Tuesday, June 22, 2010

TRÂU GIÀ * TRUYỆN TÙ CẢI TẠO





Địa Ngục Trần Gian
Trích bút ký Tôi Phải Sống

Nguyễn Hữu Lễ

Người ta thường nói: "Sống lâu lên lão làng!" Tôi cũng đã có lần thuộc dạng "lão làng" vào năm 1982, sau khi nằm liên tiếp 3 năm trong nhà kỷ luật trại tù Thanh Cẩm. Với cái vốn thời gian đó, tự nhiên tôi trở thành "đại ca" trong khu kỷ luật lúc bấy giờ.

Kể từ khi tôi bị đưa lên cùm chân sau vụ vượt ngục bất thành ngày 2 tháng 5, 1979 cho tới lúc này, tôi cứ quanh đi quẩn lại trong 6 buồng của khu nhà kỷ luật. Tôi giữ vai trò người quản gia, trong khi các người tù khác chỉ là những khách vãng lai. Có người trụ lại một thời gian khá lâu đến hàng năm trời, nhưng cũng có những người ngắn hơn, lên đây một thời gian chừng vài tháng hay tuần hoặc vài ngày rồi trở xuống dưới "làng". Cũng có người xuống "làng" ít lâu rồi lại lên khu kỷ luật như dân Âu Châu đi nghỉ hè ở vùng bờ biển hàng năm! Riêng tôi đã 3 năm rồi, nhưng chưa được đi "nghỉ hè" lần nào. Cũng chính vì được tiếp xúc với nhiều đợt tù kỷ luật, chính trị cũng như hình sự, nên yếu tố "lão làng" của tôi được nhiều người biết tới.

Nếu yếu tố "lão làng" không mang ý nghĩa gì đặc biệt đối với nhóm tù chính trị thì ngược lại nó là vấn đề quan trọng, đôi lúc là nguyên tắc sống còn đối những người tù hình sự. Nên biết điều này, giữa những người tù hình sự với nhau, sự kiêng nể các "đại ca" đã trở thành một thứ luật bất thành văn trong tù. Có những anh vì coi thường hoặc chểnh mảng việc tuân giữ quy luật này nên đã phải trả giá rất đắt. Suốt 4 năm qua tôi đã phải sống lăn lộn với tù hình sự từ trại Cổng Trời về đây, nên đã có dịp chứng kiến nhiều trường hợp trả giá đó. Tùy theo mức độ nặng nhẹ khác nhau của các hình thức vi phạm nguyên tắc mà các tù nhân vi phạm bị "đại ca" ra hình phạt tương xứng theo luật giang hồ tù. Nếu chỉ để cảnh cáo hoặc áp đảo tinh thần những lính mới để bắt phải đi vào khuôn phép thì chỉ cần sử dụng "chưởng", hoặc "bẻ ngà". Trường hợp nặng hơn thì bị "lấy cặp pha", hoặc "xin cặp nạng". Trường hợp nghiêm trọng và phải bảo vệ chử đứng thì đối phương sẽ được "cất". Những người tù hình sự có loại ngôn ngữ riêng bằng tiếng lóng. Gần như tất cả mọi người đều có một tên đệm kèm theo tên riêng. Và có một điều dường như ai cũng có thể biết được là họ chửi thề luôn miệng!

Hiện tượng ma cũ ăn hiếp ma mới trong giới tù hình sự là điều rất phổ biến và tự nhiên trong tù. Chắc hẳn nhiều người đã được nghe kể, và hơn nữa đã đọc những sách viết về đời sống ngục tù đề cập tới hình thức "tìm chử đứng" của các tù nhân cũ. Những anh tù mới vừa bước vào buồng sẽ bị những người cũ áp đảo bằng một trận đòn mềm người và bắt buộc phải bị khuất phục dưới trướng. Nếu người tù mới là tay hảo hán thì sau này sẽ "ngoi lên tìm chử đứng" bằng cách nào đó để nắm vai trò lãnh đạo. Việc ngoi lên tìm chử đứng này được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng điểm giống nhau duy nhất trong các cuộc tranh hùng đó là tính cách không khoan nhượng, nói rõ hơn là một mất một còn. Vì thế, ngoài trường hợp những "đại ca" có tầm cỡ cao, nghĩa là những tù nhân khét tiếng mà ai nghe tới cũng phải cúi đầu chịu phục và dù ở đâu cũng có đàn em các cấp thì không nói, còn những tay mới vừa ngoi lên tìm chử đứng trong tù, khi đi ngủ chỉ nhắm một mắt. Ý muốn nói lúc nào cũng phải đề phòng kẻo bị thanh toán!

Dĩ nhiên các việc đó chỉ diễn ra trong giới tù hình sự. Dù vậy hoàn cảnh đã đẩy đưa tôi, một tù nhân chính trị, vào vị thế được kiêng nể trong giới tù hình sự tại khu kỷ luật này. Một sự việc xảy ra ngoài sức tưởng tượng mà trước đó tôi chưa từng nghĩ tới. Nó đột biến xảy ra vào một buổi sáng nọ khi cán bộ mở cửa và đẩy vào buồng tôi một anh tù hình sự còn trẻ măng, chừng ngoài 20 tuổi. Buồng tôi lúc đó có 4 chử cùm nhưng chỉ có 3 người, tôi và hai anh tù Trung Quốc, còn một chử cùm trống dành cho anh tù mới này.

Chợt nghe tiếng mở khóa buồng, tôi vội lấy tấm chăn che ngang người, vì lúc đó cả 3 chúng tôi đều trần truồng. Anh tù mới vừa bị đẩy vào đứng chết trân giữa buồng, vì từ ngoài sáng vào buồng tối làm anh quáng mắt. Anh ta cố gắng định thần trong một buồng giam nóng như hỏa lò và chắc chắn là rất thối tha này. Còn tôi ở đây đã lâu và nằm trong buồng đã quen với bóng tối nên tôi nhìn ra và thấy anh ta hầu như rõ mồn một! Người anh trông nhỏ thó với mái tóc húi cao. Anh ôm trên tay chiếc chiếu cuộn tròn mà tôi biết bên trong là chăn và quần áo. Tay kia anh bưng một cái bát sắt có hoa màu đỏ và có đĩa sắt đậy lại nên tôi không biết trong bát có gì. Dưới nách anh cặp một ống điếu cày có máng lon Guigoz lòng thòng. Trong lúc anh tù mới đang chớp mắt nhìn quanh nhưng chưa thấy gì, ba người chúng tôi nói chuyện nhau bằng tiếng Phổ thông làm anh tưởng buồng này tất cả đều là tù Trung Quốc. Tôi nhận thấy trên mặt anh lộ ra vẻ sợ hãi. Có lẽ chưa kịp định thần thì cán bộ đã rút thanh sắt, xỏ chân anh ta vào cùm, khóa cùm bên ngoài buồng và đóng cửa bước ra. Cán bộ hành động nhanh như một cái máy, vì tôi biết anh ta không chịu nổi mùi hôi thối và bầu khí nóng như lò hấp của buồng giam.

Ban ngày trong căn phòng kín như cái hộp sắt có mở lò sưởi này, chúng tôi gần chết ngộp. Mửi lần mở cửa là mửi hồng ân trời ban, vì có không khí ùa vào buồng. Lúc đó chúng tôi thi nhau hít thở, càng mạnh càng tốt, càng nhiều càng tốt và cố rút vào buồng phổi không khí trong lành hiếm có để còn được tồn tại. Đợi cho anh tù mới định thần xong, tôi lên tiếng:

- "Mầy thấy rõ trong buồng chưa? Mệt thì nghỉ đi!"
Nghe tiếng tôi, anh ta rất mừng vì biết tôi là người Việt nên lễ phép nói:
- "Em xin chào anh! Thưa anh có phải là anh 'Nễ'(Lễ) không ạ!"
Anh tù này nói thiệt là ngọng. Tôi hỏi:
- "Sao mày biết tên tao?"
- "Ối giời! Anh ạ, đám bọn em có mấy thằng đi kỷ 'nuật' về, bọn chúng ca tụng anh 'nắm'. Chúng bảo anh rất tốt!"
Tôi phì cười:
- "Xạo mầy! Mày tên là gì, làm sao mà bị đi cùm?"
Có lẽ anh ta sợ khi nghe giọng nói tôi cố tình tạo ra vẻ "đại ca". Càng sợ hơn nữa sau khi đã chớp mắt làm quen với bóng tối trong buồng và nhìn thấy hình dạng tôi đang cởi trần, râu ria tua tủa rối ren vô trật tự, tóc tai bờm xờm đang ngồi cùng với hai anh Tàu to con và trần truồng như nhộng. Cảnh này ai mà chẳng sợ. Anh ta trả lời cách khúm núm:
- "Thưa anh, tên em là Huống. Em nhón một ít 'nạc' (lạc) của cán bộ, bị bể và đi cùm. À, em xin mời anh dùng bát cơm anh ạ!"

Vừa nói Huống vừa với tay cầm cái bát sắt, mở đĩa đậy ra và nhẹ nhàng đặt bát cơm cạnh tôi. Nhìn bát cơm hai anh Trung Quốc lộ vẻ thèm thuồng tột độ. Bát cơm trắng quả là một bữa đại yến trong buồng kỷ luật đói triền miên này. Ngồi nhìn cả ba anh tù, tôi cảm thất thương họ. Cuộc sống tù đày đã biến đổi họ thành những con người không còn là chính con người thật của họ. Một người tù vừa bước vào cố nhịn phần ăn sống còn của mình đổi lấy sự an toàn, còn hai người bạn Trung Quốc chỉ cần được ăn và không cần biết gì khác! Tôi hỏi Huống.

- "Cơm này ở đâu mày có?"
- "Em còn ống gạo mới thổi trưa nay".
- "Gạo mày lấy đâu ra?"
- "Em làm điếu đổi gạo anh ạ. Bọn chúng vẫn gọi em là Huống "điếu cày" mà!"
- "Nếu đưa cơm cho tao thì mày lấy gì ăn?"
- "Em không đói đâu anh ạ!"

Tôi đau lòng khi nghe câu đó, vì trong tù này ai mà không đói! Tôi bảo:
- "Huống! Tao giả vờ hù dọa mày cho vui, mày đừng nghĩ tao như một tay đầu gấu hình sự. Ăn đi mày, ở đây thằng chó nào mà chẳng đói!"
Huống ngạc nhiên khi nghe tôi nói như thế, nhưng nó cũng chưa dám ăn. Tôi giục mấy lần nó mói dám bưng bát cơm lên, miệng lí nhí nói: "Em xin anh!"
Tôi ngồi nhìn Huống "táp" vội bát cơm mấy cái đã hết sạch. Trông nó cũng đói không kém gì ba người chúng tôi trên khu kỷ luật này.

Kỹ thuật kiến trúc

Nhà kỷ luật Thanh Cẩm là một nơi được nghiên cứu và thiết kế cẩn thận để tăng hiệu quả tối đa của tính chất độc ác trong việc trừng trị con người. Ở lâu trong đó tôi mới có dịp quan sát kỹ và đi tới kết luận: Không thể có một đồ án xây dựng nào tốt hơn khu nhà mới vừa ba tuổi mà tôi là một trong số rất ít người được vinh dự là những thân chủ đầu tiên này.

Khu kỷ luật là một nhà nóc bằng, hình chữ nhật và có sáu buồng. Ba buồng phía trước trông ra một khoảng sân khá rộng và ba buồng phía sau mở cửa thông ra một lối đi hẹp chừng 3 thước, dẫn tới chân một bức tường đá xanh. Tường nhà dầy 40 phân, mái nhà được đúc bằng xi măng cốt sắt. Mửi buồng vuông vức với 3 thước mửi chiều. Cửa sắt thật kiên cố và chỉ có một cửa sổ nhỏ 50 phân vuông chắn song sắt to bằng cổ tay em bé. Điểm đặc biệt mà tôi khâm phục sáng kiến là các buồng không phải cách nhau bằng một bức tường theo như cách hiểu thông thường, nhưng buồng này cách buồng khác bằng một cái buồng xép bề ngang chừng một mét rưỡi, có cánh cửa chặn kiên cố bên ngoài. Như vậy khi muốn bước vào buồng kỷ luật phải qua 2 lần cửa, qua lần cửa gử vào buồng xép rồi mở cửa sắt vào buồng giam. Hai buồng giam có cửa sắt dối diện nhau. Tuy nhiên, vì nhu cầu có khoảng trống tráng xi măng trước cửa buồng, nên buồng 1 và buồng 6 nằm ở hai góc phía trước và phía sau chỉ cần qua một cửa sắt là vào buồng, trong khi tất cả các buồng khác phải qua hai lần cửa. Cái buồng xép nằm giữa hai buồng giam này là một sáng kiến thật độc đáo vì nó có ba công dụng thật rõ rệt. Thứ nhất là an ninh, người tù muốn vượt ngục phải qua hai lần cửa mới ra được. Thứ nhì là chặn không khí lại, vì không khí muốn vào buồng giam phải qua hai lần cửa. Và ý thứ ba quan trọng nhất, cái thanh sắt to từ trong buồng giam xỏ qua các móng cùm ngoạm vào cổ chân những người tù được luồn qua một cái lử trong tường, rồi ló đầu ra buồng xép này và có ống khóa to khóa lại ở đây. Như thế người tù ngồi bên trong buồng không bao giờ có thể đụng chạm tới cái ống khóa bên ngoài được. Chung quanh khu kỷ luật có tường cao ngăn cách với các khu vực khác trong trại, trên bờ tường có hàng rào kẽm gai. Đây chỉ là tường khu vực, chưa phải là bờ tường trại bằng đá xanh cao 5 thước bao bọc toàn thể trại tù Thanh Cẩm. Chỉ có một lối ra vào duy nhất là Cổng Trại được xây theo kiểu mẫu Khải Hoàn Môn (Arc de Triumple) của thành phố Paris bên Pháp. Cổng trại là phòng ở của cán bộ trực trại và lúc nào cũng có lính canh cổng ra vào.

Trong buồng có hai thớt nằm bằng xi măng hai bên một "phi đạo" ở giữa, mửi thớt cao 80 phân và rộng cũng 80 phân dành cho 2 người bị cùm. Thật sự tôi không nhớ rõ chi tiết về kích thước của cái thớt này, chỉ biết lúc bấy giờ chúng tôi gọi nó bằng cái tên khá dài: "Hai người thì thiếu, một người thì dư!" Như vậy sáu buồng khu kỷ luật chỉ được trang bị đầy đủ cho 24 thân chủ. Có thời gian số người bị kỷ luật đông hơn 24 thì mửi buồng có thể nhận thêm một tù nhân nằm dưới "phi đạo", dĩ nhiên là không phải mang cùm. Ở kỷ luật mà không phải mang cùm cũng là một hồng ân. Thỉnh thoảng cán bộ chiếu cố cho vài người được hưởng đặc ân này. Riêng tôi không được hưởng quyền lợi này một đêm nào trong 1020 đêm ở nhà kỷ luật.

Thông thường những người đã ở lâu thì chỉ bị cùm một chân (cám ơn sự nhân đạo của Đảng!) Thời gian 3 tháng đầu bị cùm cả ngày lẫn đêm. Về sau chỉ cùm ban đêm, từ lúc cho ăn chiều cho tới quãng 7 giờ sáng hôm. Ngược lại, "những khách vãng lại", tức là những người tù ở dưới làng bị phạt lên kỷ luật một thời gian ngắn, họ bị cùm một chân cả ngày lẫn đêm. Tuy nhiên, thời gian "tham quan" khu kỷ luật của họ chỉ kéo dài trong vòng một vài tuần lễ.

Buồng giam kín như bưng và tối đen. Chỉ phía ngoài gần cửa sổ có chút ánh sáng lọt qua song sắt, còn phía trong lúc nào cũng tối om om. Dù vậy, chúng tôi cũng không bị trở ngại vì đã quen với bóng tối. Từ bên trong buồng nhìn ra thấy bên ngoài rất rõ, nhưng từ ngoài nhìn vào qua song sắt cửa sổ thì không thấy gì bên trong. Nhất là những hôm nắng to người bên ngoài phải nhìn vào một lúc lâu mới biết có bao nhiêu người trong buồng. Trần nhà rất thấp. Đứng trên bộ nằm có thể với tay gần đụng trần nhà, trên đó có bắt một bóng điện leo lét và tắt từ 10 giờ đêm về sau.

Nhà cầu "nổi"

Buồng trống trơn không có thứ gì ngoài mấy cái ống bẩu bằng luồng, một loại tre to và rửng ruột. Đây là phương tiện toa-lét để tù nhân trong buồng đại tiểu tiện vào đó. Trước mửi lúc phát thức ăn trưa và chiều, một anh tù trực sinh vào từng buồng bưng các ống bẩu phân và nước tiểu này ra đổ vào hố phân ở góc tường ngay trước cửa buồng 3 nằm sát góc sân cập bờ tường phía trước. Hố phân này không có nắp đậy và là vương quốc của ruồi xanh.

Việc sử dụng nhà cầu nửi này không đơn giản, phải được chỉ dẫn và dĩ nhiên là cũng phải có kinh nghiệm. Lúc đó tôi đã là "con ma" trong khu kỷ luật rồi nên đã thích nghi hết mọi hoàn cảnh để sống còn. Việc sử dụng cái cầu tiêu lạ đời này không còn là vấn đề đối với tôi, trái lại những lính mới thường gặp trở ngại trong những lần đầu. Lúc bấy giờ yếu tố "lão làng" của tôi lại có giá trị, vì tôi phải mở một khóa cấp tốc hướng dẫn cách sử dụng loại nhà cầu "nửi" này như thế nào. Ban ngày lúc không phải cùm thì dễ hơn, nhưng lúc chân trong cùm mà buồn đi cầu thì không phải là chuyện đơn giản và trường hợp này "không thầy đố mầy làm nên"!

Khi đi đại tiện người tù phải dùng tới hai cái ống bẩu, mửi tay cầm một cái. Ống nước tiểu hứng phía trước và ống phân dĩ nhiên là phía sau. Trong khi thi hành bản năng sinh học tự nhiên của cơ thể con người, tù nhân phải ở thế đứng, hơi rùn người xuống một chút như thế "xuống tấn" của võ sĩ thái cực đạo. Ống phía trước có thể là ống nhỏ, nhưng ống phía sau bắt buộc phải là ống có đường kính to và nhẹ. Yếu tố này rất quan trọng, vì trong lúc "thi hành nghĩa vụ" của bản năng, nói nôm na là "đi cầu", người tù phải quàng tay ra sau để giữ cái ống bẩu. Nếu ống này nặng quá thì kẹt đủ điều! Có mấy lần ống này quá nặng, hơn nữa trong khi "đi cầu" ống đó càng lúc càng nặng vì phải chứa thêm, nên cuối cùng người tù không thể giữ ống bẩu sát vào mông và đã vuột tay làm đổ phân tung tóe trong buồng. Khổ cho người lúc đó đang ngồi ăn thì quả thật là bất tiện! Chúng tôi cố đi cầu vào buổi tối sau khi một chân đã dính vào cùm, một phần để tránh hai bữa ăn của anh em và phần khác cũng kín đáo hơn. Tuy nhiên, vào trường hợp bất khả kháng thì bất kể là ngày hay đêm, dù có phải đại tiện ngay trước mặt những người lúc họ đang ngồi ăn cũng không ai lấy thế làm phiền. Vả lại, vì đã quen với cuộc sống tù quá ư là chật chội, bẩn thỉu và thiếu mọi tiện nghi tối thiểu của con người, nên chúng tôi chẳng ai cảm thấy mùi thối tha hôi hám gì trong cái buồng giam kín như cái thùng sắt này. Việc ai người ấy làm, chẳng ai để ý tới ai. Trong khi một người đang đại tiện thì có thể một anh khác đang ngồi ăn hoặc có người đang tập thể dục, ra cửa sổ hít thở, ngồi cầu kinh, chơi cờ hay may vá. Có mấy lần một vài lính mới vì chưa rành sử dụng ống bẩu nên làm vương vẩy đầy trên sàn nhà. Nhưng không hề gì, chốc nữa tới lúc cho ăn, chúng tôi sẽ nhờ anh trực sinh quét và hốt đi!

Ban ngày không bị cùm "đi cầu" đã khó, ban đêm khi đã xỏ chân vào cùm mà muốn "đi cầu" thì cả là một cực hình! Lúc đó cần phải có một kỹ thật cao hơn và những lính mới thường không làm được. Phần vì vướng một chân vào cùm, phần khác cổ chân họ còn nhiều thịt nên rất trở ngại trong cái móng cùm bằng sắt nhỏ hẹp. Trong khi đối với tôi và những "thường trú nhân" của khu kỷ luật lúc bấy giờ, cổ chân chúng tôi không to hơn cái ống bơm xe đạp bao nhiêu nên việc xoay xở nhẹ nhàng khéo léo và lành nghề như một nhà ảo thuật.

Vào mùa Hè, trời Thanh Hóa nóng như thiêu như đốt. Nhất là những ngày có gió Lào cộng vào, buồng kỷ luật biến thành cái hộp bằng sắt có mở lò sưởi ở số cao. Gió Lào là ngọn gió từ bên Ai-Lao thổi qua dãy Trường Sơn miền Trung Việt Nam, đưa hơi nóng từ dãy núi đá này qua các tỉnh miền Trung Việt. Hôm nào gió càng to thì càng nóng. Buồng giam chỉ có một cửa sổ duy nhất và rất hẹp, khí không thể lùa vào buồng được. Do đó chúng tôi cứ phải thở ra hít vào buồng phổi mình cái hơi nóng của bầu khí trong buồng mà tôi có cảm tưởng nó đã đặc quánh lại thành một thứ chất dẻo, không còn là ở thể khí nữa! Nhất là mùa Hè về đêm, cái nhà mái bằng sau khi cả ngày tiếp nhận ánh nắng hừng hực của mặt trời, ban đêm tỏa hơi nóng xuống buồng giam và vắt cạn tới giọt nước cuối cùng trong thân thể gầy còm của chúng tôi. Những đêm kinh hoàng như vậy, mửi người trong buồng phải thủ sẵn một tô nước trích ra từ tiêu chuẩn nước trong ngày và một mảnh vải ngâm vào đó. Thỉnh thoảng lấy vải lau trên người cho da thịt tiếp xúc với sự mát lạnh của nước, sau đó vắt nước trở lại vào tô. Làm đi làm lại nhiều lần suốt đêm như thế, khi nào kiệt sức thì ngả xuống nằm một chốc rồi ngồi lên lau người tiếp. Sáng hôm sau nước trong bát đen như nước cống. Lúc bấy giờ tôi chỉ mong cho trên nóc nhà có một cái lử bằng quả cam cũng được, to hơn thì càng hay để khí nóng trong buồng có chử thoát ra và khí trong lành từ ngoài lọt vào qua cửa sổ chảy vào buồng để tôi có thể thở được. Trong cơn chết ngạt đó, tôi thấy thứ quý báu nhất trên đời này không gì khác hơn là làn khí trong lành để con người có thể hô hấp và tồn tại. Đó là điều mà dường như không mấy ai để ý tới và là hồng ân đầu tiên mà Thiên Chúa ban cho tạo vật. Lúc đó tôi cầu xin, "Lạy Chúa, nếu Chúa cho con có thể làm phép lạ thì phép lạ đầu tiên con làm là cho có một cái lử bằng hộp sữa trổ ra trên nóc buồng, để không khí có thể lưu thông và con có thể hô hấp hầu bảo vệ mạng sống!" Tôi quyết tâm là nếu sau này còn sống, tôi phải nói lên sự biết ơn và cảm tạ Thiên Chúa vì hồng ân cao cả Ngài đã ban cho con người có đủ không khí trong lành để hít thở. Đồng thời trong hoàn cảnh nghẹt thở đó, nửi niềm hối hận trào dâng cho những lần trước kia tôi than thở oán trách vì bữa ăn không ngon, chai bia chưa đủ lạnh, đĩa rau không đủ tươi, chiếc áo không đẹp, chiếc xe không đúng kiểu, nhà cửa thiếu tiện nghi.... Và đặc biệt tôi muốn chia xẻ với những người may mắn, nhất là dân các nước tư bản, sinh ra trong nhung lụa, lớn lên trong tiện nghi, cuộc đời được bao quanh bởi thú vui và tiền của. Tôi muốn nói với những người may mắn đó rằng, "Các người đang ở thiên đàng mà các người không biết. Vì thế xin đừng bao giờ than trách về một vài bất tiện trong cuộc sống đã quá đầy đủ tiện nghi của mình. Hãy biết mở tay ra bố thí và thương đến những kẻ khốn cùng!"

Những lúc nóng nực quá sức chịu dựng, chúng tôi đều trần truồng ngày đêm. Một phần vì mặc quần áo sẽ ướt đẫm và dán sát vào người không thể nào chịu được, đàng khác những người ở kỷ luật lâu như tôi không còn quần áo gì để mặc, dường như ai cũng giống nhau trong buồng giam kỷ luật. Chúng tôi chỉ chừa đủ một quần xé ống tới đầu gối và một cái áo xé tay tới sát nách, để khi cần phải ra ngoài hoặc lên cơ quan làm việc, còn bao nhiêu đều phải xé ra lau chùi khi đại tiện. Các mảnh vải được dùng xong cũng phải giữ lại để gọn vào một góc buồng, chờ lúc được xuống sông Mã tắm sẽ giặt và dùng lại. Trong thời gian kỷ luật chúng tôi được xuống sông tắm mửi hai tuần một lần. Tuy nhiên, nhiều khi cán bộ bận việc hay có gì bất thường thì phải chờ lâu tới ba tuần, nhưng ít khi nào quá một tháng mà chưa được tắm. Vì quá ba tuần mà chưa được tắm là bọn tù chúng tôi kêu la tru tréo điếc cả tai. Trong trường hợp đó buộc lòng phải cho đi tắm, nếu không phải vì lòng nhân thì ít ra để khỏi phải bị quấy rầy. Thật ra đối với tôi lúc đó, việc được đi tắm sớm hay muộn hơn một tuần lễ không có gì đáng quan tâm. Điều quan trọng đối với tôi là cái đống rác! Mửi lần đi ngang đống rác trước cổng trại là mửi lần đời tôi như lên hương. Hai con mắt hoạt động tích cực để tìm nhặt những thứ cần thiết cho cuộc sống trong buồng như vải rách dùng đại tiện, bọc nylon làm nhiên liệu chất đốt, hoặc may mắn hơn thì cái bàn chải đánh răng cũ hoặc ít giấy bao xi-măng làm vở viết học chữ Tàu, thứ ngôn ngữ tôi đang cố công học.

Cơn mưa trái mùa

Đêm đó Huống, anh bạn mới bị kỷ luật nằm chung thớt với tôi. Tôi nằm sát vách và Huống nằm bên ngoài. Hai người nằm song song và đôi chân bị xỏ xâu chung một song sắt. Tôi cùm chân phải, Huống chân trái. Một lúc khá lâu, gần tới giờ tắt đèn đi ngủ, Huống kêu đau bụng và buồn đi cầu. Tôi cảm thấy như sắp gặp rắc rối. Tôi vội ngồi lên chỉ cách cho Huống xoay người, bước một chân không bị cùm xuống sàn. Huống loay hoay cố gắng làm theo cách thức tôi bày, nhưng không được. Nó không biết xoay ngược người bước xuống sàn và quay lưng ra cửa sổ như thế nào. Tệ hơn nữa, trước đó 2 người đã đi đại tiện và các ống bẩu đã nặng hơn. Trong lúc đang bối rối như vậy thì Huống đứng thẳng trên thớt và kêu lên:

- "Anh ạ! Cố giúp em! Khẩn trương lên anh, em đau bụng 'nắm' rồi!"
Tôi đáp lời nhanh:
- "Mầy cố khắc phục, để tao bảo thằng Tàu nằm phía ngoài bên kia biểu diễn cho mày coi. Bước xuống! Mày đứng thẳng người trên bệ nằm như thế thì ỉa đái cái chó gì được! Sao không tuột quần xuống đi, còn xấu hổ à?"

Tôi quay sang bảo anh Trung Quốc nằm bên ngoài ở thớt bên kia đứng xuống và biểu diễn màn đi cầu trong cùm. Anh Tàu bước một chân xuống và chụp lấy cái ống bẩu biểu diễn cách đi cầu với chân trong cùm một cách nhẹ nhàng và đẹp mắt. Bên này Huống ta cố gắng tối đa để làm theo, nhưng mặt mày nhăn nhó kêu đau vì móng cùm cày vào cổ chân trong lúc anh cố gắng xoay người. Cổ chân anh gần chảy máu mà vẫn không xoay người bước một chân xuống sàn được, vì cổ chân anh ta to mà móng cùm lại nhỏ. Những móng cùm to hơn một chút thì bọn tù kỷ luật chúng tôi đã thủ mửi người một chiếc như vật gia bảo của mình rồi, khách vãng lai phải chịu thiệt thòi hơn. Thấy không cách gì Huống có thể bước xuống sàn khi chân bị cùm, tôi hỏi:

- "Mầy có thể khắc phục tới sáng ngày không Huống?"
- "Chết mất anh ơi! Em chột dạ 'nắm' rồi, sắp sửa ra quần rồi anh ạ!"
- "Vậy mày đứng trên thớt làm được không?"
- "Em phải cố thôi! Em chột dạ 'nắm' rồi. Xin anh giúp chuyền ống bẩu cho em với!"
- "Ban sáng mày ăn gì mà chột dạ?"
- "Em ăn 'nạc' sống và uống nước 'nạnh' vào! Khổ thân em!"
Tôi bực mình, nhưng lại buồn cười khi nghe hắn ta nói, bèn phán to:
- "Khổ gì mày? Khổ tao thì có!"

Nghe tôi to tiếng, Huống tưởng tôi nạt nên sợ cuống cuồng vội vàng nói:
- "Em xin anh! Em van anh!"
Thái độ của Huống "điếu cày" lúc này càng làm tôi tức cười không chịu được. Mặt mày nó nhăn nhó, tay chân cuống cuồng. Thấy thế tôi bước xuống cầm hai ống bẩu lên và bảo nó:
- "Vậy thì mày đứng trên bệ, tuột quần xuống, đứng dạng hai chân và rùn người xuống như cái thế con chó đang đứng ỉa! Mầy có trông thấy con chó ỉa bao giờ chưa?"
Huống đáp vội vàng:
- "Có, có! Em còn 'nạ' gì chó ỉa cơ chứ!"
- "Được rồi! Một tay cầm ống bẩu nhỏ hứng phía trước, tay kia cầm ống bẩu to này áp sát vào sau mông. Phải nhớ áp thật sát vào mông nghe mậy, nhưng mầy thuận tay nào?"
- "Em thuận tay phải!"
- "Vậy mầy dùng tay phải cầm ống bẩu phía sau vì nó nặng và khó điều khiển hơn cái hứng nước tiểu phía trước. Nhớ phải cầm thật chặt nghe chưa?"

Tội nghiệp Huống! Anh ta vô cùng vất vả mới cầm được hai ống bẩu cho đúng tư thế. Trong khi đó sự đòi hỏi càng lúc càng khẩn trương!

Chỉ dẫn cho Huống xong, tôi nằm dài thẳng người xuống với chiếc chân trái dính vào cùm và nhìn lên. Cái ống bẩu "hậu vệ" của Huống đang chỉa thẳng vào mặt khiến tôi lo ngại. Tội nghiệp anh tù hình sự đang đứng trong một tư thế khom người rất kỳ dị. Đôi chân dang rộng, hai đầu gối co lại, người rùn xuống thấp và khom lưng cong người về phía trước. Tôi chưa trông thấy con người đứng trong tư thế đó bao giờ nên không biết diễn tả đó là cái "thế" gì! Nếu gọi là thế "xuống tấn" trong Thái Cực Đạo thì đôi chân phải dang rộng hơn, thân người phải thẳng và phải rùn người xuống thấp hơn mới đúng. Xem ra nó hơi giống cái thế của các vận động viên bơi lội trước khi lấy đà phóng xuống hồ bơi, nhưng chỉ giống ở cái lưng cong còn đầu gối các vận động viên phải thẳng, không thể như hai đầu gối của Huống trong lúc đang đứng ngay trước mắt tôi đây được. Vì sống đã lâu năm trong tù, chứng kiến quá nhiều cảnh tù kỷ luật đứng đi cầu "nổi" bằng hai ống bẩu, nên tôi mường tượng tới cảnh con chó đứng ỉa. Cũng may là Huống khá thông minh! Tôi vừa nói cái thế chó ỉa là anh ta hiểu ngay, nhưng lúc này anh ta biểu diễn không đúng lắm vì một cổ chân còn vướng vào cùm. Nhưng phải nói anh ta biểu diễn không đến nửi tệ. Tay trái Huống cầm ống bẩu nhỏ và dài phía trước coi bộ đã ổn, nhưng tay phải choàng ra phía sau dường như chưa làm chủ được cái ống bẩu có đường kính khá to và nặng, vì bên trong đã có phân. Nằm dưới nhìn lên thấy tình thế quá đe dọa, tôi lo sợ lên tiếng:

- "Huống! Huống! Đừng cầm trên miệng ống, không được đâu! Cầm ở lưng chừng một phần ba ống bẩu mới được. Mầy cầm như vậy làm sao thúc sát vào mông được!"

Tôi càng lên tiếng anh ta càng lụp chụp. Tôi nghĩ rất nhanh, phải ngồi lên cầm giúp nó mới được, bằng không sẽ phải lãnh đủ. Tôi ngồi bật dậy, một tay vừa đụng tới ống bẩu, chưa kịp nắm lấy thì bất thần tôi nghe một âm thanh lạ lùng và sắc nhọn như tiếng gió gào qua khe cửa: "Phụụụụụụt!" Đồng thời với cảm giác ấm và nặng như trận mưa đá tưới thẳng vào mặt tôi! Tiếp theo là bản hòa âm ngay bên tai tôi, nhưng chẳng giọng nào ăn khớp với giọng nào. Có tiếng thì quá trầm như ếch kêu "Uỳụụp! Uỳụụp! Uỳụup!" hòa với tiếng rít cao vút từng mây "Rooét! Rooét! Rooét!" Bằng hành động phản xạ, tôi đưa hai bàn tay che mặt và nhắm mắt lại nên không bị nước bắn vào mắt. Nhưng từ tóc, đầu, mặt, hai mu bàn tay và dài xuống tới ngực lãnh trọn những gì tự nãy giờ đã hành tội trong bụng Huống. Tôi chợt nhận ra phản xạ kỳ diệu của mi mắt. Nếu cái gì có thể làm nguy hại cho tròng mắt là nó tự động khép lại. Nếu mi mắt chờ tới khi nhận lệnh của hệ thần kinh mới làm việc thì hôm đó không biết đôi mắt tôi sẽ ra sao. Biết là tai họa xảy ra, Huống vội vàng quay người lại hốt hoảng la lên: "Ối giời ơi! Ối giời ơi!" Trong lúc đó, một chân anh bị vướng trong cùm, tay kia cầm ống bẩu phía trước, bàn tay phía sau bị ướt đẫm trơn trợt làm ống bẩu nặng tuột rơi xuống đổ tháo, cứt đái vương vãi nằm lăn lóc bét nhè trên chăn chiếu của hai người! Trời ơi là trời! Biết nói làm sao đây?

Sự việc xảy ra quá nhanh và bất ngờ khiến không ai kịp phản ứng gì. Hai người tù Trung Quốc bị cùm thớt bên kia nhìn thấy sự thể vụt ngồi lên chỉ trỏ và dùng tiếng tục tĩu nhất rong ngôn ngữ Trung Hoa để chửi Huống. Mặc dù Huống không hiểu tiếng, nhưng qua cách biểu lộ thái độ giận dữ anh ta cũng hiểu được hai anh tù ngoại quốc này muốn nói gì. Huống đứng chết trân run rẩy vì sợ hãi, luôn miệng kêu:

- "Anh ạ, em 'nạy' anh! Em 'nạy' anh xin tha cho em!"

Có lẽ trong thâm tâm lúc đó người tù hình sự đáng thương này nghĩ là anh ta đã phạm một lửi lầm quá lớn trong tù là dám ỉa vào mặt "đại ca", và tội này đáng chết! Huống ngồi bệt ngay xuống, không kịp lau chùi gì cả. Anh vội vàng cởi các nút áo ra mà tôi biết là để lau chùi cho tôi và chờ cuộc phán xét. Tôi cũng vội vàng ngồi lên và cởi cái áo đang mặc ướt đẫm ra lau mặt và lau tóc tai. Thấy tôi ngồi dậy, Huống quay lại chắp hai tay trước ngực lạy tôi như tế sao, đôi tay run rẩy, miệng lẩm bẩm:

- "Em van 'nạy' anh, xin tha cho em! Xin tha cho em!"

Tôi chợt cảm thương Huống! Anh ta có tội gì đâu! Để bù lại cho nửi lo sợ và thái độ van xin của anh, tôi buột miệng nói một câu hài hước làm Huống vô cùng ngạc nhiên. Cả hai anh Trung Quốc cũng lấy làm lạ sau khi nghe tôi nói dịch ra tiếng Phổ Thông:

- "Tao cám ơn mầy Huống! Trong kỷ luật tháng tắm hai lần, bữa nay mầy cho tao tắm thêm một lần nữa là ba!"
Nói xong tôi cười xòa, tay vử lên vai Huống và tiếp:
- "Đừng sợ! Mày chẳng có lửi gì cả. Đâu ai muốn như thế này. Chẳng qua vì hoàn cảnh mà anh em mình đành phải chịu!"
Huống cảm động nói như muốn khóc:
- "Em cám ơn anh! Em cám ơn anh thương em!"

Vừa nói anh vừa lấy áo mình lau người cho tôi. Tôi để yên cho anh làm việc đó vì muốn chứng tỏ là tôi không buồn giận gì Huống cả. Chỉ có nụ cười của sự rộng lượng mới cứu vãn được tình thế lúc bấy giờ.

Lạ một điều là mặc dù lúc đó tôi bị phân người bê bết trên mặt mày đầu tóc, trên áo quần và chăn mền, nhưng khi lau khô rồi tôi lại chẳng nghe mùi thối tha gì cả. Điều này làm tôi ngạc nhiên về sự kỳ diệu của sự bão hòa khứu giác. Vì nếu trong hoàn cảnh đó mà khứu giác chúng tôi hoạt động một cách nhạy bén bình thường thì làm sao chịu được? Đó là một tai nạn lớn, nhưng trong cái rủi cũng có cái may! May là việc này xảy ra chỉ còn cách năm ngày nữa là tới lượt chúng tôi được xuống sông Mã tắm giặt. Nếu tai nạn này xảy ra sau khi mới được đi tắm và phải chờ tới 15 ngày sau thì cũng hơi căng! Hôm ngày đi tắm, nước sông Mã thượng nguồn rất trong và mát đã giúp tôi tẩy sạch mọi thứ nhơ bẩn trên người, và quần áo chăn chiếu cũng được giặt giũ cẩn thận. Hôm đó tôi lại cảm thấy mình trở nên thơm tho và tươi mát. Tuy nhiên, nhiều người khác lại không cảm thấy như tôi. Và câu chuyện sau đây chứng minh cho điều đó.

Một buổi sáng kia, nhóm tù trong khu kỷ luật chúng tôi cũng được ra tập họp chung với tất cả những người khác dưới sân trại để cán bộ kiểm tra lại hồ sơ của từng người. Lâu ngày mới được ra sân và rất mừng khi gặp lại anh em. Tôi liền chạy tới ngồi bên cha Cao Đức Thuận mà tôi gọi là "Bố Thuận", lúc bấy giờ ở khu kiên giam. Cha Thuận rất thương tôi và chúng tôi đã từng sống và ăn uống sinh hoạt chung ở trại Cổng Trời. Lâu lắm không được gặp nhau, nên khi thấy cha Thuận tôi mừng quá. Vả lại hôm đó lại được tiếp xúc tự do, nên tôi chạy ùa ngay tới bên cha Thuận đang ngồi chung với các Linh mục khác. Điều làm tôi vô cùng ngạc nhiên là thái độ của cha Thuận sao tỏ ra quá lạnh nhạt với tôi quá sức. Tôi thực sự không hiểu sao con người nhân hậu đó lại mau thay tâm đổi tính như vậy. Hay cuộc sống khổ đau trong ngục tù đã biến Bố Thuận thành con người khác rồi chăng? Lúc đầu tôi ngỡ là cha sợ cán bộ vì tiếp xúc với tù kỷ luật, nhưng khi nhìn lại, tôi thấy cán bộ cho tiếp xúc tự do. Thái độ cha Thuận làm tôi buồn nhưng không hiểu lý do. Mãi về sau này, sau khi được tha ra khỏi nhà kỷ luật về sống chung với anh em Linh mục khác, tôi mới biết lý do. Vừa gặp lại tôi, ngài nói ngay: "Chú còn nhớ hôm ra sân kiểm tra hồ sơ không?Thấy chú tôi mừng và thương quá sức. Không ngờ con người chú ra quá tàn tạ và nông nửi đó. Nhưng khi chú tới ngồi cạnh bên làm tôi buồn nôn quá. Tôi suýt ói tại chử. Tôi không thể chịu nổi nên phải quay mặt đi, nhưng càng quay đi chú lại càng sấn tới. Lúc đó tôi không tiện nói, sợ chú buồn. Trời ơi! Người chú lúc đó thối tha và tanh tưởi như một đống phân, không tưởng tượng được!"

Nguyễn Hữu Lễ

Nhà Ri

Ðể mến tặng các bạn nhân cuộc họp mặt cựu tù nhân Tiên Lãnh từ khắp nơi được tổ chức vào ngày 14, 15 và 16 tháng 6 năm 2002 tại Garland Texas.

Riêng tặng Bác sĩ Hạnh, DS Châu và anh Lộc ở Việt Nam.

Trong cuộc đời người, cái quan trọng nhất là an cư lạc nghiệp. Ðó là chuyện ngoài đời, tuy nhiên, trong tù, cái chỗ ở thiết tưởng cũng quan trọng vô cùng! Có nhiều anh em, cũng vì cái chỗ ở mà hại bạn bè, cần ăng-tên rung hết cỡ đến nỗi sau khi về xã hội bị tiếng xấu muôn đời... Mỗi trại tù có những đặc trưng riêng.

Ở trại tù Tiên Lãnh của đất Quảng Nam Ðà Nẵng, xứ được bác âu yếm tặng tám chữ vàng “Trung dũng đi đầu kiên cường diệt Mỹ” lại có những điều đặc biệt ghê gớm hơn, lao động khổ sai ác liệt hơn, bệnh tật tàn ác hơn, đói khổ dai dẳng hơn, nhà kỷ luật nhiều và kiên cố hơn và nhất là có một căn nhà kỳ quái ngay phía trái từ cổng trại đi vào, kế bên nhà gác của trực trại.

Căn nhà lù lù như một chuồng bò kiên cố gồm hai gian liền sát nhau. Vách của căn chuồng bò nầy được xây dựng do những tấm vỉ sắt (PSP?) có những lỗ tròn nhỏ dùng lót đường của quân đội Mỹ mà người dân thường gọi là tấm GI nên căn nhà RI có lẽ được phát sinh từ đó.

Ði ngoài nhìn vào thấy căn nhà vừa giống chuồng bò, vừa giống một pháo đài kiên cố với những lỗ châu mai nho nhỏ hau háu những đôi mắt điên dại trừng trừng nhìn ra. Chiều dài mỗi căn nhà khoảng mười thước, chiều rộng khoảng sáu thước. Phía trong mỗi căn được chia làm hai, gồm tầng trên và tầng dưới, tất cả là sạp được lót bằng những tấm gỗ nhỏ, có những rảnh to nhỏ gồ ghề không đều, nằm rất cấn lưng. Những rảnh nhỏ và những lỗ mối mục là chỗ ở của những chú rệp đói luôn luôn tìm cách hút máu những anh em tù ốm đói cũng không thua gì chúng; những cú chích đốt của bầy rệp làm ngứa ngáy và gây ghẻ lỡ khiến người tù không ngủ được. Phía giữa là lối đi nhỏ luôn luôn sình lầy và trơn ướt, nhất là vào mùa mưa gió, căn phòng luôn luôn có mùi ẩm mốc hôi thối của áo quần mang mồ hôi chưa kịp khô, mùi người ghẻ lỡ, mùi phân, nước tiểu, mùi mắm bò hóc (nước muối loãng ngâm vài con nhái bắt được để ăn dần thế mắm nêm!) của anh nào đó quên đậy nắp, mùi thuốc lào, thuốc rê khét lẹt, mùi đánh rấm của nhiều anh đang bị chột bụng..., nói chung trong khoảng không gian kỳ dị đó, luôn luôn có những mùi dị kỳ không làm sao diễn tả được. Nếu ở Paris có người đựng mùi thành phố hoa lệ nầy trong những chai nhỏ bán với giá rất đắt thì nếu ngày nay, cất được mấy chai đựng mùi nhà RI mà đem ra đấu giá, chắc cũng khối bạn từng trải qua kỳ “an cư” ở đó mua làm kỷ niệm, thỉnh thoảng mở nút chai hít một hơi cho nhớ kỳ oanh liệt!

Vì vách làm toàn bằng những tấm vỉ sắt (grills), trên lại lợp tôle nên căn nhà Ri luôn luôn nóng như lò lửa lúc trời nắng. Nằm gần vách vô ý dựa một cái giống như phỏng lửa phải chưởi đổng lên cuộc đời!

Lúc trời lạnh thì gió tứ phương, đâu đâu cũng thấy lỗ gió lùa hun hút! Lạ một cái lúc trời nắng thì cái lỗ xem ra không có tác dụng gì, nhưng lúc trời trở lạnh thì cái lỗ lúc trước bé thế mà giờ sao có cảm tưởng như nó to ra và gió cứ lùa vào hun hút lạnh thấu xương!

Lúc trời mưa lớn có nhiều anh lấy cái cây quấn tấm nhựa chùi ta ngoài lỗ, rồi căng ra như chiếc rớ nhỏ để hứng nước mưa, chứa vào thẩu nhựa rồi vội vàng vào cầu tiêu dội tắm, mỗi anh chia phần được vài thẩu nhựa, vừa tắm truồng vừa run lên vì lạnh nhưng vẫn sung sướng có được một bữa tắm và uống được nước sạch!

Có thơ vịnh nhà Ri như vầy:

Chuồng bò, chuồng lợn, cái chuồng chi?

Vỉ sắt vây quanh thấy lạ kỳ

Nắng cực ngày hè thêm đổ lửa

Hồn lo đêm lạnh lúc đêm đông

Ngày ăn hai bữa cơm cùng sắn

Nước uống đong đầy chỉ một ly

Chui rúc cả bầy như thú vật

Hỏi ra mới biết, ấy nhà Ri!

Ðội nhà Ri có nhiều đặc biệt mà đội khác không có:

- Ðội có nhiều lò nấu nhất: Ở tù mới biết câu “cùng tắc biến” thật đúng vô cùng. Nội quy trại cấm nấu nướng trong phòng, nhưng vì không được ra ngoài vì liệt vào thành phần nguy hiểm và sợ trốn trại, nên anh em nhà Ri thèm ăn đồ nóng phải biến chiêu làm thế nào để có lò để nấu nướng. Thế là đội nhà Ri có nhiều lò nhất, các anh khéo tay đã lấy lon gô (lon sữa Guigoz) cắt ra làm hai, một phần làm thân lò đục nhiều lỗ nhỏ, phần kia dùng nhựa nấu chảy làm mồi lửa, đốt lên, úp phần đục lỗ lên trên, lửa rò qua lỗ nhỏ xanh như bếp ga, nấu thoải mái. Có nhiều anh có tấm tôle mỏng, gò thành chiecá lò nấu bằng than hay đáo để!

- Ðội có nhiều dao nhất: Nhiều anh em khéo tay, khi ra ngoài tìm được thanh tôle mỏng, thu vào được vội vàng đem mài thành con dao nhỏ để xắc chuối hoặc gọt sắn khi “cải thiện”, cắt ngọn rau, làm thịt con chuột, con nhái khi gặp may. Có điều rất đáng khen là anh em không bao giờ dùng con dao nhỏ để thanh toán hay dọa dẫm nhau, nhưng suy cho cùng thì hầu như anh nào cũng thủ một con dao nên có lẽ vì vũ khí tương đồng nên địch cũng ngán ta mà ta cũng ngán địch (!?).

- Ðội nấu nướng linh tinh nhất: Vì bị nhốt lâu đâm cùn cẳng nên anh em đâm liều, lâu lâu được nuôi nhỏ giọt (nhà Ri được xem như nhà kỷ luật nên chỉ cho nhận quà 3 ký, không cho gặp mặt), rồi anh em từng nhóm quây quần lại với nhau, nhóm góc nầy, nhóm góc kia, trên gác, dưới sàn nấu nướng, quạt than, lên lò, khói bay um sùm quanh phòng, chun ra các lỗ nhỏ ra ngoài, đến nỗi các nhà phía trên dốc, mỗi chiều ngồi điểm danh trông xuống nhà Ri cứ tưởng như toa tàu đang bốc khói.

- Bị soát xét nhiều lần nhất: Cũng vì khói ra mù mịt nên trực trại thường cho trật tự vào xét nhiều lần. Trật tự thu hết lò, dao và cái gia tài quý nhất của người tù là lon gô “cải thiện” cũng bị thu luôn, nếu thấy bị cháy đen. Nhìn đồ bị thu chất thành đống, anh em nhà Ri tiếc đứt ruột, các anh em nhà khác thấy phát thèm, anh nào nhanh tay cuỗm được một cái làm vốn thì đời cũng lên hương! Bị tịch thu hết dụng cụ “cải thiện”, tuy nhiên có nhiều bạn cũng lén thu dấu được cái lò, con dao, cũng có anh quen với trật tự nên bọn nầy bỏ qua không xét. Cuối cùng nhà Ri vẫn còn “lên lửa” được, nhưng được đặt trong tình trạng báo động với sự làm ngơ của anh đội trưởng (thời anh Có). Rồi với tinh thần không chịu khuất phục, đúng với tinh thần xây dựng “mười lần hơn của bác”, phe nhà Ri lại cần cù làm lại lò, mài lại dao:

Dù cho lò bệ tiêu hao

Phe ta làm lại gấp mười lần hơn!

Thật vậy, những lần tịch thu sau, những thiết bị lò, những thiết bị dao lại càng nhiều hơn và tối tân hơn!

- Ðội đánh Domino ăn thuốc rê nhiều nhất: Thỉnh thoảng trại phát cho mỗi người một phần thuốc rê. Ðội nhà Ri không được ra ngoài, nên để khỏi phát điên, anh em trong nhà, kể cả anh đội trưởng, chia phe đánh domino, làm bằng những thanh tre � ăn nhau bằng thuốc rê cho đỡ buồn. Có nhiều anh không biết hút thuốc cũng đánh chơi, có khi ăn cả nón, nhưng cũng lắm khi không còn một cọng làm vốn! Có đánh bạc thì có máu ăn thua, có cãi nhau, nói móc nhau trong chiếu bạc, nên vô hình trung thời gian trôi rất nhanh và phe ta lại cười xòa thoải mái.

- Ðược mệnh danh là đội B40: Sau một thời gian dài, một số anh em được biên chế cho lao động ngoài, một số vẫn ở nhà. Vì bị nhốt lâu nên khi ra lao động, anh em “cải thiện” tối đa. Hồi đó phải chặt bỏ chuối cây để lấy đất trồng sắn, anh em lựa những khúc thân chuối còn non, lột bớt vỏ ngoài, mỗi người mỗi khúc chuối vác lên vai. Khi chờ nhập trại, nhìn qua lỗ tròn nhỏ, thấy trên vai mỗi người vác một thanh chuối chỉa vào trại, Nguyễn Như Ða cười chưởi đổng:

-ÐM, giống như đội B40 của Việt Cộng không bằng.

Cả phòng cười rộ, nhìn ra ngoài thì thấy giống thật, nhưng khổ một nỗi là lần lượt tất cả các khẩu B40 đều bị tên trực trại tịch thu, các xạ thủ mặt nhăn như bị, xin xỏ nhưng nó vẫn không cho. Riêng có vài xạ thủ mặt vẫn tươi tỉnh đi vào hiên ngang, nhìn kỹ thì chân quấn xà cạp, xạ thủ chạy vội vào nhà quên cả tắm, xổ quần thì một hai khúc chuối nhỏ rớt ra. Có anh vừa cười vừa nói:

-Tụi bay ngu quá, hành quân là phải tiên liệu, tri kỷ tri bỉ, biết người biết ta. Như ta đây khi giải lao lấy dao nhỏ mang theo xắc nhỏ khẩu B40 cho vào gô, bây giờ thì có quyền có chuối làm dưa hết xẩy.

Cả phòng lại rộ lên cười và truyền kinh nghiệm cho lần tới ...(anh Ða đã tự vẫn khi ra khỏi tù).

Ðội nhà Ri mỗi khi về trại lại hiên ngang vác thân chuối chỉa thẳng vào và có danh hiệu đội B40 từ đó.

-Có người kể chuyện hay không ai bằng: Là “mệ” Vĩnh Luân, thiếu úy, tù vượt biên, thông minh hơn người vì có trí nhớ dai. Luân thường giúp vui anh em bằng cách kể chuyện kiếm hiệp của Kim Dung. Mỗi tối, anh em, thường quây quần bên Luân, lo phục vụ, người điếu thuốc rê, kẻ ly chanh đường cho Luân thấm giọng, phục vụ cho mệ còn hơn phục vụ cho người yêu ngoài đời để mệ kể chuyện cho trơn tru không thôi mệ rầy.

Mệ hắng giọng rồi thao thao bất tuyệt kể từ Thần Ðiêu Ðại Hiệp cho đến Cô Gái Ðồ Long, Tiếu Ngộ Giang Hồ v...v... Luân kể hấp dẫn đến nỗi ban đầu bọn cán bộ đứng rình nghe có ai nói phản động không, một thời gian chúng bị lôi cuốn bởi câu chuyện hấp dẫn, nên tối nào chúng cũng rình đứng nghe.Luân không kể thì chúng kèo nài, riết rồi Luân tức quá, một tối kia cho hai phe chánh giáo cùng tà giáo lên đỉnh Quang Minh đánh nhau một trận trời long đất lở, tất cả đều bị văng xuống vực chết ráo hết. Mấy tên cán bộ mới nghe chút xíu thì Luân ngừng không kể nữa. Một tên hỏi:

-Tối nay sao kể nhanh vậy, tiếp tục nữa đi chớ.

Luân cười bảo:

-Chết hết rồi thì hết chuyện chứ còn ai đâu mà kể

.

Cả phòng đều rộ lên, mấy tên cán bộ biết mệ Luân chơi xỏ cũng đành bỏ đi. Mệ chờ một lát rồi bắt đầu kể tiếp cho anh em nghe. Anh Luân đang còn ở Việt Nam và nghe đâu là một Astrologer (chiêm tinh gia) nổi tiếng. Anh cũng làm thơ rất hay, bàng bạc triết lý trong đó như bài : Chén nhân duyên”:

Nuốt chưa trôi cõi đọa đày

Tái tê tất dạ những ngày ngồi không

Nhân duyên là chén rượu nồng

Cho tươi khuôn mặt phiêu bồng trăm năm.

-Có người hát rất hay: Là Châu Lúa, tù vượt biên, người An Hải quận Ba, có tiếng hát hay như Anh Khoa. Hồi tôi mới bị chuyển lên Tiên Lãnh từ trại Hội An, nằm mơ màng nghe tiếng hát của ai hay quá, giọng ngọt ngào, hơi dài và có những luyến láy điêu luyện, hỏi ra mới biết anh là Châu Lúa. Nghe tên có vẻ có tiểu sử gì đây. Có người bảo sở dĩ có tên Lúa ở sau vì anh đi gánh lúa từ trên đồi, gánh nặng quá nên Châu bèn cột chặt bó lúa và lăn từ trên đồi xuống cho khỏe. Xuống nhặt bó lúa lên để gánh tiếp thì lúa đã xổ tung ra, hạt rụng hết, còn không bằng một bó hoa. Bị đưa về trại và bị kỷ luật nên từ đó có tên là Châu Lúa (không biết có đúng không, nhờ các bạn nhà Ri cho biết).

-Có cao thủ cờ tướng: Lê Tự Hưng. Ở trai Tiên Lãnh có ba cao thủ: ông Ðiều (làm tại cảng Ðà Nẵng), bác sĩ Hạnh và Hưng nhà Ri. Hưng, Ðại úy Hải quân, bàn giao tàu cho Cộng sản, quê ở Thanh Quít,gia đình liên hệ với CS. Hưng lanh lẹ, ra cờ nhanh, trong một dịp Tết, Hưng được vào chung kết cờ người với BS Hạnh. Tướng bên Hưng là một cô gái can tội hình sự mặt mày tái xanh, ngồi trong cung tướng hút thuốc rê liên miên, nhìn cô tướng mà phát chán. Tướng phía bên kia xem có da có thịt hơn. Cờ tàn, Hưng đang thắng thế, nhưng rồi bị đi sai một nước và cuối cùng BS Hạnh thắng. Nhà Ri chọc quê Hưng nói vì bà tướng “no hair” nên Hưng bị xui!

-Có nhiều người ra vô nhà kỷ luật nhất: Ngay sau lưng nhà Ri là nhà kỷ luật kiên cố, mỗi khi nhìn trật tự cho nhà kỷ luật ăn cơm độn sắn, thỉnh thỏang trông thấy anh em trong khu kỷ luật ra nhận phần ăn, họ run rẩy, ghẻ lỡ râu tóc bù xù, xanh như tàu lá, hai mắt thất thần, trông vừa thương vừa phát khiếp. Thỉnh thoảng lại thấy khiêng ra một anh đã chết, mình mẩy phù thũng phình to như xác chết trôi. Hỏi ra thì anh đã bị nhốt trong nhà kỷ luật đã mấy năm. Suy gẫm mới thấy cái “ưu việt của xã hội chủ nghĩa” quyết tâm nhốt cho đến chết mới thôi. Vì gần nhà kỷ luật nên “có hương” dân nhà Ri thay nhau vào nhà kỷ luật như cơm bữa (Chung, Kiên, Tiêm, Thanh, Châu, Hồng v...v...)

- Nhà nhốt đủ thành phần nhất: Chính trị phản động (âm mưu lật đổ chính quyến) có án tù chung thân đến mười năm, phản động hiện hành (anh em vượt biên), các sĩ quan bị tái tập trung, trong đó có một người là Thiếu tá Võ Hiển (anh của ông Võ Ðại Tôn). Bác Hiển là người ăn ở sạch sẽ nổi tiếng khi còn ở trong quân đội, đôi lúc thái quá nên có nhiều người bực mình. Lúc ở tù, ai nằm gần ông mà gặp lúc số tù lên gần cả trăm, tiêu chuẩn mỗi người chiều ngang khoảng ba tấc, ban đêm ngủ quên, lấn qua phần của ông thì sẽ bị ông thức dậy đo lại phần lấn chiếm, nên có nhiều anh dở khóc dở cười. Sau một thời gian ở tù, bác Hiển đã quen dần với lối sống tập thể, hòa đồng với anh em, ngoài ra ông có tài kể chuyện rất hay, nhất là môn sử thế giới, mối tình giữa Napoléon và Joséphine ... Ông có lý tưởng chống Côïng triệt để và hay nói lớn những câu chưởi CS, báo hại đội phải họp hành liên miên theo lệnh quản giáo cốt làm biên bản để đưa ông đi kỷ kuật, nhưng tất cả anh em đều khoái ông và thay vì kiểm điểm, họ đều nêu những lý luận để bênh vực ông. Nghe đâu hiện bác Hiển đang lâm bệnh nặng. Tập thể nhà Ri cầu mong bác chóng lành bệnh để nghe lại được những tiếng sang sảng của bác cũng như những câu móc họng bọn CS vô thần...

Nhà Ri cũng nhốt những thành phần Quốc Dân Ðảng người Hoa thời Tổng Thống Tưởng Giới Thạch xa xưa. Ðặc biệt có ông Tam Tổ Phát, người ốm yếu, cao hơn thước tám, gặp lúc nhà thăm nuôi mà tên cán bộ lại không cho nói tiếng Tàu, ông Phát vốn thích ăn xôi nên từ đầu chí cuối chỉ nói một tiếng xôi mà thôi. Oâng thường than vắn thở dài nói ông đang có một tiệm làm ăn ngon lành trên đường Ðồng Khánh Ðà Nẵng, đùng một đêm, công an soát nhà và đọc lệnh bắt giam vì là cựu sĩ quan thời Tưởng Giới Thạch cả 40 năm trước. Ðúng là tổ trác nên anh em gọi ông là Tam Tổ Trác!

Nhà Ri chỉ nhốt một tù hình sự độc nhất tên là Châu, bộ đội CS, can tội giết người hay tham nhũng hủ hóa gì đó. Trại nhốt Châu vào nhà Ri cho làm đội trưởng để theo dõi và đàn áp anh em. Không ngờ Châu đói quá nên chỉ lo đi “cải thiện” trộm sắn, nhổ đậu, xin ruốc ớt nấu nướng nên đội nhà Ri cũng đỡ phần nào. Có lần Châu ăn cắp sắn bị quản giáo bắt được chưởi bới ôm sòm, mặc dầu trước đây Châu cũng cùng chiến tuyến với bọn đó, và cuối cùng Châu cũng bị nhốt vào nhà kỷ luật một thời gian. Sau đó, đội trưởng Lưu Như H. lên thay. Anh là người ăn học nhưng hoạt đầu hay báo cáo anh em. Nghe đâu H. là cử nhân toán, nhưng khi làm đội trưởng anh ta rất sợ đám cán bộ nên quên hết, cứ bắt đội sắp hàng lại, rồi lấy tay nhịp từng người mà đếm tới đếm lui như gà mổ. Ðến khi báo cáo đội đi làm, anh ta lắp bắp quên tuốt, bị trực trại nạt, anh ta lại làm một màn gà mổ khác để đếm lại.

Chuyện đội nhà Ri còn nhiều nhân vật khác nữa, tuổi trẻ tài cao như Tiêm, Ba, Diệu ...khi khởi ngĩa với vũ khí ở Thăng Bình chống CS còn quá trẻ mà nay phải mang án 20, 18, 15 năm. Những phục quốc quân như Chung, Sử án 20 năm. Những sĩ quan dễ mến như Lộc (còn ở VN), Tuấn cò, Nhạc, Phúc Gò Công, Tư Riềng (Kiên)... Những tay trẻ vượt biên chống đối hết mình như Huỳnh Công Ðấu, Cao Minh v...v... còn nhiều và còn nhiều nữa; họ như các hảo hớn Lương Sơn Bạc chống đối thời thế nhiễu nhương, như một quần tinh tụ tập ở nơi sơn cùng thủy tận, ở căn nhà Ri xứ Tiên Lãnh đìu hiu.

Cũng có một số ít, vì bị khuất phục trước bạo lực, hoặc có liên hệ bà con với CS nên cố gắng lập công làm hại anh em, tuy nhiên đó chỉ là thiểu số.

Cũng gần 30 năm trôi qua, tất cả chúng ta tóc điểm muối tiêu, có người đã ở lứa tuổi cổ lai hy. Nhiều bạn bè đã vĩnh viễn ra đi, nhiều người không mang bệnh nầy cũng vướng bệnh kia vì thời gian tù tội quá lâu, có anh em khác lại vướng bệnh trầm kha đang ở waiting list...

Cuộc đời vốn vô thường, chúng ta chỉ cầu mong những anh em xưa kia đối xử không quang minh chính đại, giờ đây nên sám hối tội lỗi của mình để khi bất ngờ gặp nhau có thể nhìn thẳng vào nhau với đôi mắt trong sáng không mặc cảm, không còn gợn vết nhơ.

Gặp nhau, sung sướng nhất là hàn huyên tâm sự, chúc nhau sức khỏe và phải biết rót cho ai “người tri kỷ”:

Nghiêng bầu mà hỏi

Thiên hạ mang mang

Ai người tri kỷ

Lại đây cùng ta cạn một Hồ Trường

Hồ Trường! Hồ Trường! Ta biết rót về đâu?

(Thơ Nguyễn Bá Trạc)

Sacramento, Hè 2002

Bác Sĩ Tôn Thất Sang




XIN ĐỌC : 195 TRUYỆN TÙ CẢI TẠO
DO TRÂU GIÀ SƯU TẬP

http://www.hungviet.org/ncct/ncct4.html

*

No comments: