Wednesday, February 27, 2019

SƠN TRUNG * HIỆU VÀ TỰ


HIỆU VÀ TỰ

SƠN TRUNG


Người ta khi sinh ra đời đã được cha mẹ đặt cho một cái tên.Có khi đến lúc đi học thì mới xin bản khai sinh.

Người Việt Nam có nhiều cách đặt tên. Trước hết là cách đặt tên là tên Nôm và tên Hán tự.

Nguyễn Ánh, Trương Phuc Loan, Nguyễn Huệ, Trần Trọng Kim.. là tên chữ Hán. Còn tên Chí Phèo, cu Tí, Thị Mầu, Thị Nở..là tên nôm.

-Theo cây cối, hương, hoa, quả :Mít, Ổi, Xoài, Na, Lựu. Hồng, Lan, Điệp. Mận...

-Theo năm sinh:Giáp, Ất, Bính Đinh, Tí, Sửu, Dần, Mão...

-Đặt theo bộ: bộ Thủ, bộ Kim, bộ Mộc...

-Đặt theo ước vọng: Phú, Quý, Giàu, Sang, Tài, Lộc...

Người ta còn đặt hiệu nhất là các nhà văn. Hiệu của các nhà văn cũng có nhiều cách:

-nói lái: Phù Thăng( thằng Phu), Mai Liên ( Miên lai ), Thế Lữ (Thế Lữ)

-Lấy sông núi, quê hương:Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu), Hoành Linh (Đỗ Mậu)

Tự là tên để chỉ rõ cách viết hoặc ý nghĩa của tên.

Đào Trinh Nhất tự là Quán chi vì Luận Ngữ chương IV Lý Nhân có câu: 吾道一以貫之(Khổng Tử nói : «Sâm ( Tăng Sâm ) à, đạo ta chỉ có một lẽ mà thông suốt tất cả.» Tăng Tử đáp: «Vâng.» Khổng Tử đi ra khỏi cửa, môn đệ hỏi Tăng Tử: «Thế nghĩa là gì?» Tăng Tử đáp: «Đạo của thầy chỉ là trung thứ mà thôi.»).

Chữ Nhất của Đào Trinh Nhất chính là chữ Nhất trong Luận Ngữ Chương IV vậy.

Trường hợp này thì quá dễ chỉ vì chữ NHẤT có một chữ mà thôi.

Tên Trần Trọng Kim, thì chữ Kim có nhiều chữ:

金 loài kim, tiền, sắc vàng

今 kim (4n) Nay, hiện nay, bây giờ gọi là kim 今

麗 lệ, ly (19n)
: Ðẹp. Như diễm lệ 豔麗 tươi đẹp, đẹp lộng lẫy.



Vậy Trần Trọng Kim trong chữ 金,  tên Trần Trọng Kim KIM có nghĩa đẹp tức

金 loài kim, tiền, sắc vàng

Cao Bá Quát 适hiệu Chu Thần.
Cao Bá Đạt 高伯達
 Đời Chu có 8 kẻ sĩ : Bá Đạt - Bá Quát, Trọng Đột - Trọng Hốt; Thúc Dạ - Thúc Hạ, Quý Tuỳ - Quý Đa. Tám hiền sĩ đời Chu này đều là bốn cặp sinh đôi. Ông chọn hai tên trong tám kẻ sĩ đời Chu đặt tên cho hai đứa con sinh đôi của mình: Cao Bá Đạt, Cao Bá Quát là muốn cho hai con sẽ trở thành những bậc hiền tài giúp nước. Cao Bá Quát đặt tên tự cho mình là Chu thần (quan nhà Chu) cũng ngụ ý đó.
Dương Quảng Hàm ( 楊廣涵), tự Hải Lượng (海量), là nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục Việt Nam.
và  量
hàm  : Nước nươm. Như hàm nhu 涵濡 nươm thấm, cũng dùng để ví dụ với sự ân trạch. Hàm dung, độ lượng lớn lao gọi là hải hàm 海涵. Bề trong tốt đẹp mà không lộ ra ngoài gọi là hồn hàm 渾涵 hay hàm súc 涵蓄. Lấy học vấn mà biến hóa khí chất gọi là hàm dưỡng 涵養, lấy giáo dục mà chuyển di phong tục gọi là hàm dục 涵育. Hàm và Lượng cùng ý nghĩa  là tốt đẹp,

Khổng Minh tên là Gia Cát Lượng 諸葛亮. Minh là sáng, Lượng亮
Sáng. Như lượng giám 亮鑑 sáng soi.
2 : Thanh cao. Như cao phong lượng tiết 高風亮節 phẩm hạnh thanh cao
Khổng Minh  kiêu căng  quá!
NGUYỄN THIẾP

  • Thiếp thuộc bộ Thủy, đồng dạng vời chữ Xuyên bộ Thủy. 
  •  THIẾP  浹   là thấm khắp (Tự Điển Trực Tuyến VIỆT HÁN NÔM)

  • LÊ QUÝ ĐÔN (chữ Hán: 黎貴惇, 1726 - 1784), tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương[1], tự Doãn Hậu (允厚), hiệu Quế Đường; là vị quan thời Lê trung hưng, cũng là nhà thơ, và được mệnh danh là "nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến"ĐÔN với HẬU đồng nghĩa.

    NGUYỄN CÔNG TRỨ (chữ Hán: 阮公著, 17781858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hi Văn, Trứ là sáng,   cho nên phải giữ mãi cái bản chất tốt ấy theo quan điểm VĂN CHẤT BÂN BÂN (VĂN CHẤT BÂN BÂN NHIÊN HẬU QUÂN TỬ). Khổng Tử đã xem xét mối tương quan giữa tính chất phác (Trời cho) với học vấn: “Chất phác thắng văn vẻ thì quê mùa, văn vẻ thắng chất phác thì cứng nhắc. Văn vẻ và chất phác đều nhau, mới nên quân tử” (Chất thắng văn tắc đã, văn thắng chất tắc sử, văn chất bân bân nhiên hậu quân tử – Luận ngữ,

     HỒ BIỂU CHÁNH (18841958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20
    TRUNG trung      , CHÁNH 正 đồng loại, hiệu làm rõ ý nghĩa của tên.

    Có một số tên mà Hiệu và Tự không làm rõ ý nghĩa. Có thể cái tên quá cao thâm  mà chúng ta thì kém nên không hiểu hồi.


    No comments: