Wednesday, September 3, 2008

NGUYỄN CHÍ THIỆN, VIẾT THƠ TRÊN ĐÁ

Nguyễn Chí Thiện sinh ngày 27 tháng 2, năm 1939 tại Hà Nội. Trước 1954, ông học trường Pháp và Việt Nam. Sau hiệp định Genève, ông ở laị Hà Nội, không di cư vào nam, nhưng sau một thời gian, thấy rõ chân tướng cộng sản, ông tỏ ý chống đối, liền bị cộng sản giam qua các nhà tù như Hỏa Lò ( Hà nội), trại Thanh Liệt (Hà Tây) tất cả bảy năm. Năm 1979, ông chạy vào tòa đại sứ Anh ở Hà Nội trao bản thảo tập thơ của ông, sau đó họ liền đưa bản thảo ra khỏi Việt Nam. Còn ông bị cộng sản bắt giam 12 năm từ tháng 7-1971 đến tháng 10-1991, về tội giao tài liệu bí mật cho nước ngoài. Suốt tuổi thanh xuân, 27 năm trời ông đã ở trong ngục tù cộng sản. Nhờ chính phủ Mỹ can thiệp, và sự tranh đãu của tổ chức Asia Watch, Văn Bút Quốc Tế và Ân Xá Quốc Tế, họ trả tự do cho ông. Ông đến Mỹ ngày 1-11-1995.


A thơ : HOA ĐịA NGụC



Tác phẩm Hoa Địa Ngục của ông được nhiều người dịch như Huỳnh Sanh Thông (Flowers From Hell, Yale university Press), Bùi Hạnh Nghi (Echo aus dem Abgrund). Bản này do giáo sư Nguyễn Ngọc Bích dịch ra Anh Ngữ The Flowers of Hell, và Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ xuất bản năm 1996, bằng Anh và Việt ngữ, dày 550 trang. Tập thơ có tất cả 151 bài, chia thành ba phần, gồm thơ đã sáng tác từ 1958 đến 1976:
Phần I: Đồng Lầy
Phần II : Hoa Địa Ngục
Phần III: Những ghi chép vụn vặt
Nội dung Hoa Địa Ngục tố cáo tội ác của Hồ Chí Minh và bè lũ, đồng thời nói lên nỗi đau khổ của ông và của dân tộc Việt Nam dưới ách độc tài thống trị của cộng sản. Nguyễn Chí Thiện đã nói rõ mục đích làm thơ của ông. Thơ của ông là thơ tranh đấu, là vũ khí tiêu diệt bạo quyền, là súng là gươm nhắm thẳng vào quân thù:

-Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở
Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở
Tiếng khò khè hai lá phổi hoang sơ
Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ
Tiếng khai quật cuộc đào lên nỗi nhớ
Tiếng răng lạnh đập vào nhau khổ sở
Tiếng dạ dày đói lả bóp bâng quơ. .
.( Thơ của tôi, 1970)

-Thơ của tôi không có gì là đẹp
Như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao
Thơ của tôi không có gì cao
Như chết chóc, mồ hôi báng súng
Thơ của tôi là những gì kinh khủng
. . . . Thơ của tôi chỉ để đám dân thường
Nhìn thấu suốt tim đen phường quỷ đỏ
( Thơ của tôi, 1975)

Đồng Lầy viết năm 1972, là tâm tình của một Nguyễn Chí Thiện tuổi trẻ yêu đời, tin đảng. Lúc cộng sản vào Hà nội năm 1954, Nguyễn Chí Thiện mới 15 tuổi. Ông được học trường Pháp nghĩa là gia đình ông không nghèo, tại sao gia đình ông không di cư vào Nam mà ở lại? Có lẽ gia đình ông đã được tuyên truyền về cái thiên đường cộng sản nên đã ở lại. Đến năm hai mươi, ông mới nhận rõ bộ mặt thật của cộng sản:

Ngày ấy, tuy xa mà như còn đãy
Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời
Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi
Bốn phía bao la chỉ thấy
Chân mây, rộng mới tuyệt vời!
Ngất ngây, làm sao ngờ tới
Bùn đọng hồ ao, mạn dưới phục chờ!
Tuổi của hai muơi, tuổi của không ngờ
. . . . Nhưng rồi một sớm đầu thu, mùa thu trở lại
Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ
Tô thắm màu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường
Hung bạo phá bờ kim cổ
Tiếng mối giềng rung đổ chuyển non sông
Mặt trời sự sống
Thổ ra từng vũng máu hồn (26).


Đồng Lầy là một bản án kết tội cộng sản rất rõ ràng và đầy đủ. Và Đồng Lầy cũng là một bản tóm tắt những điều trong Hoa Địa Ngục mà Nguyễn Chí Thiện muốn trình bày cùng chúng ta, cùng cả thế giới và cùng thế hệ sau. Đọc Đồng Lầy ta có cảm tưởng như đọc Hịch Tướng Sĩ của Hưng đạo vương hay Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi.Nguyễn Trãi kết tội giặc Minh tàn ác thì Nguyễn Chí Thiện cũng kể tội cộng sản ác gian:

Khiếp sơ, sững sờ tê dại,
Lịch sử quay tít vòng ngược lại
Thời hùm beo rắn rết công khai.
Ngàn vạn đãu trường mọc dậy giữa ban mai
Đúng lúc đất trời nhợt nhạt
Bọn giết người giảo hoạt
Nâng cốc mừng thắng lợi liên hoan
. . . .. . . . . . .
Bãi sú, bờ lau,rừng rú
Thây người vun bón nuôi cây
Đạo lý tối cao ở xứ đồng lầy
Là lừa thầy phản bạn
Và tuyệt đối trung thành vô hạn
Với Đảng, với đoàn, với lãnh tụ thiêng liêng
Hạt thóc hạt ngô phút hóa xích xiềng
Họa phúc toàn quyền của đảng (28).


Tội nặng hơn hết là Hồ Chí Minh. Dưới mắt Nguyễn Chí Thiện, Hồ Chí Minh là một hung thần, ác quỷ, đã gây ra bao đau khổ cho nhân dân Việt Nam:

Hang Pác Bó hóa thành hang ác thú
Bác Hồ già hóa dạng bác Hồ Ly
Đôi dép lốp nặng bằng trăm đôi dép sắt
Bộ ka ki vàng, vàng như mắt dân đen
Quỷ quá đê hèn, lừa đảo!
Gia tài tra khảo cướp trơn tay ( 31-32).


Dưới ách cộng sản, đời sống nhân dân rất cực khổ. Con người mất tự do, toàn dân trở thành nô lệ, không có cơm ăn áo mặc:
Mạng sống không bằng con dun con dế
Đầu ngửng lên tuy nhìn thấy trời xanh
Mà chân không thể nào rút khỏi
Vũng lấy man mọi hôi tanh
Ma quỷ rình canh, nghiệt ngã.(32)


Ông tố cáo cộng sản lừa bịp dân chúng, đem những danh từ dộc lập, tự do trống rỗng để che đậy sự tàn ác và bóc lột:
Lòng ái quốc bị lừa còn đang buồn bã
Đảng gian ma mong kiếm chác thêm gì?
Bây tha hồ viện tới Lý, Trần, Lê
Người dân đã chán chê với cái trò chiến
tranh cách mạng.
Cái họ được là khăn tang và nạng
Cái mất đi ánh sáng cuộc đời
Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười
Bắt đói, bắt làm, hé răng oán thán.
Là tù ngục mục xương độc đoán
Phải chăng đó là công lao huyết hãn
Mấy ngàn ngày đánh Pháp những năm xưa? (48)


Cộng sản nói tranh đấu cho độc lập, tự do nhưng sự thực chúng cũng chỉ là tay sai của Nga, Tàu. So sánh cộng sản với thực dân Pháp, ông cho rằng thực dân Pháp còn tốt hơn cộng sản:


Con rắn đỏ vô cùng hung hiểm,
Nó sinh ra, lớn lên nhờ súc siểm.
Nhả nọc hận thù, phờ phỉnh công phu
Khéo léo đầu cơ lòng yêu nước đui mù
Lạy lục Tàu Nga không nề điếm nhục
Đủ hơi sức nó hiện hình phản phúc
Ngóc đầu, phi rít bất nhân
Phá đạo, phá đời uống khô sông suối!
Ôi thằng tây mà trước kia người dân không tiếc
máu xương đánh đuổi,
Nay họ xót xa luyến tiếc vô cùng
Nhờ nanh vuốt của lũ thú rừng
Mà bàn tay tên cai trị hóa ra êm ái! (48).


Thật mỉa mai thay cho cho dân tộc chúng ta! Anh em một nhà mà tàn ác hơn thực dân đế quốc. Nguyễn Chí Thiện đã nói đúng sụ thực. Bà Vũ Đình Huỳnh là người đã nuôi dưỡng, che giấu bọn Trường Chinh, Hồ Chí Minh và hoạt động với họ, sau cùng đã thấy rõ cái đuôi hồ ly tinh của cộng sản. Bà nói với Vũ Thư Hiên khi công an xét nhà bà năm 1967:
'' Mật thám Pháp đối với kẻ thù lịch sự và tử tế hơn công an ta đối với dân'' ( Vũ Thư Hiên, chú, 178).


Phần chính là Hoa địa ngục có 144 bài thơ, là tập hợp những bức tranh thực tả xã hội cộng sản, viết từ 1958- 1976. Nguyễn Chí Thiện đã sống nhiều năm trong trại giam cộng sản. Ông tả lại những cảnh sống trong địa ngục cộng sản. Đây là nơi nằm của tù:
Bác nằm liền sát cầu tiêu
Mùi phân, nước giải sớm chiều nồng hôi
( -m đau không thuốc, 1968. )
Chỗ tôi nằm, sáu mươi phân chiếu rộng
Hai người bên, một hủi, một ho lao
( Tôi có thể ăn, 1968)
Toàn toán đan đôi, chất chồng một xó
Sàn dưới, sàn trên như hấp như nung
. . . . . . .
Mùi hố tiêu, hố tiểu cùng xông
Hủi, suyển, ho lao, điên rồ, náo động!
Cứ như thế lui dần sự sống
Cứ như thế rụng dần từng mống. . .
( Toàn toán đan, 1968)



Nguyễn Chí Thiện đã nói cho chúng ta biết sơ lược cuộc sống trong tù:
Từng cơn nóng, từng cơn rét
Thịt bắp tiêu dần xương với da.
Chân vỡ sưng, cùm nhay lở loét
Rệp muỗi quây quần hút máu ăn.
Vụ hè oi bức trong hầm đá
Không khí như là hoi nước sôi
Ta khắp thân mồ hôi ướt vã
Cơm nuốt nhai cùng phân chuột hôi
Thời gian ẩm mốc ngày như tối
Cặp mắt mờ run lòa hằn rồi
Hốc mũi hơi thùng xông nhức nhối
Một mùa trong mộ đói qua trôi. .
( Từng cơn nóng dội, 1972)


Đây là một cảnh trong tù, một đám tù nhân đói khổ đã trở thành súc vật giành từng miếng cơm rơi:
Xuất cơm tôi một hôm đánh đổ
Tôi còn đương đau khổ nhìn theo
Thì nhanh như một đàn heo
Bốn năm đầu bạc dẫm trèo lên nhau
Bốc ăn một lúc sạch làu
Miếng cơm, miếng đất, lầu bầu chửi nhau!
( Xuất cơm tôi, 210)
Trong nhà tù cộng sản có rất nhiều thiếu nhi và phần lớn là con của nữ tù nhân:
Thế giới ơi! Người có thể ngờ
Đó là một tù nhân tám tuổi!
Trên bước đường tù tôi rong ruổi
Tôi gặp hàng ngàn em bé như em ( Một tay em trổ, 1971)
Chế độ tù cộng sản đã đào tạo ra những thiếu niên hung ác:
Những thiếu nhi điển hình chế độ,
. . . Mở miệng là chửi bới chẳng từ ai,
Có thể giết người vì củ sắn củ khoai.
( Những thiếu nhi, 202)



Cũng có lúc Nguyễn Chí Thiện được trả tự do. Thơ ông lúc này là thơ hiện thực viết về lịch sử và xã hội.
Ông viết về đấu tố:
-Được nghe bà kể khổ,
Con thấy đời con thực là đáng chết!
Con đã đi bóc lột để nuôi bà
Con bây giờ không dám nhận là cha
. . . .. . . . .
Xin thành khẩn cúi dầu chịu tội!
Đó là lời một ông đồ ở ngoại thành Hà Nội
Trước đãu trường giăng giối với con ( Được nghe bà, 338)
Đây là hoạt cảnh một người mù ngoác mồm ca tụng cộng sản cơm no áo ấm nhưng cuối cùng anh ta vứt tiêu, ngã xuống bên vệ đường vì đói quá:
Có anh chàng mù, mắt như hai cái lỗ
Kính chẳng đeo, mồm thời xệch méo
Ngậm vào tiêu, cổ nổi gân lên
Dốc hơi tàn thổi dứt đoạn như rên
Mấy bài hát lăng nhăng ca ngợi đảng.
Đã mang lại Ấm no và Ánh Sáng!
Một buổi sáng anh hình như choáng váng.
Gục xuống đường, tiêu rớt sang bên
Tôi vội vàng chạy lại đỡ anh lên,
Anh chỉ khẽ rên: Trời đói quá!
Người mù này có lẽ là một anh hát xẫm, hát rong nhưng cũng có thể là một biểu tượng cho những người mù lòa theo đảng, ca tụng đảng trong khi dạ dầy của mình và của gia đình lép kẹp! Ngoài tính chất chiến đấu, thơ Nguyễn Chí Thiện còn mang tính chất tình cảm. Ông khao khát mái ấm gia đình, ông luôn nghĩ đến mẹ, đến cha:
Nhắm mắt là con nhìn thấy ngay
Mẹ mắt mờ run bước cạnh thầy
Căn gác âm thầm ngao ngán quá
Hai bóng già nua tối lại ngày
( Nhắm mắt là con, 1968)
Có người mẹ gầy nhom mắt lóa gần lòa
Có người cha quá già quá yếu
Có người con bất hiếu là tôi
Hết tù lại tội
Bệnh ốm không nuôi nổi thân mình. . .
(Có người mẹ, 1968)


Nguyễn Chí Thiện nhớ người yêu, nhớ những kỷ niệm của thời hoa bướm:
Anh cùng em đi sát, cầm tay
Dạo bước dong chơi trên bờ cát trắng
Biển lúc đó vắng và tắt nắng
Gió ngoài khơi lồng lộng dâng triều
Hạnh phúc trong anh xáo động quá nhiều
Anh muốn ôm em nói điều sung sướng. .
( Chiều thứ bảy, 252)


Nguyễn Chí Thiện là nhà thơ nhiều mộng mơ. Cái mà ông mơ ước nhiều nhất là tự do, tự do cho ông và tự do cho cả dân tộc này. Dù sống trong ngục tù, Nguyễn Chí Thiện tin mãnh liệt một ngày mai bình minh trở lại với dân tộc Việt Nam.
Tôi vẫn chờ muôn vạn tiếng ve
Dạo khúc tưng bừng báo trưc
Mùa hè khắp nơi đang tiến bước
Tiêu diệt thu đông
Lãy lại sắc hồng
Phá cũi sổ lồng cho đàn chim bất hạnh (40)

Sẽ có một ngày con người hôm nay
Vất súng, vất cờ, vất cùm, vất đảng
Đội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng
Oan khiên!
Về với miếu đường. mồ mả, gia tiên
Mấy chục năm trời bức bách lãng quên
. . .. . . . . . . .
Kẻ bùi ngùi hối hận
Kẻ bồi hồi kính cẩn
Đặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông
Khai sáng kỷ nguyên tã trắng thắng cờ hồng!
Tiếng sáo mục đồng êm ả
Tình quê tha thiết ngân nga
Thay tiếng tiến quân ca
Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!
(Sẽ có một ngày, 1971)

Thơ Nguyễn Chí Thiện mang ba tính chất. Tính chất thứ nhất là nói thẳng, ông bắn đại liên vào mặt quân thù của ông và kẻ thù của dân tộc:
Cụ Mác ơi, cụ là đồ chó đẻ!
Thiên đường cụ hứa như thế kia a?
(Chúng ôi sống)


Đảng dìu dắt thiếu nhi thành trộm cướp,
Giải phóng đàn bà thành đĩ, thành trâu
. . . Đảng thực chất chỉ là đảng cướp ! (Đảng)
Tính chất thứ hai là thực, nói về đời lao tù của ông và của dân tộc Việt Nam :
Đời tôi rồi sẽ tới đâu
Lòng tôi cũng chẳng tìm câu trả lời
Nhà lao nay bước chân rồi,
Ngày mai có thể như chơi lại vào
. . . . . . . . .
Hèn, ngu, trí thức, nghèo giàu,
Phú nông, địa chủ từng xâu đi tù. . .(Đời tôi rồi sẽ)
Lãnh tụ béo nục/ Dân đen gầy rục /
Lao động hùng hục/ ( Lãnh tụ)


Thơ ông là thơ tranh đấu, thơ tố cáo, là thép, là gươm, là tiếng nói chống đảng cộng sản kìm kẹp nhân dân:
-Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở
Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở
Tiếng khò khè hai lá phổi hoang sơ
. . . . . . . . .
Thơ của tôi chỉ để đám dân thường
Nhìn thấu suốt tim đen phường quỷ đỏ
( Thơ của tôi, 1975)
Thật vậy thơ ông tố cáo các tội ác cộng sản:
Trên mảnh đất đảng gieo mầm tội lỗi,
Trong lành cũng phải tanh hôi.
Trẻ con chưa nứt mắt đã tù rồi,
Bạo lực đi về rất vội (Trên mảnh đất)
Độc lập là chuyện hão/ Khi đứng gần bác Mao/
Tự do là tù lao/ Khi cúng thờ cụ Mác/
Hạnh phúc là khoác lác/ Khi gạo tem đói rạc (Độc lập)



Tính chất thứ ba là trào phúng:
-Bác Hồ rồi lại bác Tôn
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác màu hồng
Nước da các cháu nhi đồng màu xanh
Giữa hai cái mặt bành bành
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò
( Bác Hồ rồi lại, 1970)


Trong thời đại nay, biết bao kẻ tung hô đảng, lạy lục bác để đuợc vinh thân phì gia, Nguyễn Chí Thiện là con người trung trực, can đảm, dám nói lên sự thật của xã hội ông. Ông là người đã cầm ngọn lửa thiêng của Chu An, Trần Binh Trọng. Thơ ông có cái đẹp hào hùng và mộc mạc của những nét chữ , những bức tranh, và hình tượng khắc trên núi đá.

B. TRUYỆN KÝ. HỎA LÒ
Nguyễn Chí Thiện là một nhà thơ độc đáo, ông cũng là một nhà văn đặc biệt với tác phẩm Hỏa Lò. Tác phẩm này do Tổ Hợp Miền Đông Hoa Kỳ xuất bản năm 2001, dày 316 trang, gồm 7 truyện ngắn và bút ký:
-Đàn bò sữa;-Một lựa chọn;-Tạc tượng
-Những bài ca cách mạng;-Phùng Cung
-Sương buồn ôm kín non sông;-Trăng nước sông Hồng
Hỏa Lò Hà Nội là một địa ngục ở trần gian, trước tiên do Pháp xây để giam giữ các tội nhân Việt Nam, sau Cộng sản cũng dùng Hỏa Lò để trừng phạt dân chúng. Hỏa Lò của Pháp rất hiểm ác, và khi vào tay cộng sản, Hỏa Lò còn tăng phần tàn độc.
- Tôi cứ nghĩ cách mạng thành công rồi, tù sẽ giảm. Không ngờ lại tăng gấp bội (Sương buồn ôm kín non sông, 245)
-bây giờ lượng chứa của Hỏa Lò vẫn y nguyên. Số người bị bắt cứ ùn ùn tăng lên gấp bội. Các buồng chung bị lèn như cá hộp
-Hồi đó, tù nhân coi ở xà lim là cực lắm. . .Bây giờ. . . ở xà lim được nằm một mình trên một bệ xi măng rộng những sáu mươi phân. Thật là thiên đường ( Tạc tượng 48).


Qua những phòng giam Pháp đã từng giam Hoàng Văn Thụ, Trần Đăng Ninh, một tử tù đã căm tức chửi đổng:
-Đ. mẹ thằng Pháp thế mà nhân đạo! Phía sau buồng, cửa sổ toang hoác, nắng gió tha hồ ùa vào. Phía trước có hai lỗ thông hơi to đùng, trẻ con chui lọt. Bây giờ bịt kín tất. Tòi như bưng, nóng như nung. (Trăng nước sông Hồng, 301)
Viết Hỏa Lò, trước hết, Nguyễn Chí Thiện muốn tố cáo chế độ cộng sản. Cộng sản đã dùng sự nghèo khổ, bệnh tật, đói rét, tối tăm,bẩn thỉu để hành hạ thể xác và tinh thần tù nhân, và để cho họ chết dần chết mòn trong đau khổ. Nguyễn Chí Thiện tả cảnh phòng giam nữ tù nhân:

Đương ở ngoài, bước vào phòng như bước vào lò hấp. Phòng nữ tuy không quá đông như các phòng nam, nhưng cũng chật ních. Mùi cầu tiêu, mùi mồ hôi, mùi máu mủ ghẻ lở, lậu, giang mai, kinh nguyệt quện vào nhau, lan tỏa. Tệ hơn phòng nam. Các ả đói meo, gầy teo, da dẻ nhăn nheo, ghét bẩn, đầu tóc bù xù. Những đường cong tuyệt mỹ trở thành những thẳng khẳng khiu. Không thể gọi là phái đẹp được nữa. ( Đàn bò sữa 23).
Mùa đông hay mùa hè, tù nhân đều chịu khổ như nhau.
Mùa đông thời đói rét, mùa hè thời đói khát. Từ năm giờ chiều tới bảy giờ sáng, chỉ có một thùng nước độ một trăm lít cho 250 thằng tù.Trời thì nóng như nung, như hấp. Mồ hôi ròng ròng thế này. Nuớc muối, bo bo nốc vào, chúng nó khát như cháy họng. Đi mẹ nó trại trung ương ngày nào sớm ngày ấy( Tạc tượng 80).


Trong chế độ cộng sản, tù nhân bị coi là kẻ thù, bị trừng phạt, cho nên họ không có đủ lương thực, thuốc men. Cộng sản muốn để mặc cho tù nhân chết hao mòn trong bệnh tật, họ không quan tâm đến tính mạng tù nhân, họ không cung cấp đầy đủ thuốc men cho tù nhân:
Ba thằng ho lao chúng cháu ngồi chùm chăn ôm lưng nhau. Cả bệnh xá ngồi như vậy.Trừ gã đau tim và vài gã quá yếu. Tất cả chúng cháu đều run lẩy bẩy. Chẳng khác gì đang lên cơn sốt rét. Những cái chăn đủ các con bệnh đã đắp qua, thối khẳm, hàng năm mới được nhúng nước qua loa, gọi là giặt. Chúng cháu vẫn phải chùm kín mặt, kín đầu. Rét từ trong xương, trong tủy rét ra. Rét như kim đâm vào da thịt nứt nẻ, ghẻ lở. . . . . Nửa đêm, thằng ôm lưng cháu tự nhiên nấc mấy cái, thổ máu ra vai áo cháu. Chúng cháu tung chăn, dìu nó ra thùng phân. Nó ộc ra tới nửa lít máu. Máu đỏ tươi, vón lại từng cục, như những miếng phổi tung tóe.
( Một lựa chọn 42) .


Cũng như mọi trại giam cộng sản, tù nhân bị cái đói liên tục hành hạ. Thiếu niên tù nhân kể về cái đói trong tù:
Ông chú chưa bị đói triền miên bao giờ, nên không thể hiễu nổi tầm quan trọng của thìa cơm trong cảnh tù tội. Phang nhau vỡ sọ cũng vì nó ( Một lựa chọn 44).
Tù nhân thời Pháp thuộc đươc no đủ, nhất là các tù nhân bị án tử hình (301), nhưng trong chế độ cộng sản, tù nhân nào cũng đói thường xuyên vì đó là chủ trương của cộng sản dùng cái đói để khống chế tinh thần và thể xác tù nhân. Trong Trăng nước sông Hồng, Nguyễn Chí Thiện viết:

Đối với bọn tù Hỏa Lò, ăn xong coi như hết buổi sáng . Họ lại ngong ngóng đợi bữa chiều. Ăn chiều xong coi như hết ngày. Lại ngong ngóng đợi bữa hôm sau. Hai bữa ăn là hai cái mốc chính trong đời của những người tù đói quặn, đói thắt ,đói run, đói sa sẩm cả mặt mày, đói tiêu hao cả máu thịt, ngày này sang ngay khác, tháng này sang tháng khác, năm này sang năm khác (305)


Trong Tạc tượng, Nguyễn Chí Thiện thuật chuyện một nữ tù nhân khá đẹp đã bị cái đói hành hạ:
Cô gái lẳng lặng đi. Thoáng thấy mấy lá bánh chưng còn dính vài cục bánh con con, cô nhào tới rãnh nước, nhặt lên, đưa vào mồm, liếm lấy liếm để.
Mụ quản giáo the thé:
- Con nhà thổ! Bà sẽ cùm mày lại!
Mụ chạy xộc tới, nắm mớ tóc bù xù của cô gái, tát tới tấp. Cô gái lí nhí kêu lạy. Đám tù vô gia cư đói rạc, gầy giơ, từ nẫy vẫn gục mặt xuống ăn, không để ý gì tới xung quanh, nghe tiếng của mụ quản giáo, cũng phải ngẩng đầu lên, ngơ ngác nhìn ( Tạc tượng 58)


Trong Tạc tượng, hai vợ chồng Việt kiều ở Pháp về giúp nước, nhưng vì nhiệt tình góp ý kiến ''cải tiến nghề nghiệp'' mà bị tù với các tội danh ''phá hoại uy tín của lãnh đạo nhà máy'', ''kích động công nhân phản kháng'', và ''gián điệp cho nước ngoài'', và người thợ sửa đồng hồ vì rao ngắn gọn '' hồ hỏng'', hồ vỡ, sửa chữa'' mà bị kết tội phản động, xỏ xiên lãnh tụ.


Trong thế giới nhà tù có nhiều bí mật. Bí mật thứ nhất là có nhiều tù nhân làm ăng ten cho công an. Bí mật thứ hai là, giữa những tù nhân với nhau, nhất là tù hình sự, có nhiều giai cấp, nhiều thứ bậc. Các tay anh chị được tôn là ''tù trưởng'',''trưởng phòng'' và'' tự giác''. Bọn họ thường dùng võ lực trấn áp các tù nhân sức yếu thế cô. Bí mật thứ ba là chính sách bóc lột trong tù. Cán bộ bóc lột tù, và tù bóc lột tù. Truyện Tạc tượng, anh chàng Việt kiều ở Pháp muốn làm ''tự giác'' mà phải viết thư về nhà bảo vợ nộp ''một cân trà búp, một cân thuốc lào, hai tút Điện Biên, một cân mì chính, ba trăm đồng tiền mặt''(63). Tên trưởng phòng thố lộ:
Dầu sao ở Hỏa Lò gần gia đình, cũng vẫn hơn. Vợ em phải đút tám cây vàng mới được ở lại đây. Mất thêm ba cây nữa mới được làm tự giác (80).


Bọn cai tù đã trở thành sang trọng vì đã bóc lột và trấn lột tù nhân. Một anh ''tù trưởng phát biểu về bọn công an coi trù:''Nó sắm được đồng hồ xe đạp, đài đóm cũng nhờ ở chúng mình (83).

Nhiều khi bọn cộng sản trấn lột tù nhân công khai và trắng trợn. Trong truyện Những bài ca cách mạng, bọn bộ đội cho tù tổ chức ăn tết rồi đột kích tịch thu thịt, chả, kẹo bánh của họ. Rõ là ''cướp cơm chim''! Các tù nhân tỏ ra tức giận vô cùng.
Tên trực trong hầm hầm:
- Mất trắng! Chúng nó đêm nay sẽ chè chén no say. Còn có quà mang về cho vợ con nữa. Khốn nạn thật. Cướp cả của tù nữa. Đúng là ma không thương người ốm, kẻ trộm không thương người nghèo .
Trưởng phòng than thở:
-Ai mà lường được! chúng âm mưu nhỏ nhen, đểu đến như vậy. Dù sao cũng là quân đội nhân dân anh hùng! (136)


Hỏa Lò của Nguyễn Chí Thiện không những phản ánh những thực tại xấu xa trong nhà tù cộng sản, mà còn phản ánh xã hội Việt Nam trong địa ngục đỏ. Lão tù nhân trong truyện Sương buồn ôm kín non sông có lẽ là chính tác giả, đã nhận xét rằng trong chế độ cộng sản, xã hội đã thay đổi khác hẳn (184). Trong chế độ cộng sản, người dân luôn đói khổ, nhất là thời chiến tranh. Chàng thanh niên tử tù quê Thái Bình kể rằng anh phải khai tăng tuổi để vào lính vì vào lính thì mới có cái ăn. Dân Thái Bình đói lắm, thanh niên mỗi ngày phải một cân gạo mới no , thế mà bình quân, mỗi đầu người, hàng tháng chỉ được chín cân gạo (Sương buồn ôm kín non sông, 255). Một số phụ nữ từ Ninh Bình đến Quảng Bình trong thời chiến đã đem những tấm thân gầy trao đổi hàng hóa với các anh chàng lái xe (196).


Về đám thiếu nhi phạm pháp, lão tù nhân phát biểu:
Từ mấy chục năm nay, các trại đầy ắp lưư manh. Lớp nọ tiếp lớp kia, ngày càng đông đảo. Thời tây, ở Hà Nội, giỏi lắm đếm được gần năm trăm tên trộm cắp, tụ tập ở chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Đuổi. Con cái những nhà nghèo lắm mới phải đi bán kem, bán báo, đánh giầy, đánh mũ. Ở nông thôn, chỉ thỉnh thoảng chỉ xảy ra chuyện ăn trộm con gà, con qué .Tôi chưa thấy một giáo viên, một học sinh nào đi ăn cắp cả. Bây giờ thì nhan nhản. Xã hội đã lưu manh hóa mất rồi !
(Sương buồn ôm kín non sông 202). . .


Ngay cả con cái các cán bộ cao cấp, tiền bạc dư thừa cũng đi ăn cướp, giết người và bị tù. Đó là trường hợp con trai lão Ngưu Ma vương (Sương buồn ôm kín non sông , 285 ), con trai Nguyễn Xuân Sanh, Huỳnh Tấn Phát (Những bài ca cách mạng, 127- 31). Bi đát nhất là những gia đình có người tù tội, tất cả phải lâm vào cảnh bần cùng như gia đình lão tù trong Sương buồn ôm kín non sông.
Ngoài ra, trong xã hội chỗ nào cũng ăn cắp của công, tham nhũng và hối lộ. Một tù nhân trong Sương buồn ôm kín non sông, đã nói:
Tiền, tiền. Đa số nằm đây đều phải chi cả. (206)


Cũng trong truyện trên, bà Sài Gòn vì có tiền mà mua chuộc được công an và tù nhân; một tên thuế vụ vì làm tiền mà bị đâm chết ( 193); một tên lái xe vì tham hai mươi tám tấn thóc mà bị tử hình (196) và một nữ cán bộ bị tù vì tham ô hai mươi tấn gạo ( Đàn bò sữa, 26).



Tuy vậy, trong đêm dài và đen tối, chúng ta vẫn nhận thấy có những ngôi sao nhấp nháy dù ở tận chân trời xa. Vị thiền sư xuất hiện mang theo một thông điệp tâm linh. Và bao nhiêu năm sống với những tù nhân đông đảo đã cho Nguyễn Chí Thiện một nhận xét về con người, cuộc đời và xã hội. Hữu thần và vô thần, duy vật và duy tâm, tư bản và cộng sản , là những lý thuyết, những con đường đối nghịch nhau. Những con người tôn giáo dù sao vẫn có một chút cao cả hơn con người Marxist gian tham tàn bạo. Nguyễn Chí Thiện nhận định:

Làm ăng ten mà tù miền Bắc gọi là Béc-giê, thành phần nào cũng có: tư sản, địa chủ, công nông, sĩ quan, binh lính, viên chức thời chính phủ quốc gia Bảo Đại, trí thức. .. . Chỉ riêng những người Công giáo, Phật giáo, những linh mục, tu sĩ, nhà sư là rất hãn hữu. Điều này chứng tỏ Tôn giáo là vô cùng hữu dụng trong việc duy trì nhân phẩm, đạo đức loài người ( Phùng Cung, 152)


Một điểm rất đáng chú ý là tác phẩm của Nguyễn Chí Thiện rất đầy tình người. Chính ở trong địa ngục, chúng ta thấy rực rỡ hào quang của từ bi và nhân đạo. Trong tù ngục, có những bậc hiền nhân, và cũng có những quỷ sứ đôi khi mang bụng dạ nhân từ. Lão tù nhân trong Sương buồn ôm kín non sông đã nhận định:

Cuộc đời cơ cực tàn bạo này, tình người vẫn còn, chưa mất hẳn (96),
Ý niệm này cũng là một chủ đề lớn trong Hỏa Lò. Trong Đàn bò sữa, một nữ quái đã tìm mọi cách cứu sống đứa bé thiếu sữa và ghẻ lở. Lão già trong Tạc tượng, ông quản giáo già người Nam được bọn tù gọi là Gang- đi trong Sương buồn ôm kín non sông là những hoa sen trong bùn. Qua những đêm ca hát vui vẻ trong tù (Sương buồn ôm kín non sông), chúng ta nhận thấy con người ở đây chan chứa tình người.



Nói tóm lại, Nguyễn Chí Thiện vừa lên án cộng sản, vừa tuyên dương lòng nhân đạo của con người. Hõa Lò là một thiên ký sự, thuật lại sự thật đã xảy ra trong địa ngục Việt Nam. Thiện và ác là hai mặt luôn đối diện nhau trong cuộc đời. Trong địa ngục vẫn sáng ngời tình yêu như đôi tình nhân trongTrăng nước sông Hồng và những mảnh đời tan vỡ trong Sương buồn ôm kín non sông . Dù bị cộng sản đày đọa, dù thấy con người gian tham, tàn ác, Nguyễn Chí Thiện vẫn tin tưởng vào một chút lương tri còn sót lại trong cuộc đời và con người.



Gần suốt một cuộc đời lao tù, Nguyễn Chí Thiện đã trải qua bao kinh nghiệm đau thương. Nước mắt ông đã hóa thành mực để ghi lại những sự thực của đời ông và của lịch sử. Thơ cũng như truyện của Nguyễn Chí Thiện đều là những sự thực đã xảy ra trên nửa thế kỷ khắp mọi nơi trên đất nuớc Việt Nam. Thơ cũng như truyện, ký của ông đều là những nét son nghệ thuật độc đáo, không ai có thể giống ông được. Nhất là thơ của ông, nó mộc mạc, chân phương, nghĩa là không văn hoa, bay bướm. Thơ của ông mở một lối đi vào hiện thực như thơ của Giai Phẩm, Nhân Văn. Thơ của Nguyễn Chí Thiện như sấm, như sét, như mắng như chửi, như gào như thét. Đó là đặc tính nghệ thuật của Nguyễn Chí Thiện trong văn và thơ. Nghệ thuật của ông giống nghệ thuật của Phùng Quán, Phùng Cung, là những lát gươm mạnh mẽ đâm vào trái tim cộng sản, không rụt rè, không ngập ngừng. Ông đã làm tròn sứ mạng của lịch sử giao phó nghĩa là rao giảng những bí mật của một vũ trụ đã bị bít kín non nửa thế kỷ mà một số người vẫn tin đó là thiên đường và đi theo sa tăng tung hô vạn tuế. Nguyễn Chí Thiện là một trong những nhà thơ lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ hai mươi và hai muơi mốt.



Về phương diện văn chương và tư tưởng, tác phẩm của Nguyễn Chí Thiện là một trong những tuyệt phẩm của hiện đại. Xét về tác phẩm, thơ và truyện ngắn của Nguyễn Chí Thiện đầy tính chất tố cộng. Hơn nữa, tác phẩm của ông rất có nghệ thuật, một thứ nghệ thuật đặc sắc. Ông không vẽ tranh trên giấy, trên lụa mà ông chạm vào núi đá những bức tranh vĩ đại.

No comments: