Showing posts with label BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 184. Show all posts
Showing posts with label BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 184. Show all posts

Thursday, July 14, 2011

KHOA HỌC * CON NGƯỜI

NHỮNG KHÁM PHÁ THÚ VỊ VỀ CON NGƯỜI
Cơ thể con người chứa những điều kỳ diệu mà trí tưởng tượng phong phú cũng khó hình dung nổi.
Con người được sinh ra với hơn 300 chiếc xương trong cơ thể. Tuy nhiên, khi bước vào giai đoạn trưởng thành, cơ thể mỗi chúng ta chỉ còn lại 206 chiếc xương. Điều này xảy ra vì rất nhiều trong số những chiếc xương ban đầu đã hòa nhập với nhau để thành một xương đơn lẻ. 25% số xương của một người nằm tập trung trên hai bàn chân.

Cơ thể người có hơn 600 cơ, chiếm 40% trọng lượng toàn cơ thể.

Đầu của con người vẫn còn nhận thức khoảng 15 - 20 giây sau khi bị đứt lìa khỏi xác.

Lá phổi bên phải của con người lớn hơn lá phổi bên trái. Điều này là do, lá phổi bên trái phải nhường chỗ cho trái tim.

Lòng bàn tay và lòng bàn chân của bạn không thể bị rám nắng và cũng không thể mọc lông.

Cứ 24 giờ, cơ thể con người lại tiết ra khoảng 0,5 - 1,4 lít nước bọt. Trong suốt cuộc đời của mình, một người trung bình đã sản sinh ra khoảng 37.854 lít nước bọt.

Cơ thể của một người trưởng thành cần gần 40kg khí oxy mỗi ngày.

Tóc và móng tay người cấu tạo từ cùng một chất: keratin. Trung bình mỗi ngày, chúng ta bị rụng khoảng 40 - 100 sợi tóc.
Tính trung bình, một người tóc đỏ có 90.000 sợi tóc, trong khi những người có mái tóc đen sở hữu tới 110.000 sợi tóc. Ngoài ra, những người thông minh có lượng kẽm và đồng nhiều hơn trong tóc của họ.

Lý do cho việc tóc chuyển màu muối tiêu khi chúng ta già đi là vì, các tế bào sắc tố trong nang lông, vốn chịu trách nhiệm sản xuất ra "melanin" tạo màu cho tóc, bắt đầu chết đi.

Cứ mỗi xem-ti-mét vuông trên cơ thể người chứa trùng bình 5 triệu vi khuẩn trên đó.

Cứ khoảng 27 ngày, con người lại thải bỏ và tái phát triển các tế bào da ở lớp ngoài cùng, và như vậy sẽ có gần 1.000 lớp da mới trong suốt cuộc đời.

Cơ thể người có đủ lượng chất béo để sản xuất 7 bánh xà phòng.

Nếu bị mù một mắt, một người sẽ chỉ mất đi 1/5 thị lực nhưng mất tất cả khả năng cảm nhận về độ sâu.

Trái tim của con người có thể tạo đủ áp lực để phun máu ở khoảng cách xa tới hơn 9 mét.

Một người trung bình có khoảng 1,86 mét vuông da với khối lượng 2,7kg.

Mỗi con người chúng ta mất khoảng nửa giờ đồng hồ ở tình trạng một tế bào đơn lẻ.

Một tế bào máu đơn lẻ mất khoảng 60 giây để thực hiện một chu kỳ di chuyển hoàn chỉnh của cơ thể
.
Tế bào lớn nhất trong cơ thể người là tế bào sinh sản của nữ hay còn gọi là tế bào trứng, có đường kính gần 0,2mm. Trong khi đó, tế bào nhỏ nhất trong cơ thể người là tinh trùng của nam giới. Phải cần tới khoảng 175.000 tinh trùng mới có tổng trọng lượng bằng một tế bào trứng.

Các thống kê cho thấy, trung bình, một người sẽ quan hệ tình dục tổng cộng hơn 3.000 lần và dành 2 tuần cho các nụ hôn trong suốt cuộc đời của mình.

Kỷ lục về số lần đạt cực khoái trong một giờ đồng hồ được ghi nhận đối với một phụ nữ là 134, nhưng đối với nam chỉ là 16.

Trong suốt cuộc đời, một người đàn ông trung bình sẽ dành 3.350 giờ đồng hồ để loại bỏ tổng cộng 8,4 mét râu.

47% số người trong chúng ta gặp ác mộng ít nhất mỗi tháng một lần.

Hầu hết chúng ta đều có các ký sinh trùng siêu nhỏ, được đặt tên là Demodex sống trong lông mi, móng tay chân và miệng của mình.
Khi ho, con người giải phóng ra một luồng khí có tốc độ hơn 96km/h.

Móng tay và móng chân mất khoảng 6 tháng để mọc từ gốc tới đầu ngón tay hoặc ngón chân. Móng tay mọc nhanh nhất ở ngón giữa. Tuy nhiên, ngón tay nhạy cảm nhất trên một bàn tay người lại là ngón trỏ.

Một người sẽ chết vì thiếu ngủ nhanh hơn chết vì đói. Cái chết sẽ tới trong khoảng 10 ngày thiếu ngủ, trong khi con người sẽ chống chịu với cái đói được vài tuần cho tới khi tử thần gõ cửa.

Một người trung bình ngủ thiếp đi trong 7 phút.

Trong cả cuộc đời, một người trung bình đi bộ tổng quãng đường tương đương với 5 vòng xích đạo.

Phụ nữ trưởng thành nhanh hơn nhiều so với nam giới và cũng có chỉ số IQ trung bình cao hơn một chút so với nam giới. Ngoài ra, phụ nữ thường có thính giác tốt hơn so với nam giới.

Đàn ông đổ mồ hôi nhiều hơn 40% so với phụ nữ.
Trẻ nhỏ khóc nhưng chúng không tiết ra nước mắt cho tới 1 - 3 tháng sau sinh.

Cho mãi đến khi được 6 - 7 tháng tuổi, một đứa trẻ vẫn có thể thở và nuốt cùng một lúc. Điều này là nhiệm vụ bất khả thi đối với một người lớn.

Cứ 500 người thì có một người sở hữu một mắt màu xanh và một mắt màu nâu. Những người có đôi mắt màu xanh có khả năng nhìn tốt hơn trong
bóng tối.

Trung bình, một người dành khoảng 5 năm để ăn trong suốt cuộc đời của mình.

Ban ngày, số trẻ nam sinh ra nhiều hơn số trẻ nữ nhưng ban đêm thì ngược lại.

Cười làm hạ lượng hoóc môn gây stress và tăng cường hệ thống miễn dịch. Trẻ em cười trung bình 400 lần/ngày trong khi con số này ở người lớn chỉ từ 15 - 100 lần/ngày. Đàn ông cười to hơn, dài hơn và thậm chí thường xuyên hơn so với phụ nữ.

Hai trẻ song sinh không bao giờ có vân tay giống hệt nhau.

Trong suốt cuộc đời của mình, bạn sẽ tiêu thụ khoảng 27,2 tấn thức ăn, tương đương trọng lượng của 6 con voi.

Vào mùa xuân, trẻ em phát triển nhanh hơn so với bất kỳ mùa nào khác trong năm.
11% số người trên hành tinh của chúng ta thuận tay trái.

Vào độ tuổi 70, 73% đàn ông vẫn còn khả năng quan hệ tình dục.

Các nhà khoa học phát hiện, những người đang nói dối thường có xu hướng nhìn lên trên và sang phía bên trái của họ.

Hầu hết đàn ông đều trải qua hiện tượng cương dương cứ 1 tiếng hoặc 1 tiếng rưỡi đồng hồ trong lúc ngủ.

Trung bình, phụ nữ nói 7.000 từ mỗi ngày trong khi con số này ở đàn ông chỉ là 2.000.

Bằng cách đi bộ thêm 20 phút mỗi ngày, một người trung bình sẽ đốt cháy được hơn 3kg chất béo trong một năm.

Các nhà xã hội học phát hiện, thực trạng kinh tế càng tồi tệ thì váy của phụ nữ càng dài, và ngược lại, khi nền kinh tế tốt đẹp hơn, váy của các quý bà, quý cô do đó lại ngắn đi.

35% số người sử dụng các quảng cáo cá nhân cho việc hẹn hò đã kết hôn

GIAI CẤP VÔ SẢN



Sững sờ trước căn nhà sang trọng của một giám đốc ở SAIGON
đầy tớ của nhân dân.
7:27 AM Thứ tư, ngày 13 tháng bảy năm 2011- Chuyên mụcKinh Doanh|Bất động sản|
Với tổng diện tích lên đến 18.000m2, ngôi nhà sang trọng của giám đốc Công ty TNHH Cơ Khí Công - Nông nghiệp sẽ khiến bạn phải ngỡ ngàng và kinh ngạc.
Một ngôi nhà cực rộng lớn và vô cùng sang trọng không thua bất kỳ một khu resort nghĩ dưỡng cao cấp nào nằm ngay khu vực Quận 6 của TP. Hồ Chí Minh sẽ khiến bạn phải "ngỡ ngàng" và "choáng ngợp". Toàn bộ khuôn viên này với tổng diện tích lên đến 18.000m2 bao gồm những tổ hợp nhà ở, nhà ăn, phòng giải trí, hồ bơi sang trọng và cả một khuôn viên sân vườn rộng đến "kinh ngạc".
Chủ nhân của ngôi nhà là ông Bùi Văn Ngọ - Giám đốc Công ty TNHH Cơ Khí Công - Nông nghiệp. Ông đã cho xây dựng toàn bộ tổ hợp nhà ở từ năm 2004 và cho đến nay toàn bộ công trình này kỳ công này đã trở thành một niềm tự hào vô cùng to lớn của ông Bùi Văn Ngọ. Thậm chí, ngọn đồi Tiên Nữ là tâm huyết của chủ nhân ngôi nhà cũng đã được xác lập là kỷ lục của Việt Nam. Ngôi nhà với nhiều thế hệ trong một gia đình đã cùng nhau sống một cách vui vẻ, đầm ấm và hạnh phúc trong toàn bộ khuôn viên rộng lớn này.
Sự kì công của ngôi nhà phải kể được đến chính là khoảng khuôn viên sân vườn. Lối đi này lúc nào cũng được chăm sóc một cách chu đáo cẩn thận. Thậm chí, những nhân viên làm vườn ở đây cũng được ở lại trong nhà để có thể thuận tiện hơn trong việc chăm sóc cây cảnh nơi đây.
Bất cứ vị khách nào đến thăm nhà ông Bùi Văn Ngọ cũng đều cảm thấy vô cùng ấn tượng. Không chỉ vì sự sang trọng và rộng lớn của ngôi nhà mà còn vì sự tiếp đãi rất nhiệt tình của chính chủ nhân nơi đây. Những thành viên trong gia đình còn cho biết mỗi khi có dịp lễ, tết,.... tất cả mọi người đều tề tựu về đây để cùng nhau vui chơi, ăn uống, đông vui không thua gì đi "hội"...

Lối đi chính dẫn vào khu nhà...

... được chủ nhân trang trí bằng những chậu hoa cảnh đắt tiền

Đồi Tiên Nữ ấn tượng với khách ngay khi vừa đặt chân vào khu nhà

Ngọn đồi Tiên Nữ này thậm chí đã từng được xác nhận là kỷ lục Việt Nam

Gian nhà chính được dùng để đại gia đình cùng nhau ăn uống và thư giãn


Lối đi dẫn vào khu nhà để ở

Một trong những căn hộ của những thành viên trong gia đình




Phòng ăn chính của gia đình với không gian rộng rãi và thoáng đãng

Quầy bar được thiết kế bằng gỗ mang đến sự sang trọng

Phòng giải trí của đại gia đình hoành tráng, hiện đại và sang trọng đến "ngỡ ngàng"

Có đủ cả các loại nhạc cụ, từ piano....

.... dàn trống hiện đại

.... đến cả ghita

Ghế ngồi trong phòng thư giãn cũng được trang trí cẩn thận

Phòng họp nội bộ của gia đình

Chủ nhân của ngôi nhà sở hữu một bộ sưu tầm rượu quý giá "khổng lồ"

Phòng ăn dành để tiếp đãi khách

Hồ bơi riêng sang trọng nằm ngay trong khuôn viên nhà

Hồ Non Nước nằm ngay trong khuôn viên để các thành viên dễ dàng thư giãn, dạo mát

Xung quanh cũng được trang trí với rất nhiều cây cảnh,
chủ nhân ngôi nhà có hẳn một đội ngũ nhân viên chuyên chăm sóc khuôn viên này.


NGUYỄN VĂN SỞ * KINH NGHIỆM


THÊM MỘT KINH NGHIỆM CẬN TỬ

"Đau đớn chỉ là tạm thời. Nó có thể kéo dài một phút, một giờ, một ngày, hay một năm, nhưng rồi nó cũng sẽ tiêu tán đi. Tuy nhiên, nếu tôi bỏ cuộc, đầu hàng (số mệnh), thì quyết định này sẽ ám ảnh tôi dai dẳng đến trọn đời." Lance Armstrong.

Bình thường khi ta sống khoẻ mạnh, ít ai nghĩ đến cái chết nói chung hay nghĩ đến cái chết của chính bản thân mình, mặc dù khi bỏ nắm đất xuống mộ huyệt của một người bạn thân để nói lời từ giã cuối cùng đôi lúc mình cũng có loáng thoáng trầm tư về kiếp nhân sinh tạm bợ, ngắn ngủi trên cõi trần này. Trái với hoài bão của bao nhiêu đời vua chúa, quan quyền thời phong kiến, hay của các danh y từ Âu sang Á, đã bỏ biết bao nhiêu công sức, tiền của cốt tìm cho ra một phương thuốc trường sinh bất lão, cho đến ngày hôm nay đây đã có tiến triển nào đâu! Đã có sống là có chết. Sinh, lão, bệnh, tử là quy luật của Đất, Trời.

Nhưng khi mình nằm một mình trên gường bệnh và biết mình đang phải đương đầu với một căn bệnh hiểm nghèo, thì cái ý nghĩ về sự biệt ly lại trở về trong tâm khảm của mình làm mình hằng đêm thao thức. Nghĩ đến những bất trắc có thể xảy ra trong mổ xẻ và chữa trị, nghĩ đến tuổi tác của mình khi đã gần cái ngưỡng "thất thập cổ lai hy", và nghĩ đến căn bệnh ngặt nghèo mà các thử nghiệm khác nhau của y khoa hiện đại đã cho biết không một chút nghi ngờ, cũng thật khó mà bình tâm, không lo lắng!


Nhưng nghĩ về một ngày mai mình sẽ vắng bóng trên cõi đời này thì ít, mà nghĩ đến những người thân của mình, bạn bè thân quý của mình, những người đã thương yêu, chia sẻ vui buồn với mình qua bao giai đoạn thăng trầm của cuộc sống, rồi một mai đây không còn mình nữa, không biết ảnh hưởng đến đời sống của những người còn lại sẽ ra sao? Đối với bạn bè, sau những lời bày tỏ thương tiếc, hầu như ai cũng phải trở về với những tuế toái của cuộc đời thường. Cuộc sống lại cứ thế mà tiếp tục. Nhưng còn trách nhiệm đối với những người thân, ruột thịt như vợ, như con, cháu, anh chị em của mình? Không nghĩ, không lo làm sao được!

Vì vậy, song song với việc tìm hiểu thêm cho cặn kẽ (qua Internet) về chứng bệnh của mình cũng như về những phương pháp chữa trị đương thời đang được áp dụng tại các bệnh viện lớn hay các trung tâm nghiên cứu và chữa trị bệnh ung thư của các viện đại học trên đất Mỹ trước khi đi đến những quyết định sinh tử liên quan đến mạng sống của mình, tôi phải cố gắng bình tĩnh trấn an vợ, con, lựa lời an ủi, dặn dò về những việc cần làm, về những giấy tờ quan trọng, nơi cất giữ những hồ sơ về bảo hiểm nhân mạng, nhà cửa, sinh phần tại một nghĩa trang trong vùng, quỹ hưu bổng, những trương mục ngân hàng, những bills phải thanh toán hằng tháng.


Những việc này mình vẫn làm hằng ngày, hằng tháng nên đâu vào đó, rõ ràng, ngăn nắp, nhưng một mai nếu nhỡ … người ở lại cũng phải biết mà tiếp tục để mà lo toan cho cuộc sống nhiều tuế toái trên đất nước này. Tôi vốn ngăn nắp, giấy tờ được cất giữ đầy đủ, nên phần việc này tuy phức tạp nhưng "thủ tục bàn giao" tương đối dễ dàng tuy phải giả vờ can đảm trước những giọt nươc mắt ngắn dài và những tiếng nấc uất nghẹn trước một viễn tượng không mấy sáng sủa.


Cuộc sống bình thường của mình đôi khi nghĩ lại cũng có lắm bất ngờ. Vinh có, nhục có. Sướng có, khổ có. Thành công cũng nhiều, mà thất bại cũng lắm. Những tưởng sống sót được qua hai cuộc chiến khốc liệt mà chấn động vang trùm thế giới: chiến tranh Pháp-Việt (1945-1954), chiến tranh Quốc-Cộng (1954-1975) và hệ lụy 6 năm bị đày ải qua các trại tù lao động khổ sai dưới chế độ cộng sản, khi được tái định cư tại Hoa Kỳ vào năm 1990 theo diện HO1, tôi khờ khạo nghĩ là nghiệp chướng của mình với đất nước, với dân tộc như vậy cũng đủ gọi là đã tạm trả xong, và những năm tháng còn lại có thể sống cuộc sống bình thường của một lưu dân tái lập nghiệp trên đất Mỹ như bao nhiêu người khác trước tôi. Nhưng nếu được như vậy thì đâu còn gì đáng nói!


Nhóm HO1 chúng tôi là nhóm đầu tiên đến đất Mỹ vào đầu tháng giêng năm 1990 và tôi được kể như là một trong số rất ít may mắn khỏi phải học lại một nghề trước khi đi kiếm việc làm, và đến tháng 5 năm đó thì tìm được ngay việc dạy học bán thời gian tại 2 đại học cộng đồng trong vùng Orange County. Đây là một bước đầu rất thuận lợi giúp tôi làm quen trở lại với hệ thống giáo dục tại Hoa Kỳ để 2 năm sau đó tôi được vào chính ngạch (tenure) tại Orange Coast College. Cuộc sống kể như tạm ổn, không thể mơ ước gì nhiều hơn đối với một người đã theo đuổi nghề dạy học như tôi từ năm 1960. Nhưng chỉ 3 năm sau đó (1995) tôi phải nhập viện, mổ tim, thay van (mitral valve). Kinh nghiệm cận tử đầu tiên này tôi đã tường thuật lại trong một bài trước đây.

Những người vốn tin vào số mạng có thể coi như là tôi đã qua được một đại nạn trong đời. Hy vọng đây là đại nạn cuối cùng đối với một người đã kinh qua quá nhiều thiệt thòi, đau khổ trong cuộc đời, nhưng oái ăm là không phải thế. Nghiệp mình còn nặng. Đúng 12 năm sau (đúng một con giáp tức là chu kỳ 12 năm theo tử vi), lại một đại nạn nữa, có thể còn gay go, khốc liệt hơn, thời gian chữa trị sẽ kéo dài gần cả năm, không có gì đảm bảo là mình sẽ qua được.

Lâm bệnh lần này, tôi có thêm nhiều kinh nghiệm về khả năng định bệnh và chữa trị cần chia sẻ. Trước hết là về khả năng định bệnh của bác sỹ chuyên môn dựa trên kết quả các thử nghiệm. Chúng ta đều biết bác sỹ ở Mỹ được đào tạo tốt, quy củ, có hệ thống, nhất là các bác sỹ chuyên môn các ngành, được đào tạo lâu năm hơn và các phương tiện thử nghiệm đều rất hiện đại. Nhưng vẫn chưa gạt bỏ hết được những sơ sót vì yếu tố con người với những quan sát, nhận xét, đánh giá nặng tính chủ quan, mặc dù có phương tiện thử nghiệm tối tân nhất trong y khoa của thời đại này.

Weekend trước khi học kỳ Mùa Xuân 2007 (Spring semester) bắt đầu, tức là cuối tháng giêng năm 2007, tôi bị xuất huyết nội, nôn ra máu nhiều và ngất xỉu phải đưa vào cấp cứu ở Bệnh Viện Hoag, Newport Beach. Bác sỹ chuyên môn về bao tử và đường ruột dùng một thủ thuật đưa một ống soi vào thực quản, bao tử, và phần trên của ruột non (gọi là Esophagogastroduodenoscopy) để khám. Kết quả: Chỉ có vài vết xướt trên thành bao tử và đã cho thuốc cầm máu. Nằm viện một tuần thì được về, đi dạy lại.

Hai tháng sau (31.1.19907), vào giữa học kỳ Mùa Xuân, lạị bị xuất huyết nữa. Lần này cũng dùng thủ thuật trên, nhưng Bác sỹ khám phá ra có một khối u nhỏ trên thành bao tử, đường kính chừng 3cm, cho nên đã làm biopsy, nghĩa là cắt một mảng tế bào ở khối u gởi phòng xét nghiệm. Kết quả: Có ung thư bao tử (dạng gastric adenocarcinoma), một dạng ung thư khá phổ biến thường tìm thấy nơi khối người Đông Á hay người Mỹ gốc Á. Điều này chứng tỏ lần trước khám Bác sỹ đã không nhận ra, sau này được giải thích là có lẽ vì máu đông còn đọng lại trên thành bao tử làm che khuất khối u nhỏ. Sau đó là làm CT (Computerized Tomography) scan để biết chính xác kích thước và vị trí của khối u, cũng như những dấu hiệu cho thấy có khả năng lây lan qua các các cơ phận chung quanh hay không.


Thật ra khi nghe bác sỹ thông báo kết quả biopsy: đó là một khối u có những tế bào độc (malignant tumor), tôi cũng choáng váng, bàng hoàng. Tại sao nạn nhân lại là tôi? Suốt cả đời tôi luôn luôn lúc nào cũng cố gắng chừng mực, điều độ về mọi phương diện, kể cả trong vấn đề ăn uống, tại sao những tế bào ung thư có thể phát sinh ra được? Có hơn nửa tá bác sỹ luân phiên chăm sóc cho tôi nhưng không có vị nào có thể cho tôi một lời giải thích thỏa đáng.


Nằm một mình trên giường bệnh ở bệnh viện, sau khi tất cả bà con, bạn bè đều đã ra về, tôi lại miên man thầm nghĩ có thể là do vấn đề dinh dưỡng của người Việt Nam, những thức ăn, thức uống đã bị ô nhiễm trong năm thập kỷ sống trên đất nước Việt Nam nghèo khó và chiến tranh, với hàng triệu tấn bom, mìn, chất nổ, chất hoá học đã được sử dụng rải thảm trên ruộng đồng, rừng núi Việt Nam, hay là do những năm tháng sống trong sợ hãi, lo âu, căng thẳng tột cùng? Cũng có thể là do tổng hợp của tất cả những nguyên nhân này gộp lại? Dù vì lý do nào đi nữa, bây giờ tôi cũng đang sống với căn bệnh này. Nó là một phần của thân xác tôi. Và tôi mơ hồ linh cảm thấy rằng nếu một mai đây tôi mời được nó đi chỗ khác chơi thì chính tôi cũng không còn là tôi nguyên vẹn nữa.


Theo tài liệu lấy từ Hoag Cancer Center, trong tiếng Anh, "cancer" phát xuất từ một từ Latin có nghĩa là con cua (crab). Tại sao vậy? Hippocrates, một y sỹ người Hi Lạp, người đầu tiên được coi là đã có công phân biệt hai loại bướu lành và bướu dữ, khi nghĩ đến sự xâm lăng của những tế bào ung thư (những tế bào phát sinh bất bình thường mà hệ thống miễn nhiễm của cơ thể ta không chống lại được) biến thành bướu dữ là ông nghĩ đến những cái càng cua đeo bám, dứt không ra, nên ông gọi bệnh này là "karkinos", một từ Hy Lạp có nghĩa là "crab".

Trong những ngày tiếp theo là các buổi tham vấn liên tục với các bác sỹ chuyên môn về ung thư (medical oncologist), giải phẫu bao tử và đường ruột (gastrointestinal surgeon), chuyên khoa về bao tử và đường ruột (gastroenterologist), tim mạch (cardiologist), v.v.


Sở dĩ có sự tham dự của bác sỹ tim mạch là vì sau lần mổ tim năm 1995 tôi phải uống liên tục một loại thuốc loãng máu (Coumadin) để khỏi gây trở ngại cho van tim nhân tạo (mechanical valve) ở trong tim. Sử dụng loại thuốc này hằng ngày đã gây ra tình trạng chảy máu ở khối u và nhờ vậy mới khám phá ra sớm khối u ung thư trong bao tử. Có thể coi đây là một sự may mắn. Nhưng chính tình trạng này lại gây ra quan ngại cho bác sỹ giải phẫu, vì trong khi mổ nếu tiếp tục thuốc loãng máu thì sẽ khó cầm máu, nhưng nếu ngưng thì có khả năng gây ra máu đông (clotting) có thể làm bệnh nhân bị stroke.

Cho nên bác sỹ giải phẫu sẽ phải cân nhắc, tính toán rất chi ly sao cho ca mổ sắp tới được bảo đảm tương đối an toàn. Trước khi mổ tôi phải ký giấy thuận để cho bác sỹ giải phẫu tiến hành 2 phẫu thuật: cắt một phần bao tử (subtotal gastrectomy) và đặt đường ống nối với ruột non (jejunostomy) để đưa thúc ăn lỏng vào bụng trong suốt thời gian chữa trị sau đó. Giấy thoả thuận còn ghi là có thể phải cắt cả lá lách nữa (splenectomy). Thế là định mệnh đã an bài.


Sau một ca mổ kéo dài gần 6 tiếng bắt đầu từ trưa Thứ Bảy, 7.4.2007, tôi được đưa về phòng và đến khoảng nửa đêm thì tỉnh dậy, sờ trên người thấy có rất nhiều ống: hai ống ở bụng để rút nước và máu, một ống nối với niếu đạo, một ống ghi là J-tube nối trực tiếp với ruột non để đưa thức ăn lỏng vào ruột, một ống ghi là G-tube nối với phần còn lại của bao tử (đã bị cắt đi 9/10) phòng khi sau này ăn uống không tiêu thì có thể xả ra từ đây. Sau này tôi mới hiểu ra là nhờ hai ống này tôi mới được cứu sống trong thời gian chữa trị bằng hoá trị và xạ trị, có lúc bị những phản ứng phụ (side effects) do tình trạng mất nước (dehydration) vì bao tử còn lại nhỏ quá, không uống được đủ nước để thải bớt các độc tố ra, và phản ứng bị nôn mửa khi nhìn thấy thức ăn nên không ăn uống gì được.

Nằm dưỡng bệnh thêm hơn một tuần nữa, đến ngày 17.4.2007, thì tôi được cho về, chờ hai tháng sau khi vết thương mổ lành mới bắt đầu chương trình chữa trị. Trong thời gian chờ đợi, tôi lại vào bệnh viện (23.5.2007) để bác sỹ giải phẫu đặt một "Port-A-Cath" ở ngực. Đây cũng giống như cái cửa ngõ để tiếp máu, lấy máu, vào IV (Intravenous) trong thời gian chữa trị sắp đến vì đến lúc đó thì một phần vì sức khoẻ yếu, trọng lượng giảm (từ 175 lbs xuống còn 150 lbs), và một phần nữa vì các ven (veins) đều lặn hết, rất khó cho công việc của các y tá chăm sóc.

Chương trình chữa trị được bác sỹ ung thư giải thích trước khi bắt đầu. Đây mới là giai đoạn gay go nhất, quyết định sống chết, sau khi đã qua được giải phẫu. Chương trình có hai phần tiến hành song song: hoá trị do bác sỹ chuyên khoa về huyết học và ung thư (medical oncologist) đảm trách, và xạ trị do bác sỹ chuyên khoa về phóng xạ lo (radiation oncologist). Cả hai phần chữa trị này đều phụ thuộc vào dạng cancer của bệnh nhân, giai đoạn phát triển của bệnh (mới phát hay phát đã lâu, và đã lây lan qua các cơ quan khác hay chưa, nghĩa là tình trạng di căn-metastasis đã xảy ra chưa), loại thuốc được chọn, và trọng lượng của bịnh nhân, cho nên liều lượng của mỗi người mỗi khác, không ai giống ai.


Vì sự độc hại của thuốc trị cancer, dùng để giết các tế bào ung thư nhưng đồng thời cũng gây tổn thương nặng nề cho hệ thống miễn nhiễm của bệnh nhân, nên quyết định có tiến hành giai đoạn chữa trị này hay không là tuỳ thuộc bệnh nhân. Bác sỹ ung thư của tôi cho biết ở Âu châu vì tác hại này mà đa số bệnh nhân chỉ chịu giải phẫu thôi chứ không chịu hoá trị và xạ trị. Nhưng đồng thời Bà cũng cho biết dựa trên các nghiên cứu ở Mỹ thì tỷ lệ sống còn (survival rate) và không bị tái phát nơi các bệnh nhân chịu đi qua cả hai giai đoạn chữa trị, giải phẫu + hoá trị và xạ trị, cao hơn con số những bệnh nhân chỉ chấp nhận giải phẫu mà thôi.

Nói vậy thì biết vậy. Nhưng làm sao mình dám đánh bạc với sinh mạng của mình. Thôi thì đã theo thì theo cho trót. Đã tin vào nền y học tiến bộ của Hoa Kỳ, đã giao phó sinh mạng của mình cho bệnh viện và bác sỹ Mỹ thì cứ thử xem mình có chịu nổi không rồi hẳn tính tiếp. Theo chương trình dự trù, với dạng cancer của tôi thì phải qua 5 đợt hoá trị, mỗi đợt một tuần và được nghỉ 3 tuần để hồi phục trước khi qua đợt kế tiếp, cọng với 27 lần xạ trị kéo dài 6 tuần lễ liên tục, mỗi tuần 5 lần.


Tôi bắt đầu chữa trị giai đoạn hai này từ hôm 21.5.2007. Nếu theo đúng chương trình dự trù thì đến đầu tháng 10 là xong. Nhưng vì 3 lần cấp cứu trong thời gian đó, phải vào nằm bệnh viện trở lại do chịu không nổi những biến chứng phụ (side effects) của thuốc, lần thứ nhất một ngày một đêm (28-29.6.2007), lần thứ hai một tuần (1-6.9.2007), và lần thứ ba kéo dài đến 5 tuần (22.9-28.10.2007), cho nên đã kéo dài đến giữa tháng 11 vừa qua mới xong phần chữa trị tuy vẫn phải giữ cái ống J-tube ở bụng. Phải vào bệnh viện trở lại vì hệ thống miễn nhiễm suy sụp, bạch huyết cầu xuống tới mức 0, hồng huyết cầu cũng xuống quá mức báo động cần phải tiếp máu, tình trạng rất nguy hiểm không thể chữa trị ở nhà được.


Từ sau lần cấp cứu thứ nhất, ngày nào tôi cũng phải vào Bệnh Viện để vô nước biển, thuốc chống nôn mửa, có tuần phải tiếp máu, thuốc kích thích làm gia tăng bạch huyết cầu, hồng huyết cầu. Lần cuối cùng nằm 5 tuần ở bệnh viện, vì bị nghi là có nhiễm trùng, suy thận, và những thay đổi bất thường về kích thích tố, nên một số bác sỹ chuyên khoa khác lại được mời đến, khi thì chuyên viên về nhiễm trùng (infectious disease), khi thì bác sỹ chuyên về thận (nephrology), khi thì bác sỹ chuyên về hạch tuyến (endocrinology).


Và lại làm thêm nhiều thử nghiệm khác nữa như Transthoracic echocardiogram (một hình thức siêu âm để xem tim có đập bình thường không), TEE (Transesophageal echocardiogram, cũng là một hình thức siêu âm để xem tình trạng các tâm thất và van tim), Renal ultrasound (xem tình trạng của thận), Abdominal ultrasound (siêu âm bụng), Sigmoidoscopy ( soi phần cuối của ruột), MRI về não (Magnetic Resonance Imaging, để xem có dấu hiệu di căn trên não không), CT scan bộ não (để xem có gì bất thường không).


Cứ sáng ra thức dậy phòng Lab lại cử người lên lầu 8 (Cancer floor) đẩy nguyên giường xuống phòng Lab ở lầu 1 để làm thử nghiệm. Mỗi lần như vậy đều phải ký giấy thỏa thuận, cam đoan sẽ thanh toán tiền tổn phí nếu Insurance không trả. Đó là chưa kể những lần chụp hình phổi, thử phân, thử nước tiểu, và thử máu hằng ngày. Tiếp theo là quyết định lấy Port-A Cath ra và thay thế bằng một PICC line (Peripherally Inserted Central Catheter), cũng có tác dụng tương tự nhưng được nối từ một mạch máu ở tay. Cái bất tiện của PICC line là phải thay băng hằng tuần, để phòng ngừa tình trạng bị nhiễm trùng.

Chừng đó những thử nghiệm và chữa trị cũng đủ làm tôi thêm lo lắng và mệt nhoài. Chưa bao giờ trong đời thân xác tôi phải qua những thử nghiệm liên tục như vậy trong một thời gian ngắn ở bệnh viện. Có hôm phải vô qua đường IV nhiều thứ trụ sinh khác nhau làm tôi không còn tỉnh táo, tự chủ được nữa, người cứ như con bún, dật dờ vì không ăn uống gì được, khi mê, khi tỉnh, bạn bè vào thăm mà mắt mở không ra rồi thiếp đi. Nhà tôi thấy tình trạng như vậy lại sợ, trong lòng nghĩ dại chắc là đến lúc sắp đi.

Nhưng rồi cũng qua. Bây giờ đã xong tất cả hai phần chữa trị, tương đối đã thấy có dấu hiệu hồi phục khả quan, chỉ còn chờ đến cuối tháng 12 làm scan trở lại toàn thân mới biết được rõ hơn là đã có thể yên tâm chưa. 8 tháng chữa trị đầy những bất trắc khôn lường thế mà cuối cùng cũng vượt qua được, kể là một phép lạ. Có thể là nhờ Ơn Trên phò hộ. Nhờ sức mạnh hỗ trợ tâm linh của những lời cầu nguyện và chúc lành của bà con, bạn bè. Nhờ sự chăm sóc tận tình và hiệu quả của các bác sỹ, y tá ở bệnh viện.


Nhờ sự lo lắng, theo dõi ngày đêm của vợ, con. Có thể cũng còn nhờ những tấm gương phấn đấu của những người sống sót (cancer survivors) trước tôi đã gieo trong tôi một niềm hy vọng. Như Lance Armstrong, tay đua 7 lần vô địch Vòng Pháp Quốc, đã tâm sự trong hồi ký It's Not About the Bike - My Journey Back to Life: "Sự thật là, nếu bạn yêu cầu tôi phải chọn giữa chiến thắng Vòng Đua Pháp Quốc và bệnh ung thư, thì tôi sẽ chọn bệnh ung thư. Nghe thì có vẻ kỳ cục, nhưng tôi sẽ chọn danh xưng người vượt thoát bệnh ung thư thay vì người chiến thắng Vòng Đua Pháp Quốc, vì tất cả những gì căn bệnh này đã giúp tôi nhận ra về bản thân tôi như một con người, một người đàn ông, một người chồng, một người con, và một người cha." Nằm trên giường bệnh mà đọc những giòng này để rồi liên hệ suy ngẫm, quả thật là thấm thía!

Hay như Jim Bedard trong tập sách "Lotus in the Fire - The Healing Power of Zen" cũng cho tôi hy vọng khi anh kể lại kinh nghiệm của bản thân anh đã có thể giải phóng mình khỏi những đau đớn, hành hạ của bệnh leukemia nhờ thành tâm cầu nguyện Đức Quán Thế Âm cùng với sự hỗ trợ tâm linh của đồng đạo và tin tưởng vào uy lực của việc hành thiền.


Anh kể: "Những thử thách mà tôi đã đương đầu trong 6, 7 tháng qua cùng với tình yêu thương và sự hỗ trợ mà tôi đã được thụ hưởng cho tôi thấy rằng trông cậy vào sự giúp đỡ của người khác cũng là một biểu hiện của tính đồng nhất với mọi chúng sinh. Khi tôi kêu gọi giúp đỡ là tôi đang sống với chân lý bất khả ly. Thiền tập đã giúp tôi đến gần với tính đồng nhất cùng với tất cả chúng sinh này. Và bệnh tật giúp tôi nhận ra rằng trên đời này tôi không chỉ sống có một mình."

Tất cả những ảnh hưởng trên ít nhiều đã thành công trong mục đích động viên tinh thần, trấn an, khuyến khích, làm gia tăng hy vọng, giúp tôi vững lòng tin để chống trả lại bệnh tật hiểm nghèo. Mặc dù vẫn còn nhiều yếu tố bất định trước mắt chưa cho phép mình quá lạc quan là đã chiến thắng hoàn toàn trước sự tấn công của cancer, nhưng vào thời điểm này tôi vẫn thấy tự tin là mình đã may mắn thêm một lần thoát chết trong gang tấc. Còn chuyện tương lai thì "que sera sera!"

Tôi viết lại câu chuyện này để chia sẻ một kinh nghiệm nhưng đồng thời cũng muốn lập lại một lời cám ơn phát xuất tận đáy lòng chân thành gởi đến tất cả quý anh chị em xa gần: trường Pellerin, Huế, trường Nguyễn Công Trứ và Kỹ Thuật Đà Nẵng, Trường Sinh Ngữ Quân Đội, Sài Gòn, Trường Võ Bị Quốc Gia, Đà Lạt, Trường Chánh Trị Kinh Doanh và Đại Học Văn Khoa, Đà Lạt, Hội Việt-Mỹ Sài Gòn và Đà Lạt, Hội Từ Bi Phụng Sự, Nam California, Hội Triệu Gia Thái Cực, Orange Coast College, những anh chị em đã chí tình theo dõi tình trạng chữa trị của tôi trong thời gian qua, và đã thăm hỏi cũng như góp lời cầu nguyện và chúc lành cho tôi, giúp tôi chịu đựng qua cơn khổ nạn này. Một lần nữa, xin cúi đầu đa tạ.

Nguyễn Văn Sở

Tuesday, July 12, 2011

TRẦN GIA PHỤNG * HỒ CHÍ MINH


NGHI ÁN THẾ KỶ
Trần Gia Phụng


1.- XUẤT XỨ CỦA NGHI ÁN

Trong tuần qua, trên Internet xuất hiện một nguồn tin gây xôn xao dư luận Việt Nam. Đó là quyển sách bằng chữ Hoa mới xuất hiện ở Đài Loan về một nhân vật chính trị Việt Nam, nhan đề là Hồ Chí Minh sanh bình khảo (Khảo cứu về cuộc đời Hồ Chí Minh). Sách do nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa phát hành tại Đài Loan ngày 01-11-2008 với mã số ISBN 9789866820779. (ISBN: International Standard Book Number). Trên website http://www.haingoaiphiemdam.com/ Tham-khao ngày 25-11-2008, xuất hiện bài báo của tác giả Chân Mây, nhan đề “Tài liệu mới: Hồ Chí Minh là người Khách Gia (Hakka)!”. Sau đó, trên website http://blog.360.yahoo.com/blog-calB7c8leuiQNqd4fyQ2Ua1yzA—?cq=1, ngày 28-11-2008, xuất hiện bài “GS Hồ Tuấn Hùng: Hồ Chí Minh là người Khách Gia (Trung Quốc)” của tác giả Tạ Phong Tần.

Dựa theo lời giới thiệu của nhà sách Press Store (http://www.vital.com.tw/ps/book/book.), cả hai bài báo nầy cho biết rằng tác giả sách Hồ Chí Minh sanh bình khảo là giáo sư Hồ Tuấn Hùng, sinh năm 1949, tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, hiện là một viên chức cao cấp Giáo Dục Hành Chính. ở đảo quốc nầy. Nội dung sách có một điểm đặc biệt là giáo sư Hồ Tuấn Hùng khẳng định rằng Nguyễn Ái Quốc đã từ trần vì bệnh lao năm 1932, có giấy chứng tử, và từ năm 1933 xuất hiện một Nguyễn Ái Quốc giả. Cũng theo giáo sư Hồ Tuấn Hùng, Nguyễn Ái Quốc giả nầy tên thật là Hồ Tập Chương, vốn là người thuộc sắc tộc Hakka tức Khách Gia, mà người Việt gọi là Hẹ, thuộc huyện Miên Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan.

Nguyễn Ái Quốc giả nầy về sau chính là Hồ Chí Minh, người đã sáng lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945. Trong sách, ngoài chi tiết quan trọng trên đây, giáo sư Hồ Tuấn Hùng còn viết thêm về nhiều vấn đế chung quanh Nguyễn Ái Quốc (giả) như chuyện hôn nhân, văn phong trong tập thơ Ngục trung nhật ký, di chúc Hồ Chí Minh…Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi vẫn là ngồn gốc của nhân vật mà giáo sư Hồ Tuấn Hùng cho là Nguyễn Ái Quốc (giả) từ năm 1933, tức Hồ Chí Minh.

2.- CHUNG QUANH TÁC GIẢ

Cho đến nay, chưa có thể đánh giá tài liệu của giáo sư Hồ Tuấn Hùng vì chúng ta chưa được đọc và biết nội dung chi tiết trong sách của vị giáo sư nầy. Tuy nhiên, chúng ta có thể dựa vào một số yếu tố chung quanh tác giả Hồ Tuấn Hùng để có thể có một cái nhìn tổng quát về tác phẩm nầy. Theo nhà sách Press Store, giáo sư Hồ Tuấn Hùng là người gốc sắc tộc Khách Gia ở Đài Loan, sinh năm 1949, nghĩa là khi chiến tranh Việt Nam xảy ra, ông còn trẻ tuổi và đang đi học. Nếu học hành bình thường song suốt, theo đúng quy trình chung là đi học từ tiểu học, qua trung học, lên đại học, giáo sư Hùng tốt nghiệp đại học vào đầu thập niên 70 của thế kỷ qua. Lúc đó Hồ Chí Minh đã từ trần ở Hà Nội ngày 2-9-1969 mà chế độ Hà Nội đổi qua thành ngày 3-9-1969. Sau đó chiến tranh kết thúc năm 1975. Như thế, giáo sư Hồ Tuấn Hùng không vướng mắc vấn đề gì trong chiến tranh Việt Nam. Một người viết sử, dầu cố gắng khách quan thế nào đi nữa, cũng không thể tách ra khỏi quá nghiệp (background) của mình. Ở đây, cái quá nghiệp của giáo sư Hùng không liên hệ gì đến chiến tranh hay chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, nên động cơ viết sách của ông không phải vì tranh chấp chính trị hiện vẫn còn tiếp diễn ở Việt Nam. Động cơ chính khiến giáo sư Hồ Tuấn Hùng viết sách Hồ Chí Minh sanh bình khảo có lẽ là vì giáo sư Hùng họ Hồ, thuộc sắc tộc Khách Gia, và theo ông, từ nhỏ đã nghe truyền khẩu rằng Hồ Chí Minh ở Việt Nam thuộc cùng một sắc tộc với ông.

Theo bài báo trên website http://www.haingoaiphiemdam.com/Tham-khao thì một website của người Khách Gia do giáo sư A Quý thành lập, www.sctlog.sctnet.edu.tw, đã đề cập đến một nhân vật Khách Gia nổi tiếng duy nhất ở Việt Nam là Hồ Chí Minh. Như vậy, dư luận về việc Hồ Chí Minh là người Khách Gia mà giáo sư Hùng nghe đưọc từ sắc tộc của ông là chuyện có thật, đã được người Khách Gia đề cập đến.

Điểm thứ hai chúng ta cần chú ý đến tác giả sách Hồ Chí Minh sanh bình khảo, theo lời giới thiệu của Press Store, là giáo sư Hồ Tuấn Hùng tốt nghiệp chuyên môn về ngành sử học tại Đại học Quốc lập Đài Loan và ông đã là giáo chức trong 30 năm nay. Như vậy ông không phải là một nhà nghiên cứu sử tài tử, viết cho vui, mà là một người làm việc đúng với chuyên môn của mình.

Hơn nữa, ông đã viết nguyên một quyển sách khảo cứu, chứ không phải chỉ viết một bài báo theo ngẫu hứng, tức ông phải tốn công sức và thời gian tìm tòi tài liệu, cẩn án chuyên môn…, rồi mới viết thành sách.

3.- TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ

Tác phẩm nghiên cứu của giáo sư Hồ Tuấn Hùng đề cập đến một nhân vật lịch sử quan trọng của Việt Nam. Dầu bênh vực hay chống đối Hồ Chí Minh, mọi người Việt Nam đều không thể phủ nhận rằng Hồ Chí Minh là một nhân vật ảnh hưởng rất lớn đến lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ 20 cho đến nay. Hồ Chí Minh và cả đảng CSVN xây dựng nhiều huyền thoại bao quanh ông ta. Nay những phát hiện mới lạ của giáo sư Hồ Tuấn Hùng chắc chắn gây ngạc nhiên cho nhiều người Việt Nam .

Thứ hai, Hồ Chí Minh là người du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, là người thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 ở Hồng Kông, và thành lập đảng Lao Động Việt Nam năm 1951 tại Tuyên Quang. Hai đảng nầy là tiền thân liên tiếp của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) hiện nay ở trong nước. Những phát hiện của giáo sư Hồ Tuấn Hùng không khỏi làm cho các đảng viên CSVN, già hay trẻ, đều phải quan tâm, suy nghĩ đến vấn đề.

Thứ ba, Hồ Chí Minh là người thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945 tại Hà Nội. Chế độ nầy là tiền thân của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN). Phát hiện của giáo sư Hồ Tuấn Hùng chẳng những ảnh hưởng đến công dân Việt Nam trong nước mà ảnh hưởng cả cộng đồng người Việt Hải ngoại, nay là công dân các nước trên thế giới gốc Việt Nam.

Thứ tư, Hồ Chí Minh là nhân vật lãnh đạo chủ chốt cuộc chiến tranh ba mươi năm (1946-1975) trên đất nước Việt Nam. Chiến tranh nầy từ năm 1950 là điểm nóng trong thế chiến tranh lạnh toàn cầu, với sự tham gia của quân đội nhiều nước như Pháp, Trung Hoa, Hoa Kỳ và các nước Đồng minh… Vì vậy, vấn đề nguồn gốc Hồ Chí Minh do giáo sư Hồ Tuấn Hùng đặt ra cũng sẽ làm cho công dân các nước trên thế giới liên hệ và quan tâm đến chiến tranh Việt Nam chú ý theo dõi. Thứ năm, dưới chế độ cộng sản, hiện tượng sùng bái cá nhân rất phổ quát. Tại Việt Nam, Hồ Chí Minh được thần tượng hóa đến độ thần thánh hóa.

Từ sau khi Hồ Chí Minh qua đời ngày 2-9-1969, đảng Lao Động quyết định xây lăng cho Hồ Chí Minh ngay tại Hà Nội. Lăng được khánh thành ngày 29-8-1975, nằm ở trung tâm Hà Nội, đứng sừng sửng phía trước phủ chủ tịch (tức dinh Toàn quyền cũ), bảo trì rất tốn kém. Xác của Hồ Chí Minh được đặt trong lăng cho mọi người chiêm bái. Gần đây tượng của Hồ Chí Minh còn được đặt trong chùa.

Dầu đảng CSVN không chính thức đứng ra làm việc nầy, nhưng chắc chắn đảng CSVN đồng ý nên không ngăn cấm việc nầy. Quan trọng hơn cả, vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 thế kỷ qua, chế độ cộng sản sụp đổ ở các nước Đông Âu và ngay chính tại Liên Xô, chiếc nôi của chủ nghĩa cộng sản, nên để củng cố ý thức hệ và nhất là tăng cường lại niềm tin nơi đảng viên và quần chúng, đảng CSVN đã sáng tạo ra “tư tưởng Hồ Chí Minh”từ sau Đại hội 7 đảng CSVN tại Hà Nội từ 24 đến 27-6-1991. Sau đó, tư tưởng Hồ Chí Minh được chính thức đưa vào điều 4 chương 1 hiến pháp năm 1992 của CHXHCNVN.

Công trình nghiên cứu của giáo sư Hồ Tuấn Hùng với sự khẳng định rằng Nguyễn Ái Quốc thật đã từ trần năm 1932 và từ năm 1933 xuất hiện một Nguyễn Ái Quốc giả, về sau là Hồ Chí Minh, có thể nói là đã động chạm mạnh đến niềm cấm kỵ (taboo) đối với những người lâu nay đặt niềm tin nơi Hồ Chí Minh, nghĩa là đối với đảng CSVN.

4. HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC SAU NĂM 1930

Bỏ qua một bên những phát hiện của giáo sư Hồ Tuấn Hùng, ở đây xin nhắc lại những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ sau năm 1930 theo các tài liệu trước đây, để nếu có cơ hội, độc giả có thể so sánh với những phát hiện của giáo sư Hồ Tuấn Hùng. Sau khi thành lập đảng CSĐD ngày 6-01-1930, Nguyễn Ái Quốc, lúc nầy có tên là Lý Thụy, tiếp tục làm nhiệm vụ của một nhân viên tình báo của Cộng Sản Quốc tế (CSQT) tại Trung Hoa.

Do phát hiện đường dây tổ chức cộng sản từ Singapore, người Anh bắt được Song Man Ch’o lúc 2 giờ sáng 6-6-1931 tại thành phố Kowloon (Cửu Long), gần Hồng Kông. Song Man Ch’o hay Tống Văn Sơ, chính là Lý Thụy hay Nguyễn Ái Quốc. Được tin nầy, ĐTQTCS nhờ văn phòng luật sư Frank H. Loseby & N. Pritt tại London (thủ đô Anh Quốc), biện hộ cho Quốc. Văn phòng nầy uỷ nhiệm cho luật sư F. C. Jenkin, có văn phòng ở Hồng Kông, phụ trách bào chữa. Tòa án Hồng Kông quyết định trục xuất Quốc về Hải Phòng (Việt Nam) ngày 12-8-1931. Jenkin chống án. Tòa phá án Hồng Kông vẫn giữ y án và buộc đương sự phải rời Hồng Kông về Việt Nam đầu tháng 9-1931.

Luật sư F. C. Jenkin kiện lên Hội đồng Cơ mật Vương quốc Anh. Hội đồng cho ngưng lệnh trục xuất. Nguyễn Ái Quốc tiếp tục bị giam ở Hồng Kông cho đến tháng 1-1933, ông mới bị đuổi ra khỏi Hồng Kông và được tự ý chọn lựa điểm đến. Việc QTCS thuê luật sư để cứu Quốc ra khỏi tù, chứng tỏ có thể lúc đó ông ta giữ một vai trò khá quan trọng trong tổ chức QTCS ở Đông Nam Á. Nguyễn Ái Quốc qua Singapore đầu năm 1933, nhưng không được nhận. Ông trở về Hồng Kông và bị bắt trở lại ngày 19-1-1933.

Lúc đó có tin đồn ông bị chết trong nhà tù Hồng Kông. Tin nầy do thống đốc Hồng Kông đưa ra ngày 20-1-1933 nói rằng Nguyễn Ái Quốc chết vì ho lao. Trong khi đó, QTCS công bố Nguyễn Ái Quốc từ trần ngày 26-6-1932. Tuy nhiên, tình báo Pháp cho rằng khi bị người Anh cầm tù, Nguyễn Ái Quốc giả vờ nhận cộng tác với tình báo Anh để ra khỏi tù, nên người Anh đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết vì bịnh lao.(1)

Trong khi đó, tin cho biết Nguyễn Ái Quốc bị người Anh trục xuất lần nữa, và đến tạm trú ở Sa Diện, khu tô giới ngoại quốc tại Quảng Châu. Mùa hè năm 1933, lãnh tụ đảng CS Pháp là Paul Vaillant-Couturier ghé qua Trung Hoa, nhân đó giúp Nguyễn Ái Quốc trốn đi Thượng Hải. Từ Thượng Hải, ông đi tàu lên Vladivostok (Liên Xô), rồi qua Moscow. Tại Moscow, Nguyễn Ái Quốc “bị khiển trách”. (2)

Việc nầy có thể bắt nguồn từ những báo cáo của Hà Huy Tập (tên Nga là Siniskin) trong Đại hội đảng CSĐD lần thứ nhất tại Ma Cao (Trung Hoa) từ 27 đến 31-3-1935.(3) Đồng thời, cũng có thể vì QTCS nghi ngờ về lý do vì sao Nguyễn Ái Quốc được nhà cầm quyền Anh ở Hương Cảng thả ra.(4)

Vì vậy, dù đang sống tại Moscow, Nguyễn Ái Quốc chỉ được cử làm đại biểu dự khuyết trong phái đoàn đảng CSĐD tại Đại hội QTCS kỳ 7 ở Liên Xô từ 25-7 đến 25-8-1935. Ba đại biểu chính thức là Lê Hồng Phong (tên Nga là Litvinov), Hoàng Văn Nọn, và Nguyễn Thị Minh Khai (tên Nga là Phan Lan). Sau Đại hội, ba đại biểu chính thức (Phong, Nọn và Khai) trước sau lần lượt về nước, Nguyễn Ái Quốc bị giữ lại ở Liên Xô. Học tập tiếp tại Moscow trong ba năm, Nguyễn Ái Quốc viết thư ngày 6-6-1938, nhờ một “đồng chí ở Quốc tế Cộng sản” can thiệp, giúp đỡ ông ta “thay đổi tình cảnh đau buồn nầy”.(5)

Có thể nhờ sự can thiệp của người nầy, Nguyễn Ái Quốc được ĐTQTCS gởi qua Trung Hoa vào năm 1939 để thực hiện một nhiệm vụ mới.

KẾT LUẬN
Cho đến nay, chúng ta chưa được đọc nội dung chi tiết sách Hồ Chí Minh sanh bình khảo nên chưa thể đánh giá công trình nghiên cứu của giáo sư Hồ Tuấn Hùng. Do sự giới thiệu của Press Store, chúng ta chỉ biết tổng quát rằng vấn đề quan trọng nhất do sách nầy đặt ra là nhân vật Nguyễn Ái Quốc thật từ trần năm 1932 và từ năm 1933 trở đi là nhân vật Nguyễn Ái Quốc giả, về sau nầy chính là Hồ Chí Minh. Phát hiện nầy hoàn toàn đi ngược lại với những gì người ta viết về Hồ Chí Minh từ xưa đến nay, nhất là ngược lại với những huyền thoại mà đảng CSVN đã dày công xây dựng chung quanh ông ta.

Vấn đề Hồ Chí Minh vốn là một vấn đề nhạy cảm đối với người Việt Nam, đã tạo ra quá nhiều tranh luận, đến độ trở thành định kiến không thể nào thay đổi về cả hai phía bênh vực cũng như chống đối, nên dầu giáo sư Hồ Tuấn Hùng có viết như thế nào đi nữa, dầu đúng hay sai, chắc chắn cũng sẽ tạo thêm đề tài kéo dài cuộc tranh luận triền miên bất tận, không biết khi nào tìm ra sự thật. Trong khi đó, phía bênh vực vẫn sẽ cứ bênh vực, bên chống đối vẫn sẽ cứ chống đối. Như thế, vấn đề do tác phẩm Hồ Chí Minh sanh bình khảo đặt ra, đúng là một nghi án của thế kỷ. TRẦN GIA PHỤNG (Toronto, 30-11-2008) CHÚ THÍCH 1. Chính Đạo, Hồ Chí Minh: con người và huyền thoại, tập II 1925-1945, Houston, Nxb Văn Hóa, 1993, tt. 126-127.

Monday, July 11, 2011

TIN BIỂN ĐÔNG




TRUNG QUỐC - VŨ KHÍ -
Bài đăng : Thứ tư 13 Tháng Bẩy 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ tư 13 Tháng Bẩy 2011

Hệ thống vệ tinh quân sự của Trung Quốc gây lo ngại

Trung Quốc từng công khai phô trương vệ tinh của mình, như nhân lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tháng 10 năm 2009
Trung Quốc từng công khai phô trương vệ tinh của mình, như nhân lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tháng 10 năm 2009
David Gray/Reuters
Thanh Phương

Theo hãng tin Reuters, trích một báo cáo sắp đăng trên tạp chí chuyên về quân sự và ngoại giao của Anh Quốc, Journal of Strategic Studies, Trung Quốc đang thiết lập một hệ thống vệ tinh có thể giúp hoàn thiện một tên lửa đạn đạo có khả năng bắn chìm các hàng không mẫu hạm của Mỹ ở tầm xa. Thông tin này được đưa ra vào lúc Trung Quốc chuẩn bị cho chạy thử chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của nước này.

Trong những năm gần đây, Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều để hiện đại hóa, ngoài hàng không mẫu hạm, còn phát triển chiến đấu cơ tàng hình J20 và tên lửa Đông Phương -21D, có khả năng bắn chìm các hàng không mẫu hạm của Mỹ trong phạm vi 1.600 km.

Theo bài báo nói trên, hệ thống vệ tinh của Trung Quốc đang chuyển từ việc thu thập thông tin chiến lược sang một khả năng mới, đó là yểm trợ các chiến dịch quân sự, cụ thể là dò tìm và chấm toạ độ mục tiêu cho các tên lửa đạn đạo đối hạm.

Nói chung, theo bài báo, khả năng dọ thám của hệ thống vệ tinh quân sự Trung Quốc nay gần như đã ngang bằng với hệ thống của Mỹ về khả năng chụp tọa độ tĩnh, và có thể qua mặt Mỹ trong hai năm tới.

Từ mấy năm qua, Trung Quốc đã cố trấn an thế giới về cái gọi là « sự trỗi dậy hòa bình » và về chủ trương không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, nhưng gần đây Bắc Kinh lại tỏ ra ngày càng hung hăng trong tranh chấp chủ quyền lãnh hải với Nhật Bản, Việt Nam và Philippines.

Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario hôm nay ra tuyên bố cho rằng việc Trung Quốc từ chối để cho Tòa án Quốc tế về Luật Biển phân xử tranh chấp lãnh hải Biển Đông cho thấy những đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh là « không vững chắc ». Theo Ngoại trưởng Philippines, Trung Quốc từ chối như vậy là vì họ không thể chứng minh được những đòi hỏi chủ quyền dựa trên luật với quốc tế.

Manila muốn đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển, một cơ chế độc lập được thiết lập trong khuôn khổ Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 để giải quyết các tranh chấp lãnh hải.

Nhưng hôm qua, Trung Quốc, qua lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hồng Lỗi, đã bác bỏ đề nghị nói trên của Philippines. Theo phát ngôn viên Hồng Lỗi, Trung Quốc vẫn chủ trương là tranh chấp Biển Đông phải được giải quyết qua thương lượng giữa các nước có liên hệ, dựa trên các luật quốc tế đã được thừa nhận. \

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20110713-he-thong-ve-tinh-quan-su-cua-trung-quoc-gay-lo-ngai

Sự thật mối quan hệ Việt-Trung
2011-07-13

TQ ngày càng kiên quyết áp đặt “đường lưỡi bò” ở Biển Đông bằng mọi cách mà VN là một mục tiêu chủ chốt.

AFP photo

Người Việt hô to khẩu hiệu chống TQ trong cuộc biểu tình tại HN hôm 03/7/2011

Thái độ né tránh của chính quyền

Trong khi giới cầm quyền trong nước tỏ ra mềm yếu với Phương Bắc như dạo nào và – nói theo lời blogger Sự thật và Công Lý “VN tăng cường lực lượng chống nhân dân”, thì nhiều ngày nay, người dân Việt tiếp tục thắc mắc về chuyến “đi sứ sang Tàu” của “đặc phái viên” Thứ trưởng Ngọai giao Hồ Xuân Sơn, bất an về thực chất thỏa thuận Việt-Trung dựa trên tình nghĩa “16 chữ vàng” và "4 tốt” này.

Đó là lý do khiến 18 nhân sĩ trong nước kiến nghị Bộ Ngoại giao VN yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ về vấn đề vừa nói, nhất là khi gần 3 năm về trước, 1 bản kiến nghị của một số cựu chiến binh gởi tới giới lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN đề nghị xóa bỏ tính pháp lý của “công hàm Phạm Văn Đồng” dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho TQ nhưng bị giới lãnh đạo VN lờ đi khiến Bắc Kinh bây giờ luôn viện dẫn “công hàm Phạm Văn Đồng” như một bằng chứng Hoàng Sa và Trường Sa là của Hoa Lục.

Qua bài “Một bản Kiến nghị bị bỏ quên” được nhiều nhật ký trên mạng, kể cả các blog Hoàng Quang, Bô-xít VN, phổ biến, tác giả Lê Bảo Sơn thắc mắc:

"Không rõ ông “phái viên đặc biệt của Việt Nam” đã nói điều gì với Thứ trưởng Ngoại giao Trương Chí Quân và Ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc mà sau đó, Tân Hoa xã đã phát đi một bản tin trong đó nhấn mạnh: “Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố về chủ quyền không thể tranh cãi của mình tại các hòn đảo trên Biển Hoa Nam [tức Biển Đông] và những vùng biển xung quanh các hòn đảo này.

Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam [Biển Đông] như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới Thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai."

Từ đó, tác giả Lê Bảo Sơn không khỏi không thắc mắc về “điều kỳ lạ” liên quan thái độ né tránh của Đảng và Nhà nước VN, qua đó, Hà Nội luôn im hơi bặt tiếng, không giải thích cũng như không nhắc tới “công hàm Phạm Văn Đồng” dù Bắc Kinh luôn viện dẫn công hàm này như là một trong nhiều cái cớ để họ xâm chiếm lãnh hải VN.

Bị đàn áp vì yêu nước

Qua bài “Câm mồm để cho tao ăn cướp”, blogger Quê Choa tỏ ra “rất thú” với bài “Định hướng dư luận” của GS Nguyễn Văn Tuấn, và đưa ra nhận xét:

000_Hkg5073300-250.jpg
Hai nhạc sĩ chơi các bài hát yêu nước trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 03/7/2011. AFP photo

"Sở dĩ bác Tuấn phải cất công diễn giải…chỉ vì sau chuyến viếng thăm TQ của ông Hồ Xuân Sơn, chả biết ông Hồ Xuân Sơn hứa hẹn những gì mà Tân hoa xã dẫn lời ông Hồng Lỗi: “Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước.”

Sau đó BBC dẫn lời ông tướng Mã Hiểu Thiên:“Tình hình căng thẳng sau các diễn biến tại đây trong cuộc gặp khi nhấn mạnh rằng ông "hy vọng phía Việt Nam sẽ xử lý các vấn đề tế nhị một cách thích đáng và hướng dẫn dư luận cũng như cảm tính xã hội một cách đúng đắn”.

Tướng Mã Hiểu Thiên cũng khuyến cáo phía Việt Nam “không nên để cho các diễn biến leo thang và tránh làm phức tạp thêm tình hình, khiến các vấn đề bị trầm trọng hóa, dẫn tới đa phương hóa và quốc tế hóa chúng…”

…. Bao nhiêu năm giao thiệp khúm núm, gọi dạ bảo vâng, tóm lại, Biển Đông càng ngày càng dậy sóng, TQ càng ngày càng lộ nguyên hình một tên cướp biển, chứ chẳng đồng chí đồng chéo gì sất, điều đó thì đến đứa con nít nó còn biết, huống hồ là ông Hồ Xuân Sơn."

Giữa lúc giới lãnh đạo VN “giao thiệp khúm núm, “gọi dạ bảo vâng” trước Phương Bắc “ngày càng lộ nguyên hình một tên cướp biển”, thì lòng ái quốc của người dân Việt thể hiện qua hành động biểu tình bị công an đàn áp, “công an đủ sắc phục kín đặc như bức thành lũy thép kiên cố cố bảo vệ trại Tàu”, trong khi các quan chức VN, qua phát ngôn nhân Bộ Ngọai giao Nguyễn Phương Nga, cáo giác rằng lòng ái quốc ấy bị kẻ xấu lợi dụng. Bức xúc trước cáo giác oan ức như vậy, blogger Mẹ Nấm có “Thư gởi chị Nga”:

"Lòng yêu nước, như chị nói đã bị lợi dụng (“kẻ” lợi dụng ở đây là Việt Tân). Vậy trong những “cuộc cách mạng” trước đây mà sứ mệnh là của dân bắt đầu từ lòng yêu nước có bị lợi dụng không ạ? Em đi học, chỉ được nghe nói, được dạy và hiểu rằng “kêu gọi tinh thần yêu nước”, “khích lệ tinh thần yêu nước” thôi chị ạ. Những người tỏ thái độ và hành động vừa rồi để chống lại phía Trung Quốc có hành vi như đã nói, họ bao gồm nhân sĩ trí thức, học sinh sinh viên…và các tầng lớp nhân dân là tỏ lòng yêu nước.

Hy vọng phía Việt Nam sẽ xử lý các vấn đề tế nhị một cách thích đáng và hướng dẫn dư luận cũng như cảm tính xã hội một cách đúng đắn.

Tướng Mã Hiểu Thiên

Họ có bị lợi dụng hay kích động không thưa chị? Nếu cấu trúc câu trên hợp lý, vì chị đã nói ra thì tức là chị đã trả lời câu hỏi này của em. Trời đất? Chị ở đâu ra mà dám coi thường nhân dân thế? Nhân dân họ dễ bị lợi dụng và kích động lắm sao? Ngay cả khi ở vào chỗ cùng cực nhất, lịch sử đã từng ghi như chị biết, dân tộc bị lợi dụng và kích động hay chưa? Với chị, lòng yêu nước có thể bị lợi dụng (chưa cần biết ai lợi dụng), nhân dân ta dễ bị kích động? Nếu vai trò “nhai lại của chị” phát huy hết khả năng rồi, câu hỏi này em nhờ chị chuyển giùm tới chỗ mà theo chị có “thẩm quyền và chức năng” trả lời. Em biết ơn chị về điều này."

Diễn biến dồn dập hiện nay khiến blogger Quê choa, theo lời ông, “đã rõ ra phần nào” rằng TQ có vẻ như “thả cho VN một cái phao” và cho rằng “đám biểu tình là do bọn phản động nó xúi giục”, và VN “vội vàng ôm ghì lấy cái phao” ấy. Bài “Ông Nguyên và ông Nghị” trên blog Quê Choa nhận xét rằng nếu quả đúng như vậy thì cái phao đó “cực kỳ nguy hiểm”:

"Đó là kế ” thả mồi bắt bóng” TQ vẫn hay dùng, một mặt lấy cớ đó dẹp tan biểu tỉnh, mặt khác làm cho ta vui vẻ ôm lấy cái bóng tưởng bở để họ lại lùa ta vào cái vòng kim cô “Đồng chí bốn tốt”, “16 chữ vàng” hòng dễ bề thao túng. Có phải vì e ngại chuyến công du của ông Hồ Xuân Sơn là để ôm cái phao này về nên 18 nhân sĩ Việt Nam mới vội vàng Kiến nghị Bộ ngoại giao minh bạch hóa bí mật của chuyến đi này chăng?"

16 chữ vàng và song phương?

Giữa lúc “sơn hà nguy biến” ngày càng lộ rõ trên quê hương và cho dân tộc Việt thì một trong những nỗ lực của Bắc Kinh – nói theo lời blogger Tô Hải – là nhồi nhét “sự thật giả” cho 60 triệu đảng viên và hơn 1 tỷ dân Tàu về điều gọi là “sự thật uất ức căm hờn” khi Bắc Kinh cho rằng lãnh hải và quyền lợi của họ bị các nước ngoài, nhất là VN và Philippines, liên tục xâm hại. Nhưng, vẫn theo blogger Tổ Hải, “Khốn thay! Ở VN, cái sự thật đắng cay lại… ngược lại !”. Sự thật đắng cay đó là gì? Theo nhận xét của Nhạc sĩ Tô Hải:

000_Hkg5036527-250.jpg
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao VN Nguyễn Phương Nga trả lời những câu hỏi trong cuộc họp báo tại Hà Nội vào ngày 23 tháng 6 năm 2011. AFP photo
"Mất cướp trên đất cả một tỉnh Thái Bình rồi, người Tàu đang hành động công khai và cụ thể “đòi lại” cái vùng “lưỡi bò của họ” rồi, dân Tàu nhập cư lập làng trương bảng hiệu, thầu hết các công trình trọng điểm của ta, đang đổ tiền thu mua thượng vàng hạ cám của ta rồi!... Đó là sự thật.

Nhưng Sự Thật này, đến giờ vẫn chưa là Sự Thật cần nói lên, kêu to lên, cần động viên toàn dân trong cũng như ngoài nước cùng góp sức chung tay với Nhà Nước với những cơ quan Luật pháp Quốc Tế, Tòa Án Quốc tế giúp đỡ thì Sự Thật đắng cay và tủi nhục này lại được các cơ quan, những người lãnh đạo cao nhất ủy nhiệm cho đặc phái viên chính phủ sang tận Bắc Kinh xin được giữ vững 4 tốt,16 chữ vàng và “cấm không cho một nước thứ ba dính líu vào!”...

Và ngay trong cuộc họp T.Ư lần đầu, Tổng Bí thư mới kiêm bí thư Quân Ủy T.Ư, trong diễn văn khai mạc cũng không một lần dám động đến hai chữ Biển Đông (mà đối tác 4 tốt luôn gọi là Biển Hoa Nam đã được chính VN công nhận?), còn về an ninh quốc phòng thì ông Trọng chỉ nói đến bảo vệ vững chắc lãnh thổ! Không một chữ lãnh hải, biển đảo!?"

Qua bài tựa đề “Không thể đi ngược ý chí nhân dân” của nhà văn Phạm Đình Trọng viết vào “những ngày buồn của lịch sử VN” hồi tháng 6 vừa rồi và được rất nhiều mạng nhật ký phổ biến, tác giả lưu ý rằng “Mỗi lần nghe lãnh đạo đảng Cộng sản và lãnh đạo nhà nước Việt Nam thành kính nhắc lại lời lãnh đạo Đại Hán tán tỉnh, tâng bốc mối quan hệ với Việt Nam là Láng Giềng Hữu Hảo, Đồng Chí Tốt, người dân Việt Nam lại ngậm ngùi, tê tái như bị phản bội và càng âu lo cho vận nước”. Vẫn theo nhà văn Phạm Đình Trọng thì thực tế từng diễn ra trong quá khứ và rồi hiện tại là 1 bằng chứng hiển nhiên, không thể phủ nhận, rằng “Đảng CSVN đang đi ngược ý chí của nhân dân VN!”.

Triển khai những tiểu tựa như “Chủ nghĩa xã hội: Lòng dân không thuận, hào kiệt tan tác”, “Một chủ trương mất gốc: Đối lập với dân, liên minh với ác”, “Ý chí nhân dân VN”, nhà văn Phạm Đình Trọng mở đầu bài “Không thể đi ngược ý chí nhân dân” với tiểu tựa mở đầu “Nhà nước không mang ý chí nhân dân”, và nhận xét:

... những người lãnh đạo cao nhất ủy nhiệm cho đặc phái viên chính phủ sang tận Bắc Kinh xin được giữ vững 4 tốt,16 chữ vàng và “cấm không cho một nước thứ ba dính líu vào!”...

Nhạc sĩ Tô Hải

"Người dân Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh phẫn nộ biểu tình trước trước cơ quan đại diện nhà nước Trung Hoa không phải chỉ vì hành động gây hấn mang rõ bản chất xâm lược, thôn tính của những chiến hạm Trung Hoa giả dạng tàu dân sự, tàu đánh cá, tàu giám sát biển mà còn vì ứng xử nhu nhược đến tủi nhục làm mất thể diện quốc gia, làm nhụt ý chí dân tộc của các cơ quan chức năng nhà nước Việt Nam!…

Nếu cơ quan chức năng nhà nước Việt Nam có ứng xử thỏa đáng, bảo vệ dân, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, có tư thế hiên ngang của một nhà nước độc lập, tự chủ, khôn khéo và cương quyết đòi Trung Hoa chấm dứt xâm phạm vùng biển Việt Nam, thực hiện những lời tốt đẹp họ đã nói về mối quan hệ hai nước thì người dân Việt Nam hoàn toàn yên tâm, tin cậy giao vận mệnh dân tộc và vận mệnh đất nước cho những người xứng đáng ở vị trí quản lí đất nước, lãnh đạo nhà nước.

Người dân chỉ còn bình tĩnh trong tư thế sẵn sàng đáp ứng mọi sự huy động sức dân, đáp ứng cả xương máu cho sự nghiệp giữ nước! Nhưng thực tế đã không như vậy! Vì nhà nước không phải do dân bầu ra nên không mang ý chí nhân dân!"

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReadingBlogs/really-bhind-vn-sino-relationship-tq-07132011131712.html


Hy vọng gì ở Biển Đông?
2011-07-13

Tình hình Biển Đông trở nên phức tạp khi Trung Quốc ngày càng có hành động tùy tiện và gây hấn đáng ngại trong khu vực, nhất là đối với VN.

AFP photo

Các tướng lĩnh quân sự hàng đầu của Mỹ và Trung Quốc trong một cuộc họp ở Bắc Kinh vào ngày 11 tháng 7 năm 2011 giữa lúc căng thẳng gia tăng ở biển Đông

Hiện, xem chừng như có dấu hiệu Hoa Kỳ cùng các nước trong khu vực, kể cả Úc, xúc tiến hợp tác trước mối đe dọa của Bắc Kinh.
Những diễn tiến đó có ý nghĩa ra sao? Và có thể có lợi cho VN như thế nào? Thanh Quang và Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng thuộc Đại học George Mason, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ có cuộc trao đổi quanh vấn đề này.

Thanh Quang: Thưa GS, Hoa Kỳ, Úc và Nhật Bản vừa phối hợp tập trận ở Biển Đông sau khi Philippines đã kết thúc 11 ngày thao dợt hải quân với Mỹ ở vùng biển gần Biển Đông, và VN cùng Hoa Kỳ cũng có kế họach tập trận ở Biển Đông nội trong tháng này. Những diễn tiến khá dồn dập như vậy, theo GS, có ý nghĩa ra sao liên quan đến hành động gây hấn ngày càng đáng ngại của TQ ?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Về những lời tuyên bố chính thức, vì Trung Quốc đã chỉ trích những hành động như vậy là không tốt, thì Hoa Kỳ nói rõ là những hoạt động này đã được chuẩn bị từ lâu rồi, và diễn ra vào thời điểm này là chuyện trùng hợp thôi.

Nhưng trên thực tế chúng ta thấy đây là sự biểu dương lực lượng Hoa Kỳ để chứng tỏ lời tuyên bố từ lâu của Hoa Kỳ là không chấp nhận Biển Đông là vùng đặc quyền của ai cả, mà phải mở vùng này cho tự do lưu thông, và Hoa Kỳ vẫn là cường quốc ở vùng Á Châu-Thái Bình Dương.

Chính Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, Đô Đốc Mike Mullen đã nói rõ trong chuyến viếng thăm TQ mới đây rằng Hoa Kỳ là cường quốc hiện diện ở trong vùng, và Hoa Kỳ chỉ thực thi quyền này thôi. Đây là một sự biểu dương lực lượng để chứng tỏ Hoa Kỳ quyết tâm thi hành, bảo vệ quyền lợi của mình, bảo vệ lập trường của mình.

000_Hkg5102253-250.jpg
Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bính Đức (thứ hai từ phải) trong cuộc họp với Đô đốc Mỹ Mike Mullen tại Bắc Kinh ngày 11 tháng Bảy năm 2011. AFP photo

Thanh Quang: GS vừa nhắc tới Đô Đốc Mike Mullen, Tổng Tham Mưu Trường Liên Quân Hoa Kỳ, thì đúng là ông có khẳng định với Bắc Kinh rằng Hoa Kỳ quyết tâm duy trì sự hiện diện quân sự trong khu vực. Theo GS thì cụ thể Đô Đốc Mike Mullen muốn nhắn gởi điều gì với Bắc Kinh ?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Hoa kỳ thứ nhất đã khẳng định mình là cường quốc ở Á Châu-TBD, thứ hai là Hoa Kỳ quan tâm đến tự do lưu thông ở Biển Đông, và thứ ba là Hoa Kỳ sẽ duy trì sự hiện diện quân sự ở vùng này. Thì qua những cuộc tập trận hỗn hợp đó, Hoa Kỳ muốn chứng tỏ sức mạnh của mình ở vùng này.

Thanh Quang: Thưa GS, những diễn tiến tập trận vừa nói có phải là dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ sẵn sàng can thiệp quân sự một khi xung đột võ trang xảy ra ở Biển Đông, dù đó là cuộc hải chiến giữa VN và TQ ?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Hoa kỳ không nói rõ như vậy. Hoa Kỳ để cho TQ tự đóan lấy. Đó là một ẩn ý về chiến lược.

Thanh Quang: Thưa GS, tình hình xem chừng như Hoa Kỳ và những nước trong khu vực, kể cả VN, xúc tiến hợp tác nhằm đối trọng hành động gây hấn và tùy tiện ngày càng trắng trợn của Bắc Kinh có thể giúp ích cho VN ra sao trước hiểm họa của Phương Bắc ?

GS Nguyễn Mạnh Hùng: Giúp ích một phần nào, bởi vì khi những nước nhỏ ở bên cạnh nước lớn thì họ muôn luôn phải tìm cách một mặt hòa hõan với nước lớn này, mặt khác thì tìm những đồng minh ủng hộ cho mình. VN cũng trong trường hợp như vậy. Vậy thì sự hiện diện hải quân Hoa Kỳ, và nhất là VN ngày càng muốn có sự hiện diện hải quân của nhiều nước khác là một hình thức giúp VN giảm bớt những áp lực từ phía TQ.

Thanh Quang: Cảm ơn GS Nguyễn Mạnh Hùng rất nhiều.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/any-hope-f-scs-disputes-tq-07132011181217.html





Tranh chấp Biển Đông:
Phỏng vấn Thạc sĩ Hoàng Việt về
'Công hàm Phạm Văn Đồng'

Trong vài ngày qua, dư luận Việt Nam lại xôn xao bàn tán về bức công hàm ngoại giao mà Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gởi vị tương nhiệm Chu Ân Lai của Trung Quốc năm 1958, sau khi bản tin hôm 28 tháng 6 của Tân Hoa Xã nhắc đến văn thư này như một bằng chứng cho thấy Việt Nam thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Ban Việt ngữ VOA đã tiếp xúc với Thạc sĩ Hoàng Việt, một thành viên của Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông, để tìm hiểu thêm về vấn đề được một số người Việt Nam cho là "làm sôi sục cả tim gan" này.

VOA: Xin cảm ơn giáo sư đã có nhã ý cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này. Trước hết, xin ông trình bày sơ qua về nội dung của lá thư thường được gọi là "công hàm Phạm Văn Đồng" và cho biết văn kiện ngoại giao này được đưa ra trong bối cảnh như thế nào?

Hoàng Việt: Thưa anh, trước hết là về bối cảnh đưa ra công hàm mà năm 1958 ông Phạm Văn Đồng đã ký. Thứ nhất là lúc đó quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vẫn còn như là anh em, vừa là đồng chí vừa là anh em. Năm 1949, Quân Giải phóng Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ của Trung Quốc, sau đó trao trả lại cho Trung Quốc. Thế rồi sang năm 1957 Trung Quốc chiếm lại từ tay một số lực lượng khác đảo Bạch Long Vĩ và sau đó đã trao trả lại cho Việt Nam.


Muốn nói tới câu chuyện đó để làm gì? Đấy là lúc đó hai nước tình cảm rất là chặt chẽ với nhau. Và năm 1958 nó có bối cảnh là gì? Sau sự thất bại của hội nghị La Haye về luật biển năm 1930 để pháp điển hóa luật biển, đến năm 1958 – từ khoảng tháng 2 đến tháng tư, đã có hội nghị đầu tiên về Công ước Luật biển. Và sau đợt họp này đã ra được 4 công ước khác nhau, trong đó có Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải. Tuy nhiên, hội nghị này thất bại vì đưa ra được giới hạn là lãnh hải tối đa 12 hải lý nhưng không thống nhất được là 12 hải lý. Và mỗi quốc gia lại đưa ra một yêu sách khác nhau: Mỹ yêu cầu lãnh hải là 3 hải lý, có một số nước là cho 4,5 hải lý, còn Trung Quốc đưa ra quan điểm là 12 hải lý, và một số nước Nam Mỹ còn đưa ra quan điểm là 200 hải lý.


Trong bối cảnh đó Trung Quốc đưa ra tuyên bố của ông Chu Ân Lai về lãnh hải và tuyên bố lãnh hải là 12 hải lý, và vận động quốc tế, trong đó có Việt Nam, là nước có mối tình thân thiết với Trung Quốc, để yêu cầu ủng hộ cho tuyên bố 12 hải lý đó. Còn nội dung công hàm thì có một số điều cơ bản như thế này. Thứ nhất, ông nói rằng dựa vào tuyên bố của ông Chu Ân Lai cho rằng lãnh hải Trung Quốc kéo dài 12 hải lý ông Đồng nói rằng chúng tôi tán thành và chấp nhận “hải phận” 12 hải lý. Đấy là bối cảnh và nội dung của công hàm Phạm Văn Đồng. Tuy nhiên sau này người ta diễn giải, đặc biệt là Trung Quốc. Chắc có lẽ ông Đồng cũng không ngờ là sau này công hàm của ông lại được Trung Quốc diễn giải một cách khác nhau rất nhiều như vậy.


VOA: Thưa giáo sư, theo chỗ chúng tôi được biết thì phải mất mấy mươi năm sau Trung Quốc mới lấy lá thư năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng làm một luận cứ để hỗ trợ cho đòi hỏi của họ về chủ quyền biển đảo ở Biển Đông. Ông nghĩ sao về việc Trung Quốc giờ đây lại đề cập tới "công hàm Phạm Văn Ðồng" vào thời điểm như thế này?


Hoàng Việt: Chính sách của Trung Quốc là tuyên truyền bằng mọi cách để làm sao bảo vệ được luận cứ của họ ở Biển Đông. Có lẽ là bắt đầu từ cuộc căng thẳng mà hai bên tranh chấp với nhau ở quần đảo Trường Sa năm 1988. Tôi cũng chưa có thời gian để coi lại xem trong các tuyên bố chính thức của Trung Quốc họ đưa ra cái luận điểm, cái công hàm này, từ khi nào. Nhưng trong tất cả các sách sử của Trung Quốc, ngay từ các cuốn sách như cuốn “Ngã quốc Nam hải chư đảo sử liệu hối biên”, vân vân.. một loạt các sách khác của Trung Quốc, khi nào nói về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa họ cũng đưa cái công hàm này vào trong đó. Và tôi có kiểm tra lại thì ngay cả trong năm 2000 trên website của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng đưa lên những thông tin như vậy. Có lẽ là trong bối cảnh vừa rồi, trong vụ cắt cáp tàu Bình Minh và tàu Viking, cũng như sự xung đột va chạm căng thẳng lên, Trung Quốc đưa ra những lập luận để bảo vệ yêu sách biển của họ, trong đó có yêu sách đường lưỡi bò.


VOA: Thưa giáo sư, giới nghiên cứu Biển Đông ở Việt Nam nhận định như thế nào về giá trị của "công hàm Phạm Văn Ðồng" trong vụ tranh chấp pháp lý với Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông? Và giới học thuật quốc tế, không kể tới Trung Quốc và Đài Loan, nghĩ sao về văn kiện này?


Thạc sĩ Hoàng Việt
Thạc sĩ Hoàng Việt

Hoàng Việt: Đương nhiên, các học giả quốc tế cũng có hai trường phái. Một trường phái, ví dụ như ông Daniel J. Dzurek cố vấn pháp lý của công ty Crestone Oil, là công ty được Trung Quốc cấp phép để thăm dò khai thác dầu trên bãi Tư Chính năm 1992. Ông ấy cho rằng như vậy có nghĩa là đã được công nhận rồi. Còn một số các học giả khác, như Monique Chemillier- Gendreau thì cho rằng nó chưa thành một cái công nhận.

Còn quan điểm của bên Việt Nam, như tôi là một học giả bình thường, tôi cho như thế này:

Thứ nhất, ông Đồng hay bất cứ ông nào ở miền Bắc lúc đó cũng chẳng có quyền gì mà có thể nói chuyện công nhận hay cho ai cái gì được cả. Bởi vì theo hiệp định Geneve 1954 thì [Việt Nam] đã chia đôi, từ vùng vĩ tuyến 17 trở về bên ngoài là chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý lãnh thổ đó, từ vĩ tuyến 17 vào trong là chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý. Và như vậy là rõ ràng là các ông ở miền Bắc, dù có là ông nào đi chăng nữa, tôi nghĩ rằng cũng chẳng có quyền gì mà lại tuyên bố được với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang thuộc một chính quyền khác quản lý. Thế Việt Nam Cộng hòa có phải là một quốc gia không? Là một quốc gia chứ! Là một quốc gia bình thường và thậm chí năm 1957 Liên hiệp quốc còn định đưa trở thành một thành viên chính thức của Liên hiệp quốc, nhưng mà sau đó có một phiếu phủ quyết của Liên Sô. Nếu không thì [đã được gia nhập Liên hiệp quốc rồi]. Thật ra Việt Nam Cộng hòa vẫn là một quốc gia bình thường. Và rõ ràng là anh không thể tuyên bố hay cho nhận cái gì của cái không phải là của mình, không do mình quản lý. Đó là điều thứ nhất.

Điều thứ hai là công hàm này cũng chỉ nói chung chung là công nhận hải phận 12 hải lý. Cho nên sự diễn giải đấy có lẽ nếu đưa ra tòa án quốc tế thì người ta phải xem trong bối cảnh nào, có đúng là ý chí tự nguyện không, và xem xét như thế thì sẽ thấy rằng có nhiều vấn đề mà như tôi đã trình bày với anh – trong bối cảnh như thế và với những tuyên bố như thế và với hiệp định Geneve chia như thế, thì có khả năng là tuyên bố này chẳng có giá trị pháp lý gì nhiều cả.

VOA: Thưa ông, trong vài ngày qua chúng tôi đọc được trên internet lời kêu gọi của một số người Trung Quốc đòi thực hiện những cuộc biểu tình ở các thành phố lớn ở Trung Quốc, như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu... vào ngày chủ nhật tới đây để phản đối điều mà họ cho là Việt Nam xâm phạm chủ quyền biển đảo của họ ở Biển Đông. Những người này cũng nói tới chuyện gọi là "lấy lại" đảo Bạch Long Vĩ, nơi mà năm ngoái Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã đến thăm và đưa ra một tuyên bố cứng rắn để bày tỏ quyết tâm bảo vệ lãnh thổ. Ông nghĩ sao về diễn tiến này?

Hoàng Việt: Trước nhất, tôi không hiểu vì sao những người đó họ nói như vậy. Bời vì như vậy thì có hai khả năng xảy ra: thứ nhất là họ không hiểu gì vấn đề liên quan tới luật pháp quốc tế cả, và thứ hai là họ có thể bẻ cong nó đi. Bởi vì đảo Bạch Long Vĩ cho đến bây giờ chưa bao giờ có tranh cãi pháp lý chính thức về chủ quyền đảo Bạch Long Vĩ cả. Bạch Long Vĩ là hoàn toàn của Việt Nam. Năm 1957 lúc đó Trung Quốc chiếm nhưng rồi trao lại cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Và mới đây nhất là năm 2000 Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ. Hiệp định này trong luật pháp quốc tế được coi là hình thức pháp lý cao nhất, ràng buộc cả hai bên. Và trong hiệp định này qui định rõ có 21 điểm nối ở đường phân định biên giới trên Vịnh Bắc Bộ. Hiệp định đó còn kèm theo hai hải đồ. Hải đồ thứ nhất nói tới đường kéo dài phân chia vịnh bắt đầu từ cửa sông Bắc Luân. Và bản đồ thứ hai vẽ đường phân chia Vịnh Bắc Bộ gồm có 21 điểm, trong đó điểm thứ nhất kéo dài từ cửa sông Bắc Luân và kết thúc ở cửa Vịnh, xuống ngang tới đảo Cồn Cỏ. Và trong đường vẽ đó, đảo Bạch Long Vĩ hoàn toàn nằm ở phía Việt Nam. Và với một cái hiệp định đã được đại diện của hai quốc gia, hai nhà nước cùng ký kết thì tính chất pháp lý của nó là tuyệt đối rồi. Tức là không có gì để tranh cãi nữa.

Chưa bao giờ có tranh cãi pháp lý nào về chủ quyền trên đảo Bạch Long Vĩ cả, và Bạch Long Vĩ hoàn toàn là của Việt Nam rồi. Cho nên người mà họ nói ở đây tôi không hiểu là họ nói với duyên cớ gì, nhưng khẳng định với anh một điều là không có chuyện tranh chấp trên đảo Bạch Long Vĩ.


VOA: Chúng tôi xin thay mặt ban Việt ngữ, các thính giả và độc giả cám ơn giáo sư đã có nhã ý dành thời giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.

http://www.voanews.com/vietnamese/news/focus/south-china-sea-dispute-07-08-11-125223929.html





Liên minh quân sự nên chăng?

Trước tình trạng Việt Nam bị Trung Quốc ức hiếp trong vấn đề chủ quyền lãnh hải trên biển Đông, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam có thể liên minh với các nước phương Tây để bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải. Sách lược đó liệu có hiệu quả hay không?

AFP photo

Hải quân Việt Nam tập huấn tác xạ đại liên 12 ly 7 trên đảo Phan Vinh, Trường Sa, 13 tháng 6, 2011- AFP photo .


Trong một kỳ phỏng vấn với đài Á Châu Tự Do, TS Vũ Cao Phan đương kim chủ tịch Hội hữu nghị Việt Trung đã kể lại cùng quý vị câu chuyện ông trả lời phỏng vấn của đài truyền hình Phượng Hoàng. Kỳ này ông sẽ cho chúng ta biết nhận định về vấn đề liên minh với các nứơc phương Tây để bảo vệ lãnh thổ khỏi áp lực ngày một mạnh hơn của Trung Quốc có những mặt được mất như thế nào. Bài phỏng vấn cũng do Mặc Lâm thực hiện.

Lòng yêu nước của đồng bào xa xứ

Mặc Lâm: Thưa ông có rất nhiều ý kiến của người Việt cả trong lẫn ngoài nước đều mong rằng Việt Nam nên liên minh với một hay nhiều nước Tây phương kể cả Hoa Kỳ để làm đối trọng chống lại sức ép của Trung Quốc. Theo ông đây có phải là một giải pháp tốt nhất cho Việt nam hay không?

Tiến Sĩ Vũ Cao Phan- RFA file
Tiến Sĩ Vũ Cao Phan- RFA file


TS Vũ Cao Phan: Về điều này thì tôi xin mở rộng ra một chút, có vẻ như ý kiến của những đồng bào ở nước ngoài nghiêng về khả năng này. Tôi chia sẻ như thế này, những người yêu nước nhất là những người hiện nay ở xa quê hương. Chính đồng bào ở nước ngoài là những người yêu nước nhất. Tôi đã từng ở nước ngoài năm bảy năm cho nên tôi hiểu lắm. Hồi nhỏ đi học tôi rất nhớ là trong sách vở có một bài văn của một nhà văn Nga nổi tiếng Ilia Erenburg, mà bây giờ thì không thấy học sinh học nữa, có nói về lòng yêu nước. Ông giải thích lòng yêu nước là gì: Lòng yêu nước là lòng yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông.

Họ không thấy được điều khó khăn ở trong nước bên một quốc gia lớn nhất thế giới
TS Vũ Cao Phan

Và bây giờ chúng ta cũng thấy trong một bài thơ, bài ca nối tiếng "quê hương là con diều biếc, là chùm khế ngọt", thế thì những người Việt Nam xa quê, đặc biệt là những người có tuổi, luôn luôn da diết nhớ về những kỷ niệm đó, cho nên lỏng yêu nước của họ bùng cháy hơn người trong nước. Chính vì thế cho nên những ý tưởng của họ, ý nghĩ của họ đôi khi nó cực đoan hơn. Họ cho rằng Việt Nam phải liên kêt quân sự với ai đó, hay là như anh nói "lập hàng rào quân sự để chống lại nước khổng lồ Phương Bắc". Họ đề ra những giải pháp ấy là có phần cực đoan. Họ không thấy được điều khó khăn ở trong nước bên một quốc gia lớn nhất thế giới, một quốc gia có rất nhiều áp lực.


Tôi có thể chia sẻ với đồng bào ở nước ngoài cái sự chậm trễ, cái quan điểm để thế hệ sau giải quyết, những chậm trễ như thế là không được. Nhưng giải quyết một cách vội vàng và với những biện pháp như vừa rồi, chúng ta cứ tưởng có thể có một liên minh vững bền nhưng người ta không thấy rằng làm như thế sẽ khiến Việt Nam ở một thế bất lợi hơn, khó khăn nhiều hơn. Cho nên tôi nghĩ là không nên có một liên minh quân sự với một nước khác.

Hòn Ông, nơi hải quân Việt Nam tập trận bắn đạn thật- RFA file
Hòn Ông, nơi hải quân Việt Nam tập trận bắn đạn thật- RFA file
Liên minh? Chẳng lợi gì

Cái việc tuyên bố của chính phủ Việt Nam, từ khi tuyên bố như thế, là tôi đồng ý. Từ lâu rồi Việt Nam muốn làm bạn bè với toàn thế giới, cái đó là rõ ràng và tôi hoàn toàn ủng hộ. Làm bạn bè, thậm chí chúng ta có những bạn bè tốt để chúng ta có thể cân bằng được. Chúng ta không phải làm đối trọng nhưng chúng ta cân bằng lại được những sức ép mà chúng ta chịu đựng, cái đó là cần.

Một quốc gia như Mỹ chẳng hạn, dù nói gì thì nói, Mỹ hiện nay là một quốc gia mạnh, là một quốc gia đang lãnh đạo thế giới, Mỹ có trách nhiệm với thế giới. Trong rất nhiều hành động của Mỹ mà tôi thấy được là Mỹ có trách nhiệm. Việc chúng ta có quan hệ với Mỹ rất tốt, thậm chí là một quan hệ chiến lược, tôi hoàn toàn ủng hộ. Nhưng một liên minh quân sự thì Việt Nam không đặt ra, và người Mỹ họ cũng không nghĩ đến, đó là điều chắc chắn. Có thể nói rằng cả về kinh nghiệm lịch sử lẫn tư duy logic đều cho thấy là Việt Nam phải tự lực cánh sinh là chính.

Không bao giờ lợi ích Mỹ - Trung nó thấp hơn lợi ích Mỹ - Việt cả. ... Lợi ích của Pháp-Trung với lợi ích của Pháp-Việt, thì họ bao giờ cũng trọng cái lợi ích lớn hơn.
TS Vũ Cao Phan

Kinh nghiệm lịch sử ta có thể nói như thế nào? Năm 1978 Việt Nam và Liên Xô ký một hiệp ước phòng thủ lẫn nhau, nhưng khi chiến tranh biên giới 1979 xảy ra thì Liên Xô có làm gì không, chúng ta đều biết là họ không làm gì, mà lúc đó Việt Nam và Liên Xô cùng ý thức hệ nhé, được gọi là những nước anh em nữa.


Huống hồ ví dụ Việt Nam liên kết với các nước Phương Tây, với Pháp, với Mỹ, hay với Nhật chẳng hạn, tư duy logic cho ta thấy là làm như thế không được. Bởi vì sao? Không bao giờ lợi ích Mỹ - Trung nó thấp hơn lợi ích Mỹ - Việt cả. Người Mỹ không quan niệm như thế. Lợi ích của Pháp - Trung với lợi ích của Pháp - Việt nó khác nhau, họ bao giờ cũng trọng cái lợi ích Pháp - Trung lớn hơn. Rõ ràng như thế rồi.


Vấn đề thông tin và tập quán dân chủ.

Mặc Lâm : Theo ông thì Việt Nam có thể nhân rộng ra những hoạt động truyền thông như ông vừa thực hiện để cho nhân dân Trung Quốc biết rõ hoàn cảnh của Việt Nam hay không? Và với tình trạng mà người nước ngoài cho là chính phủ Việt Nam đang co cụm hiện nay nó sẽ làm cho cách nhìn của thế giới đối với vấn đề Biển Đông sẽ sai lệch đi hay không?

TS Vũ Cao Phan : Câu hỏi của anh rất hay. Câu hỏi của anh chia sẻ suy nghĩ của tôi. Nhân đây tôi có thể kể một chuyện? Gần đây tôi mới có dịp xem được băng hình cuộc phỏng vấn của Đài Phượng Hoàng, bởi vì như tôi đã nói trước đây là ở không gian quá xa tôi nghe không rõ nhưng mà xem lại băng hình thì tôi có thấy một nữ học giả của Trung Quốc. Bà này tôi quen, đã từng gặp nhau, và học giả này ở ngay Quảng Tây. Bà ấy phát biểu rất là oai, rất là to tiếng.

Cái thứ nhất là bà ấy phản bác ý kiến của tôi về chuyện ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc thế nọ thế kia thì bà ấy nói là Việt Nam đối với ngư dân Trung Quốc còn tệ hơn thế, thậm chí bỏ đói chết. Tôi có thể nói rằng tôi không biết có chuyện ngư dân Trung Quốc chết hay không, cũng có thể có, và họ chết vì lý do gì đó, bệnh tật chẳng hạn nhưng trong lòng tôi tôi có thể bảo đảm rằng "không bao giờ có chuyện Việt Nam bỏ đói chết!", nếu có thì Trung Quốc đã có công hàm phản đối rồi. Bà ấy nói như thế là không đúng.

Hai nữa bà này nói là hai mươi năm nay Việt Nam luôn nuôi âm mưu đánh chiếm các đảo của Trung Quốc, và toàn nói về chiến tranh chống Phương Bắc thôi, toàn nói lại các cuộc chiến tranh với Phương Bắc cả nghìn năm mà không nói gì đến cuộc chiến tranh với người Mỹ. Điều đó chứng tỏ rằng Việt Nam chỉ nghĩ đến chiến tranh với Trung Quốc.


Và cái chủ trương của Việt Nam mà bà gọi là "viễn giao, cận công", là giao thiệp với các nước phương xa, chủ trương đánh nước ở gần. Tất cả những việc này hoàn toàn không đúng. Không đúng sự thật một tí nào. Ngay một học giả Trung Quốc ở một tỉnh liền kề với Việt Nam còn nghĩ như thế thì … Trung Quốc có câu thành ngữ “giá họa vu nhân”, tức là "gán họa cho người khác", "gán tai ương cho người khác", thật đúng là trường hợp này !

Qua những lần như thế tôi thấy rằng nhân dân Trung Quốc không tiếp cận được sự thật. Ngay cuộc trả lời phỏng vấn của tôi như thế, tôi nghĩ là với một đài truyền hình tương đối trung lập, không phải của chính phủ như thế, mà cũng còn bị cắt khúc thì làm sao mà người Trung Quốc có thể hiểu được. Cho nên điều rất cần là Việt Nam phải có một sự tuyên truyền như thế nào đó để cho nhân dân Trung Quốc thấy được sự thật.

làm sao để chính nghĩa của chúng ta mọi người đều hiểu, các bạn Trung Quốc hiểu, nhân dân thế giới hiểu.
TS Vũ Cao Phan
Một trong những khiếm khuyết rất lớn của những người có trách nhiệm ở trong nước là không làm được cái việc tuyên truyền cho thế giới, cho nhân dân Trung Quốc thấy được chính nghĩa của chúng ta. Ta chỉ cần đưa ra những cái gì là sự thật thôi, ta không phải thổi phồng thêm một cái gì cả, rồi dần dần người ta sẽ hiểu.

Vừa rồi cuộc trả lời phỏng vấn của tôi với Đài Phượng Hoàng, tôi có cả bản trả lời bằng tiếng Hán và gửi sang bên Hồng Kông. Tôi có đề nghị là nên đưa cái này vào mạng. Họ bảo họ sẽ xem xét. Cho đến bây giờ những lời nói của tôi cũng còn không đưa được đến nơi đến chốn huống hồ là làm sao hy vọng được cả những cái này đước đưa thêm vào!

Cũng may là khi tôi trả lời cuộc phỏng vấn thì những người có trách nhiệm lập tức người ta có chỉ đạo những cổng thông tin, những kênh thông tin có tiếng Hán đưa kênh tiếng Hán vào, kênh tiếng Hán của cổng thông tin của chính phủ Việt Nam, kênh tiếng Hán của Thông tấn xã Việt Nam, và thậm chí cả kênh tiếng Hán của tờ báo điện tử của Đảng CSVN cũng rất là hào hứng đưa vào.

Tôi thấy như thế là được. Nhưng nói tóm lại nhìn một cách sâu xa là chúng ta thiếu sự tuyên truyền, thiếu cách làm cho thế giới, làm cho nhân dân Trung Quốc hiểu được bản chất của cuộc tranh chấp Việt - Trung này là gì, chính nghĩa của chúng ta ở đâu. Thế cho nên tôi rất chia sẻ với ý kiến của anh là chúng ta phải làm, nếu chúng ta chưa làm thì bắt đầu làm, mới làm một ít thì phải làm nhiều, làm sao để cái chính nghĩa của chúng ta mọi người đều hiểu, các bạn Trung Quốc hiểu, nhân dân thế giới hiểu. Đấy là ở đây tôi chưa muốn nói, việc im hơi, lặng tiếng chính là một cách không ngồi thẳng !

Tàu chiến HQ-375 của Việt Nam- Ảnh báo QĐND
Tàu chiến HQ-375 của Việt Nam- Ảnh báo QĐND


Mặc Lâm: Theo ông thì những cuộc biểu tình vừa qua tại Hà Nội và Sài Gòn có tác dụng gì đến công cuộc chống lại những việc làm sai trái của Trung Quốc hay không và ông có ủng hộ những cuộc biểu tình như thế trong tương lai?

TS Vũ Cao Phan: Biểu tình là một cách tuyên truyền, như câu chuyện ta vừa nói với nhau. Mặt khác, mọi công dân đều có quyền chọn cách thể hiện phản ứng, biểu thị thái độ của mình trong sự cho phép của luật pháp. Như tôi được biết thì cách ứng xử của những người tham gia cũng như nhà chức trách trong những cuộc biểu tình vừa qua là có thể hiểu được và chấp nhận được. Hơi tiếc là Việt Nam ta chưa quen lắm với tập quán dân chủ này.
Mặc Lâm: Xin cám ơn ông
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-best-answer-to-china-s-ambition-07112011140508.html