Wednesday, October 10, 2012

TIN TỨC VIỆT NAM

Hậu quả sau hội nghị Thành Đô?

2012-10-09
Trong khi Hội nghị Trung ương 6 đang diễn ra, ông Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu Đại sứ VN tại TQ là lại lo lắng cho sự lũng đoạn của Bắc Kinh vào hậu trường chính trị của Hà Nội, sẽ tiếp tục diễn ra như từ sau hội nghị Thành Đô đến nay.

File photo
Hội Nghị Thành Đô năm 1990 tại Tứ Xuyên, Trung Quốc.

Bài viết của ông Nguyễn Trọng Vĩnh mang tên “Phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, không cho phép nước ngoài can thiệp vào nội bộ nước ta” đang khiến dư luận đặc biệt chú ý. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn ông Đại sứ để sáng tỏ thêm vấn đề.

Lũng đoạn nghiêm trọng

Mặc Lâm: Thưa ông Đại sứ, Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu nói rất nổi tiếng đó là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nhưng trong bài viết mới nhất của ông hiện đang lưu hành trên mạng có tên là “Phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, không cho phép nước ngoài can thiệp vào nội bộ nước ta” cho thấy sự độc lập của Việt Nam đang bị Trung Quốc lũng đoạn rất nghiêm trọng. Trước nhất xin ông Đại sứ cho biết thêm một số chi tiết về bài viết quan trọng này.
Nguyễn Trọng Vĩnh: Tôi cũng chỉ biết được đến thế thôi còn tỉ mỉ hơn thì tôi không biết. Trung Quốc rất ghét Nguyễn Cơ Thạch cho nên nó mới ép phái đoàn của ta tại Thành Đô phải nhận điều đó. Phải gạt bỏ Nguyễn Cơ Thạch thì nó mới bình thường hóa quan hệ. Phái đoàn của ta lúc bấy giờ chả hiểu các ông ấy như thế nào mà lại chấp nhận cái điều kiện ấy của nó.
Mặc Lâm: Theo như ông Đại sứ khẳng định thì từ Hội nghị Thành Đô đến nay Việt Nam đã tỏ ra rất bị lệ thuộc vào Trung Quốc. Việc mất tự chủ đầu tiên là loại bỏ ông Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi vị trí Ngoại trưởng và kế đến là Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã công khai phục tùng Trung Quốc khi chấp nhận cho họ khai thác bauxite mà không thông qua Bộ chính trị. Ông Đại sứ có thể cho biết căn cứ vào đâu mà ông khẳng định như vậy?

TQ rất ghét Nguyễn Cơ Thạch cho nên nó mới ép phái đoàn của ta tại Thành Đô phải nhận điều đó. Phải gạt bỏ Nguyễn Cơ Thạch thì nó mới bình thường hóa quan hệ.
Nguyễn Trọng Vĩnh
Nguyễn Trọng Vĩnh: Tôi chỉ biết rõ có việc như thế nhưng bảo đưa ra văn bản hay điều gì để mà chứng minh thì không thể đưa ra được. Tuy nhiên việc này rất nhiều người biết chứ không phải một mình tôi.
Mặc Lâm: Cũng trong bài viết ông Đại sứ cho biết là trong đại hội X của đảng, cũng chính ông Nông Đức Mạnh đã gạt ông Phạm Bình Minh ra khỏi vị trí Bộ trưởng Ngoại giao vì cho rằng Trung Quốc không đồng ý, tuy nhiên hiện nay ông Phạm Bình Minh vẫn được đề cử chức vụ này. Phải chăng có sự thay đổi nhận thức trong Bộ chính trị hay còn một nguyên nhân nào khác sau khi ông Nông Đức Mạnh về hưu thưa ông?
Nguyễn Trọng Vĩnh: Đúng là sau khi ông Nông Đức Mạnh về hưu rồi thì người ta thấy rằng để đưa vào vị trí bộ Ngoại giao một người có kinh nghiệm, có nghiệp vụ thì việc người ta chọn ông Phạm Bình Minh là Bộ trưởng Ngaọi giao thì không có gì lạ. Bởi vì có một thời từng đưa ông Nguyễn Thiện Nhân nhưng ông ấy không có nghiệp vụ ngoại giao nên không theo dõi tất cả tình hình từ trước tới nay cho nên người ta thấy không có ai hơn ông Phạm Bình Minh.

thanhdo1990-250.jpg
Hội Nghị Thành Đô năm 1990 tại Tứ Xuyên, Trung Quốc. File photo.
Hơn nữa bây giờ không còn ông Nông Đức Mạnh cản trở nữa thì người ta đưa ông Minh vào vị trí này. Tuy nhiên dù sao trong tình hình căng thẳng này thì người ta vẫn cứ ngại, chỉ làm đến đấy thôi chứ thông thường thì ở nước ta ba vị trí Bộ trưởng công an, Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Ngoại giao đều là ủy viên Bộ chính trị, từ trước tới nay là như thế. Thế nhưng lần này người ta chỉ mới đưa được ông Phạm Bình Minh vào chức Bộ trưởng Ngoại giao còn chức ủy viên bộ chính trị thì người ta còn ngần ngại.
Mặc Lâm: Thưa phải chăng sự ngần ngại này phát sinh từ sự lo sợ mích lòng Trung Quốc vẫn còn đè nặng lên tư duy của nhiều người trong Bộ Chính Trị?
Nguyễn Trọng Vĩnh: Đúng thế! Người ta sợ mích lòng Trung Quốc vì trong lúc tình hình đang căng thẳng mà lại đưa cái ông mà Trung Quốc nó không thích thì tình hình căng thẳng thêm, người ta sợ thế.

Điều không bình thường?

Mặc Lâm: Thưa ông Đại sứ hôm 1 tháng 10 Hội nghị Trung ương 6 khai mạc và ngay ngày hôm sau người ta thấy Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam là Khổng Huyễn Hựu đã gặp Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Việc này có bình thường hay không thưa ông?
Nguyễn Trọng Vĩnh: Việc này nói là bình thường cũng được mà nói không bình thường cũng được.

DSC0473-250.jpg
Buổi khai mạc Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá XI tại Hà Nội hôm 01 tháng 10 năm 2012. Courtesy chinhphu.vn
 
 
Bình thường là vì khi tôi còn làm Đại sứ thì cũng có lúc tôi gặp những người lãnh đạo của Trung Quốc khi muốn chuyển đạt ý kiến gì thì tôi đề nghị gặp một vị nào đấy trong lãnh đạo của họ. Đấy là bình thuờng. Còn việc không bình thường ở chỗ ông Đại sứ Trung Quốc lại gặp ông Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ngay trước cuộc họp Trung ương đảng thì không bình thường là chỗ đó, còn về nội dung thế nào thì tôi không biết được.
Mặc Lâm: Hiện nay có rất nhiều tin tức hậu trường cho rằng Hội nghị Trung ương 6 chủ yếu nhằm xem xét bản thân Thủ tướng. Theo ông thì nếu Hội nghị không đạt được kết quả sau cùng thì phải chăng do yếu tố Trung Quốc hay do các bên thỏa hiệp với nhau nhằm giữ vị thế lãnh đạo như nhiều người tiên đoán thưa ông?

Còn việc không bình thường ở chỗ ông Đại sứ Trung Quốc lại gặp ông Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ngay trước cuộc họp Trung ương đảng.
Nguyễn Trọng Vĩnh
Nguyễn Trọng Vĩnh: Việc này thì tôi không có ý kiến chính xác, không có gì là chứng thực cả, tôi chỉ gọi là dự phòng thế thôi còn trong nội bộ của ta thì tôi không nói đuợc gì đâu.
Mặc Lâm: Ông đã thẳng thắn cho rằng nếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn tiếp tục giữ chức thì sẽ rất nguy hiểm cho Việt Nam, xin ông cho biết tại sao như vậy?
Nguyễn Trọng Vĩnh: Toàn dân người ta đã biết ông này không có năng lực quản lý xã hội, quản lý kinh tế cho nên chưa bao giờ kinh tế của chúng ta nó sa sút như bây giờ. Sự không có năng lực của ông ấy là đã rõ. Mặt khác các tập đoàn kinh tế nào là Vinashin, Vinalines rồi còn bao nhiêu tập đoàn kinh tế khác mà ông Thủ tướng trực tiếp quản lý đã thất thoát hàng ngàn tỷ của nhân dân, thiệt hại quá lớn. Vì vậy nếu ông ấy cứ tiếp tục thì thiệt hại lớn lắm. Kinh tế sẽ còn sa sút và các tập đoàn kinh tế nó sẽ còn thất thoát đến đâu nữa, như vậy thì còn gì nguy hại hơn nữa?
Mặt khác ông ấy lại độc đoán, độc tài vì vậy nếu còn nắm quyền thì ông ấy còn làm bao nhiêu thứ khác chỉ có hại cho đất nước như vậy thì không lo sao được?
Mặc Lâm: Một lần nữa xin được cám ơn ông Đại sứ đã giúp chúng tôi hoàn thành cuộc phỏng vấn này.

Theo dòng thời sự:

 Anh Nguyễn Chí Đức ra khỏi Đảng Cộng Sản VN
 


 Giá cả thị trường những tháng cuối năm
2012-10-09
Thị trường tiêu thụ Việt Nam đã bước sang Quí Tư 2012 với giá cả nhiều mặt hàng tăng lên và có chiếu hướng cao hơn từ giờ đến cuối năm.
RFA
Rau và trái cây bán ở các cửa hàng lớn.
Đâu là những cái khó trong nỗ lực bình ổn giá cả thị trường, tránh biến động thái quá như những năm trước. Thanh Trúc mời quí vị cùng tìm hiểu.
Giá cả hàng hoá thường có xu hướng tăng dần lên trong những tháng cuối năm, đương nhiên kéo theo chỉ số giá Quí Bốn 2012 này tăng lên so với thời kỳ trước đó.

Biến động theo xu hướng tăng

Theo nhận định của chuyên gia về giá cả thị trường thuộc Bộ Tài Chính, tiến sĩ Vũ Đình Ánh, nhiều khả năng mức độ tăng sẽ không quá cao, chỉ khoảng trên dưới 1% cho mỗi tháng từ giờ đến hết 2012.
Nếu cố giữ mức tăng trên dưới 1% đó,  ông khẳng định, mục tiêu kềm chế lạm phát ở mức độ một con số của năm 2012  chắc chắn có thể thực hiện được:
Đối với các nhóm giá cả liên quan tới diễn biến giá cả thị trường năm 2012 thì rõ ràng như trường hợp của tháng Chín vừa qua thì có phần tăng rất là cao trong dịch vụ y tế cũng như giáo dục. Những nhóm đó đã tăng trong khoảng 2,2% trong tháng Chín. 

Một trạm bán xăng dầu của PV Oil. RFA
Một trạm bán xăng dầu của PV Oil. RFA
Tuy nhiên, nếu loại trừ các nhóm đó ra, các nhóm còn lại tăng trong khoảng 1% thì vẫn còn khá là căng. Do đó, tôi cho rằng tới cuối năm nhóm dịch vụ liên quan đến lương thực thực phẩm chẳng hạn, chắc chắn sẽ có biến động theo xu hướng tăng. Yếu tố thứ nhất, tiến sĩ Vũ Đình Ánh giải thích, là vấn đề liên quan đến thời vụ của việc tiêu dùng cuối năm, tức là tiêu dùng trong dịp lễ Tết, và thứ hai là diễn biến bất thường của thời tiết cũng như một số những khó khăn khác :
Nhiều khả năng mức độ tăng sẽ không quá cao, chỉ khoảng trên dưới 1% cho mỗi tháng từ giờ đến hết 2012
Đơn cử ví dụ như ngành chăn nuôi hiện nay chẳng hạn, đang có hiện tượng “treo chuồng” khá lớn do chi phí đầu vào tăng cao và không cạnh tranh được với sản phẩm chăn nuôi nhập  khẩu. Đây cũng là điều có thể nói là  được dự báo trước về giá thực phẩm tăng tuy mức độ tăng không lớn.
Xét về mặt thực phẩm, ông nói, chủ yếu ở Việt Nam những nhóm phổ biến sẽ tăng giá trong thời điểm cuối năm là thịt lợn, thịt bò và thịt gia cầm. Ngoài ra, tại khu vực đô thị, sẽ có một phần là nhu cầu thực phẩm liên quan đến các mặt hàng sản hải sản như tôm cua cá vân vân… cũng sẽ tăng cao:
Còn chủ yếu về giá gạo thì tôi cho rằng năm nay Việt Nam được mùa, lượng gạo xuất khẩu rất lớn, do đó biến động về giá lương thực sẽ không nhiều trong năm 2012 thậm chí cho đến tháng đầu năm 2013.
Sau lương thực và thực phẩm, nhóm thứ hai đáng quan tâm và cần được nhắc đến là giao thông,  phản ảnh biến động của giá xăng dầu, mà thông thường đến cuối năm thì nhu cầu giao thông vận tải cũng tăng lên:
Tôi cho rằng về mặt này thì Việt Nam cũng đã rút được kinh nghiệm liên quan tới vấn đề điều hành giá xăng hay liên quan đến giá giao thông.
Tôi cho rằng tới cuối năm nhóm dịch vụ liên quan đến lương thực thực phẩm chẳng hạn, chắc chắn sẽ có biến động theo xu hướng tăng
tiến sĩ Vũ Đình Ánh
Tất nhiên là có biến động nhưng tôi cho rằng cái biến động này cũng đã lường được trước rồi. Cái này liên quan tới cả hai phía, về phía cung do được lường trước nên do đó cũng có những biện pháp chuẩn bị nếu như có sự thiếu hụt nguồn cung thì có thể có biện pháp để cân đối thí dụ biện pháp nhập khẩu. Hiện đã có một số chính sách đảm bảo nguồn cung cho những tháng tới.
Cái thứ hai, về mặt cầu, mặc dù tính từ đầu năm đến nay sức mua trong nền kinh tế đã được cải thiện tuy nhiên là mức cải thiện rất là nhỏ. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn thì tôi cho rằng cầu, kể cả mức cầu về những mặt hàng thiết yếu như lương thực thực phẩm chẳng hạn, cũng sẽ không căng thẳng và sẽ không tạo cái gọi là tăng cầu quá mức như các dịp lễ Tết một số năm gần đây. Do đó cái áp lực của phía cầu sẽ không kéo giá cả đi lên.
Như vậy, dưới mắt chuyên gia giá cả thị trường Vũ Đình Ánh, điều đáng lo ngại không phải là cung thiếu cầu tăng  kéo giá cả thị trường tăng theo, mà cái đáng lo lại nằm về phía tăng giá hay lạm phát dưới các  chính sách kinh tế vĩ mô nhiều hơn là yếu tố về phía thị trường trong đó có cung và cầu.

Ba cái khó trong việc điều hành giá

Khu vực bán quần áo trong siêu thị ở Hà Nội (ảnh minh hoạ)
Khu vực bán quần áo trong siêu thị ở Hà Nội (ảnh minh hoạ)
Vẫn theo lời ông, có ba cái khó cho Việt Nam trong nỗ lực bình ổn giá cả thị trường nói chung cũng như thời điểm từ giờ đến cuối năm hầu có thể giữ vững mục tiêu  đề ra là  kềm chế lạm phát ở mức một con số. Điểm  khó thứ nhất,  ông phân tích, tất cả những việc như điều chỉnh giá xăng dầu, giá điện nước sinh hoạt hay vận tải công cộng … thì hầu hết đã có sẵn một lộ trình,  thế nhưng việc thực hiện lộ trình đó lại không ăn khớp với cả những diễn biến của kinh tế vĩ mô .
Đơn cử một thí dụ trong tháng Chín vừa rồi, sự đồng loạt tăng một loạt giá cả về dịch vụ y tế, ở mới chỉ khoảng tầm một nửa trong số sáu mươi ba tỉnh thành thôi, mà đã tác động rất là mạnh tới cái vấn đề về lạm phát rồi. Rõ ràng là tới đây cái khó nhất là làm tận dụng lộ trình đó một cách linh hoạt. Đấy là điểm đầu tiên.
Điểm thứ hai, cái khó của Việt Nam là cái yêu cầu về công khai minh bạch, nói cách khác là cái căn cứ hay cái cơ sở để điều chỉnh giá cả của những cái ví dụ điện hay xăng dầu, để đảm bảo được cái tính Việt Nam gọi là tính đúng, tính đủ và đồng thời thuyết phục được toàn xã hội về tính hợp lý của những việc điều chỉnh giá đó.
Cái đó sẽ tác động tới yếu tố mà Việt Nam rất quan tâm, đó là yếu tố về lạm phát tâm lý. Đấy cũng là điểm khó thứ hai trong vấn đề điều hành giá cả.
Điểm khó thứ ba trong việc điều hành giá ở Việt Nam, tiến sĩ Vũ Đình Ánh lý giải tiếp thường là để duy trì tăng trưởng kinh tế thì phải đẩy mạnh chi tiêu công là hiện cũng chưa ước lượng được sự tăng trưởng về chi tiêu công đó sẽ tác động tới lạm phát cũng như thực tế giá cả  trong chừng mực  nào.
Cần phải ước lượng được tác động đó thì mới điều chỉnh được chính sách về chi tiêu công, ông kết luận, và đồng thời với nó là kết hợp những biện pháp điều hành quản lý thị trường cũng như giá cả.

Theo dòng thời sự:



 

No comments: