến hành những đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) được chờ đợi từ lâu. Đề nghị về đàm phán này cũng được Trung Quốc đưa ra trong diễn đàn khu vực vào tháng 6 vừa qua, một bước đi được coi là tích cực từ Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên với những khẳng định về chủ quyền không tách rời trong các lời nói của lãnh đạo Trung Quốc, người ta cũng có thể đặt ra những nghi ngờ và lo lắng về những thiện chí cũng như quyết tâm của Trung Quốc.

 

Các trường đại học của Mỹ, Anh lại đứng đầu thế giới

Khuôn viên Đại học Havard
Khuôn viên Đại học Havard

CỠ CHỮ- +
Trong hai cuộc khảo sát riêng rẽ, các trường đại học của Mỹ và Anh một lần nữa lại chiếm nhiều chỗ trong 20 vị trí hàng đầu.

Theo cuộc khảo sát của trường đại học Giao Thông ở Thượng Hải, trường Harvard của Mỹ chiếm vị trí số Một.

Trường Harvard đã chiếm vị trí này từ năm 2003, là năm trường đại học Giao Thông bắt đầu mở cuộc khảo sát.

Trong số 20 trường đại học hàng đầu thì hết 17 trường là của Mỹ. Còn 3 trường kia gồm trường Cambridge của Anh đứng hạng 5, trường Oxford cũng của Anh đứng hạng 10, và trường đại học Tổng hợp Liên bang Thụy Sĩ, hạng 20.

Trường này của Thụy Sĩ chiếm chỗ năm ngoái của trường đại học Tokyo  của Nhật Bản, năm nay bị đẩy xuống hạng 21.

Trong danh sách 500 trường đại học hàng đầu, Trung Quốc có 28 trường, Nhật Bản có 20, Nam Triều Tiên có 11, Đài Loan có 9, Hồng Kông 5, Singapore 2, Ấn Độ và Malaysia mỗi nước có 1 trường.

Một cuộc khảo sát khác do báo The Times của Anh thiết lập cũng đưa ra những kết quả tương tự.

Nguồn: Timeshighereducation.co.uk, Channel News Asia with AFP 

No comments: