Sunday, July 18, 2010

DƯƠNG DANH DY * MỘT SỐ TỒN TẠI LỚN CỦA TRUNG QUỐC

Một số tồn tại lớn của Trung Quốc

Dương Danh Dy

Sau 30 năm tiến hành cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu rất to lớn về mọi mặt, không ai có thể phủ nhận. Tuy vậy trong cuộc phát triển có thể nói là nhanh như vũ bão chưa từng có ấy, Trung quốc hiện đang đứng trước nhiều vấn đề, nhiều tồn tại lớn, không thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà nếu xử lý không tốt, hoặc khi khí hậu, tình hình quốc tế có nhưng diễn biến đột xuất, có thể phát sinh những chuyện khó lường. Những tồn tại, những vấn đề, những số liệu, những nhận định dưới đây đều lấy từ những tài liệu công khai của Trung Quốc hoặc của những tờ báo, hãng thông tấn nước ngoài có uy tín, nhằm giúp người đọc hiểu thêm “ mặt trái” của Trung Quốc, một mặt mà trong thời gian qua vì nhiều lý do chúng ta đã không chú ý, hoặc không muốn, hay ngần ngại không đề cập tới.


Người viết hoàn toàn không có ý định hạ thấp hoặc nói xấu, hoặc…đối với người bạn lớn phương Bắc của chúng ta, người - mặc dù vẫn tự xưng là nước đang phái triển - nhưng thực ra đã là siêu cường thứ hai trên thế giới rồi.Tuy vậy, cần thấy rằng dù đã là siêu cường thứ hai, nhưng không phải là người khổng lồ đó không có gót chân Asin. Người viết còn muốn nói thêm rằng, do cùng từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa( hay kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa) hơn nữa Trung Quốc lại tiến hành cải cách trước, nên một số việc làm chưa tốt hay tồn tại của họ, nếu biết nghiêm túc, khôn ngoan…rút kinh nghiệm thì có thể là những bài học có ích.


Những tồn tại theo Báo cáo chính trị tại ĐH 17 ĐCSTQ (15/10/2007)

-Trả giá quá lớn đối với tài nguyên, môi trường trong tăng trưởng kinh tế, -Phát triển không cân đối giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền, giữa kinh tế và xã hội;(nông thôn phát triển tụt hậu) - Phát triển ổn định nông nghiệp và duy trì tăng thu nhập cho nông dân ngày càng khó khăn hơn - Việc làm, bảo đảm xã hội, giáo dục y tế, nhà ở, tư pháp, trị an xã hội v.v.. tồn tại khá nhiều vấn đề -Xa xỉ, lãng phí ,tiêu cực tham nhũng vẫn khá nghiêm trọng -Xu thế mở rộng khoảng cách phân phối thu nhập(nhất là giữa thành thị và nông thôn) về cơ bản vẫn chưa xoay chuyển được, -Dân số nghèo ở thành thị và nông thôn, ngưòi thu nhập thấp vẫn còn một sô lượng tương đối lớn. -Khó khăn trong qui hoạch tổng thể lợi ích các bên, -Cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, sức ép về kinh tế, khoa học công nghệ của các nước phát triển vẫn tồn tại lâu dài. ……….

Còn có thể nhặt thêm một số tồn tại nữa trong báo cáo trên., nhưng có lẽ như vậy cũng đã tương đối đủ. Tất nhiên những mặt chưa nêu đủ cũng sẽ được đề cập tới. Trước hết phải nói rằng, những nhận xét đánh giá trên của TW ĐCSTQ là tương đối chính xác, đúng mức và có phần “dũng cảm”, vì họ đã dùng đến những từ như “trả giá quá lớn…”, “phát triển tụt hậu” , “khá nghiêm trọng”, “cơ bản vẫn chưa xoay chuyển được”,”sức ép vẫn tồn tại lâu dài” v.v..

Nhưng nếu đi sâu vào vấn đề, sẽ thấy những nhận định đánh giá đó còn chưa cụ thể, chưa đủ độ sâu, chưa nói hết được những nguy cơ tiềm ẩn. Dưới đây là những vấn đề cụ thể:

Vấn đề tài nguyên

Để đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp, năm 2007 TQ khai thác 2.536 triệu tấn than (tăng 6,9% so với năm trước), 187 triệu tấn dầu thô (tăng 1,1%-nt), sản xuất 23,9 triệu tấn sợi hoá học (tăng 10,3% -nt) 568,94 triệu tấn thép (tăng 21,3%-nt),1360 triệu tấn xi măng (tăng 9,9%-nt), 57,87 triệu tấn phân hoá học (tăng 8,3%-nt) hơn 84 triệu TV mầu (tăng 0,7%-nt) hơn 44 triệu tủ lạnh (tăng 24,5%-nt) hơn 80 triệu điều hoà không khí (tăng 17%-nt), hơn 8,8 triệu ôtô các loại (tăng 22,1%-nt) v.v.., mỗi năm Trung Quốc cần một lượng nguyên vật liệu khổng lồ. Mặc dù trong nước còn có dự trữ (trữ lượng) nhưng một số năng lượng, nguyên vật liệu thiết yếu đã có dấu hiệu cạn kiệt. -từ năm 1993, TQ đã từ nước xuất khẩu dầu mỏ trở thành nuớc nhập khẩu dầu mỏ với số lượng ngày càng lớn.

Năm 2004 nhập khẩu 120 triệu tấn, năm 2005 nhập khẩu 136 triệu tấn (trên tổng lượng tiêu thụ là 317 triệu tấn), năm 2007 nhập gần 200 triệu tấn (trong khi dự kiến trước đó là đến năm 2010 mới phải nhập 160 triệu tấn) lượng nhập khẩu dầu đã nhiều hơn lượng sản xuất trong nước và tốn một lượng ngoại tệ là 96,2 tỷ USD. Lượng tiêu dùng dầu mỏ của TQ đã đứng thứ ba trên thế giới (sau Mỹ, Nhật) Khi một nước mà một năm phải nhập khẩu trên 100 triệu tấn dầu là có nguy cơ về an ninh quốc gia, nếu thế giới hoặc khu vực nhập khẩu chính có sự kiện đột biến.

Hơn nữa cần chú ý là 50% lượng dầu nhập khẩu của TQ đến từ Trung Đông, 25% từ châu Phi, 15% từ Đông Nam Á, 80% lượng dầu nhập khẩu đều phải qua eo biển Malacca (dễ bị người ta “phong toả” khi có chuyện, trong khi của Mỹ lượng dầu nhập khẩu có tới 3/4 là từ Canada, Mehico,Venexuela…với Mỹ là an toàn trong vận chuyển hơn nhiều) ngoài ra 90% lượng dầu nhập khẩu của TQ phải vận chuyển bằng tầu chở dầu nước ngoài, và một tồn tại lớn là đến nay TQ hầu như chưa có kho chứa dầu dự trữ. (Nhân đây xin nói thêm, ở những nước tiên tiến như Nhật bản, khi kinh tế tăng trưởng 100 điểm thì tiêu hao dầu mỏ mới tăng 10 điểm, trong khi của TQ là kinh tế tăng 100 điểm thì tiêu hao dầu mỏ phải tăng tới 80 điểm!

Qua đó có thể thấy trong tương lai gần, lượng nhập dầu mỏ của TQ còn tăng hơn nữa) Đứng trước mấy vấn đề: tìm cho được và bảo đảm nguồn cung cấp dầu mỏ cũng như bảo đảm đường vận chuyển, TQ đã chạy vạy khắp nơi tìm nguồn (Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh..) ra sức đầu tư bằng mọi cách, nhiều khi bất chấp áp lực chính trị (vấn đề Dafur ở Sudan, quan hệ với chính quyền quân sự Myanmar v.v..) -TQ thiếu nhiều loại kim loại mầu, năm 2007 nhập 1,4 triệu tấn đồng, 8700 tấn Molyden, có tháng phải nhập hơn 3000 tấn thiếc v.v.. -năm 2007 nhập 1,33 triệu tấn cao xu nhân tạo, 2,46 triệu tấn bông v.v..

Qua việc thương nhân TQ săn lùng mua than, quặng kim loại các loại, một số nguyên, vật liệu.. cũng như hăng hái tìm cách đầu tư vào lĩnh vực này ở nước ta càng thấy rõ thêm vấn đề. Có người TQ đã cảm khái thốt lên: “chúng ta đã và đang ăn vào tài nguyên của đời con, đời cháu.”

Vấn đề ô nhiễm môi trường

Để có hiệu quả nhanh, tốn ít đầu tư, để chiều lòng khách đầu tư nước ngoài và vì nhiều nguyên khác nữa như sự thiếu hiểu biết, sự liều mạng, bất chấp v.v.. sau 30 năm cải cách mở cửa, tình trạng ô nhiễm của TQ đã đến độ cực kỳ nguy hiểm. Không phải tự nhiên báo cáo chính trị ĐH 17 phải đề xuất xây dựng “văn minh sinh thái” và trong 5 “siêu bộ” được thành lập tháng 3 năm 2008 có “Bộ Môi trường” -Ô nhiễm nước (bao gồm nguồn nước trên các sông, hồ, biển, nguồn nuớc ngầm, nguồn nước dùng cho người…)

Số liệu chung nhất là 70% nuớc sông, hồ.. và 90% nguồn nước ngầm của TQ đã bị ô nhiễm với mức độ khác nhau Theo “Báo cáo sinh thái sông Trường Giang”, “Báo cáo sinh thái sông Hoàng Hà”. “Báo cáo sinh thái sông Hoài” của đoàn khảo sát Quốc Hội TQ thì có những nơi ở đó “đầy những bọt hoá học, đen xịt, thối hoăng”, trong nuớc “có hàm lượng vật chất có hại cao.” Nước sông Hoàng Hà ô nhiễm tới mức có nơi người ta buộc phải dùng nước ô nhiễm để tưới cho cây trồng, mang lại nguy hại cho sức khoẻ của con người và động vật. Nguồn nuớc ô nhiễm đã làm cho hơn 10% cây công nghiệp của TQ bị nhiễm kim loại nặng và các vật ô nhiễm khác. Ở một số nơi muối làm ra cũng bị ô nhiễm.

Mỗi năm có khoảng 30 tỷ tấn nước ô nhiễm chưa trải qua xử lý đã thải ra sông, hồ, ngoài ra còn có 24 tỷ tấn phế thải công nghiệp.Từ năm 2003, mỗi năm TQ chí ít có 5 triệu TV, 4 triệu tủ lạnh, 6 triệu máy giặt cần vứt bỏ, đó là nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng không thể coi thường. Các điểm nối mạch trong các máy này bằng thiếc, chì, bạc kẽm, đồng.., khi tận dụng thưòng gây ra ô nhiễm. Xin nêu một ví dụ cụ thể: thôn Quí Vực, ngoại thành thành phố Sán Đầu tỉnh Quảng Đông là nơi thu hồi các phế liệu điện tử lớn nhất tỉnh từ năm 1995 bằng phương pháp thủ công, hiện nay môi trường đã bị xâm hại nghiêm trọng.

Vật chất độc thấm xuống đất, ngấm vào nước bốc lên trời làm môi trường ô nhiễm nặng, đến mức trẻ em mới sinh ở đây thường bị dị hình, phải vận chuyển nước từ ngoài 30 km về dùng, hàm lượng các kim loại độc cao hơn mức tiêu chuẩn hàng trăm tới hàng ngàn lần(theo tạp chí DuZhe, TQ). Báo cáo công tác của Chính phủ tháng 3 năm 2008 tai Quốc hội cho biết năm 2007 đã giải quyết cho 97,48 triệu cư dân nông thôn gặp khó khăn trong việc cung cấp nước uống và nước uống không an toàn, năm 2008, Chính phủ có kế hoạch giải quyết vấn đề nước uống không an toàn cho 32 triệu nông dân…

Bột Hải (được coi như nội hải của TQ) vì phải chứa các nguồn nước ô nhiễm và phế thải công nghiệp nên đang đứng trước nguy cơ sẽ là “biển chết” và nếu là “biển chết” thì phải mất 200 năm mới cứu được. Thái Hồ (hồ nước ngọt lớn của TQ) đã bị ô nhiễm tới mức phải bỏ ra 15 tỷ USD trị lý trong 10 năm mới có thể trở lại như xưa (trong đó có việc phải đóng cửa hàng ngàn xí nghiệp nhỏ chưa giải quyết được vấn đề ô nhiễm như 772 xí nghiệp hoá chất, 125 nhà máy chế tạo accu, 76 nhà máy giấy v.v.. và việc Thủ tướng Ôn Gia Bảo phải đứng ra chủ trì một cuộc họp chuyên giải quyết vấn đề ô nhiễm ở đây cho thấy tình trạng nghiêm trọng của vấn đề) -Ô nhiễm không khí. 70% năng lượng của TQ là than (mỗi năm dùng tới trên 3000 triệu tấn) cộng thêm khói bụi của hàng vạn nhà máy (chưa qua xử lý), của hàng trăm triệu chiếc ôtô, xe có động cơ… đã làm cho TQ trở thành nước có lượng khí thải CO2 lớn nhất thế giới, gây hiệu ứng nhà kính rất cao.

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới mỗi năm TQ có khoảng 750.000 người chết vì ô nhiễm (chủ yếu là do ô nhiễm không khí) còn số người sau đó hàng mươi, hai mươi năm mới chết vì bị ung thư thì chưa tính được. 60% dân số thành phố TQ chịu mức ô nhiễm không khí cao hơn 5 lần tiêu chuẩn của WHO. (Một nguồn tin TQ nói, mỗi năm TQ có từ 800.000-1.000.000 trẻ em vừa đẻ ra đã bị dị hình.) Cái giá phải trả cho ô nhiễm rất cao (năm 2003 cái giá phải trả cho ô nhiễm sức khoẻ vào khoảng 6% GDP) Cuốn báo cáo văn học “Vì sao dân lấy ăn làm trời”(xuất bản năm 2004) của Chu Kình-một tác giả đại lục- được giải thưởng “báo cáo văn học Lettre Ulysses” của Đức(?) cho biết do an toàn thực phẩm ngày càng kém nên mỗi năm có từ 20-40 vạn người trúng độc thực vật, ước 1/3 số ngưòi bị ung thư là từ ăn gây ra.


Cộng thêm trong thực phẩm có chất kích thích nên có nơi bé gái 7 tuổi đã thấy kinh, bé trai 6 tuổi đã có râu, nồng độ tinh trùng của đàn ông ngày càng loãng, sau 50 năm nữa đại đa số người Quảng Đông sẽ mất năng lực sinh dục. Phải chăng, những thuyết minh cụ thể trên đã nói lên tương đối đầy đủ và sâu sắc thêm ý nghĩa của câu “ phải trả giá quá lớn”?

Phát triển không cân đối giữa thành thị và nông thôn

TQ tiến hành cải cách ở nông thôn trước bằng việc thực hiện khoán sản lượng tới hộ. Do được làm chủ ruộng đất và tự vạch kế hoạch làm ăn… tính tích cực sản xuất của người nông dân nâng cao rõ rệt. Chỉ trong thời gian ngắn, đời sống đa số nông dân đã được cải thiện rõ rệt. Nhưng từ năm 1984 khi TQ bắt đầu mở rộng cải cách ra thành phố thì hầu như trong suốt 14 năm sau đó (đến năm 1998) “người ta” đã quên nông dân (chữ dùng của một nhà nghiên cứu của TQ). Phải qua nhiều cuộc đấu tranh của nông dân (do mất ruộng đất, không kiếm đựoc việc làm…), của các nhà nghiên cứu, của một số ngưòi lãnh đạo TQ có tâm huyết v.v..mãi đến đầu thế kỷ 21, vấn đề nông dân mới được coi trọng và mấy năm gần đây đã và đang có những chính sách cụ thể nhằm giải quyết vấn đề “tam nông” (nông nghịêp, nông thôn, nông dân). Để nói rõ thêm một tồn tại lớn nữa, ngưòi viết muốn nêu thêm một vấn đề: nông dân vào thành phố làm thuê (TQ hiện nay có từ 120 triệu đến 200 triệu nông dân vào thành phố làm thuê).

Đây là một vấn đề rất lớn (tham khảo xem “Điều tra nông dân Trung Quốc”- (viết về nông dân tỉnh An Huy) và cuốn “Trung Quốc ven bờ sông Hoàng” (viết về nông dân tỉnh Hà Nam), “Người ven đô” (viết về những người nông dân đến tỉnh Quảng Đông làm thuê) trong bài viết ngắn này không thể nói hết được.

Ở đây chỉ muốn nhấn mạnh mấy ý sau: -Nông dân, nông nghiệp TQ là nơi đóng góp nhiều nhất cho sự nghiệp công nghiệp hoá của TQ trong giai đoạn đầu, những khoản nợ Liên Xô trong thời kỳ đầu xây dựng nước (hơn 150 công trình) và những công trình công nghiệp nặng nhập khẩu thời kỳ giữa những năm 70 với một số nước tư bản (nhà máy gang thép Bảo Sơn, Khu công nghiệp hoá chất Đông Bắc v.v..) đều được trả chủ yếu bằng nông sản, nhưng người nông dân hầu như không đựoc hưởng lợi từ đó mà còn bị thiệt thòi do chênh lệch giá cánh kéo (giá nông sản phẩm một thời gian dài thấp hơn giá thị trường nhiều lần…) -Số liệu công khai của TQ cho biết thu nhập ròng bình quân đầu người của nông dân TQ năm 2007 là 4140 NDT (tăng 9.5% so với năm trước-của năm 2003 là 2622 NDT-tăng 4,3 % so với năm trước), trong khi thu nhập có thể chi phối bình quân đầu người của cư dân thành thị là 13.786 NDT (tăng 12,2% so với năm trước-của năm 2003 là 8472NDT-tăng 9% so với năm trước).

Nhìn vào con số trên, thấy mức chênh lệch không lớn(chỉ hơn 3 lần), nhưng nếu tính tới những điều kiện ăn, ở, đi lại, chữa bệnh, đi học v.v. thì mức chênh lệch giữa thành thị nông thôn đâu chỉ có thế. Theo tiêu chuẩn của TQ: tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối của một nông dân là thu nhập dưói 785 NDT/năm, thì năm 2007 còn có 14,79 triệu người (giảm 6,69 triệu người so với năm trước); còn nếu theo tiêu chuẩn thu nhập thấp 786-1067NDT/năm thì có 28,41 triệu người. Tuy nhiên báo cáo của Ngân hàng châu Á mùa hè năm 2007 cho biết có 300 triệu ngưòi TQ (chủ yếu là nông dân) có thu nhập dưới 1USD/ngày (BBC, tiếng Trung ngày 18-2-2008) Thu nhập của nông dân nói chung thấp đến nỗi người ta đã tính ra một học sinh nông dân học xong bốn năm đại học thì người cha phải nhịn ăn nhịn mặc 20 năm mới đủ tiền trả học phí, đã có câu nói “học phí bức tử gia trưởng làm chết học sinh”.

Một nông dân vào thành phố làm thuê có vợ bị bệnh nặng chữa chạy không khỏi, đã phải ký một hợp đồng với bệnh viện cam kết trả nợ trong 3 đời-106 năm (mỗi năm 5000NDT)! Vì nghèo nên con em nông dân bỏ học ngày càng nhiều, nhiều em phải lâm vào cảnh mà báo chí TQ gọi là “nô công”(công nhân nô lệ) như một số trẻ em làm tại lò gạch tại một địa phương thuộc tỉnh Sơn Tây (mà báo chí Việt Nam đã đưa một phần). Số sinh viên đại học là con em nông dân cũng ngày một giảm.

Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, số lượng nông dân TQ bị mất ruộng đất ngày một nhiều, tiền được đền bù lại quá thấp (theo tờ Nam phương đô thị báo của Quảng Đông thì một năm chính quyền các cấp đã “bán đất” được 900 tỷ NDT) nên sức chống đối trong nông dân ngày một cao, mỗi năm một tăng (từ bẩy, tám vạn cuộc biểu tình đến trăm ngàn cuộc). Đã có học giả TQ đề cập tới phải làm “cuộc cách mạng ruộng đất lần thứ ba” (lần thứ nhất là cải cái ruộng đất hồi mới giải phóng, lần thứ hai là khoán sản lượng tới hộ) nhằm trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân.v.v.


Ngay trong thu nhập của nông dân cũng có sự chênh lệch giầu nghèo khá rõ, năm 2005, thu nhập của một nông dân thuộc thôn Hoa Tây tỉnh Giang Tô (thôn được coi là thu nhập cao nhất nước) là 18.820NDT, còn thu nhập của thôn Nam Nê Loan, tỉnh Thiểm Tây (được coi là thấp nhất nước) là 1526 NDT. Có người đã chia thu nhập của nông dân TQ làm 3 loại : >5000NDT/người/năm là thuộc thế giới thứ nhất; từ 3000-5000NDT là thuộc thế giới thứ hai;<3000ndt style="font-weight: bold; color: rgb(102, 0, 204);">Giữa các vùng miền


Không nói cũng rõ, tại TQ vùng ven biển (miền đông) phát triển nhất, vùng giữa (miền trung) phát triển chậm hơn và miền tây phát triển chậm nhất. Một vài con số cụ thể: -Thượng Hải (thành phố ven biển-miền đông) bình quân GDP/người là 65.473 NDT(dứng đầu) -Hà Nam (tỉnh nội địa miền trung) là 15.056 NDT/người (thứ 16) -Quí Châu (tỉnh nội địa miền tây) là 6742 NDT/người (thứ 31) Qua đó có thể thấy GDP bình quân của vùng giầu nhất miền đông gấp gần 10 lần vùng nghèo nhất miền tây và hơn vùng miền trung 4 lần.

*Nhân tiện ghi thêm một vài số liệu nữa: của tỉnh Vân Nam là 9459NDT(đứng thứ 30) của Cam Túc là 9527NDT (đứng thứ 29) của Quảng Tây là 11417NDT (đứng thứ 28) của Thiên Tân l à 47972NDT(đứng thứ 3) của Chiết Giang là 35730NDT (đứng thứ 4) của Giang Tô là 32985NDT (đứng thứ 5); của Hồ Bắc là 14733 NDT(đứng thứ 17) của Hồ Nam là 13123 NDT(đứng thứ 20) Chênh lệch giầu nghèo Nếu như bẩy, tám năm trước đây một người TQ có 100 triệu NDT(7,3NDT=1USD) đã được coi là người giầu nhất nước (vì vậy hiện nay TQ quen dùng từ “trăm triệu phú ông” để chỉ những người giầu) Còn bây giờ (năm 2007) nếu có số tiền trên sợ rằng ngay đến xếp thứ 2000 cũng không nổi.

Có nguồn tin cho biết người giầu nhất TQ năm 2006 có 27 tỷ NDT, nhưng năm 2007 ai có số tiền như vậy chỉ đứng thứ 16 trong số những người giàu nhất nước, bởi vì người giầu nhất năm này đã có 130 tỷ NDT(gần 20 tỷ USD). Có người nói TQ có 300.000 người có thể mua máy bay riêng, hoặc có 230.000 người có từ 1 triệu USD trở lên( nhưng đó là những tin chưa được xác minh) Một nguồn tin cho biết có tới trên chín phần mười người giầu TQ là con em cán bộ cấp cao trong đó có 29 người có tài sàn tổng cộng là hơn 2000 tỷ NDT. Những con số này tự nói lên sự chênh lệch giầu nghèo đã tới mức nào.

Phân hoá xã hội

Người ta có sự phân loại không thành văn các tầng lớp trong xã hội TQ sau gần ba mươi năm cải cách như sau: quan chức lãnh đạo, công vụ viên (không kể tầng lớp bị buộc rời khỏi cương vị mà nghe nói vào khoảng 30 triệu người và số nhân viên cấp thấp), thương nhân, xí nghiệp gia, tầng lớp tri thức trong CMVH bị gọi một cách khinh rẻ là “lão chín thối” nay cũng được thăng lên hạng năm, đáng thương nhất vẫn là tầng lớp nông dân, xếp hạng cuối cùng, còn giai cấp công nhân “người anh cả-giai cấp lãnh đạo” thì xếp thứ tám, chỉ đứng trên nông dân. (Báo cáo điều tra của Tổng Công Đoàn Trung Quốc năm 2007 cho biết có tới 26.7% công nhân phổ thông không được tăng lương trong 5 năm qua) Tình trạng gíá cả gia tăng mạnh và lạm phát có xu hướng phi mã, càng làm cho đời sống những người thu nhập thêm khó khăn(có người đã nói như đùa: do giá thịt lợn tăng quá cao, một số người đã trở thành người theo đạo Hồi)

Có ngườì bình luận xã hội TQ là “chính trị Triều Tiên hoá; kinh tế Mỹ latinh hoá; giá cả Âu, Mỹ hoá, tiền lương châu Phi hoá” hoặc” số lần và số người chết vì tai nạn hầm mỏ nhất thế giới, số trẻ em thất học và bỏ học lớn nhất thế giới, số quan chức chính quyền lợi dụng của công ăn chơi nhất thế giới”(Bức thư thứ 2 của Uông Triệu Vận) Xã hội TQ hiện nay ngoài các giai cấp đã có, đã xuất hiện những tầng lớp mới như: nhóm người có thế mạnh(gồm những người nắm quyền lực trong tay, người giầu..) nhóm người dễ bị tổn thương (nguời nghèo, người già không nơi nương tựa, người thất nghiệp …)

Trong nhóm người có thế mạnh ngoài “Thái tử đảng”(sẽ nói ở dưới) cần chú ý tới sự xuất hiện của “tầng lớp mới”. “Tầng lớp mới” là danh từ phiếm chỉ nhóm người giầu bột phát trong nền kinh tế thị trường, xuất hiện trong xã hội TQ từ năm 2000, nhưng mãi đến năm 2002, mới được chính thức đề cập tới trong báo cáo chính trị tại ĐH 16 của ĐCSTQ. Tuy trong giới chính thức và giới học giả còn có nhiều cách nói về ngoại diên và nội hàm của danh từ này, nhưng đại để nó được dùng để chỉ những người kinh doanh xí nghiệp tư doanh, những ngưòi làm nghề công, thương cá thể, các luật sư, các kế toán, kiểm toán viên v.v..

Theo tính toán gián tiếp và bằng phương pháp suy đoán người ta cho rằng hiện nay TQ có khoảng 75 triệu (có số liệu nói 50 triệu) người thuộc tầng lớp mới chủ yếu là những nhân sĩ trong ngành kinh tế phi công hữu và những nhà trí thức tự do chọn nghề tổ thành, tập trung tại các tổ chức kinh tế mới, tổ chức xã hội mới. Bọn họ có số tài sản vào khoảng 10000 tỷ NDT. Họ có nguyện vọng mãnh liệt tham dự vào công việc chính trị và trong tương lai sẽ có ngày càng nhiều những người trong tầng lớp mới có quyền phát ngôn về công việc của quốc gia(trong hội nghị Chính Hiệp họp tháng 3 năm 2008 xuất hiện họ tên của hơn 100 ông (bà) chủ xí nghiệp tư doanh và người làm nghề tự do, 1 đại biểu ĐH17 ĐCSTQ là tỷ phú)

Ở TQ hiện nay “quan quyền”, “quyền tiền giao dịch” đã là một số danh từ được sử dụng phổ biến, tầng lớp “quan quyền” là những người thu được lợi ích lớn nhất trong toàn bộ cải cách mở cửa (cần hiểu là “quan quyền” không chỉ là người trực tiếp nắm quyền mà còn bao gồm cả vợ con, họ hàng thân thích cho đến bạn bè của họ, và “quan quyền” không chỉ gồm quan chức cấp cao mà còn bao gồm các quan chức lớn nhỏ các cấp và con em, họ hàng, bạn bè của họ). Chính vì thế một bài viết về ba mươi năm cải cách mở cửa của TQ đã nói như tổng kết: “Quyền lực là công cụ và thủ đoạn có hiệu quả nhất để làm giầu nhanh chóng.”

Dù còn chưa công khai nói ra, nhưng ai cũng biết “Thái tử đảng” (gồm con em cán bộ cấp cao) là tập đoàn lợi ích có thế lực lớn nhất TQ hiện nay (nguồn tin “chống đối” cho biết con trai, con gái một cựu Thủ tướng TQ khống chế cả ngành điện lực TQ), ngoài ra còn có các tập đoàn kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật lớn … có giây mơ rễ má với các quan chức đảng, chính, quân… và với các tập đoàn kinh tế nước ngoài đang ra sức vơ vét tài sản đất nước, bóc lột sức lao động của công nhân, tước đoạt ruộng đất của nông dân v.v..

Không khẳng định, nhưng cũng không thể phủ nhận là đã có cả tầng lớp xã hội đen đang ngấm ngầm hoạt động. Xin đưa ra một số số liệu để cụ hoá tình hình bất công trong thu nhập của tầng lớp có chức có quyền với những người dân bình thường: Thu nhập bình quân đầu người của người dân Thâm Quyến là 32.650 NDT, nhưng của cán bộ cấp Vụ, Cục là từ 7 triệu đến 10 triệu NDT, của cán bộ cấp tỉnh là từ 8,5 triệu đến 12 triệu NDT, điều này có nghĩa là tài sản trung bình của một cán bộ cấp Vụ, Cục ở Thâm Quyến gấp khoảng thu nhập trung bình trong 250 năm của một người dân, còn của cán bộ cấp tỉnh là 300 năm. Ở Thượng Hải các con số tương ứng là 38.570/ 5,5 triệu-6,5 triệu/ 7,5 triệu-8,6 triệu.

Ở Bắc kinh các con số tương ứng là 36350/3,8 triệu-4,5 triệu/4,2 triệu-5,5 triệu. Mỗi năm TQ có thêm 20 triệu sức lao động mới, nhưng xã hội mới giải quyết được việc làm cho 12 triệu người Có thể nói chưa bao giờ tình hình xã hội TQ có nhiều tồn tại như hiện nay, nổi bật là vấn đề việc làm, nhà ở, chữa bệnh và giáo dục; ngoài ra tâm lý bất mãn, bức xúc, chống đối trước những nghịch cảnh, trước những bất công của xã hội hoặc sự quản lý kém hiệu lực của chính quyền, sự tham nhũng của những người nắm quyền đã bắt đầu công khai bộc lộ và có xu thế ngày càng mạnh lên. (Trong lịch sử nông dân TQ đã có những cuộc nổi dậy nổi tiếng và trong thời ĐCSTQ lãnh đạo, các thanh niên học sinh, công nhân đã làm hai cuộc “Thiên An Môn”.

Sau sự kiện Thiên An Môn 6-4-1989, một tờ báo TQ đã viết: tầng lớp trí thức bất mãn cộng với những nông dân lang thang không có việc làm là một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc tụ nghĩa Lương Sơn Bạc) Sự chống đối của một số người TQ ở trong và ngoài nước Từ trong nội bộ đảng.Ngoài sự đấu tranh phe phái không bao giờ hết trong đảng ra, trong nội bộ ĐCSTQ đã xuất hiện tầng lớp đảng viên chống lại đường lối cơ bản của đảng, đòi đẩy mạnh cải cách chính trị, đòi xây dựng cái gọi là “chủ nghĩa xã hội dân chủ” như mấy nước Bắc Âu… ( mà một số người nổi lên như: Lý Nhuệ nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức TW, một số đảng viên là nhà báo, nhà nghiên cứu, nhà văn…như Đỗ Đạo Chính, Tạ Thao, Tân Tử Lăng..) trào lưu này bắt nguồn từ Hồ Diệu Bang và đặc biệt là Triệu Tử Dương, những người lãnh đạo cao nhất, công khai khởi xướng, không những không lụi tàn sau khi bị đàn áp mà còn có xu thế phát triển.

Từ trong nội bộ nhân dân. Ngoài những biểu tình, chống đối vì nguyên nhân kinh tế ra, những phản kháng chính trị (thư công khai, lên trên kêu oan, tố cáo v.v..) đã bắt đầu có những hoạt động có tính tổ chức như Pháp Luân Công (ban đầu là một tổ chức tập luyện khí công, chữa bệnh bằng khí công được phép hoạt động. số ngườì tham gia ngày càng đông, diện tham gia ngày càng rộng, cuối cùng bị chính quyền chính thức trấn áp, hiện nay còn cơ sở ở nước ngoài và hoạt động bí mật lẻ tẻ ở trong nước), Đảng Tân Dân, hay thành lập Chính phủ quá độ bí mật. (Tuy lực lượng chống đối này còn nhỏ yếu, nhưng là hiện tượng mới xuất hiện) Những người TQ chạy ra nước ngoài. Gồm những ngườì hoạt động “dân chủ” bị chính phủ trục xuất như Phương Lệ Chi, Nguỵ Kinh Sinh v.v., hoặc bỏ trốn ra nước ngoài (như Hứa Gia Đồn-nguyên UVTW đảng, Bí thư tỉnh uỷ, phụ trách Tân Hoa xã ở Hồng Công, Nghiêm Gia Kỳ-một Viện trưởng thuộc Viện Khoa học xã hội, Lưu Tân Nhạn-nhà văn(đã mất), Bào Đồng-thư ký chính trị của Triệu Tử Dương v.v..)

Những lực lượng chống đối này hiện nay chưa có sự móc nối với nhau rõ rệt, nhưng khi tình thế có sự thay đổi đột biến, họ rất có thể dễ dàng kết hợp trong ngoài nước, trong đảng và ngoài đảng trở thành lực lượng không thể xem thường. Vấn đề dân tộc Trung Quốc là nước có nhiều dân tộc, trong đó vấn đề Tây Tạng, người Tân Cương và người theo đạo Hồi vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ ly khai, bùng nổ xung đột. Tây Tạng, chỉ “thực sự trở về” với TQ đầu những năm 50 của thế kỷ trước và đã mấy lần nổi dậy, hiện nay lãnh đạo tinh thần của dân Tạng là Đạt Lai Lạt Ma vẫn ở nước ngoài và đã tuyên bố người “truyền thế” của ông không nhất thiết phải ở trong nội địa TQ. Ông này được sự công khai ủng hộ của dư luận và người lãnh đạo của một số nước phương Tây (Mỹ, Đức, Na Uy…)

Ở Tân Cưong đầu những năm 60 đã có hàng vạn người bỏ quê sang sống ở mấy nước SNG Trung Á ngày nay và sự chống đối chính quyền TW chưa bao giờ tắt. Gần 10 triệu dân Hồi cũng là những nguy cơ tiềm ẩn.

Về chính sách sinh đẻ có kế hoạch

Để giải quyết vấn đề tăng dân số quá nhanh và tổng mức dân số quá lớn, từ năm 1980 TQ thực hiện nghiêm khắc chế độ chỉ cho phép sinh một con. Chính sách này đã có tác dụng tốt là giảm mức tăng dân, nhưng đã mang lại những hậu quả có tác hại lâu dài mà lúc đầu không ai tính ra.

Trước hết là chế độ sinh một con đã làm cho số người phải nuôi dưỡng ngày một lớn so với số người đang tuổi lao động-hai vợ chồng phải phụng dưỡng 4 bố mẹ, và có thể tới 8 ông bà, nhưng điều quan trọng hơn là, vì dân chúng còn nhiều tàn dư phong kiến: trọng nam khinh nữ, hơn nữa ở nông thôn hiện nay, sức lao động nam rất quan trọng, cộng thêm kỹ thuật siêu âm khá phổ biến nên khi phát hiện thai nhi là nữ phần lớn đã nạo thai, cho đến khi được thai nhi là nam mới thôi. (Theo số liệu của Tập san y học The Lancet thì trên tổng số 100 triệu thai nhi vì là nữ mà bị nạo trên thế giới thì có tới 50 triệu là của TQ).

Kết quả là tỷ lệ giới tính ở TQ hiện nay đã lâm vào tình trạng nguy hiểm; nói chung tỷ lệ nam/nữ là 100/104 là hợp lý, nhưng ở TQ hiện nay đã là 120-130/100. Tình trạng đó khiến con trai TQ càng ngày càng khó lấy vợ, nhiều người không thể lấy được vợ. Từ đó nẩy sinh tệ nạn buôn bán phụ nữ(năm 1990-1991 vì buôn bán phụ nữ mà bị bắt tới hơn 60.000 vụ), tệ đồng tính luyến ái tăng lên (có người TQ lo tệ đồng tính luyến ái nam ở TQ rồi sẽ vượt San Francisco Mỹ) Vấn đề tham nhũng, hủ bại Từ những số liệu về chênh lêch thu nhập giữa người dân và cán bộ các cấp ở 3 thành phố nói trên, có thể hình dung dược nạn tham nhũng hối lộ ở TQ đã đến mức như thế nào. Trong bức thư gửi sau khi thôi giữ chức Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra kỷ luật của đảng, Ngô Quan Chính đã thừa nhận việc kiểm kê tài sản của cán bộ khi làm thí điểm ở Thượng Hải, Quảng Đông đều không dám công khai vì bọn họ rất giầu, nếu công bố sẽ bị quần chúng truy kích v.v..

Ngoài ra theo thống kê chưa đầy đủ từ năm 2003-2006 mỗi năm các cơ quan đảng chính dùng tiền công chi cho việc ăn chơi, giải trí dao động từ 300tỷ NDT-350 tỷ NDT, mỗi năm thay mới và tăng thêm khoảng 500.000-650000 ôtô du lịch, tốn khoảng 200 tỷ NDT; tại một số sân Golf chi phí công chiếm tới 75%-90% v.v..

TQ coi hủ bại là nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của đảng và chế độ, đã tích cực đề ra nhiều biện pháp nghiêm khắc để ngăn chặn, một ví dụ như: trong 5 năm qua(2003-2007) đã xử lý 35 cán bộ cấp tỉnh, bộ (trong đó UV Bộ Chính trị Trần Lương Vũ) và 930 cán bộ cấp vụ, cục về tội này (trước đó đã từng cho cha con UV Bộ Chính trị Trần Hy Đồng vào tù và xử bắn Phó Chủ tịch UBTV Quốc hội Thành Khắc Kiệt vì các tội danh tương tự) nhưng xem ra tình hình vẫn không sáng sủa hơn mà có xu thế mỗi ngày một tăng (những năm 80 chỉ có 2 cán bộ cấp tỉnh, bộ, những năm 90 con số này là 15 và từ 2000-2007 là hơn 70 người bị xử lý)

Sức ép quốc tế

Nhìn chung thế giới khâm phục, kinh ngạc trước những thành tựu mà nhân dân TQ đã đạt được, nhưng đi kèm theo đó là nỗi lo ngại sự “lớn mạnh” của TQ, luận điểm “TQ đe doạ” không phải vô cớ được tung ra, mặc dù TQ đã từng sửa khẩu hiệu chiến lược của mình từ “Trung Quốc trỗi dậy” thành “TQ trỗi dậy hoà bình”, “phát triển hòa bình”, v.v.. nhưng phần đông các nước láng giềng và trong khu vực đều giữ thái độ cảnh giác, thận trọng trong cư xử với TQ. Có người TQ đã cay đắng và cả hằn học nữa thốt lên: “dưới cái mũ lớn “thuyết TQ đe doạ” còn có nhiều thuyết “đe doạ nhỏ” nữa, nào là mối đe doạ của tỷ suất thấp của đồng NDT, mối đe doạ của an toàn thực phẩm TQ, mối đe doạ của việc môi trường TQ xấu đi, mối đe doạ do nhu cầu năng lượng của TQ tăng nhanh, mối đe dọa do TQ tăng ngân sách quốc phòng v.v. Cần biết rằng lượng khí thải CO2 của TQ tuy đứng thứ hai thế giới (hiện nay đã là thứ nhất rồi) nhưng nếu tính theo đầu người TQ chỉ đứng thứ 92. ..

Ôi! TQ vừa có chút khí thế trỗi dậy đã bị các cường quốc thế giới kéo nhau lại tấn công. Trong kỳ họp Quốc hội tháng 3/2008, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại TQ nói: “áp lực bên ngoài mà nền kinh tế nước ta phải đối mặt rõ ràng lớn hơn các năm trước.” Xin nói thêm: quan hệ Trung Mỹ đã qua thời kỳ trăng mật. Quan hệ Trung Nhật đã qua giai đoạn đầu tốt đẹp. Quan hệ Trung Nga là quan hệ của hai đối thủ đã từng biết nhau khá rõ. TQ không có đồng minh và láng giềng tốt theo đúng nghĩa (Triều Tiên được TQ đầu tư, giúp đỡ rất lớn và nhìn bên ngoài cứ tưởng là quan hệ hai nước khá tốt, nhưng thực ra hai bên đều…).

Mặc dù Trung Quốc đã sửa tên gọi chiến lược phát triển của mình từ “Trung Quốc trỗi dậy” thành “trỗi dậy hòa bình” rồi xóa bỏ chữ “trỗi dậy” để chỉ còn là “phát triển hòa bình”. Mặc dù Trung Quốc đề ra phương châm với các nước xung quanh là “Láng giềng là hàng đầu”, và “làm bạn vói láng giềng, hòa thuận với láng giềng, làm yên lòng láng giềng, giầu có cùng láng giềng”. Mặc dù Trung Quốc mấy năm gần đay đã tuyên bố “chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác, cùng hưởng lợi” trong quan hệ với các nước ở Biển Đông, nhưng người ta vẫn không hoàn toàn yên tâm, vừa quan hệ vừa cảnh giác. Bởi vì ai dám đoan chắc năm, ba năm tới (hay lâu hơn chút nữa), TQ sẽ làm gì? Ở đâu? Với ai? Mức độ thế nào? Qui mô đến đâu? V.v..

Viết về một số tồn tại lớn của Trung Quốc, không hề nhằm mục đích “bới lông tìm vết”, hay “nói xấu” người bạn lớn phương Bắc của chúng ta, mà chỉ muốn qua đó giới thiệu với một số người có trách nhiệm của đất nước (cả đương nhiệm và người sẽ thay thế) ở Trung ương cũng như địa phương, tại các ngành cũng như các vùng, dù quyền cao chức trọng hay chỉ là những “thơ lại” thời đại mới, hy vọng họ nghiêm chỉnh rút ra được từ tình hình thực tế của Trung Quốc những bài học bổ ích cho những suy tính, những quyết sách lớn nhỏ… (nếu có ai đó hoặc nhóm người nào đó lồng lợi ích, tham vọng… cá nhân vào trong cái gọi là vì “lợi ích chung” vì “sự phồn vinh của cả dân tộc”, thì chí ít cũng mong họ thấy được những nguy cơ lâu dài, những hậu quả nghiêm trọng như đã trình bầy trên, sẽ mang lại cho đất nước, cho đời sau, cho chính họ và con cháu họ, hòng bớt được phần nào tham lam, dại dột, liều lĩnh, hoang tưởng…)

Chắn chắn là phần lớn những cái đã, đang tồn tại và tiềm ẩn ở Trung Quốc, thể nào cũng đã, đang và sẽ xuất hiện ở Việt Nam. Biết nghiêm túc học tập những kinh nghiệm chưa thành công của người đi trước, chúng ta sẽ bớt phải trả giá( có khi là rất lớn và lâu dài.) Nhưng nếu không thấy hoặc cố tình không thấy “vết xe của người đi trước”, thì cái giá phải trả không chỉ là của một số cá nhân mà sẽ là những người lao động chân chính, là đông đảo nhân dân, là cả dân tộc và những thế hệ tiếp theo.

Ngày 30 tháng 3 năm 2008
___

Tài liệu tham khảo chính:
-Báo cáo chính trị tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc(bản tiếng Trung lấy trên mạng của Tân Hoa xã) -Báo cáo công tác của Chính phủ Trung Quốc tại kỳ họp Quốc hội tháng 3 năm 2008(bản tiếng Trung lấy trên mạng của Tân Hoa xã) -Thư công khai của Uông Triệu Vận, thường vụ Chính Hiệp tỉnh An huy Trung Quốc gửi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo (bức thứ nhất và thứ hai) -Một số bài báo của Trung Quốc đăng trên mạng từ ĐH 17 tới tháng 3 năm 2008, -Một số bài viết chưa công bố của tác giả về vấn đề có liên quan.
http://www.viet-studies.info/kinhte/DDDy_TrungQuoc.htm


Vài suy ngẫm về Trung Quốc

No comments: