Tuesday, March 26, 2013

CA TRÙ

CA TRÙ (HÁT Ả ĐÀO)

Link cố định 31/07/2009@4h38, 444 lượt xem, viết bởi: thisilangthang
Chuyên mục: ÂM NHẠC
 
Ca trù Việt Nam
 
Ca trù là một bộ môn nghệ thuật cổ đặc sắc của văn hóa xứ Bắc nước Việt Nam đang được đề cử lên Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới. Trước đây, ca trù được biết đến là một thể loại hát ả đào. Ca trù là một trong những bộ môn nghệ thuật được biểu diễn trong nhà, khác với một số âm nhạc dân gian biểu diễn ngoài trời, trên đồng hay trên sân khấu. Ca trù được xếp vào thể loại “nhạc phòng” (music for entertainment, chamber music), giống với ca Huế, đàn ca tài tử. Các loại nhạc phòng cũng giống như Hát quan họ, đều là những bộ môn âm nhạc đặc sắc mang tính nghệ cao, không giống các thể loại dân ca cổ truyền khác. Vì yếu tố nghệ thuật đặc biệt nên ca trù được quan tâm bởi đông đảo thành phần nhạc công nhạc sĩ, những nhà nghiên cứu âm nhạc. Đó là nguyên nhân để ca trù có chỗ đứng trong nên âm nhạc và ngày càng phát triển.
Theo các nhà nghiên cứu, ca trù xuất hiện từ rất sớm, khoảng thế kỷ 15, dưới sự bảo hộ và độc quyền của những đại gia âm nhạc. Tiền thân của ca trù là các thể loại “hát đám, hát khao, hát thờ” gọi chung là hát ả đào. Hát ả đào là phường hát thường được các vị quan lại thuê biểu diễn trong các buổi lễ của triều đình, lễ thần (hát cửa đình – đã trình bày ở phần trên) hoặc biểu diễn ở tư gia của quan lại (hát cửa quyền). Thời kỳ vàng son nhất của hát ả đào là thời kỳ phát triển song song giữa hai thể loại là Ca nhạc và Ca vũ.


Ca trù (chụp năm 1952)
 
Ca Nhạc thường được dùng trong các buổi lễ có tính chất lễ giáo với những bài tiêu biểu như: Giáo Trống, Giáo Hương, Dâng Hương, Thiết Nhạc...
Ca Vũ thường được dùng trong buổi lễ đại chúng, có ý nghĩa đem vui cho mọi người. Những bài múa tiêu biểu như: Múa Bỏ Bộ, Múa Bài Bông, Múa Tứ Linh... thậm chí thời kỳ này còn có cả những trò xiếc như đội mâm mà múa hay đi trên dây.
Vào cuối thế kỷ thứ 19, các loại hình nghệ thuật sân khấu khác phát triển mạnh, trong đó đáng kể nhất là Tuồng, Chèo, Hát kịch… Hát ả đạo nghiễm nhiên được tách ra khỏi các buổi lễ mang tính tiêu khiển và các đám lễ khác để trở thành sân chơi tao nhã cho các tao nhân mặc khách, đặc biệt là các bậc nho sĩ, văn sĩ, nghệ sĩ. Họ thường gặp nhau ở nhà hát ả đào để nhờ đào nương ngâm lên (hát lên) những bài thơ mà thi nhân vừa soạn ra để tặng nhau. Đào nương miệng hát, tay đánh phách với tiếng đệm của chiếc đàn đáy. Quan viên nghe hát và khen hay chê qua những tiếng trống đế... Tất cả mọi việc sáng tác, biểu diễn và thưởng ngoạn như vậy cho ta thấy Hát Ả Đào là một nghệ thuật rất công phu.

Dường như tất cả thi nhân thời Nguyễn đều dùng Hát Ả Đào để nói lên tâm trạng của mình qua một số điệu hát như Hát Nói, Gửi Thư, Ngâm Vọng, Bắc Phản, Thét Nhạc (do cái tên của điệu cổ xưa Thiết Nhạc mà ra) v.v...
Hiện nay người ta biết đến hát ả đào qua một danh xưng khác là ca trù và có lẽ giới trẻ ngày nay cũng chỉ biết đến tên gọi này thôi.
Theo sử sách, Ca trù có từ thế kỷ 15, căn cứ vào tài liệu đầu tiên tìm được tính cho đến nay có nhắc đến hai chữ Ca trù là chữ khắc ở đình Đông Ngạc, Hà Nội (Quốc Oai, Hà Tây cũ). Khác với cồng chiêng Tây Nguyên hay Quan họ có phạm vi phổ biến tương đối khu biệt. Ca trù xuất hiện rải rác ở nhiều nơi trong 16 tỉnh thành, phần lớn là Bắc Bộ, ngoài ra cũng có ở TP.Hồ Chí Minh, song ngạc nhiên hơn là người ta còn tìm thấy ca trù cổ cả ở miền trung, tiêu biểu là tỉnh Quảng Bình.
Ban nhạc và nhạc cụ sử dụng trong ca trù như sau:
Một nữ ca sĩ, trong ca trù gọi là “đào”, sử dụng “phách” (nhịp).
Một nhạc công nam giới, trong ca trù gọi là “kép”, sử dụng Đàn Đáy.
Một “quan viên”, thường là tác giả bài hát, sử dụng trống chầu.

Đối với đa số thính giả Việt Nam hiện nay, họ được biết đến một số bản ca trù quen thuộc như: "Hồng hồng, tuyết tuyết" (thơ Dương Khuê), "Khen ai khéo vẽ", "Đêm chia lửa", "Ông già điên", "Tỳ bà hành" (thơ Bạch Cư Dị), Hương Sơn phong cảnh (thơ Chu Mạnh Trinh), "Gặp xuân" (thơ Tản Đà), "Tự tình" (thơ Cao Bá Quát),... trước đây đã có những bài đã từng đi vào lòng người như “Chiều hôm nhớ nhà” (thơ Bà Huyện Thanh Quan” hay “Thu Cảm” (thơ của Tản Đà”.
Ngoài ca trù thuần túy, bộ môn này còn được khai thác trong nhiều bộ phim cũng như trong các chủ đề âm nhạc Việt Nam. Tiêu biểu như phim “Mê Thảo thời vang bóng” hay trong bài hát "Một nét ca trù ngày xuân" của nhạc sĩ Nguyễn Cường...
Là một loại hình văn hóa cổ mang tính nghệ thuật đặc sắc, ca trù đã và đang được khôi phục và định hướng phát triển. Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập, phát triển theo xu hướng kinh tế thị trường, việc khôi phục và phát triển một loại hình nghệ thuật cổ như ca trù là vô cùng khó khăn. Vấn đề đặt ra là làm sao để đưa ca trù vào quần chúng để duy trì và phát triển bộ môn nghệ thuật cổ này. Thao thức cho ca trù Việt Nam, bà Lê Thị Bạch Vân bộc bạch:
“Ca trù là một trong những di sản văn hóa phi vật thể và truyền miệng vô cùng quý giá không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của nhân loại. GS, TS Vương Tiểu Thuẫn, viện trưởng Viện Văn hóa Trung Quốc khi đến nghe ca trù tại Bích Câu đạo quán đã ghi trong sổ lưu niệm ngày 30-8-1998: “Ca trù là vốn quý của văn hóa phương Đông, là kết tinh của sự giao lưu văn hóa Việt Nam và văn hóa các dân tộc xung quanh...”.

Nghệ thuật ca trù là sự phối hợp tuyệt vời giữa ca từ với giọng hát hòa cùng các nhạc khí: phách, đàn đáy, trống chầu. Không có giọng hát ca trù không có ca trù. Không có đào nương bất thành ca trù. Khi bàn đến ca trù, không thể không nói tới đào nương.
Để trở thành đào nương phải hội được nhiều tiêu chuẩn khắt khe như giọng hát, năng khiếu âm nhạc (thẩm âm, gõ phách), tri thức âm nhạc và văn thơ, trí nhớ, lòng đam mê và kiên trì, tư cách; nghệ thuật xử lý ca từ gắn với thanh điệu, gắn với nội dung... Không những thế đào nương còn phải được các thầy giỏi, có kinh nghiệm và tâm huyết đào tạo cơ bản, lâu dài bằng phương thức truyền khẩu để làm sao nắm bắt, làm chủ được những kỹ thuật nhà nghề. Ngoài ra đào nương phải thông thạo cách chuyển giọng nhuần nhuyễn, không thô cứng, thuộc giai điệu của từng thể hát và thuộc hết các thể trong các lối hát thi, hát cửa đình và hát chơi. Đó là chưa kể đến việc đào nương phải vừa hát, vừa tự đệm phách một cách nhịp nhàng, khéo léo đồng thời lại phải phối hợp với đàn và trống cho đúng quy cách, biết xử lý ca từ cho hợp với khung giai điệu đã có sẵn của thể hát.
Trong chế độ quân chủ từ triều Lê đến triều Nguyễn, đã từng có giai đoạn ca trù được đặt ở vị trí trang trọng. Đào nương được tôn quý, thậm chí có nàng trở thành vương phi, hoàng hậu. Không chỉ thế, có đào nương được tôn làm thần, lập đền miếu thờ tự.
Thật tiếc, đến giai đoạn sau, hát ả đào không còn giữ được phong thái như xưa. Lối hát chơi ở ca quán bị lạm dụng, trở thành thứ tiêu khiển có khi là của những kẻ phàm phu, tục tử. Ca nương cũng bị gắn những lời đố kỵ, gièm pha như một “vật mang họa”, “lấy quan quan cách"...
Sự nhầm lẫn đã khiến trong mấy chục năm dài, vốn quý sinh hoạt nghề nghiệp ca trù không được duy trì trong hệ thống gia đình, dòng họ, tổ chức phường nghề, truyền nghề, giỗ tổ nghề... Vì bị coi là sản phẩm của lối ăn chơi sai lạc nên ca trù không còn chỗ đứng trong những hoạt động văn hóa quảng đại quần chúng. Mặt khác, khi bài trừ mê tín dị đoan thì việc cúng lễ thần thánh cũng bị dẹp bỏ luôn và như thế mặc nhiên ca trù cũng cùng chung số phận, bởi còn đâu môi trường lễ hội tín ngưỡng để ca trù có dịp được hát ở cửa đình.
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, khi nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đi sưu tầm ca trù thì: “Đa số nghệ nhân (...) đều đã ngoài 60 tuổi. Có người chỉ nhớ được nửa bài. Có bài chỉ nhớ được tên gọi. Và rất tiếc là có người không dám nhận mình là đã làm nghề đàn hát này”. Suốt chừng ấy năm vắng bóng nhưng nhờ những nỗ lực, sáng kiến của một số cá nhân và tổ chức trong việc sưu tầm, giới thiệu, phục hồi, hiện nay ca trù đã gây được sự chú ý trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, khó khăn và thử thách chưa phải đã hết. Để có thể đưa ra được những đề xuất góp phần bảo tồn và phát huy bộ môn nghệ thuật này, chúng ta thử nhìn bao quát vào thực trạng ca trù cũng như người hát và nghệ thuật hát ca trù thời gian gần đây.
Từ năm 1986, đất nước đổi mới, các lễ hội dần dần được khôi phục và sau 1993, đôi nơi ở Bắc Bộ có hát cửa đình (nhưng không có múa). Tại Hà Nội, một số lễ hội đã đưa ca trù trở lại phục vụ trong cả phần lễ và phần hội như ở đình Cót, chùa Láng, đình ứng Thiên, đình Kim Liên, đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đình Quan Nhân, đình Trung Kính, đình Đăm, đình Sủi, đền Thạch Bàn, đình Giảng Võ,... Gần đây khi các làng mở hội số người hiểu biết tục lệ “nhập tịch thì xướng ca”, càng ít đi và càng vắng hẳn người biết cầm chầu. Bởi thế lễ hội không duy trì hát thờ cửa đình nữa, đơn cử như hội đình Cót, hội chùa Láng, hội đền Thạch Bàn...
Do tình hình nói trên, nhiều thể hát múa đã lần lượt bị thất truyền. Múa hát Bỏ bộ chỉ còn ở Lỗ Khê (Đông Anh, Hà Nội). Ở Thượng Mỗ, Hà Nội (Đan Phượng, Hà Tây cũ), thể múa hát này chỉ tồn tại đến khoảng năm 1993, vì các nghệ nhân mất dần, lớp trẻ không kế tục. Múa hát Bài bông đã thất truyền. Có những nghệ nhân như NSND Quách Thị Hồ (đã mất - Hà Nội), Nguyễn Thị Chúc (Hà Nội, Hà Tây cũ), Tô Thị Chè (Hải Phòng) tuy rằng cụ thân sinh chuyên đi hát cửa đình nhưng đến đời mình chỉ đi hát ca quán, nên không học được. Sau năm 1955, thể hát múa này chỉ còn lại ít nhiều trong trí nhớ một vài người như NSƯT Phó Thị Kim Đức (Hà Nội), nghệ nhân Nguyễn Thị Lệ (Bắc Ninh), Nguyễn Thị Diện (Thanh Hóa)... Múa Tứ linh cũng đã thất truyền.
Về người hát, lớp nghệ nhân có nghề, hầu hết đã qua đời đem theo ngón nghề của mình chưa kịp truyền lại cho lớp trẻ. Bà Nguyễn Thị Lệ (Bắc Ninh) tuổi 90 than thở: “Làng tôi thuở trước có vài chục kép đàn, hàng trăm đào hát, nay chỉ còn lại hai chị em tôi. Thế là thất truyền. Tôi cũng quên hết, bỏ gần 60 năm nay, thỉnh thoảng nhớ câu nào thì cũng chỉ để ru cháu mà thôi”.
Một cây đại thụ trong lối hát cửa đình có giọng hát uyển chuyển, sâu lắng như bà Phạm Thị Mùi thì cách đây chục năm khi gần tuổi 80 mới đào tạo được cho vài học sinh tại chốn tổ. Tiếc rằng, chưa có một người nào (kể cả cô cháu ngoại) kế thừa được vốn liếng đó. Do thời gian quá ngắn (vài tháng), kinh phí hạn hẹp, vì thế cả thầy và trò khó có thể duy trì được việc truyền nghề và học nghề.
Đào Vóc lại còn thiệt thòi hơn, lưng bà còng gập, câu nhớ, câu quên sau 70 năm bỏ bẵng, nay hơi đã hụt và những ngón tay ngày nào gieo phách diệu nghệ là vậy, giờ đã không còn mềm mại nữa. Tiếc thay đào Vóc đã không truyền lại được cho ai những kiểu nhả chữ linh hoạt, nghệ thuật xử lý ca từ thật điêu luyện của bà.
Lớp trẻ bị đứt đoạn do hầu hết con cháu các nghệ nhân không được truyền nghề. Có vài người trong số con cháu của họ cũng được học nhưng lại chưa đến nơi đến chốn. Vì thế lớp trẻ chưa thể đủ điều kiện để kế tục các nghệ nhân lớp trước.
Trong khi đó, một số người đã thành danh ở bộ môn nghệ thuật khác hoặc thậm chí có người đã về hưu, nhàn rỗi, thấy mọi người thích ca trù cũng bằng mọi cách tiếp cận cấp tốc (nghe băng, nghe hát, thụ giáo nghệ nhân giỏi vài buổi) để đi hát ca trù. Vì “Ăn xổi ở thì” như vậy, nên phần lớn họ không gõ phách được hoặc gõ sai quy cách, thậm chí có những người chỉ biết dở dang, sai cung, lạc điệu.
Năm 2002, tại Hà Nội có lớp đào tạo cấp tốc diễn viên ca trù trẻ trong 2 tháng (thực chất học 40 buổi) cho 80 người của 13 tỉnh thành (trong đó, số diễn viên hát chiếm hơn nửa). Sau 2 tháng các diễn viên (từ chưa biết gì), khi trở về địa phương sẽ là những người biểu diễn, đồng thời là thầy giáo(!). Phương pháp đào tạo và truyền bá có nguy cơ “góp phần” làm cho ca trù bị biến dạng: không có lòng bản, chẳng có kỹ thuật, có cô cũng cầm phách gõ, cũng "ứ, hự..." mà vẫn không phải là hát ca trù.
Ca trù đã lan truyền rất rộng thành phong trào, "mốt" đàn hát và thích nghe. Mặc dầu vậy, những người có nghề và có lương tâm chẳng thể nào không day dứt, lo ngại cho tương lai của ca trù.
Có lẽ, trong lịch sử phát triển, chưa khi nào, ngay cả thời thực dân Pháp chiếm đóng, ca trù bị lạm dụng, giá trị nghệ thuật của ca trù xuống dốc như ngày nay. Vì lúc đó vẫn có đào hát và còn có bao thi sĩ, khách văn chương biết thưởng thức. Còn nay? Người nghe và người có nghề chỉ đếm đầu ngón tay. Nghệ nhân dân gian Nguyễn Phú Đẹ - danh cầm 84 tuổi than thở: "Cứ theo lối này thì ca trù có lẽ xuống mất. Nếu người nào biết nghe, họ sẽ chán và không chịu được...”
Ca trù hiện nay tuy đã tạo ra cơn sốt nhưng nhìn chung nó chỉ có bề rộng mà chiều sâu không có bao nhiêu. Vì sao vậy? Bởi ca trù đã và đang được phục hồi, phát triển trong sự qua quýt hời hợt. Chỉ vài tháng đào tạo đã trở thành đào nương thậm chí trở thành thầy dạy. Vậy thì đã học được gì? Chính vì vậy họ hát ca trù thật lạ! Đào nương cũng "Đầu mày cuối mắt" như ai? Cần hiểu rằng ca trù rất khó, nó đòi hỏi cả thầy và trò phải nỗ lực hết sức trong một thời gian không ngắn. Đôi khi trong cuộc hát họ khua phách loạn lên, thậm tệ hơn, tay còn uốn lượn chống bộ phách dưới cằm nở nụ cười hết sức tình tứ. Động tác đó khiến "quan trên" cũng mát lòng chứ nói gì đến kẻ bình dân! Ca trù là một loại hình nghệ thuật có nhiều luật lệ rất khắt khe. Đào nương khi hát hoàn toàn không được liếc mắt đưa tay hay những điệu bộ cử chỉ tình tứ khác... Vậy mà hiện nay lại có những cô "đào trẻ" đã quên đi hoặc chưa có đủ thời gian để tìm hiểu những luật lệ nhà nghề. Họ đã thể hiện không đúng tư cách cũng như sự trang nghiêm của người ca nương. Chẳng trách, cô đầu một thời bị mang tai mang tiếng!
Thiết nghĩ, muốn phục hồi ca trù, môn nghệ thuật truyền thống cổ xưa, nên có sự quan tâm đúng mức của các ban ngành hữu trách, làm sao để thế hệ trẻ tiếp thu nó đúng lề lối cũng như cách thức thể hiện, tránh tình trạng có cô trong múa dẫn tế, chân vẫn xiến, mắt, mồm vẫn toe toét cười. Theo các nghệ nhân, ngay đến điệu múa cổ của ca trù cũng bị cải biên, "nâng cao", các cô mặc váy áo giống phường chèo và tay cầm quạt xoay tròn các hướng, kể cả xoay lưng vào bàn thờ thánh đang nghi ngút khói hương.
Trong một lần liên hoan ca trù với quy mô toàn quốc, có một "đào nương" mới chỉ học 40 buổi (với 3 bài, trong đó chỉ có một bài là ca trù), được trao "xiêm y" (giải đặc biệt: có khăn áo thật). Thế rồi, khi "vinh quy" trở về, sau khi được ngút ngàn lời khen, cô đã mở gần chục lớp để dạy học trò, các nghệ nhân hết sức kinh ngạc! Cụ Nguyễn Phú Đẹ giật mình: "Nó còn ngang nhiên về Tứ Kỳ để hát" (Tứ Kỳ - Hải Dương có phường nghề ca trù nổi tiếng).
Về việc trao xiêm y, sách Ca trù biên khảo của tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề cho biết: "Những ả đào trẻ tuổi học tập đã thành thục, khi bắt đầu ra hát phải có trầu cau trình với Quản giáp. Quản giáp sai chia cho khắp phường để báo cho biết cô đó đã thành nghề và ra hát. Huynh thứ nhận lễ trình, họp nhau lại sát hạch một buổi rồi mới công nhận. Được phường công nhận, các cô chọn ngày lành tháng tốt làm lễ cáo tổ, rồi mời một quan viên có danh vọng ở trong miền, nổi tiếng phong lưu hào phóng, đến nghe trống cho buổi hát đầu tiên. Hôm ấy mở tiệc linh đình để thiết đãi phường và ba con quen thuộc. Người đến dự tiệc đều có lễ mừng. Buổi hát đầu tiên ấy, giáo phường gọi là lễ mở xiêm áo". Như vậy, lễ mở xiêm áo, có thể hiểu nôm na: Đã học đủ chương trình, thi, đỗ mới được đi hát.
Nghề nào cũng vậy, muốn tồn tại thì phải được truyền nghề, tức là có thầy và có trò. Một số nghệ nhân rất giỏi nhưng không có học trò bởi mặc cảm dư luận xã hội suốt thời gian quá dài. Thầy dạy phải truyền đạt toàn bộ kỹ thuật cơ bản cho học trò. Vì vậy, cũng như những nghề khác, việc truyền thụ cho thế hệ kế tiếp không thể nhìn vào số lượng mà điều cốt yếu phải là chất lượng của thầy và trò. Nhất là đối với ca trù, bởi ca trù hoàn toàn là nghệ thuật truyền khẩu nếu không phục hồi đúng nghĩa sẽ làm cho môn nghệ thuật độc đáo, đặc sắc này nếu có chăng thì chỉ còn là ca trù dị bản. Bởi lớp nghệ nhân ít ỏi còn lại sớm muộn cũng sẽ ra đi mà lớp kế cận đã tiếp thu được những gì? Nếu chỉ học có vẻn vẹn ... mà đã được làm thầy. Vậy học trò của họ sẽ hát ca trù như thế nào? Rồi ca trù sẽ ra sao?”
Trên đây là tâm sự và hoài bão của Bạch Vân và có lẽ cũng là hoài bão của tất cả những ai thao thức với nền âm nhạc Việt Nam, nhất là âm nhạc cổ như ca trù, nhã nhạc cung đình Huế, Cồng chiêng Tây nguyên, Quan họ hay Hát chèo… Vì đa phần giới trẻ hiện nay chỉ quan tâm nhiều đến nhạc trẻ, nhạc thị trường mà bỏ quên cái gốc gác âm nhạc đáng tự hào của nước nhà.
Là một loại hình nghệ thuật cổ đại đặc trưng của miền Bắc, Hà Nội là nơi có điều kiện nhất để phát triển ca trù, vì đa số các nghệ sĩ tập trung ở đây.

Hiện nay, có Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long tại Hà nội, do nghệ sĩ Phạm Thị Huệ làm chủ nhiệm, cùng sự dìu dắt của hai nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc (từ Hà Tây cũ) và Nguyễn Phú Đẹ (từ Hải Dương), đang truyền dạy rộng rãi nghệ thuật ca trù. Những người yêu thích môn nghệ thuật này, có thể đăng ký học vào tối thứ 6 hàng tuần tại đình Cống Vị, ngõ 518 phố Đội Cấn. Câu lạc bộ Ca trù Thăng Long cũng là câu lạc bộ đầu tiên phục dựng lại chương trình hát cửa đình theo lối cổ, được biểu diễn vào thứ 7 đầu tiên hàng tháng tại các đình làng tại Hà Nội. Hiện nay, câu lạc bộ đã đào tạo ra được một số đào nương trẻ tuổi, có khả năng biểu diễn các làn điệu ca trù một cách nhuần nhuyễn. Đây cũng là một tín hiệu đáng mừng cho thể loại nghệ thuật cổ này. Hy vọng trong thời gian tới, các cơ quan hữu quan, tạo mọi điều kiện hơn nữa để ca trù phát triển ngày càng lớn mạnh, để bạn bè khắp nơi trên thế giới biết đến ca trù Việt Nam.

No comments: