Showing posts with label BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 112. Show all posts
Showing posts with label BÊN KIA BỜ ĐẠI DƯƠNG 112. Show all posts

Friday, March 19, 2010

TIN BUỒN VĂN HỌC





RFA
Thi sĩ Hữu Loan qua đời ở Thanh Hóa, hưởng thọ 95 tuổi
Vào 7 giờ 00 tối hôm qua, thi sĩ Hữu Loan đã qua đời tại tư gia ở thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, hưởng thọ 95 tuổi.


Photo courtesy of talawas Nhà thơ Hữu Loan và vợ tại nhà riêng ở Thanh Hoá năm 2008.

Hơn một năm qua, nhà thơ đã bị chứng thấp khớp ngày càng trầm trọng.
Người con dâu thứ ba của ông trả lời đài Á Châu Tự Do trong tiếng nhạc lễ tang: "Ông mất lúc 7 giờ 00 tối qua. Ông chỉ ngủ rồi đi luôn thôi. Lúc ấy thì chỉ có con dâu trưởng, vợ anh Công ở nhà. Tôi là con dâu thứ ba...."
Thi sĩ Hữu Loan nổi tiếng với các bài thơ bất hủ Màu Tím Hoa Sim, Hoa Lúa, Đèo Cả... Ông từng cộng tác với các tập san văn học hàng đầu tại Hà Nội hồi trước năm 1945.
Chuyện tình "Màu tím hoa sim" trở thành bài thơ của ông được cả nước biết đến và đồng cảm, vào thời gian trong và sau thời kháng chiến.
Hữu Loan tham gia kháng chiến chống Pháp, trở thành cán bộ quân sự cao cấp, nhưng sau xuất ngũ, rời khỏi đảng vì không đồng thuận với lý luận cùng đường lối cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam.
Và nhà thơ Hữu Loan đã sống với niềm u uất cho đến cuối đời.

Theo dòng thời sự:

http://www.rfa.org/vietnamese/VietnameseNews/vietnamnews/Famous-poet-Huu-Loan-dies-at-95-03182010193018.html



WIKIPEDIA
Hữu Loan (02/04/1916- 18 tháng 3, 2010 ) là 1 nhà thơ Việt Nam. Quê ông tại xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.
Tiểu sử
Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh tại quê ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học thành chung ở Thanh Hóa sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận bình dân năm 1936, tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa). Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê và khi cuộc Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Trước năm 1945, ông đã từng là cộng tác viên trên các tập san Văn Học, xuất bản tại Hà Nội.


Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Uỷ viên Văn hóa trong Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội Nhân dân Việt nam, phục vụ trong Đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại Báo Văn nghệ trong một thời gian. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương.

Ông sáng tác những tác phẩm lên án thẳng thắn và quyết liệt đến những tiêu cực của các cán bộ cộng sản nịnh hót, đố kỵ, ám hại nhau v.v... như tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và truyện ngắn Lộn sòng. Trong tác phẩm của mình, ông coi mình là nạn nhân của xã hội cộng sản và phê phán xã hội này một cách kịch liệt. Sau khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan phải vào trại cải tạo vài năm, tiếp đó bị giam lỏng tại địa phương. [cần dẫn nguồn] Hiện ông đang sống tại quê nhà.
Ông nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim do ông sáng tác trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp và được lưu hành rộng rãi trong vùng kháng chiến. Có thông tin cho rằng, do nội dung bài thơ nặng nề tình cảm và ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý quân dân, nên ông bị giải ngũ [cần dẫn nguồn].

Tác phẩm

Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào, dưới đây là một số bài thơ đã được phổ biến của ông:

Đánh giá

Thơ Hữu Loan thường làm theo thể tự do, có âm điệu giàu nhạc tính để chuyển tải tâm sự vì thế những bài thơ hiếm hoi đã được phổ biến của ông đều sống trong lòng độc giả. Nói đến Hữu Loan là người ta nhớ đến Màu tím hoa sim, bài thơ xuất phát từ là nỗi lòng của riêng ông nhưng gây xúc động và nhận được sự đồng cảm của người đọc. Bài thơ đã được các nhạc sỹ Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng phổ nhạc. Vào tháng 10 năm 2004, Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: ViTek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng. [1]

Vài nét về gia đình

Hữu Loan kết hôn hai lần, lần thứ nhất vào đầu năm 1949 với bà Lê Đỗ Thị Ninh, là con gái của nguyên Tổng thanh tra nông lâm xứ Đông Dương Lê Đỗ Kỷ, Đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946).Hữu Loan quen biết bà Ninh khi ông còn học college Đào Duy Từ, Thanh Hoá. Ông đã làm gia sư dạy mấy người anh trai và sau đó là bà Ninh. Tháng 5 năm đó bà Ninh mất (do chết đuối) khi mới 16 tuổi và bài thơ Màu tím hoa sim ra đời. Sau đó ông kết hôn với bà Phạm Thị Nhu, một nông dân, bài thơ Hoa lúa (1955) chính là bài thơ viết tặng người vợ thứ hai này. [2]

Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%AFu_Loan



Hữu Loan: Tự Phỏng Vấn -
Trích Hồ sơ Nhân Văn Giai Phẩm



Tác Giả : Lê Phương Nga sưu tầm
Thứ Bảy, 10 Tháng 1 Năm 2009 14:43

Đôi nét vê Hữu Loan :
Ông tên là Nguyễn Văn Dao, Sắt Đỏ, Tốt Đỏ, Binh Nhì ... Tên chợ là Ông già Vườn Lồi (Phù Viên Lỗi). Sinh năm Bính Thìn (1916), tại thôn Vân Hoàn, Nga Sơn, Thanh Hóa. Từ 1936 đến 1942 làm cách mạng trong phong trào học sinh và nhà trường. Từ 1943 đến 1945 về đi cày và đánh cá, làm Việt Minh và làm khởi nghĩa huyện nhà. Cùng năm làm Ủy ban Lâm thời tỉnh phụ trách 4 ty Giáo dục, Thông tin, Công chính và Thương chính. Chán lại về đi cày và đánh cá nuôi bố mẹ già. Từ nửa năm 1946 đến 1951, làm chủ bút báo Chiến sĩ Quân khu IV ở Huế. Gặp Nguyễn Sơn, ủng hộ đường lối ưu tiên với văn nghệ sĩ. Khi Nguyễn Sơn bị đình chỉ công tác, trả cho Trung Quốc, đường lối Nguyễn Sơn bị Lê Chưởng và Hoàng Minh Thi phản đối, Hữu Loan đề nghị giữ Phạm Duy ở lại không được, lại về đi cày cho đến 1954 tiếp quản thủ đô lại ra làm biên tập cho báo Văn nghệ, vào làm hội viên Hội Nhà văn. Sau tham gia Nhân văn rồi bỏ về quê đi cày, đi thồ, từ 1958

HỮU LOAN : TỰ PHỎNG VẤN

Phóng viên: Từ mấy chục năm nay trong dân gian và trong văn học thường hay nói đến "Nhân văn-Giai phẩm", đến "vụ án Nhân văn-Giai phẩm" như là một chuyện gì ghê gớm lắm mà những người đã tham gia vụ ấy là những tên đầu trộm đuôi cướp, lừa đảo không thể dung tha được, những bọn cặn bã xấu xa nhất của xã hội ta. Nhưng trong thực tế thì thơ, nhạc của họ đều được nhân dân truyền tụng ngầm rồi đến công khai, cấm cũng không xong, càng ngày càng lan tràn. Ngay cả đến nhà nước lại cũng đã tuyên bố phục hồi cho họ, in lại thơ, lại nhạc. Như thế là trước kia không phải họ sai mà nhà nước sai hay sao? Nếu nhà nước sai thì làm gì còn có "vụ án Nhân văn"? Có sai mới có án, mà đã không thì cái gọi là "vụ án Nhân văn" là một vụ oan. Nhưng mới gần đây vẫn có người trịnh trọng tuyên bố "vụ Nhân văn" là một vụ án. Chúng tôi là những người cầm bút chuyên môn mà vẫn thấy mâu thuẫn khó hiểu, huống hồ người dân thì lâu nay chỉ được thông tin một chiều ... Họ thắc mắc hỏi chúng tôi, chúng tôi rất lúng túng không giải thích nổi. Vậy thì thưa ông Hữu Loan, ông đã là người trong cuộc, xin ông giảng lại cho: Thế nào là "Nhân văn"? Thế nào là "Vụ án Nhân văn"?
Hữu Loan: Tất cả mọi cái này, tôi đã có ý kiến đầy đủ trong bản kiểm điểm của tôi ở trại chỉnh huấn Nhân văn. Các anh nên đến qua Công an Hà Nội tìm đọc thì hơn.

Phóng viên: Bác ngại sao?

Hữu Loan: Cũng ngại chứ!

Phóng viên: Vì sao vậy?

Hữu Loan: Vì tuổi tác cũng có. Nhất là vì mới đây thấy hưởng ứng lời kêu gọi tự do báo chí, Nguyên Ngọc chỉ cho đăng số bài của các nơi gửi về mà đã bị kết tội là sai phạm lệch lạc nghiêm trọng hơn nhiều, rồi hết cuộc họp này đến cuộc họp khác, để kiểm điểm, để bàn cách đối phó. Nhưng dù sao, khắp nơi các báo chí đều dám lên tiếng ủng hộ Nguyên Ngọc. Còn hồi tôi về thì không một người bạn nào dám đến đưa chân ngay ở nhà chứ đừng nói ra ga, mặc dù có những bạn tôi đã đấu tranh cho được vào biên chế, được vào Hội Nhà văn mà mới cách đây vài năm đi công tác qua nhà tôi cũng vẫn còn sợ liên quan không dám vào.

Họ đều đổ cho là tại chế độ, tại tình hình. Nhưng nếu chế độ là chế độ thì người cũng phải là người chứ. Cái gì cũng có giới hạn của nó. Đấy là bè bạn, là người ngoài. Ruột thịt đối với tôi còn tàn nhẫn hơn nhiều. Những năm 1943, 1944, 1945, Nhật đánh Pháp ở ta dữ dội, trường tư tôi dạy phải đóng cửa, tôi về quê vừa làm ruộng, đánh cá để nuôi bố mẹ và để hoạt động Việt Minh bí mật. Mấy năm ấy đói to. Bố mẹ tôi vẫn phải nhịn cháo rau cho cán bộ Việt Minh bí mật về ăn. Những người cùng ở ban khởi nghĩa với tôi làm to cả, gia đình nào bố mẹ cũng sung sướng, nguyên tôi lại về. Mẹ tôi buồn ốm chết. Bố tôi chửi tôi: "Mày làm Việt Minh chặt hết của tao một giặng tre để rào làng, rào giếng. " Các cháu trong nhà trong họ không đứa nào không chửi: "Ông về là đúng!

Trời làm tội ông. Lúc ông phụ trách 4 ty còn ai nhiều chức hơn ông mà con cháu chả đứa nào được nhờ. Ông cho trong huyện hơn bốn mươi người ra làm giáo viên, con cháu xin thì ông bảo: ‘Chúng mày rồi hẵng.' Ông chỉ toàn khuyên các cháu đi bộ đội. Nghe ông, bốn đứa xung phong đi, giờ còn có một đứa về ... Hồi Việt Minh còn đang bí mật, ông đứng ra lãnh gạo, muối, diêm về phát cho dân. Ông phát cho dân trước, đến lượt ông và con cháu ông lần nào cũng hụt, có lần hết sạch. Bây giờ ông coi họ lãnh sữa bột, dầu cải của quốc tế cho trẻ em, họ chia nhau trước, đến lượt trẻ em thì hết.

Không ai dại như ông. Khi ông có tiêu chuẩn xe con, đi các huyện khác thì ông còn đi xe con chứ khi nào về huyện ta ông toàn đi xe đạp, trong khi những người không có tiêu chuẩn xe, họ mượn xe của ông để về vênh váo với làng nước. Ông bảo ông làm cách mạng, để cho cả làng được đi học. Khi cách mạng thành công thì thằng con ông thi đại học đậu thừa điểm đi nước ngoài họ không cho đi ngay cả trong nước và chúng đã thay vào chỗ con ông một tên Cường không đậu, tên na ná với tên con ông là Cương. " Có đứa nó như phát điên và nó đã chửi tôi: "Ông là loại ngu nhất.

Ông bảo ông mẫu mực, cái mẫu mực ấy đem mà vứt cho nó ăn. Chả đứa nào nó thương ông. Ông tự làm khổ ông lại làm khổ lây đến con cháu ..." Mỗi lần như thế tôi phải đấu dịu với chúng: "Thôi tao van chúng mày, nếu mẫu mực mà lại được ngay ô tô nhà lầu thì chúng tranh chết nhau để làm mẫu mực chứ chả đến phần tao. Ngay ngày 2/9, bên xã mổ thịt bán tự do cho dân về ăn Quốc khánh, tao biết thân phải đến rất sớm mà cũng chả đến phần. Những ông Đảng ủy, Ủy ban v.v... được mua trước, đến mình thì hết phần..."

Phóng viên: Như vậy là bác chán không muốn nói đến chuyện "Nhân văn-Giai phẩm" nữa?

Hữu Loan: Ai mà chả phải chán. Mình đấu tranh cho họ, bênh vực họ, khổ vì họ, họ lại đè mình họ chửi, họ oán. Những kẻ gây tai họa cho họ, họ lại cho là đúng, là gương để cho họ noi theo.

Phóng viên: Xưa nay bác vẫn là người nói thẳng, nói thật, lúc trẻ bác còn dám nói, giờ già rồi không lý nào bác lại sợ, lại hèn?

Hữu Loan: Anh kích tôi đấy phỏng? Tôi là người không bị động bao giờ.

Phóng viên: Cháu không dám hỗn thế đâu, nhưng đây là một vấn đề của lịch sử, trước sau rồi cũng phải đưa ra ánh sáng. Chỉ có bác là người trong cuộc, bác giúp cho bọn cháu thì nó cụ thể hơn, sát hơn, để các cháu có thể hiểu được những cái vô cùng rắc rối của giai đoạn xã hội hiện nay...

Hữu Loan: Thực ra nếu bên Liên Xô không có Khrushchev lật Stalin, đưa ra phong trào chống sùng bái cá nhân thì bên Tàu không làm gì Mao Trạch Đông đưa ra chuyện "Bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng" và bên ta hưởng ứng tức thời bằng phong trào mang tên dịch lại nhãn hiệu Trung Quốc "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng". Tên nôm na của ta là "Chống sùng bái cá nhân".
Trước đó thì ở ta có hiện tượng rất phổ biến này: Khi gặp nhau, trước bất cứ câu đối đáp nào đều phải có nhóm thành ngữ "ơn Đảng ơn Bác" đứng đầu. Thí dụ: "Ơn Đảng ơn Bác, đồng chí có khỏe không?" "Dạ, ơn Đảng ơn Bác lâu nay tôi ốm mãi, ơn Đảng ơn Bác tôi mới xuất viện được 2 hôm nay." "Ơn Đảng ơn Bác thế mà em không hay biết gì..." Sau hàng tháng phát động đấu tranh kiểm điểm ở từng cơ quan để bỏ chữ Bác đi và thay thế bằng: "Ơn Đảng ơn Chính phủ": "Ơn Đảng ơn Chính phủ vụ mùa này thu hoạch có đủ nộp không?" "Ơn Đảng ơn Chính phủ nhà em có con lợn mới độ 30 ký đang lớn, thanh niên cờ đỏ vào bắt nợ rồi, được bao nhiêu thóc đong hết sạch mà còn thiếu phải bù bằng lợn..."

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc liên tiếp bị đô hộ, hết Tàu đến Tây, đến Nhật, đến Mỹ... Cái khao khát, cái đói cố hữu của dân tộc này là đói độc lập, tự do, cơm áo. Khi thấy Đảng hứa đem lại những thứ ấy cho thì người dân tin tuyệt đối vào Đảng. Đảng bảo gì họ theo nấy, bảo phá nhà thì phá nhà, bảo bỏ ruộng thì bỏ ruộng, bảo bỏ bố bỏ mẹ, bỏ vợ bỏ chồng, bỏ Trời bỏ Phật, bỏ được tất, còn dễ hơn từ bỏ đôi dép rách. Anh đội trưởng cải cách chỉ là một sứ giả của Đảng mà dân cũng đã tin hơn trời: "Nhất đội nhì trời". Lòng dân tin vào Đảng không thước nào đo được, nên khi phát động để phủ nhận một điều gì Đảng đã chủ trương trước kia, thật là vô cùng khó khăn. Nguyên chỉ để thay đổi câu "Ơn Bác ơn Đảng" và kiểm điểm những việc làm trước kia có tính chất sùng bái cá nhân mà cũng mất hàng tháng phát động ở mọi cơ quan. Khẩu hiệu là "Nói thẳng, nói thật, nói hết để xây dựng Đảng!"

Không những nói mồm mà còn viết lên các báo. Không những viết lên các báo nhà nước mà còn khuyến khích mở báo tư nhân để viết. Vì thế mới có Nhân văn, Giai phẩm của chúng tôi. Và Trăm hoa của Nguyễn Bính. Bài thơ "Màu tím hoa sim" của tôi (từ trước vẫn do dân tự tiện truyền tụng ngầm, bất chấp lệnh nghiêm cấm của những tướng trấn ải giáo điều), được đăng công khai lần đầu tiên báo Trăm hoa. Nguyễn Bính còn cho thuê taxi có loa phóng thanh đi quảng cáo khắp Hà Nội là Trăm hoa số này có thơ "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan. Mấy tháng sau tôi đi cải cách ruộng đất, làm bài thơ "Hoa lúa" , 22 anh em nhà báo nhà văn đi cải cách truyền tay nhau chép. Chị Bạch Diệp báo Nhân dân xin chép đầu tiên, nhưng ý trung nhân của chị là anh Xuân Diệu ở báo Văn nghệ không đăng, bảo là thơ tình cảm hữu khuynh, mất lập trường. Trần Lê Văn đến mách với Nguyễn Bính, Bính đến xin ngày bài "Hoa lúa" về đăng Trăm hoa. Anh Bính còn làm một cử chỉ rất hào hùng là đem đến trả cho vợ tôi 15 đồng nhuận bút, trong khi đăng Văn nghệ chỉ được 7 đồng.

Anh bảo với vợ tôi: "Hữu Loan ở nhà thì tôi xin (tôi vẫn viết không lấy nhuận bút để giúp những tờ báo nghèo, mới ra) nhưng Hữu Loan đi cải cách chị cũng cần tiêu (15đ bằng 150.000đ bây giờ). Một chỉ vàng lúc ấy mới 20 đ. Nói ra điều này để thấy rằng mức sống của người cầm bút hiện nay đã vô cùng xuống dốc. Nhuận bút của cả một quyển sách hiện nay không bằng tiền của một bài thơ Nguyễn Bính trả cho tôi. Nhà thơ Tố Hữu đã có dự báo thiên tài: "Chào 61 đỉnh cao muôn trượng!" Từ ấy đến giờ xuống dốc tuồn tuột không phanh, không thắng... Chính sự xuống cấp thảm hại trong đời sống đã là nguyên nhân chính trong việc lưu manh hóa một số nhà văn, họ đã phải uốn cong ngòi bút, cũng như trong việc in sách đen sách trắng vừa rồi.

Phóng viên: Xin bác cho biết lại về vụ "Nhân văn".

Hữu Loan: "Nói thẳng nói thật, nói hết, để xây dựng Đảng". Không những chỉ có Nhân văn hay Trăm hoa mới nói thật, mà cả nước nói thật. Cả nước kêu oan. Những "Ban Giải oan" đã thành lập để vào trong các nhà tù giải oan cho hàng vạn người bị cải cách quy oan.... Nhưng đã ăn thua gì. Đơn từ kêu oan từ các nơi gửi về tòa soạn Nhân văn thật đã cao bằng đầu, như "đống xương vô định". Nhân văn đã xếp thành văn kiện chuyển cho Trung ương Đảng nghiên cứu để thay đổi chính sách. Thật ra Nhân văn chỉ khái quát tình hình để đúc thành lý luận. Bài báo bị cho là phản động, phản Đảng, phản dân nhất của Nhân văn là bài "Vấn đề pháp trị" do Nguyễn Hữu Đang viết .

Trong bài ý nói: sở dĩ chỗ nào cũng có áp bức chà đạp lên con người là vì chưa có pháp luật rõ ràng. Tòa án là một tòa án tha hồ tùy tiện còn hơn Tôn giáo Pháp đình của giáo hội La Mã hồi Trung Cổ. Muốn bắt ai thì bắt, muốn xử ai thì xử, bịa ra luật nặng nhẹ tha hồ để xử... Bài báo kêu gọi cần phải phân quyền thì người dân mới có bình đẳng trước pháp luật... Sau hơn ba mươi năm do tình trạng pháp luật tùy tiện mà xã hội xuống cấp một cách tệ hại như hiện nay. Vấn đề hàng đầu đang đặt ra để giải quyết cũng là mấy vấn đề pháp trị mà Nguyễn Hữu Đang đã đặt ra cách đây hơn 30 năm (mà phải nói đây là vấn đề sống còn của chế độ).

Không có một cộng đồng nào mà thành viên nào cũng chứa toàn âm mưu đen tối để chủ hại người bên cạnh, không người nào biết phải biết trái, mà sống nổi lâu dài. Nhân loại sinh ra để hợp tác với nhau, để tin nhau là chính, mới sống được đến giờ. Ngày xưa, ngay hồi Pháp thuộc cả một vùng lớn như một huyện mới có độ 5 - 6 tên trộm mà trộm không được pháp luật bênh như thế, mà dân cũng còn lo ngay ngáy cho số phận trâu bò của cải của mình. Còn bây giờ thì chỉ một thôn thôi cũng có hàng vài chục tên trộm cướp công khai, coi thường pháp luật thì hỏi người dân còn an cư thế nào để lạc nghiệp được?

Một vấn đề nữa Nhân văn đặt ra là "Vấn đề Trần Dần" đăng trong Nhân văn số 1, có chân dung Trần Dần to tướng với một vết dao lam cứa cổ to tướng do danh họa Nguyễn Sáng vẽ Từ trước ai cũng một lòng tin Đảng, cả trong lĩnh vực văn học. Tự Liên Xô đưa về rồi tự Diên An đưa sang, tài liệu hiện thực xã hội chủ nghĩa, tức là con đường đi lên trong văn học nghệ thuật. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói đến cái xã hội thiên đường vô cùng đẹp chưa có, chưa biết bao giờ mới có chứ không được nói đến những cảnh trộm cướp áp bức bóc lột đang diễn ra trước mắt. Rất hiếm những bí thư, chủ nhiệm, thủ kho, cửa hàng trưởng tốt, phải nói hầu hết là ăn cắp, thi nhau để ăn cắp, nhưng văn học không được nói thực mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng. Luận điệu thuộc lòng là: Không có ăn cắp mới lạ, có ăn cắp là tất nhiên. Đấy là thứ sốt rét vỡ da của nhân vật khổng lồ, của một chế độ khổng lồ!

Cũng thành khổng lồ thật nhưng lại là khổng lồ đi xuống, một thứ quỷ khổng lồ hay một thứ khổng lồ không tim như đã dự báo trong một truyện ngắn ở Nhân văn. [6] Đường lối đó ở ta đã được ông Trường Chinh tiếp thu và bảo vệ, và truyền giáo như một thánh tông đồ xuất sắc. Một người nhà báo hỏi ông: "Như vậy là Cách mạng đã cấm tự do ngôn luận." Ông Trương Chinh sửng sốt: "Anh nói sao? Các anh được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi."
Như thế là đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa đã cấm hẳn hiện thực phê phán là thứ vũ khí sắc bén nhất của báo chí để cải tạo kịp thời xã hội. Lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa này được học tập ráo riết trong quân đội, trung tâm đào tạo những tông đồ để áp dụng và đi phổ thuyết về "con đường đi lên" là Tổng cục Chính trị lúc bấy giờ do ông Nguyễn Chí Thanh làm Tổng cục trưởng và ông Tố Hữu làm Tổng cục phó. Trong số văn nghệ sĩ phản đối đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa có Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Tử Phác...

Có lẽ quyết liệt nhất là Trần Dần, nên Trần Dần bị bắt giam và trong nhà giam Trần Dần đã dùng dao lam cắt ven cổ nhưng chỉ toác da, chưa đứt đến ven thì đã kịp thời chặn lại. Vì thế mà có bài "Vấn đề Trần Dần" trong Nhân văn số 1 như đã nói trên. Đây là một vấn đề văn học, hoàn toàn văn học. Đây là một cử chỉ khí tiết của nho sĩ Việt Nam trước cường quyền không bao giờ là không có, dù cường quyền có thiên la địa võng đến đâu thì cái truyền thống đáng tự hào ấy, cái hồn thiêng của sông núi ấy không tà khí nào làm mờ nổi. Trần Dần chỉ là hậu thân của những người đã viết "Vạn ngôn thư", "Thất trảm sớ"...

Cũng như vấn đề pháp trị của Nguyễn Hữu Đang, vấn đề văn học mà Trần Dần đòi xét lại cách đây hơn 30 năm hiện giờ vẫn đang rất là thời sự. Cái tai họa lớn nhất hiện giờ vẫn là do khuyến khích tô hồng, đề cao người giả, việc giả, hàng giả... Những người thấy trước tai họa, chân tình muốn ngăn chặn tệ nạn xã hội tô hồng thì bị gán ngay cho cái tội bôi đen. Đáng nhẽ những người như Nguyễn Hữu Đang và Trần Dần phải được một giải thưởng quốc gia, một cái giải vinh quang là đã đưa ra được giải pháp để cứu nguy cho dân tộc. Nhưng trái lại, lại vu oan giá họa, đặt lên đầu họ cái án gọi là "án Nhân văn". Thực ra Nhân văn hưởng ứng lời Đảng gọi: "Nói thật, nói thẳng, nói hết để xây dựng Đảng", và chỉ đấu tranh cho tự do báo chí, tự do ngôn luận mong thực hiện tự do bầu cử vào quốc hội, vào chính phủ.

Chỉ cần thực hiện thật sự dân chủ nội dung của Hiến pháp là cũng đã lý tưởng rồi. Hiện nay báo Văn nghệ cũng đang làm cái việc như Nhân văn ngày xưa làm, cũng do được kêu gọi, được giao trách nhiệm Nguyên Ngọc mới dám làm, và báo Văn nghệ cũng đang bị khép tội là mắc những lệch lạc nghiêm trọng. Có điều khác là: Nhân văn ngày xưa đơn độc, khi bị đánh không ai dám bênh, ngậm cái miệng cúi đầu mà mang án. Còn bây giờ thì hoàn cảnh trong nước và ngoài nước đã khác. Không thể đóng cửa mãi ở trong nhà và ngủ yên được mãi trên những sai lầm vô định. Khi Nguyên Ngọc bị đánh, đã có báo chí khắp nơi lên tiếng, những bản kiến nghị đang tiếp tục gửi về... Nếu phong trào tự do báo chí, phong trào ủng hộ Nguyên Ngọc và báo Văn nghệ mà bị dập, tức là bọn quan liêu cơ hội thắng thế, kết quả là xúc tiến sự sụp đổ toàn diện, sự tổng khủng hoảng kinh tế cũng như chính trị và uy tín của Đảng sẽ bị mất hoàn toàn vì bọn chúng. Quần chúng sẽ mất hết tin tưởng vào Đảng.

Từ trước tới giờ: làm sai cũng là bọn cơ hội, kêu gào sửa sai cũng là chúng, rồi đàn áp sửa sai cũng lại là chúng. Khi sai quá rồi không sửa thì dân không chịu nổi phải nổ. Nhưng sửa đến triệt để thì cháy nhà lại ra mặt chuột, nên cứ nửa chừng thì lại đàn áp sửa sai; chúng vu cho những người đã từng làm theo chúng tội rất nặng, càng nặng thì quần chúng càng dễ quên tội của chúng và cho rằng những rối loạn trước kia là do âm mưu bọn sửa sai gây ra. Chúng bàn nhau mưu kế dựng chuyện theo bài bản, những ông trên không sát cũng phải tin như thật. Chính Nguyễn Hữu Đang đã rơi vào trường hợp như vậy. Đang là người giác ngộ cách mạng sớm. Anh là linh hồn của Hội Truyền bá Quốc ngữ mà cụ Nguyễn Văn Tố là danh nghĩa. Dựa vào Hội Truyền bá quốc ngữ, Nguyễn Hữu Đang đã hoạt động cho mặt trận Văn hóa Cứu quốc. Những nhà văn như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, đều do Đang tổ chức vào mặt trận. Khi chính phủ vào Hà Nội, Nguyễn Hữu Đang là trưởng ban tổ chức lễ Tuyên ngôn Độc lập, sau làm Bộ trưởng Bộ Thanh niên.

Khi rút khỏi Hà Nội năm 1952-1953 vào Thanh Hóa, Nguyễn Hữu Đang là Tổng thanh tra Bình dân học vụ. Năm 1954 tiếp quản thủ đô, Trung ương cho xe vào Thanh Hóa mời Đang ra, muốn nhận bộ trưởng nào thì nhận, mời sinh hoạt Đảng, anh đều khước từ. Tôi hỏi vì sao, anh bảo: "Nội bộ thiếu dân chủ trầm trọng, mình bây giờ chỉ một mình một Đảng." Sau hỏi anh làm gì, anh xin về làm nhà in, trình bày cho báo Văn nghệ. Mãi đến gặp phong trào "Trăm hoa", Đảng phát động cho viết báo tự do, lại cho mở báo riêng thì anh Đang mới ra làm Nhân văn. Anh Đang là một người rất có khả năng về chính trị cả về lý luận lẫn tổ chức, lại là một người rất hay giúp đỡ anh em và rất giữ lời hứa. Để một người có tài có đức như vậy thì bọn cơ hội hết đường xoay xở nên phải đánh. Một mặt phải phát động tố điêu dựng tội (như hồi cải cách dựng địa chủ) để đưa Nguyễn Hữu Đang lên thành phản động đầu sỏ.

Một mặt sai điều động từ Thanh Hóa ra, từ các nơi về, hàng 6 sư đoàn để về vây thủ đô đề phòng bọn Nhân văn làm phản (trong khi Nhân văn chỉ mấy thằng đi kháng chiến về, đói rách trói gà không nổi).
Việc điều động một lực lượng quân đội lớn như vậy mãi sau tôi về quê gặp những người ở trong các đơn vị ấy nói lại tôi mới biết. Khi học tập, dựng tội cho Nguyễn Hữu Đang xong, cả lớp học sát khí đằng đằng hò hét nào là tên Đang, nào là thằng Đang phản động đầu sỏ. Mọi người ký vào kiến nghị lên Trung ương Đảng đòi xử tội đích đáng Nguyễn Hữu Đang. Tôi là người duy nhất đã ký như sau: "Khi Nguyễn Hữu Đang hoạt động với tôi, tôi thấy Nguyễn Hữu Đang là người có tài, có đức, tội trạng mới đây của Nguyễn Hữu Đang tôi chỉ tai nghe, mắt không thấy, tôi không dám kết luận.
Ký tên: Hữu Loan"

Thế là Nguyễn Hữu Đang bị kết án 17 năm tù, mới đi được 7 năm thì nhờ đâu có sự can thiệp của Nhân quyền Quốc tế nên anh được tha. Đáng nhẽ không thưởng, không giải oan cho Nguyễn Hữu Đang thì im quách đi cho nó xong, đừng nay gào mai gào "Vụ Nhân văn là một vụ án chính trị!". Gào như vậy nhưng nếu có ai hỏi đến để tìm hiểu lịch sử thì lại bảo "Đó là vụ án đã qua, bọn Nhân văn đã nhận tội không nên nhắc đến nữa!".

Nếu không nhắc Nhân văn, sao người ta vẫn nhắc đến phát-xít, Hitler, đến Stalin, đến Pol Pot? Thậm chí bọn vua chúa hay Pháp Nhật Mỹ đã đi từ lâu rồi, mà bao nhiêu vụ ăn cắp cũng là do phong kiến đế quốc, bao vụ cưỡng hiếp phụ nữ trong cơ quan cũng là do phong kiến đế quốc, mặc dù những người thực hiện các vụ ấy đều thuần túy xã hội chủ nghĩa gốc Việt. Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông có cấm nói đến mình được mãi không, dù là những bạo chúa, những nhà độc tài cỡ quốc tế?

Ngoài Nguyễn Hữu Đang còn có thêm những người này: Phùng Cung, tác giả truyện ngắn "Con ngựa già của chúa Trịnh" [7] : 7 năm tù giam. Vũ Duy Lân (Bộ Nông lâm, bị nghi là cho Nguyễn Hữu Đang một áo len khi đang đi tù): bị giam 7 năm mới tha. Giám đốc Nhà xuất bản Minh Đức: 17 năm như Đang. Nhà nước xuất bản thì lúc nào cũng kêu lỗ, mặc dù in nhiều hơn Minh Đức mà trả quyền tác giả lại rất rẻ mạt. Nhà Minh Đức xuất bản Vũ Trọng Phụng, mời con gái của Phụng lên lĩnh nhuận bút mà còn bỏ tiền về Hà Đông xây mộ cho Vũ Trọng Phụng. Minh Đức định xuất bản Kiều để vào xây mộ cho Nguyễn Du nhưng bị bắt. Ngoài ra từ 1954 đến 1956 Minh Đức còn mua được ½ nhà ưu giá 30.000đ (bằng 150 cây vàng). Nhà Minh Đức làm ăn lời lãi như vậy mà ngoài anh ta ra chỉ có thêm vài người giúp việc. Còn những nhà xuất bản của nhà nước thì nhà nào cũng rất đông người làm mà chả được bao nhiêu việc, nhà nào cũng kêu lỗ, nhưng vẫn cứ cố bao nhiêu rơm cũng ôm.

Xưa nay bất cứ ai nhận một công việc gì đều phải có trách nhiệm với công việc ấy, công việc càng khó khăn, lớn lao trách nhiệm càng nặng nề, ở ta lại toàn chuyện ngược đời. Một lái xe chặn chết người muốn sửa sai không được, anh phải đi tù, phải tước bằng. Anh bác sĩ chữa bệnh làm chết người cũng thế, phải tước bằng và đi tù. Đấy là những người làm chết ít người. Còn những người cầm vận mệnh của cả nước đã làm cho đồng bạc mất giá hàng vạn lần, làm cho hầu hết công nông trường xí nghiệp phá sản, cho 90% con cái gia đình thành lưu manh, cho 50% trẻ em mất dinh dưỡng, còn giết oan bao nhiêu người có tài, có đức, còn phá phách bao nhiêu công trình văn hóa lịch sử. Những con giun bị đạp gào lên: "Sai rồi!" thì họ rất bình tĩnh trả lời: "Sai thì sửa!" hoặc bất đắc dĩ phải sửa thì không sửa chân thành.

Họ vẫn núp dưới cờ Đảng để đi từ sai lầm tày trời này đến sai lầm tày trời khác. Họ đang làm cho dân không còn tin vào Đảng. Họ xúc phạm vào anh linh những đảng viên ưu tú đã nằm xuống. Họ coi thường những đảng viên ưu tú đang sống, đang không ngớt đấu tranh để thể hiện những tính cách vô cùng cao quý của người cộng sản cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khổ trước sướng sau v.v ...

Hỡi những người đảng viên quang vinh của Đảng Cộng sản vô cùng quang vinh, người dân đau khổ lâu đời lúc nào cũng đứng bên các bạn.

Lê Phương Nga
(Sưu tầm theo nguồn thivien.net)


Friday, July 17, 2009

THƠ NGHIÊU MINH

Về Một Quê Hương Đau Khổ
Quê hương tôi chằng chịt đau thương
Như những đường dây chạy bên đường
Dân tộc tôi cuộn trào nước mắt
Như thành phố mênh mông đại dương!
Quê hương vô số Lê Chiêu Thống
Mà mỗi người hùng cứ một phương
Dân tộc tôi khổ nghèo nặng nhọc
Như những xe ì ạch trên đường!
Quê hương tôi triền miên uất hận
Như thành phố "ùn tắc" hàng giờ
Dân tộc tôi còng tay khóa họng
Như vừa đòi nhân quyền tự do!
Nghiêu Minh

PHIM VIỆT NAM * SỰ THẬT VỀ HÔ CHÍ MINH


XIN MỜI XEM PHIM
SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH

Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ đã cho phép đưa Phim Sự Thật Về Hồ Chí Minh lên Internet.


http://blip.tv/file/2363823?file_type=flv


NGUYỄN PHÚ THỨ * CÁCH TÍNH THỜI GIAN

Đêm năm Canh, Ngày sáu khắc


Tính như thế nào ?


(Trich dẫn từ trang 60 đến trang 70 quyển Tử-vi & Địa-Lý Thực-hành của Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ )


Thuở xa xưa, những bậc tiền nhân thường dùng Thập Nhị Địa Chi tức12 con Giáp để gọi cho Năm, Tháng, Ngày, Giờ. Số 12 con Giáp tức 12 con vật tượng trưng đó được sắp theo thứ tự như sau : Tý (Chuột), Sửu (Trâu), Dần (Cọp), Mão hay Mẹo (Mèo), Thìn (Rồng), Tỵ (Rắn), Ngọ (Ngựa), Mùi (Dê), Thân (Khỉ), Dậu (Gà), Tuất (Chó) và Hợi (Heo).
Ngoài ra, phương cách dùng để tính các tháng theo con Giáp thì : GIÊNG (Dần = Cọp), HAI (Mão hay Mẹo = Mèo, BA (Thìn = Rồng), TƯ (Tỵ = Rắn), NĂM (Ngọ = Ngựa), SÁU (Mùi = Dê), BẢY (Thân = Khỉ), TÁM (Dậu = Gà), CHÍN (Tuất = Chó), Mười ( Hợi = Heo), Mười Một (Tý = Chuột) và Chạp (Sửu =Trâu).


Nhưng tại sao, thời kỳ xa xưa đó lại đặt tháng Giêng là tháng đầu năm mà không gọi là tháng Một?


Theo thiển nghĩ của tôi, bởi vì lúc bấy giờ, dưới thời quân chủ còn Vua Chúa, thường dành con số Một để chỉ nhà Vua, là thiên tử (con trời) để cai trị dân chúng tức nhứt nhân (người đứng đầu, người lớn hơn hết), từ đó trong thiên hạ phải kiêng cử, cho nên mới đặt tháng Giêng?
Ngoài ra, khi sanh con đẻ cái cũng không thể gọi con đầu lòng là con Một mà chỉ gọi là con Trưởng hay con Hai hoẵc con Cả, vì sợ húy kỵ đến nhà vua, bằng chứng ở Việt Nam không có nhà nào gọi con đầu lòng là con Một là thế đó !.


Còn tháng Giêng tại sao là Tháng Dần ?


Căn cứ theo sách xưa, xin trích dẫn như sau :


Nhân sinh ư Dần


(Loại người sanh ra ở hội Dần).


Nhứt niên chi kế tại ư Xuân


(Kế hoạch trong 1 năm phải được sắp đặt ở mùa Xuân)


Nhứt nhựt chi kế tại ư Dần


(Kế hoạch trong 1 ngày phải sắp đặt ở giờ Dần).


Hơn nữa, trong 12 con Giáp, con Cọp là chúa sơn lâm, rất mạnh bạo hơn 11 con Giáp kia, cho nên người xưa chọn tháng Giêng là tháng Dần cho con Cọp cầm tinh là như thế?


Người xưa, tại sao tháng gọi tháng Chạp là tháng cuối năm mà không là tháng Mười Hai như năm Dương Lịch?


Theo thiển nghĩ của tôi, nước chúng ta thời bấy giờ phần đông làm ruộng, cho nên tháng cuối cùng của một năm, ruộng đã làm xong, đã đem lúa vô bồ, vì thế phần đông dành thời gian này lo các lễ cúng, tiệc tùng để tạ ơn Thần Nông hoặc cúng Đình Thần sau khi vụ mùa đã hoàn tất, hết nhà này đến nhà khác, có khi kéo dài cho đến Tết Nguyên Đán.
Hơn nữa, chữ Chạp là lễ cúng. Vì thế, nó còn có các tên lễ cúng khác như : Giỗ Chạp, Chạp Miếu, Chạp Mả...


Do vậy, thay vì gọi tháng Mười Hai là tháng Chạp là thế đó !.
<>Trung Trực (Rạch Giá) là người có công trạng chống Pháp, nên sau khi Cụ bị quân Pháp chặt đầu, Cụ được vua ban Sắc Chỉ Thần và được thờ tại Đình Thần Nguyễn Trung Trực Rạch Giá ngày nay, nếu cần xin xem quyển Danh Nhân Việt Nam hậu bán thế kỷ 19 cùng tác giả Nguyễn Phú Thứ từ trang 161 đến trang 195) trong các ngày Lễ Cúng Đình Thần, các vị bô lão cùng Ban Hội Tề mặc áo dài khăn đóng để đi rước sắc thần, (nếu làng xã đó chưa hoàn thành Đình Thần, để an vị nơi làm lễ cúng Thần), đặc biệt phải có các học trò lễ đứng hai hàng để : dâng hương, dâng trà, dâng rượu...và lễ bái (lạy) >.


Ngoài ra, phải nói đến Hát Bộ (có người gọi Hát Bội) để cúng Thần, thông thường
Ông Hương Cả trong làng là người đứng đầu chủ xướng lễ cúng Đình và là người có thực quyền hơn hết, cho nên mỗi lần có gánh hát về hát cúng Đình, Ông Hương Cả chính là người Cầm Chầu để đánh những hồi trống chầu thưởng phạt cho nghệ sĩ, bởi vì Ông Hương Cả là bực thâm nho lại rất rành tuồng tích, kể cả cách dặm mặt và các câu hát tuồng tích của các nghệ sĩ, cho nên Ông Hương Cả cầm chầu để khen thưởng hoặc bắt lỗi các đào kép trong lúc trình diễn, vì các nghệ sĩ không thuộc tuồng hát cương, cho nên không thể bắt một người nào đó đến cầm chầu mà không rành tuồng tích.


Thời xưa, các nghệ sĩ nào được
Ông Hương Cả đánh nhiều hồi trống chầu, thì sau khi hát xong, sẽ được Ban Hội Tề (*) thưởng phẩm vật tặng riêng cho cá nhân nghệ sĩ đó.


Còn trái lại, các nghệ sĩ nào bị
Ông Hương Cả đánh Khắc là gõ bên vành trống kêu cắc cắc thì các nghệ sĩ đó bị Ông Hương Cả phạt vì hát sai, hát cương, để nghệ sĩ biết thân mà hát lại cho đúng và nghệ sĩ nào bị đánh khắc nhiều lần, sau khi hát xong sẽ bị Ban Hội Tề cùng Ông Bầu đoàn hát quở phạt. Đó là, luật lệ thưởng phạt công minh của người Cầm Chầu đối với nghệ sĩ.


Mặc dù,
Ông Hương Cả là người có thực quyền ở trong làng, nhưng những hồi trống chầu đôi khi cũng không hài lòng hết mọi người, cho nên cũng bị chê trách như thường.


Vì thế, trong dân gian mới có câu :


Ở đời có bốn cái ngu,


Làm mai, lãnh nợ gác cu, cầm chầu.


(*) Được biết, thời xưa Ban Hội Tề trong làng có 12 vị Hương Chức như sau : Hương Cả, Hương Chủ, Hương Sư, Hương Trưởng, Hương Chánh, Hương Giáo, Hương Bộ, Hương Quản, Hương Thân, Hương Hào, Xã Trưởng là người có bổn phận giữ con dấu để thâu thuế Điền, thuế Thân trong làng và Chánh Lục Bộ là người có bổn phận giữ Sổ Bộ Đời như : Khai Sanh, Khai Tử, Hôn Thú ...)


Đêm Năm Canh, Ngày Sáu Khắc


Được biết, niên lịch cổ truyền Á Đông đã xuất hiện từ đời Hoàng Đế bên Tàu, 2637 trước Thiên Chúa năm 61.


Còn đối với : Đêm Nam Canh, Ngày Sáu Khắc như thế nào ?.


Chúng ta để ý sẽ thấy : Ngày tính Khắc, Đêm tính Canh, cho nên chúng ta đã từng nghe thấy như sau :


Canh Một dọn cửa, dọn nhà


Canh Hai dệt cửi, canh Ba Đi nằm...


Hoặc là : Nửa đêm giờ Tý canh Ba


Theo thiển nghĩ, chúng ta thấy câu :


Nửa đêm giờ Tý canh Ba


thì chúng ta có thể đoán được chữ nửa đêm (tức khoảng 12 giờ đêm hoặc 0 giờ), còn giờ Tý canh Ba (tức khoảng 23 giờ đêm đến 1 giờ sáng). Bởi vì, các bậc tiền nhân dùng 12 con vật cầm tinh tuợng trưng tức12 con Giáp, để phân chia bảng Giờ trong một ngày có 24 giờ như sau :

Bảng giờ trong 1 ngày cûa 12 con giáp

Gi

Thi Gian

Gi

Thi Gian

Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng

Ngọ

Từ 11 giờ đến 13 giờ trưa

Sửu

Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng

Mùi

Từ 13 giờ đến15 giờ xế trưa

Dần

Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng

Thân

Từ 15 giờ đến 17 giờ chiều

Mão

Từ 5 giờ đến 7 giờ sáng

Dậu

Từ 17 giờ đến 19 giờ tối

Thìn

Từ 7 giờ đến 9 giờ sáng

Tuất

Từ 19 giờ đến 21 giờ tối

Tỵ

Từ 9 giờ đến 11 giờ sáng

Hợi

Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya


Căn cứ sự phân chia giờ ở trên, chúng ta thấy :


a)- Ban ngày dài được 14 giờ, còn ban đêm dài được 10 giờ và thấy được giờ Tý canh Ba, từ đó chúng ta tính được bảng 5 Canh như sau :

Tên Canh

Thi Gian

Canh 1

Từ 19 giờ đến 21 giờ tức giờ Tuất

Canh 2

Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya tức giờ Hợi

Canh 3

Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng tức giờ Tý

Canh 4

Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng tức giờ Sửu

Canh 5

Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng tức giờ Dần


Do vậy, nếu chúng ta đem so sánh Canh với giờ, thì có hai giờ bằng một Canh và nếu đem so sánh bảng Giờ trong một ngày của 12 con Giáp ở trước sẽ thấy đúng.


b)- Mỗi ban ngày dài 14 giờ, đươc chia cho 6 khắc như bảng sau đây :

Tên Khắc

Thời Gian

Tên Khắc

Thời Gian

Khắc 1

Từ 5 giờ đến 7 giờ 20 sáng

Khắc 4

Từ 12 giờ đến 14 giờ 20 xế trưa

Khắc 2

Từ 7 giờ 20 đến 9 giờ 40 sáng

Khắc 5

Từ 14 giờ 20 đến16 giờ 40 chiều

Khắc 3

Từ 9 giờ 40 đến12 giờ trưa

Khắc 6

Từ 16 giờ 40 đến 19 giờ tối

Như vậy, nếu chúng ta đem so sánh Khắc với Giờ, thì có 2 giờ 20 phút bằng 1 Khắc. Bởi vì, ban ngày dài 14 giờ, đem chia đều cho 6 Khắc, thì đuợc 140 phút, tức là 2 giờ 20 phút.


Thế nên, chúng ta thường thấy câu : Đêm Năm Canh, Ngày Sáu Khắc là quả đúng vậy.

BÙI MỸ DƯƠNG * KÝ


Tôi Nhìn Tôi
Bùi Mỹ Dương

Tôi là con gái lớn của một gia-đình trẻ, trung-lưu. Người ta thường gọi những bản nhạc hay những bài thơ dễ thương làm vào những niên-đại đó là: thời “Tiền-chiến”, nghĩa là trước Thế-chiến Thứ Hai. Cụ Bùi-Viện làm quan dưới triều vua Tự-Đức là anh ruột cụ nội tôi. Cụ là một nhà văn-học tiên-tiến; ngoài ra cụ còn lập đội hải-quân tuần-duyên giữ an-ninh cho miền biển. Các cụ em nếu không đỗ làm quan là những người gương mẫu giáo-dục dân làng. Cụ nội và ông nội tôi cũng theo con đường vạch sẵn vì thế gia-đình thanh-bạch.

Bố tôi là lớp người trẻ chữ Nho (Hán) dần được thay thế bằng chữ Quốc-ngữ như nhà thơ sông Vị đã than: “Nào có ra gì cái chữ Nho, Ông Nghè, ông cống cũng nằm co” Nhà nghèo việc theo Tân-học rất khó-khăn vì phải lên tỉnh lớn mới có trường, bố tôi cũng chịu bao cay đắng nhưng với sự cố-gắng, ông là người đầu tiên có bằng trung-học Pháp (Dipplome) trong làng. Ông nội mất sớm, bố tôi phải vào trường nghề: trường Sư-phạm, sau là trường Bưởi, tiền-thân của trường Chu-văn-An.

Mẹ tôi, con gái một; ông ngoại là họa-sĩ truyền-thần. Cụ thức-thời nên mẹ được đi học, bà nói, viết thông-thạo Pháp-ngữ, ăn mặc theo thời-trang bấy giờ như những cô gái tả trong tiểu-thuyết của “Tự-lực văn-đoàn”: áo dài Lemur của họa-sĩ Cát-Tường, đầu vấn tóc trần, lông mày kẻ cong. Sống ở tỉnh nên bà giỏi nữ-công gia-chính: đan, thêu, cỗ bàn. Bố tôi có tài làm thơ, viết văn. Khi còn là học-sinh ông đã có bài đăng trong báo Loa, Ngày Nay, và sau này như Tự-Do, Chính-Luận v.v. cùng những thơ, kịch cho Đài Phát-thanh Sài-Gòn. Bà nội tôi kể khi có mang con, bà đã được “giáo thai”vì cụ nội tôi đọc và giảng-giải thơ văn cho nghe với hy-vọng bố tôi thích văn thơ.

Theo học về ngành giáo-dục ông đã dành cả đời cho công-cuộc viết sách giáo-khoa rồi lại chủ-trương nhà xuất-bản Nhật-Tảo với mục-tiêu là giáo-dục giới trẻ: trồng người. Ông là tác-giả của trên 200 bộ sách được Bộ Giáo-dục VNCH dùng làm sách giáo-khoa trong các trường học tại Việt-Nam. Với hoài-bão thương yêu tuổi trẻ ông chủ-trương tờ báo Tuổi-xanh. Ra hải-ngoại, sợ nếu không được chăm sóc thì thế-hệ tương-lai sẽ là một lũ lai căng mất gốc vì thế những cuốn sách học chữ Việt và bộ Việt-sử Bằng Tranh lại ra đời. Chúng tôi gồm 6 chị em: 2 gái, 4 trai. Tôi là chị cả và cô em gái áp út.

Như đã nói bố tôi là nhà giáo, viết rất nhiều sách giáo-khoa nên chị em chúng tôi cũng được chăm sóc rất cẩn-thận. Thời-kỳ Kháng-chiến, trường-sở bị phá-hủy, việc học của tôi luôn bị gián-đoạn. Khi lên Hà-nội, còn đang học Lớp Nhì, vì loạn-lạc chạy giặc nên chữ nghĩa chẳng là bao. Tôi học lại lớp mà cũng không theo kịp. Tính nhân hay chia hai con cũng làm không thông, rồi bài do cô giáo đọc tại lớp, ghi cũng không kịp. Bố tôi hiểu và kiên-nhẫn dìu-dắt bằng cách là vẫn cho theo học tại trường nhưng về nhà dạy thêm. Ngày nào cũng hai bài toán và một bài luận-văn. Nhờ thế Lớp Nhất (Lớp Năm) tôi theo kịp các bạn dễ-dàng và vượt qua cửa ải với cái “Bằng Tiểu-học”. Những bạn tại trường Sinh-Từ khi học Lớp Nhì với cô Liên-Dung, Lớp Nhất với bà Nguyễn-thị-Thơm tôi còn nhớ vài người bạn như: Hưng, Ngà, Oanh, Học, Hòa, Bích-Ngọc, Liên, Lan và nay tình-cờ một cô bạn ưu-ái tìm tới: Nguyễn-thị-Thủy mà chính kẻ này không nhớ!

Có thể bạn tôi hiền-lành nhút-nhát nên không có ấn-tượng nào trong đầu cô bé mới chớm tuổi “teen”. Ở ngoài Bắc trường trung-học công-lập chỉ có: Chu-văn-An, Nguyễn-Trãi cho nam-sinh và duy nhất một trường cho nữ-sinh là trường Trưng-Vương. Thật khó-khăn vì học-sinh đông mà sĩ-số nhận rất ít nên ước-vọng hầu như viển-vông và không-tưởng cho con bé nhà quê như tôi. Để giúp, bố tôi cố gắng nhồi và tôi cố nuốt bằng những bài toán, nào là xe chạy ngược chiều, xuôi chiều bao giờ gặp nhau? Bao lâu đi hết quãng đường? Cái vòi chảy ra, cái vòi chảy vào, tỷ-trọng, người buôn trâu bò, gà vịt, tính cho ra số chân của chúng? rồi bán cam, quít với phân-số-thức thật là rắc-rối nhức óc. Những bài luận-văn nào tả cảnh, tả tình, bình-luận ca-dao, châm-ngôn v.v. bài học sử, địa, vệ-sinh, khoa-học thường-thức, văn ôn võ luyện mờ người. Ông Trời thấu lẽ nên đã cho “ngáp phải ruồi” và con bé được nhận vào trường nữ- trung-học Trưng-Vương. Bố mẹ hài lòng vì bõ công dạy-dỗ, còn tôi thì vui và hãnh-diện và từ nay nếp sống có phần thay đổi. Lên trung-học tôi không phải cuốc bộ mà thay bằng chiếc xe đạp mới láng-cóong, áo cộc thay bằng áo dài tha-thướt đẹp ơi là đẹp. Sách vở nhiều nên được mua cặp da. Oai quá phải không các bạn?

Chương-trình học thêm nhiều môn nào là toán gồm Hình-học, Đại-số. Khoa-học có Vật-lý, Hóa-học, Vạn-vật. Sử có sử Việt-Nam, sử Thế-giới, Việt văn, sinh-ngữ Anh-văn hay Pháp-văn. Mỗi môn học là cô hay thầy riêng nên vui vì có sự thay đổi trong từng giờ học. Một số bạn tại trường Trưng-Vương đã cùng vào miền Nam nên đã là những người bạn thân tới khi ra trường như Diệu-Vinh, Uẩn-Ngọc, Giáng-Tuyết, Nguyễn-thị-Tâm. Đất nước chiến-tranh, trẻ con phần lớn thất-học vì loạn-lạc. Lũ chúng tôi bắt đầu vào trung-học hơn hoặc kém cũng chỉ khoảng 11, 12, 13 tuổi là cùng. Vừa rời khỏi tiểu-học nên cách chơi, cách sống vẫn còn vương-vấn những trò chơi trẻ con. Năm Đệ-thất lũ mán mường ngây-ngô đã quen với bè-bạn và khung trời mới nhưng rồi biến-cố lớn xẩy đến: đất nước bị chia cắt, miền bắc vĩ-tuyến 17 thuộc vào tay Cộng-sản, và miền nam vĩ-tuyến thuộc chính thể Quốc-gia. Đã có kinh nghiệm với Cộng-sản nên trên một triệu người đã rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn di-cư vào Miền Nam nắng ấm để hưởng không-khí tự-do. Gia-đình tôi là một phần-tử trong đám người đó, ra đi với niềm luyến-tiếc khôn nguôi về nơi chốn đã bao đời sinh sống.

Theo gia-đình vào Miền Nam, cùng trong một nước khoảng cách chỉ chừng trên 1000 cây-số nhưng vì loạn-lạc, phương-tiện giao-thông lại khó-khăn nên hai miền cách-biệt làm cho người đi có cảm-nghĩ bất-ổn như vào nơi nguy-hiểm đầy sương-lam, chướng-khí Sài-gòn thủ-đô của Miền Nam tự-do nơi gia-đình tôi chọn làm đất dung thân: Sài-gòn rộng lớn, xa-hoa, phồn-thịnh. Mới di-cư nên chúng tôi phải học nhờ trường nữ-trung-học Gia-Long một ngôi trường đồ-sộ và đẹp.Vì kẻ đi người ở, để đủ sĩ-số trường tuyển lựa thêm. Chúng tôi quen thêm bạn mới, mỗi lớp chừng 50 học-sinh. Lũ bạn cũ cũng bị phân-tán ra nhiều lớp khác nhau nên thương thương nhớ nhớ chúng tôi tìm nhau và quen thêm được các bạn đồng-niên-khóa. Khóa học chúng tôi có 5 lớp nhưng sau năm Đệ-ngũ ban giám-đốc trường muốn sự học đồng-đều giữa các học-sinh nên đã xếp lại. Vì thế một cuộc chia lìa nữa. Những bạn của lớp Đệ-tứ B2 cùng bàn gồm Lệ-Giên, Tân-Nguyên, Kim-Hân, Thúy-Nga.

Chúng tôi còn giữ liên-lạc tới bây giờ. Kỳ thi trung-học Đệ-nhất-cấp cũng làm rơi rụng ít nhiều. Năm Đệ-tam chia theo ban: người theo toán-học, người theo ban khoa-học thực nghiệm, những ai có tâm hồn thi-sĩ thì theo ban văn-chương. Chúng tôi gồm “Tứ-quái” Cương, Dung, Dương, Giang văn dốt vũ dát đành lấy công làm lãi, nghĩa là chọn ban Khoa-học Thực-nghiệm, học bài mệt nghỉ. Hăng say và ganh đua chúng tôi phải dùng tới Miss Coffee thức vì thế dung-nhan tàn-tạ, mặt mũi đầy mụn, vóc hạc xương mai, chả bù với bây giờ đều có họ với bà Phán Cảnh! Năm năm tiểu-học còn quá nhỏ song bẩy năm trung-học, vào tuổi mà cơ-thể lẫn tâm-hồn đều thay đổi, tuổi Teen hay tuổi dậy-thì, tuổi mới lớn. mới mở mắt nhìn đời, biết yểu điệu làm duyên làm dáng, biết yêu vụng nhớ thầm. Tóm lại đó là cái tuổi dễ thương và dễ yêu nhất.

Ở tuổi này tâm-hồn ngây-thơ hồn-nhiên, tuổi trăng tròn mười sáu với bao mộng mơ. Có thể ở tuổi này bộc-lộ con người thật cái “tính bản-thiện”. Ngày nay trải qua bao năm tháng ở trường đời nghĩ lại thấy thời kỳ trung-học thật là đẹp, đẹp nhất của cuộc đời. Thầy cô là mẫu-mực là ước mơ nên sau này tôi đã chọn nghề “gõ đầu trẻ”. Qua ba năm tại trường Đại-học sư-phạm Sài-gòn và hành-nghề cho tới khi mất nước. Thích thơ văn, thèm xem tiểu thuyết, mặc dầu tốt-nghiệp trung-học ban khoa-học-thực-nghiệm nhưng tôi đã theo môn văn-chương của trường Đại-học Sư-phạm Sài-Gòn.

Ban Việt-Hán chúng tôi gồm 33 sinh viên, 6 nữ và 27 nam, số bạn gái này có 3 chị sinh trưởng ở miền Nam là Phương-Chi, Cẩm-Nhung, và Tuyết-Mai còn Vũ thị Uyên, Quỳng-Giao và tôi là dân Bắc-kỳ , chúng tôi còn là bạn cùng trường Trưng-Vương nữa. Với nam sinh viên đông gấp năm nên phái nữ được cưng chiều hơn vì đã làm cho lớp có thêm sinh khí vui tươi hơn. Văn chương Việt-Nam chịu ảnh hưởng của Trung-hoa nên phải học và tìm hiểu về chữ Hán cũng như chữ Latin trong văn chương Anh Mỹ. Lớp học chuyên về văn nhưng có hơn 2/3 sinh viên tốt nghiệp trung-học ban khoa-học, có thể với tinh thần khoa-học sẽ khám phá được cái hay cái đẹp trong văn chương một cách chính xác chăng?


Chúng tôi hãnh-diện được thụ giáo cụ nghè cuối cùng của triều Nguyễn : cụ nghè Nguyễn sĩ-Giác, các cụ Tú của thời cổ học xa xưa: cụ Trần văn Thược, cụ Vũ Huy-Chiểu, cụ Thẩm-Quỳnh, cụ Phan thê-Roanh có thêm chút Tây học trong Hán văn. Cụ Nguyễn khắc Kham dạy Quan-thoại, thầy Trần trọng-San dạy thơ Đường, thầy Nguyễn sĩ-Tế dạy văn chương Việt-Nam, thầy Nguyễn khắc-Hoạch dạy những tác phẩm văn chương chữ Nôm, thầy Nguyễn huy-Bảo dạy phần sư-phạm, thầy Nghiêm-Toản dạy cách soạn bài và giảng một bài văn bậc trung-học. Công ơn các thầy đã giúp tôi giảng dạy lũ hậu bối và hành nghề cho tới ngày rời quê-hương.

Nhớ khi sắp mãn-khóa cả lũ lo sợ ngày tốt nghiệp thứ nhất là phải chia tay, phải vào đời với cuộc sống thực tế không còn hưởng thời gian thơ mộng, tươi đẹp của những ngày còn là sinh-viên. Nhưng rồi mọi việc cứ tiến theo vòng quay của vũ-trụ, chúng tôi được phân phối theo nhu cầu của các trường sở tứ tán khắp nơi, sau này may mắn là gặp nhau ở những hội đồng chấm thi mà thôi. Tôi lập gia-đình vào năm cuối cùng của đại-học , chồng tôi là quân-y-sĩ nên phải ra chiến trường chu toàn bổn phận người trai thời chiến. Nhiệm sở đầu tiên là tỉnh Pleiku nơi địa đầu giới tuyến. Giáo sư Nghiêm-Toản giảng tác phẩm “ Chinh phụ ngâm” thường mang tôi ra hỏi về nỗi khắc-khoải lo âu của người chinh-phụ khi có chồng đi chiến đấu miền xa. So sánh giữa tâm trạng của chinh phụ ngày xưa và tâm trạng của tôi ngày nay?

Hoàn cảnh chiến tranh các thanh niên lo bảo vệ non sông vì người xưa đã xác quyết nhiệm vụ: “Quốc-gia hưng-vong thất phu hữu trách”, quốc biến gia vong nên các thanh niên thời đó đều là quân nhân. Đó là con đường học vấn của tôi, cũng như mọi người tôi có người yêu và đi tới hôn nhân. Tôi còn nhớ mấy câu thơ chúc mừng của thầy tôi cụ Tú Trần văn Thược tặng nhân ngày lễ vu qui. “Nguyễn Bùi hai họ kết tình thân, Nghĩa thắm nay hơn cả Tấn-Tần ……. Duyên lành tài-tử sánh giai nhân “ Dạy trẻ cứu người cùng nỗ-lực, Vợ chồng vui sống một đời xuân.” Đời quân ngũ nay đây mai đó khi lên núi “Pleiku” lúc xuống biển “Gò công”, phận gái theo chồng vì thế nơi sinh của các con mang nhiều địa danh của đất nước thân yêu: Sàigòn, Pleiku, Chợ Lớn.

Tưởng cuộc đời như vậy cũng tạm ổn đối với phận nhi-nữ thường tình nhưng năm 1975 cơn hồng-thủy ập xuống khiến cả nước đau thương, người dân liều mạng đi tìm lẽ sống. Gia-đình tôi cũng trôi nổi theo vận nước, bao công lao gây dựng nay tan theo mây khói, với hai bàn tay trắng và bốn con thơ lạc loài nơi xứ lạ. Chúng tôi phải gây dựng từ đầu với bao trở ngại bủa vây nào tuổi đời chồng chất, ngôn ngữ mới, sống giữa môi trường lạ , phong tục tập quán khác hẳn. Bao năm mài đũng quần ở trường để có một nghề, bỏ nước ra đi là mất tất cả , học nói, học viết, học nghề mà chỉ trong một thời gian ngắn để tự kiếm sống nuôi gia-đình. Rút ngắn thời gian tôi phải gánh trách nhiệm lo kinh-tế cho chồng yên tâm học lấy lại bằng hành nghề, hy vọng cuộc sống sẽ khá hơn.

Với đàn con chúng tôi đặt trọng tâm vào việc xây dựng tương lai cho chúng, mặt khác giúp các con giữ được tinh thần, ngôn-ngữ, lối sống Việt-Nam. Lưu lạc trên quê hương thứ hai gần 30 năm, con cái trưởng thành có nghề nghiệp tốt và may mắn hơn nữa là chúng giữ được bản sắc dân-tộc. Mừng vì không mang mặc cảm với gia-đình, Tổ-quốc, dân-tộc là các con vẫn còn là người Việt: nói tiếng Việt, viết chữ Việt, lối sống vẫn theo phong-tục tập-quán nề nếp của người Việt-Nam, nhất là có tinh thần quốc-gia vững mạnh. Các cháu lớn viết và nói tiếng Việt thông thạo vì khi sang Mỹ chúng đã 10,8,6 tuổi chỉ có cháu út mới 11 tháng, tuy nhiên nếu chỉ dừng ở đó thì qúa thiệt thòi. Với chiều dài lịch-sử hơn 4000 năm, một nền văn chương phong-phú chữ Hán, Nôm, và chữ Quốc-ngữ nên chúng tôi hướng dẫn và đào xâu hơn bằng mọi phương tiện. Nơi đây không có trường nên sách vở là ông thày đắc lực nhất cho việc trau-dồi kiến thức.

Làm các cháu hãnh diện là người Việt-Nam qua những trang chiến sử oai-hùng lập quốc và giữ nước bằng cuốn Việt-Nam sử-lược của cụ Trần trọng-Kim. Những áng văn chương chữ Hán và chữ nôm của các thi hào Nguyễn Du, Đoàn thị-Điểm, Nguyễn gia-Thiều, Nguyễn đình-Chiểu, Lê thánh-Tôn, Nguyễn bỉnh-Khiêm, Nguyễn công-Trứ, Cao bá-Quát, Trần tế-Xương, Nguyễn-Khuyến, Tản-Đà v…v… Qua thời đại chữ quốc-ngữ với bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, kể tượng trưng như nhóm Tự-Lực-Văn-Đoàn, các thi sĩ thời tiền chiến v..v… Lối dậy là làm sao cho chúng thích thú rồi sau đó chúng tự tìm tòi và học hỏi thêm, bằng chứng là các cháu ham đọc và mua rất nhiều sách viết về quê-hương Việt Nam, văn chương cũng như lịch-sử.

Cháu thứ ba còn học thêm chữ Nôm và đã được nhà khảo cứu chữ Nôm Nguyễn bá-Triệu cho cùng hợp soạn và hiệu đính lại những tác phẩm cổ như: Phan-Trần, Chinh phụ ngâm, Bần nữ thán, truyện Kiều v..v..Ngoài ra cháu cũng làm được thơ Lục bát, song thất lục bát, thơ Đường, và hát nói, câu đối. Cháu Út sang đây còn rất nhỏ cũng đọc thông viết thạo, phát âm tiếng Việt rất chuẩn .

Năm 1975 những người Việt di cư đã bỏ phiếu bằng chân là chối bỏ chủ nghĩa Cộng-sản, các cháu cũng được dạy và cho biết lý-do của cuộc di cư để sau này chúng có một lập trường Quốc-gia vững chắc không mắc mưu tuyên truyền của Cộng-sản. Xa đất nước hơn nửa thế-kỷ giờ đây tuổi hạc đã cao, đã là những lão ông, lão bà, câu “sinh hữu hạn, tử vô kỳ” có nghĩa là ngày sinh ra đời định trước được còn ngày về quê về núi thì không ai biết? Giờ đây cũng tạm yên tâm vì các con đã khôn lớn đủ trí khôn tìm về nguồn, hãnh-diện về lịch-sử và văn-hóa Việt-Nam. Cám ơn Cuộc đời, Tổ-Tiên, Ông bà, Bố Mẹ, trường-sở, thầy cô-giáo, chồng con , các em, họ-hàng, bạn hữu đã cho, đã làm cho cuộc đời thêm ý nghĩa và gía-trị.

Đây là tâm sự của một người đã sống gần hết cuộc đời với bao vinh nhục vui buồn nhưng vẫn biết ơn và yêu đời vì nghĩ mình vẫn được ưu đãi, thương yêu. Nam California 11/04. Bùi Mỹ Dương