Sunday, April 14, 2013

TIN TỨC GẦN XA



Tàu ngầm Mỹ bất thình lình xuất hiện trước tàu Trung Cộng gây bấ t ngờ ở đảo Philippine

Lần này Trung Cộng vừa để dằn mặt không những với Phi Luật Tân mà gián tiếp nhắm vào Hoa Kỳ khi đem 5 tàu chiến tối tân đảo di chuyển về đảo Scarborough của Philippines.
Hỏa lực của Hải quân của Phi không ngang sức được với Trung Cộng với kỹ thuật tàu chiến không đũ tối tân, hùng hậu và số lượng ít ỏi hơn.
Mục đích của Phi là tự vệ trong khả năng tối đa còn Trung cộng thì hăm dọa một cách không cân xứng lực lượng.
Giết gà không cần dùng dao mổ trâu, nhưng . . . Trung Cộng thích diệu vỏ dương oai, một bản tính cố hữu nhiều ngàn năm, khihăm dọa nước Phi lần này.
Một điều kỳ thú vừa xảy ra ..
Cả Trung Cộng lẫn Phi dường như ngạc nhiên và sửng sờ có thể lúng túng khi chiếc tàu ngầm USS North Carolina — a Virginia class fast attack submarine- bất thình lình nổi lên nơi tàu đậu ở Subic bay của Phi.





Phản ứng của Nga Đại sứ Nga tại Manila, ông Nikolay Kudashev cho biết: “Moscow rất quan ngại về “sóng gió” gần đây ở Biển Đông.
Liên bang Nga tuyên bố phản đối bất kỳ hành động can thiệp nào của các nước bên ngoài vàonhững cuộc tranh chấp ở Biển Đông. Đây là lập trường chính thức của chúng tôi”.
Động thái này cho biết Nga cũng sững sờ, vì đa số kỷ thuật tối tân của Nga cũng thể hiện trong tàu chiến Trung cộng.Có thể ngạc nhiên của Trung cộng bao gồm nổi bực tức vì các phương tiện tối tân (ăn cắp và mua bản quyền chế tạo) gần như bất lực không khám phá ra được chiếc tàu ngầm USS North Carolina đã xuyên qua khu vực họ bố trí 5 chiếc tàu chiến với niềm tự phụ, háo thắng.


Có thể ngạc nhiên của Phi bao gồm niềm hân hoan của kẻ bị bắt nạt khi có đàn anh đồng minh sẳn sàng che chở.
Động thái dằn mặt của Hoa Kỳ chứng tỏ sức mạnh kỷ thuật của nước Mỹ đã ưu việt hơn kỷ thuật ăn cắp của Trung cộng.
Đó cũng ngầm cho biết ” tàu tấn công của chúng tôi đả thấy anh nhưng chưa làm gì hết vì . . . chưa tới lúc”
Động thái này cũng ngầm cho thế giới biết về sức mạnh của Hải quân Hoa Kỳ.
Ngày nay thế giới hiểu rằng Hoa Kỳ có một ngôi vị cao về kỷ thuật trong khí cụ chiến tranh, nhưng kỷ thuật này nếu Trung cộng hay Nga có được thì thế giới chúng ta có yên ổn không?

Vì sao người giàu ở TQ bỏ nước ra đi?

Cập nhật: 11:40 GMT - thứ bảy, 13 tháng 4, 2013
Trung Quốc đang đối diện ô nhiễm không khí tại nhiều thành phố.

Tạp chí The Atlantic mới có bài nhận định an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường, và hạ tầng chỉ là vài nguyên nhân khiến một số người Trung Quốc có tiền của cân nhắc bỏ đất nước ra hải ngoại định cư. BBC giới thiệu cùng quí vị.

Dữ liệu được đưa lên cổng thông tin Sina ở Trung Quốc cho thấy hơn 150 ngàn công dân Trung Quốc rời Trung Quốc ra nước ngoài định cư trong riêng năm 2011.

Điểm đến hàng đầu của họ là New Zealand, nơi 13% người di cư quyết định tới định cư, tiếp theo là Canada, Úc, và Hoa Kỳ.
Nhập cư theo dạng có trình độ cao và diện du học chiếm đa số trong khi cũng có cách nhập cư theo các dạng khác.
Người giàu có và người có học vấn cao là nhóm lớn nhất trong xu hướng di cư này.
Một báo cáo của China Merchants Bank và Bain & Company cho thấy "Trong số những chủ doanh nghiệp tại Hoa lục có hơn 100 triệu nhân dân tệ (khoảng 16 tỷ USD), 27% đã di cư khỏi Trung Quốc, trong khi 47% số người khác đang cân nhắc việc di cư".
Trên thực tế, người giàu tại Trung Quốc cân nhắc di cư không chỉ gồm những người từ các thành phố lớn nhất của Trung Quốc mà cũng có cả dân từ một số thành phố hạng hai như Đại Liên và Trùng Khánh.

‘Đổi hộ chiếu’

Đây không phải là lần đầu Trung Quốc đã chứng kiến một làn sóng di cư.
Một số người Trung Quốc đã quyết định chuyển ra nước ngoài trong những năm đầu của thời cải cách và mở cửa, là giai đoạn tự do hóa nền kinh tế bắt đầu vào năm 1978.
"Không quá khó hiểu nguyên nhân thúc đẩy nhóm người này ở Trung Quốc rời quê hương, nhất là trong bối cảnh báo chí nói về mức độ ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, chất lượng cuộc sống, giáo dục và cơ sở hạ tầng ở Trung Quốc"
Làn sóng di cư kéo dài một thập niên bắt đầu từ cuối những năm 1980, nhóm này gồm chủ yếu là các sinh viên du học ở nước ngoài, và các điểm đến chủ yếu là Đài Loan, Hồng Kông và các nước châu Á.
Trong khi làn sóng di dân Trung Quốc trước đây được thúc đẩy bởi lực lượng lao động trình độ giản đơn như người làm nhà hàng ăn, thợ may và thợ cắt tóc, và sau đó là nhóm sinh viên, làn sóng di dân mới ngày nay bao gồm những người Trung Quốc "có chỗ đứng tốt" về nghề nghiệp, chẳng hạn như kỹ sư, kế toán và các luật sư, cũng như những người siêu giàu.
Thực ra không quá khó hiểu nguyên nhân thúc đẩy nhóm người này ở Trung Quốc rời quê hương, nhất là trong bối cảnh báo chí nói về mức độ ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, chất lượng cuộc sống, giáo dục và cơ sở hạ tầng ở Trung Quốc.
Thậm chí sự bất tiện khi mang cuốn hộ chiếu Trung Quốc, vốn làm khó khăn khi du lịch quốc tế, có thể là động cơ khiến một số người tìm kiếm cuốn hộ chiếu khác để đi lại dễ dàng hơn.
Làn sóng di dân này không tránh khỏi sự gièm pha từ một số người không thể rời Trung Quốc trong khi một số người khác lại bày tỏ sự cảm thông.

‘Cảm giác an toàn’

Tài phiệt Trung Quốc
Giới tài phiệt Trung Quốc đang quan tâm đầu tư tài chính sang phương Tây

Một người viết trên trang Sina Weibo, rằng "Tiền bạc ngày càng được chuyển ra nước ngoài, để lại một mớ hổ lốn ở trong nước". Một người khác nhận xét, "Với giá nhà đất cao, hệ thống giáo dục và y tế méo mó, và thực trạng môi trường ngày càng tồi tệ ... ngay cả quyền sinh sản cơ bản cũng đã bị tước mất. Với tất cả những điều này, bạn không thể đổ lỗi cho những di cư ra nước ngoài, họ chỉ muốn tìm một môi trường có sự công bằng và phù hợp cho cuộc sống. "

Ren Zhiqiang, một ông trùm bất động sản cực kỳ có ảnh hưởng trong dư luận tại Trung Quốc có thể chỉ ra các lý do tâm lý thực sự đằng sau làn sóng di dân mới nhất này:
Ông nói “Có rất nhiều lý do cho làn sóng di dân, nhưng quan trọng nhất là cảm giác an toàn. An toàn trong cuộc sống, tài sản, thực phẩm, không khí, giáo dục, và các quyền khác.
“Việc thiếu cảm giác an toàn là một trong những lý do quan trọng tại sao có là sự bất ổn xã hội. Chỉ bằng cách cho công dân một cảm giác an toàn thì người ta mới có thể được thiết lập một xã hội ổn định”, ông bình luận.
Với nhiều rời khỏi Trung Quốc vì những lý do đã nói ở trên, di dân đã trở thành một vấn đề chính trị.
Trong tháng 11/ 2011, Nhân dân Nhật báo của nhà nước có bài xã luận với tựa "Chúng ta nên gây khó hơn cho người giàu di cư", đã thu hút một số lượng lớn độc giả và tiếp tục lan truyền trên các mạng xã hội tại Trung Quốc.

‘Thuế vượt biên’

"Có phải số tiền khổng lồ mà người Trung Quốc, một thời rời đất nước ra đi, đã và đang đầu tư từ hải ngoại về nước, đã mang lại sự lớn mạnh cho Trung Quốc"
Bài báo đề xuất một thứ "thuế thoát" đánh vào người Trung Quốc giàu rời khỏi đất nước.
Nhiều người tham gia bình luận trên mạng đồng ý rằng đó là một biện pháp sẽ mang lại lợi ích cho phần lớn người Trung Quốc, trong khi hạn chế dòng vốn chảy ra nước ngoài.
Có một người bình luận, "Một khi đã có tiền bạc và quyền lực, người ta không còn yêu nước nước nữa. Hãy nghĩ xem tiền và quyền từ đâu mà ra? Những người đó chỉ thuần túy là những kẻ phản bội thời bình."

Các cư dân mạng cũng đặt câu hỏi về ý nghĩ cho rằng di cư tương đương với việc bỏ rơi đất nước hay không. Một người viết trên Weibo:
"Di cư có những điểm tốt và điểm xấu. Di cư có nhất thiết có nghĩa là bạn không yêu đất nước này? Người Trung Quốc di cư không mang lại lợi ích cho đất nước này hay sao?
“Có phải số tiền khổng lồ mà người Trung Quốc, một thời rời đất nước ra đi, đã và đang đầu tư từ hải ngoại về nước, đã mang lại sự lớn mạnh cho Trung Quốc? Người Trung Quốc ở nước ngoài không thể trở thành đối tượng tốt để cải thiện quyền lực mềm của Trung Quốc hay sao?"
 
 

Nông dân 'đang ở đáy xã hội Việt Nam'

Cập nhật: 15:23 GMT - thứ sáu, 12 tháng 4, 2013
Xã hội Việt Nam
Nông dân đang được xếp đứng dưới cùng trong thang phân tầng xã hội ở VN

Một nhà nghiên cứu thuộc Viện Xã hội học tại Hà Nội cho BBC hay nông dân đang được xếp dưới cùng trong thang phân tầng của xã hội Việt Nam hiện đại.
Trao đổi với BBC hôm 12/4/2013, nhân dịp BBC vừa công bố bảng xếp loại với Bấm 7 giai tầng mới trong xã hội Anh, tiến sỹ Đỗ Thiên Kính, chuyên gia về phân tầng xã hội nói nông dân Việt Nam xếp dưới cùng trong chín tầng lớp xã hội ở nước này.
Ông nói:
"Tầng lớp nông dân là tầng lớp có địa vị thuộc loại thấp kém nhất trong xã hội. Địa vị kinh tế, thu nhập của tầng lớp nông dân cũng thuộc loại thấp, chi tiêu cũng thấp,
"Tình trạng nhà ở, đời sống văn hóa tinh thần cũng kém các tầng lớp khác."
Ông Kính cũng cho hay tầng lớp lao động phổ thông, giản đơn được dự đoán thuộc nhóm chịu nhiều rủi ro, bấp bênh trong xã hội, trong khi nhóm có trình độ chuyên môn cao, hay tầng lớp trí thức, được xếp ngày một cao trên bảng phân tầng.
Ở trên cùng của bảng này, theo chuyên gia là tầng lớp những người lãnh đạo, những người có chức, có quyền, trong khi nhóm giàu cũng bao gồm những người thuộc tầng lớp này.

Tầng lớp có 'quyền và tiền'

"Thường nhóm có chức có quyền thì mới có lợi ích và có quyền lực để thu vén cá nhân, trong phân tầng của chúng tôi, chắc chắn chúng tôi xếp vào nhóm quản lý, lãnh đạo - nhóm đứng đầu tiên trong tháp phân tầng"
TS Đỗ Thiên Kính
Khi được hỏi về "nhóm lợi ích" có liên hệ ra sao, như một lát cắt so sánh, trong tháp phân tầng, nhà xã hội học nói đây chính là nhóm "có chức, có quyền", có "địa vị" và do đó mà có sự liên hệ tới "bổng lộc, lợi ích". Nhóm này theo ông Kính cũng đứng ở trên cùng của bảng phân loại.
Ông nói: "Thường nhóm có chức có quyền thì mới có lợi ích và có quyền lực để thu vén cá nhân, trong phân tầng của chúng tôi, chắc chắn chúng tôi xếp vào nhóm quản lý, lãnh đạo - nhóm đứng đầu tiên trong tháp phân tầng."

Trả lời câu hỏi những người thuộc nhóm giàu là ai và nguồn gốc sự phồn vinh, giàu có vật chất của họ tới từ đâu, nhà xã hội học cho hay trong nhóm này có những người giàu có do làm ăn phi pháp và những người làm ăn đàng hoàng.
"Thực tiễn xã hội Việt Nam, những người giàu có có nhiều dạng. Ví dụ, dạng giàu có phi pháp do tham ô, tham nhũng là một dạng... Hay dạng giàu có do lao động chân chính cũng có.
"Nhưng tóm lại tầng lớp trên, theo tháp phân tầng của chúng tôi, ví dụ tầng lớp lãnh đạo, quản lý, những người chuyên môn cao, doanh nhân... gần như gắn với các thành phần kinh tế nhà nước, vì phần nhiều họ là công chức nhà nước..."


"Những người giàu có có nhiều dạng... Dạng giàu có phi pháp do tham ô, tham nhũng là một dạng... Hay dạng giàu có do lao động chân chính cũng có"
TS Đỗ Thiên Kính
Chuyên gia xã hội học cho hay chưa thể đáp ứng câu hỏi về mối liên hệ giữa "phân tầng trong đảng viên" với bảng phân tầng xã hội hiện tại và đồng ý có thể cần tới một nghiên cứu tách biệt, tuy nhiên ông cho rằng nhóm đứng ở đầu bảng phân loại là nhóm có nhiều quyền lực, từ tài chính, cho tới chính trị.
Ông nói:
"Các tầng lớp trên, vốn tài sản, quyền lực hay vốn văn hóa hiện nhiều hơn các tầng lớp phía dưới" và "tầng lớp bên trên chính là tầng lớp đang lãnh đạo xã hội."
Về giới trẻ và tầng lớp trung lưu, ông Kính nói:
"Nhóm trẻ tất nhiên không thể leo lên các tầng lớp trên được, cùng lắm có thể thoát khỏi tầng lớp dưới và gia nhập những tầng lớp giữa. Ví dụ có thể là thợ thủ công, hoặc nhân viên, hoặc chuyên môn ở trình độ thấp hơn... Nhóm trẻ chỉ ở những tầng lớp giữa thôi."
Còn về mức độ tiêu dùng như một đặc điểm xếp hạng, nhà xã hội học cho hay:
"Trừ tầng lớp lãnh đạo quản lý ra, tầng lớp càng cao có mức chi tiêu tiêu dùng càng nhiều, ví dụ doanh nhân hay tầng lớp chuyên môn cao tiêu dùng rất lớn, nhưng đến nông dân thì tiêu dùng ở mức thấp nhất."

'Khoảng cách và suy giảm'

Chuyên gia trong nước được vấn ý nhân dịp tại Anh mới công bố một xếp hạng phân chia xã hội hiện đại theo bảy nhóm.
Đây là các giai cấp: thượng lưu, trung lưu ổn định truyền thống, trung lưu công nghệ, công nhân mới, người lao động truyền thống, nhân viên dịch vụ, phục vụ và giai cấp vô sản bấp bênh.
Các nhà xã hội học tại Anh được BBC đặt hàng làm cuộc điều tra này cho rằng xã hội hiện đại không còn mô hình như chủ nghĩa Marx phân tích chỉ gồm có ba bốn giai cấp: tư sản, trí thức, vô sản...như trước.
Còn ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu nay cũng đưa ra mô hình tháp để chia tầng xã hội thành chín nhóm.

Đó là lãnh đạo quản lý, doanh nhân, chuyên môn cao (hay trí thức), nhân viên, công nhân, buôn bán dịch vụ, lao động tiểu thủ công nghiệp, lao động giản đơn và dưới cùng là nông dân.
Một số nghiên cứu gần đây của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB), UNDP và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đều lưu ý về sự chuyển động theo hướng nới rộng trong khoảng cách giữa thu nhập của nhóm giàu và nhóm nghèo ở Việt Nam.
Riêng về mặt địa bàn cư trú tại Việt Nam hiện có khoảng cách nhất định về thu nhập và cơ hội cải thiện chất lượng cuộc sống giữa lao động và cư dân ở đô thị và nông thôn.

Còn về mặt dân số, hiện cũng manh nha xu hướng 'dân số già tăng', trong khi chưa chắc đã có một mối quan hệ tỷ lệ thuận tương ứng giữa nâng cao cơ hội đào tạo và tỷ lệ tăng trưởng dân số trẻ cùng nhóm lần đầu tiên gia nhập thị trường lao động.
Ở khía cạnh khác, một số nghiên cứu cho hay có sự suy giảm nhất định về mức "tiêu dùng văn hóa" ở nhiều nhóm dân số, trong đó xuất hiện cả ở nhóm mới giàu lên và nhóm thanh niên xét về hàm lượng và chất lượng văn hóa.
//www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/04/130412_vn_social_stratification.shtml
 
 
 

TQ từng xóa lời chống Mỹ của Bắc Việt?

Cập nhật: 09:42 GMT - thứ năm, 11 tháng 4, 2013
Trang Wikileaks lại vừa công bố một loạt điện tín ngoại giao của Hoa Kỳ trong đó có nhiều tài liệu liên quan đến Hoa Kỳ, Trung Quốc và Bắc Việt Nam vào giai đoạn 1973-1976.

Cuộc gặp Mao Trạch Đông và Richard Nixon ở Trung Quốc năm 1972 đã đổi hướng quan hệ Trung - Mỹ
BBC Tiếng Việt trích lược một số phần năm 1973 về quan hệ Trung – Mỹ vốn được thúc đẩy sau chuyến thăm của Tổng thống Richard Nixon sang Trung Quốc năm 1972.
Một bức điện của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ghi ngày 29/6/1973 gửi tới sứ bộ của Mỹ tại Bắc Kinh đã xác nhận sự thay đổi trong chính sách của Bắc Kinh với Hà Nội.
Bức điện cũng nói truyền thông Trung Quốc bắt đầu kiểm duyệt các bài báo của Bắc Việt Nam và lược bỏ những đoạn ‘chống Mỹ cứng nhắc' khi đăng lại ở Trung Quốc.
Tuy thế, dù thái độ bên ngoài khác nhau, Hà Nội và Bắc Kinh đã “không khác biệt nhiều trong cách nhìn nhận Nam Việt Nam”, và cùng coi vùng Đông Nam Á sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam mở ra nhiều cơ hội, theo bức điện tín.

Hòa hoãn Mỹ - Trung

Chủ đề của bức điện tín 29/6 và nhiều bức khác trong năm 1973 là nói về giai đoạn hòa hoãn (detente) trong quan hệ Mỹ – Trung.
“Hà Nội có thể phản ứng chống lại sức ép về một thỏa thuận [với miền Nam ] mà Bắc Kinh và Moscow muốn áp đặt lên họ. Nhưng Hà Nội và Bắc Kinh không khác nhau nhiều về chiến thuật với Nam Việt Nam, cho dù về lời lẽ có khác nhau,” bản điện tín 29/6 viết.
Bức điện cũng dự liệu về sự lo ngại lẫn nhau giữa Bắc Việt và Trung Quốc trong tương lai:
“Về lâu dài, Hà Nội và Bắc Kinh rất có khả năng sẽ lo ngại lẫn nhau nếu tình hình Đông Dương còn tiếp tục bất ổn.”
“Cả hai thừa nhận nhu cầu của Bắc Kinh muốn cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ có thể xung đột với quyền lợi của Bắc Việt Nam muốn chiến thắng chung cuộc, và với khả năng Bắc Kinh duy trì ảnh hưởng với Hà Nội”.
Trong một ngôn ngữ ngoại giao tế nhị, bản điện tín ghi nhận rằng người Mỹ tin rằng Bắc Kinh chỉ muốn “hòa bình” bằng mọi giá, hàm ý không muốn cho Bắc Việt Nam chiến thắng.
Tranh cổ động của Trung Quốc ủng hộ 'quân dân Việt Nam chống Mỹ'
“Bắc Kinh nhấn mạnh bằng mọi cách rằng ‘Mọi thứ đều vì hòa bình’ tại Đông Dương đã đạt tới chỗ mà quyền lợi của Bắc Kinh và Hà Nội xem ra tách xa nhau (divergent) một cách nghiêm trọng.”
“Ngay trước khi có thỏa thuận ngưng bắn, các công bố phát biểu chính thức của Bắc Kinh và cả bình luận báo chí đã khác xa với bình luận của Hà Nội.”
“Lời lẽ công kích mạnh người Mỹ hoặc Hoa Kỳ trên báo chí Việt Nam đã bị lược bỏ khi Bắc Kinh truyền tải lại các bài viết của Bắc Việt.”
"Tuy vậy, cũng sẽ nhầm lẫn nếu cho rằng một thứ ‘hòa bình’ bằng cách nào đó là cách Trung Quốc và Bắc Việt Nam chấp nhận để Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục tồn tại."
Và dù khác biệt, hai đồng minh cộng sản cũng chia sẻ quan điểm rằng sự thoái lui của Hoa Kỳ mở ra cho họ các cơ hội tại Đông Nam Á, theo đánh giá của bức điện.
“Dù có căng thẳng rõ rệt giữa Hà Nội và Bắc Kinh, có vẻ như vào thời điểm hiện nay [1973], cả hai đồng ý chung về các đánh giá tình hình Đông Dương và về chuyện cần phải làm gì.
“Có vẻ họ cùng tin rằng sự thoái lui của Hoa Kỳ khỏi Việt Nam sẽ tạo đà cho một loạt xu hướng lịch sử thuận lợi [cho họ] trong khắp cả vùng Đông Nam Á,”
“Cả hai cũng không thấy có nhiều khả năng để chế độ hiện hành tại Sài Gòn có thể tồn tại mãi mãi.”

Vì quyền lợi riêng

Nếu như phía Trung Quốc làm rõ rằng mục đích cao nhất của họ khi đề cập tới Đông Dương là để cải thiện quan hệ chiến lược với Mỹ, phía Bắc Việt Nam cũng vẫn cần Trung Quốc viện trợ và đã chỉnh sửa cách nói của mình về cuộc chiến.
Bản điện tín viết:

"Sau chuyến thăm của Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng, Bắc Kinh cam kết viện trợ với số lượng không rõ là bao nhiêu nhưng có thể là ít hơn trước"
Điện tín ngoại giao Hoa Kỳ
“Trong khi không bỏ mục tiêu chiếm miền Nam, Hà Nội như cũng sửa lịch trình đó khá nhiều, nhấn mạnh tới các hoạt động chính trị thay vì các hành động quân sự một cách đầy kịch tính,”
"Hà Nội cũng muốn Trung Quốc viện trợ tiếp tục, và sau chuyến thăm của Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng, Bắc Kinh cam kết viện trợ với số lượng không rõ là bao nhiêu nhưng có thể là ít hơn trước.”
Bản điện tín cũng ghi rằng dù có thay đổi về ngôn từ, không có bằng chứng là Bộ Chính trị tại Hà Nội bỏ chiến lược quân sự với miền Nam.
Điều giới ngoại giao Hoa Kỳ ghi nhận ngay từ giữa năm 1973, gần hai năm trước khi Sài Gòn sụp đổ là “sự tự tin của Hà Nội”.
Tài liệu này tiết lộ một thái độ ngạc nhiên, thậm chí nể phục của giới ngoại giao Hoa Kỳ khi viết về Bắc Việt, kể cả khi đồng minh Trung Quốc có thể không tin vào điều Hà Nội tin tưởng:
“Người Bắc Việt Nam thật sự tự tin rằng chiến lược của họ sẽ đem lại thắng lợi cuối cùng. Thật khó mà tin rằng Bắc Kinh cũng ‘mua trọn gói’ toàn bộ các mặt của cách phân tích, nhận định tình hình như thế hay chấp nhận mọi góc độ của chiến lược đó.”
Trong các bản điện tín khác, phía Hoa Kỳ có vẻ như nhìn nhận rằng Trung Quốc sau các tính toán trên đã có động thái riêng thể hiện trong vụ chiếm toàn bộ Hoàng Sa năm 1974.
Cùng lúc, Trung Quốc vẫn muốn giữ quan hệ tốt với Bắc Việt Nam, thậm chí còn tìm cách mô tả ‘chiến thắng Tây Sa’ (Paracels) như một ‘thắng lợi chung của nhân dân Trung – Việt’ chống lại Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, theo một bản điện tín khác của Hoa Kỳ ngày 19/03/1974.
BBC sẽ tiếp tục khai thác các nội dung từ điện tín ngoại giao của Hoa Kỳ liên quan đến chủ đề chính trị khu vực Đông Nam Á trong các bài tới. Mời quý vị xem lại chuyên đề Bấm Hòa đàm Paris 1973.


No comments: