Saturday, May 11, 2013

NHIỀU TÁC GIẢ * NHÀ VĂN AN KHÊ



 

                          BIẾN NGŨ NHY (15/8/1886 - 22/7/1973) - nhà văn, nhà thơ

Tiểu sử

Nhà văn Biến Ngũ Nhy tên thật là Nguyễn Bính sinh năm 1886 tại Trà Vinh (không phải thi sĩ Nguyễn Bính - tác giả tập thơ Lỡ Bước Sang Ngang). Ông học tại trường Collège Le Myre de Vilers Mỹ Tho, rồi trường Thuốc Hà Nội, là bạn đồng học với bác sĩ Diên Hương Trần Ngọc Án. Ông tốt nghiệp y sĩ Đông Dương khóa đầu tiên của trường Thuốc Hà Nội. Khi còn đi học, ông có làm thơ Đường và viết sách lấy bút hiệu là Biến Ngũ Nhy - dùng những chữ trong tên Nguyễn Bính sắp xếp thứ tự lại.

Từ khoảng 1915, ông đã giữ mục "Mật thám truyện" trên Công Luận báo, chuyên dịch các tác phẩm trinh thám nước ngoài ra tiếng Việt như Chuyện Ác Lai Ác Báo, in đến kì 51, ra ngày 19/4/1917, chưa kết thúc; Chúa Bọn Sở Khanh khởi đăng từ số 304, kéo dài từ ngày 9/4/1920 cho đến số 326, ra ngày 6/7/1920. Tác phẩm sáng tác hoàn chỉnh đầu tiên là Kim Thời Dị Sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc (khởi in trên Công luận báo từ năm 1917 đến 1920) đã được đánh giá rất cao của văn giới đương thời qua những bài bình, bài luận trên các báo. Truyện được xem là truyện trinh thám đầu tiên của VN, ông được xem là nhà văn trinh thám đầu tiên và sớm nhất của Việt Nam. Nhân vật chính trong truyện là Ba Lâu - bị ảnh hưởng rất lớn từ Arsene Lupin của M. Leblanc - chuyên cướp của người giàu bất chính để tặng cho các trại trẻ mồ côi, chuyên đánh cảnh cáo những kẻ bất lương, bênh vực người yếu thế. Kết cấu của tiểu thuyết này khá hiện đại, cũng như một số tác phẩm khác cùng thời như Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của Trần Chánh Chiếu, Phan Yên ngoại sử (1910) của Trương Duy Toản, Ai làm được (1922) của Hồ Biểu Chánh…, nó đã vượt qua tính chương hồi, biền ngẫu; mà mãi sau này, người ta còn nhìn thấy trong tác phẩm Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, sáng tác năm 1925.

Ngoài ra Biến Ngũ Nhy cũng còn mấy tác phẩm trinh thám in báo dang dở là Một người ăn cắp bạc nhà nước (1918), Kim thời dị sử - Chủ nợ bất nhơn (khởi đăng 1921), Vị lai tân truyện - Cái nhục ngàn năm (khởi đăng ngày 19/9/1919). Toàn bộ, Biến Ngũ Nhy có 12 tác phẩm cho các thể loại sáng tác, dịch, nghiên cứu, nay đã sưu tập được đầy đủ. Riêng về sách y khoa, ông chuyên viết về khoa học tình dục, như các cuốn Phong tình bịnh chứng, Nam nữ hôn nhân – Sanh dục vệ sinh…

Ông mất ngày 22/7/1973, tại Phú Nhuận, Sài Gòn. Ông có tất cả 11 người con (4 trai, 7 gái). Trong số đó có ông Nguyễn Bính Tiên - dược sĩ kiêm tiến sĩ khoa học, từng có nhà thuốc tên Pharmacie Tiên ở đường Bonard (sau nầy là Lê Lợi) ngang bịnh viện Saigon - và ký giả, nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh,

Tác phẩm
   - Kim Thời Dị Sử (Imp. Moderne L. Héloury S. Moutégout SAIGON, 1921)

Nguồn:
- Ký ức ký giả Nguyễn Ang Ca
- Văn học trinh thám ở Nam bộ đầu thế kỉ 20 - Lý Đợi
- Tư liệu sưu tầm vuhatue:
BIẾN NGŨ NHY THI TẬP
Tập thơ của bác sĩ Nguyễn Bính, bút hiệu Biến Ngũ Nhy. Tác giả tự in tặng bạn bè, năm 1967


Kể chuyện làng báo Sài gòn 35 năm về trước

Nguyễn Ang Ca

Cố văn sĩ Bình Nguyên Lộc có nói: «Trong làng báo có ba cây viết vừa nhà báo, vừa nhà binh cùng mang tật nói lắp. Đó là Nguyễn Bính Thinh, Nguyễn Đạt Thịnh và Nguyễn Ang Ca, cả ba đều cà lăm khi gặp phải chuyện xúc động hoặc trước... phụ nữ đẹp »


Hình: Nguyễn Ang Ca [1989]


Quả thật An Khê và tôi có lắm sự trùng hợp ngẫu nhiên. Cùng họ Nguyễn và bút hiệu bắt đầu bằng chữ An, tuy chữ Ang của tôi có G, nhưng phần lớn khi biên thư, các bạn hay gọi tôi là An Ca. Anh An Khê và tôi cùng giống nhau giấy căn cước: sanh tại làng Tân Hưng, tỉnh Sa Đéc. Khi chánh thức lãnh lương nhà báo, mang danh xưng ký giả chuyên nghiệp trùng một năm:1950. Tôi và anh An Khê có một người anh chung trong nghề nghiệp, một «nghĩa huynh» mà chúng tôi kính yêu như cùng chung huyết thống: anh Bình Nguyên Lộc. Chưa hết, anh An Khê và tôi cưới vợ một lượt năm 1950.

Anh An Khê tên thật là Nguyễn Bính Thinh, con trai của cố bác sĩ Nguyễn Bính (không phải là nhà thơ Nguyễn Bính), gốc người Trà Vinh. Bác sĩ Nguyễn Bính là vị y sĩ Đông Dương xuất thân khóa đầu tiên ở trường Thuốc Hà Nội. Khi còn đi học, bác sĩ Nguyễn Bính làm thơ Đường và viết sách lấy biệt hiệu là Biến Ngũ Nhy.


Ông bà bác sĩ Nguyễn Bính (bà vốn là cô đỡ ở nhà thương Phủ Doãn, Hà nội) có tất cả 11 người con (4 trai, 7 gái). Trong số anh trai của An Khê có người anh thứ tư là dược sĩ kiêm tiến sĩ khoa học, ông Nguyễn Bính Tiên, từng có nhà thuốc tên Pharmacie Tiên ở đường Bonard (sau nầy là Lê Lợi) ngang bịnh viện Saigon. Xuất thân từ báo Đọc Thấy và Đời Mới của cụ Trần Văn Ân, viết hai loại truyện dã sử (ký tên Cửu Lang) và tình cảm (ký Vân Nga). Có một thời, độc giả rất say mê theo dõi loạt truyện dã sử của Cửu Lang như Xương máu Phiên Ngung, Người anh hùng mặt sắt (Mai thúc Loan), Đoàn quân ma (Trần Quốc Toản), Ngai vàng sụp đổ. Còn loại truyện tình cảm của Vân Nga như: Ánh sáng đô thành, Cây kiếng vàng…rất được nữ độc giả hoan nghinh.


Khi giã từ anh Huỳnh Hoài Lạc (gốc người Long Xuyên), chủ nhiệm báo Thời Cuộc (thay cố chủ nhiệm Đinh Xuân Tiếu bị ám sát chết một lượt với ký giả Nam Quốc Cang), tôi sang đầu quân cho nhựt báo Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai, cũng gốc người Long Xuyên.


Còn anh An Khê thì chia tay với cụ Trần Văn Ân (gốc người Thốt Nốt, Long Xuyên) sang giúp cho báo Dân Đen của ký giả Nguyễn Duy Hinh. Thời kỳ 1950-60, ký giả Nguyễn Duy Hinh có biệt tài viết phóng sự điều tra, rất sôi nổi, anh Hinh lại có tài «quậy», tạo nên nhiều tin giựt gân, hấp dẫn độc giả.


Ngoài ra, anh An Khê còn lãnh viết feuilleton cho báo Buổi Sáng của Tam Mộc Mai Lan Quế và báo Công Nhân của ký giả Trần Tấn Quốc (chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công Trần Quốc Bửu cho mượn manchette). Vào thời nầy, anh chị Đinh Văn Khai rất phiền Nguyễn duy Hinh vì đang cộng tác và được ưu đãi ở nhựt báo Tiếng Chuông, anh Hinh tách ra lập báo Dân Đen và đăng một loạt bài công kích anh Đinh Văn Khai một cách kịch liệt.


Anh chị chủ nhiệm báo Tiếng Chuông cũng rất buồn anh Tam Mộc, bởi anh chủ nhiệm báo Buổi Sáng, ở phụ tranh hài hước, với bút hiệu Tám Móc hay phụ họa theo anh Nguyễn Duy Hinh để soi mói đời tư của anh chị Đinh Văn Khai. Lúc đó, người em thúc bá với Tam Mộc là tướng Mai Hữu Xuân có nhiều quyền uy, nên tuy tức tối, anh chi Khai chẳng dám có phản ứng gì!

Trong lúc An Khê có đất dụng võ ở ba tờ báo lớn, anh suýt chút nữa lại làm bể nồi cơm của một phóng viên. Số là ngoài bút hiệu Vân Nga, tên con gái đầu lòng, truyện tình cảm của An Khê viết cho Buổi Sáng, anh còn ký tên vợ là Trương Thanh Vân.


Ở tòa soạn báo Tiếng Chuông có phóng viên kiêm nhiếp ảnh viên Quốc Phượng (có khuôn mặt và nụ cười rất giống với tôi, nên tại tòa soạn báo Tiếng Chuông thường xảy ra lắm chuyện nực cười khi nữ độc giả đi tìm tên thiệt của Trương Thanh Vân). Thường chủ báo buộc cộng tác viên không được viết cho báo khác (ngoại trừ tiểu thuyết gia viết feuilleton và thông tín viên ăn tiền từng bản tin), huống chi báo Tiếng Chuông đang căng thẳng với báo Buổi Sáng, nên anh chị Đinh Văn Khai cằn nhằn Quốc Phượng» ăn cây nào sao không rào cây đó» lại nỡ «ăn cơm tôi mà lại tiếp tay kẻ khác để hại tôi».


Quốc Phượng thề bán mạng là tên Trương Thanh Vân trên báo Buổi Sáng không phải của anh, nhưng chủ nhiệm báo Tiếng Chuông nhứt định không tin, cho người móc nối với thợ sắp chữ Buổi Sáng đem bản thảo của Trương Thanh Vân về coi, nhưng vì bản thảo đánh máy nên oan tình của Quốc Phượng vẫn không giải tỏa, có miệng mà chẳng thể kêu oan, mà có kêu nào ai tin!


Một hôm Quốc Phượng nhờ An Khê chở đi sân Cộng Hòa xem đá banh, vì chiếc xe Lambretta của Quốc Phượng bị hỏng máy. Nhìn cái plaque ở xe mô tô của An Khê có mang tên chủ xe là Trương Thanh Vân, hỏi rõ, Quốc Phượng la lên :

- Trời ơi, ông báo hại tôi bị nghi oan, suýt bể nồi cơm đây, ông nội ơi!
Rồi thay vì nhờ An Khê đưa vào sân Cộng Hòa, Quốc Phượng kêu An Khê chở về đường Gia Long, đến tòa soạn Tiếng Chuông để làm sáng tỏ nỗi oan…Thị Kính.

Sau nầy, khi có dịp tâm sự với tôi, Quốc Phượng kể lúc ông bà Đinh Văn Khai giận, nếu không có sự can thiệp của họa sĩ Phạm Thăng và ký giả Phong Đạm (cũng như các anh Huyền Vũ, Lê Tân, Phong Đạm người gốc Phan Thiết, chuyên phụ trách trang trong. Nhỏ con mà kết duyên một lượt với hai chị em, sản xuất trên chục con…) thì QP đã bị tống ra khỏi báo Tiếng Chuông rồi !

Chỉ trong khoảng thời gian từ 1958-1972, An Khê đã viết trên 200 loạt truyện đủ cỡ, đủ loại, và có lúc, anh dám lãnh viết feuilleton một ngày cho…13 tờ báo. Nhiều anh em trong làng thấy mỗi ngày, anh và con gái anh thay nhau chạy giao bài cho các báo, có lúc phải đưa thẳng bản thảo cho nhà in, vì ấn công đang ngóng cổ đợi bài, anh em đã gọi đùa An Khê là phụng hoàng Lê Thành Các, cua rơ đại tài của làng xe đạp đã tạo nhiều kỷ lục phi thường trên lộ trình có nhiều đèo cao dốc cả!

Mà quả thật, trong làng văn làng báo từ xưa đến lúc đó, chưa ai viết nhanh, viết khỏe như An Khê, và trong cuộc đời sở trường viết feuilleton của An Khê, có lắm giai đoạn thật ly kỳ đặc biệt mà anh em chúng tôi còn nhớ kỹ.


Hại anh Trần Tấn Quốc gần nổi khùng
Viết truyện trinh thám, gián điệp, sau Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận (Châu về hiệp phố), Viên Hoành, Nam Đình…nhưng trước Phi Long (Bàn tay máu), Bùi Anh Tuấn (Z28) rất lâu; anh An Khê dành bút hiệu Nguyễn Bính Long (tên một người anh đã qua đời) viết một loạt truyện điệp báo, mật vụ, phản gián (X30 trong lưới nhện)


Sau 1975, Cộng Sản có cho phát hành một cuốn truyện trinh thám và chúng đã mượn tên X30 của Nguyễn Bính Long. Đó là quyển X30 phá lưới có nhắc lại thời kỳ ông Thiệu khi còn là trung úy, tùng sự ở Huế. Quyển truyện nầy nghe đâu do nhà văn Nguyễn Minh Lang ở Hà Nội viết, nhưng về sau lại có hai người khác giành quyền tác giả với Nguyễn Minh Lang.

Sau đây tôi nhắc lại chuyện anh An Khê đáp lời mời của ký giả Trần Tấn Quốc viết truyện Rừng Sát hấp hối cho báo Công Nhân. Lúc đó là trào chánh phủ Ngô Đình Diệm, cụ Ngô mới dẹp xong Bình Xuyên, đang xúc tiến tổ chức quốc hội lần 2. An Khê về Rạch Giá ứng cử dân biểu, nhưng bị ăn gian nên lọt sổ. Vì kẹt ở Phú Quốc nên phải viết bài gởi về qua « Air VN » cho nhà báo. Thay vì đề Trần Tấn Quốc, chủ nhiệm nhật báo Công Nhân, 216 Gia Long Saigon, An Khê lại viết chình ình ngoài phong bì: Rừng Sát hấp hối, rồi địa chỉ nhà báo. Có lẽ An Khê nghĩ rằng đề phong bì như vậy, anh chủ nhiệm khi được thơ khỏi phải mở ra coi mà đưa thẳng cho ấn công để tranh thủ thời gian không bị trể bài.

Bấy giờ Bộ Thông Tin uy quyền rất rộng lớn, chế độ kiểm duyệt báo chí khắt khe, ngoài giám đốc báo chí trực thuộc Bộ Thông Tin, anh em làng báo còn bị đè nặng do áp lực của cơ quan Mật vụ. Cơ quan nầy cũng có văn phòng đặc trách báo chí mà các ông chủ báo rất ngán hai ông Thái Đen, Thái Trắng còn hơn thợ săn đêm ngán gặp cọp.


Tại Tổng Nha Bưu Điện, nhân viên soạn thơ, kiểm duyệt thơ thấy có một phong bì dầy cộm có đề chữ Rừng Sát hấp hối, sợ hỏa tam tinh nên báo cáo lên trưởng phòng. Ông nầy ớn da gà không dám mở ra xem mới trình lên chánh sự vụ, ông nầy cũng phát hoảng hớt ha hớt hải đi trình ông phó giám đốc. Ông Phó đưa phong bì cho ông giám đốc xem.


Trong lúc đó, ở tòa soạn, anh Trần Tấn Quốc ngóng đợi bài của anh An Khê, vì anh em ấn công thúc hối, đang sốt ruột cả mấy bữa thì được thư mời khẩn lên gặp Giám đốc Bưu Điện Saigon. Đến chừng anh Quốc gặp ông giám đốc Nhà Dây Thép, thư được mở ra, mới biết đó là truyện dài của An Khê. Lòng vòng cả tuần lễ và dĩ nhiên anh chủ nhiệm báo Công Nhân phải thay chuyện Rừng Sát hấp hối bằng một chuyện khác.


Trong làng báo lúc bấy giờ, anh Trần Tấn Quốc nổi tiếng có tay nghề cứng, lại vô cùng tôn trọng độc giả mà phải để bài đăng dang dở, lại thêm phải mất công mặc đồ lớn đi gặp chánh quyền khi đang bù đầu «mise » tờ báo, khiến anh Quốc gần phát khùng, nổi sùng An Khê luôn!


Thoạt đầu, Nguyễn Bính Thinh rất bất mãn anh Bình Nguyên Lộc

Phi Vân nghỉ Tiếng Chuông đi làm cho báo Dân Chúng, Nguyễn Kiên Giang được ông bà Đinh Văn Khai mời về làm Tổng thơ ký. Kiên Giang liền mời An Khê về thay Phi Long (tức Ngọc Sơn) để viết truyện gián điệp. Nhưng chủ nhiệm báo Tiếng Chuông lại muốn An Khê viết chuyện dã sử ký là Cửu Lang vì bút hiệu nầy được nhiều độc giả các báo quen biết.

An Khê đánh máy 25 trang bài tóm lược câu chuyện đưa cho tòa soạn Tiếng Chuông. Y ngày hẹn, An Khê đến tòa báo, hỏi điều kiện thì chủ nhiệm và chủ bút Tiếng Chuông đưa An Khê đi gặp nhà văn Bình Nguyên Lộc. Khi đó, Bình Nguyên Lộc vừa về xem trang trong cho Tiếng Chuông, sắp xếp lại bài vở, phụ trang. Gặp An Khê, anh Lộc nói :


- Tôi có đọc các truyện của anh, từ gián điệp đến dã sử. Theo tôi, anh viết truyện tình cảm ướt át lâm ly và hấp dẫn lắm. Anh lại có «fond» hơn bà Tùng Long nhiều, anh yên chí và tự tin đi. Tuần sau, anh đem bài truyện tâm tình đến tôi.


Khi đó, An Khê trong bụng oán trách anh Bình Nguyên Lộc vì từ chủ nhiệm đến chủ bút đều OK cốt chuyện, tại sao anh Lộc lại còn làm khó dễ? Anh Bình Nguyên Lộc còn góp ý :


- Bút hiệu Vân Nga, Trương Thanh Vân đã cũ, Nguyễn Bính Long thì có vẻ đấm đá quá! Anh nên lấy một bút hiệu mới, không ai biết…là ai mới được! Mình phải tạo cho độc giả yếu tố bất ngờ, tò mò, tìm hiểu...

Rồi chính anh Bình Nguyên Lộc đề nghị :
- Anh là một sĩ quan từng chết hụt trên đoạn đường Qui Nhơn-Pleiku cùng với tướng Nguyễn Khánh. Theo tôi, anh nên chọn bút hiệu An Khê để kỷ niệm cuộc vào sanh ra tử trong cuộc đời binh nghiệp.


Sau nầy, tại tòa soạn báo Tiếng Chuông, có lần anh An Khê nói cho tôi biết :
- Anh Bình Nguyên Lộc đã chơi đòn tâm lý, nói tôi không lẽ lại chẳng thể viết bằng Ngọc Linh, Sĩ trung, Thanh Thủy, Dương Hà, Trọng Nguyên hay sao? Và khi tiểu thuyết Người vợ hai lần cưới được đăng ở báo Tiếng Chuông dưới bút hiệu An Khê, báo Tiếng Chuông tăng số bán ở đô thành lên cả ngàn số. Anh Đinh Văn Khai tươi rói nét mặt, cả anh Bình Nguyên Lộc và tôi cũng không ngờ kết quả khả quan ngoài sức tưởng tượng.

Ba mươi năm trước, tôi còn là một ký giả trẻ trung, nhanh nhẹn hay chọc đùa anh em ở tòa soạn. Mỗi lần thấy anh An Khê cỡi mô tô lại tòa báo giao bài, tôi gọi Việt Quang, Trường Sơn, Phong Đạm, Phạm Thăng rồi nói:

- Ê, người vợ chưa từng tắm lại kìa !!


Về sau, soạn giả Thái Thụy Phong điều đình với An Khê để lấy cốt chuyện Người vợ hai lần cưới dựng thành vỡ tuồng Hai chuyến xe hoa cho Thanh Minh, Thanh Nga. Tại rạp Hưng Đạo, dù trời mưa, đoàn TMTN đã diễn vỡ tuồng nầy trọn 19 đêm, đợt sau ba tuần lễ mà vẫn đông khách nhờ tiểu thuyết đã đăng báo Tiếng Chuông và tài diễn xuất của nữ nghệ sĩ Thanh Nga.

Bạn Hoàng Anh Tuấn nhanh tay lấy cốt chuyện quay phim và nhà xuất bản Sống Mới cũng hốt bạc bộn bàng khi xuất bản quyển Người vợ hai lần cưới.


Một tiểu thuyết thứ hai của An Khê cũng được đưa lên sân khấu Thanh Minh, đó là truyện Bơ vơ, do Nhị Kiều dựng, mà tôi thường gọi đùa là Bỏ vợ. Một đêm nọ, khi gặp tôi trong hậu trường Thanh Minh Thanh Nga, An Khê khều tôi bảo nhỏ :


- Nè, từng mê «kỳ nữ» Kim Cương, đừng có làng chàng đến «tài nữ» Thanh Nga nghe, tía nó !


Tôi phá lại An Khê :
- Còn anh? Coi bộ anh cũng mê mệt bà Bầu Thơ lắm đó nhe. Và anh nên nhớ là tôi lớn hơn Thanh Nga nhiều.

An Khê lắc đầu:
- Mà anh lại nhỏ tuổi và bảnh tẽn hơn…Đổng Lân ! Anh có đọc truyện nầy không ? «Xin đừng gọi anh bằng… chú»!

Không chịu thua, tôi hù An Khê :


- Anh mà chạy theo Bà Bầu, coi chừng tướng Lam Sơn. Ỏng dữ lắm, hay bắn bậy lắm đấy!
Vợ tôi đứng bên cạnh nghe nói, cằn nhằn:
- Anh An Khê thật thà lắm, đừng phá ảnh.
An Khê phát cà lăm:


- Nè, bồ gi..ỡn điệu đó, bà xã tôi nghe được bã đô.. ốt xe mô..m.tô của t.. ôi đó !

Những cuộc «đảo chánh» trong làng báo

Ngoài đời, có những cuộc đảo chánh, binh biến để giành quyền lực, còn trong làng báo cũng có những cuộc đảo chánh nữa sao?


Từ thập niên 1960-1970, trong làng báo miền Nam có xảy ra hai cuộc đảo chánh làm chấn động dư luận.
Cuộc đảo chánh thứ nhứt do anh Nguyễn Kiên Giang chủ động. Từ vai tuồng Tổng thơ ký tòa báo Tiếng Chuông, « anh Hai » chiêu dụ Trường Sơn và mấy cây viết chủ lực về giúp anh Dương Chí Sanh làm một tờ báo mới (dường như tờ Saigon Thời Báo?). Nghĩ rằng không phải ký giả chuyên nghiệp như các anh Nam Đình, Trần Tấn Quốc, Phạm Việt Tuyền, Vũ Ngọc Các, Tam Mộc, Hồ Anh, Hà Thành Thọ…, nên nếu tòa soạn mất thành phần chủ lực, anh Đinh Văn Khai sẽ phải sập tiệm tức khắc. Anh Nguyễn Kiên Giang còn điều đình các cây bút chuyên viết feuilleton cúp ngang xương truyện đang viết cho Tiếng Chuông để sang viết cho tờ báo mới ra lò.


Nhưng anh Giang quên rằng trong làng báo, có nhiều người tuy không phải là thợ viết, nhưng lại có lắm sáng kiến, có tài tổ chức, biết cách điều hành tờ báo. Trong số nầy có bạn Trương Hồng Sơn (tổ chức biên tập cho báo Tin sáng) và anh Đinh Văn Khai.


Có gần gũi anh Đinh Văn Khai mới biết được biệt tài của anh. Biết khai thác các tin «local», theo dõi từng feuilleton từ báo nhà đến báo người để xem bộ truyện nào ăn khách, và các bài xã luận đều do ý anh đề ra. Anh cũng đích thân xem «bản vỗ cuối cùng» trước khi đem trình bộ Thông tin kiểm duyệt, duyệt xét lại cái «tít» bài, để khỏi sơ suất có thể bị đóng cửa (vì ấn công, đa số còn trẻ, hay trửng giỡn như trường hợp một tờ báo kia có cái tít : «Cuộc kinh lý của Tổng Thống Ngô Đình… Chậu», báo hại tờ báo suýt bị sạt nghiệp)

Để phá anh Đinh Văn Khai, vợ chồng Nguyễn Kiên Giang đến nhà An Khê bảo đem tiểu thuyết «Người yêu không thể cưới» đang đăng dở dang ở Tiếng Chuông sang Thời Báo. Biết An Khê là người tình cảm, rất yêu quý bạn bè, Nguyễn Kiên Giang cầm tay bị thương của anh và nói :

- Tụi mình là bạn nối khố, không bao giờ bỏ nhau!
An Khê đang lưỡng lự chưa dứt khoát thái độ thì anh chị Đinh Văn Khai đi đòn tâm lý cao đến năn nỉ bác sĩ Nguyễn Bính, thân phụ của An Khê, nhờ can thiệp vì nếu Người yêu không thể cưới bỏ ngang Tiếng Chuông mà sang cưới nhau ở Thời Báo thì Tiếng Chuông chắc chết.


Cha mẹ An Khê từ lâu là độc giả Tiếng Chuông khuyên anh ăn ở sao cho phải đạo.
Tình cờ gặp tôi, An Khê hỏi :
- Ca ơi, mỏa phải làm sao? Anh chị Khai rất điệu với mỏa, còn Nguyễn Kiên Giang là bạn cũ, cùng dân Rạch Giá, cùng lận đận từ thời Đọc Thấy của anh hai Ân.

Tôi đáp :
- Anh và tôi là hai thằng…duy tâm. Chủ trương của anh em mình giống như đại ca Bình Nguyên Lộc, thà người phụ mình chớ mình đừng phụ người.

Anh Bình Nguyên Lộc cũng lên tiếng :
- Có một giải pháp tốt, không ai phiền hà anh hết. Cứ để nguyên Người yêu không thể cưới cho Tiếng Chuông, anh viết một truyện khác cho Nguyễn Kiên Giang.


Thế là An Khê viết một tiểu thuyết mới tựa là « Người đàn bà hai tim » cho Thời Báo.
Ngày nào báo ra, hai bà Dương Chí Sanh, Nguyễn Kiên Giang đều đọc trước phê bình :
- Tiểu thuyết mới cũng hay mà sao không mùi mẫn hấp dẫn như Người yêu không thể cưới.

Còn cuộc đảo chánh thứ hai xảy ra ở báo Dân Ta của anh Nguyễn Vỹ.

Người chỉ huy cuộc đảo chánh là Nguyễn Thế Trung, cựu phát hành viên và quản lý báo Lẽ Sống. Anh Trung không phải là ký giả, nhưng có tài phát hành báo, giao dịch mật thiết với các nhà phát hành như Nam Cường, Đồng Nai, Thống Nhứt và cặp rằng phân phối báo.

Là quản lý của Dân Ta, thấy tờ báo đang bán mạnh, Nguyễn Thế Trung điều đình với Nguyễn Minh Châu (anh Châu đã có giấy phép xuất bản Dân Tiến mà chưa có phương tiện ra báo nên nhường quyền khai thác cho Nguyễn Thế Trung) để ra báo Dân Tiến và kéo cả ban biên tập Dân Ta về Dân Tiến.

Buổi sáng, Nguyễn Vỹ ôm cartable đến tòa báo làm việc, chưng hửng khi thấy tòa soạn vắng tanh, trước sự việc như vậy chỉ còn biết kêu trời. Báo Dân Ta phải tự đình bản cả tuần, nhưng khi tái bản bị mất trớn, mất độc giả, lỗ lả nặng nề.

 


NGUYỄN THIÊN THỤ * AN KHÊ & TRẦN VĂN AN


Trong khi đa số nhà văn hải ngoại viết về nhà tù cộng sản, một số ít viết về nhà tù thời Pháp thuộc. Đó là trưòng hợp các nhà cách mạng lão thành đã bị Pháp giam giữ như An Khê và Trần Văn Ân.

An Khê sau khi sang Pháp đã viết hồi ký về những ngày tháng trong nhà tù của Pháp tại Sài gòn và Côn Đảo. Đó là cuốn Từ Khám Lớn Tới Côn Đảo do Làng Văn Canada xuất bản năm 1992. Sách dày 223 trang, chia làm hai phần. Phần đầu là hồi ký của An Khê, phần sau là hồi ký của Trần Văn Ân, nhan đề Khám Lớn Sài Gòn Trong ThờI Ngồi Tù của Trần Văn Ân (1941) viết xong ngày 10-6-1991.
Trước đây, Nguyễn An Ninh đã viết Ngồi Tù Khám Lớn , nay An Khê và Trần Văn Ân cũng viết về nhà tù này. Tác phẩm này tố cáo những hành vi tàn ác của thực dân Pháp tại Khám Lớn và tại Côn Đảo. An Khê gọi Khám Lớn ‘ là nấm mồ kín đáo bao lấp biết bao cơ man uất hận của hàng vạn con người mang thân chim lồng cá chậu, trong thời kỳ đô hộ suốt 80 năm của thực dân Pháp (36)..
Theo An Khê, nhà tù này chứa khoảng 3000, gồm thường phạm và chính trị phạm. Ngày 8-3-1953, thủ tướng Nguyễn Văn Tâm đã cầm cuốc phá viên gạch đầu tiên của Khám Lớn để ngày 3-7-1956 xây dựng thư viện quốc gia.
An Khê là một chiến sĩ thuc đảng phái cách mạng quốc gia, bị bắt năm 1941 vì tội hoạt động chống Pháp sau bị đày ra Côn Đảo, đến 1945 thì được trở về gia đình. Trước tiên, ông bị giam tại bót Catina, sau bị đưa về Khám Lớn.
Bót Catinat, nơi chuyên dùng điều tra can phạm, nơi chứa đựng tội ác của lũ cầm quyền, cũng là địa ngục.
Bị chuyển từ địa ngục này sang địa ngục khác mà chúng tôi mùng như được tái sinh. Một là vì đuợc chỗ ở rộng
rãi hơn, khỏi phải cảnh ngột ngạt, ép mắm trong những phòng giam nhỏ, đứng ngồi cả trên đồ phóng uế, nửa
đêm thỉnh thoảng lại nghe kêu ơi ới:’ Bác khám ơi, có một thằng chết rồi đây(37).
Đệ nhất hung thần là lão Bazin. An Khê tả việc Bazin đánh đập võ sĩ Tạ Bá Tòng:
Một tên lính kín cầm một khúc tầm vông, loại tre ruột gần như đặc và cứng rắn không thua gỗ, đập thẳng cánh
vào đầu nạn nhân. Đập vừa giập khúc tầm vông ấy, gã thay đổi khúc tầm vông khác.Tên cò Bazin bỉu môi, bảo:
‘ Làm cho gọn, dơ quá vậy!’ Gã lính kín càng giáng mạnh tay hơn, quát:’ Hứng vô quần, mầy!’ Nạn nhân khép
đầu vào vai, cho máu đổ tuôn xuống chiếc quần đùi đã ướt dẫm máu (41).
Tại Khám lớn, một tên lại ngục có quốc tịch Pháp là Paul Hiền nổi danh tàn ác. An Khê viết về tên này:
Paul Hiền hành hạ chúng tôi, bắt ngồi trần truồng trước gió chiều rét lạnh một lúc rồi mới điểm danh bằng lối đọc
thoáng nhanh như gió:’ Băm hai mười tám. . . băm hai mười chín. .. băm hai hăm mốt. . .Con c! ĐM. cố tổ nhà
bây coí nghe tao đọc tên không?. . . Trong nhóm thanh niên có một anh nọ còn trẻ tuổi, ốm nhom, không hiểu
tội gì, bị bắt từ bao lâu mà còn mang bịnh lậu. Paul Hiền giận cá chém thớt, bỏ chúng tôi xốc lại bên anh trai nọ,
xỉa xói:’ Đ.M.! Ở tù còn bày đặt chơi bời. Ham đ. đĩ cho mang bệnh lậu nơi đầu thằng cha mầy đây hả? Chơi dĩ
sướng lắm hả? Tao cho mày sướng luôn!’ Hắn vừa nói vừa dòm dáo dác rồi chạy lại bên thùng rác nhặt một vỏ
bao thuốc lá. Hắn cầm vỏ bao thuốc quệt vào nơi chảy mủ của anh trai tội nghiệp nọ mà trét vào hai mắt anh ta!
Hành động tàn nhẫn vô nhân đạo của tên lại ngục dân tây nọ khiến chúng tôi trông thấy mà sửng sốt và hãi hùng
(46).
An Khê cho ta thấy pháp luật đôi khi sai lầm, phạt oan, giam oan như ba cha con người thợ rèn vì rèn poignard cho lính Nhật . Mãy người lính này dùng dao đâm lộn với cảnh sát Sài gòn. Mãy anh này bị bắt, khai ra ông thợ rèn làm dao. Ba cha con ông thợ rèn bị bắt về tội chế vũ khí ám sát nhân viên công lực (65).

Trong khi tố cáo tội ác của thực dân Pháp, An Khê cũng tố cáo tội ác của cộng sản. Mặc dù cùng là tù nhân, nhưng bọn cộng sản nham hiểm bí mật hoặc công khai tiếp tay với thực dân Pháp để đày ải, hoặc giết hại những đảng phái quốc gia không theo chúng. Nói rõ hơn, cộng sản mưọn tay Pháp thủ tiêu đảng phái quốc gia để sau này chúng không còn đối thủ. tiện bề thực thi chính sách độc tài đảng trị. Ngay trong tù, thái độ của tù cộng sản và tù quốc gia, sư cộng sản và sư quốc gia khác nhau. Sư Thiện Chiếu là cộng sản được tiếp tế nhiều nhưng không bố thí cho các anh em bạn tù. Sư lại chỉ trích việc anh em tù nhặt thuốc lá. Sư Thiên Chiếu và Tâm Chiếu lập trường quốc cộng khác nhau, và tính tình cũng khác nhau. Sư Tâm Chiếu cười khẩy:

Đạo huynh không nhặt tàn thuốc lá vì đại huynh ôm kè kè bịch thuốc lá và gói quà căng tin bên người, có cho
ai chút gì đâu? Cả khám không thuốc hút, một mình đạo huynh nằm gác tréo chân hút thuốc phì phà, làm dân
ghiền ngáp trật quai hàm! Trong khám có người nứt lở mình mẩy chân tay, không ăn được đồ biển, đạo huynh
có thịt chà bông, có tóp mỡ, có đường tán. . . đạo huynh có cho ai chút nào? Đạo huynh xưng là tiến bộ, là cộng sản, sao còn bo bo vật tư riêng? (129)

An Khê viết rất nhiều về hành vi và thủ đoạn của những người tù cộng sản. Trước kia khi ở trong Khám Lớn, bọn chúng đã bao phen ngồi liên hoan với chúng tôi. để cổ võ chiêu bài chúng đưa ra : Quốc Cộng liên minh! Ngưòi quốc gia và cộng sản phải liên kết chặt chẽ, cùng sát cánh nhau để cứu nước. Ôi tình đồng chí, đồng tù mặn nồng, thắm thiết biêt bao! Chúng phải làm thế vì ở Khám Lớn, phe cộng là thiều số. Nhưng khi ra Côn đảo, họ đông hơn, có thế lực núp bóng cai tù, nên trở mặt, bảo: Trên đảo chỉ cò màu đỏ, không màu vàng. Người quốc gia muốn yên thân trả nợ tù, phải nhum đỏ! Không cộng sản tức là kẻ thù, không có khác, cũng không được lưng chứng!. . . (141).

Chính bọn cộng sản cũng mưu hại An Khê song người Nhật đã đến kịp thời cứu ông (140-142).
Trong Khám Lớn Sài gòn Trong Thời Ngồi Tù của Trần Văn Ân(1941), Trần Văn Ân cũng nói rõ việc Cộng sản đã hành hạ , đầu độc Nguyễn An Ninh ở Côn đảo. Ông Ninh ở tù bị bọn cộng sản cô lập, không cạo tóc cho, không cho ai nói chuyện với ông, giúp đỡ ông một việc cỏn con nào. Ông Ninh bị thủng, phải nằm khám nhà thương. Chúng không cho thuốc, lại giả làm tù mới ở đất liền ra phao đồn vợ ông Ninh không còn ở phụng dưỡng cha nữa. Ông Ninh rất có hiếu với cha, nghe kể thế rất đau buồn. Chúng lại bảo bịnh ông muốn khỏi, nên ăn gan con vích sống hay uống máu vích thì chóng khỏi. Chúng đem gan vích và máu vích cho ông,ông dùng xong thì mất (165).

Ông cũng kể cho chúng ta biết cộng sản âm mưu đầu độc tù nhân quốc gia bằng cách xúi dục người ‘pha nước bẩn vào nước uống, bỏ cát, xác ruồi vào cơm và thức ăn’ (219).
Trần Văn Ân cũng nhắc đến việc Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn giết Bùi Quang Chiêu( bác của bà Trần Văn Văn, và cậu của Luật sư Dương Văn Giáo) khoảng tháng 9-1945 ở Tân An, và luật sư Dương Văn Giáo là mt nhà cách mạng, bạn của Nguyễn Thế Truyền, cùng lãnh tụ Cao Đài Lê Kim Ty và mấy chục lãnh tụ đệ tứ nơi sông Lòng Sông gần Phan Thiết vào năm 1946 ( 159)..

Thực dân Pháp tàn ác, song Cộng sản càng tàn ác hơn. Cộng sản bắt tù nhân trồng sắn mà ăn, không bao giờ cho ăn cơm trong khi Pháp vẫn cho ăn cơm, có thức ăn dù là khô mục với canh đậu xanh (175). Khi bắt người, Pháp tỏ ra lịch sự hơn cộng sản (146-149). Tù thời Pháp được thân nhân vào thăm nuôi bất cứ thứ bảy ,chủ nhật nào , còn cộng sản sau này mới có lệ cho thăm nuôi, và thân nhân chỉ được thăm nuôi khi có giấy phép gửi về. Tù nhân dưới chế độ Pháp thuộc biết mình tội gì và hạn tù của mình, còn tù cộng sản thì không biết mình bị ghép tội gì và ngồi tù đến khi nào.

An Khê là một nhà văn viết rất nhiều nhưng các tác phẩm của ông xuất hiện trên báo, dường như ít xuất bản thành sách. Từ Khám Lớn Tới Côn Đảo là một tác phẩm có giá trị lịch sử, có giá trị tố cáo thực dân và cộng sản. Đây là nỗi khổ đau của người quốc gia, luôn bị thực dân và cộng sản đọa đày và giết hại.
  
 

Thêm hồi ký nhà báo trong tù của nhà văn An Khê
Wednesday, May 08, 2013 4:02:44 PM





Viên Linh



Gần đây người viết bài này được biết thêm một hồi ký về nghề báo chưa từng đọc, được đăng lại trong một cuốn sách mới xuất bản nhan đề “An Khê Nguyễn Bính Thinh.” An Khê là ai?

Ðộc giả hải ngoại có thể không có bao nhiêu người biết đến nhà văn này, nhưng nếu nói đến tuồng cải lương “Bơ Vơ,” “Tuyệt Tình Ca” hay “Hai Chuyến Xe Hoa” mà đoàn Thanh Minh Thanh Nga đã trình diễn suốt 21 đêm tại Sài Gòn thì có lẽ có thêm nhiều người nhớ đến An Khê, vì tuồng đó đã soạn từ cuốn tiểu thuyết “Người Vợ Hai Lần Cưới” của ông. Xin đừng nhắc đến cuốn phim “Hai Chuyến Xe Hoa” mà đạo diễn Hoàng Anh Tuấn dựng theo vở cải lương và cuốn tiểu thuyết này, vì nó thất bại hoàn toàn, chính An Khê đã phát biểu như thế, và còn kể lại trong hồi ký nhà đạo diễn đã phải xin lỗi tác giả ra sao.

Nhà văn An Khê ngồi bên mộ ký giả Nguyễn Ang Ca, Bruxelles, Bỉ. (Hình: Võ Ðức Trung, Pháp)



An Khê (1925-1994) tên khai sinh là Nguyễn Bính Thinh, gia nhập làng báo năm 1950, biên tập viên báo Ðọc Thấy, có tiếng từ khi viết cho báo Ðời Mới của ký giả Trần Văn Ân sau đó vài ba năm. Những năm '60 ông là tác giả cực kỳ ăn khách, được các báo chèo kéo, mua chuộc, đến nỗi ông trở thành nhà văn viết tới 13 truyện từng kỳ trên 13 tờ nhật báo trong một ngày, vượt cả ông thầy của ông là nhà văn Bình Nguyên Lộc, người viết 12 truyện từng kỳ cho 12 tờ báo lúc trước đó. Gọi Bình Nguyên Lộc là ông thầy vì bút hiệu An Khê là do Bình Nguyên Lộc đặt cho tác giả Người Vợ Hai Lần Cưới, và chính Bình Nguyên Lộc bảo An Khê hãy viết loại tiểu thuyết tình cảm thôi, loại đó hợp với văn phong và vốn sống, kiến thức, của An Khê hơn là loại tiểu thuyết võ hiệp lịch sử hay trinh thám gián điệp, là hai loại mở đầu của Nguyễn Bính Thinh, ký các bút hiệu Cửu Lang, Trương Vân Anh,... An Khê vốn là tên ngọn đèo An Khê ở Pleiku, nơi Thiếu Tá Nguyễn Bính Thinh đụng trận với Việt Minh, và là nơi chấm dứt cuộc đời binh nghiệp của ông, vì từ sau đó, bị tàn phế nặng nề, ông chỉ còn sử dụng được hai ngón tay để gõ máy chữ, và hoàn toàn mưu sinh, nuôi gia đình, bằng nghề văn nghề báo.

Khoảng 1964, 1965, làm thư ký tòa soạn nhật báo Dân Tiến ở Sài Gòn, tôi trông coi các trang trong, một trong năm tiểu thuyết của tờ báo phải có một truyện dài của An Khê, chính trong dịp này tôi đã gặp anh. Nếu trí nhớ không lầm, mấy truyện bên cạnh là của Ngọc Linh, Sĩ Trung. Vì Dân Tiến nhằm vào độc giả gốc miền Nam, nên tôi cũng đã mời hầu hết các đồng nghiệp viết văn Nam cộng tác với Dân Tiến, như Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Kiên Giang Hà Huy Hà (kịch trường), Hoàng Trúc Ly (truyện cổ tích). Truyện bằng tranh cũng phải mời họa sĩ miền Nam, là Diệp Ðình. Nếu những nhà văn Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiên Giang, Hoàng Trúc Ly tới tòa báo, đặt trên đường Phạm Hồng Thái chạy xéo từ Ngã Sáu đâm vào cạnh nhà ga xe lửa, thì An Khê xẹt qua bằng xe mô tô. Anh to lớn, vạm vỡ, nhưng khi đi đứng, người ta biết ngay anh là thương phế binh hạng nặng. Hạng nặng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng: anh là cựu thiếu tá phó chủ tịch Hội Thương Phế Binh Việt Nam. Khoảng sau 1990, anh đoàn tụ gia đình tới Pháp, và ít lâu sau có gửi cho tôi một lá thư khá dài, giấy mỏng, khổ giấy legal ở Mỹ.


An Khê là thiếu niên yêu nước, người tranh đấu, nhà hoạt động cách mạng chống thực dân, việc này đã khiến anh trở thành phạm nhân chính trị, bị Pháp bỏ tù vào năm 1942, mới đầu ở Khám Lớn Sài Gòn, sau bị đưa ra giam tại Côn Ðảo. Ở Côn Ðảo, An Khê được biết rõ các phạm nhân cộng sản đã bắt tay với cặp-rằn Pháp hay tay sai cho Pháp để giết hại các chiến sĩ quốc gia, điều này lại khiến anh trở thành một chiến sĩ quốc gia chống Cộng sản: những điều này tôi chỉ biết nhờ vào phần hồi ký của anh, nhan đề “25 Năm Vinh Nhục Trong Làng Báo Việt Nam trước 1975,” và nói rộng ra, qua bài của nhiều người khác trong cuốn “An Khê Nguyễn Bính Thinh, Hoài Niệm.”


“Trước kia khi ở trong Khám Lớn, bọn chúng (cộng sản) đã bao phen ngồi liên hoan với chúng tôi, để cổ võ chiêu bài chúng đưa ra: Quốc Cộng liên minh. Người quốc gia và cộng sản phải liên kết chặt chẽ, cùng sát cánh nhau để cứu nước. [...] Chúng phải làm thế vì ở Khám Lớn, phe Cộng là thiểu số. Nhưng khi ra Côn Ðảo, họ đông hơn, có thế lực núp bóng cai tù, nên trở mặt, bảo: ‘Trên đảo chỉ có màu đỏ, không màu vàng. Người quốc gia muốn yên thân trả nợ tù, phải nhuộm đỏ.’ Không cộng sản tức là kẻ thù, không có khác, cũng không được lưng chừng.” (An Khê, Từ Khám Lớn tới Côn Ðảo, tr.141, trích lại trong An Khê NBT, Hoài Niệm, phần Nguyễn Thiên Thụ)


“Ðối với tôi, Côn Ðảo có nhiều phần thiêng liêng còn ở lại mãi trong tâm hồn tôi. Và ác độc, dã man nhứt là những tên cựu tù cộng sản tại Hà Nội, lắm tên đã ở Côn Ðảo hay Lao Bảo, [...]thế nhưng khi chúng nắm chính quyền trong tay, chúng lại thực dân hơn cả thực dân cũ, lập thêm khắp nước những nhà tù, hành hạ tù nhân tàn khốc, ác độc hơn. (An Khê, sđd, tr. 223, phần Hoàng Ngọc Hiển.)


“Về sau này, anh Lê Tấn Thông, người chính trị phạm quốc gia làm đường ở ê kíp Ma-thi-ơ Côn Ðảo kể lại: ‘Ông Nguyễn An Ninh khi ngồi tù, bị anh em phiền trách sao ông để cho cộng sản lợi dụng tên tuổi ông... ’ (Sđd, tr.165) Ở một chỗ khác cho biết, Nguyễn An Ninh chết vì nghe theo hai tên cán bộ cộng sản, chúng đưa cho hai con vích, bảo ăn thì sẽ hết bệnh!”


Trong văn chương sách vở xuất bản ở hải ngoại, loại sách hồi ký rất hữu ích, cho dù được viết bởi một ngòi bút không chuyên nghiệp, nữa là hồi ký của một nhà văn nổi tiếng như An Khê.

Cuốn “An Khê Nguyễn Bính Thinh, Hoài Niệm,” do Võ Ðức Trung chủ biên, với sự góp mặt của Hoàng Ngọc Hiển, Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Thiên Thụ, Nguyễn Ang Ca, Nguyễn Song Anh, Nguyễn Tánh Ðệ, Trần Minh Tâm. Sách dầy 300 trang, do Hương Cau Paris xuất bản, liên lạc qua Nhóm Văn Hóa Pháp Việt, (*) Alleé des Peupliers, 59320 Hallennes Les Haubourdin, France. Chú thích:

(*) Xuất hiện trong “Văn Hóa (France Vietnam Culture) số các tháng 11 và 12.1994, tháng 8.1995, 12.1995 và 1.1996; in lại trong “An Khê Nguyễn Bính Thinh - Hoài Niệm” của Võ Ðức Trung và nhiều tác giả, Hương Cau, Paris, 4.2013.