Saturday, February 9, 2019

SƠN TRUNG * NHỮNG LÀNG KỲ LẠ Ở VIỆT NAM

 Ở Việt Nasm có nhiều ngôi làng kỳ lạ. Sau đây là một số làng tiêu biểu:

I. Ngôi làng “hình cá chép” độc nhất

Làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, Nam Định vốn có tên gọi là “Hành Cung Trang” được thành lập vào khoảng năm 1500. Đến năm 1823, vua Minh Mạng cho đổi tên thành Hành Thiện với ý nghĩa “nơi chỉ làm những điều lành, điều thiện” và ban cho làng 4 chữ “Mỹ Tục Khả Phong”. Điều đáng khâm phục là ngay từ khi lập làng các cư dân nơi đây đã có ý thức quy hoạch một không gian sống hết sức khoa học, quy củ: hình cá chép.


Bao quanh làng là hai nhánh của một con sông nhỏ rộng khoảng 7m, được gọi là sông Con (để phân biệt với sông Cái – sông Ninh Cơ là một nhánh của sông Hồng). Theo các bậc cao niên trong làng, có hai giả thiết về việc hình thành lên con sông này.
Giả thiết thứ nhất cho rằng chúng được tạo thành một cách tự nhiên, những cư dân đến ở chỉ là người khai khẩn, chỉnh trang lại như địa thế ngày nay. Giả thiết thứ hai được nhiều người tán thành hơn, đó là chính những cư dân đầu tiên đã “quy hoạch” ngôi làng và tiến hành đào lên hai con sông theo ý đồ trước đó, nhằm mục đích phù hợp với phong thủy và ngăn giặc cướp.
Điều làm nên sự kì ảo của hai nhánh con sông này chính là việc nó đã tạo hình dáng con cá chép của ngôi làng. Nhìn từ trên cao, hai nhánh con sông như những đường viền ngăn cách ngôi làng với vùng đất bên cạnh, khiến cho khu đất bên trong hiện lên hình dáng “lý ngư”, những cây cầu xung quanh làng cũng được xây dựng ở vị trí tương ứng với các loại vây trên mình cá, tại phần đầu cá còn có một chiếc giếng khơi, nước trong vắt nên được gọi là giếng Mắt cá.
Nếu coi làng Hành Thiện như một chú cá chép thì vùng đất từ giữa bụng cá trở lên đến mang cá được quy hoạch làm nơi sinh sống của dân cư trong làng. Trong khu vực này hình thành lên 14 dong (xóm), mỗi dong cắt ngang theo thân cá như chia khúc, gồm một con đường chạy dọc ở giữa và các ngôi nhà được xây dựng hai bên. Phần đầu cá được quy định làm nơi họp chợ của cả làng, tại đuôi cá là khu nghĩa trang và chùa miếu để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân.
Nhìn tổng thể mặt địa lý làng Hành Thiện ta không thể không khâm phục óc tưởng tượng của các cư dân cách đây hơn 510 năm, theo như tài liệu để lại, trước đây toàn bộ đường đi trong làng đều được lát đá xanh, “mưa gió bùn đất không bén gót chân”, bên cạnh đường xóm là rãnh thoát nước được xây bằng gạch mộc, chính vì thế làng không bao giờ phải chịu cảnh ngập lụt bởi tất cả nước mưa, nước sinh hoạt đều theo các rãnh này chảy ra hai nhánh con sông quanh làng và từ đó thoát ra sông Ninh Cơ.
Ngày nay về cơ bản làng vẫn giữ nguyên hình dạng như thửa sơ khai…

II. Làng xây bằng tiểu sành trộn mật ong

Đó là làng Thổ Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Vốn làng có nghề gốm cho nên từ nhiều đời nay, người dân tận dụng những chiếc tiểu sành (đựng hài cốt) vỡ, hỏng không bán được để xây tường.

Làng gốm Thổ Hà xây nhà bằng tiểu sành và mật ong. Ảnh: Bee

Chính bởi những tiểu sành này rỗng bên trong, lại có những lỗ nhỏ bên ngoài nên được loài ong “tận dụng” làm thành tổ của mình. Vì thế, mỗi bức tường nhà của người dân Thổ Hà có đến vài ba chục đàn ong sinh sống.
Mặc dù vậy, như một thứ luật bất thành văn, chủ mỗi ngôi nhà có ong trú ngụ không bao giờ được lấy mật bởi có thế khiến chúng bỏ đi hoặc tấn công nguy hiểm. Đã có trường hợp, kẻ chộm vào nhà người dân nơi đây lấy chộm mật và bị ong đuổi cho chối chết.

III. Làng trai ở vậy… cho gái thèm

Bộng Dầu (Quảng Nam) nơi vốn nổi tiếng với trái bòn bon từng được mệnh danh là “Nam trân” (trái quý ở phương Nam) hàng chục năm qua còn mang tên là xóm đàn ông độc thân.

Đàn ông Bộng Dầu trở về quê hương sau tháng ngày bôn ba. Ảnh: SK&ĐS

Làng có 28 hộ với gần 150 người nhưng đến nay đàn ông trong xóm đa phần đã đến độ tuổi kết hôn mà vẫn chưa lập gia đình. Người ta đến với làng này trước sau chỉ thấy đàn ông không vợ.  Không phải vì đàn ông xứ này có vấn đề về sinh lý, bởi những lần tụ lại bên mâm rượu, chủ đề của họ vẫn là phụ nữ, vẫn nói chuyện gái trai như bao người khác. Cũng không phải họ tôn thờ chủ nghiã tự do, không muốn ràng buộc vợ con mà phần nhiều là do hoàn cảnh. Đa số đàn ông ở Bộng Dầu rất nghèo và có hoàn cảnh đặc biệt phải ở vậy…
Cái nghèo khiến đàn ông làng Bộng Dầu cũng đã bôn ba khắp trong Nam, ngoài Bắc với nhiều nghề để sống nhưng rồi cuối cùng quay trở về cố hương để đi phụ hồ, làm cát sỏi kiếm ngày dăm bảy chục ngàn nuôi thân và nuôi cha mẹ già. Vì thế họ luôn canh cánh một nỗi niềm: lấy vợ rồi sống bằng gì, có lo được cho gia đình không hay lại làm khổ vợ, khổ con.
Giờ đây, ánh điện đã thắp sáng khắp nơi, những phương tiện truyền thông liên lạc hiện đại đã có thể đến từng góc nhà của xóm Bộng Dầu, hy vọng một ngày không xa, những người đàn ông Bộng Dầu không còn phải đơn độc.

IV. Làng ăn sâu bọ ở Tây Nguyên 

Đầu mùa mưa, các loại sâu ăn lá không biết từ đâu về “cập bến” Tây Nguyên làm hại mùa màng của dân. Lúc đầu là số sâu đếm trên đầu ngón tay, về sau, sâu sinh sôi nảy nở nhanh chóng và có mặt ở khắp các cành cây, ngọn lá.

Loài sâu muồng được ưa chuộng ở Tây Nguyên. Ảnh: Infornet

Dùng thuốc trừ sâu nhưng tác dụng với loài sâu muồng phá hại cây cối mùa màng, người dân ở một số huyện các tỉnh Tây Nguyên đã nghĩ ra biện pháp “lấy độc trị độc”: bắt  “giặc cây” đem về chế biến thành món ăn.

Ban đầu khi mới ăn sâu, không ít người dân sợ bị bệnh tật vào người nhưng sau này ăn nhiều họ lại trở nên nghiện món ăn quái đản này. Khi rảnh rỗi một số người dân lại cùng những chiếc rổ nhựa, vài cái gậy đi đến các cây muồng bắt sâu đem về ăn. Sâu nhiều đến nỗi đi bắt chỉ trong vòng chưa đầy 30 phút đã đầy một rổ nhỏ.
Sâu được bà con nơi đây chế biến thành nhiều món như: hấp, rán, xào, nướng.

 V. Làng sử dụng ngôn ngữ riêng


Làng Đa Chất sử dụng ngôn ngữ cổ có từ thời Âu Lạc

Làng Đa Chất (Phú Xuyên) nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 40 km, dân trong làng sử dụng một thứ ngôn ngữ riêng biệt để nói chuyện với nhau hàng ngày nên nếu không có phiên dịch, chắc chắn bạn sẽ có cảm giác mình lọt vào một... đất nước khác, hoặc đang ở chung với... dân tộc khác. Nguyên nhân nằm ở chỗ làng Đa Chất xưa vốn có nghề làm cối xay, để giữ bí mật nghề nghiệp, những người thợ đã tạo ra một thứ tiếng riêng mà chỉ người trong nghề mới hiểu, thứ tiếng đó đã được truyền qua nhiều thế hệ cho tới tận ngày nay.




VI. Làng “đầu thai”


Vùng núi Hòa Bình ẩn giấu rất nhiều câu chuyện kỳ lạ liên quan đến tâm linh

Tỉnh Hòa Bình có rất nhiều câu chuyện kỳ lạ liên quan đến đời sống tâm linh, trong những thập niên gần đây lại càng nở rộ câu chuyện “đầu thai” tại các bản làng thuộc xã Chiềng Châu (Mai Châu, Hòa Bình). Đó là câu chuyện của những đứa trẻ sinh ra hoàn toàn bình thường, đến khi biết nói (tầm 3 – 4 tuổi) lại tự nhận mình là người của những gia đình khác cách xa đến cả chục cây số, dù trước đó hai gia đình không hề quen biết nhau, các bé còn có thể tả vanh vách đường đi, vật dụng trong “ngôi nhà xưa” mặc dù chưa đi đến đó lần nào.

VII. Làng “khổng lồ”


Hầu hết người dân trong thôn Đình Tràng đều có đôichân dài"quá khổ"

Thôn Đình Tràng (Phủ Lý, Hà Nam) được gọi là làng “khổng lồ” vì vóc dáng cao lớn của người dân nơi đây. Chiều cao trung bình của nữ giới trong thôn là 1,70m, còn nam giới là 1,8m. Đây là chiều cao đáng mơ ước có thể sánh với các nước châu Âu. Hai anh em Ngô Văn Công và Ngô Văn Kiều đều cao trên 1,90m, là tuyển thủ của bóng chuyền Việt Nam.

VIII. Làng sinh đôi


Ấp Hưng Hiệp là làng có nhiều cặp song sinh nhất Việt Nam

Ấp Hưng Hiệp, xã Hưng Lộc, tỉnh Đồng Nai là nơi có nhiều cặp sinh đôi nhất Việt Nam. Ở ấp có tới hàng chục cặp sinh đôi, lớn tuổi nhất đã ngoài 60, nhỏ nhất mới chỉ 2 – 3 tuổi. Toàn xã Hưng Lộc hiện nay có khoảng 100 cặp sinh đôi thì chỉ riêng ấp Hưng Hiệp đã chiếm tới 70 cặp.


IX. Làng không có liệt sĩ


Cây đa Tân Trào - biểu tượng của cách mạng Việt Nam

Làng Tân Lập, xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang là ngôi làng duy nhất ở Việt Nam không có Liệt sĩ mặc dù ở làng đã có tới 104 thanh niên lên đường ra trận, chiến đấu ở những chiến trường ác liệt nhất trên khắp cả nước. Làng chỉ có 2 thương binh và 2 bệnh binh, còn lại đều an toàn từ cuộc chiến trở về. Người làng cho rằng chính các vị thần linh thiêng trong đình Tân Trào đã phù hộ để có được điều kỳ diệu này.

X. Làng dựng tường bằng tiểu sành


Làng gốm Thổ Hà có tục xây tường bằng tiểu sành

Làng Thổ Hà tỉnh Bắc Giang vốn có nghề làm gốm lâu đời nên từ xưa đến nay, người dân trong làng đã tận dụng những chiếc tiểu sành vỡ, hỏng, không bán được để làm vật liệu xây tường. Những chiếc tiểu sành rỗng ruột này lại trở thành nơi trú ngụ của bầy ong, thường thì bức tường nào ở làng Thổ Hà cũng có vài tổ ong sinh sống. Đi giữa những bức tường làm bằng tiểu sành, thi thoảng lại nghe thấy tiếng vo ve kỳ dị này, không ít người phải rợn tóc gáy.


XI. Làng không có cửa


Các ngôi nhà trong làng thường không xây cửa ra vào

Ấp Xóm Mũi ở Cà Mau là một ngôi làng cực kỳ thân thiện, an toàn đến mức hơn 80% các ngôi nhà ở đây không cần xây cửa ra vào. Vậy mà chưa nhà nào bị trộm “ghé thăm”. Có lẽ do người dân khu vực này chất phác, không tham lam, làng lại nằm ở nơi hẻo lánh, chỉ có một con đường độc đạo dẫn vào nên không kẻ trộm nào dám tới.
X.Làng không chồng ở Nghệ An
Ngôi làng không hề có bóng dáng một người đàn ông, không phải vì họ đã hi sinh trong chiến tranh mà bởi những người phụ nữ nơi đây đều quyết định có con mà không cần đến chồng.


XII. Chuyện làng Trinh Tiết

Trên đường vãn cảnh Chùa Hương, ngang qua xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức (Hà Nội), sẽ dễ dàng bắt gặp một cái cổng làng sơn vàng, mái cong. Cổng được xây dựng khá công phu và hoành tráng, trên cổng đắp hàng chữ to mang tên “Làng văn hóa Trinh Tiết”.
Dulichgo
Lần đầu tiên khi thấy tên ngôi làng này, anh đồng nghiệp đi cùng tôi đã ôm bụng cười rũ rượi đến nỗi tí nữa thì va vào xe của người đi bên cạnh. Xã hội phong kiến xưa kia nặng về quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” và rất coi thường phụ nữ, những công việc trọng đại ở làng xã “phàm” phụ nữ không được tham gia. Ấy thế mà cả mấy nghìn dân ở nơi này lại lấy chữ trinh tiết, những từ ngữ nhạy cảm về người con gái làm tên của làng mình.

Buồn cười vì lạ vậy thôi chứ đi tìm hiểu về gốc rễ việc đặt tên làng này mới thấy cũng khá thâm sâu. Theo người dân địa phương, làng vốn có tên là Bối Lang, sau đó lại đổi thành làng Sêu, nổi tiếng khắp vùng vì có nhiều cô gái xinh đẹp, dịu dàng, đảm đang.

Tương truyền người mẹ của Thành Hoàng làng Triệu Quốc Bảo là một phụ nữ nhan sắc tuyệt trần. Sau khi sinh hạ con trai thì người chồng qua đời. Kể từ đó, bà ở vậy một mình thờ chồng nuôi con. Dung nhan xinh đẹp lại phải sớm chịu cảnh mẹ góa con côi nên trong làng có rất nhiều chàng trai giàu có đến ngỏ lời cầu hôn nhưng đều bị bà từ chối.
Đến thế kỷ XI, khi Vua Lý Thánh Tông du thuyền trên sông Đáy và được người dân nơi đây kể cho nghe câu chuyện về người phụ nữ thủ tiết thờ chồng nuôi con thành tướng giỏi, Vua đã vô cùng xúc động. Nhà vua đã lập tức đổi tên làng Sêu thành làng Trinh Tiết.
XIII. Ngại ngùng làng Tè

Tạm rời câu chuyện cảm động về làng Trinh Tiết, chúng ta ghé về làng Tè. Làng Tè nằm tại xã Song Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội gần 80km. Không biết dụng ý của người xưa như thế nào nhưng hễ nói đến từ “Tè”, không ít người dễ liên tưởng đến “cái của không thể khoe”, hoặc hiểu là cái nhu cầu “giải quyết nỗi buồn” tất yếu mỗi ngày của con người.

Khi giao du bên ngoài, được yêu cầu giới thiệu về quê quán của mình, nhiều người dân làng Tè có lẽ cũng ngượng ngùng khó nói. Về nguồn gốc tên làng, nữ Chủ tịch xã Song Vân lắc đầu không biết vì sao. Nghe đâu vì cái tên xấu quá nên người dân đã nhiều lần kiến nghị được đổi. Vậy nhưng chẳng hiểu thế nào, đến nay người làng Tè vẫn dùng tên cũ. Có lẽ nó đã gắn liền với tiềm thức, với cuộc sống của người dân mất rồi. Nhắc đến làng Tè, lại nhớ đến làng Hố Giải ở Chí Linh, Hải Dương.

XIV. Tự hào thôn Hành Lạc

Một cái tên làng cũng thuộc dạng kỳ dị bậc nhất Việt Nam là thôn… Hành Lạc. Thôn Hành Lạc cách Thủ đô Hà Nội khoảng 40km. Thôn nằm trong địa phận thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Từ Hà Nội, đi qua cầu Thanh Trì hoặc cầu Long Biên sang đất Kiêu Kị của huyện Gia Lâm, làng Hành Lạc cách Kiêu Kị chưa đến hai cây số.

Đến thôn Hành Lạc đúng là có nhiều chuyện khiến khách phải… ngất ngây. Đây là một thôn thuần nông nhất thị trấn Như Quỳnh với khoảng hơn 4.000 dân. Dulichgo
Xưa, người Hành Lạc sinh sống bằng nghề nấu rượu. Người thôn Lạc Đạo bên cạnh hay sang lấy rồi mang đi bán. Kể từ đó, khách hay nhắc đến rượu Lạc Đạo chứ ít ai biết nguồn gốc sản phẩm là do người Hành Lạc nấu.
Lạ lùng hơn nữa, trước ở vùng này người dân còn có tục gọi tên con gái là… “đĩ”. Cứ một hai gọi “đĩ” ơi về ăn cơm, “đĩ” ơi về  ngủ, “đĩ” ơi về tắm…

Có một người bạn của ông phó thôn Hành Lạc từ miền Nam ra mua men rượu, khi đã cơm no rượu say, bạn trong Nam mới “tây tây” mà hỏi rằng: “Tôi đến lạ với làng các ông. Bao nhiêu cái tên hay không đặt, lại đi chọn cái tên Hành Lạc. Nghe sao mà nó tục. Nghe sao mà nó… gợi mấy nơi ở Hải Phòng”.

“Người đen tối nên thấy cái gì cũng nghĩ đến điều đen tối” - ông trưởng thôn Hành Lạc vừa nói vui như vậy, vừa để cảnh cáo những người có ý nghĩ không tốt về cái tên đầy tự hào của làng.

Để minh chứng câu nói của mình, ông kể rõ ràng lịch sử ra đời tên làng mình: “Hành Lạc trước vốn là bãi bồi sông Hồng nhưng sau đó có bốn họ Nguyễn, Vũ, Ngô, Trần về đây lập nghiệp rồi đặt tên là trang Bình Lạc, sau đó lại đổi tên thành thôn Hòa Lạc, nghĩa là bốn họ cùng vui chung. Đến giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, có lệnh phải đổi tên làng nên các cụ đã đổi từ Hòa Lạc thành Hành Lạc. Hành Lạc theo ý các cụ là đi trên đường vui”. Còn từ “đĩ” dùng gọi con gái xuất phát từ quan niệm gọi tên xấu nuôi con cho dễ của người xưa.

Mỗi lần nghe một tên làng gợi những liên tưởng “nhạy cảm”, người viết bất giác nhớ câu nói của vị trưởng thôn Hành Lạc:  “Người đen tối nên thấy cái gì cũng nghĩ đến điều đen tối”.


No comments: