Saturday, October 13, 2012

TIN TỨC XA GẦN

 

 Việt Nam : Bế mạc Hội nghị Trung ương 6, không kỷ luật ai

Ông Nguyễn Phú Trọng trên đoàn chủ tịch Đại hội đảng 11 ngày 12/01/2011
Ông Nguyễn Phú Trọng trên đoàn chủ tịch Đại hội đảng 11 ngày 12/01/2011
Ảnh: REUTERS/Kham

Đức Tâm
Sau 15 ngày họp kín tại Hà Nội, ngày 15/10/2012, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 đảng Cộng sản Việt Nam đã bế mạc với bài phát biểu của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Toàn văn bài phát biểu được báo chí Việt Nam đăng tải.
Điều được giới quan sát trong và ngoài nước quan tâm theo dõi là liệu tại Hội nghị Trung ương này, có ai bị kỷ luật về tội tham nhũng, lợi dụng chức quyền để cho người thân lũng đoạn kinh tế, tài chính… hay không ? Theo các nguồn tin khác nhau, chưa được kiểm chứng, thì nhân vật trung tâm bị kiểm điểm lần này là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thế nhưng, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định không kỷ luật Bộ Chính trị cũng như « một đồng chí trong Bộ Chính trị ».
Từ ngữ « một đồng chí trong Bộ Chính trị » ở đây dường như là chỉ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Sau khi trình bày quá trình kiểm điểm, phê và tự phê trong Bộ Chính Trị, đối với từng ủy viên Bộ Chính trị, tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam cho biết là bộ Chính trị đã quyết định đưa vấn đề này ra xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương về hình thức kỷ luật.
Thế nhưng, vẫn theo lời ông Nguyễn Phú Trọng, xin trích : « Về việc đề nghị xem xét kỷ luật, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận rất kỹ, cân nhắc toàn diện các mặt ở thời điểm hiện nay và đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính trị và một đồng chí trong Bộ Chính trị; và yêu cầu Bộ Chính trị có biện pháp tích cực khắc phục, sửa chữa khuyết điểm; không để các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá ».
Đối với giới quan sát, câu hỏi lớn nhất hiện nay là sau Hội nghị Trung ương 6, liệu quyền lực của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bị giảm bớt đi hay không ? Hay tình hình vẫn như cũ, vẫn chỉ là những kiểm điểm, nhận khuyết điểm và hứa khắc phục.

tags: Chính trị - Việt Nam http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20121015-viet-nam-be-mac-hoi-nghi-tw-6-khong-ky-luat-ai

 

  Canh bạc của Đảng Cộng sản

Cập nhật: 15:06 GMT - chủ nhật, 14 tháng 10, 2012
Hội nghị Trung ương 6
Hội nghị Trung ương 6 bế mạc ngày 15/10
Một vị trưởng lão trong giang hồ, một giáo sư đáng kính và là người xưa nay vẫn có thái độ thân thiện với chính quyền Việt Nam, nói với tôi, giọng khinh miệt, “Chừng nào hắn [Nguyễn Tấn Dũng] còn ngồi đó thì tôi sẽ không về Việt Nam”.
Có vẻ như nhiều người cũng không muốn ông thủ tướng ngồi ở đó nữa. Nhiều tiếng nói trên không gian mạng không ngần ngại bày tỏ công khai điều này.
Vì nhiều lý do, cũng dễ hiểu, người ta tin rằng nếu ông Dũng ra đi thì Đảng và Nhà nước Việt Nam giải quyết được các vấn đề khủng hoảng hiện nay, trong đó khủng hoảng lớn nhất vẫn là khủng hoảng tính chính đáng của lãnh đạo.
Việc ông Dũng rời khỏi ghế thủ tướng lúc này có thể đem đến một cảm giác thở phào cho nhiều người nhưng niềm tin cho rằng có ai đó đến thế chỗ ông có khả năng giải quyết khủng hoảng là một niềm tin không có cơ sở.
Khủng hoảng hiện nay ở Việt Nam là khủng hoảng định chế chứ không phải khủng hoảng nhân sự.
Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản hiểu điều này và nếu họ khôn ngoan thì họ sẽ để ông Dũng ngồi yên đó.

Khủng hoảng định chế

Ông Dũng ra đi giúp được gì cho Đảng, ngoài việc làm giảm đi áp lực của bức xúc xã hội trong một thời gian ngắn? Không giúp được điều gì chắc chắn cả.
Đó là chưa nói đến những rủi ro khác, mà rủi ro lớn nhất là Đảng sẽ mất luôn khả năng kiểm soát các lực lượng âm binh của ông Dũng trong an ninh và kinh tế mà từ trước đến nay Đảng vẫn không kiểm soát được. Đám âm binh này do ông Dũng tạo nên, ông sống với chúng và hiện nay nếu trong Bộ Chính trị có ai có khả năng điều khiển chúng thì người đó chính là ông Dũng.
"Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản có thể xung đột đến mức loại trừ nhau nhưng họ chỉ loại trừ nhau khi không gây rủi ro cho quyền lãnh đạo của Đảng."
Những người lãnh đạo Đảng Cộng sản có thể xung đột đến mức loại trừ nhau nhưng họ chỉ loại trừ nhau khi không gây rủi ro cho quyền lãnh đạo của Đảng.
Một khi quyền lãnh đạo đó bị đe dọa, bởi bất cứ thế lực nào, thì một sợi dây vô hình sẽ buộc chặt họ lại với nhau. Lúc này không có lý do gì để tin rằng cái gọi là “trận chiến Ba-Tư”, nếu thật sự có thật một trận chiến như thế, sẽ đưa đến kết quả làm phân hóa Đảng.
Tóm lại: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ không đi đâu cả. Và đó là điều tốt.
Sự xuất hiện trở lại của Ban Kinh tế Trung ương và việc Ban Chỉ đạo Chống Tham nhũng nay thuộc về Đảng là những tín hiệu xấu cho tiến trình pháp quyền hóa ở Việt Nam.
Phải mất gần hai thập niên, và phải cần đến những vị tổng bí thư yếu bóng vía như Nông Đức Mạnh, để Việt Nam có thể chuyển trung tâm quyền lực từ Đảng sang phía hành pháp của chính phủ. Đây là một bước tiến lớn trong tiến trình pháp quyền hóa, dù chưa phải là dân chủ hóa, đời sống chính trị quốc gia.
Vấn đề khủng hoảng hiện nay không phải là vì do một cá nhân nào mà là sự khủng hoảng có tính hệ thống. Khủng hoảng là do quyền lực tập trung quá lớn vào chính phủ trong sự thiếu vắng một cơ chế kiểm soát hữu hiệu.
Ở các nước dân chủ, quyền kiểm soát này nằm trong tay Quốc hội. Ở Việt Nam, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản nghĩ rằng qua cơ chế “cung vua – phủ chúa”, và từ các cơ chế của Đảng, họ có thể kiểm soát được hoạt động của chính phủ.
Họ đã sai lầm.
Ngay cả khi chính phủ là do đảng cầm quyền dựng nên trong một nhà nước độc đảng thì nó luôn vận hành theo một logic chức năng và quyền hạn mà đảng cầm quyền không thể kiểm soát được. Chỉ có một hệ thống pháp lý hoàn thiện mới có khả năng kiểm soát quyền lực của chính phủ.
Đưa chức năng kiểm soát này về lại với Đảng là một bước đi thụt lùi, phản động.


Ông Nguyễn Tấn Dũng

'Quyền lực không bị kiểm soát'

Có thể trong một thời gian ngắn, bằng một số biện pháp hành chánh nào đó, như “phê và tự phê” chẳng hạn, Đảng có thể kìm hãm sự vô độ của chính phủ nhưng về lâu về dài Đảng sẽ không giải quyết được những khủng hoảng tiếp theo: khủng hoảng pháp lý.
Nên nhớ, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn hoạt động ngoài vòng pháp luật. Cho đến giờ phút này vẫn không tồn tại một đạo luật nào quy định vai trò và trách nhiệm của Đảng đối với chính phủ.
Đáng lẽ ra, thay vì hoảng hốt đưa các ban bệ với chức năng kiểm soát chính phủ đó về lại trong các cơ cấu của Đảng, Đảng nên mạnh dạn chuyển chúng sang cho Quốc hội.
Tại sao phải nặn ra những thứ ban bệ trong khung quyền lực của Đảng khi mà đã tồn tại những ủy ban tương tự như thế ở Quốc hội? Tại sao không để Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội kiểm soát hoạt động kinh tế, tài chính của chính phủ? Tại sao phải không giao cho Ủy ban Pháp lý của Quốc hội trách nhiệm chống tham nhũng?
Đảng phải bước ra khỏi sự sợ hãi mất quyền lực truyền thống để tiếp tục cố gắng xây dựng một hệ thống pháp quyền ở Việt Nam. Việt Nam đang đi trên con đường chuyển từ đảng quyền sang pháp quyền. Quay trở lại lúc này, dù trong giai đoạn khủng hoảng, chứng tỏ những người lãnh đạo Đảng thiếu bản lĩnh.
Trở lại với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: ông Dũng cũng chỉ là nạn nhân của quyền lực không bị kiểm soát. Khủng hoảng do ông gây ra là khủng hoảng định chế.
Cần chuyển hóa định chế chứ không phải chuyển đổi nhân sự. Định chế phải được chuyển hóa theo hướng pháp quyền hóa chứ không phải quay trở lại với đảng quyền hóa đời sống chính trị quốc gia. Những người lãnh đạo Đảng lúc này phải có đủ bản lĩnh và quyết đoán để:
"Ông Dũng cũng chỉ là nạn nhân của quyền lực không bị kiểm soát. Khủng hoảng do ông gây ra là khủng hoảng định chế. "
Chặt hết những vây cánh do sự lạm dụng quyền lực tạo nên xung quanh ông Dũng. Trả lại cho Quốc hội quyền kiểm soát quyền lực chính phủ, nhanh chóng thông qua những đạo luật có tính hồi tố để chống tham nhũng. Luật hóa sự tồn tại và quyền lực của Đảng để tránh khủng hoảng pháp lý trong tương lai.
Như đã nói, đảng cầm quyền, ngay cả trong cơ chế độc đảng, không bao giờ có khả năng kiểm soát quyền lực chính phủ của chính nó đẻ ra. Những khủng hoảng hiện nay là sự tiếp tục của chuỗi khủng hoảng mang tính hệ thống đối với những nhà nước độc tài.
Nếu không xây dựng được một hệ thống pháp quyền, với sự chia sẻ và giám sát quyền lực hữu hiệu, Đảng và nhà nước sẽ đi từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác cho đến khi sụp đổ.
Canh bạc của Đảng hiện nay không phải là chuyện ai thắng ai trong “trận chiến Ba-Tư”, hay trong bất cứ xung đột quyền lực và quyền lợi của cá nhân lãnh đạo nào. Canh bạc của Đảng chính là là sự lựa chọn bản lĩnh và thông minh để tiếp tục tồn tại và cầm quyền.
Thời gian của sự lựa chọn này không nhiều.
Bài viết được đăng với sự đồng ý của tác giả, một kỹ sư hiện sống tại Pennsylvania, Hoa Kỳ; và thể hiện quan điểm và văn phong của riêng ông. Quý vị có ý kiến trao đổi, xin gửi về vietnamese@bbc.co.uk

 

Dự thảo Luật Đất Đai gây thất vọng lớn

2012-10-12
Dự thảo luật đất đai sau 1 tháng công khai lấy ý kiến đã gây thất vọng lớn cho giới chuyên gia, luật gia, nhân sĩ trí thức. Sự bất đồng ý kiến đã lên đến đỉnh điểm khi chuyên gia đề nghị lập ban soạn thảo khác.
AFP photo
Sài Gòn nhìn từ trên cao.

Kiến nghị lập ban soạn thảo mới

Báo chí Việt Nam đã có “bữa tiệc” thông tin phản biện với các tựa bài đầy hấp dẫn. Thời báo Kinh tế Việt Nam đưa tin “Sửa Luật Đất đai: Cần đổi mới từ…ban soạn thảo?”, trong khi VnExpress đặt tựa ‘Dự thảo Luật Đất đai chưa đi trúng yêu cầu thực tế’
Có thể nói những ý kiện phản biện mạnh mẽ nhất, đã được báo chí ghi nhận trong hội thảo lấy ý kiến của các doanh nghiệp về dự thảo Luật Đất đai sửa đổi tổ chức ngày 9/10 tại Hà Nội.
VnEconomy bản tin trên mạng ngày 9/10 ghi nhận, cuộc hội thảo thể hiện ý kiến chung là dự án Luật Đất đai sửa đổi còn thiếu khách quan, thiếu minh bạch, dành quá nhiều quyền cho cơ quan quản lý nhà nước. Nhiều diễn giả góp ý là nên đổi mới dự án luật này ngay từ khâu soạn thảo của các công chức Bộ Tài nguyên Môi trường.
TS Phạm Sĩ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng Hội Xây dựng Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, nhân vật có ý kiến gay gắt nhất tại Hội nghị ngày 9/10 nhận định: “dự thảo Luật không đáp ứng được đòi hỏi của Hội nghị Trung ương 5 là phải sửa đổi Luật Đất Đai 2003 một cách toàn diện”.
TS Liêm cũng đề nghị Quốc Hội lập ra và trực tiếp chỉ đạo một ban soạn thảo khác, gồm các chuyên gia giỏi cả nước trong lĩnh vực đất đai, tập trung làm việc trong 6 tháng để soạn thảo một dự tháo mới kịp thời đưa ra góp ý rộng rãi. Trả lời Nam Nguyên vào tối 11/10 từ Hà Nội TS Phạm Sĩ Liêm phát biểu:
“Tôi tin là Quốc hội sẽ lắng nghe vì hiện nay Quốc hội đã có nhiều ý kiến nổi lên. Hôm phát biểu chúng tôi có xin lỗi vì tôi nói hơi gay gắt, bởi vì tôi nhịn vấn đề này 10 năm nay rồi. Vừa rồi tôi phát biểu mạnh mẽ và các báo đăng, thật ra trong những hội thảo hay viết báo viết sách tôi đã nói những chuyện này nhưng chả ai quan tâm. Có lần hội thảo trực tiếp với những ngưới tham gia soạn thảo dự luật này, tôi có nói một vài kiến nhưng chẳng ai hỏi lại là chúng tôi muốn cái gì. Thế cho nên kỳ này không còn thể nể nang được phải nói tận cùng như vậy, tôi nghĩ được mọi người đón nhận.”
Tại cuộc họp có mặt đại diện Bộ Tài nguyên Môi trường và cộng đồng doanh nghiệp, chúng tôi nói thẳng rằng rất là thiếu niềm tin vào Bộ Tài nguyên Môi trường.
LS Trần Vũ Hải
Có mặt tại cuộc Hội thảo ngày 9/10 ở Hà Nội, Luật sư Trần Vũ Hải bày tỏ với Đài ACTD về sự thất vọng đối với bản dự thảo Luật Đất đai sửa đổi. Theo ông, hàng chục ngàn vụ tranh tụng khiếu kiện thời gian qua bắt nguồn từ những bất cập của Luật Đất Đai 2003 hiện hành, nhưng dự luật sửa đổi chưa thấy sự đột phá nào. LS Trần Vũ Hải nói:
“Tại cuộc họp có mặt đại diện Bộ Tài nguyên Môi trường và cộng đồng doanh nghiệp, chúng tôi nói thẳng rằng rất là thiếu niềm tin vào Bộ Tài nguyên Môi trường. Trong khi soạn thảo một dự luật đất đai mới mà bản thân họ không có hiểu biết nhiều về Luật Đất đai hoặc là họ không dám nhận trách nhiệm về những vấn đề liên quan.”

Trưng mua hay thu hồi

P1050746_c9ee1-250.jpg
Cảnh cưỡng chế đất tại Tiễn Lãng tháng 1/2012
Trong cuộc phỏng vấn của Nam Nguyên, TS Phạm Sĩ Liêm nhận định về những thiếu sót rất lớn trong Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi. Trước hết về mấu chốt đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu, TS Phạm Sĩ Liêm phát biểu:“Về quyền sở hữu, tôi vẫn tán thành là sở hữu công hay sở hữu chung, còn tên gọi thế nào tôi không quan tâm, gọi là sở hữu nhà nước sở hữu toàn dân chỉ là cách gọi thôi. Nhưng điều quan trọng hơn cả tên gọi của chế độ ấy là quyền sử dụng được luật pháp bảo vệ như thế nào, hiện nay vẫn là điều chưa được nói rõ. Do đó việc tùy tiện xâm phạm vào quyền sử hữu ấy đã diễn ra tương đối phổ biến, vì vậy chúng tôi đề xuất Quốc hội Việt Nam nên sớm ban hành Luật Tài sản. Trong đó tài sản bất động sản bao gồm cả quyền sử dụng đất và khi đã có quyền tài sản rồi thì có cả quyền chiếm hữu hưởng lợi định đoạt đối với tài sản đó như là thông lệ quốc tế ở các nước. Như vậy quyền sở hữu tài sản được bảo vệ, cần đưa ra luật riêng về vấn đề này.”
Điểm thứ hai TS Phạm Sĩ Liêm nhấn mạnh với chúng tôi là Dự Luật sửa đổi không phù hợp với giai đoạn đô thị hóa công nghiệp hóa ở Việt Nam mà cứ lấy nông nghiệp làm trung tâm. Cho nên không quan tâm gì đến các loại đất xây dựng hay đô thị mà chỉ nói chung chung. Dù vậy theo TS Liêm, ban soạn thảo trong khi nói chung chung như vậy thì đối với đất nông nghiệp lại không có qui định một cách cụ thể để bảo vệ đất canh tác và đất rừng.
Điểm thứ ba đặc biệt quan trọng liên quan tới việc thu hồi đất, TS Phạm Sĩ Liêm phản biện:
Chúng tôi đề nghị đúng như Hiến pháp qui định, khi Nhà nước cần đến thì trưng mua chứ không phải thu hồi bởi vì trên đất ấy còn có rất nhiều tài sản người dân.
TS Phạm Sĩ Liêm
“Chế độ thu hồi đất theo ý chúng tôi là không đúng từ quan điểm cho đến cơ chế rồi các thủ tục triển khai. Không đúng về quan điểm chúng tôi cho rằng, những người có đất bị thu hồi đem vào sử dụng chung thì phải xem họ là những người có đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước, cho nên ngoài phần thu hồi bị thiệt hại, thì họ cũng tương tự như những người có tiền bị thu hồi vốn, họ còn phải được hưởng lợi từ kết quả phát triển. Dù kết quả phát triển từ một con đường hay từ một dự án phát triển đô thị.
Vì vậy chúng tôi đề nghị đúng như Hiến pháp qui định, khi Nhà nước cần đến thì trưng mua chứ không phải thu hồi bởi vì trên đất ấy còn có rất nhiều tài sản người dân. Còn về giá chúng tôi đề nghị giá công bằng, còn công bằng thế nào thì sẽ giải thích trong dịp khác.”
Về vấn đề thủ tục, TS Phạm Sĩ Liêm đề nghị, hoặc áp dụng thủ tục hai giai đoạn như luật của Pháp, đó là từ giai đoạn thủ tục hành chính sau đó sang giai đoạn thủ tục tư pháp. Hay như Canada nếu cuối cùng bất đồng về vấn đề giá thì hai bên có quyền đưa đến tòa án đất đai.

Mơ hồ quyền sở hữu

044_B87826026-200.jpg
Ruộng lúa Việt Nam. AFP
VnExpress ngày 10/10 trích ý kiến GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, nhận định rằng Dự thảo Luật Đất đai lần này chưa giải quyết “trúng” những khó khăn thực tế. Ông Võ nhấn mạnh là nếu đi theo hướng của dự thảo được công bố, thì chắc chắn nó sẽ vẫn làm tồn tại tham nhũng, khiếu kiện. Đây chính là 2 yếu tố nóng nhất trong việc thực hiện Luật Đất đai hiện nay. GS Võ nói rằng, hiện nay các địa phương khi thu hồi đất đã tận dụng cơ chế thu hồi đất rồi giao trực tiếp cho nhà đầu tư. Trong khi, theo ông cơ chế tốt nhất là tự thỏa thuận vì nó tạo được đồng thuận xã hội, không làm cho người dân khiếu kiện và không có sự can thiệp của Nhà nước để tạo ra nguy cơ tham nhũng.
Nhận định về ý kiến vừa nêu của GS Đặng Hùng Võ, TS Phạm Sỹ Liêm nói rằng ông tán thành. Về vấn đề thu hồi đất, ông đề xuất kết hợp kết hợp với chế độ dự trữ đất. Theo chế độ dự trữ đất thì Nhà nước làm việc với nông dân chứ không phải là doanh nghiệp làm việc với các nông dân. Sau khi có thu hồi dự trữ rộng lớn nhà nước sẽ cung ứng cho bất kỳ ai có nhu cầu. TS Phạm Sĩ Liêm nhấn mạnh:
“Khi nhà nước làm việc trực tiếp với nông dân thì nhà nước không thể không minh bạch. Chứ còn để doanh nghiệp làm việc trực tiếp với nông dân, thì các chính quyền đứng ở đàng sau nếu có đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp thì họ mới có điều kiện để tham nhũng.”
Dù cho là 20 năm hoặc 50 thì người chủ vẫn không phải là mình. Tôi xuất tiền ra mua đất nhưng mình không thực sự làm chủ… cái này rất khó.
Một nông dân ĐBSCL
Có lẽ Dự luật đất đai sửa đổi được công bố lấy ý kiến đã chỉ có sự thay đổi quan trọng được ghi nhận liên quan đến đất nông nghiệp, là nâng thời hạn sử dụng đất từ 20 năm lên 50 năm. Hạn điền vùng đồng bằng đối với cây trồng một năm vẫn là 3 héc ta mỗi hộ gia đình, cá nhân, tuy vậy hạn mức chuyển nhượng được nâng lên tối đa 30 héc ta. Nhưng điều quan trọng đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu cho nên người dân có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào và dự luật mới chưa có đột phá gì về cơ chế thu hồi và đền bù một cách minh bạch. Một nông dân trồng lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long tuy phấn khởi về việc thời hạn sử dụng đất được tăng từ 20 năm lên 50 năm, nhưng vẫn e dè về việc tích tụ ruộng đất vì sự mơ hồ về quyền sở hữu. Ông nói:
“Dù cho là 20 năm hoặc 50 thì người chủ vẫn không phải là mình. Cũng không dám mở rộng ruộng đất nhiều. 50 năm hết đời mình còn đời con đời cháu, tôi xuất tiền ra mua đất nhưng mình không thực sự làm chủ… cái này rất khó.”
Theo chương trình, Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi sẽ được chính phủ chuyển qua Quốc hội trong kỳ họp thứ 4 năm 2012 và Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua vào cuối năm 2013. Các ý kiến phản biện đã được nhân sĩ, chuyên gia, trí thức trình bày rất nhiều, điều còn lại là các nhà soạn thảo dự luật lắng nghe như thế nào và trên hết những phản biện đó có phù hợp với quan điểm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng hay không thì lại là một chuyện khác.
  http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/review-of-domestic-press-online-nn-10122012124743.html



 Hiện trạng nhân quyền Việt Nam 
- Phải làm gì?
2012-10-13
Mặc cho bao nhiêu lời kêu gọi, bao nhiêu áp lực từ quốc tế, Việt Nam vẫn liên tục đàn áp mọi quyền tự do của người dân trong nước. Quốc tế phải giải quyết vấn đề này ra sao? Đài RFA đặt câu hỏi này với Phó giám đốc Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Quốc tế Human Rights Watch, ông Phil Robertson, trong cuộc phỏng vấn sau đây.

RFA photo
Phil Robertson và Việt-Long
Việt-Long: Ông nhận thấy tình trạng nhân quyền tại Việt Nam nay ra sao sau khá nhiều những thông cáo, tuyên bố, lời kêu gọi của cộng đồng quốc tế về việc cải tiến nhân quyền tại nơi đó?
Phil Robertson: Thật không may chúng tôi phải nói chính quyền Việt Nam đã làm cho tình trạng nhân quyền ở Việt Nam hiện nay suy thoái rất trầm trọng trong hai năm qua. Chúng ta thấy toà án Việt Nam càng ngày xử càng nhiều những bloggers, những người dân phản đối chính quyền chiếm đất đai nhà cửa của họ, và những tín đồ tôn giáo. Nói chung là chính quyền đàn áp quyền tự do bày tỏ ý kiến và tự do hội họp của rất nhiều người thuộc mọi giới. Chính quyền Việt Nam đã tỏ ra rất mạnh mẽ trong việc sách nhiễu những người hoạt động và bất đồng chính kiến, không phải chỉ riêng những cá nhân đó mà còn cả gia đình họ cùng những người liên hệ, như gây sức ép với thân nhân, với chủ nhà chủ đất, cả chủ công ty nơi họ làm việc, để tăng cường tối đa áp lực làm im tiếng những người dám nói những lời chống đối chính phủ. Bản án mới nhất bỏ tù ba nhà báo tự do Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải với những bản án mà nặng nhất là 12 năm, chỉ vì phổ biến ý kiến cá nhân trên internet. Đó là những hành vi đáng lẽ không thể bị đem truy tố, đừng nói phải bị án nặng nề như vậy.
Việt-Long: Ông nghĩ vì sao nhà cầm quyền Việt Nam tai ngơ mắt lấp trước mọi lời kêu gọi và lên án của cộng đồng quốc tế?

Phil Robertson: Trước hết vì chính quyền Hà Nội lo cho an ninh của chính họ, thứ nhì là không muốn chuyện tham nhũng của những người cao cấp nhất bị đem ra ánh sáng và bị coi là làm nguy hại cho nền kinh tế. Những chuyện xấu lại liên quan đến khả năng quản trị điều hành kém của những người ở cấp cao, liên quan đến những người lạm dụng quyền lực để lấy đất hay kinh doanh theo đường lối xâm phạm quyền sử dụng hay cư trú trên mảnh đất cố hữu của người dân, rồi những nạn nhân đó đã bị quyền lực cấp cao buộc họ im tiếng.

Việt-Long: Chính phủ Hoa Kỳ cũng như các tổ chức nhân quyền luôn luôn kêu gọi Việt Nam cải tiến về nhân quyền, Tổng thống Barrack Obama còn nêu đích danh blogger Điếu Cày để yêu cầu Việt Nam phóng thích, nhưng mọi việc đều như nói với người điếc. Cộng đồng quốc tế có thể làm gì cho nhân quyền ở Việt Nam?

Phil Robertson: Chính phủ Hoa Kỳ có nói công khai đến vấn đề đó nhưng như vậy chưa đủ, mà còn phải tiến xa hơn. Vấn đề nhân quyền phải được đề cập đến trong cuộc thương thảo về hiệp ước tự do mậu dịch xuyên Thái Bình Dương TPP chẳng hạn. Đó là hiệp ước thương mại quan trọng giữa Hoa Kỳ với 11 nước kể cả Việt Nam. Hà Nội phải hiểu rằng họ cần được tham dự một “câu lạc bộ” như vậy để làm kinh tế với Hoa Kỳ cũng như nhiều nước khác trong cộng đồng quốc tế. Mới trước đây Việt Nam đã viện cớ Miến Điện, nói là Việt Nam còn hơn Miến Điện về nhân quyền nhưng tại sao quốc tế cứ để ý đến Việt Nam hơn. Nay thì Miến Điện đã thay đổi theo chiều hướng tốt cho nhân quyền tuy rằng đường còn xa để tới đích, Việt Nam không còn đem Miến Điện ra làm lý cớ để không bị chú ý về nhân quyền, và nay Việt Nam trở thành nước xâm phạm nhân quyền nặng nề nhất trong toàn khối ASEAN. Cho nên quốc tế phải làm sao cho Chính phủ Việt Nam phải nhận ra rằng họ không thể có quan hệ kinh tế, thương mại, ngoại giao tốt đẹp với thế giới nếu họ không cải thiện được nhân quyền trong nước.
Việt-Long: Ông nghĩ sao về việc Việt Nam xin vào Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc?

Phil Robertson: Chuyện đó cũng còn lâu, đến 2014 mới có cuộc đầu phiếu cho chiếc ghế ở Hội đổng Nhân quyền này. Tuy nhiên căn cứ vào những tì vết về nhân quyền của Việt Nam thì Việt Nam chưa xứng đáng được ngồi vào chỗ đó. Việt Nam vẫn còn liên tục vi phạm các quyền căn bản như quyền tự do ngôn luận, mà chỉ riêng một vi phạm đó cũng đã đi ngược lại Công ước về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam phê chuẩn và tham gia. Khi bộ trưởng ngoại giao Việt Nam nói bản án của Điếu Cày và các blogger là phù hợp với luật pháp Việt Nam thì như vậy vấn đề là luật pháp Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế. Thế nên vấn đề đó phải được chính phủ Việt Nam giải quyết trước khi họ có thể tham dự Hội Dồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.
Việt-Long: Tuy nhiên chúng tôi được biết dường như bộ ngoại giao Hoa Kỳ có thể ủng hộ cho Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền, theo quan niệm rằng Việt Nam được “gần đèn thì sáng”?

Phil Robertson: Nếu bộ ngoại giao nói như vậy thì quả là khá ngây thơ! Tôi thì tôi nhìn vào hành động của Việt Nam trong đôi ba năm qua và thấy rõ họ có một vai trò tiêu cực về nhân quyền. Họ đưa những nhóm NGO do Việt Nam tố chức tới hội nghị của Tổ chức xã hội dân sự ASEAN hầu cản trở tiến trình hội nghị. Họ đòi chính phủ Thái Lan cấm cản những cuộc họp báo tại Băng Kốc của những tồ chức nhân quyền quốc tế tố giác những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Việt Nam đã theo dõi sát tổ chức của người Khmer Krom và loại được họ ra khỏi vị trí quan sát trong Hội đồng Kinh tế Xã hội Liên Hiệp Quốc UNESOC nhóm họp tại New York. Vì thế Việt Nam chỉ là một thành phần phá phách tiêu cực trong những hoạt động nhân quyền quốc tế, cho nên vào được Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc thì Việt Nam sẽ hành xử giống như Cuba, đã gây những ảnh hưởng rất tiêu cực cho Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Chỉ phá ngang tiến trình hội nghị, ủng hộ những hành vi xâm phạm nhân quyền của các nước xấu, và nỗ lực ngăn cản Liên Hiệp Quốc điều tra về nhân quyền.
Việt-Long: Xin cám ơn ông Phil Robertson đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.
2012-10-12
Khác với những Hội nghị Trung ương những lần trước, Hội nghị Trung ương 6 lần này được sự quan tâm đặc biệt của nhiều người vì những dấu hiệu có tính chất đấu đá nội bộ hiện ra khá rõ.


AFP photo
Từ trái qua: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trong phiên bế mạc Đại hội toàn quốc ĐCS VN lần thứ 11 tại Hà Nội vào ngày 19 tháng 1 năm 2011.

Reuters vào cuộc

Một bài viết của tác giả Stuart Grudgings thuộc hãng tin Reuters xuất hiện vào ngày 9 tháng 10 làm cho những nguồn tin về chuyện đấu đá nội bộ trong đảng cộng sản Việt Nam rõ hơn dưới cái nhìn của một ký giả ngoại quốc. Tác giả bắt đầu từ chuyện nổi lên của trang mạng Quan Làm Báo sau khi bầu Kiên bị bắt và những tố giác của nó đã thúc đẩy câu chuyện khó xảy ra trong nội tình đảng cộng sản Việt Nam trở nên sáng tỏ.
Câu chuyện đấu đá giữa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang liên minh lại để phê phán các hành vi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong Hội nghị Trung ương 6 không còn là chuyện rỉ tai, đồn đoán khi báo chí ngoại quốc vào cuộc. Sự tình ngày một trầm trọng hơn khi trang mạng nổi tiếng Quan Làm Báo bị hacker thay đổi đường dẫn tới một trang khác đưa những hình ảnh riêng tư của gia đình bà cựu đại biểu Quốc Hội Đặng Thị Hoàng Yến người được cho là thân cận với chủ tịch nước Trương Tấn Sang với những lời nhắn rất vô học gây phẫn nộ dư luận.
Mặc dù tất cả 700 tờ báo trong nước hoàn toàn không có một mẩu tin dù rất nhỏ về những gì đang xảy ra nhưng bất cứ việc lớn nhỏ nào cũng được hàng trăm trang blog cá nhân theo dõi rất kỹ. Những thông tin từ các trang blog tuy rời rạc nhưng lại là một chuỗi xuyên suốt về tất cả những nguyên nhân, dữ kiện khiến cuộc chiến âm ỉ này trở thành chiến trường ngay trong bàn Hội nghị Trung ương 6.
Càng gần ngày bế mạc tin đồn càng nhiều. Viễn ảnh về sự ra đi của Thủ tướng không còn mờ nhạt như khi Hội nghị mới khai mac. Dù vậy vẫn có rất nhiều người không tin rằng đảng cộng sản Việt Nam lại chấp nhận cắt bỏ một phần thân thể của mình mặc dù cuộc chiến tranh giành quyền lực đã đến hồi phải kết thúc.

Đấu đá nội bộ

Ông Mai Thái Lĩnh, nguyên Phó Chủ tịch HĐND thành phố Đà Lạt từ năm 1989 tới 1994 đưa ra nhận xét:
Theo tôi thì những chuyện trong nội bộ mâu thuẫn với nhau thì tôi nghĩ là có. Căn cứ vào nhiều dấu hiệu bên ngoài thì thấy như vậy, nhưng vì những vấn đề đó không được giải quyết công khai mà xảy ra trong Hội nghị kín của Ban chấp hành Trung ương và Bộ chính trị cho nên rất khó biết được độ chính xác của nó.
Nhiều anh em đảng viên có những người đặt tin tưởng rằng sẽ có một kết quả nào đó tốt hơn nhưng riêng bản thân tôi và một số anh em khác qua kinh nghiệm sống lâu dưới chế độ này thì tôi không tin lắm vào kết quả cuối cùng. Bởi vì những vấn đề quốc gia đại sự đáng lẽ phải được diễn ra công khai trong diễn đàn quốc hội, hoặc trên báo chí cho mọi người được biết, chứ còn kết quả diễn ra trong nội bộ thường thì theo kinh nghiệm chúng tôi thấy nó cũng có thỏa hiệp bên trong và kết quả cuối cùng mà mình biết bên ngoài cũng sẽ không chính xác.
Đảng cộng sản thường hay che dấu mâu thuẫn nội bộ của mình vì vậy cho nên rất nhiều sự thực mà nhiều năm sau, có khi hàng chục năm sau chúng ta mới biết. Chẳng hạn như Hội nghị Thành Đô giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1990 chẳng hạn, sau khi nó diễn ra thì hàng chục năm sau do những tài liệu, những tiết lộ nội bộ của những người trong đảng thì mới biết được phần nào. Cho nên tôi nghĩ chuyện này có thể kết quả bên trong là một phần nhưng mà công khai ra ngoài thì nó lại khác đi vì vậy cũng khó biết lắm.

000_Hkg5156689-250.jpg
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. AFP photo 
Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu, một đảng viên bất đồng chính kiến nổi tiếng đã chia sẻ với chúng tôi những suy nghĩ của ông trước hiện tượng này (1):
Thật ra chúng ta cũng đã biết là hội nghị uýnh nhau giữa hai phe trong đảng. Mặc dù ngôn ngữ chính thống thì các vị ấy vẫn muốn duy trì ngôn ngữ nội bộ nhưng thật ra bên trong ai cũng biết có sự đấu tranh rất nặng nề giữa hai phe, tuy nhiên đối với tôi thì nó không có gì mới cả.
Khi viết bài “Chia tay ý thức hệ” tôi đã phân tích: kinh tế thị trường nhưng định hướng xã hội chủ nghĩa thì tự nó đã phải đánh nhau. Nó sinh ra hai phía, một phía làm kinh tế thị trường thì đương nhiên được lợi nhuận rất nhiều. Nhiều tiền, nhiều đô la. Còn phía giữ kiên định xã hội chủ nghĩa, làm chính trị thì đương nhiên không có lợi lộc gì bao nhiêu. Một anh phải gác cổng để anh kia vơ tiền thì tất nhiên hai cái nửa này phải đánh nhau thôi.
Trước đây nếu có mâu thuẫn nội bộ thì họ giữ kín lắm, nhưng bây giờ không giữ đựơc nữa phải khui ra thì đấy là một bước đi xuống rất rõ.
Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu
Phe ông Trọng, ông Sang là phe giữ cái định hướng. Phe làm kinh tế thị trường là phe ông Dũng. Quả thật sau gần hai mươi năm đúng như ý của tôi đã viết thì không có gì ngạc nhiên cả.
Thực ra dân bây giờ người ta cũng không hy vọng gì nhiều vào cái hội nghị này đâu bởi vì dù là có mâu thuẫn với nhau đến mức nào chăng nữa thì cả hai phe cũng giống nhau rất căn bản. Thứ nhất là phải giữ được đảng. Giữ được độc quyền rồi thì phía nào cũng có thể tồn tại và làm ăn được. Thứ hai, đã thế thì phải chống dân chủ, tức là không để cho nhân dân có quyền phê phán. Thứ ba là anh nào muốn giữ thế thượng phong thì đều phải dựa vào Tàu, tức là cũng phải thân Tàu. Mức độ có thể khác nhau nhưng bản chất thì rất giống nhau.
Về căn bản đã giống nhau thì họ phải thỏa hiệp. Phải nói rằng so với trước thì đây là một hiện tượng chưa từng có. Trước đây nếu có mâu thuẫn nội bộ thì họ giữ kín lắm, nhưng bây giờ không giữ đựơc nữa phải khui ra thì đấy là một bước đi xuống rất rõ. Thế nhưng người dân dù không biết gì cả nhưng vẫn đoán ra đựơc là các ông ấy phải thỏa hiệp với nhau.

Sẽ không giải quyết được gì

Nguyên nhân mà TS Hà Sĩ Phu đưa ra có thể sáng tỏ hơn bởi tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc. Ông là người cảnh báo hội nghị 6 phải rút kinh nghiệm bài học Thành Đô và đối với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ông không ngại gì khi tố cáo:
Toàn dân người ta đã biết ông Thủ tướng không có năng lực quản lý xã hội, quản lý kinh tế cho nên chưa bao giờ kinh tế của chúng ta nó sa sút như bây giờ. Sự không có năng lực của ông ấy là đã rõ. Mặt khác các tập đoàn kinh tế nào là Vinashin, Vinalines rồi còn bao nhiêu tập đoàn kinh tế khác mà ông Thủ tướng trực tiếp quản lý đã thất thoát hàng ngàn tỷ của nhân dân, thiệt hại quá lớn. Vì vậy nếu ông ấy cứ tiếp tục thì thiệt hại lớn lắm. Kinh tế sẽ còn sa sút và các tập đoàn kinh tế sẽ còn thất thoát đến đâu nữa, như vậy thì còn gì nguy hại hơn nữa?
Mặt khác ông ấy lại độc đoán, độc tài vì vậy nếu còn nắm quyền thì ông ấy còn làm bao nhiêu thứ khác chỉ có hại cho đất nước.
Tôi nghĩ là họ không giải quyết được gì. Họ sẽ không dứt điểm được bởi vì cái mà họ đặt quan trọng nhất là sự tồn tại của đảng và họ sẽ thỏa hiệp với nhau để đảng tiếp tục tồn tại.
Đại tá Phạm Đình Trọng
Nhà báo quân đội, Đại tá Phạm Đình Trọng, tác giả bài viết nổi tiếng "Ăn mày dĩ vãng: thực chất cuộc vận động tư tưởng Hồ Chí Minh" cho biết nhận xét của ông vê Hội nghị 6 lần này:
Tôi nghĩ là họ không giải quyết được gì. Họ sẽ không dứt điểm được bởi vì cái mà họ đặt quan trọng nhất là sự tồn tại của đảng và họ sẽ thỏa hiệp với nhau để đảng tiếp tục tồn tại. Luật pháp lớn nhất của Việt Nam là điều 4 hiến pháp, tức là sự tồn tại của đảng, thành ra khi họ làm gì thì họ phải bảo đảm sự tồn tại của đảng. Việt Nam không có luật pháp cho dân. Nếu theo luật thì ông Nguyễn Tấn Dũng phải được đưa ra quốc hội và quốc hội phải xử lý chứ không phải xử lý trong đảng.
Cuộc họp vẫn đang diễn ra tại Hà Nội và dự kiến sẽ có kết quả cụ thể trong ngày bế mạc vào thứ Hai ngày 15 tháng 10 sắp tới. Thế nhưng khó kỳ vọng vào cuộc họp tuy dưới danh nghĩa là phê bình kiểm điểm nhưng thực chất là chia sẻ bớt quyền lực trong nội bộ đảng. Dư luận cho rằng nhân dân vẫn là người thiệt hại nhất vì dân chủ là thứ quyền lực ít ỏi mà họ đang có sẽ ngày càng càng teo tóp lại bởi thứ mà nhà nước rất cần là "Sự thống trị của đảng cộng sản Việt Nam" lại đối nghịch hoàn toàn với ước mơ dân chủ của người dân.
(1) Chúng tôi xin đính chính lại: Ông Hà Sĩ Phu không phải là đảng viên cộng sản, mặc dù có lúc làm Phó giám đốc Phân viện Khoa học Việt Nam tại Đà Lạt. Xin cáo lỗi cùng ông Hà Sĩ Phu và độc giả.

No comments: