Thursday, December 25, 2008

LÝ ĐẠI NGUYÊN * VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC

===


LÝ ĐẠI NGUYÊN

VĂN HÓA VÀ ĐẠO ĐỨC



*


Suốt cả năm, chúng ta bị cuốn hút vào những vấn đề thời sự, làm cho tâm tư, đầu óc luôn luôn quay cuồng với những chuyện khổ đau, âu lo, tức tối, buồn cười, đôi khi vui mừng, hy vọng, rồi hụt hẫn, mà không biết tại sao lại là thế? Hoặc tìm những lý giải nửa vời, vòng vo để tạm thời tự đánh lừa mình. Hay chống đỡ những gì đi ngược lại với suy nghĩ và ước vọng của mình. Quả là phiền toái! Nhân dịp xuân về, tết đến, xin đề nghị, chúng ta cùng nhau đi thẳng vào vấn đề nguồn gốc của sự vật, sự việc trong Trời Đất, Lịch Sử và Kiếp Người, để cho tâm trí mình có dịp thao tác, tự tìm thấy mình, tìm thấy hướng suy tư cho mình, cũng chính là thấy được những việc mà mình nên làm cho Mình, cho Dân Tộc Mình, cho Thế Giới Mình, và cho Vũ Trụ mà Mình đang có mặt.


TA TRONG VŨ TRỤ MÀ VŨ TRỤ CŨNG Ở TRONG TA


Đạo Lớn của Trời Đất là Hằng Hóa.
Đức Lớn của Muôn Loài là Hiếu Sinh.

Đạo Lớn của Lịch Sử là Văn Hóa.
Đức Lớn của Loài Người là Từ Tâm.

Đạo Lớn của Nhân Chủ là Dung Hóa.
Đức Lớn của Con Người là Thương Yêu.

Vậy Đạo Đức lớn nhất, vĩ đại nhất, chân thật nhất, hiện thực nhất của Vũ Trụ là Đạo Hằng Hóa và Đức Hiếu Sinh.

Đạo Đức chân chính nhất, phổ biến nhất, năng động nhất của Lịch Sử là Đạo Văn Hóa và Đức Từ Tâm.

Vũ Trụ này hình thành phát triển không ngừng đều nhờ vào Nguyên Lý Hằng Hóa Hiếu Sinh.

Lịch Sử Loài Người cũng dựa trên Nguyên Lý đó mà thành hình phát triển, rồi vượt lên trên các sinh loại hữu tình, tạo thành cuộc sống Văn Hóa Nhân Văn.

Vậy Văn Hóa chính là Đạo Thăng Hóa của Lịch Sử, để mở ra thời đại Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn cho toàn thể Thế Giới.

Văn Hóa là Văn Hóa của Loài Người, mà Đức Lớn phổ quát của Loài Người là Từ Tâm nơi Con Người. Nhận Thức của Con Người đều dựa trên Nguyên Lý của Đạo Đức để rung cảm, suy tư, hành xử, mà tạo ra các nền Văn Hóa có những sắc thái riêng biệt. Các luồng văn hóa, các công trình văn hóa, các sản phẩm văn hóa, đều nhằm phụng sự Con Người, làm đẹp, sáng, tốt và luôn luôn mới cho cuộc sống Xã Hội của Con Người toàn diện. Bởi thế Lịch Sử Nhân Loại mới là lịch sử đa văn hóa. Nên nội dung của Lịch Sử phải là Văn Hóa, mà nội dung của Văn Hóa phải là Từ Tâm của Nhân Loại, do khả năng Dung Hóa của những Con Người tự do, tự chủ, sáng tạo và dựa trên tình cảm thương yêu của Con Người toàn diện, mà tạo thành các nền Văn Hóa Nhân Chủ Nhân Văn.


Chính vì vậy, Văn Hóa và Đạo Đức tuy Hai mà là Một. Do Đức Hiếu sinh của Trời Đất, mà Nguồn Động Lực Siêu Thể Vi Diệu vô sắc, vô biên, vô hạn trong Vũ Trụ hằng hóa, hiện hóa, thăng hóa từ những chuyển động vật lý, đã không ngừng nỗ lực tạo ra các hiện tượng hữu thể, rồi sinh lý để hoàn thành thế giới sinh vật. Các sinh vật tự thân thăng hóa, tạo thành các loại chủng tử có năng lực cá biệt -DNA- của mỗi chủng loại, mà tiếp hóa nòi giống của mình không cùng. Loài Người được xem như chủng loại cao nhất trong công trình Tạo Hóa, hằng hóa, sáng hóa, thăng hóa của Vũ Trụ, đủ khả năng, điều kiện tạo lập đựơc hiện tượng tâm lý, để vượt lên rung ứng với thế giới tâm linh vĩnh hằng của Vũ Trụ. Rồi có giác tính nhận biết được “Ta trong Vũ Trụ, mà Vũ Trụ cũng ở trong Ta”. Nên những nỗ lực Tự Thăng Hóa Tâm Linh mình, cũng chính là góp phần tích cực nhất trong công trình Thăng Hóa Vũ Trụ Vạn Hữu vậy.

Từ Đức Hiếu Sinh của Muôn Loài, thể hiện ra thế giới Loài Người là Đức Từ Bi, Nhân Từ, hay Đức Bác Ái, đấy là những danh từ để chỉ cho những ý niệm về sự thương yêu, bao dung, tha thứ và quý trọng sự sống, biết trân quý cuộc sống riêng của mình, tôn trọng cuộc sống chung của người, có trách nhiệm với cuộc sống xã hội và muôn loài. Chính vì vậy mà các nền Văn Hóa, các Tôn Giáo chân chính, các Học Thuyết giá trị đều lập căn trên Đức Hiếu Sinh, nhằm hướng dẫn Con Người biết sống và phát triển theo với Đức Hiếu Sinh.

Chỉ riêng có Học Thuyết Duy Vật Vô Thần Cộng Sản mới nghịch lại với Đạo Đức của Trời Đất, ngược lại với Lẽ Sống của Con Người, hủy diệt Văn Hóa của Nhân Loại, đề cao luật Mâu Thuẫn, Hận Thù, và Hủy Diệt, vốn chỉ là một mặt tối của Nguyên Lý Hằng Hóa, là phản diện của Văn Hóa. Vì Nguyên Lý Hằng Hóa của Vạn Hữu là Luật Bổ Sung – Phân Hóa – Điều Hợp, mà Duy Vật chỉ đề cao khả năng Phân Hóa. Phân Hóa mà không được Điều Hợp thì đi đến tiêu diệt. Điều Hợp mà không đựơc Bổ Sung thì không thể Thăng Hóa, đã không thăng hóa, mà bị phân hóa thì sẽ bị triệt tiêu. Nhờ có Luật Bổ Sung, Phân Hóa, Điều Hợp để Thăng Hóa, nên Vũ Trụ mới Hằng Hóa, muôn loài mới tiến triển, nhân loại mới có cuộc sống Văn Hóa hiện nay.

Điều nguy hại của chủ nghĩa Duy Vật không dừng lại ở mặt lý thuyết, mà nó đã làm cho nhiều thế hệ loài người tin theo, kể cả người đối kháng cũng bị rơi vào lối nhận thức chủ quan một chiều máy móc khép kín. Vì nó được dùng làm nguyên tắc chỉ đạo cho cuộc đấu tranh xã hội, phân chia giai cấp, tổ chức lực lượng đấu tranh cách mạng giành quyền lực, để áp dụng chủ nghĩa một chiều độc tôn, nhằm tước đoạt sự tự do của Con Người, biến Con Người thành “con vật sản xuất”, đặt ách độc tài, độc đảng thống trị xã hội. Chính vì chủ trương giai cấp đấu tranh, nên cộng sản đã tận lực khai thác và phát huy Cảm Tính Hận Thù, quyết liệt Tiêu Diệt những giai cấp khác, cũng như tiêu diệt tinh thần tự do, tư hữu và niềm tin tôn giáo của Con Người. Mà hận thù là phản nghĩa với từ bi, nhân từ, bác ái, yêu thương. Tiêu diệt là phản nghĩa với xây dựng và phát triển. Như thế chủ nghĩa Duy Vật Cộng Sản đúng là hướng ngược chiều với Văn Hóa Nhân Loại. Nên học thuyết Duy Vật và chủ nghĩa Cộng Sản mới là Phi Văn Hóa.

Văn Hóa nơi Con Người, của các Dân Tộc, của các nền Văn Minh và của toàn Nhân Loại, tuy có những nét cá biệt, đặc thù, nhưng đều cùng có chung một bản chất, tính năng là: Đẹp, Tốt, Sáng, Mới, đó mới thật là thể hiện của Văn Hóa Tính phổ quát và đạt giá trị trường cửu. Đẹp, Tốt, Sáng từ nội dung lẫn hình thức ở Con Người, trong Xã Hội và các công trình, sản phẩm được tạo ra, sáng hóa bởi Con Người. Thế rồi người sau tiếp người trước bảo lưu, dung hóa, phát huy, làm mới thêm mãi cho phong thái sống, cách sống, lối sống, phương tiện sống và chế độ sống, với khuynh hướng sống vươn lên Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ.

Để giải thích chân lý, gần được chân lý, đạt được chân lý, vốn là một thách đố với suy tư của Con Người và toàn thể Loài Người, ở ngay từ buổi bình minh của Ý Thức Người vừa xuất hiện. Xem ra trong quá khứ Ý Thức Người đã bất lực trước thách đố đó. Vì rằng những công trình suy tư bằng ý thức người, đã chỉ tạo ra được những luồng tư tưởng, những triết phái cực đoan khép kín, các chủ nghĩa một chiều “Duy” thế này, thế nọ, thế kia, do đó đã xé nát nhân loại ra làm nhiều mảnh, dựng lên những hàng rào tinh thần hào nhoáng, rồi được ngụy trang dưới danh nghĩa Văn Hóa, Đạo Đức để lùa dân chúng vào guồng cuồng tín, thế hận thù nhau vì lý tưởng một cách cay độc, làm cho chân lý Hằng Hóa Hiếu Sinh mỗi lúc mỗi xa rời Con Người thêm. Thực ra Chân Lý tuy có thể Giác Chứng, mà chẳng thể Lý Luận bằng bất cứ thứ “duy” nào được. Bởi vì Chân Lý mang tính cách vừa toàn diện, vừa bao trùm, lại vừa nội tại nơi Vũ Trụ, Vạn Hữu và Con Người, gồm: Những hiện tượng Hợp Lý Tương Đối, nếu xét về mặt hiện tượng thực tiễn của sự vật, sự việc. Những hiện tượng Siêu Lý Tuyệt Đối, nếu xét về những hiện tượng siêu nhiên linh nghiệm trong vũ trụ trùng trùng bao la. Những hiện tượng Phi Lý Tự Đối, ngẫu nhiên xuất hiện bất quy tắc trong tự nhiên, và do tâm tư chủ quan của mỗi người, khám phá ra trong cuộc hành trình đi tìm sự hiện hữu của mình, rồi gặp cái chết của mình ở cuối đường hiện hữu, làm cho tất cả công sức trong cuộc sống trở thành phi lý và vô nghĩa đối với thân phận của chính mình.

Tuy nhiên, những tư tưởng, những chủ thuyết “duy” đó, dù có một chiều khép kín, nhưng nếu không đi ngược với hướng vươn lên Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ của Con Người, thì đều cùng hướng với Văn Hóa, đều đựơc thừa nhận có Văn Hóa Tính. Vì ít nhiều đã góp phần trong việc giúp Con Người khai mở một phía nào đó, trong nguồn tâm tư toàn diện sẵn có nơi mỗi người. Chính Nguồn Tâm Tư Toàn Diện sẵn có trong mỗi người là nền tảng của Văn Hóa, dung chứa tất cả các ý niệm, những tư tưởng trái nghịch nhau, để Con Người tự do, chủ động dung hóa, đãi lọc lấy tinh túy của những tư tưởng đó, làm thành các nền Đạo Học, đem ra ứng dụng vào cuộc sống, tạo ra các phương tiện sinh sống, mỗi ngày mỗi hoàn hảo hơn, nhằm phục vụ Con Người và Xã Hội.

Ngày nay, sau khi Nhân Loại đã tỉnh mộng về những lối Ý Thức Chủ Quan Duy Ý Chí, đã nếm trải và bị trả giá quá đắt do những tư tưởng đó gây ra, thì đều thấy rằng: Thế Giới cần phải được xây dựng và phát triển dưới nhãn quan toàn diện, cho hợp với Đức Lý của Trời Đất, đúng với Văn Hóa Tính của Nhân Loại cùng hướng tới cảnh Thái Hòa, Phát Triển, Thịnh Vượng lâu bền. Điều hiển nhiên là Nhân Loại đang tiến vào hướng chính đạo của nền Nhận Thức Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Triển, trong đó lấy Con Người Tự Do, Tự Chủ, Sáng Tạo làm Cứu Cánh. Lấy Văn Hóa làm Chủ Đạo cho khắp mặt tổ chức và sinh họat Xã Hội, Kinh Tế, Dịch Vụ, Chính Trị, Cai Trị, Luật Pháp, Văn Học, Nghệ Thuật, Khoa Học, Kỹ Thuật, cũng như việc giao tiếp giữa Người với Người; giữa Tập Thể với Tập Thể trong Xã Hội; giữa Quốc Gia với Quốc Gia trên trường Quốc Tế.


THĂNG HÓA TÂM LINH MÌNH LÀ LÀM MỚI CHO TẤT CẢ


Con Người thực sự có Tự Do, hoàn toàn Tự Chủ trong suy tư, hành động ứng xử, thì mới phát triển được khả năng Sáng Tạo. Chính khả năng Sáng Tạo đã làm cho Văn Hóa mỗi lúc mỗi Tốt Đẹp Sáng Mới thêm. Để Văn Hóa thể hiện đúng hướng Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ, thì không thể làm khác là phải vận dụng tới năng lực Trí Tuệ của Con Người. Mỗi người đều sẵn có Trí Tuệ, nhưng để khai mở được khả năng Trí Tuệ ở trình độ nào đó, thì còn tùy ở sự học tập, thâu thái, và quan trọng nhất là ở sự Tu Dưỡng của mỗi người.

Có thể có nhiều phương pháp tu dưỡng để phát huy Trí Tuệ, nhưng để có nghiệm chứng cụ thể, thì phương pháp Thiền của các bậc đã Giác Ngộ là dễ kiểm chứng nhất. Các vị đó đã hướng dẫn thế cách Quán Định, làm bình ổn Tâm Tư, xả bỏ tạp niệm, vui vẻ buông bỏ tất cả, giúp người tu tập đạt đựơc An Nhiên Tự Tại, Thanh Tịnh Rốt Ráo, tạo điều kiện cho Trí Tuệ khai mở. Trí Tuệ tuy được khai mở, nhưng không có nghĩa là đã có đủ công năng nhận biết ngay được chân tướng chân thật của Thực Tại, mà còn phải kiên trì Phá Chấp, tháo bỏ những xích xiềng tư tưởng một chiều cực đoan, rũ bỏ những mặc cảm tự ti, tự tôn; xả bỏ những ý niệm, những thành kiến cả xấu lẫn tốt. Có nghĩa là vui vẻ buông xả, buông xả và buông xả toàn diện rốt ráo, ngay cả chính niệm, đừng nói chi là tà niệm; buông xả ngay cả những cảnh giới an lạc chân thật đã đạt đựơc trong hành trình tu tập, nhằm đoạn trừ những cảm thụ của Ta, thuộc về Ta và chỉ có Ta.

Chính trong hành trình phá chấp và buông xả đó, năng lực Trí Tuệ sáng mãi lên, tựa như ánh nắng ban mai làm bung nở hạt giống Từ Bi nơi Con Người, khi Lực Trí Tuệ, Đức Từ Bi đã nở trọn vẹn viên mãn nơi Con Người, thì Con Người chẳng còn chấp giữ “Cái Ngã” nhỏ bé tủn mủn, sẽ không còn phải dùng phương tiện suy tư, lý luận để tìm kiếm, biện minh cho Chân Lý của Vũ Trụ, Đức Lý của Vạn Hữu nữa, mà thực tại là Lực Trí Tuệ, Đức Từ Bi nơi Con Người đã là biểu hiện của Chân Lý, Đức Lý của Trời Đất một cách chân thật trọn vẹn đầy đủ rồi. Cho nên không có gì lạ, không còn nghi ngờ gì nữa, những lời nói ra từ các bậc Toàn Giác, đều là những lời của Chân Lý.

Khi Trí Tuệ Từ Bi đã hiển hiện viên mãn trong Con Người, là Con Người đã hội nhập đựơc với Đạo Lớn Hằng Hóa, Đức Lớn Hiếu Sinh của Trời Đất, thì việc thể hiện Trí Tuệ Từ Bi của Con Người trong kiếp nhân sinh là lẽ tự nhiên, như ánh sáng phải chiếu sáng. Đó là những đóng góp đương nhiên vào với gia tài Văn Hóa Nhân Loại, có giá trị đưa Văn Hóa vươn mãi lên Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ. Mà Văn Hóa luôn luôn sắm vai trò chủ đạo, chỉ đạo cho toàn thể Nhân Loại cùng nhau nỗ lực khai triển cuộc sống Nhân Chủ Nhân Văn, để Con Người được Tự Do Tự Chủ Sáng Tạo, thực hiện nguyện ước chân chính của mình trong thực tại thế giới, đồng thời thăng hóa Tâm Linh mình, nhằm đạt tới tánh cảnh Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ.

Đến đây có thể hiểu được, tại sao trong Xã Hội do Cộng Sản thống trị lại sa đọa tăm tối như lịch sử đã chứng minh trong thế kỷ 20 vừa qua. Vì đích ra các danh từ Văn Hóa, Đạo Đức, mà Cộng Sản thường dùng, thì chính ngay những kẻ sử dụng nó, lại cũng chẳng hiểu nổi là họ đã lạm dụng. Cho nên Thế Giới Cộng Sản và Cộng Đảng Việt Nam đứng trước sự đổ dốc, tan vỡ, suy đồi của xã hội, đảng viên trụy lạc, dân chúng mất niềm tin, đều thấy rằng cần phải phục hồi giá trị Văn Hóa, Đạo Đức mới cứu vãn nổi chế độ ung thối ruỗng nát. Nhưng điều đáng buồn cho họ là những giá trị văn hóa, đạo đức chân chính đích thật của Trời Đất, của Loài Người, của Dân Tộc đã không hiện hữu trong đầu họ. Tất cả những giá trị đó đã bị chính thứ chủ thuyết Duy Vật, chủ nghĩa Mác Lê và Tư Tưởng Hồ, là thứ chủ thuyết ấu trĩ, chủ nghĩa chuyên chính và thứ tư tưởng hoàn toàn nô lệ ngoại nhân của họ Hồ, mà cộng đảng cho là siêu việt, là chân lý tuyệt đối đã tiêu diệt hết, tiêu diệt ngay trong suy tư của chính họ, và trong xã hội mà họ đã, đang thống trị.

Trong suy nghĩ của những người gọi là cộng sản chân chính và không chân chính hiện nay, thì đều cùng có sẳn một đường rầy biện chứng: “Tất cả đều là phương tiện”, Văn Hóa Đạo Đức, cả Con Người lẫn Dân Tộc chỉ là phương tiện cho họ sử dụng; trước kia là phương tiện để phục vụ cho lý tưởng Duy Vật, Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa, nay lý tưởng đó đã tiêu ma, thì lại thành phương tiện để củng cố quyền hành, nhằm mục đích hết sức thực tế là “duy vật chất” “duy tiền”. Chính vì toàn cộng đảng từ trên xuống dưới chỉ có mục đích “duy tiền”, nên mạnh kẻ nào, kẻ đó kiếm tiền một cách bất cố liêm sỉ, bất kể luật pháp, bất chấp đạo đức, trong khi đó người dân là nạn nhân bị đè nén, bóc lột và bị cấm nghe, cấm nói, chỉ để đảng độc quyền nói, mà chỉ toàn nói ngang, nói ngược, nói bậy thôi.

Đời thuở nào mà đem nước trộn với lửa, rồi bắt mọi người phải tin là thành công, thì tin sao nổi. Thế mà cộng sản cứ nhơn nhơn hô hoán: “Kinh tế Thị Trường Tự Do theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”. Lấy Kinh Tế Thị Trường Tự Do vốn là “nước”, mà trộn chung với “lửa” Xã Hội Chủ Nghĩa, thì sớm muộn gì lửa xã hội chủ nghĩa cũng phải tắt. Lấy “nước” Văn Hóa Đạo Đức đem trộn với “lửa” Hận Thù Hủy Diệt của chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng nô lệ của Hồ, thì “lửa” phải tàn là cái chắc. Thực ra những kẻ đề xướng những chủ trương trên, họ đều là kẻ đáng thương, vì chế độ cộng sản đã đào tạo ra những bộ óc “bùn” đặc quánh của những chú vẹt lẻo mép, họ không bao giờ hiểu được rằng: Thứ chủ nghĩa Duy Vật mà họ tôn thờ chẳng những không có Văn Hóa Tính, mà ngay giá trị Đạo Đức cũng không có luôn. Thế nhưng họ lại đã được học và bắt buộc phải hiểu rằng: Học thuyết Duy Vật và những sách vở viết về học thuyết này là những tác phẩm Học Thuật của Văn Hóa.

Chính vì hiểu sai như thế, nên họ chỉ có khả năng phá hủy, mà không có năng lực xây dựng, vì tất cả các công trình xây dựng, muốn được thành tựu lâu dài với lịch sử, thì phải khởi đi từ Văn Hóa. Nhất là phải phân biệt được rằng: Những thứ tuy bề ngoài có bóng dáng của các công trình Văn Hóa, mà nội dung đi ngược với Văn Hóa Tính, đi ngược với hướng vươn tới của Văn Hóa toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ, chống lại với Đạo Hằng Hóa, Đức Hiếu Sinh của Trời Đất, bằng chủ trương Hủy Diệt, đề cao Hận Thù thì đó không thể được nhìn nhận là công trình Văn Hóa, mà chỉ còn là sản phẩm “Sai Ác”.

Những người cộng sản, nếu thực sự muốn quay trở về với truyền thống tốt đẹp của Văn Hóa và Đạo Đức của Dân Tộc và Loài Người, thì phải thực tâm chân thành loại trừ chủ thuyết Duy Vật, chủ nghĩa Mác Lê và tư tưởng nô lệ của Hồ ra khỏi tư tưởng của mình, dẹp ngay những cơ chế, cơ cấu, luật lệ độc đảng, độc tài, độc tôn, toàn trị, khủng bố, bóc lột của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, để cho chính mình và toàn dân đựơc tự do sống, tự do lựa chọn, tự do tin tưởng, tự do phát biểu, tự do xây dựng tòa nhà Dân Chủ Trọng Pháp trong sáng bền vững cho Đất Nước, thì những giá trị truyền thống Văn Hóa Đạo Đức cao đẹp của Dân Tộc, chắc chắn sẽ được toàn dân đem ra ứng dụng và phát huy ngay trong cuộc sống của mình và của xã hội.

Chủ nghĩa cộng sản tuy không có Văn Hóa Tính, nhưng đối với lịch sử Dân Tộc Việt và Nhân Loại thì nó đã tự khẳng định và xác lập được chỗ đứng riêng biệt. Chỗ đứng trong kinh nghiệm đau thương khủng khiếp của các nạn nhân, đó là thứ “Hỏa Ngục Trần Gian”. Chỗ đứng trong Văn Học là những lời răn đe sẽ nhắc nhở cho Nhân Loại chớ để cho nó xuất hiện thêm bất cứ lần nào nữa, dù dưới hình thái nào cũng vậy. Chỗ đứng trong Nghệ Thuật thì hấp dẫn hơn. Vì cộng sản đã sắm đúng vai trò phản diện độc ác gian trá, một cách trung thực, xuất sắc nhất trong các tác phẩm nghệ thuật, mà các nhân vật hung ác, các chế độ tàn bạo ở trong quá khứ chưa hề lột tả đựơc hết tính cách cay độc hung hãn như thế. Còn trên màn ảnh và sân khấu thì đây đúng là tên kép độc làm cho khán giả vừa sợ vừa ghét, chỉ mong cho hắn chóng chết, tuy biết rằng hắn mà chết thì màn phải hạ, vở tuồng phải kết thúc. Nếu các văn tài trong thiên hạ muốn cực tả chân thật, hiện thực về “cái ác toàn diện” trong lịch sử Loài Người, thì phải nghiên cứu về chế độ cộng sản, nhất là về cộng sản Việt Nam thì sẽ nắm vững đựơc những tính chất đặc thù của nó là vừa độc ác, vừa tàn nhẫn, vừa ngoan cố, vừa gian manh, vừa hài hước, vừa đần độn một cách đáng ghét của anh kép độc Việt Cộng.

Tóm lại Văn Hóa và Đạo Đức là nội dung của Tâm Linh Con Người, nội dung của Lịch Sử Dân Tộc và Nhân Loại. Mà Đạo Đức lại là nội dung của Văn Hóa, nên Văn Hóa luôn luôn phải sắm vai trò Chủ Đạo nhằm chỉ đạo cho mọi sinh hoạt của Con Người và Xã Hội, Kinh Tế, Dịch Vụ, Chính Trị, Cai Trị, Luật Pháp, Văn Học, Nghệ Thuật, Khoa Học Kỹ Thuật thì Thế Giới mới đi đúng hướng hòa bình xây dựng phát triển, tránh khỏi loạn lạc, bất công, tụt hậu.




MÙA XUÂN KỶ SỬU
2009
LÝ ĐẠI NGUYÊN

==

No comments: