Monday, June 1, 2009

TÀI LIỆU 2 VỀ TRẦN ĐỘ


III.TÀI LIỆU III. TRẦN ĐỘ * NHẬT KÝ RỒNG RẮN (5)


http://www.ykien.net/trando01a.html


Đây là một bản kết án chế độ cộng sản. Rất có giá tri về tư tưỏng.

IV. TRẦN ĐỘ * HỒI KÝ

Tập này rất dài. Xin xem tại
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1n4nvn31n343tq83a3q3m3237nvn

Sau đây, chúng tôi trích lại một đoạn về cuộc Tấn công mậu thân. Các tài liệu khác khoe khoang chiến thắng mậu thân (1968), Trần Độ thì cho đó là một thất bại.

Đầu năm 1965, tôi và anh Tấn đi chỉ huy chiến dịch Đồng Xoài, lại đem thực hiện cái mẹo đánh điểm diệt viện đã có kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi chủ trương đánh cứ điểm Đồng Xoài với dự đoán địch sẽ phải đưa quân tới tiếp viện hoặc là đổ bộ bằng trực thăng. Vậy phải bố trí lực lượng ở những nơi cơ động thì mới tiêu diệt được số tiếp viện. Kế hoạch này đã thực hiện được. Nhưng Đồng Xoài đánh không dứt điểm. Bên ta đã chiếm được đến 2/3 căn cứ song bị thương vong nhiều. Tôi với anh Tấn phải xử lý tình huống này, lại như hồi đánh Pháp ở Nghĩa Lộ, quyết định dừng lại, rút về. Việc trao đổi ý kiến về vấn đề này vẫn không dễ dàng, phải hết sức trung thực trình bày suy tính mọi bề để bàn bạc thật thông suốt mới đi đến quyết định.
Trận đánh ở vùng đồn điền Thuận lợi, phía bắc Đồng Xoài tiêu diệt được một tiểu đoàn. Sau đó chúng tôi kéo quân lên phía Bắc, vùng Bù Đốp vào đầu đợt hai chiến dịch. Đúng là chúng tôi đã phát huy được những kinh nghiệm chiến đấu. Hành quân dọc đường đều gặp những làng của công nhân đồn điền cao su. Kế hoạch là đi giữ bí mật vậy mà dân vẫn biết. Tuy vậy họ cũng biết giữ bí mật cho quân đội, không làm gì lộn xộn ồn ào cả. Đi qua các làng đó thật xúc động vì như đi qua các vùng ngoài Bắc. Tiếng nói từ các nhà vọng ra là giọng Bắc, cách mắng mỏ con cái, tiếng rít thuốc lào y hệt ở làng xóm ngoài Bắc. Tôi nghĩ đến cảnh dân nghèo miền Bắc đi phụ đồn điền cao su trước đây cho Pháp, đã đói khát còn lại bị bóc lột tận xương tủy: miên man nghĩ về đất nước Nam Bắc một giải, nghĩ đến lòng dân đang mong mỏi độc lập lự do mà khó nén nổi xúc động. Chuyến đó dẫn đường cho chúng tôi là ông Tư Nguyện, bí thư Phước Long. Sau này ông là Tổng cục trưởng tổng cục cao su, một con người vui tính. Để nghỉ chân ông đã dẫn chúng tôi vào cơ quan huyện trên đường đi. Tiếp tục cuộc hành quân thì cậu dẫn đường đã bị lạc. Đưa hai người là chỉ huy và chính ủy mặt trận mà lạc đường, làm ông Tư Nguyện rất lo lắng, cậu liên lạc cũng hoảng sợ. Ông Tấn tính vốn nóng cứ giậm chân giậm cẳng. Tôi khẽ nhắc ông là bình tĩnh để tính liệu. Tôi tìm chuyện vui nói cho không khí thoải mái trở lại, cả đêm hôm đó cứ đi hoài cuối cùng cũng tới nơi. Tôi biết lần ấy người khổ tâm nhất là ông Tư Nguyện.
Tiếp theo sau là chuyến hành quân từ phía đông sang phía tây thị xã Phước Long, qua núi Bà Rá. Đợt này, ông Nguyễn Minh Châu, tư lệnh khu 6, tên gọi là năm Ngà dẫn đường. Đồng chí này thì rất cẩn thận. Có đoạn đường khi đi qua, địch đóng ở đầu núi Bà Rá có thể nhìn thấy, ông dặn dò trước rất chu đáo. Cuộc hành quân ấy đi liền trong ba mươi sáu tiếng đồng hồ, toàn phải luồn rừng. Khi đoàn đến ngã ba đường cái, cách chừng trăm mét thì mấy loại pháo nện xuống chỗ ngã ba. Là ngẫu nhiên hay vì chúng phát hiện được mà bắn thì không rõ. Ông Năm Ngà kiên quyết bắt quay trở lại. Tôi thì cho là nó bắn vu vơ, ít đợt sẽ ngừng thôi. Chả lẽ nó bắn cả đêm! Nhưng ông Năm Ngà không đồng ý đi tiếp vì nguy hiểm. Trở lại đi đường khác, lại vòng qua mấy trạm giao liên, lội lên lội xuống tới hai giờ sáng. Tính ra là đã phải đi suốt đêm hôm trước, ngày hôm sau và cả đêm hôm sau, trừ những khoảng nghỉ ngắn ngủi. Đêm hôm đó cũng tới khuya tới chỗ tập kết để đánh Bù Đốp mới dừng lại. Ai cũng mệt lả nên được nghỉ chân thì sướng như tiên. Trời mưa, ai cũng ướt sũng. Tính nhóm lửa để hơ quần. áo, song vừa loé ánh sáng thì từ Bà Rá địch nã pháo ngay xuong trúng vào chỗ trú quân. Thế là phải cuốn gói, chuyển chỗ. Rút kinh nghiệm lần lạc đường vừa qua, tôi chú ý động viên cậu liên lạc bình tĩnh, nhớ đường chính xác. Có chỗ chúng tôi phải dừng lại cho cậu ấy lên trước xác định lại đường đi cho chắc chắn rồi quay lại đón đoàn đi tiếp. Tuy có chậm nhưng chắc, nhất là anh em không phải đi lòng vòng rất mệt mỏi. Khi chúng tôi đánh xong Bù Đốp thì địch ở Bù Gia Mập cũng bỏ chạy. Các anh ở tỉnh khen bộ đội thật tài. Đến chiến dịch Nguyễn Huệ thì tôi đi với ông Trà, trước đó đă có lần tôi xuống khu Tám để kiểm điểm Xuân 68, tôi đã thu hoạch được nhiều điều bổ ích. Nói là xuống đồng bằng, thực sự mới là vùng ven thôi. Các anh đóng ở đây quen, dùng nhiều từ ngữ phát sinh từ chiến đấu, phải trực tiếp và trực diện nghe thì mới hiểu nổi. Ví dụ các anh dùng từ: hai chân, ba mũi hay ba mũi giáp công rồl thế hợp pháp. v. v... Xuống đây thấy rõ các anh điều khiển cuộc chiến tranh ở đồng bằng rất chú ý đến thế hợp pháp. Đã có lúc tôi nặng lời với đồng chí bí thư khu ủy: Đến lúc này mà các anh còn tính tới thế hợp pháp thì làm sao mà có lực lượng để tiến công, làm sao để có tinh thần tiến công được!. Đến khi tình hình diễn biến mới thấy là các anh có kinh nghiệm sát thực tế. Dân ở đây cũng rất từng trải cuộc chiến. Cứ quân ta giải phóng xong thì địch chiếm lại. Quân ta lại đánh giải phóng, địch lại chiếm lại. Mỗi đợt như vậy địch thi hành nhiều âm mưu tàn khốc, thâm độc nên người dân rất cực khổ. Cứ mỗi lần địch quay lại được là dân phải chịu đựng gay go hơn trước. Cho nên cứ khi ta chuẩn bị đánh lớn thì dân lại hỏi: Tụi bay chuyến này có định làm thiệt không đấy?. Quân ta lại quả quyết với dân là làm thiệt. - ừ! Tụi bây muốn làm thiệt thì tụi tao sẽ làm kiểu làm thiệt. Còn tụi bây chưa làm thiệt được thì phải nói thật với bọn tao để chúng tao có cách làm phù hợp. Chứ không rồi chúng mày đánh xong lại rút đi là chết chúng tao đấy.!. Họ phân trần: Chúng mày chỉ có một thân, một mình. Mỗi thằng một khẩu súng và cái ba lô đi đâu mà chẳng được. Nhưng chúng tao thì còn trâu, còn lợn, còn vợ còn con nên không đi được. Chúng tao phải bám trụ, phải có cách đối phó với địch! Chúng mày đi là địch trở lại, lúc đó chúng tao phải đương đầu, còn chúng mày đâu còn ở đây mà đương đầu với chúng!. Nghe những lời như vậy mà thương nhân dân, phục nhân dân. Họ có kinh nghiệm sâu sát, học bao nhiêu cũng không bằng được. Trung ương Cục có nhiều lần. mở các lớp huấn luyện và tôi cũng đến giảng bài. Lúc ấy tôi đã giảng về phương pháp tư tưởng, thực ra như là một thứ dạy triết học, là triết học duy vật biện chứng và triết học duy vật lịch sử rồi chế biến gọi là phương pháp tư tưởng, tức là vận dụng triết học nhận định tình hình hàng ngày cho nó dễ hiểu. Anh Hoàng Văn Thái giảng về đường lối quân sự, khi nào anh vắng thì tôi giảng thay. Lúc rảnh rỗi ngồi chuyện trò với anh em hiểu biết thêm nhiều. Anh em bảo mỗi lần lên họp nghe phân tích thì thấy tình hình sáng sủa, phấn khởi lắm! Nhưng về tới địa bàn phải đối phó với quân địch, chúng nó nhiều vũ khí tối tân, lại tàn ác không chùn tay thì thấy tối sầm lại! Nghe phân tích thì địch mỏng như lá lúa cấu là đứt ngay. Còn về tới nhà thì thấy nó dai nhằng như da trâu, dày từng lớp, từng lớp. Sau Xuân 68 cũng cứ nhận định là thắng lợi! Thực tế thì cuối 1968 đầu 1969 địch phản công bình định cấp tốc. Các địa phương đều lâm nguy: mất dân, mất đất du kích cũng mất chỗ đứng chân. Nhiều nơi, du kích cũng phải bổ sung bằng thanh niên miền Bắc. Không thể nào lấy được tân binh địa phương để bổ sung cho chủ lực. Nguồn nhân lực bổ sung cho du kích và bộ đội địa phương cũng không huy động nổi nữa. Tình hình thực sự là gay go. Nhưng công tác tư tưởng vẫn khẳng định Xuân 1968 là chiến thắng vĩ đại.
Lúc anh em lên họp, ngồi nói chuyện vui với nhau thì anh em bảo: Dân họ nói rằng bây giờ cán bộ cứ lấy đũa cả cạy mồm chúng tôi đổ thắng lợi vào thì chúng tôi cũng không nuốt trôi. Vì ở địa phương cứ hàng ngày chạy địch, hàng ngày phải đối phó, hàng ngày chịu hy sinh, gian khổ ghê gớm. Sự chà sát của địch là kinh khủng. Thế mà lại cứ được nghe phổ biến là thắng lợi vĩ đại!.
Suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, tôi được sống và làm việc với các đồng chí ở Trung ương Cục miền Nam. Tuy ít hơn nhưng cũng được tiếp xúc với nhiều anh em ở các tỉnh lên học. Tôi nhận thức sâu sắc rằng trong chiến tranh yếu tố nhân dân, yếu tố con người, yếu tố chủ nghĩa anh hùng cách mạng thật là vĩ đại vô song, truyền thống đánh giặc ngoại xâm giữ lấy đất nước thật là phi thường. Tôi được biết nhiều chuyện xúc động lắm. Chuyện những con người sống với nhau đầy tình nghĩa, trung thực, thật thà, tin cậy chăm sóc nhau, lo toan cho nhau. Sau ngày giải phóng, hòa bình rồi, tôi có gặp lại những anh em cùng sống ở rừng trước đây thì cũng nhiều tâm sự phức tạp. Hết chuyện chia chác chiến lợi phẩm, đến tị nạnh công tích... Nghe đến là buồn. Lớp trẻ mới lớn nghe chuyện cũng chẳng hay gì! Mỗi lần gặp gỡ họ lại phàn nàn. Ai cũng tiếc những năm tháng ở rừng tuy gian khổ, cái chết liền kề, nhưng đối với nhau thật tình nghĩa, cuộc sống phóng khoáng nhẹ nhàng bao nhiêu! Tôi trao đổi với anh em là đáng tiếc nhưng cũng đừng xem là nghiêm trọng quá. Mỗi giai đoạn không khỏi có diễn biến về tư tưởng, tình cảm, tinh thần. Vấn đề mấu chốt là nên xem xét nó như thế nào, gạn lọc và thúc đẩy cái tích cực, hạn chế mặt tiêu cực ra sao cho phù hợp với sự vận động của sự phát triển, của chiến thắng. Tôi dẫn tình hình tại chỗ để làm ví dụ. Giai đoạn đang đánh nhau thì bộ đội đánh Mỹ phần nhiều là lớp thanh niên mới lần đầu tiên ra trận. Tuổi trẻ măng, học lực cấp ba là cỡ tú tài mà hăng hái vào chiến trường chịu đựng gian khổ và nguy hiểm. Do vậy mà các má đều thương yêu như con cái trong nhà. Nhưng các chú này cũng tinh nghịch lắm nên quan hệ với dân không phải là suông sẻ cả và nội bộ các em cũng nhiều cái nghiêm trọng, cãi nhau, đánh lộn, thậm chí bắn nhau vì ghen tuông giận dỗi... Rồi B quay cũng không hiếm. Chuyện tự do lấy cái bắp quả bí của dân cũng xảy ra. So với bộ đội đánh Pháp thì không nghiêm bằng. Ngày ấy phần đông chiến sĩ đều lớn tuổi, tinh thần vì dân vì nước thật thiêng liêng. Hồi chống Pháp, tôi là chính trị viên làm công tác chính trị, đọc tài liệu về công tác chính trị của giải phóng quân Trung Quốc. Thấy có những cuộc vận dộng chống đào ngũ tôi cũng thấy ngạc nhiên. Tại sao quân đội cách mạng lại đào ngũ? ở Việt Nam trong chống Pháp hầu như không có đào ngũ. Dư luận xã hội cũng không chấp nhận kẻ đào ngũ. Những trường hợp vào tề thì bị xem là kẻ phản bội. Thế mà đến chống Mỹ thì tình hình đã khác. Cho nên có một số cán bộ Từng trải qua chống Pháp đã có nhận định là bộ đội chống Mỹ kém bộ đội chống Pháp, nghĩ là truyền thống quân đội bị phai lạt, sa sút đi. Trong khi ấy thì xuất hiện bao nhiêu tấm gương chống Mỹ, đánh Mỹ rất dũng cảm, rất anh hùng. Địch tiến hành chiến tranh xâm lược ở ta tàn bạo khốc liệt như thế đến cả thế giới kinh hoàng. Thế mà bộ đội, nhân dân ở mọi nơi vẫn trụ bám vững, vẫn chiến thắng vang dội, càng đánh càng thắng lớn. ý kiến đánh giá bộ đội thế này, thế kia làm tinh thần cán bộ có biểu hiện bực dọc không vui. Trước tình hình không lành mạnh ấy, tôi phát động trong anh em cuộc tranh luận với chủ đề là: Bộ đội chống Mỹ có thua bộ đội chống Pháp không? Thua ở chỗ nào? Không thua ở chỗ nào? Cán bộ phải đánh giá lại chiến sĩ của mình. Là người chỉ huy mà không tin chiến sĩ thì nguy lắm. Cuộc thảo luận không đi đến kết luận ồn ào gì nhưng mục tiêu thì đạt tới. Cán bộ tin vào chiến sĩ của mình hơn và quân đội cũng gắn bó với dân hơn. Một việc đơn giản mà ai cũng nhận ra là trong đội ngũ không tránh khỏi có phần tử lạc hậu, có hành vi tiêu cực, và ngay trong số này cũng không phải là hỏng cả. Người lãnh đạo phải tỉnh táo và thấu suốt mới xây dựng được lực lượng của mình, trước hết là lòng tin chiến sĩ, làm chiến sĩ tin yêu mình. Cuối cuộc chiến tranh tôi mới nói đùa với anh em thế này: Nếu mà hệ thống lại từng giai đoạn thì té ra chúng mình toàn đi xuống. Bởi vì thời chống Mỹ thì không bằng thời chống Pháp. Những con người chống Pháp kém những ai hoạt động bí mật. Những con người chống Mỹ lại kém những ai chống Pháp. Còn những ai tham gia khi đã giải phóng hoàn toàn lại kém những con người chống Mỹ. Thế hóa ra dân tộc mình đi xuống à? Con người ta đi xuống à? (Chương 17)


V. TÀI LIỆU V. THƯ LỮ PHƯƠNG GỬI TRẦN ĐỘ

Anh Trần Độ kính mến,


Tôi đã đọc được bài bút ký mới của anh Một cái nhìn lại và biết rằng anh vừa bị khai trừ khỏi Đảng. Tôi không biết hiện nay anh vui hay buồn, nên không biết nói gì hơn là gửi đến anh mối cảm thông sâu sắc đối với công việc anh đang làm và đang phải gánh chịu về hậu quả của những việc làm ấy. Đối với thế hệ chúng tôi, anh không phải chỉ là một đàn anh mà còn là một cung cách ứng xử. Những suy tưởng của anh hôm nay, dù đúng hay sai thế nào đi nữa, cũng sẽ giúp đỡ chúng tôi thật nhiều vì tính chất trung thực của chúng.

Nhân đọc trang Blog của nhà văn Trang Hạ Những năm 199x và bài giới thiệu cuốn Chuyện tướng Độ của nhà văn Võ Bá Cường, tác giả Lữ Phương, xúc cảm, gửi lại cho chúng tôi lá thư ông gửi tướng Trần Độ đầu năm 1999, khi được tin Trần Độ bị khai trừ khỏi ĐCSVN.

Tướng Trần Độ từ trần cách đây đúng 5 năm (9.08.2002). Độc giả có thể đọc lại những tác phẩm và bài viết của ông trên mạng internet : Hồi Ký, Một cái nhìn trở lại, Nhật ký Rồng Rắn.

Anh không phải là một đảng viên bình thường vì anh đã thuộc vào thế hệ những người cộng sản đã khuôn nắn nên bộ mặt của đất nước ngày nay. Trước những việc làm đã qua, anh chẳng có gì để ân hận. Đối với những ai đã gần gũi anh thì điều đó là hoàn toàn dễ hiểu : anh nói Đảng không “ chỉ là một lực lượng tàn bạo, chỉ có đàn áp và làm hại nhân dân ”, và anh cho rằng chỉ có “ những đầu óc thù địch thiên lệch ” mới nghĩ như vậy. Anh nói như vậy không phải để “ chống chế ” cho một thế lực nào cả mà chỉ vì anh xác tín đó là sự thật, và để khẳng định sự thật ấy anh đã phải bỏ ra cả một đời tranh đấu và hy sinh. Cách phát biểu đó hiện nay có thể sẽ gây ra những phản ứng khác nhau đến từ nhiều phía. Nhưng đối với anh, nó lại hết sức đơn giản : nó là một “ trải nghiệm ” hiển nhiên và thực tế, chẳng cần phải biện luận xa vời.

Anh gia nhập Đảng vào cái thời mà Đảng chưa hề có xôi có thịt để chia : nếu có một cái gì đó có ý nghĩa mà Đảng cho anh thì đó chỉ là cái lý tưởng cực kỳ tươi đẹp để anh đi vào tù đày và chết chóc. Anh có bảo vệ Đảng thì cũng chỉ bảo vệ cái lý tưởng đã trả bằng máu ấy. Chính là với lý tưởng ấy thái độ của anh là nhất quán: trước đây Đảng có một thời đẹp đẽ thì bây giờ anh vẫn muốn Đảng giữ gìn mãi mãi điều đẹp đẽ ấy. Vì nó anh khẳng định cái tốt có thực của Đảng trong thời kỳ tranh đấu thì cũng vì nó anh nhìn ra những sai lầm nghiêm trọng của Đảng trong thời kỳ xây dựng hòa bình. Việc anh lên tiếng phê phán Đảng và yêu cầu Đảng phải thay đổi đường lối và phương thức họat động để lãnh đạo dân tộc trong tình hình mới cũng hoàn toàn lôgích.

Xét về mặt ý hướng anh vẫn là chính thống : anh vẫn tin rằng dưới chế độ một đảng theo mô thức cộng sản, người ta vẫn có thể xây dựng nên một nhà nước dân chủ, “ của dân, do dân, vì dân ”. Vấn đề còn lại chỉ là góp ý với Đảng để Đảng làm tốt hơn điều đó. Nhiều người đã sử dụng phương thức “ điều trần miệng ”, nói hết những suy nghĩ với những người lãnh đạo cao nhất của Đảng nhưng không công bố. Nhiều người khác đã bộc lộ ý kiến của mình bằng những văn bản gửi Đảng nhưng cho lưu hành dưới hình thức samizdat. Hoạt động của anh đi theo cách thức này nhưng mức độ lại khác : anh không đề nghị khắc phục những “ tồn tại ” hoặc “ khuyết điểm ” mà muốn “ nhìn lại ” ngay cái lý do tồn tại của Đảng. Và chính là qua cách đề cập những vấn đề như vậy (cách vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, chuyên chính vô sản, tập trung dân chủ, mối quan hệ giữa những người lãnh đạo với những người bị lãnh đạo, trong Đảng lẫn ngoài xã hội ….), anh đã đi đến những nhận định thật khủng khiếp :

Những mơ xoá ác ở trên đời,
Ta phó thân ta với đất trời,
Ác xoá đi, thay bằng cực thiện,
Tháng ngày biến hoá, ác luân hồi !

Hoá ra cái ước mơ tuyệt hảo về một tương lai xán lạn mà mình đã xả thân cả đời cho nó sau một quá trình đem ra thực hiện lại chỉ là cái thế giới đáng nguyền rủa mà mình đã từng phủ nhận hay sao ? Chẳng lẽ cái “ cõi đời mới ” mà mình đã cùng với Đảng đem hết tâm huyết ra xây dựng rốt lại vẫn chỉ là một chế độ thống trị như tất cả những chế độ thống trị trước đây hay sao ? Có sự lỡ lầm nào của lịch sử ở đây hay không? Làm sao giải thích được hiện tượng cực kỳ phức tạp của chủ nghĩa cộng sản từ lý thuyết đến thực hành? Tại sao lý thuyết quá tốt đẹp mà đem vào thực tế thì lại sinh ra những quái thai ? Tại sao có một thời, trong cách mạng dân tộc (chống chủ nghĩa thực dân), Đảng đã có thể đại biểu cho “ cái thiện ” thì bây giờ đến lúc dân tộc đã độc lập rồi, có thể đẩy “ cái thiện ” ấy đến chỗ cao hơn (giải phóng con người) thì Đảng lại đưa cả dân tộc lẫn con người vào con đường vong thân, bệ rạc như vậy ? Tại sao từ chỗ là người cho mình là hiện thân của chân lý, lẽ phải và mọi thứ tốt đẹp trên đời, Đảng lại trở thành một guồng máy dối trá, tàn tệ đến như vậy ?

Những câu hỏi thật là nhức nhối. Tuy anh đã cố gắng tìm cách trả lời một cách “ có hậu ”, tin tưởng rằng Đảng vẫn có thể khắc phục được những sai lầm trầm trọng nói trên để “ tiến lên ”, nhưng tất cả đều không vớt vát được chút nào cách đặt vấn đề quá gay gắt của anh về cái thực tại xã hội do Đảng làm ra. Cách đặt vấn đề như vậy đã đi ngược hẳn lại quan điểm của Đảng hiện nay và anh cũng đã hiểu được sự phản ứng của nó là như thế nào đối với cái thiện chí “ xây dựng Đảng ” của anh.

Anh Độ kính mến,

Tôi thuộc thế hệ những người đi sau anh bằng cả một cuộc chiến tranh và một cuộc cách mạng, nhưng chia sẻ với anh hoàn toàn cái bi kịch của một sự chọn lựa bất toàn và một sự thức tỉnh khó khăn. Tôi cũng đã từng từ bỏ tất cả để đi theo Đảng và cũng dự định đi theo suốt một đời, nhưng rồi cũng như anh tôi đã thất vọng nhiều điều. Chỉ khác hơn anh một chút : tôi đã tự ý bỏ Đảng từ lâu. Được tin anh bị khai trừ, hiểu được tâm sự của anh, tôi rất muốn chia buồn, nhưng suy từ kinh nghiệm của mình, tôi thấy không chừng đó lại là điều may. Biết anh có ước muốn giải quyết mọi vấn đề “ ở tầm triết học ”, tôi hy vọng đây sẽ là động lực để anh tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản sâu hơn về mặt lý thuyết, từ đó hiểu rõ Đảng cộng sản nhiều hơn về mặt thực hành, sau đó biết đâu sẽ thanh toán được nỗi day dứt cuối đời của mình.

Chẳng ai ngăn cản người ta nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản là một thứ lòng tốt. Nhưng gọi đó là “ khoa học ”, “ sự tất yếu của tương lai ” hoặc một cái gì đó “ duy nhất cách mạng ” để trở thành cái tốt nhất và vĩnh viễn – như có lúc chúng ta đã hiểu – thì đó là điều ngộ nhận khó thể tồn tại vào những ngày tận cùng của thế kỷ này. Không hơn không kém, đó chỉ là một ý thức hệ thôi : không phải chỉ là “ ý thức hệ cầm quyền ” mà là một ý thức hệ theo nghĩa tổng quát nhất của từ ngữ. Ý thức hệ ấy, “ trên đường chúng ta đi ” vào một lúc nào đó, ta có thể đón nhận như là “ cái cần thiết ” cho một số công việc, nhưng chẳng thể vì đó mà phải giữ mãi như một bửu bối rồi đem truyền cho các thế hệ mai sau.

Đã tháo gỡ được những sợi dây “ khư khư mình buộc lấy mình ” để dứt bỏ được cái huyền thoại về Đảng trong thực tế, tôi tin rằng anh vẫn có thể tiến thêm một bước để phá vỡ cái huyền thoại về Đảng trong lý luận. Tư tưởng phát triển thêm, anh sẽ có được cái nhìn hiện thực hơn về toàn bộ phong trào cộng sản trên khắp hành tinh này chứ không phải chỉ riêng ở Việt Nam.

Anh Độ kính mến !

Cho tôi nói thật với anh điều này : đọc bài “ nhìn lại ” của anh, tôi nhận thấy cái gọi là “ ý thức hệ - cộng sản - lý tưởng ” vẫn còn đeo bám theo anh khá nặng nề. Anh phê phán sự hiểu biết “ quá giản lược ” về chủ nghĩa Mác ở xã hội ta, nhưng vẫn chỉ với tư cách là người đứng “ ở ngoài ngõ mà nhìn vào ” thì cũng sẽ không tránh khỏi giản lược. Nếu có điều kiện và thời giờ để tìm hiểu thêm từ nguồn gốc học thuyết này, hẳn anh sẽ thấy cái mà người ta gọi là chủ nghĩa Mác ở Việt Nam không phải chỉ bị “ biến dạng ” và “ giản đơn hoá ” : nó đã bị xuyên tạc từ nguyên uỷ. Anh sẽ thấy rằng cái gọi là “ duy vật ” mà chúng ta từng dựa vào đó để xưng tụng tính “ khoa học ” của học thuyết Mác chỉ là một cách hiểu suy đoán rất hời hợt. Sự đồng nhất Mác với Ăngghen và sau này với Lênin để tạo ra cái mà chúng ta từng tin theo những nhà lý luận Liên xô trước đây và gọi là “ Mác-Lênin ” cũng chẳng có gì là đúng đắn và nghiêm chỉnh cả. Và thực chất của cái gọi là chủ nghĩa “ Mác-Lênin ” đó cũng chẳng mảy may chứa đựng một chút nội dung nào về cuộc đấu tranh giải phóng lao động khỏi sự tha hoá của những điều kiện lao động : đó chỉ là một hình thức tha hóa mới của lao động qua một hình thức mới của chủ nghĩa tư bản mệnh danh là chủ nghĩa tư bản nhà nước ; thứ chủ nghĩa tư bản này đã khởi đầu từ Lênin, phát triển tột độ trong chế độ Stalin, phản Mác hoàn toàn.

Và cái khái niệm “ ý thức hệ cầm quyền ” mà anh nói về Đảng thực chất cũng chỉ là cái ý thức hệ Stalin đó chứ không phải là cái gì khác. Nội dung của nó là chủ nghĩa dân tộc toàn trị, khởi đầu được sử dụng như phương tiện để giành quyền từ tay thực dân (điều “ thiện ” một thời của những người cộng sản), sau đó thì được “ xài ” như một công cụ thống trị như anh đã viết, chứ chẳng nhằm “ phục vụ ” ai cả. Những khái niệm lớn lao về “ cách mạng ” mà những nhà ý thức hệ của Đảng thường đem ra khoe khoang cũng chỉ là sự gồng gân để độc quyền chính nghĩa thôi. Cứ phân tích một vài khái niệm chúng ta sẽ thấy ngay điều đó. Làm gì có cái gọi là “ chủ nghĩa xã hội ” hiểu theo nghĩa đích thực của nó là xã hội hoá trong khi tất cả mọi lĩnh vực của đời sống đều bị nhà nước hoá một thời rồi bây giờ đang chuyển sang tư nhân hoá ? Làm gì có cái gọi là gọi là “ chuyên chính vô sản ” hiểu theo nghĩa mácxít là sự chuyên chính của toàn bộ giai cấp vô sản đã chiếm 90 % dân số về lý luận (và cũng là ảo tưởng) trong khi đó thì trên thực tế chỉ là sự chuyên chính của chừng mấy chục người tự cho mình là đại diện cho cả cái giai cấp mà sự tồn tại của nó chỉ là một bóng ma của thế kỷ đã qua ?

Chẳng có gì lý tưởng ở đây cả cho nên đưa lý tưởng ra để cải tổ nó cũng lại rơi vào ảo tưởng. Sau bao nhiêu lần thanh trừng đi đôi với chỉnh huấn, học tập… máu của Đảng không còn là thứ máu đỏ của cách mạng đổi đời : nó đã được thay vào bằng một thứ máu đen của quyền lực và quyền lợi rồi. Những cái gọi là tự do, đối thoại, sáng tạo, cá tính, sáng kiến, lương tâm, đạo đức nếu được bộc lộ một cách có thực chất để không phải là thứ “ lưỡi gỗ ” tuyên huấn thì, trong tình thế ấy, sẽ trở thành sự quấy rầy thọc gậy bánh xe, cản trở sự vận hành của chế độ quan liêu tồn tại bằng thứ máu đen đó. Thực tế của cái mô hình nhà nước mệnh danh là “ xã hội chủ nghĩa ” mà anh muốn cải tổ bằng cách phả vào đó cái cảm hứng lãng mạn ngày xưa thật sự chỉ là cái “ cỗ máy nghiền ” như vậy đấy. Mọi thứ đã bại hoại đến xương tuỷ rồi, không phải chỉ khác xưa hoàn toàn mà là hoàn toàn không thể nào trở lại được như xưa !

Anh Độ kính mến,

Mối quan tâm của anh về dân chủ hoá, chắc chắn phải đặt ra hẳn bên ngoài cái vòng toan tính của một thứ ý thức hệ thực dụng muốn sử dụng Mác để biện minh cho sự độc tôn quyền lực như trên. Nhưng theo tôi, muốn nhìn ra được một quan niệm dân chủ hiện thực phù hợp với thực trạng, chúng ta cũng phải bước hẳn ra ngoài lý luận về quyền lực trong bản thân chủ nghĩa Mác nữa. Chủ nghĩa này chỉ là một thứ triết học giả định một tương lai cho một loài người không còn giai cấp, không còn nhà nước. Có thể đó là lời phê phán, là tiếng gọi, là giấc mơ, nhưng không thể là một cương lĩnh hành động để gọi là “ cải tạo ” xã hội : lầm lẫn mộng và thực trong chính trị sẽ đưa đến những tác hại vô cùng nguy hiểm. Một cái nhìn thực tế về vấn đề dân chủ tất yếu cũng sẽ phải dẫn đến việc từ bỏ ý hướng dựa vào chủ nghĩa Mác như một lý tưởng để “ vận dụng ” vào thực tế mà chính là ngược lại : ở Việt Nam hiện nay, tôi cho rằng phải thanh toán cho được cái ý thức hệ không tưởng đó về mặt lý luận một cách sòng phẳng, chúng ta mới có thể tạo ra được những điều kiện vững chắc để tiến tới những cải cách tích cực và thực tế hơn về văn hoá, chính trị.

Cái chế độ nhân danh ý thức hệ mácxít đang thống trị đất nước cũng cần phải được nhìn theo viễn cảnh thực tế như vậy. Chế độ đó không phải là một thực thể trừu tượng để có thể đem cái nhãn “ thiện ” hoặc “ ác ” dán lên nó một lần là xong. Ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định và phát triển theo sự chuyển động của lịch sử, các mặt tốt xấu của nó đều bị những chuyển động ấy quy định. Cho đến nay khuôn mặt của nó đã không còn như xưa. Chấp nhận chuyển sang cơ chế thị trường, chính sách toàn trị của nó đã bị phá rã một mảng rất lớn : nó không còn có thể thống trị xã hội bằng chính sách tem phiếu và hộ khẩu khắc nghiệt nữa. Đây chính là những tiền đề căn bản để một xã hội công dân hình thành trở lại ; và đó cũng chính là cái mảnh đất màu ươm mầm cho những hạt giống dân chủ.

Hiển nhiên đó chưa phải là một xã hội công dân toàn diện : trong lĩnh vực văn hoá và nhất là chính trị, chính sách chuyên chính của Đảng vẫn còn đang đè lên nặng nề. Tuy vậy, ngay trong những lĩnh vực này, cái thời kỳ tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm của Đảng cũng đã qua rồi. Không phải là Đảng không muốn mà chỉ là không thể thôi. Và Đảng cũng không phải là không ý thức được cái tình thế ấy. Nhưng phải làm gì trước đòi hỏi của thực tế thì lại hết sức khó khăn : từ chối tất cả thì không được mà nhân nhượng quá nhiều thì không khéo sẽ mất tất cả. Dù sao thì mọi việc cũng không còn như xưa nữa. Đối phó với hàng loạt những mâu thuẫn nội tại, vây bọc bởi hàng loạt những áp lực từ bên ngoài, guồng máy quan liêu ấy đang phải chuyển động ì ạch khó khăn, mọi ý hướng muốn dân chủ hoá xã hội cũng phải từ thực tế ấy mà đặt ra.

Vấn đề sẽ vô cùng phức tạp, gian nan, nhưng nếu từ chối phương pháp bạo lực thì chúng ta sẽ không có sự lựa chọn nào khác. Nếu sự phân tích ấy là thực tế, một chương trình hành động có thể sẽ được vẽ phác ra với hy vọng được nhiều người chia sẻ, trong đó việc nâng cao trình độ dân trí, đấu tranh cho tự do ngôn luận, nghiên cứu, thông tin, phổ biến ý thức nhân quyền và pháp quyền, mở rộng giao lưu quốc tế… sẽ là những công việc căn bản cần thiết để chuẩn bị cho những thay đổi tuần tự và ôn hoà : mọi thứ sẽ có tác dụng tạo ra sức sống cho một xã hội công dân độc lập, hạn chế được những chính sách lộng quyền và lạm quyền cố hữu của nhà nước toàn trị, cuối cùng từng bước, cùng với sự phát triển về văn hoá và kinh tế, thúc đẩy những thay đổi trên mặt thượng tầng, trong đó sự hoá thân của những ngưởi cộng sản là khả năng đáng mong ước nhất.

Theo tôi nghĩ, một đảng cộng sản chuyển sang một đảng dân chủ xã hội (hoặc một đảng chủ nghĩa xã hội dân chủ) đó chính là lối thoát tốt nhất cho những người cộng sản chưa từ bỏ lý tưởng công bằng xã hội cho Việt Nam : một định chế dân chủ đa nguyên vẫn có thể ra đời trên cơ sở một nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa một cách đích thực. Tôi nhận thấy trong những suy nghĩ của anh đã chứa đựng rất nhiều ý tưởng có nội dung như vậy và tin rằng nếu được phát triển, những đề nghị cải tổ của anh sẽ được định hình rõ rệt hơn và có thể sẽ góp phần tích cực hơn trong việc tìm ra những biện pháp giải quyết những bế tắc về đường lối hiện nay.

Anh Độ kính mến,

Viết ra những suy nghĩ trên đây tôi chỉ muốn bày tỏ lòng kính trọng đối với anh thôi : một ý tưởng tâm huyết được tung ra mà không có ai hứng bắt, bàn bạc thì thật buồn tênh. Tôi đã trải qua tình cảnh ấy nên đã cố ý cà khịa với anh một chút cho vui. Hiển nhiên, dù không kém phần nghiêm chỉnh, tôi chẳng hề cho rằng với những giòng chữ này, tôi có ý muốn giải quyết hộ anh cái vấn đề quá khó khăn, mênh mông như anh đã nêu ra. Dù sao thì anh cũng nên ghi nhận những giòng chữ đó như những gợi ý cho quá trình tư duy của anh mà tôi biết chắc rằng chưa thể ngừng nghỉ được. Một quá trình tư duy mà tôi hy vọng sẽ phong phú hơn nhờ những ngày không Đảng của anh.

Năm mới sắp đến, chúc anh mạnh khỏe, bình an.

Kính,

Ngày 7-2-1999

LỮ PHƯƠNG


GHI CHÚ : Đây là bản đầy đủ (khi mới đưa lên mạng lúc 12g32 ngày 29.08.2007, do trục trặc kĩ thuật, đã bị sót một đoạn).

http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/thu-gui-tran-111o/

Xin xem thư Trần Độ viết cho Lữ Phương trong Nhật Ký Rồng Rắn.

No comments: