Tuesday, March 26, 2013


Ca trù

From Wikipedia, the free encyclopedia
Jump to: navigation, search
Ca trù.jpg
Ca trù (歌籌) "song with clappers," also known as hát ả đào or hát nói, is an ancient genre of chamber music featuring female vocalists, with origins in northern Vietnam.[1] For much of its history, it was associated with a geisha-like form of entertainment, which combined entertaining wealthy people as well as performing religious songs for the royal court.[2][3]
Ca trù is inscribed on the list of Intangible Cultural Heritage in need of Urgent Safeguarding in 2009.[2]



There are different myths and theories related to ca trù's conception. One story states that a woman named Ả Đào created the genre, having charmed the enemy with her voice (thus explaining one of the genre's alternate names: Hát ả Đào). Another theory points to a woman named Đào Thị, a talented musician who was beloved by the Lý Dynasty imperial court. This theory also claims that ever since the time of Đào Thị, in admiration of her, women who held a profession as singers (such as ca trù singers) were referred to as Đào nương ("nương" here refers roughly to "maiden" or "lady"). The latter is true although this term is no longer widely used in modern Vietnam.[4]
What is known for sure is that ca trù started off like many of Vietnam's arts as being a form of entertainment for the royal court. Officially ca tru count the age of their profession since The Later Ly dynasty (Vietnamese: Nhà Hậu Lý, 1010—1225), at that time musicians called Vietnamese: hát khuôn performed only on religious court ceremonies.[5] It was only later on that it branched out into being performed at small inns. Indeed, it was mainly scholars and other members of the elite who enjoyed the genre, which was somewhat inaccessible to the masses (who enjoyed the Hát chèo opera genre much more).
In the 15th century ca tru spread through Northern Vietnam. The artists might be called to celebrate a son's birth, or to celebrate the signing of a contract. Ca tru were outside of the caste system, so they could entertain the most noble clients.[6]
In the 20th century, ca trù nearly died out. When the Communists came to power after the 1945 August Revolution, ca trù was systematically suppressed, becoming associated with prostitution and the degradation of women.[7] Consequently, before 1976 there existed only two ca tru: Vietnamese: Nguyễn Xuân Khoát[5] and Vietnamese: Quách Thị Hồ.[8] Later they both started to revive the tradition of ca tru. In actuality, men were allowed many wives in the past and having extramarital affairs was nothing shocking. Thus, it was commonly known that many famous ca trù singers did indeed have affairs with important men, but it was just something to be accepted as a part of society back then, and not a part of the profession itself.
As of 2009, extensive efforts are being made to invigorate the genre, including many festivals and events where several types of ca trù (among other related arts) are performed. Vietnam has also completed documents to have ca trù recognized by UNESCO as an Intangible Cultural Heritage.
By 2011 there were 140 ca tru from 23 clubs.[9]


A Performance in traditional way
Ca trù, like many ancient and highly developed arts, has many forms. However, the most widely known and widely performed type of ca trù involves only three performers: the female vocalist, lute player and a spectator (who also takes part in the performance). Sometimes dance is also performed at the same time.[10]
The female singer provides the vocals whilst playing her phách (small wooden sticks beaten on a small bamboo bar to serve as percussion).
She is accompanied by a man who plays the đàn đáy, a long-necked, 3-string lute used almost exclusively for the ca trù genre.[11]
Last is the spectator (often a scholar or connoisseur of the art) who strikes a trống chầu (praise drum) in praise (or disapproval) of the singer's performance, usually with every passage of the song. The way in which he strikes the drum shows whether he likes or dislikes the performance,[2] but he always does it according to the beat provided by the vocalists' phách percussion.
The number of ca tru melodies is 56, they are called Vietnamese: thể cách.[10]
New observers to the art often comment on how strikingly odd the vocal technique sounds, but it is the vocals themselves that are essential in defining ca trù.

Ca trù inns

Ca trù literally translates as "tally card songs." This refers to the bamboo cards men bought when they visited ca trù inns, where this music was most often performed in the past. Men would give the bamboo cards they purchased to the woman of choice after her performance, and she would collect money based upon how many cards she was given.
Scholar-bureaucrats and other members of the elite most enjoyed this genre. They often visited these inns to be entertained by the talented young women, who did not only sing, but with their knowledge of poetry and the arts could strike up a witty conversation along with serving food and drink.
Besides these inns, ca trù was also commonly performed in communal houses or private homes.[7]

Ca trù in modern Vietnamese media

Along with efforts made to preserve the genre, ca trù has been appearing in much of recent Vietnamese pop culture, including movies such as the award-winning film Mê thảo: thời vắng bóng, or its mention during popular entertainment shows such as Paris by Night. It has even been used in Vietnamese pop music, where many artists have attempted to successfully synthesize ca trù (or aspects of it) with pop or other modern genres.
Bich Cau Dao Quan Club, founded in 1992, now has 90 members, 30 or 40 of whom gather on a given Saturday evenings. The oldest artist is 88 years old. According to the director, 50-year-old Bach Van, who trains younger singers and introduces them to classical songs: "It is very difficult to find young singers who wish to learn this art form. It is also difficult to find good teachers who can convey both the enthusiasm and the technical knowledge."[citation needed] Bach herself studied ca trù for ten years before the Hanoi Office of Culture appointed her the club's director. Bach is not in good shape since August 2007, contact Ca Tru fans

Notable performers

Notable contemporary ca trù performers include
  • Ca tru Thang Long: Nguyễn Thị Chúc (voice; b. 1930), Nguyễn Phú Đẹ (đàn đáy, b. 1923), Phạm Thị Huệ (the first female ca trù singer in Vietnam who learned to play the đàn đáy) and her daughter Nguyễn Huệ Phương (voice, b. 1999), her students Nguyễn Thu Thủy (đàn đáy, b. 1986) and Nguyễn Thùy Chi (voice, b. 1992)
  • Ca tru Thai Ha: Nguyễn Văn Mùi (the director , based in Hanoi; drum) and his daughters Nguyễn Thúy Hòa (voice; b. 1974), Nguyễn Thị Hà Vy (voice), and his sons Nguyễn Mạnh Tiến (đàn đáy; b. 1970) and Nguyễn Manh Khuê (đàn đáy; b. 1962). Nguyễn Văn Mùi's granddaughters, Nguyễn Kieu Anh and Nguyễn Thu Thao (both b. 1994) are also ca trù vocalists. Nguyễn Thúy Hòa was taught by Ms. Quach Thi Ho, a renowned performer who began recording in 1955.


  • Norton, Barley. "Singing the Past: Vietnamese Ca Tru, Memory, and Mode." Asian Music, vol. 36, no. 2 (Summer/Fall 2005).


  • Mê Thảo, Thời Vang Bóng. Directed by Việt Linh.

See also


  1. ^ Norton, Barley. Ca Trù: A Vietnamese Chamber Music Genre. International Association for Research in Vietnamese Music.
  2. ^ a b c "Ca trù singing", UNESCO.org.
  3. ^ CHANTER LE CA TRÙ AU VILLAGE DE LÕ KHÊ (NORD DU VIET-NAM) Une fête rituelle au temple communal et à la maison des patrons de métier du ca trù A ANISENSEL - Péninsule, 2009 - cat.inist.fr Résumé/Abstract L'article porte sur la tradition musicale du ca trù (chant à tablettes) telle qu'elle s' est perpétuée dans un village aux portes de Hanoï, le village de Lô Khê. Le ca trù y revêt une fonction rituelle inscrite au coeur même de la tablette «trù» par laquelle les ...
  4. ^ "Bao HA NOI MOI dien tu", HanoiMoi.com. (Vietnamese)
  5. ^ a b "Ca tru", CaTruThangLong.com.[dead link]
  6. ^ Возвращение музыкального кружка. (Russian)
  7. ^ a b "The Exotic Sounds of Ca Tru", ThingsAsian.com.
  8. ^ "Quach Thi Ho — The woman faithful to Ca tru", CaTruThangLong.com.[dead link]
  9. ^ "National fest honours art of ca tru singing", VietnamNews.VNAgency.com.vn.
  10. ^ a b "Ca tru — Vietnamese cultural heritage", CaTruThangLong.com.[dead link]
  11. ^ Terry E. Miller, Sean Williams (2008). The Garland handbook of Southeast Asian music, p.262. ISBN 9780415960755. "This lute is the only stringed instrument used to accompany ca trù singing."

External links


Ca trù

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một buổi vinh danh ca trù
Hát ca trù hay hát ả đào là một bộ môn nghệ thuật truyền thống ở phía Bắc Việt Nam[1] kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộctrí thức yêu thích. Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi caâm nhạc.
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009), ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp[2][3][4]. Đây là di sản văn hóa thế giới có vùng ảnh hưởng lớn nhất Việt Nam, có phạm vi tới 15 tỉnh, thành phố phía Bắc. Hồ sơ đề cử Ca trù là di sản văn hóa thế giới với không gian văn hóa Ca trù trải dài khắp 15 tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà TĩnhQuảng Bình.

Mục lục

Nguồn gốc

Các chuyên gia nghiên cứu đến nay, đa số đã đồng ý cho rằng Ca trù dưới hình thức ngày nay đã bắt đầu có từ thời nhà Lê (thế kỷ XV) sau khi cây đàn đáy do Đinh Lễ (hay Đinh Dự theo một số Giáo phường) sáng chế ra.[5]
Hát nói xuất hiện sớm nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ thứ 19 mới có những tác phẩm lưu truyền đến nay như các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát ... Nguồn gốc của thể Hát nói trong văn chương Việt Nam được giải thích bằng những nguyên nhân và các sự việc sau đây[6]:
  1. Hát nói là sự phàm tục hoá những thể thánh ca. Trước khi có Hát nói, ở Việt Nam đã có những bài hát xoan, hát cửa đền, cửa chùa, những bài thét nhạc. Những thể ca trong các dịp tế lễ đó chuyển dần công dụng và được các tao nhân, mặc khách tổ chức ngay trong những cuộc giải trí riêng của họ . Các bài hát ả đào bắt đầu từ đó.
  2. Hát nói là sự cụ thể hoá ảnh hưởng của tư tưởng Lão-Trang. Xưa kia văn chương Việt Nam về nội dung phải gò bó trong những tư tưởng Khổng Mạnh, về hình thức phải đem theo những qui luật khắt khe, những lối diễn tả nhất định. Cuối thế kỷ thứ 18, do hoàn cảnh rối ren trong xã hội, tư tưởng Lão-Trang có cơ hội bành trướng và hát nói chính là sáng tạo của các nhà nho phóng khoáng, thích tự do, ở đấy họ có thể gửi gấm những tư tưởng, cảm xúc vượt ra ngoài khuôn phép với cách diễn đạt cởi mở, rộng rãi hơn.
  3. Hát nói là biến thể của song thất lục bát. Các nhà viết sách thời xưa cho rằng Hát nói là một hình thức biến đổi của thể ngâm Song thất lục bát: Trong hát nói có Mưỡu là những câu thơ lục bát, nhiều câu 7 chữ có vần bằng, vần trắc, có cước vận, yêu vận . Nhưng khi đã phát triển, Hát nói là một thể tài hỗn hợp gồm: thơ, phú, lục bát, song thất, tứ tự, nói lối ... # # # Trong lối Hát ả đào có nhiều loại như: Dâng hương, Giáo trống, Gủi thư, Thét nhạc thì Hát nói là lối thông dụng và có tính văn chương lý thú nhất.

Thành phần trình diễn

Biểu diễn trong không gian truyền thống
Một chầu hát cần có ba thành phần chính:
  1. Một nữ ca sĩ (gọi là "đào" hay "ca nương") sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,
  2. Một nhạc công nam giới (gọi là "kép") chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát
  3. Người thưởng ngoạn (gọi là "quan viên", thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.
Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là "tức tịch," nghĩa là "ngay ở chiếu."

Âm nhạc

Ca trù vừa là một loại thanh nhạc (vocal music), vừa là một loại khí nhạc (instrumental music). Có một ngôn ngữ âm nhạc tế nhị, tinh vi.
  • Thanh nhạc : Ca nương phải có một giọng thanh - cao - vang, khi hát phải biết ém hơi, nhả chữ và hát tròn vành rõ chữ, biết nảy hạt (đổ hột), đổ con kiến. Ca nương vừa hát, vừa gõ phách. Phải biết rành 5 khổ phách cơ bản, đánh lưu không, tiếng phách phải chắc và giòn, lời ca và tiếng phách phải ăn khớp với nhau.
  • Khí nhạc : Kép đàn dùng đàn đáy phụ họa. Bản đàn không nhất thiết phải đi theo bài hát, vì phải theo khổ đàn, nhưng khổ đàn – khổ phách – tiếng ca hợp nhau, hài hòa nhuần nhuyễn. Có những cách đàn ca chân phương- theo lề lối hay hàng hoa- sáng tạo và bay bướm.
  • Quan viên là người cầm chầu, tiếng trống chầu vừa chấm câu khi tham gia vào cuộc diễn tấu, nhưng có tính chất phê phán, khen chê đúng chỗ, để khích lệ ca nương – kép đàn, giúp cho thính giả biết được đoạn nào hay - thật hay và như thế được giáo dục âm nhạc trong cách nghe.

Một số tác phẩm nổi tiếng

Các tỉnh vùng văn hóa Ca Trù
Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ thông nhất là hát nói, một thể văn vần có tính cách văn học cao. Những bài hát nói nổi tiếng phải kể đến:
... Ngoài ra còn có những làn điệu cổ điển khác như "Tỳ bà hành" (bản diễn Nôm của Phan Huy Vịnh theo cổ bản của Bạch Cư Dị). Những điệu huê tình, gửi thư, bắc phản, hát giai... cũng thuộc thể ca trù.

Ca trù ngày nay

Nghệ thuật ca trù được khai thác trong nhiều bộ phim cũng như trong các chủ đề âm nhạc Việt Nam. Có thể bắt gặp ca trù trong phim Mê Thảo thời vang bóng hay trong bài hát "Một nét ca trù ngày xuân" của nhạc sĩ Nguyễn Cường...
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, năm 2010 có 63 câu lạc bộ ở 15 tỉnh, thành phố trên cả Việt Nam có hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện tập truyền nghề ca trù.[7] Một số tỉnh thành phía Bắc, điển hình là các tỉnh có nhiều câu lạc bộ ca trù như:

Chú thích

Liên kết ngoài

No comments: