Thursday, March 12, 2009

THI CA





Tưởng Niệm 50 năm Kháng Chiến Tây Tạng cũng là dịp để tưởng niệm những người dân ở thủ đô Lhassa một năm trước đây, ngày 14 tháng 3 năm 2008, đã bị tử thương hoặc mất tích năm tháng trước khi Thế vận hội Ô nhục Bắc Kinh khai mạc. Nhắc lại để nhớ, tại Lhassa, nhân dịp tưởng niệm 49 năm cuộc Tổng Khởi Nghĩa, dân chúng và tu sĩ Phật Giáo đã biểu tình đòi Tự Do, Nhân Quyền và phản đối Trung cộng chiếm đóng đất nước họ. Nhưng sự xuất hiện đông đảo cảnh sát và quân đội đế quốc cộng sản để đàn áp những người biểu tình đã gây ra nhiều cuộc xô xát dữ dội. Được chiến xa yểm trợ, bạo quyền phi nghĩa phong tỏa và tái kiểm soát thành phố. Một lần nữa, chúng thẳng tay vùi dập Lhassa trong máu lửa và nước mắt.






Dù vậy, tuân theo chủ trương bất bạo động của Đức Đạt Lai Lạt Ma, đồng bào của Ngài vẫn biểu dương tinh thần đối kháng bất diệt. Và cuộc kháng chiến kiên cường, tay không súng đạn, của nhân dân Tây Tạng đang còn tiếp diễn, ở trong và ngoài đất nước bất hạnh đó, trên khắp thế giới và ngay cả trên lãnh thổ Trung cộng.


Tưởng niệm 50 Năm Kháng Chiến Tây Tạng, người Việt tự do, yêu chuộng dân chủ, công lý, nhân ái và tình bằng hữu, muốn được vinh danh một dân tộc bạn thân nổi tiếng sùng đạo và hiếu hòa, nạn nhân của đế quốc Trung cộng. Đồng thời, cũng để bày tỏ mối cảm thông và tình đoàn kết gắn bó với anh chị em Tây Tạng phải sống lưu vong hoặc bị tù đày ngay trên quê hương mình.




Nhân cách và lòng can đảm của dân tộc Tây Tạng rất xứng đáng được chúng ta kính trọng và quý mến. Làm sao chúng ta có thể thờ ơ lãnh đạm trước những biến cố lịch sử bi hùng, với núi xương sông máu đau thương và mất mát của một dân tộc anh em?
Làm sao chúng ta không biết, không nghe, không thấy Tội Ác Diệt Chủng của đế quốc bành trướng Phương Bắc được s hoan hô nịnh bợ của số chế độ đồng minh và đồng lõa ? Nhà cầm quyền CSVN chẳng những cúi đầu câm nín mà còn đàn áp thô bạo sinh viên, giáo chức, nhà văn, nhà báo, cựu chiến binh CS, người dân vô danh ở Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng vì họ đã dám lên tiếng phản đối Bắc Kinh cưỡng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, cùng tước đoạt chủ quyền trên một phần quan trọng lãnh thổ và lãnh hãi Việt Nam.


Như một đóng góp nhỏ cho Ngày Tưởng Niệm 50 Năm Kháng Chiến Tây Tạng, xin được giới thiệu bài thơ "Mưa" của Nguyên Hoàng Bảo Việt viết từ năm 1958 và được in trong tập thơ đầu tiên của thi hữu mang tựa đề Hy Vọng (1961). Bài thơ đã được phổ biến rộng rãi đến bạn văn và bạn đọc ngoại quốc, qua bản dịch tiếng Pháp của bà Hoàng Nguyên, một thuyền nhân tị nạn CS và bản dịch tiếng Tây Tạng của nhà thơ lưu vong Lobsang Namdol Drongshar. Cộng đồng Tây Tạng ở Thụy Sĩ cũng đã cho đăng bản tiếng Pháp của bài thơ Mưa trong một tập san thông tin đặc biệt sau một cuộc biểu tình lớn trước trụ sở Liên Hiệp Quốc.


Uống Nước nhớ Nguồn, tổ tiên từ ngàn xưa hằng nhắc chúng ta đừng bao giờ quên. Sông Cửu Long bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Cám ơn tác giả bài thơ Mưa, từ hơn 50 năm trước, đã đưa chúng ta gần lại hơn nữa với anh chị em Tây Tạng thân thương, trong tâm tưởng, tình cảm, ước mơ và hành động.




Genève ngày 10 tháng 3 năm 2009

Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ.
Ligue Vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse
Vietnamese League for Human Rights in Switzerland


  • * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *

Mưa


Trời mưa suốt đêm
Mưa hoài mưa không ngớt

Tôi lắng tai nghe

Đạn đại bác rơi vào quê hương em
Đạn rơi hoài rơi hoài chưa dứt
Mắt trừng nhìn thấu đêm thâu
Hai con ngươi tựa hai vì sao
Nóc trái đất bừng bừng lửa cháy.
Lưng gầy còm đồng lúa trơ trụi
Dòng suối nước mắt mặn
Đói lắm khát lắm
Đá chảy tuyết tan
Mẩu bánh mì khô còn bằng ngón tay
Chén cơm màu đất cằn cỗi
Con én cuối cùng rời bỏ thủ đô
Đau niềm đau bồ câu mang xiềng xích
Một Bình Nhưỡng Á châu một Đông Âu Budapest.
Bao nhiêu tu viện sụp đổ
Nền trời phơi trần da thịt đẵm máu
Bọn hung dữ lồng lộn giết trẻ con
Cát sỏi nhét đầy mũi miệng
Tiếng kêu cứu thất thanh giữa ban ngày
Sợi dây thừng thắt lại
Nước mắt đầm đìa hai má người Mẹ hiền
Bóng tối chực nuốt chửng hiện tại
Bàn tay tàn nhẫn bóp mãi
Quả bong bóng đỏ vỡ tan!
Giữa không khí địa ngục
Ánh lửa bất khuất vừa lóe lên
Đuốc tự do ngùn ngụt
Cả núi rừng cả đồng bằng
Cả một dân tộc
Cả một loài người.

Tay trói vòng sau lưng
Em hiên ngang ưỡn ngực
Miệng hát hoài hát to
Hàng trăm ngàn hàng triệu tiếng dội
Trong đó có người yêu của em
Chúng nó yếu thế hèn nhát
Mũi súng chờ nhả đạn vào trán em
Chúng đẩy em sát chân tường
Chúng muốn gì nữa?

Thân em không manh áo giáp
Lửa xém gương mặt trái xoan
Chúng muốn gì nữa?

Thân em phơi rõ vết thương
Giọng em hát thêm khỏe
Em tin em không chết trong quên lãng
Bài ca yêu nước nuôi sức mạnh tự vệ
Hai vì sao sáng chiếu thẳng vào cuộc đời
Chúng nó khiếp hãi không biết phải làm sao
Đôi mắt diều hâu nhìn em trâng tráo.

Tôi sẽ một lần đi tới

Trưa vượt Trường Sơn khuya ngược Cửu Long

Bè bạn đồng loại cùng đi tới
Hai bên bờ sông Tsang Po
Từ những mái nhà nhỏ khóm cây xanh
Véo von tiếng chim họa mi

Dũng sĩ Khampa đức tin ngời nét mặt
Vô ích vô ích
Quân khủng bố giận dữ chẳng làm được gì
Những mùa xuân sẽ đến
Em không gục đầu đợi bóng tương lai.
Đêm nay trời còn mưa
Làm sao tôi ngủ được
Hồn tôi còn phiêu lưu
Đạn đại bác nổ chưa dứt
Tôi sẽ tìm đến em
Bè bạn đồng loại cùng di một đường

Bốn chân trời gom lại
Dù gần hay xa
Nam băng dương lên Bắc cực
Sài Gòn sang Lhassa
Bàn tay nối bàn tay
Đức tin làm phép thuật nhiệm mầu
Bốn bề vây bóng tối
Tôi lắng tai nghe
Bước chân Hy Vọng về không xa...

Nguyên Hoàng Bảo Việt (1958)


(trích tập thơ Dấu Tích Phượng Hoàng


Bạn Văn Paris xuất bản 2008)




-----------------------------------------------





Il pleut



Il pleut toute la nuit

Il pleut toujours

sans arrêt

Je prête l'oreille pour écouter

Des obus pleuvent

Des obus se déversent sur ton pays

Des obus s'écrasent
Sans répit

Les yeux écarquillés, je perce du regard

L'obscurité des ténèbres
Les pupilles, deux étoiles, luisent
Sur le Toit du monde embrasé de feu.

Des voûtes dorsales squelettiques

Des rizières dénudées

Des sources de larmes salées









Des affamés, des assoiffés

Des pierres brûlantes

La neige altérée

Un piètre bout de pain sec
Un bol de riz maigre, couleur de terre aride...

La dernière hirondelle quitte la capitale

Souffrant la même douleur

Que la colombe rivée à ses chaînes

Tel un Pyongyang de l'Asie orientale

Un Budapest de l'Europe de l'Est.

Combien de monastères se sont écroulés?

A ciel ouvert pourrit la chair sanglante

Une meute de barbares enragés massacre les innocents

les visages d'ange plaqués au sol, mordant du sable, du gravier.

Des cris "Au secours!" terrifiés, à perte de voix

En plein jour, étranglés!

La corde se resserre

Les larmes inondent les joues de la douce Mère.

Les ténèbres s'apprêtent à engloutir

D'un seul coup

Le présent

Leur main cruelle presse

Presse...

Le ballon rouge

Crève!

Au milieu d' une atmosphère infernale

Oppressante

Etincelle la flamme insoumise

Sur-le-champ, en tous lieux, s’embrasent

Les flambeaux de la Liberté

Dans les forêts. Dans les montagnes. Dans les plaines

Parmi tout un peuple

Parmi l’humanité.

Les mains liées dans le dos
Le torse cambré
Sans te lasser, tu chantes le Beau, le Bien, le Vrai
Plus haut, bien plus haut, résonne ta voix

Répercutée par des centaines de mille
Mille milliers d'échos
Parmi lesquels retentit celui de ton amant.
Ils sont faibles
Ils sont lâches
La gueule de leur fusil
Vise
A cracher ses projectiles sur ton front.
Ils te poussent contre le mur
Qu'est-ce qu'ils veulent encore?
Ton corps n'a pas d'armure
Le feu a cramé ta face ovale
Qu'est-ce qu'ils veulent encore?
Ton corps découvre ta blessure
Ta voix sonore redouble de vigueur
Tu crois, par conviction, que tu ne mourras pas
Dans l'antre de l’oubli


l'hymne qui exalte l'amour de la patrie


Nourrit la force de te défendre.

Tes yeux, ces deux étoiles lumineuses

Rayonnent sur la vie

Saisis d'effroi, ils ne savent plus que faire?

Leurs yeux de faucon grands ouverts

Fixent sur toi leurs regards stupéfaits.

J’avancerai où que tu sois

Une fois pour toutes

A midi, je franchirai la cordillère du Trường Sơn

A minuit, je remonterai le Mékong

Nos frères, nos sœurs, nos compagnons de route
Avanceront d’un même cœur.

Sur les rives du Tsang Po

Sous les toits des paillotes

A l’ombre des bosquets de verdure

Les rossignols chanteurs modulent leurs sons purs

Les Khampas, vaillants Résistants tibétains

Pleins de confiance

Le visage illuminé de ferveur.

Vaine terreur

Les terroristes, fous de rage, n’y peuvent rien

Les printemps se renouvelleront

Car jamais tu ne baisseras la tête

Humiliée

A l’approche de l’avenir.


Cette nuit, il pleut encore

Comment pourrais-je dormir?

Mon âme part à l’aventure

Les obus détonent sans interruption

Je vais te joindre aussitôt

Nos frères, nos sœurs, nos compagnons de route

Suivront le même chemin.

Des quatre coins de l’horizon
Proches ou éloignés

Nous nous rassemblerons

De l’Océan Glacial Antarctique
Jusqu’au Pôle Nord

De Sài Gòn à Lhassa
La main se joindra à la main

La foi révélant une puissance surhumaine

De tous côtés, encerclera

Les ténèbres criminelles.

Je prête l’oreille pour écouter

Les pas de l’Espérance, bientôt, revenir...


Nguyên Hoàng Bảo Việt (1958)


Bản dịch tiếng Pháp của bà Hoàng Nguyên


(trích tập thơ L’Empreinte du Phénix


Bạn Văn Paris xuất bản 2008).




-------------------------------------------------------------------------------------

No comments: