Tuesday, March 26, 2013

CÁC LOẠI CA HÁT VIỆT NAM

Hát Quan Họ, Hát Ả Đào, Hát Xẩm,Hát Trống Quân,Hát Chầu Văn





Hát quan họ
Hát ả đào
Hát xẩm
Hát trống quân


    Hát  Quan Họ  
                              ( Lấy ý và hình ảnh  trong bài sưu tầm của ông Nguyễn Đức Linh)

   Hát  Quan Họ  là  một loại dân ca đặc sắc của Kinh Bắc .
Kinh Bắc  ngày xưa  mang tên là  Bắc Ninh ngày nay .  Bắc Ninh là quê hương của Quan  Họ, bởi lẽ tác giả  của Quan Họ là  ông  Hiếu Trung Hậu  một vị  thượng quan đời nhà Lý.  Ông Hậu  sáng tác ra  loại hát Quan Họ thời hưu trí  taị  Bắc Ninh  quê nhà . Dựa  theo lối hát ví vùng Kinh Bắc,  ông Hậu  đặt ra lối hát Quan Họ , để cho trai gái hát với nhau., Hát Quan Họ là một lối hát giao duyên giữa hai bên trai gái khen ngợi và tỏ tình.  Hai nam hai nữ hát  đối  nhau trước một đám khán giả  đứng ngồi chăm chú thưởng thức. Hát Quan Họ phải hát giọng đôi, hai người châu miệng vào nhau mà  cùng hát, hai giọng  quyện vào nhau tiếng ngân vang cao vút, tiếng tràm  thì êm như ru.

Hát Quan Họ  có nhiều giọng, nhưng có 3 giọng chính  nam nữ  thanh niên thường dùng để cùng nhau đối đáp trao tình trong những ngày hội:
-1/-Giọng  Sổng :    hát dạo đầu
            Bắt đầu hát, tiếng hát ngắn, vút cao nghe đầm ấm, nồng nàn, ướm hỏi lòng nhau: 
Hôm nay  tứ hải giao tình
                                 Tuy trong  bốn  bể như  sinh một nhà
-2/-Giọng vặt:    hát  tỏ tình  gắn bó
            Giọng Sổng chỉ có một giọng, thì giọng  vặt lại gồm rất nhiều giọng: cao, thấp, dài, ngắn, buồn, vui. Giọng hát như vụn vặt không đồng nhất, có khi bắt chước tiếng đàn với những lời đệm  tình tang, tang tình, có khi bắt chước  tiếng chim hót nghe êm  ái trẻ trung, hoặc tiếng  giun dế buồn  rầu ảo não
-3/-Giọng Bỉ:      hát để chia tay
 Giọng Bỉ  ngân dài, nói lên
          -Sự phân ly luyến tiếc của ngày mau tàn.
Đến mùa lễ hội hẹn lên
Ối  a!  lời hát giao duyên huê tình
Trúc sinh che ấm mái đình
Gió xuân níu lại  với mình  .. mình ơi !
         -Chào tạm biệt
Người  ơi !  người ở đừng về!
Người về em vẫn khóc thầm
Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa
Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn trông theo,
Trông nước  nước chảy, trông bèo bèo trôi
Người ơi người ở đừng về
Người về em nhắn tái hồi
         Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai
Thường các câu hát của Quan Họ đều là Thơ Lục Bát, Song thất Lục Bát  trong truyện  Kiều hay những câu ca dao rất phổ biến. Lời ca  trong trẻo vang lên .  Nhiều bài Quan Họ lời lẽ trữ tình. Lời ca  văn chương, bóng bảy thật nồng nàn thắm thiết, linh động, tình tiết, sâu đặm.Quan Họ thể hiện nhiều mầu sắc dân tộc và rõ nét  văn hóa đ ịa phương .
Chẳng hạn các bài  : Ngồi tựa song đào, Hoa thơm bướm lượn, Cò Lả. Riêng bài Cò Lả  tuy mộc mạc mà tình sâu  được nhiều người ưa thích: Con cò cò bay lả lả bay la, bay từ từ cửa Phủ, bay ra ra cánh đồng. Tình tính tang tang tính tình, anh chàng rằng anh chàng ơi, rằng có nhớ nhớ cho không, rằng có biết biết cho không. Chính vì lời ca  trữ tình , lại c ó mầu sắc dân tộc  văn hóa địa phương, mà  có câu thơ  vịnh Quan Họ như sau
                                               Làng Quan Họ đẹp như mơ
                                              Ngời xinh xinh đ ến sững sờ nhân gian   .>>>      Lăng ông Hiếu Trung Hậu
Y  Phục khi Hát Quan Họ
Diễn viên  trong y phục truyền thống:, Nữ diễn viên mặc á o tứ thân váy xanh, yếm hồng, lồ lộ đôi vai, hai canh tay trắng ngần, khăn vành mỏ quạ,Nam  diễn viên mặc áo dài the thâm.
          Mời  độc giả   thưởng thức tiếng hát Quan Họ: xin click   Quan  Họ
   (nếu  quí  vị muốn thưởng thức)


 
      Hát  Ả Đào (Ca Trù)
               ( Lấy ý và hình ảnh  trong bài sưu tầm của ông Nguyễn Đức Linh)

Hát  Ả Đào còn gọi là  Hát  Cô Đầu  (Ả = cô, Đào gọi chệch là đầu).  Đào là tên  của ca  nhi nổi danh  thời vua Lý Thái Tổ.  Sau này  ca sĩ được gọi chung là  đào nương . Hát  Ả Đào thuộc thể Ca Trù.  Chữ Trù  là cách gọi  chệch  của chữ Trò. Các đào nương  miệng hát tay múa  làm trò  theo từng loại nhân vật mà họ diễn ra.
Ca Trù  được diễn xuất  ở các cửa  Đình khi có  lễ, hát để dâng Thánh,  hát đ mua vui cho hội hè .   Ca Trù  được diễn xuất  ở  Cung Đình, hay đền đài vua quan. Tại những nơi này, có lệ hát  thẻ.  Thẻ là mảnh tre có ghi chữ và đánh dấu. Mỗi đào nương  có một thẻ.  Đào nương nào diễn xuất  đặc biệt , các quan viên dựa vào thẻ  mà khen thưởng cuối mỗi bài hát.  Cuối buổi diễn xuất, các đào kép cứ theo số thẻ  mà lãnh tiền thưởng.  Bởi thế  Ca Trù còn được gọi là  Hát Thẻ.  Ca Trù  cũng có  thể  được diễn xuất ở tư  gia, nhưng  mời được  cô  đào về hát tại nhà  là rất sang trọng tốn kém chỉ các nhà quan mới có điều kiện.
Trường hợp không cần đến múa, thì đào nương ngồi hát, đánh phách để giữ nhịp. Bàn phách  là  l một phiến tre, già , ngắn. Dùi để gõ vào bàn phách   gọi là phách. Phách gồm   1 lá phách tròn  ( cầm ở tay trái) và  2 lá phách dẹt ( cầm ở tay phải) do lá phách tròn chẻ ra làm đôi đều nhau. Gõ phách phải tạo ra được  ba âm sắc Rục, Phách, Chát. Ca Trù  có một chiếc trống gọi là trống chầu cao 15 phân, mặt trống  rộng  15 phân. Quan trọng tuỳ  người cầm trống có khi nghiêm chỉnh, có khi cợt nhả, có khi câm có khi vang. Tiếng trống bao giờ cũng có một công dụng rõ rệt điểm mạch điệu. khiến người ta cảm thấy rõ ràng sự hết đoạn hết câu. Tiếng trống trong khúc nhạc giáo đầu là  công việc nắn nót tiếng trống sao cho xinh cho tròn. Điểm trống thế nào cho tài tình là do  ngưồi cầm trống..Hát ca trù  là bộ môn nghệ thuật  truyền thống của miền Bắc kết hợp ca với 1 số  nhạc cụ dân tộc.
Nhóm biểu diễn  ca trù bao gồm: 1 nữ  ca sĩ gọi là  Đào  sữ dụng Phách, 1 nam  nhạc công  gọi là Kép chơi đàn đáy, và 1 người gọi là quan viên thường là  tác giả bài hát chơi Trống Chầu.. 
Nào ai biết Ca Trù đã là thú vui thanh tao của người xưa!. Đi nghe  Ca Trù để thưởng thức đào nương ca những bài thơ bất hủ của cổ nhân  hoặc bài thơ do chính mình  sáng tác theo  làn điệu cố định..
Nhạc Ca Trù  là thể loại nghệ thuật đòi hỏi  đào nương hát phải luôn luôn luyện giọng sao cho khi hết phải tròn vành, rõ chữ, và khi hết phải làm sao cho lịch sự, tài tình, toát  lên phong thái vừa kín đáo vừa đoan trang.  Qua tiếng hát của đào nương, có thể gửi gắm tất cả nỗi niềm của mình, nói hộ  cõi lòng của người muôn phương với những chuyện tình  yêu, tình người sâu đặm đầy chất văn hóa  dân tộc
Lời Ca Trù  là những áng thơ và âm nhạc tao nhã. Giọng hát ca trù sâu lắng. Người có chiều sâu tâm hồn đã thưởng thức  ca trù thì khó mà phai mờ.
Ca Trù   rất phong phú về điệu hát. Thông dụng  hơn cả là các điệu:  Bắc phần-Mưỡu (đơn,kép,dưng)-Hát nói- Gởi thơ- Ngâm vọng- Nhịp Ba cung Bắc-Tỳ Bà Hành-Đọc thơ-Đọc Phú-Hát Ru--Kể chuyện--Xẫm nhà trò-36 giọng). Biến hóa đầy thú vị là Hát Nói. Hát Nói  là sự sáng tạo độc đáo tuyệt vời của VietNam.
Ca Trù  bị nhiều thiệt thòi vì người đời có thành kiến với hai tiếng cô đầu. Người đời  đồng hóa  Cô đầu rượu với cô đào hát Ca Trù.   Cô đầu rượu không biết hát , họ chỉ hầu quạt, tiếp mời rượu  Còn  Cô Đào hát  Ca Trù   không những có tài mà còn có nhân cách  và đầy lòng  tự trọng . Thật là oan uổng cho  Cô Đào hát ca Trù
Ca Trù  ra đời từ thời nhà Lý.. Đến thời nhà Lê, thì âm luật được chế biến, nên ca trù  có một sắc thái  riêng. Ca Trù biến hóa theo thời gian. Ca Trù  các thời Lý Lê Trần  không giống nhau
 Đây là một bài Hát Ca Trù:
Hát Ca Trù
Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Non xanh xanh, nước xanh xanh,
 Sớm tình.....sớmtình tình sớm,
Trưa tình...trưa tình tình trưa,
 Ấy ai tháng đợi năm chờ,
mà người...mà người ngày ấy bây giờ...bây giờ là đây:
 Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Mới ngày nào còn chưa biết cái chi chi
Mười lăm năm thấm thoát có xa gì
 Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu
Ngã lãng du thời quan  thượng thiếu uý
Chiêu quân Kim chưa ngã giá thành công
 Cười cười nói nói sượng sùng
Mà bạch phát hồng nhan chừng ái ngại
một thú thanh sơn  ai đi lại
Khéo ngây ngây..khéo ngây ngây dại dại với tình
Đàn ai một tiếng.... dương tranh
Mời  độc giả thưởng thức tiếng hát  Á Đào   xin   click  Ca Trù


            

        Hát  Xẩm
                                 (lấy ý và hình ảnh  ttrong  bài sưu tầm của ông Nguyễn Đức Linh)

Tương truyền :
 “Hát Xẩm”  là do vị  Hoàng Tử Trần quốc Định,  con vua Trần  nghệ  Tông làm ra. HoàngTử bị người em ám hại tranh ngôi vị,   bị  vứt  vào  trong  rừng không chết, nhung bị mù cả 2 mắt.  Để tránh họa  diệt thân,  đã lần về sống với dân làng, thân hình tàn phế,  nghèo khổ. Hoàng tử là người tài hoa, đa cảm đã làm lời ca,  điệu hát  từ  trái tim  oan khổ tuôn  theo  dòng lệ  không  trào  ra được khoé mắt đã mù lòa.Từ đó, lời ca than oán về thân phận  và cảnh đời  ngang trái  đã làm thành  giai điêu.
   HÁT XẨM  là loại  ca  hát độc đáo của người Việt có phụ họa tiếng trống, tiếng phách kích động hòa cùng tiếng nhị, tiếng đàn bầu nỉ non, réo rắt
HÁT XẨM   chứa chất những lới khuyên răn ý nhị, tâm lý,những tấm gương anh hùng  xứng đáng đề cao  dưới dạng  trào phúng..châm biếm và Hóm hỉnh -Những   lời ca của Hát Xẩm    thì thật là ví von nhẹ nhàng, 
HÁT XẨM   là  một  trong các  thể  loại “Hát Rong”  của người Việt, thuở xưa khá phổ biến ở miền Bắc,thường xuất hiện ở chỗ đông người (phố phường, chợ, bến xe, bến tầu, bến phà).  Người hát xẩm hầu hết là ngườì bị mù hoặc bị hư mắt, vừa đàn vừa hát ……Đi bên cạnh thường là người thân trong gia đình, chồng, vợ, hoặc con…
      Kinh nghiệm cho thấy rằng các người hát  những bài HÁT XẨM thường là  các người có tài ba kể chuyện.
Á Nam Trần Tuấn  Khải  nổi danh với bài
 “HÁT XẨM”  Anh KHÓA ơi.!..:

Anh Khóa ơi !..
Còi tu tu tầu sắp kéo cầu,
Đứng trần em sắp sửa gánh sầu từ đây !..
Anh Khóa ơi !..
       Cái máy phân ly sình sịch 
                                sắp chia duyên
Kể từ khi em tiễn chân anh ra đến bến tầu .
Lời phân ly em chưa cạn mà con tầu nó đã quay đi.
Một mình em vơ vẩn bước ra về,
Vời  trông mây nước trăm bế em những ngổn ngang
Anh KHÓA ơi.!..
Ở trên đời chỉ hiếm kẻ giầu sang,
Sau anh không luồn cuối  để khuênh khoang cho nó qua đời.
Can chi mà nay ngược lại mai suôi,
Để buồng không em than thở mà bên trời anh cũng lênh đênh…

Mời  độc giả hưởng thức tiếng hát   Xẩm , xin click  Hát Xẩm                                
  (nếu  quí  vị muốn thưởng thức)





     
        Hát Trống Quân
                                     (lấy ý và hình ảnh  ttrong  bài sưu tầm của ông Nguyễn Đức Linh)

Hát  TRỐNG QUÂN là  lối hát  giao duyên ở vùng  đồng bằng miền Bắc rất phổ biến từ Thanh Hóa trở ra. Từ Quảng Bình, Quảng trị  vào Nam không có hát  TRỐNG QUÂN.  Hát TRỐNG  QUÂN xuất hiện từ đời nhà TRẦN (Thế kỷ thứ 13) Binh sĩ chia làm hai bên vừa Xướng vừa Đối.Trong khi đó, gõ vào trống đánh thành nhịp.  Thời  NGUYỄN HUỆ,  binh sĩ giả làmTrai Gái hát Trống Quân, hát  Đối,để  giải  trí cho binh lính  nơi đóng quân,trong chiến dịch hành quân đánh nhà THANH.  
 Có nhạc cụ  phụ họa  khi hát.  Nhạc cụ  là  một thùng sắt tây và một sợi  dây thép
  -  thùng sắt tây tthùng đựng dầu hỏa thì   rống rỗng 
  - sợi dây thép  thì  hai đầu sợi dây được buộc căng thẳng bởi 2 cây cọc.Thùng rỗng đặt  ở giữa sát dưới sợi dây.
Hai bên: - Đối, - Đáp ngồi đối diện nhau, mỗi khi  bên nào dứt câu hát thì gõ mạnh vào dây bật vào thùng phát thành tiếng  thình , thùng..thình. . . Lời hát rất tình tứ
Bên TRAI hỏi  : 
Cái gì mà nó thấp, cái gì cao ?...
Cái gì mà sáng tỏ hơn sao trên trời  ?...
Cái gì mà anh giải cho em ngồi..? ..
-  Đêm nằm thời mơ tưởng dạo chơi vườn đào.
Cái gì mà nó sắc hơn dao..? ..
Cái gì mơn mởn lòng đào thì Anh bảo Em ?


Bên GÁI  trả lời :
Anh hỏi thì Em xin thưa.
Thưa rằng thời Đất thấp, Trời cao.
Ngọn đèn thời sáng tỏ hơn sao trên trời.
Chiếu hoa thời Anh giải cho Em ngồi.
- Đêm nằm thời mơ tưởng dạo chơi vườn đào.
Nước trong thời nó sắc hơn dao
Trứng gà thời mơn mởn lòng đào thì Em bảo Anh.
  HÁT  TRNG  QUÂN thường được tổ chức trong dịp có Hội HÈ, khi dân làng rảnh rỗi dưới ánh trăng mùa thu, phô diễn tài nghệ Đối Đáp, và trao đổi tâm tình trai gái.
 Lời ca thường dùng thể thơ Lục Bát.
Khi hát câu Lục Bát (6 và 8 chữ).   - Biến thể  cứ sau tiếng thứ 2 của mỗi câu
đệm thêm thời,   thì..này..vv..  và  cứ đến tiếng thứ 4 mỗi câu người hát lên giọng và đệm vàoí ahay là.. ứ ư.- Có khi hát lập lại chữ chót của câu 8 chữ
Thí dụ :
Trên trời  (này) có đám  (ứ ư)                    mây xanh
Ở giữa (này) mây trắng  (ứ ư)        chung quanh mây vàng
Hát TRỐNG QUÂN  thuộc về Loại hát LỄ, hát HỘI. Người hát thuộc mọi từng lớp
trong xã hội, nông dân, nhà nho, thư sinh,.hát với con gái  gia đình kỳ mục giầu có hay thường dân. Họ hoàn toàn không phải là ca sĩ chuyên nghiệp
mà họ chỉ là ca sĩ nghiệp dư sính hát, biết hát
HÁT TRỐNG QUÂN chính là biểu diễn cái nét Lưỡng hợp Sinh Động  NAM và NỮ,  là khôi nguyên  nghệ thuật  “SỐNG” của  DÂN TỘC VIỆT.  Phần đông các cô gái tới tuần cập kê kéo nhau đi dự hát hội để tìm “ Hoàng tử của lòng em”,  trai tài gái sắc ước đính tương lai.
Hàng năm vào dịp Trăng tròn mùa Thu Làng Tào Khê và làng Đào Xá lại  mở hội hát TRỐNG QUÂN. Dân 2 bên bờ sông kéo về tham dự, hát  từ chập tối tới quá nửa đêm và ngày hội  kéo dài tới  hết tuần trăng
NỮ hỏi : - Hai bờ.. (này).. chung một .. (ứ a)  ..giòng sông
                        Hào kiệt ..(này) ..anh hùng .. (í a),.. bên ấy là ai ?
NAM  đáp  - Lời vàng.. (này).. như nắng ..( ứ ư) ..ban mai,
                     Đệ nhất ..(này)..anh tài..( ứ a..) là Hưng Đạo Vương .
Hát hội TRỐNG QUÂN  khuyến khích NAM NỮ thanh niên giãi bầy Tình Cảm, Thông Minh và Cốt Cách  qua  trung gian của nghệ thuật chìm đắm trong bầu  không khí nhộn nhịp,  tưng bừng,     vui vẻ
                 
            Hát chầu văn
Hát chầu văn hay hát bóng, là một loại ca hát cổ truyền. của tín ngưỡng dân gian Việt  sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn chau truốt nghiêm trang.   Nó được coi là loại ca hát mang ý nghĩa chầu thánh . Hát chầu văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.Thời kỳ thịnh vượng nhất của hát văn là cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20.    Từ năm 1954, hát chầu văn dần dần mai một vì hầu đồng bị coi là mê tín dị đoan. Đến đầu những năm 1990, hát chầu văn lại có cơ hội phát triển. Các trung tâm của hát chầu văn Nam Định và một số vùng quanh Hà Nội.
Hầu đồng là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ Phủ vào thân xác ông Đồng bà Cốt. Trong nghi lễ đó, hát chầu văn phục vụ cho quá trình nhập đồng hiển thánh. Sau khi đã múa các thánh thường ngồi nghe cung văn hát, kể sự tích lai lịch vị thánh đang giáng. Với các giá ông Hoàng thì Hát chầu văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác về gối và thưởng tiền cho cung văn. Lúc này cũng là lúc thánh dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước v.v. Các thứ thánh dùng phải làm nghi thức khai cuông (khai quang) cho thanh sạch.

Sắp xếp lối hát lên đồng

  1. Nghi lễ hát chầu văn lên đồng có thể chia thành bốn phần chính:
  2. Mời thánh nhập
  3. Kể sự tích và công đức
  4. Xin thánh phù hộ
  5. Đưa tiễn
Bài hát thường chấm dứt với câu: "Thánh giá hồi cung!"

Phần lời của chầu văn

Chầu văn sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thơ lục bát, thất ngôn , song thất lục bát, nhất bát song thất ( có thể gọi là song thất nhất bát gồm có một câu tám và hai câu bảy chữ ) , hát nói…
 Các thí dụ minh họa:
Thể lục bát:
( Trích văn Chầu Đệ Nhị )
Bài 1
Trên ngàn gió cuốn rung cây
Dưới khe cá lặn chim bay về ngàn
Canh khuya nguyệt lặn sao tàn
Chiếc thoi bán nguyệt khoan khoan chèo vào
Gập ghềnh quán thấp lầu cao
Khi ra núi đỏ lúc nào ngàn xanh
Thượng ngàn Đệ Nhị tối linh
Ngôi cao công chúa quyền hành núi non
B ài 2:
Con đi cầu lộc cầu tài.
Cầu con cầu của gái trai đẹp lòng.
Gia trung nước thuận một dòng.
Thuyền xuôi một bến vợ chồng ấm êm.
Độ cho cầu được ước nên.
Đắc tài sai lộc ấm êm cửa nhà.
Lộc gần cho chí lộc xa.
Lộc tài lộc thọ lộc đà yên vui.

Thể thất ngôn:
( trích đoạn bỉ của văn công đồng )
森森鶴駕從空下
Sâm sâm hạc giá tòng không hạ
顯顯鸞輿滿坐前
Hiển hiển loan dư mãn tọa tiền
不舍威光敷神力
Bất xả uy quang phu thần lực
證明功德量無邊
Chứng minh công đức lượng vô biên
Thể song thất lục bát:
( Trích văn Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên)
Chốn cung tiên mây lồng ánh nguyệt
Cảnh bầu trời gió quyện hương bay
Cửu trùng tọa chín tầng mây
Thiên Tiên Đệ Nhất ngự rày trung cung

Gió đông phong hây hây xạ nức
Bộ tiên nàng chầu chực hôm mai
Dập dìu nơi chốn trang đài
Chính cung Mẫu ngự trong ngoài sửa sang

Thể song thất nhất bát
( Trích văn Cô Bơ Thoải)
Nhang thơm một triện,trống điểm ba hồi
Đệ tử con, dâng bản văn mời
Dẫn sự tích thoải cung công chúa

Tiền duyên sinh ở:thượng giới tiên cung
Biến hóa lên về Động Đình trung
Thác sinh xuống ,con vua thoải tộc

Điềm trời giáng phúc ,thoang thoảng đưa hương
Mãn nguyệt liền,hoa nở phi phương
Da tựa tuyết ánh hường tươi tốt

-
Thể hát nói:
( Trích văn Quan Đệ Nhị )
Nhác trông lên tòa vàng san sát,
Không đâu bằng Phố Cát, Đồi Ngang
Đá lô xô nước chảy làn làn
Điều một thú cỏ hoa như vẽ

Nhạn chiều hôm bay về lẻ tẻ,
Trên sườn non chim sẻ ríu ran.
Nuớc dưới khe tung tính tiếng đàn,
Trên đỉnh núi tùng reo điểm trống

Ngần ngật Sòng Sơn kiêu dĩ lộng
Thanh thanh chi thủy chiếu trần tâm
Sơn chi cao hệ thủy chí thâm
Đây thực chốn non nhân nước trí

Nhạc cụ

File:Dan nguyet.jpg Các nhạc cụ chính gồm đàn nguyệt ( đàn kìm) , trống ban ( trống con, phách, cảnh, thanh la, Ngoài ra hát chầu văn còn sử dụng nhiều khạc cụ khác như: trống cái, sáo, đàn thập lục, nhị, kèn tàu, chuông, mõ…

Các làn điệu và tiết tấu

Về tiết tấu, hát văn thường sử dụng nhịp ngoại (đảo phách). Loại nhịp này mang đến một cảm giác không ổn định trong tâm trí người nghe, đưa người nghe vào trạng thái mông lung, huyền ảo.
Hát chầu văn sử dụng nhiều làn điệu ( hay còn gọi là lối hát, cách hát). Các làn điệu hát văn cơ bản gồm:
 Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú rầu ( phú dầu) , Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Cờn Xá, Kiều Dương, Hãm , Dồn, điệu kiều thỉnh , Hát Sai ( Hành Sai), ngâm thơ. Ngoài ra còn sử dụng nhiều làn điệu khác như hát nói trong ca trù, hát then, hò Huế, hồ quảng, hát canh
Người xưa còn gọi làn điệu là cách . Thí dụ như điệu bỉ thì gọi là bỉ cách, điệu dọc thì gọi là dọc cách
  • Bỉ mang sắc thái trịnh trọng, được dùng để mở đầu cho hình thức hát văn thờ. Thông thường điệu Bỉ đuợc hát trên thể thơ thất ngôn tứ cú ( bốn câu mỗi câu bảy chữ) hoặc thất ngôn bát cú ( tám câu mỗi câu bảy chữ) nhưng cũng có khi điệu này có thể hát trên các thể thơ khác như song thất lục bát, lục bát, song thất nhất bát. Trong các bản sự tích chư thánh được hát thờ thì đoạn bỉ thường là đoạn giới thiệu tóm tắt nội dung chính của cả bản văn. Các đoạn bỉ cũng thường sử dụng nhiều câu đối nhau ( biền ngẫu). Một điều đặc biệt nữa đó là điệu bỉ chỉ có trong hát văn thờ mà tuyệt nhiên không có trong hát văn hầu đồng. Bỉ được lấy theo dây lệch, nhịp theo lối dồn phách.
Các đoạn văn thí dụ
 Miễu là lối hát rất nghiêm trang, đĩnh đạc, chỉ được dùng trong hát thi và hát thờ, tuyệt nhiên không bao giờ được dùng trong Hầu Bóng. Miễu được lấy theo dây lệch, nhịp đôi.
  • Thổng chỉ dành riêng cho văn thờ và văn thi, được lấy theo dây bằng, nhịp ba.
  • Phú Bình dành riêng cho hát văn thờ, rất đĩnh đạc, và dùng để hát ca ngợi các nam thần. Phú Bình được lấy theo dây lệch, nhịp 3.
  • Phú Chênh là lối hát buồn, thường dùng để hát trong những cảnh chia ly. Được lấy theo dây bằng, nhịp 3.
  • Phú nói thường dùng để mô tả cảnh hai người gặp gỡ, nói chuyện với nhau. Dùng trong hát văn thờ, văn thi và cả trong hầu bóng. Lấy theo dây bằng, nhịp ba hoặc không có nhịp mà chỉ dồn phách.
  • Phú rầu là lối hát rất buồn, được lấy theo dây bằng nhưng hát theo nhịp đôi.
  • Đưa thơ được lấy theo dây bằng, nhịp 3 và dồn phách, nhưng chủ yếu là dồn phách.
  • Vãn lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát, hát theo lối vay trả (vay của câu trước thì trả lại trong câu sau).
  • Dọc lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất - lục bát và hát theo nguyên tắc vay trả. Nếu hát từng câu thì gọi là nhất cú. Nếu hát liền hai câu song thất - lục bát thì gọi là "Dọc gối hạc" hay "Dọc nhị cú".
  • Cờn dùng để ca ngợi sắc đẹp các vị nữ thần. Cờn được lấy theo dây lệch, nhịp đôi. Có thể hát theo dây bằng, nhưng hầu hết là hát kiểu dây lệch (biến hóa).
  • Hãm lấy theo dây bằng, nhịp đôi, đây là lối hát rất khó vì phải hát liền song thất lục bát. Trong lối hát này có một tuyệt chiêu là Hạ Tứ Tự, có nghĩa là mượn bốn chữ của trổ sau, khi sang một trổ mới thì lại trả lại bốn chữ ấy.
  • Dồn được lấy theo dây bằng, nhịp 3.
Ngoài ra hát chầu văn còn có thể mượn các làn điệu nhạc cổ truyền khác như ca trù, quan họ, hò Huế và cả những điệu hát của dân thiểu số[1]
Xen kẽ những đoạn hát là đoạn nhạc không lời, gọi là lưu không.
Coi video  Hát chầu văn, hãy click Hát Chầu Văn
           Hát chầu văn, or hát văn.
Hát chầu văn, or hát văn, is a traditional Vietnamese folk art which combines trance singing and dancing
File:Dan nguyet.jpg
 Its music and poetry are combined with a variety of instruments, rhythms, pauses, and tempos. Hat chau van originated in the 16th century and spread quickly. The main musical instrument used in hat van performance is the dan nguyet or moon-shaped lute. The genre is famous for its use in rituals for deity mediumship. Chau Van serves two purposes: to help hypnotize the medium for reception of the deities and to accompany the medium's actions with appropriate music  Hát chầu văn or hát văn is a spiritual form of music used to invoke spirits during ceremonies. It is highly rhythmic and trance-oriented. Before 1986, the Vietnamese government repressed hát chầu văn and other forms of religious expression. It has since been revived by musicians like Phạm Văn Tỵ

No comments: