Saturday, February 9, 2019

LÊ LỰU * CHUYỆN LÀNG CUỘI

CHUYỆN LÀNG CUỘI
LÊ  LỰU

Phần 1 - Chương 1

Nào ai ngờ cái chết của bà Hiêu Đất lại tạo cho làng Cuội ta một khí thế tưng bừng sôi nổi, rất là tự hào. Sau hàng tháng trời lơ lửng trong nỗi buồn ngơ ngác "được phân phối hụt" do huyện chỉ đạo tháo đê quai, cái xác trôi lênh phênh của bà Đất dạt về bến Chợ Quán như nắp thùng tô-nô đựng đầy ám khí được bung ra. Tiết trời mấy ngày nay cũng quang quẻ hẳn. Xa xôi quá thì ít người am tường, chỉ tính năm sáu chục năm đổ lại đây, kể từ năm Quý Dậu, năm cuối cùng của hội thi nói khoác ở miếu Ông Cuội cũng là năm cô Đất bỏ làng đi biệt tăm, đến bây giờ làng mới lại có một vẻ mặt đồng loạt buồn. Nhưng mà sôi động. Khi nào làng có chung một khuôn mặt buồn đều ào ào náo nhiệt và thì thào còn chán. Thế lại hoá vui. "Tuổi Mão đi năm Mùi là đúng cách. "Hợi Mão Mùi", "Nam xung nữ hợp", nhất định bà lão phải "đi" vào năm nay. Ông đã biết từ lâu rồi. Nhưng bà lão này thiêng lắm. Không à? Ông dám chắc bà ấy mà dạt về đúng quê, nhất định làng Cuội có sự. Đại sự".

Ông thống Bứt vừa liêu xiêu đi ra phía bờ sông vừa quát lác. Không cần có ai, hoặc giả trong cơn say ông đã nhìn thấy một thằng người cứ theo ông, ông bước bước nào nó bước bước nấy, nên ông cứ tự hỏi rồi tự giả nhời như thế. Hôm nay ông phải làm một việc hệ trọng. Bắc cầu cho mẹ đồng chí Lưu Minh Hiếu phó chủ tịch tỉnh lên bờ. Khổ thân bà lão. Suốt đời long đong tủi nhục, được lúc con cái ăn nên làm ra, đi Tây đi Tàu như đi chợ lại lăn xuống sông mà chết. Cũng là số trời run rủi. Đồng chí Hiếu là hiếu nghĩa với bố mẹ, đời nào để bà lão chết nhục nhã đến nỗi thế này.

Xác bà lão được vớt lên từ trưa hôm qua. Một cái xác trương phềnh. Cả mặt và hai cánh tay xước tướp táp, không hiểu do cá rỉa hay mắc mớ vào đâu mà không còn một mảng da nào nguyên. Trưa hôm qua, chiếc tàu chở khách từ Hà Nội xuôi, sóng rào rạt xô vào bờ một người mặc quần đen, áo nái vàng, tóc xoã như là ma nhoài lên nằm nghiêng ở bờ cát một tay dang ra như là cố bám lấy cát để khỏi trụt xuống. Các cô bé đang đập chiếu tàm tạp trông thấy thế, kêu lên thất thanh, chạy lao lên ngã dúi dụi vào quán bà Cu Từ. Tiếp theo là ông Cu Mỡ, em ruột ông Cu Từ, vác một manh chiếu xuống bờ sông đắp lên cái xác cũng với câu: "Đ. mẹ nó, điềm này, làng Cuội lại ăn cứt". Rồi đám người gỡ dây khoai, những người gieo ngô, đám đốt lò vôi, dân thợ xẻ, lò rèn bỏ hết đồ nghề, giống má, chạy túa lại quán bà Cu Từ và ông Cu Mỡ đứng nhìn xuống sông và nghe các cô gái thuật lại "đầu đuôi". Mấy anh thợ "phơ" đóng gạch, cầm kéo cắt đất táo tợn chạy đến hất chiếu ra, lấy tay kéo lật ngược mặt bà lão lên nhìn: "Đếch phải người làng này". "Chắc lại oan khuất gì, tự vẫn đây". "Có khi bị trấn, lấy của rồi nó cho xuôi".

Khách qua đò ùn tắc lại. Trẻ con tan học hổn hển chạy đến rào rào như gió. Chả mấy chốc bến đò Chợ Quán nghìn nghịt như một cái chấm đen khổng lồ tụ giữa cánh đồng làng Cuội bát ngát phù sa. Quán nhà bà Cu Từ, ông Cu Mỡ nứt nở kẻ đứng người ngồi. Cho đến 10 giờ đêm các đồng chí Đảng uỷ, uỷ ban, hợp tác xã, công an, bàn bạc trong quán bà Cu Từ hết 37 bìa đậu phụ, một bình lạc rang, gọi tròn năm chục chén, mười ba cút rượu, tám gói thuốc lào hội nghị mới ra được một quyết định: lập biên bản báo cáo lên huyện chờ xin ý kiến.

Cần nghiên cứu thêm ý kiến của trưởng ban thông tin văn hoá: có thể đưa lên "quảng cáo" trên ti vi. Độ này người ta quảng cáo tất tần tật, không thiếu thứ gì. Dễ lắm. Thân nhân của họ về nhận sẽ phải tính công vớt từ giữa sông lên rồi công của mấy chục con người canh giữ suốt 24 trên 24 không để thi hài thất thoát. Biết đâu lại chả trúng quả đậm. "Có gì ta làm bữa thả phanh cho bõ công đêm hôm lăn lội, ngồi suông". Mặt khác, ngày mai, uỷ ban thảo một công văn lên phòng thương binh xã hội xin duyệt một cỗ ván. Việc này có trở ngại là: muốn được duyệt nhanh chóng thì phải có dăm bao ba số, thậm chí còn phải kéo ra cửa hàng lòng lợn, hoặc "cầy tơ". Kinh phí lấy vào khoản nào? Vậy, tất cả cứ chờ ý kiến của huyện và chờ đồng chí chủ tịch đi thăm bố vợ ốm trên tỉnh, nội nhật ngày mai về. Tối mai ta hội ý lại rồi quyết định sau. Đằng nào bà ta cũng rữa ra rồi. Cho anh em bảo vệ hắt mấy xẻng đất xơ xơ cho đỡ bốc mùi, rồi thù lao cho anh em. Cũng chả cần trông nom gì. Ai họ lấy đi cho là phúc. Đúng là cái vạ cho xã ta.

Đồng chí Nạc – anh đã đổi cái phụ âm đầu nhưng chỉ có cấp trên gọi anh là Lạc còn bà con trong xã vẫn gọi anh là Nạc. Ở vùng này thường lấy tên con đệm trước tên bố mẹ hoặc đẻ con trai đầu gọi là cu, con gái là đĩ. Anh Cu Từ, cụ Cu Từ, ông Cu Mỡ là thế. Bà Hiêu Đất cũng vì con là Hiếu  (họ bỏ dấu sắc đi để gọi cho tiện chứ không hẳn là tin theo kẻ xấu bụng, đổi họ và tên anh từ Lưu Minh Hiếu thành Lưu Manh Hiêu).

Đồng chí Nạc cầm quyển sổ có treo bút chì bằng dây gai, ghi các khoản nợ của tối hôm nay. Bà Cu Từ hấp háy đưa ra trước ánh đèn soát lại. Trên mặt chõng cũng nhẵn hoén không còn sót lấy một viên lạc, gói thuốc. Bà yên trí "xin phép các cụ" "cứ tự nhiên" để bà ngả cái nong xuống nằm khoanh tròn trong ấy. Bí thư Đảng uỷ ngồi chồm hỗm trên những đoạn tre đóng vào hai đầu cọc hàng giờ không biết tê, lúc anh thả hai chân xuống, phủi đít quần đứng dậy thì Nạc lại có một sáng kiến mới. Nghiêng tai nghe tiếng ngáy rất dư dật của bà bác dâu, anh vươn người về phía bí thư nói nhỏ nhưng mọi người đều nghe. Anh nói rằng tình hình này sự đồn đại thất thiệt sẽ còn lan đi ghê lắm. Nhưng có lợi cho ta. Ai cũng bịa tạc những tin giật gân, bí hiểm nên người tò mò kéo đến đây xem càng đông. Nhất là cho lên ti vi thì sẽ không biết cơ man nào là người từ các thành phố kéo về đây. Thành phố bây giờ họ có làm gì đâu. Một người ngã xe máy còn xúm đông xúm đỏ lại xem, huống hồ nghe tin có ma hiện lên ở bờ sông làng Cuội. Bí thư cắt ngang.

- Lạy bố. Thế thì rách việc lắm. Mà hơi sức đâu lại đi tìm hiểu để báo cáo nguyên nhân từ đâu có cái tin ấy. Rồi còn phải giải quyết tư tưởng cho bà con. Chết, chết!

- Thiên hạ họ đồn mắc mớ gì đến mình. Biên bản mình sẽ gửi đi. Pháp y họ về, họ làm gì kệ xác họ. Nhưng vấn đề không phải ở chỗ ấy. Anh không hiểu ý tôi. Tôi hỏi các anh: Các anh có công nhận là mới từ trưa đến giờ đã bao nhiêu người bổ về đây xem thực hư? Đấy là chưa kể bao nhiêu người ở bên kia không có đò sang.

- Đúng rồi – Gần như mọi người cùng trả lời.

- Tôi quả quyết ngày mai còn đông hơn.

- Nhất trí!

- Trời nắng này, người như nêm ấy, có cần uống nước, hút thuốc không?

- Có quá chứ lị.

- Tôi chưa nói đến hương hoa trà quả và thức ăn thức uống. Thiên hạ mê tín, ai đến đây mà chả mua thẻ hương, gói hoa thậm chí cả tiền âm phủ, quần áo giấy cúng cho vong hồn. Ngay chiều nay các anh đã thấy mọc lên một rừng hương quanh bà ta chưa?

- Đúng quá!

- Tại sao ta lại không nhanh chóng tổ chức cái dịch vụ ấy? – Anh nghiêng mặt sang phía bác dâu, giọng có vẻ thì thào:

- Nó cũng là cơ sở phục vụ các đám tang sau này. Sau này kể cả đội hiếu của tôi cũng sẽ nhập vào đây thành tổ hợp dịch vụ đám ma mà trên trung ương người ta vẫn gọi là Tô hô di vu đa ma. Nghe như tiếng Tây, tiếng Nhật, nó cũng làm sang hẳn cái làng Cuội mình lên. Đời sống bà con sau trận lụt cũng được cải thiện.

Vốn ngại Nạc dựa thế ông Hiếu nên bí thư uỷ thác mọi việc "đối ngoại" cho Nạc nhưng anh vẫn không thể tin. Có lẽ vì ấn tượng ấy cộng thêm sự mệt mỏi, buồn ngủ, anh nổi cáu.

- Theo tôi, không có tô hô hở hang gì cả. Cả xã đói, mặt ai cũng méo như bị rách, không lo được lại làm di vu cho con mụ chết trôi. Nhận ra mình cần phải dịu lại, anh tiếp: – Ta cứ đợi đồng chí chủ tịch về bàn, rồi quyết định sau.

Nạc nghĩ thầm: "Đợi bàn thống nhất chủ trương, ra được quyết định, tổ chức nhân lực... thì hết mẹ nó cơ hội".

Thấy sự im lặng có phần căng, trưởng ban văn hoá thông tin lại nói:

- Nếu việc này nó phức tạp quá, ta hất quách nó xuống sông.

Nạc:

- Thế là gọn.

Bí thư:

- Pháp y đến ta nói thế nào?

Trưởng ban thông tin văn hoá:

- Thì lại "sóng đánh tụt xuống, trôi đi rồi". Ai bắt vạ?

- Thế, gọn đấy. – Phó chủ tịch văn hoá nói. – Sẵn tập thể đây, xin các anh quyết định cho luôn. Để sáng mai ruồi nhặng bu đến, gây dịch bệnh nguy hiểm lắm. Xã ta lại vừa được huyện biểu dương đi đầu trong nếp sống văn hoá.

Chủ nhiệm hợp tác ngồi trên đôi dép nhựa "Tiền phong" tựa lưng vào cọc "ghế", đầu ngoẹo hẳn xuống một bên vai nói:

- Các bác cứ ý kiến. Khi nào xong bảo nhà em. Nhà em cho hai chú bảo vệ "tùm bê" một cái là dứt điểm.

Trưởng công an nói:

- Trường hợp này nhất định phải mổ khám nghiệm tử thi. Thời gian này bọn lưu manh côn đồ hoạt động mạnh. Kẻ địch bên ngoài cũng tung gián điệp vào hoạt động dưới mọi hình thức, có rất nhiều âm mưu thủ đoạn xảo quyệt. Có thể đây là...

- Kệ! – Chủ nhiệm "gật" chúi đầu quá mạnh, giật mình, chép miệng cắt ngang lời trưởng công an. – Đợi thằng cháu nhà bác Nạc quay lại đây. Có rượu là quyết. Không rượu ta để lại ngày mai nghiên cứu. Tập thể đây đã nhất trí là cứ như đinh đóng vào... vào...

Sáng hôm sau tỉnh lại chủ nhiệm mới hú vía. May đêm qua thằng cu mang cái vỏ chai không quay lại. Có rượu vào mà rủ nhau lẳng bà lão đi rồi thì... Đúng là họ đóng đinh vào đầu mình.

Mới bảnh mắt, hai công an huyện đã phóng hon-đa về dựng các cán bộ chủ chốt của xã dậy, tập trung ở trụ sở uỷ ban để trả lời những câu hỏi trịnh trọng của các anh công an:

- Có chắc chắn áo lụa tơ tằm màu vàng không?

- Vâng

- Quần đen?

- Vâng

- Dép cao su quai nhỏ đủ cả quai trước quai sau?

- Vâng

- Thôi được, các bác, các anh đã mục kích là có thể khẳng định được rồi.

Trong khi một anh cùng đi với Nạc ra bờ sông xác minh, anh kia tiết lộ điều quan trọng: nếu mọi chi tiết đúng như họ vừa nghe thì người đàn bà đó chính là mẹ ông Hiếu nguyên bí thư huyện ta rồi lên phó chủ tịch tỉnh.

- Trời ơi, sao lại như thế. Đúng là bà Đất ư? Đúng rồi.

Có hàng chục người tranh cướp nhau để nói rằng mình đã ngờ ngợ, đã nghi nghi, đã đoan đoán ngay từ đầu nhưng, không dám nói ra vì không thể ngờ vì sao bà cụ lại đến nông nỗi ấy.

Ông Hiếu là con trai đời chồng trước của bà cụ Đất (người ta cũng có thể gọi là bà Cụ Đất). Bà Đất là con cụ đồ Mục em trai cụ đồ Ngoạn. Cụ đồ Mục dạy chữ nho nhưng không gặp thời nên chỉ còn xác nhà bố mẹ để lại. Người nghèo thành kẻ yếm thế, cụ ít giao du, chỉ quanh quẩn trong nhà dạy con trai học chữ nho, con gái học chữ quốc ngữ. Hai đứa con đầu đặt tên là Từ và Mỡ. Người ta bảo đấy là thời kì cụ sống cầm hơi bằng củ từ, củ mỡ. Hai loại ấy đều là dây leo quanh vườn lại thích hợp với người nhàn rỗi và không đủ sức theo việc đồng áng. Hai loại củ cũng dễ ăn, luộc hay xào... đều được. Đến đứa thứ ba, con gái thì bà đặt là Đất. Bà mẹ khốn khổ với lần có mang này lại dở chứng, toàn cậy đất vách và ghè đầu rau bếp ra ăn nên nhất quyết giành lấy quyền đặt tên con từ khi chưa đẻ. Có lắm khi bà xấu hổ phải úp thúng vào mặt vì cái họ "Bùi Như" của nhà chồng nhưng lần này dù có là con trai thì bà vẫn cứ đặt nó là Đất.

Từ cô bé Đất đến cụ Đất, người đàn bà này hiền như đất, lòng yêu người rộng như đất, nhưng để dẫn đến kết cục cái chết ngày hôm nay, bà đã phải gánh chịu một chặng đường mà kẻ chép chuyện định kể tất thảy sáu câu chuyện tình xảy ra từ làng Cuội có liên quan đến bà Đất và nó quyết định toàn bộ cuộc đời bà. Cả cái chết ngày hôm nay cũng từ đấy, không thể coi là bình thường. Nhưng nghĩa tử là nghĩa tận. Không, thể để cái xác bà lão đã nằm sấp úp mặt xuống cát do người lấy gậy, lấy xẻng đẩy, lăn đi, lăn lại trong lúc đảng uỷ, uỷ ban đang bàn bạc ra quyết định ở quán bà cụ Cu Từ. Vậy xin bạn đọc rộng lượng chờ đợi cho kẻ chép chuyện nói đôi chút nơi bà lão nằm vào buổi sáng ngày hôm nay rồi mới bắt đầu vào cuộc đời bà. Từ khi câu chuyện xảy ra vào năm cuối cùng làng Cuội mở hội thi nói khoác, năm Quý Dậu cô Đất rời làng ra đi, cho đến sáng nay khi chiếc "U oát" đỗ lại bên kia sông, ở bên này thi hài bà cụ Đất được đặt lên chiếc chõng tre. Một tấm vải trắng muốt phủ kín người. Đôi dép cao su được cọ rửa chồng lên nhau để ở phía cuối. Chiếc bàn làm việc của uỷ ban xã được khiêng đến phủ vải đen, trên mặt có khúc cây chuối cắm hương cháy nghi ngút, một mâm bồng đặt nải chuối tiêu và hai lọ độc bình hai bên cũng cắm hai cây chuối đều bắt đầu ra lá thứ ba. Một vòng hoa của uỷ ban xã có viết chữ "Vô cùng đau đớn thương xót vĩnh biệt cụ Bùi Thị Đất". Ấy là sáng kiến có phần vội vã của anh trưởng ban văn hoá đã được Nạc đồng ý. Đúng ra phải đưa hương hồn cụ về nhà rồi mới phúng viếng. Sự khiếm khuyết dân làng chê bai lại làm Hiếu hài lòng. Nó vừa tạo ra không khí trang trọng, vừa làm ông cảm động về sự chu đáo đầy tình nghĩa của quê hương dành cho bà cụ, mà thực chất họ muốn dành cho ông.

Ba người vừa lên khỏi đò, ngoài Hiếu, có Huyền con vợ trước của ông, vẫn đều đặn đưa người yêu hoặc bồ bịch về ăn ở với bà nội ở quê. Người thứ ba, một cô gái tưởng là con vợ sau của Hiếu nhưng thấy ông gọi là cháu. Cô bé cao, trắng, mũi dọc dừa, như tây. Ngay từ khi con đò chưa kịp áp mạn vào bờ, Huyền đã nhao đến chỗ bà nằm. Cô lật tấm vải để lộ ra khuôn mặt đã bệch bạc trông méo mó nham nhở và các thớ thịt như sắp sửa tở ra. Cô hét lên vừa đau đớn vừa man rợ như thể cái khuôn mặt kì quái kia vừa bật dậy. Đập mặt xuống ngực bà, cô vật vã, hai tay cào cấu vào thành chõng, hai chân nện lõm nền đất cát phù sa vừa se mặt. "Ối bà ơi! Bà ô... ối bà ơi! Bà ơi ối! ối!". Chừng vài chục phút sau, đuối hơi cô tựa vào vai bà, mặt nghiêng lên cánh đồng, hai mắt đờ dại, mặt cũng bệch ra, cổ thở gấp gáp như đứt hơi. Trong hơi thở của cô, người ta nghe thấy tiếng gọi lào thào: "Bà ơi! Bà ơi. Trời ơi. Trời... ời ối bố ơi là bố... ố... ời... Bà ờ... ó... hợ... hợ..." Cô bạn gái xinh tươi của cô mặc quần thụng túm, chiếc áo phông cộc tay của nước ngoài màu xanh, lụng thụng dài sát đầu gối. Một hàng chữ trắng chạy ngang như áp vào bộ ngực dư thừa sức lực của cô! "Let’s kiss me". Nhiều lần Huyền đã mặc loại quần áo như thế về quê nên không có nhiều người xô lại nhìn, chỉ trỏ và thì thào... Cô đi lại, đứng ngồi, nói năng rất tự tin rõ ra là người từng trải, lịch thiệp. Cô không chạy lao đi như bạn, nhưng lên khỏi đò cô rảo bước, trịnh trọng cầm bó hoa huệ và những bó hương đến cắm hoa vào bình, châm hương và lẩm nhẩm khấn, không cần biết người xung quanh đang nhìn chằm chằm vào mình. Khấn, vái xong, cô lấy chiếc mũ trắng của mình chụp lên đầu che nắng cho bạn, rồi cúi đầu lặng lẽ, chia sẻ nỗi đau đớn đột ngột của bạn. Hiếu vừa lên bờ, chủ tịch huyện và bộ máy lãnh đạo của xã, vài ba chục người lủi thủi đi, khuôn mặt nào cũng rầu rĩ, mồm miệng ai cũng như sắp sửa bật ra tiếng khóc thảm thiết nên phải mím chặt môi lại đến nỗi gặp Hiếu họ chỉ hơi gật đầu và môi họ cũng chỉ có thể mấp máy như là đau đớn quá không thể nào nói ra thành lời được. Cùng đi theo Hiếu về chỗ thi hài đã nặng mùi, chủ tịch huyện coi như không thấy gì, nói:

- Báo cáo anh, tôi vừa họp ở tỉnh về nghe anh em nói đêm qua anh có điện về. Tôi bảo anh em: "Bằng mọi giá các cậu phải xác minh ngay để báo cáo với anh Hiếu..."

Hiếu:

- Cảm ơn.

Trưởng ban văn hoá thông tin xã sụt sùi lau nước mắt, nói:

- Báo cáo bác Hiếu, chiều hôm qua khi phát hiện có xác người trôi đến, em đã nghi nghi cụ nhà nhưng không dám nghĩ đến chuyện không may đến với gia đình. Dù sao em vẫn cứ có cái gì đấy không yên. Chính em bàn với bác Nạc và các anh trong đảng uỷ phải triệu tập gấp lãnh đạo chủ chốt của xã bàn biện pháp xử lí ngay. Mãi gần một giờ đêm mới họp xong. Chúng em định sớm nay đi Hà Nội đưa lên ti vi. May quá, đêm qua bác lại điện về cho huyện. Chính lúc ấy là chúng em đang bàn căng thẳng ngay tại quán cụ Từ.

Một người khác, Hiếu chỉ thấy mặt quen quen không nhớ tên và không biết anh ta làm gì, nói:

- Báo cáo bác, em là Hở con ông Hớn ở xóm Hạ. Hiện nay em là chủ nhiệm hợp tác xã ta. Chúng em đã chuẩn bị tươm tất mọi phương án để rồi lát nữa lên quán em xin trình bày với bác. Thôi cũng là may. Cụ nhà sinh ra và lớn lên ở làng Cuội ta, nay lại trở về với quê hương làng Cuội. Lạy vong linh hồn cụ sống khôn, chết thiêng, trời đất run rủi thế nào cụ lại về đúng nơi chôn rau cắt rốn của mình, về với tình làng nghĩa xóm, bà con nội ngoại quây quần.

Hiếu nhìn người nói mà hai hàm răng phải cắn vào môi cố nén tiếng khóc. Phần vì đau đớn, phần không thể nào ngờ các đồng chí ở địa phương lại sống tình nghĩa và chu đáo đến mức này. Không thể để mọi người đứng cạnh mẹ mình lâu, anh quay ra chắp hai tay cúi đầu:

- Cảm ơn, cảm ơn. Xin các bác, các anh lên quán bác tôi xơi nước, tôi đứng lại với cụ tôi chút nữa rồi lên xin phép được bàn công việc của cụ tôi với các anh.

Lúc này Huyền như đã hồi sức lại hay vì mọi người trong làng xóm đã đi, cô chạnh lòng nghĩ đến nỗi đau đơn độc của mình mà kêu bà, kêu giời, và "Bố ơi, là bố... ơi... Sao bố lại... ờ...". Hiếu nghiến hai hàm răng lại nói vừa như lạy, vừa như ra lệnh:

- Mày nói gì đấy? Giời ơi, mày hãy để cho tao chôn mẹ tao xong đã Huyền ơi.

Thế là tiếng cô lại gào lên:

- Ối bà ơi, bà ôi. Con có ngờ đâu bà lại bỏ con bà đi mà không mang con đi theo. Bà ôi! Bà ôi!

Nạc đã chỉ huy đám người mang bạt đến bắc rạp trên thi hài, chuẩn bị làm lễ bắc cầu cho cụ và gọi hồn nhập vào xác. Anh quát lác mọi người phải tránh ra. Cô bạn cùng đi, dỗ dành và dìu Huyền lên nghỉ tạm chỗ bóng mát.

Hiếu lên quán không phải để bàn bạc, nhờ vả mà để nghe bí thư đảng uỷ xã trình bày với anh về nghi lễ tiến hành tổ chức đám tang. Ai cũng có sẵn nỗi buồn, có sẵn tấm lòng nhận làm một việc gì đó để Hiếu nhận ra mình, nhận ra các đồng chí ở địa phương luôn luôn quây quần bên anh cả lúc vui vẻ cũng như khi hoạn nạn. Sở dĩ có được tình cảm ấy vì họ có những cái tai thính, biết được "ô" của anh còn mạnh lắm. Anh còn "lên". Cũng chả cần xa xôi thế. Với chức vụ trưởng vụ đối ngoại của bộ anh, từ bí thư, chủ tịch tỉnh trở xuống, thiếu gì người có con, cháu, dâu rể, họ hàng nội ngoại, cháu của vợ, con của bồ, bạn của bạn con, cần đi Tây. Đi Tây "đường thẳng" cũng phải chạy vạy mửa mật, chui cửa trước, luồn cửa sau, huống hồ "chen ngang".

Công việc sắp đặt xong xuôi, Hiếu xuống chỗ thi hài mẹ. Lúc này chỉ đứng ở cạnh, cúi đầu như mặc niệm. Anh nghe tiếng thì thào của dân làng bàn tán tại sao anh không nhìn xem có thật là mẹ mình không? Làm sao con trai lại không nhìn mặt mẹ lần cuối cùng. Vậy thì anh phải xuống nhìn để dân chúng khỏi xì xào.

Nếu không có anh Nạc và bác Mỡ giữ hai cánh tay, ghì lấy người thì anh đã khuỵu xuống ngay khi thoáng nhìn thấy mặt mẹ. Dù khuôn mặt đã phềnh vỡ, nhưng bóng tối uẩn ức vẫn đọng lại ở vòm mắt và những cái "rãnh" chằng chịt trên mặt bà. Anh đã kêu "ối" một tiếng khi nhận ra vệt hằn ở khoé môi. Vệt hằn ấy nó tối lại trước ánh đèn rọi nghiêng vào mặt bà. Lúc ấy đã hơn một giờ đêm. Anh cố ghìm câu nói cuối cùng lại: "Đồ súc vật. Ngu như con lợn. Sao lại câm như hến! Bà nói đi, nói đi. Tại sao? Tại sao bà lại độc ác với tôi như thế. Chính bà là kẻ đã giết tôi! Rồi bà sẽ biết tay tôi".

Hai chân vẫn để trong đôi dép cao su thả thõng. Không nhúc nhích. Hai tay thu vào lòng. Không hề động đậy. Cái lưng như còng thấp xuống. Không nhúc nhích. Hai mắt tê dại, đờ đẫn. Không hề chớp. Cái miệng nhếch lên như cười. Trông lại như đang mếu. Cái bóng tối hằn lại ở khoé môi oằn lên như vỏ đỗ kéo khuôn mặt xô lệch đi như chỉ chực khóc. Lại cố tỏ ra mình vẫn cười. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn như lúc ấy. Có ngờ đâu, mọi chuyện xảy ra không thể lường nổi đến mức này. Nếu anh biết nó sẽ đến mức này? Dù phải tựa đầu vào vai Nạc, toàn thân lả héo đi, anh vẫn nghe thấy tiếng thì thào than vãn của dân làng:

- Những kẻ độc ác thì chả chết đi cho. Bà lão phúc hậu thế tưởng giời phải có mắt để bà cụ sống thêm ít năm hưởng chút bổng lộc của con cho bõ cả đời tất tưởi gian truân.

- Ông Hiếu là người có nghĩa với cụ lắm. Chỉ phải cái chị vợ là đáo để.

- Ngày xưa thì thế. Nghe nói độ này là chị ta cứ sợ ông Hiếu một phép.

- Nghe đâu ngoài Hà Nội có cả cướp ngày. Không khéo nó biết tiếng ông Hiếu của nả nhiều mà bà cụ ở nhà một mình.

Xem chừng sự bàn tán có phần phức tạp mà không biết rồi sẽ đi đến đâu. Những người đứng ở vòng trong, quay mặt ra phía ngoài "xuỵt", "xuỵt" cho mọi người im lặng. Ông Mỡ lấy vạt áo lau nước mắt bảo:

- Thôi nén lại đã anh Hiếu ạ.

Hiếu gỡ tay bác Mỡ định cúi xuống kéo tấm vải che kín mặt mẹ. Anh "văn hoá" xã đã hiểu ý và làm việc đó trước ông.

Cụ Từ đã ra quán.

Hiếu vội vã đi lên gặp cụ. Từ sáng sớm đã biết tin người chết trôi là em gái mình, cụ Từ vẫn tránh mặt. Phần đau và nhục vì cái chết không lấy gì làm đẹp đẽ đã gây tai tiếng ồn ã khắp nơi, phần vì tính cụ vốn thế. Cái tính của cụ cũng được tạo nên ở hai nhẽ. Thứ nhất: cụ là con trưởng. Đã là con trưởng là có quyền "anh thay mặt cha" để sai bảo, hạch sách và không cho phép ai được làm trái ý. Dù có tốt đẹp hoàn hảo đến mấy cũng không được. Đã trái ý cụ là bị cấm đoán, ngăn chặn. Khi không còn đủ sức ngăn chặn cấm đoán nữa, cụ dỗi, càng già càng hay dỗi, càng hay châm chọc phá quấy và thù vặt, thù rất dai. Nhẽ thứ hai, cụ là người đầu tiên làm tổ trưởng du kích làng này. Chính cụ là người nhận quả lựu đạn thật duy nhất do đồng chí Văn Yến chủ tịch Việt Minh huyện, sau này làm đến bí thư tỉnh uỷ rồi vào trung ương trao tận tay cho cụ xong, còn nắm lấy bàn tay lắc lắc ba cái nữa. Cụ là người đầu tiên ở xã này lên huyện phá kho thóc cùng chú Kiêm, em rể, bố anh Hiếu (bố dượng chứ không phải là bố Hiếu nhưng chỉ trừ có thời cải cách, còn lại anh toàn gọi là bố). Người đầu tiên đi phục kích Tây ở bốt Phương Trà... Trong hàng chục cái "đầu tiên", không bao giờ cụ quên mình là một trong những đảng viên đầu tiên ở làng Cuội này. Bởi có nhiều cái "đầu tiên" quá nên khi đã già yếu, không còn giữ chức trách gì và đã không còn đủ minh mẫn giữ gìn lề thói cốt cách của mình, cụ vẫn tìm cách có mặt ở những chỗ trang trọng mà lại coi như không, lại cố ý quay mặt đi, đợi khi nào có nhời mới quay lại. Không có nhời, không hỏi ý kiến là cụ cho người phá ngang. Không phá được, cụ chửi. Cụ có thể chửi từ cây đa ở miếu ông Cuội trên đầu làng Thượng xuống đến cây bàng ở cuối làng Hạ, từ quán chỗ bờ sông về nhà rồi từ nhà vào cửa hàng của con gái ở quán hàng Táo dưới chân đê, giáp giới xã Tây Kết dài gần 4 ki lô mét. Cụ chửi cái gì thì cái đó phải mục ra. Cụ chửi kiên nhẫn dai dẳng như mỗi lần bộ răng giả của cụ nhai phải miếng thịt trâu dọc thớ. Phần ngại "giây" vào cụ, phẩn nể Hiếu và Nạc nên chẳng những việc của xã, ngay chủ tịch huyện có về đây cũng phải hỏi ý kiến cụ. Rất nhiều khi họ hỏi giả vờ, mời mọc, vồn vã giả vờ, lại rất được việc. Không cần biết thật giả, cứ thấy mình còn quan trọng là cụ thích. Cụ đã thích thì có lội xuống sông vào ngày đông tháng giá để được biểu dương là gương mẫu cụ cũng không ngần ngại. Nhưng chỉ cần sơ suất một chút, quên cụ đi một chút là cụ lại gồng mình lên mà chửi. Chửi cay độc, cạnh khoé nanh nọc rỉa rói như xé mặt người ta, chán rồi, cụ chửi "đối thoại" tục tĩu với trẻ con mà cuộc chửi nào cũng có trẻ con chạy theo để trêu ghẹo cho cụ chửi, "đối thoại". Chẳng hạn: "Cụ Cu Từ ơi, cụ chửi hay lắm, cụ chửi nữa đi". "Tiên sư con cái nhà ai đấy. Khi ông đi đánh Tây, đuổi Nhật thì bố mày còn đỏ hon hỏn bệu nhệu như cái bìu dái người ta, bây giờ mày định dạy ông hả?". Lúc ấy, những người dân ở trên bờ hay dưới ruộng, ngồi trong nhà hay đứng ngoài ngõ chỉ quay mặt đi thở dài ngao ngán, cám cảnh cho ông cụ, cho một đời người, một thời đánh giặc tiếng tăm lừng lẫy, một đức độ mẫu mực là thế, chẳng hiểu từ đâu lại sinh ra đổ đốn đến thế.

Chính Hiếu, khi làm bí thư huyện uỷ có lần đã nghe cuộc chửi "đối thoại" của ông. Anh lặng người, kêu lên: "Trời đất. Nhăng nhố hết chỗ nói". Dù là người biết tính toán chi li cho mọi cử chỉ của mình anh cũng phải gọi ông lại quát:

- Ông có câm mồm đi không?

- Ông nói cho cái mặt anh biết nhá. Từ thằng tổng Lỡi khét tiếng hống hách ở làng Cuội này cũng chưa dám sờ đến cái lông chân ông bác mày đâu nhá.

Trong một vài giây, mặt Hiếu có hơi biến sắc nhưng anh lại trấn tĩnh ngay:

- Ngày xưa ông khác bây giờ lắm. Nếu ngày xưa ông cũng như bây giờ, người ta vặn cổ ông hàng trăm lần rồi.

- À, anh cậy làm lên to về đây phỉ báng doạ nạt dân chúng, bêu riếu người ruột thịt, bất chấp cả những cống hiến không tiếc xương máu cho cái làng Cuội này, cho anh mở mày mở mặt ra hả? Ối bà con ơi, ối các đồng chí đảng uỷ ơi, ra đây chứng kiến bí thư huyện uỷ nhục mạ đảng viên lão thành... ối... ối...

Chính sau cái lần lu loa ấy thì ông lại sợ Hiếu một phép. Đến bây giờ anh có bao nhiêu bổng lộc, bao nhiêu người quỵ luỵ kiêng nể, tưởng cụ già phải sợ anh hơn, ai nghĩ, anh lại một phép thưa gửi kính cẩn cụ. Thì ra ở hai bác cháu nhà này cũng chán vạn cái trái khoáy éo le. Lúc tưởng thế này nó lại ra thế khác. Khi tưởng thế khác nó lại hoá ra thế này.

Cụ Từ ra quán là vì biết Hiếu về. Ra đây thử xem việc này nó xử sự ra sao? Nguyên do gì mẹ nó chết tội, chết nợ giữa sông, giữa biển? Hiếu biết điều đó nên được tin ông ra quán, anh phải lên ngay. Vào đến cửa, anh chưa kịp nhận ra ai trong đám người ồn ã, Nạc đã bấm vào tay ra hiệu "cụ" ngồi xổm trong cái nong ở góc nhà đang cúi mặt, mắt nhắm như ngủ. Biết cụ hay "điếc" khi không cần trả lời, anh cùng Nạc len vào quỳ xuống cạp nong, chào to:

- Bác ạ.

Cụ vẫn nhắm mắt:

- Ai đấy.

- Dạ cháu đây mà bác!

- Anh mới về.

Cụ hơi xoay nghiêng người, mở mắt nhưng không nhìn vào Hiếu:

- Anh đi mà lo công việc cho mẹ anh, gặp tôi làm gì mất thì giờ.

- Ấy chết. Có lo gì thì cũng phải đợi xin ý kiến bác chỉ bảo. Cháu định về trong nhà, may bác lại ra đây.

- Thôi được. Chuyện ấy sau. Tôi chỉ hỏi anh vì nguyên do gì bà lão lại ra cơ sự này?

- Nói thật với bác, cháu cũng chưa kịp tìm hiểu nguyên nhân gì. Chỉ do cháu sơ suất một chút.

- Anh sơ suất?

- Vâng ạ. Không ngờ cháu mất cảnh giác một chút mà xảy ra sự việc đau thương như thế này.

- Anh mất cảnh giác?

- Vâng ạ. Chiều mồng 8 tháng 6, tức là đến hôm nay vừa tròn một tuần mẹ cháu bảo: "Không hiểu sao ruột gan mẹ cứ nóng hôn hốt. Mẹ thấy nhớ nhà quá. Con cho mẹ về thăm các bác trai, bác gái, bà con xóm giềng dăm bữa". "Cháu bảo: "Mẹ đợi con đi công tác Hải Phòng vài ba ngày rồi con lấy xe đưa mẹ về". Mẹ cháu bảo "Mẹ không thích đi xe ô tô đâu, cứ để mẹ đi ca nô. Độ này ca nô màn bến Chợ Quán, mẹ lên hàng bác Từ mẹ chơi với bác trước rồi về trong làng. Thấy bảo nhà bác Mỡ cũng ra bãi mở quán nước gần bác Từ. Mẹ về đấy thăm hai bác cả thể". Cháu nói: "Thôi, mẹ cố đợi con đi về rồi sẽ tính". Không ngờ nửa đêm hôm ấy mẹ cháu đi bộ ra bến Phà Đen.

- Từ Đội Cấn mà bà lão đi bộ ra Phà Đen giữa đêm?

- Không biết mẹ cháu có gọi xích lô không?

- Chị ấy nhà anh đâu?

- Nhà cháu nó ở trên gác. Sáng ra xuống mời cụ đi ăn sáng mới cuống lên nhưng lúc ấy xe họ lại đón cháu đi rồi.

- Tôi đã bảo mà. Phố xá bây giờ là cứ mỗi người đút mình vào một ô, tường xây, lồng sắt chắn tứ phía. khoá trái cửa lại để tự dốt mình vào đấy, còn bí bách hơn là cái cũi chó. Ý anh bây giờ thế nào?

- Việc tang lễ cho mẹ cháu ạ?

- Ý anh còn muốn việc gì khác?

- Dạ. Cháu định xin ý bác. Còn cháu nghĩ: đằng nào cũng phải để đến mai, các cơ quan ở Hà Nội và tỉnh mới về kịp.

- Định để nó thối inh lên à?

- Đến lúc liệm sẽ đổ chè. Cháu đã báo về Hà Nội, tối nay sẽ có phương tiện làm lạnh giữ thi hài mẹ cháu.

- Còn việc tổ chức?

- Mọi việc sẽ do các anh ở huyện và xã lo.

- Thế à?

Ông cụ sầm mặt đứng bật dậy giật chiếc áo vắt lên vai đi ra cửa. Hiếu biết mình lỡ lời. Nói dối hàng trăm câu thì thành thạo mà nói thật một câu lại vụng về hỏng việc. Cốt lên đây làm cụ vừa lòng. Đầu óc mê muội thế nào lại làm cụ thấy mình là kẻ ngoài cuộc. Tiếng ông cụ khi bước ra khỏi quán:

- Người nhà ông chết, chúng ông thiệt, chúng nó mất gì mà chả lập ra ban nọ, bệ kia. Thằng Nạc đâu. Gọi bố mày về nhà. Ông cấm họ hàng con cháu đứa nào dính vào đấy. Việc của ban tổ chức tang lễ người ta làm, bận gì đến chúng mày.

Những cán bộ chủ chốt của huyện và xã dồn lại bên Hiếu. Anh thuật lại vắn tắt rồi nhờ chủ tịch huyện và bí thư đảng uỷ xã chạy theo "lạy" cụ hộ anh. Họ mời cụ làm đại diện cho gia đình là uỷ viên thường trực của ban lễ tang. Vừa kính nể, vừa thương Hiếu, ai cũng lặng lẽ nhìn anh trước khi chạy đi. Những cử chỉ ấy đều như nói với anh: mọi việc sẽ ổn thoả. Nhất định cụ già sẽ nguôi giận. Những người bạn đi khỏi, Hiếu ôm đầu, gục xuống chõng bán hàng của bác Từ gái. Bà con vẫn xúm quanh, dõi theo từng cử chỉ của anh. Vẫn kính phục và cảm thông nỗi đau xé lòng, xé ruột của anh nên khi thấy anh gục xuống, người như lịm đi, thì bỗng hàng trăm người ào lên hò nhau đi lấy lông gà, tóc rối, đi gọi y sĩ trạm xá... Nghĩa là ai quen thứ gì chữa được cảm thì hò nhau thứ ấy, tới tấp xô vào cấp cứu. Trong lúc bà con xiết đậu xanh, vo gạo, bắc bếp, nấu cháo hành, tía tô cho anh, đầu Hiếu vẫn rần rật câu hỏi: "Tại sao con Huyền lại nói nửa kín nửa hở như thế? Nó đã biết gì về chuyện xẩy ra giữa bố và bà để dẫn đến cái chết này? Liệu bà đã kể cho nó những gì về quan hệ giữa tổng Lỡi với anh?"

Từ khi nghe con nói như đứt ra từng hơi thở trách bố về cái chết của bà, người anh tê dại, mồ hôi toát ra đầm đìa mà trong ruột lại run như sốt rét. Và bây giờ thì anh thiếp đi trong mệt mỏi và khiếp sợ. Có đến ba, bốn người cùng đi theo một bà chủ bê bát cháo bốc hơi nghi ngút đến chỗ anh nằm. Họ giật mình sững lại vì tiếng hét của anh. Anh cũng giật mình nhổm dậy thở gấp. Mỗi người một lời dỗ dành khuyên anh cố húp bát cháo cho thoát mồ hôi ra nhưng anh thì đã ướt đầm đìa quần áo vì mồ hôi toá ra sau cơn kinh hoàng của cái đêm ông tổng Lỡi đưa mẹ anh xuống đò. Mẹ anh kêu: "Lạy ông, ông cứ để cho em đẻ ở đây với ông. Em không đi đâu". Ông tổng vẫn gỡ tay mẹ ra, mẹ rú lên và thế là anh tòi ra và rơi tõm xuống nước. Ông lái đò nhảy xuống vớt anh lên đặt vào lòng mẹ. Người mẹ nhũn ra. Anh sờ vào mặt, mặt cũng nhão như cháo vữa. Anh kêu thét vùng vẫy chạy, mở mắt ra đã thấy mùi cháo hành ngào ngạt trước mặt. Mọi người giục anh ăn cho nóng. Anh bê bát và cảm ơn rồi đặt xuống chiếu. Trong đầu anh vẫn đau nhói như có những cuộn dây thép gai vòng vèo, mắc nối dài dặc từ cái đêm mẹ rời bến đó ra đi để đẻ ra anh cho đến cái chõng tre mẹ đang nằm, hình như vẫn chỉ có một chỗ này. Một chỗ người ta đóng cái cọc ở giữa những cuộn dây thép gai và cứ kéo nó ra, lại cuốn nó vào, kéo đi kéo lại trong đầu anh. Đau đầu quá. Anh lại gục xuống. Đến gần tối anh mới tỉnh dậy là do chính bàn tay ông cụ Từ lay gọi:

- Thôi. Cố nén lại cháu ơi. Bác cũng đau lắm. Từ khi ông bà đẻ mẹ mày ra, hàng trăm phen bác sống chết để nuôi nấng cưu mang, đỡ đần, an ủi em, bây giờ em lại đi trước anh. Em đi khổ đi sở ngay trước mắt anh, có thằng anh nào chịu được. Ối em ơi... ối... ối! Đất ôi là! Ờ ơ ơ...

Ông cố kìm tiếng nấc thì nước mắt Hiếu lại giàn ra. Sự đau thương của hai bác cháu chìm vào đêm như những tảng đá chìm dưới đáy sông, nó đang nhúc nhích trôi do những bàn tay dìu đỡ đưa cả hai bác cháu đi theo thi hài đã có hồn nhập trở về nhà, ngôi nhà của cụ tổ để lại. Từ đêm rời nhà đi biệt tăm hàng chục năm trời đến nay tất cả mọi thăng trầm, tất cả những lần đi và về quyết định đời bà đều diễn ra vào ban đêm. Đêm tối ở làng Cuội cũng vắng lặng âm thầm như mọi làng quê nhưng với bà lão Đất thì nó vừa là người che giấu tội lỗi, vừa là viên quan toà nghiệt ngã, vừa là người bạn đường tin cậy, vừa là ma quỷ ẩn nấp phía sau từ bi. Với bà, được run rẩy yêu thương hay bị cào xé hành hạ, được ngẩng mặt tươi cười nhìn chúng bạn hay cứ mãi mãi cắn hai hàm răng lại nuốt nước mắt vào lòng, cho đến lúc này đều vô nghĩa. Khi bà cần sự cưu mang cứu vớt thì chả thấy ai, cứ lầm lũi một mình chịu đựng. Lúc hàng trăm người ồn ã nâng bà lên trên tiếng khóc xót xa và thương tiếc thì bà cứ dửng dưng lạnh lùng cùng bóng đêm mang đi mọi bí mật của chính cuộc đời bà và của những kẻ lặn lội vật vã quanh cái xác đã rữa ra của bà đang được đưa về nhà thờ tổ đêm nay.

Phần 1 - Chương 3

Một cuốn sổ nhoè nhoẹt nhưng vẫn đọc được, tựu trung chỉ vẻn vẹn mấy trang giấy học trò, được bọc cẩn thận trong những lần giấy xi măng để ở đáy hòm khoá chuông. Vừa đúng hai mươi hai năm sau, năm 1955, khi đứa con đã làm uỷ viên chấp hành chi đoàn thanh niên xã và lấy vợ, nó buộc người mẹ phải trao cuốn sổ để nó đốt đi. Bà run rẩy đưa sổ cho con và ứa nước mắt nhìn nó châm lửa đốt vào những trang giấy bà ghi như đốt vào ruột bà. Tuy là cô gái độc nhất của làng Cuội biết chữ nhưng con gái thời ấy không được biên, chép bất cứ một thứ gì. Biên chép thứ gì cũng là biên thư cho giai mà đã là phận gái phải biết câu: "Thụ thụ, bất thân". Nhưng đấy là luật lệ ở làng Cuội. Đến La Hiên, Đất gặp chị họ của ông tổng bán hàng ở ngã ba thị trấn. Bà cho người dẫn cô đi tiếp nửa ngày đường rừng mới đến chỗ cô ở. Đưa cho cô một gói mực tím, cái ngòi bút "lá tre", quản gỗ mộc, một quyển sổ, bà nói:

- Cậu tổng dặn tôi đưa những thứ này cho cô. Ngày nào cần gì hay muốn chuyện trò với ai cứ biên vào đây. Lựa có người là chỗ tin cẩn về xuôi hoặc ở dưới xuôi lên tôi gửi cho nó nhanh. Thời Tây bây giờ người ta có thời giờ đâu mà con cà con kê như chị em mình.

Cứ trông chờ được gửi về cho ông tổng và ông sẽ lên đây như đã hẹn với cô, nên bao nhớ thương, buồn tủi, bao phen đắng cay hiểm nghèo cô đều muốn trút vào quyển sổ những mong ông đọc, hiểu thấu nỗi lòng của cô.

Nhưng đã bao nhiêu đêm thổn thức để cô nhớ lại quá nhiều những gì đã xảy ra trong tình cảm của cô mà chép được vào sổ lại quá ít. Cô cũng không còn biết ngày tháng là gì nên ngày nào cô cũng chỉ ghi: "Hôm nay" Hôm nay chắc là hội làng rã đám rồi. Ông còn đủ sức làm chủ trò hay là như nhời ông bảo em: "Em đi thì hội tan, anh thiết quái gì cái hội ăn tục nói phét hở em".

Cô nhớ đến cái buổi sớm hôm tiễn cô đến bến đò Phương Trà, sờ trán ông đầm đìa mồ hôi, cô sợ quá tưởng ông bị cảm vì ban đêm ông và cô nằm giữa sương gió. Ông lại ghì riết lấy ngực cô, bảo: "Cứ nghĩ đến ngày mai, ngày kia không nhìn thấy em, không hiểu anh có gượng dậy mà lo toan mọi việc cho chúng ta!" Cô muốn oà khóc nhưng sợ ông đau đớn quá đành phải cắn chặt hai hàm răng lại, gỡ tay ông ra, cô vừa lấy đuôi yếm chấm nước mắt vừa chạy lao xuống bến đò, vì lo trời tảng sáng có ai nhìn thấy, khổ cho ông. Nếu không, làm sao cô rời được ông ra. Ruột gan cô lại cồn cào lo không biết ông còn đứng lại ở chân đê lâu không? Còn cô, sang đến bờ bên kia không thể quay bước lên đê được. Sương mờ quá nhìn mãi không thấy bãi bồi bên mình, cô chỉ chực nhào xuống sông bơi về với ông. Làm sao những ngày như thế này cô và ông có thể rời nhau ra được, làm sao cô lại mất ông nhanh như thế hở giời? Ấy là cô chỉ dám nghĩ vậy thôi. Lúc ấy cô đã khóc oà lên như một đứa trẻ, như hồi bố cô đột nhiên lăn ra chết. Khóc được, cô mới nhẹ được bước chân để chạy vào ga tàu kẻo muộn. Hết một ngày rưỡi đi đường, đến La Hiên, bà Nhớn đã cho người đưa cô đi ngay không để ai thấy mặt. Đi từ trưa đến khi không nhìn rõ mặt người một lúc, thì đến một gian lán ở giữa rừng. Xung quanh lán rào nứa để chắn hổ. Ông chủ của nó là một người làm thợ sơn tràng đã bỏ đi đâu hơn một năm nay. Bà Nhớn bảo: "Cứ yên phận mà ở đây, khi nào người ấy về bà sẽ dàn xếp". Người quen của bà Nhớn dẫn cô đi cũng nói với mấy người Mường, Mán gì đấy ở bên kia suối là giúp cô trồng sắn, gieo hạt. Họ chỉ cười, gật đầu và nói gì cô không hiểu. Bà Nhớn dặn cô: "Có ai hỏi thì bảo: Tôi là cháu bà Nhớn. Chồng tôi nó bán hết mọi thứ để đánh bạc, uống rượu. Đêm về nó lại đánh đập hành hạ, không chịu được. Bà Nhớn phải gửi tôi lánh vào đây". Ông có bằng lòng cho em nói như thế không? Em cầu mong cuối tháng này hoặc đầu tháng sau ông thu xếp lên với em vài ba ngày. Giời ơi, mới có mấy hôm mà em tưởng không thể chịu nổi. Tiếng những con gì đêm nào cũng gào, hú như muốn ngấu nghiến nhai nát em ra. Cứ cảnh rùng rợn, mất ngủ thế này, em chết mất ông ơi. Nhớ được như thế, day dứt bao nhiêu điều như thế mà cô không thể xếp những ý nghĩ của mình ra để chép vào giấy được nhiều. Cô lại chỉ ghi:

"Hôm nay lại tưởng chết vì những trận nôn tám ngày nay, không biết bao nhiêu trận cứ móc họng lôi thốc cả ruột gan ra ngoài".

Suốt tám ngày qua, đêm nào cô cũng trằn trọc đau đớn và lo sợ. Không hiểu vì sao ngày nào cô cũng ăn đất, lại nôn ra toàn đất và đắng đến run lên. Hay là đứa con có sự gì mà đạp, rẫy, làm người mẹ tắc thở, ngất đi, tỉnh lại không biết bao nhiêu lần. Cô đã phải thầm thì lạy con: "Con thương mẹ, cho mẹ yên, mẹ cố sức mỗi ngày kiếm vài xu tiền củi để khi mẹ tròn, con vuông còn có miếng rau, miếng cháo nuôi con".

Từ hôm tiễn cô đi đến nay đã được hai tháng, tám ngày. Ông bận việc quan hay ốm đau. Hay trắc trở điều gì mà ông vẫn bặt vô âm tín để một mình cô cứ phải khốn khổ, khốn nạn như thế này. Suốt đêm lo chống chọi, chạy trốn tiếng hổ, tiếng báo. Ban ngày kiếm được gánh củi ra đường cô lại sợ có người dưới xuôi lên nhìn thấy mặt mình...

Hôm nay bà Nhớn đến cho em ba đồng bảo là tiền của mẹ em gửi thì em biết mẹ em một thân một mình lần không ra một xu lấy đâu những ba đồng cho em cầm mấy đồng tiền vào tay, tay em cứ rụng rời ra không lên được với em ông tiếc cả mấy hàng chữ mà không cho em được mấy nhời bà Nhớn hỏi rằng là nhà cháu với cậu tổng là thế nào thì em thưa bà ơi bố cháu là chỗ bạn học của ông tổng ông tổng coi bố cháu như là anh khi bố cháu mất đi ông tổng lo cho cháu như là lo cho con cái trong nhà thế rồi bà lại bảo tiếng là người ở quê nhưng đi từ thuở bé ngoài mấy người ruột thịt bà có biết ai vào ai em lại phải thưa với bà là bà ơi cháu cũng không ngờ đến nông nỗi này thôi thì đã có nhời của ông tổng trăm sự cháu nhờ cậy vào bà thì bà lại bảo thế cái thằng chết tử chết tiệt nó phản cháu bây giờ nó ở đâu em xin với bà là anh ấy cũng bỏ làng đi ngay sau cái lần làm cho cháu lỡ dở rồi bà lại bảo rằng là ừ cái... của của thằng đàn ông nó như cái gậy thằng ăn mày bạ đâu nó cũng chọc mình là phận gái nhẹ dạ cả tin là ô nhục khốn khổ cả một đời em lạy bà anh ấy thề với cháu là nếu không lấy được cháu làm vợ anh ấy không sống được nữa bà ơi thì bà lại bảo thế hả thế cháu giở vành váy cháu ra xem còn lời thề của nó ở đấy không thề thốt thề thốt của thằng đàn ông ra khỏi miệng nó giống như cái... của nó rút ra khỏi cái của mình nó vẩy đi vẩy lại một cái là ráo hoảnh lấy gì làm bằng cớ lẽ ra phải bắt nó nuốt nước miếng mà chờ dạm hỏi cưới xin đàng hoàng bà đã về nhà mày rồi thì mày đã mất tiền mua mâm bà kệ xác mày cứ đâm cho thủng khổ cháu tôi thật thà dại dột quá ai lại chỉ nghe nó thề sống thề chết vài lời mà đã vội vàng ngửa ra ở bờ bụi xó xỉnh cho nó thì cả trăm ngàn vạn thằng đàn ông đều biết lừa lọc nó chỉ cốt... xong mình chưa kịp ráo nó đã vác cái mả cụ tổ nhà nó đi, mình ăn thịt nó à.

Lúc ấy cô thấy bủn rủn cả người. Nhưng cô vẫn tin không đời nào ông là con người như bà Nhớn nói. Cô nghĩ ông vẫn còn thương mẹ con cô. Chắc có bề gì làm ông không đi được. Biết vậy cô vẫn cứ thèm lúc sinh nở, ông đến với mẹ con cô một lần để ông nhìn con ông, cho cô bõ những ngày chui lủi một mình.

Có lần bà Nhớn lại bảo cô: "Có một thằng chuyên đi bốc mả thuê, nó khoẻ mạnh mà tốt nết lắm lại là trai tơ. Để bảo nó đến đây. Có hơi thằng đàn ông cũng đỡ trống trải". Cô thưa: "Cháu đội ơn bà có lòng thương. Nhưng cháu tin anh ấy nhà cháu còn thương mẹ con cháu lắm. Chắc anh ấy phải bỏ đi là để làm thuê làm mướn kiếm tiền nuôi mẹ con cháu". "Vậy là nó biết mày ở đây à?" "Dạ, không ạ. Khi đi anh ấy có dặn cháu là có ở chân trời góc biển nào thì cũng cứ mà yên trí, anh sẽ tìm đến". Bà Nhớn thở dài rồi bảo: "Thôi được, mày đã quyết như thế tao cũng không ép".

Hôm nay bà lại đến bà lại bảo mày có ý định đánh thư về xuôi cho bà lão thì đưa tao nhờ người tin cẩn đưa về cho cậu tổng cậu ấy giúp, em bảo là cháu không ạ nếu được xin bà nhắn ông tổng bắn tin là cháu chết rồi.

Đêm ấy cô lại thức trắng, nhớ lại lúc ngồi với bà Nhớn, bà mắng cô: "Ăn nói độc mồm, độc miệng, hổ báo nó bắt mày đi". "Bà cứ nhắn hộ cháu là cháu đi kiếm củi bị hổ nó ăn thịt rồi". "Con mẹ mày, Mày điên rồi hay sao? Mày có sợ phải tội với cái thai trong bụng mày không?". "Bà ơi mẹ cháu yếu lắm rồi. Lọ mọ một thân, một mình, sống chết lúc nào không hay. Cháu muốn mẹ cháu chỉ đau đớn một lần nữa thôi. Cứ để thân già, chết dần chết mòn, cháu khổ lắm". "Cớ sao bà lão còn gửi tiền cho mày?" "Chắc là bán được cái gì đấy". "Tao muốn nói: cớ sao bà lão lại biết mày đang ở đây mà gửi tiền đi?". "Có lẽ ông tổng thương tình mẹ cháu mà cầm. Còn mẹ cháu thì lại tin ông tổng đi ngược về xuôi, chỗ nào chả biết. Nên cháu nghĩ thế này: cháu nhờ bà chuyển cả ba đồng về cho ông tổng nhờ ông nói với mẹ cháu là không nhờ ai tìm thấy nó ở đâu, đành gửi lại bà. Sau này ông tổng có nhớ đến tình làng nghĩa xóm thì giúp cháu, cho mẹ cháu xin cỗ áo quan".

Thấy cảnh sống và những lời nói gở của cô, không chịu được nữa bà Nhớn đùng đùng bỏ ra về.

Hôm nay đêm qua em nằm mơ thấy ông tổng lên với em, lên với đứa con của ông thì em mừng quá vội vàng chạy vào nhà để ông phải vào đấy với em để ông nghe thấy đứa con ông nó đập thình thịch làm em phải đau đớn quằn quại thì ông quay ngựa đi ông bảo ông không thèm biết mày là ai, thế là em vội kêu lên rồi thì mắt em mở ra em sợ quá.

Hôm nay con đạp mạnh quá có điều gì mà con đạp mẹ làm mẹ phải ôm lấy gốc cây khỏi ngã vật ra.


Cô như thì thầm với đứa con, van lạy nó đừng hành hạ cô lâu, nhưng cô vẫn không thể đứng dậy được, đành bỏ gánh củi ở bờ suối, ôm bụng vừa đi, vừa bò về nhà. Hôm trước bà Nhớn bảo cô đừng lo, nó đùa đấy. Con đùa vui thì cô mừng quá. Nhưng cô phải "lạy" con là thương mẹ, con đùa nhè nhẹ cho mẹ đỡ đau mẹ còn lấy sức cho con chui ra. Nếu đúng chín tháng mười ngày thì hôm nay đã là tám tháng bảy ngày rồi.

"Hôm nay". Có lẽ không bao giờ cô nhắc đến người tình của mình, người cha của đứa bé sắp ra đời, ông tổng Lỡi. Những dòng cô ghi như là đánh dấu để sau này cô nhớ lại những đận gian truân khốn khổ của mình. Cô không phải mong ngóng mòn mỏi chờ ngày con ra đời. Cô đã bắt được cục vàng của cô rồi. Cô đang bám vào cột quằn người kêu la tưởng là đứt ruột chết ngay, không thể nào chịu được nữa thì thấy nhẹ "hẫng" đi. Cô nhìn xuống để thấy "con chó" nằm lên bàn chân cô. Cô vội vàng cúi xuống bế con lên. Cái ánh sáng nhập nhoè của đĩa dầu lạc để cô chợt nhìn thấy vòm mắt sâu sâu của con, cô bỗng giật thót người như có ai chẹt lấy cổ làm tức thở. Cô sững sờ vì tưởng lại nhìn thấy đôi mắt sâu sâu của người tiễn cô xuống bến đò đêm nào. Nhưng "người đó" quên mẹ con cô rồi. Người đó đưa giấy mực bảo cô hôm nào cũng chép tất tật mọi chuyện để gửi cho người đó, người đó cũng quên ngay rồi. Nhưng cô cần gì.

"Hôm nay, con đầy tuổi tôi."

Mỗi lần nhìn con, cô lại thấy đứt ra từng khúc ruột. Có con, cô sung sướng bao nhiêu thì lại càng hoảng sợ bấy nhiêu. Mỗi ngày cô lại đau nhức, tê dại cả hai tay, hai chân mà người thì cứ như không còn hơi để thở. Chiều nay run quá. Đi nhặt củi, xách nước cô phải bò xuống suối rồi lại cõng củi, cõng nước bò lên. Từ hôm đứa con ra đời, cô chưa đụng đến hạt cơm nào. Ngay đến cháo húp vào cũng thấy nhạt, mồm miệng lúc nào cũng thấy hôi hôi, đắng ngắt. Mỗi lần húp bát cháo cô cố nhắm mắt, nhắm mũi húp cho qua miệng để lấy sữa cho con. Nhưng nếu ăn vào lại nôn thốc ra như sáng nay thì con bú bằng gì? "Con ơi, nếu nhỡ ra mẹ có mệnh hệ nào thì..." Tự nhiên con khóc ré lên như mắng cô. Cô phải xin con. "Mẹ xin. Cho mẹ xin. Mẹ không khóc nữa. Mẹ nín rồi mà. Đừng nhăn mặt mắng mẹ thế. Nào nào, mẹ cười rồi, ư ư mẹ cười đấy chứ. Mẹ không mếu nữa đâu. Ư ư". Con chó con của mẹ thấy mẹ khóc nó mắng mẹ nó đấy, ghê chưa?. Lần đầu tiên trong đời, cô cất tiếng ru: "À ơi. à à, ơi... ơ..." Bà Nhớn vào kêu: "Giời ơi, tao trông mày ngỡ là con ma. Sao mày bảo phải đến tháng này?" "Cháu cũng không biết thế nào mà thiếu đúng một tháng, ba ngày". "Thế ai đỡ cho mày?" "Không có ai bà ạ. Cháu đau bò lê bò càng từ chiều tối. Đến nửa đêm cháu bò về nhà, đang ôm lấy cái cột giữ nhà thì cháu bà nó buột ra khóc rất đanh". "Ai cắt rốn cho nó?". "Trời ơi, cháu mừng quá. Cháu quỳ xuống ôm lấy con rồi ghé răng cắn nhay mãi mới đứt. Cháu đặt nó đấy, đi chôn rau rồi mới chạy về bế cháu". Cả tháng giời rong huyết, không nhìn thấy mặt mình nó xanh xao, méo mó như thế nào để đến lúc mới nhìn cô, bà Nhớn hét lên định bỏ chạy. Cô phải gọi: "Cháu đây, Đất đây bà ơi. Cháu sinh cháu trai được một tháng rồi bà ạ".

Hôm nay mẹ ngồi nhìn con thì con ơi nếu mỗi ngày mỗi đêm không có tiếng khóc của con thì không tài nào mẹ gượng dậy được.

Bà Nhớn chạy đi tìm một bà gọi là bà mế mang lá đến cho cô. Người đẻ kiêng mọi thứ sống sít, bà mế lại bắt cô nhai một nắm lá nuốt cả nước lẫn bã. Cô không ngờ đời cô lại có người hết lòng cứu giúp. Chỉ chưa đầy nửa ngày máu đã cầm hẳn. Bà Nhớn bắt một con gà trong lồng gà bà mang đến. Làm xong, bà chặt ra kho với một vốc gừng và cả lưng bát bột nghệ. Cái gánh của bà, một nửa là gà, nửa bên kia toàn là gừng với nghệ. Bà bảo trừ cơm ra còn bất cứ thứ gì kho cũng thái gừng, giã nghệ trộn vào. Không kiêng khem cẩn thận, sau này khốn vào thân. Trưa nay cô mới thấy đói và thèm cơm. Bà Nhớn ép, cô ăn được vực cơm chặt. Gần một năm lên đây, nói thực ra từ tết năm ngoái đến giờ, trưa nay mới được ăn miếng thịt gà, tự nhiên nước mắt cô cứ ứa ra, xấu hổ quá.

Hôm nay con được hai tháng mười bảy ngày

Cô vẫn chỉ ghi lại như cái cớ để sau này nhớ lại kể với con rằng: mỗi ngày con lại có thêm một trò cho mẹ. Mấy ngày trước thì chỉ thấy ngủ. Ăn cũng ngủ. Khóc thét lên đòi thay tã, đòi nước cũng vẫn nhắm nghiền hai mắt lại, ngủ. Mấy hôm nay lại chỉ có cười, ngủ cũng tủm tỉm cười. Ai dạy con cái cười mà ghét ơi là ghét. Thỉnh thoảng lại nhách mép ra một cái, đến là nghịch. Có phải dạo này con thấy mẹ khoẻ dần lên, con vui con trêu mẹ? Mẹ chỉ muốn ngồi cả ngày, cả đêm nhìn con ngủ, con cười thôi, con chó con của mẹ! Nhưng mẹ còn phải đi kiếm củi, làm lụng nuôi con.

Hôm nay mẹ tưởng phải đâm đầu xuống suối mà chết con ơi.

Lúc đi bán được gánh củi về thì không thấy con đâu. Ai bế mất con tôi rồi? Cô chạy sấp ngửa đi các khe, các hẻm kêu la. Không thể đừng được thì cô gào khóc, kêu than chứ ở đây có ai nghe. Chạy đi khắp nơi không thấy con, cô quay về định cầm con dao quắm tự bổ vào đầu mình cho nó nhẹ nợ. Lúc quay ra lại thấy con nằm ở sườn dốc, không một mảnh tã trên người. Giời ơi, còn may mà con vướng được vào giữa hai cây mọc sát nhau không thì đã lăn xuống suối chảy đi tận đâu rồi. Bế con về, ủ trong lòng, vắt sữa vào miệng, mãi con mới mở mắt, chép chép nuốt những giọt sữa mẹ. Cô hoàn hồn mà ruột gan vẫn cứ run bắn lên. Nào cô có ngờ đâu đến nông nỗi này để tìm cách treo con khi cô đi khỏi nhà. Người ta bảo "chó treo, mèo đậy" cô lại để con nằm ở ổ nên khi con "bậy", một con chó ở đâu đã nhảy vào lôi giẻ đi tìm phân. Nó kéo giẻ, kéo cả con đi. Khi con vướng vào gốc cây nó kéo giẻ đi mươi bước nữa, dọn hết phân nó mới để giẻ lại. Cũng là đoán vậy thôi. Làm sao cô biết được hết đầu đuôi mà con thì chưa thể nói cho cô hiểu. Đêm nay ngồi ôm con, cứ mỗi bận con thon thót giật mình, cô lại thấy đau thắt ruột lại. Từ ngày mai cô phải làm thế nào để vừa trông con, vừa kiếm củi bán, đong gạo nấu cháo cho con ăn?
° ° °
Nhưng chuyện chó tha con xuống bờ suối chưa phải là nỗi kinh hoàng cuối cùng. Quyển sổ như là những bức thư, như là nhật kí có thể gọi nó bằng cái tên: "Hôm nay" không còn hào hứng, không còn sức lực ghi lại những đận long đong sau này nhưng không ai đốt được, không ai cậy răng người mẹ nói ra nửa lời. Nó ở tận đáy lòng bà và nó im lặng cho đến ngày bà trôi về quê.

Con được năm tháng, bảy ngày thì lên sởi rồi chạy hậu, vào phổi. Suốt ba tháng trời mỗi ngày mẹ ăn một củ sắn lùi, ngồi ôm con. Mười tám tháng tuổi con đi ỉa chảy rồi kiết lị cả nửa năm trời. Ba tuổi, con bị trúng gió rồi lên cơn sài giật lăn ra chết. Anh thợ bốc mả đến chơi, chưa kịp vào nhà đã chạy đi chặt cây giang chẻ lạt bó con bằng manh chiếu rách. Bó được ba lạt, anh thương quá gục mặt xuống ngực cháu khóc. Anh giật mình kêu lên: "Còn thở. Thằng cu nó còn thở". Lại một thầy lang ở bên kia núi mang xác rắn, rễ cà và thứ thuốc bí truyền gì đấy cho uống. Đổ vào đến đâu, mắt con mở ra đến đấy. Rồi phải bỏng. Rồi chết đuối. Rồi trèo cây ngã gãy tay và rắn độc cắn vào cổ chân... Chỉ mỗi lần con sổ mũi, nhức đầu, nghe tiếng con hắt hơi mẹ đã giật thót người lại, huống hồ bao phen con chết đi sống lại! Nhưng có người mẹ nào lại nhẩm đếm đã bao lần ôm con vò võ thâu đêm! Bao phen phập phồng theo từng nhịp đập thoi thóp của quả tim non nớt ốm yếu của con! Cái cơ thể nình nịch đẫy đà kia chỉ qua bốn, năm năm trời nuôi con đã teo tóp như một cành cây lìa khỏi thân cây thì làm sao người mẹ ấy lại trở thành "đồ dã tâm độc địa, hãm hại con" vào những ngày cuối cùng của đời mình, khi đứa con, cái "giẻ rách vắt vai" đã thành phó chủ tịch tỉnh, rồi làm cán bộ đối ngoại cao cấp ở một bộ quan trọng. Bao nhiêu vất vả gian truân, bao nhiêu đau đớn tủi nhục người mẹ nuốt hết vào lòng cốt để trở thành bất tử, thành người hạnh phúc nhất trần gian lúc đứa con bập bẹ tập nói: "Con thương ai nhất?" "Con thương mẹ nhất". "Con thương mẹ có nhiều không?" "Con có nhiều thương mẹ lắm". "Con thương mẹ nhiều như thế nào?" "Con thương mẹ nhiều như cứt con cò ỉa xuống gốc tre". "Ấy con ơi, đừng nói thế". "Mẹ bảo cứt cò nhiều ơi là nhiếu, làm sao lại không được hả mẹ". "Cứt cò xấu lắm. Con phải bảo thương mẹ như nước suối". "Ứ ừ... nhiều hơn nước suối cơ". "Ừ được, nhiều hơn. Thế thương mẹ con để ở đâu?" "Con để ở trong cái đầu này này. Xong rồi con để ở cổ, ở bụng con nữa mẹ nhỉ?". "Ừ, ừ. Thế lớn lên con làm gì?". "Nhớn lên con đi ăn trộm củi" "Ấy chết. Sao lại đi ăn trộm, con phải đi kiếm củi với mẹ chứ". "Đúng rồi, nhớn lên con đi kiếm củi với mẹ cơ". "Kiếm củi làm gì?" "Kiếm củi bán lấy tiền đong gạo". "Đong gạo làm gì?" "Đong gạo nấu cơm cho mẹ ăn thật no. Con nuôi mẹ nhớn mẹ nhỉ. Nhưng không được đi chơi xa ông hổ bắt đấy. Ông hổ có cái răng to lắm, mẹ không biết được đâu". "Con có sợ ông hổ không?" "Sợ lắm. Ông hổ đuổi. Thế là con trèo lên ngọn cây tít tít trên đầu núi ông Vượn, ông hổ không làm gì được con". "Chết chết. Trèo lên cao là ngã gãy xương như cái tay gãy ấy, không được đâu". "Nhưng con trèo lên con chơi với ông giăng có được không?" "Không được" "Thế con lấy cái sào dài ơi là dài con kều ông giăng xuống với con có được không mẹ?" "Cũng không được"... "Thế con không có gì chơi à?" "Thì mo nang lá mít còn bao nhiêu đấy". "Ngày nào cũng chỉ có thuyền mo nang, lá mít, chán lắm". "Chịu khó, rồi hôm nào mẹ cho lên bà Nhớn mua cái đèn ông giăng xanh đỏ đẹp lắm". "Nhưng phải như ông giăng thật cơ". "Ừ, như thật". "Mẹ ơi, thế ai thắp lửa cho ông giăng?". "Ừ, ừ... thằng Cuội thắp lửa cho ông giăng". "Thế ai đổ dầu vào đĩa lạc cho ông giăng?" "Thằng Cuội đổ". "Thế ai nấu cơm cho ông giăng ăn?" "Thằng Cuội". "Ai đưa ông giăng đi chơi hả mẹ?" "Thằng Cuội". "Thằng Cuội giỏi nhỉ. Nhớn lên con làm thằng Cuội được không mẹ" "Ừ... ừ... được" "Thế nhà thằng Cuội ở đâu?". "Nhà nó ở... làng ta" "Làng ta ở đâu hả mẹ? Sao mẹ không cho con về làng ta?" "Nhớn lên mẹ cho con về".

Năm thằng Hiếu mười tuổi, chị đã dắt con về làng. Ngày ấy mạn ngược đã nhao nhác nghe cái tin Việt Minh nổi dậy. Tây, Nhật hục hặc nhau, sợ loạn lo. Biết là bà con chòm xóm, anh em ruột thịt, bạn bè gần xa sẽ phải hỏi han, thì thào nên Đất phải sắp sẵn một "lai lịch" cho cả khi ra đi và lúc trở về đột ngột của cô. Những ngày đi cắt cỏ ở cánh đồng Tam Bách Mẫu đem bán, Đất thường gặp một anh tên là Lâm. Anh ấy khoẻ mạnh, đẹp trai, chịu thương chịu khó, mà lành. Anh ta hay bó hộ cỏ, có khi còn gánh hộ đến nửa đường để Đất kịp buổi chợ rồi mới quay lại gánh cỏ của mình gửi ở chỗ bà hàng nước vối. Lâu dần Đất mến rồi say anh ấy. Anh dụ Đất cùng trốn lên mạn ngược với anh ấy để nhờ bà cô mới có lực đứng ra làm lễ cưới cho hai đứa. Cưới đầu năm thì cuối năm có con. Cuối năm 1941 không ngờ anh ấy đi hoạt động Việt Minh ở trong rừng, biệt tăm tích. Đến đầu năm nay mới biết tin là anh ấy đã bị Tây bắn chết. Chồng chết rồi, ở lại đất khách quê người nơi rừng rú nó trống, lạnh nghĩ cực quá mẹ con đành đem nhau về quê trăm lạy các bác Cu Từ, Cu Mỡ và họ hàng nội ngoại thương cho mẹ con cô. Cái "lai lịch" ấy được tạo nên từ hai người: một người là chủ ngôi lán bỏ không bà Nhớn đưa cô đến ở. Chị không hề biết tên tuổi, tướng mạo của người ấy là thế nào. Người ấy là Việt Minh. Một người tên là Lâm làm nghề bốc mả thì cu Hiếu biết rất rõ. Bác ấy là người riết đến nút lạt thứ tư trên người nó thì kêu nó còn sống, lại cởi lạt ra, thế là nó ngồi dậy. Bác còn cho mẹ con Hiếu một thúng thóc, bổ một cái gốc to ơi là to để mẹ con Hiếu lấy củi sưởi cả mùa đông Hiếu ốm. Có lần mẹ phải bế Hiếu cả ngày cả đêm, bác đến vác nước hộ. "Nhưng ngày trước mẹ bảo bố con đi vào rừng bị ông hổ ăn thịt sao bây giờ mẹ lại nói với bác Cu Từ, bác Lâm là bố của con?" "Mẹ đã bảo để khi nào con lớn mẹ sẽ nói hết mọi chuyện. Bây giờ đừng hỏi gì mẹ, mẹ khổ lắm". Dù đã "vâng ạ" nó cũng không thể hiểu hết nỗi khổ nhục của mẹ nó. Đang là cô gái hiền lành, thật thà, bỗng dưng thành kẻ gian dối. Hàng chục năm nay mẹ nó phải nghĩ ra những người bố "mất tích", "bố bận việc ở xa lắm", "bố đang đi kiếm ăn chưa về...". Nghĩ ra hàng loạt ông bố cốt để cho con có một người cha, chỉ cần có một người cha chứ không cần mẹ có một người chồng. Năm ngoái, nhận tin ông tổng sẽ lên Thái cần gặp mẹ con ở nhà bà Nhớn, chị tím bầm mặt lại vì căm giận kẻ lừa đảo. Khi tĩnh tâm chị nghĩ: hay là ông ta đã hối, muốn nhận lấy con. Đằng nào mình cũng là kẻ đĩ thoã coi như bỏ đi. Để con đi với ông ta nó cũng được ấm thân nó mai sau. Chuyện này thì thằng Hiếu nhớ lắm. Hôm ấy, hai mẹ con mang cơm nắm và bốn củ sắn luộc đi từ lúc mặt trời chưa mọc. Khi mặt trời chưa đứng bóng đã đến nơi. Bà Nhớn đang ốm nặng. Mẹ đi giặt rồi xách nước, bổ củi. Xong mọi việc hai mẹ con ngồi nắn tay, nắn chân cho bà. Quá trưa bỗng có tiếng kêu ở ngoài đường. "Bà Nhớn có quan lớn ở dưới quê lên thăm". Không hiểu sao mẹ lại vội vàng kéo tay con sấp ngửa chạy lại cửa sau, luồn ra vườn, nấp vào bụi cây rậm rạp nhìn ra đường. Con ngựa đứng lại mãi ở ngoài đường cái chính. Ông quan ở quê ngồi trên lưng ngựa và một bà béo như một đống thịt đổ vào sau lưng ông quan. Ông quan xuống ngựa đi theo bọn trẻ con, chỉ nhà bà Nhớn cho ông. Bà béo vẫn ngồi ở lưng ngựa cầm lấy dây trông oai lắm. Mẹ lại kéo tay Hiếu chạy lại cửa sau, cạnh giường bà Nhớn. Ông quan lấy tay ra hiệu xua lũ trẻ đứng ở ngoài hàng rào vườn trước, đi vào nhà một mình. Mẹ bấm vào tay Hiếu: "Con chào đi". Thằng Hiếu khoanh tay lại run rẩy: "Cháu chào ông quan ở quê ạ". Ông quan phì cười, nhanh chóng tiến đến vừa bế bổng nó lên vừa hỏi: "Hiếu hả?" rồi ông hỏi nhỏ mẹ: "Cô có được khoẻ không?" Nước mắt mẹ tự nhiên lại chảy xuống má. Thằng Hiếu vội vã ôm lấy mẹ như để che không cho ông quan ở quê đụng vào người mẹ nó. Mẹ nó chùi nước mắt hỏi. "Con có thích đi theo ông quan không?". Thằng Hiếu chưa kịp giả nhời, ông quan đặt vào tay mẹ nó một gói giấy rồi ra khỏi nhà đón bà béo ở trên lưng ngựa dưới gốc cây ngoài đường cái chính. Mẹ lại kéo tay con len lén đi ra vườn sau, chui vào chỗ cây rậm ngồi như hai kẻ ăn trộm ngồi rình lấy của. Mẹ cứ cắn răng vào môi, lặng im chùi nước mắt. Có bao nhiêu điều thằng Hiếu muốn hỏi mẹ: "Tại sao ông quan lại biết tên con?". "Thế ông quan với nhà mình là thế nào?"... Nhưng nó thấy mẹ nó đang buồn nên nó chỉ im lặng nhìn ông quan, bà quan đi. Rồi nó phục xuống nhìn vào nhà cho rõ. Ông quan và bà quan, nghe người trong nhà gọi thế – quan chỉ đứng hỏi han và cho quà bà Nhớn rồi ông quan nói phải về chỗ quan phủ bạn ông kẻo trời tối. Mẹ giở gói giấy đọc mấy chữ ở mảnh giấy con phía trong, lại cắn răng vào môi, nước mắt chảy giàn giụa hai má rồi gục đầu vào gốc cây mít nức nở khóc thầm. Mãi sau này thằng Hiếu mới đọc mảnh giấy có mấy chữ: "Bà lão nhà cô mất được gần một năm. Tôi đã vào làm việc hẳn trong sở Tây nên từ nay không thể gặp bất cứ ai. Cho cháu Hiếu năm đồng để sắm quần áo và sách bút đi học". Mười lăm năm sau, nó đọc mảnh giấy cùng với quyển sách "hôm nay" của mẹ. Nhưng bây giờ thì nó không biết chuyện gì. Chỉ thấy mặt nó hầm hầm nhìn lão quan và mụ béo leo lên lưng ngựa. Và khi vợ chồng lão đi hẳn rồi, mẹ nó gào lên: "Ối mẹ ơi, mẹ ơi. Mẹ chết đi thì... ì... ì...ì..." Thằng Hiếu cũng ôm lấy mẹ khóc. Một lúc sau mẹ lau nước mắt, bỏ tờ giấy vào túi còn tiền thì cầm ở tay. Quỳ ở đầu giường bà Nhớn, đợi bà tinh tỉnh, mở mắt ra mẹ bảo: "Bà ơi con phải đưa cháu về kẻo tối. Con có năm đồng biếu bà. Gọi là thêm thắt để bà thuốc thang, đồng quà tấm bánh lúc ốm đau".

Bà Nhớn quờ quờ vào tay mẹ thều thào:

- Gia cảnh nhà mày như thế bà chả giúp được gì thì thôi. Lấy ở đâu ra cho bà những năm đồng. Bà không lấy một xu nào đâu. Cầm về đong gạo cho con.

- Bà ơi, độ này con kiếm được rồi. Bà cầm lấy cho mẹ con con được vui lòng.

Bà Nhớn quyết ấn đồng tiền giấy như gí xuống lòng tay mẹ. Mẹ lật úp bàn tay để tờ giấy năm đồng "Đông dương" có hình người gánh quang gánh vào tay bà. Bà rụt tay lại, đồng tiền tụt khỏi tay rơi xuống chiếu cạnh bà. Mẹ đứng dậy nói:

- Con về đây. Mấy hôm nữa phiên chợ củi, con lại thăm bà.

Không thể ngồi dậy đuổi theo được mẹ, bà đành bực dọc lẩm bẩm những câu gì đấy, cả hai mẹ con đều nghe không rõ.
° ° °
Có rất nhiều tin đồn đại về cô Đất sau gần chục năm mất tích lại trở về quê. Đã là chuyện lạ nhất định phải có tin đồn. Đã đồn đại, nhất định có sự thêm thắt, sai lệch. Nhưng tựu trung lại, toàn sự thêm thắt, bịa đặt có lợi cho cô. Trong ấn tượng của dân làng hôm nay, cô là người xấu số, không gặp may, tuyệt nhiên không ai nghĩ đến chuyện giăng gió của cô. Người ta tin điều ông tổng Lỡi nói ngày xưa là có lí: "Chính mắt tôi trông thấy nó đi với thằng lực điền, không biết người tổng nào, lạ lắm". Ngay ngày ấy, những ông bà già nghiêm ngặt nhất với chuyện trai lơ cũng bảo: "Nó có mắc mớ uẩn khúc gì đấy. Một con bé như con Đất nhất quyết không có chuyện trai trên gái dưới. Ông chánh đã nói thế làm gì có sự sai ngoa". Ngay cái chuyện to tát, có thật mười mươi nữa thì "Đồn ba tháng chứ ai đồn ba năm" huống hồ cái chuyện đã mười năm giời. Người ta đã quên cô rồi. Ai cũng yên trí cô đã chết. Chết vì sông nước, chết vì cướp bóc, ức hiếp, chết nổi hay chết chìm thì cũng là chết rồi, ai nhắc đến làm gì.

Mẹ con cô trở về đột ngột như một người chết tự dưng sống lại, như từ trên trời rơi xuống. Cả làng cả tổng sững sờ mừng. Người ta tin vào những lời chị kể và hai con mắt đỏ hoe của thằng cu con khi nó nói đến bố nó chết, thì y như một triện đỏ chót đóng vào "bản khai" của mẹ nó. Nhưng các bác nó lại có vẻ không vừa lòng mỗi khi mẹ con nó nói đến cái ông bố "Việt Minh" mà chính nó cũng không thể biết là ai. Tất nhiên, chuyện mẹ con nó trở về, không ai có thể mừng rỡ hơn anh em, con cháu nhà bác Cu Từ, Cu Mỡ. Ngay hôm mới về bác Cu Từ đã để mẹ con nó về ở trong ngôi nhà mẹ đẻ, tức là ở nhà bà ngoại. Thằng cu Hiếu phải gọi thế. Anh Cu Từ, Cu Mỡ là trai mà để cho em gái ở lại trong ngôi nhà bố mẹ đẻ là trường hợp ngoại lệ với người nông dân ở làng Cuội, nhưng như thế nó càng chứng tỏ cái gia phong nề nếp của nhà cụ đồ Mục. Anh em con cháu còn đùm bọc, yêu thương nhau lắm mới đủ sức vượt ra khỏi cái lề thói không ai dám vượt qua, mới có chuyện các anh trai phải ra ở riêng, tự gây dựng lấy, còn em gái ở lại nơi thờ cúng tổ tiên. Ngày trước còn mẹ thì những ngày rằm, mồng một, giỗ chạp, tết nhất anh Cu Từ vẫn phải ra vào, hương khói. Sau khi mẹ và con trai anh mất đi, việc hương khói có phần sao nhãng. Vì anh Cu Từ buồn, sinh ra rượu chè. Anh giao việc thờ cúng tổ tiên cho em giai trông nom. Người ta đồn, ông Cu Từ không còn con giai nên có ngầm ý giao ngôi nhà thờ tổ tiên cho thằng Nạc con anh Cu Mỡ hưởng hương hoả. Việc cho mẹ con Đất trở lại ở nhà thờ tổ là trái khoáy nhưng lại là niềm hãnh diện của anh em ông Cu Từ, Cu Mỡ ngẩng mặt lên cho cả làng, cả tổng chiêm ngưỡng, coi như một mẫu mực của sự nhường nhịn, cưu mang. "Một giọt máu đào hơn ao nước lã". Nhưng một tháng sau, ông Cu Từ đến chỗ em gái vào buổi tối. Ông đuổi thằng Hiếu đi chơi, đóng cửa lại hỏi em:

- Có thật sự bố thằng Hiếu là Việt Minh không?

- Dạ... Sao bác lại hỏi em như thế?

- Cô có biết quan huyện sức cho các nơi phải lùng sục, tố giác Việt Minh như thế nào?

- Nhưng bố cháu chết rồi.

- Chết rồi thì cho nó chết, thương nhớ chôn vào lòng, không được giở giáo đến nó rồi mang vạ vào thân. Cô phải cấm tiệt thằng cu không được toe toét, chỗ nào cũng khoe: bố tao là Việt Minh đi đánh Tây.

- Bác dạy thế em xin bảo cháu.

- Cứ bảo nó, ai hỏi thì bảo tôi không có bố. Tôi không biết bố tôi là ai. Còn cô, có ai hỏi cô, cô cũng bảo: em đi làm ăn, đêm hôm khuya sớm ở nơi đồng đất người ta. Không may một lần bị thằng ăn sương nó đón đường. Cứ nói thế, không có tội vạ, xấu xa gì cả. Thời buổi này khối kẻ vụng trộm dan díu đã đứa nào chết. Mà cô có giăng gió đi nữa, cũng mười năm giời rồi, sợ gì.

Đất ngước mắt nhìn anh. Nhưng đêm đặc như sắn được ấy, không cho cô nhìn rõ nét mặt của người anh trai, niềm sợ hãi duy nhất của cô khi quyết định trở về quê. Cô có ngờ đâu từ cái đêm bị cướp giật sự trinh trắng của người con gái, nỗi đau đớn, oán thù lão tổng Lỡi không bằng nỗi khiếp sợ các lề thói gia đình. Nếu chỉ là nỗi oán thù cô có thể xuống sông, xuống đầm Cuội mà chết cho hết nợ. Nhưng sợ nó để lại tai tiếng cho mẹ, cho các anh, cô không dám xuất hiện bất cứ một ý định liều lĩnh nào. Sau những ngày đầu đau đớn kinh hoàng khi gặp Lỡi, cô cũng khao khát một cuộc đời được làm vợ, làm mẹ như tất cả những người con gái sinh ra ở làng Cuội. Nỗi khao khát của cô được chiều chuộng vuốt ve và hứa hẹn, được đôi bàn tay mũm mĩm xoa dịu êm ấm, được ghì riết lấy sự sung sướng, nó làm bật dậy tất cả sự liều lĩnh mà ở ngoài cuộc ai cũng có thể chê bai nguyền rủa, đến khi vào cuộc đều ngu si, mù quáng như nhau. Nó lớn lao đến nỗi hàng triệu triệu lời răn dạy, phán bảo và bao nhiêu sự kiềm toả, vây bủa, phòng ngừa vẫn cứ bị bất lực, vẫn cứ bị quên lãng trước cái quy luật nhàm chán cũ kĩ, để cô nhanh chóng quên đi rằng mình là con nhà hiền, mình còn có mẹ già. Cô đã bất chấp tuổi tác, bất chấp sự "thu xếp" ra sao, bất chấp rừng núi âm u hiểm độc để trở thành liều lĩnh, thành kẻ bất hiếu, thành kẻ lưu lạc, bơ vơ. Cô đã thành cái xác ve chờ đợi mòn mỏi và hi vọng lại có một "mùa hè" để con ve lại rút ruột mình kêu râm ran inh ỏi điếc tai thiên hạ mà cứ tưởng là hay ho, chỉ có mình mới đủ sức kiên trinh làm nên sự cực kì, ít ai lường tới. Cô đã trở thành kẻ suốt đời ân hận về sự dối trá nhưng không bao giờ muốn làm người thành thật với lỗi lầm của mình. Mong ngày, mong đêm cái giây phút dắt đứa con đi cạnh chồng giữa thanh thiên bạch nhật, rốt cuộc cứ phải trốn lủi cả người quen lẫn người lạ, cả ánh mặt trời và giật mình với cả tiếng lá rơi. Để rồi sau khi ông tổng lên thăm bà Nhớn, mấy chữ của ông như những lưỡi dao chém vào niềm hi vọng cuối cùng của cô về một đứa con có bố. Cô trở thành... thành hai bàn tay không đen đúa cào vào bóng đêm dày đặc ở góc rừng La Hiên mà than rằng: "Ối giời đất ơi! Tôi có độc ác, đâm chém gì ai, mà ông giời đày đoạ tôi đến thế này. ..". "Ơi mẹ ơi, sao mẹ không cho con đi theo mẹ, để con sống làm gì chốn này... để con là kẻ bội bạc lừa dối mẹ, mẹ ơi ời... ờ... ơ...". Chị cắn răng dắt con về quê cốt cho con có chỗ nương tựa, bấu víu vào họ hàng, để đêm khuya thanh vắng chị ra đầm Cuội, hay là ra sông Cái: "về" với ông bà, bố mẹ cho thoát cái tội trầm luân. Không ngờ... có hai sào đất hương hoả năm ngoái khi mẹ mất hai bác Cu Từ, Cu Mỡ chia đôi để mỗi người đều có phận sự đóng góp giỗ tết. Hai bác đều "cho cô làm nuôi cháu, việc gia tiên chúng tôi khắc lo". "Em thật lòng chả biết nói thế nào với các bác". "Thôi. Vẽ. Cứ lo cho cháu nó bằng anh, bằng em. Thằng bé nó nhanh nhảu, lễ phép lắm. Thế là ngoan". Những ngày mới về các anh đã che chở, đùm bọc cho mẹ con khỏi bơ vơ, đói khát. Bây giờ anh cả, một ông anh lúc nào Đất cũng sợ hơn cả bố mẹ lại cứu cho em gái khỏi nỗi giằng xé ruột gan rằng mình là một con người lừa lọc, gian dối. Nhưng ở đời thật lắm nỗi ngược đời. Lúc nói dối thì ai cũng tin. Bây giờ nói thật lại chẳng ai nghe. Cả làng ai cũng quả quyết không bao giờ chị Đất lại để xảy ra chuyện như thế. Những thằng cướp đường cướp chợ, ăn sương ăn gió có xé người chị ấy ra làm năm làm bảy chị ấy cũng cắn lưỡi mà chết không để cho chúng làm càn. Chắc ngại có chồng là Việt Minh chị ấy phải nói tránh đi như thế.

Ngày ấy cái chữ Việt Minh đối với làng Cuội vừa hãi hùng, kinh sợ vừa kính trọng, thèm khát, vừa ngại ngùng giây đến nó lại vừa muốn được gặp gỡ nói năng vụng trộm. Đất là niềm kiêu hãnh của làng xóm và là chỗ dè chừng của đám người có chức sắc trong làng, trong tổng. Những người đàn bà, cả già, cả trẻ và lớp bạn bè của chị nay xấp xỉ tuổi ba mươi thì hầu như không ai để ý đến chuyện ấy. Cái ấn tượng về chị một con người dịu hiền, nết na, biết nhường em, kính chị vẫn giữ nguyên ở mọi người. Thế là ở chỗ nào có chị là cũng có chuyện trò ríu rít, cười đùa tung toá. Tuy bệnh tật những ngày con nhỏ, ăn uống kham khổ và làm lụng vất vả nhưng cũng do tần tảo, kiếm củi, chạy chợ mà người chị nở nang. Từ khi về quê đến nay, lúc nào cũng tươi tắn, trông lại nhuận sắc ra. Sang tháng tư. Trời nắng hầng lên. Các cô, các bà lại tắm ùm ùm ở đầm Cuội. Những người bạn cũ của chị hầu hết đã có chồng, có con nhưng vẫn hồn nhiên nô nghịch tí tởn "sờ tí" chị Đất như ngày nào: "Eo ơi, vẫn còn mẩy. Mà to ơi là to. Tiếng là "gái một con" chả bù cho chúng em cứ nhằng nhằng kéo xuống như cái dây chun giắt vào cạp váy thế này". Có cô táo tợn hỏi: "Chị ơi, Việt Minh thế nào hả chị. Khi "ấy" chị, ông ấy có bóp ngấu nghiến vào hai quả bầu này không?". Mặt chị đỏ rần rật, hơi cúi xuống thẹn thùng. Bắt gặp cử chỉ như là ngượng, như là buồn ấy, cô gái tuế toá liến thoắng: "Cái lão nhà em cứ mỗi lần "ấy" nó lại xoắn xuýt, bóp nặn rối rít làm em vừa sướng, vừa đau. Có lần em sướng quá chửi: "Ối anh ơi. Tiên sư bố anh. Em đau quá. Sướng quá. Ấy cứ bóp đi, lấy răng mà cắn vào đấy, nhưng nhè nhẹ thôi. Như thơm vào ngực ấy. Giời ơi. Tiên sư nhà anh, anh ơi có giã được cối nữa cho em không? Ối giời ơi, là giời ơi. Tôi đang ăn đến miệng sao lại giật lấy của tôi... ôi ôi". Tất cả đám cười ré lên mắng té tát cái cô bạn nanh nọc. Nhưng không có nó thì không thể vui, cũng như không có chị Đất thì lúc nào cũng trống trải.

Đêm ấy là đêm đầu tiên kể từ ngày đưa con về làng, Đất không thể ngủ được. Một câu đùa rất hồn hậu của bạn lúc chiều cũng làm chị nhói đau và nó vò xé lòng chị suốt đêm. Chị đã đánh đổi những ngày ê chề khốn đốn để được sum vầy đầm ấm bằng cách hạ nhục người khác? Một người Việt Minh bỏ nhà lại cho chị, và đã chết. Một người sống đã từng cứu con, cứu mẹ khỏi cơn hoạn nạn, kẻ cả giặt những bộ quần áo bẩn thỉu của chị khi chị mắc bệnh hậu sản. Đem tên tuổi linh thiêng của người đã khuất cộng với ơn nghĩa của người còn sống để lấp đầy tội tình của tổng Lỡi đổ xuống người mình? Việt Minh là gì? Chị đâu có biết. Chỉ thấy mấy lần bà Nhớn thì thầm. "Đừng nói ra. Mất đầu như chơi. Việt Minh là người đằng mình. Mai kia Việt Minh lên là dân chúng không bị cùm kẹp giam hãm, không còn đói rét như bây giờ đâu".

Cái tiếng Việt Minh còn thì thào sợ hãi chỉ mấy năm sau khi Nhật về bắt dân nhổ ngô trồng đay thì đêm đến dân làng Cuội tụm năm túm ba bàn tán xôn xao là trên mạn ngược Việt Minh đã kéo cờ đỏ sao vàng đi giữa ban ngày. Chả mấy mà tràn về đến đây. Bao nhiêu anh Nhật lùn, anh Tây mũi lõ là phải chuồn hết cho mà xem. Cái tin Đất có chồng là Việt Minh bị Tây bắn chết bây giờ làng xóm lại thì thào. Và mấy tháng sau ông Cu Từ trở thành nòng cốt của Việt Minh chỉ vì đã có người em rể đi Việt Minh bị Tây bắn. Mỗi lần bắt gặp những cái nhìn vừa thán phục vừa âu yếm của mọi người, Đất chỉ thấy sượng sùng. Chị không ngờ mình đã trót gian dối với cả cái việc tày đình như thế. Càng chối, càng xấu hổ, chị em, bà con, lại càng quý mến cái tính khiêm nhường, kín đáo của chị. Đến bao giờ mình mới không là kẻ ăn cắp tấm lòng ngay thẳng, thật thà của bạn bè, làng xóm! Một nỗi xót xa âm thầm lại vò xé chị. Nhưng... Rồi lại không ngờ. Cả cuộc đời chị cho đến hôm nay vừa tròn ba mươi tuổi, toàn là những chuỗi dài của sự không ngờ. Chị không ngờ lại có một cuộc đời thực trở lại với chị. Một hạnh phúc thực sự như từ trên trời rơi xuống đậu vào nỗi mong đợi thầm vụng của chị. Như là một giấc mơ. Còn hơn cả một giấc mơ. Chị sẽ có chồng. Chắc chắn con người thật thà ấy sẽ là chồng chị. Một anh Việt Minh đã đến với chị mà mối tình rụt rè, quê mùa của cả hai người lại bắt đầu bằng một cuộc tình thơ mộng, mênh mang ngay ngõ nhà ông Cu Từ, chỗ nước ngập rập rờn đến ngang vai.

Phần 1 - Chương 6

Ông tổng Lỡi (dân làng vẫn quen mồm gọi thế) về thăm tổng Cuội đã là đột ngột, qua mồm làng Cuội nó càng trở nên li kì, bí hiểm rất vô căn cứ. Chẳng hạn: ông ta mới là tỉnh trưởng, người làng bảo: ông ấy là Thủ hiến Bắc Việt. "Chồng chị Đất, ông Kiêm ý, bây giờ chỉ huy đại đoàn quân Việt Minh, ông tổng Lỡi muốn dụ về quy phục quốc gia nên về dụ vợ con trước". Lại đồn: ông tổng Lỡi về kì này truy tìm xem ai là người chủ mưu phá kho thóc nhà ông ấy. "Kì này không khéo ông ta móc họng cả làng, cả tổng chứ chả chơi".

Thống Bứt vẫn dở say, dở tỉnh, dở khôn, dở dại, nửa thật nửa giả thế mà khôn ra phết. Lão biết sự đồn ấy láo toét. Lão kệ. Càng đồn việc lão làm càng oai. Lão biết thằng Bạt thì thọt với đồn Tây, cho lão nghỉ, nó kiêm chức xã uỷ xã Cuội rồi đưa bác ruột nó, lão móm ăn tham ra làm. Nhẽ ra nó thay rồi. Đột cái, trên sức về, tất cả mọi việc phải xếp lại, sửa soạn đón quan trên. Rồi ông được đồn Tây gọi lên, đích thân tên quan hai bảo: Xã uỷ và các bô lão xã Cuội phải đứng ra đón rước. Hương dũng, lính các đồn quanh vùng phải càn quét lại dăm bảy lần rồi phải canh gác, tuần tiễu ngặt nghèo và nghiêm trị kẻ nào có hành động chống phá. Tống giam bất cứ kẻ nào có hành động gì khả nghi.

Quan trên là ai? Chưa biết. Mà ông cũng chẳng cần biết. Quan trên nào chả thế. Ông thiết quái gì họ. Anh em bác cháu nhà Bạt nó định "chơi" ông, ông cũng đếch cần. Để cho chúng nó biết ngay việc tày đình ấy ông cũng chẳng coi là quái gì. Nó cũng phù phép như cái nghề thầy cúng của ông. Lạ gì. Thế là ngày nào lão cũng mặc quần trắng, áo the, đội mũ cát trắng rộng vành, cắp guốc ở nách, chống gậy ba toong. Một người lốc thốc, nghiêng ngả, tuệch toạc như lão, mà ăn mặc nghiêm chỉnh thì buồn cười. Càng sang trọng, sạch sẽ càng buồn cười. Lão chạy lên đầu làng, lao xuống cuối xã hò hét, réo gọi, hô hoán như một thằng mõ bắt các xóm, làng phải quét tước, dọn dẹp đường ngang, ngõ tắt, lau chùi đánh rửa đồ thờ, đồ tự, cờ quạt ở đình, ở miếu, nam phụ lão ấu, đều phải vá víu, giặt giũ, mỗi người phải có một bộ quần áo. Tất cả đều phải sẵn ra, sắp làm một việc hệ trọng như là mở hội, như là rước. Lão càng làm ra nghiêm ngặt, oai vệ, dân làng càng buồn cười. Nhưng lại nghe lão răm rắp. Nào, mọi việc xem có đâu ra đấy không? Lão cũng kinh chứ lị. Sợ gì! Quan trên hoá ra là tổng Lỡi, nay là quan tỉnh trưởng, oai phong, lẫm liệt. Hàng chục xe cam-nhông đỗ lại trên mặt đê. Quan tỉnh trưởng đi bộ giữa hai hàng cờ quạt, kèn trống linh đình. Từ nửa đêm, dân các làng đã được thúc ra miếu ông Cuội điểm mục xem đã đủ đầu người được phân bổ chưa? Điểm mục xong, phải xếp hàng thử. Đứng thử, ngồi thử, hoan hô thử, vẫy cờ thử, cả nhỡ khi bí quá không chịu được, cũng phải thử cách đi đái, đi ỉa trước mặt quan như thế nào mà không lộn xộn, không được để quan thấy. Tập dượt xong, lốc nhốc đi như chạy vào chầu chực ở chân đê. Chưa sáng hẳn, người từ đâu đến nghìn nghịt. Cả lính, cả dân, cả cha cố lẫn sư sãi cũng xếp hàng thử, vẫy cờ và vỗ tay thử. Đứng đầu là đội kèn bu dích của nhà xứ Gáo. Vừa xếp hàng vừa tập thử tò loe tí loét ỏm tỏi. Rồi đến lính bảo chính đoàn, lính dõng (ba-ti-dăng) hương dũng, bảo an tua tủa súng, búp đa, giáo mác cũng tập nâng lên hạ xuống băm bắp tiếng tay đỡ và tiếng thình thịch nện xuống đất. Rồi đến trưởng trùm và con chiên, sư sãi và các vãi. Rồi đến hội đồng hương chính và dân chúng các làng. Ông tổng dành cho xã Cuội cái vinh dự lớn lao là xã uỷ, hội đồng hương chính và các cụ bô lão xã này không phải đứng ở trong hàng mà lên đứng trên mặt đê, chờ quan đến. Nhưng các cụ cũng phải đi với dân làng vào đê. Từ nửa đêm các cụ đã đội khăn xếp, mặc quần cộc, còn quần trắng, áo the khoác lên cổ, guốc cắp ở nách, khòng khòng vừa chạy vừa thở lên đê, dứt nắm cỏ khô chùi chân rồi đi guốc, mặc áo, mặc quần, khoanh hai tay trước ngực chờ đón ông quan làng mình. Đứng tê cả chân, sụn cả xương sống mãi chín giờ rưỡi (ấy là nghe lính họ nói) xe tỉnh trưởng và quan hai Pháp ở đồn Thiệt đi giữa những xe cam-nhông lính hộ vệ đến nơi. Các cụ già tưởng chỉ giống trẻ con hay dỗi, hoá ra cả cái bệnh đi đái cũng giống nhau. Các cụ đứng khoanh tay, trẻ con thì cầm cờ vàng ba sọc đỏ quay đi, "tương" ngay xuống bờ cỏ rồi vội vàng nhét nó vào chỗ cũ, quay lại thản nhiên như không hề có chuyện gì xảy ra. Cả các cụ và các cháu đều làm việc đó bốn năm lần mà vẫn chưa thấy quan lớn. Giờ tây của người ta tính toán đâu vào đấy, ai lại tam toạng như dân quê hò hét nhau đi từ nửa đêm. Sau quan chức cao cấp và bô lão làng Cuội là chức sắc các tổng. Rồi lính tráng và dân chúng đứng thành hai hàng từ mặt đê xuống dốc như hai cái tay vịn cầu thang chạy dài mãi đến tận miếu ông Cuội. Tỉnh trưởng và quan hai đi giữa những cái mặt cứng như mo khô vênh ngửa lên của lính đứng bồng súng và những cái đầu hơi cúi chỉ chực thưa, bẩm của các hội đồng hương chính. Trẻ con nhảy lên hoan hô và ngoáy tít thò lò những miếng cờ giấy vàng ệch. Các bà già và đám con gái mới dậy thì, thì mím chặt đôi môi, hai mắt hơi nhìn xuống tước cái sức lực còn mạnh mẽ và nước da đỏ như gà trọi của quan lớn. Đi theo sau quan, lốc nhốc tuỳ tùng gia nhân hầu hạ và bô lão làng Cuội. Xã uỷ Bứt đi sau cùng. Vì "cái đuôi" quá dài nên chẳng ai để ý đến lão. Lão cũng chả cần để ý đến bất cứ một ai. Lão chỉ lướt mắt nhìn đám người đứng hai bên là lão đã thấy rệu rão cả người. Vẫn những đàn ông, đàn bà, trẻ con người lớn của làng Nhập, làng Nhằng, làng Đại, làng Phù và của các làng Cuội cứ nhang nhác quen quen như là lão đã gặp ở hôm ăn tết độc lập, hôm đi nhận thóc trên đê hoan hô Việt Minh, đả đảo tổng Lỡi. Có cả những người cũng là Việt Minh, là du kích cùng với ông Kiêm, ông Cu Từ. Bây giờ hàng trăm người chết, người tù đày, những người đồng chí của họ còn lại đi bồng súng, ngửa mặt chào. Rồi xun xoe, hô hào khản cổ, chạy theo mong được quan lớn nhớ mặt, nhận họ hàng, dòng dõi, tổ tông, nhận là cháu, là em, là ở "chi" này, "chi" kia. Cái đám trông mặt cứ tơn tớn lên kia có nhẽ nó mong ngày mong đêm Việt Minh về đánh đuổi Nhật - Pháp cho nó thoát ách trâu bò, cho nó có thóc ăn để nó lại đi chỉ điểm giết Việt Minh. Mai kia không khéo Việt Minh kéo về nó lại ùa ùa theo tung hô tâng bốc "bảo vệ" Việt Minh hơn cả những nhà có chồng con bị bắn chết, bị chặt đầu bêu ở cọc. Cái bọn thời nào chạy cũng nhanh ấy, ông cứ gí dái vào mặt bố nó, để lên cả giường thờ nhà nó, đừng hòng nhờ ông cúng vái.

Dân chúng vẫn phải lẽo đẽo đi theo. Đám nịnh bợ bắng nhắng theo quan lớn như rác rưởi, dây dợ cứ cuốn dưới chân. Xã uỷ Bứt như cái đốt cuối cùng của cái "đuôi" đã đứt hẳn ra, rơi lại. Gần đến miếu ông Cuội, nói đúng ra gần đến chỗ cái rạp bắc trên nền miếu tưng bừng cờ quạt, tự nhiên quan tỉnh đứng lại hỏi thằng Bạt. Vì nó đi ngay cạnh quan, quan hỏi chứ không hề biết nó làm gì. Quan nhìn vào hắn mà như nói trống không: "Thống Bứt làm xã uỷ xã Cuội hả? Hay thật. Cái lão say ấy được cái tốt bụng. Nãy nhìn thấy, đâu rồi?". Mọi người hốt hoảng nhìn quanh chưa biết nên nói thế nào, quan chỉ vào mặt Bạt: "Tìm đi". Nói rồi quan gọi người đưa quan đi thăm lại cánh đồng và đầm Cuội.

Thằng Bạt vừa sung sướng vừa hốt hoảng xách súng chạy đi. Hôm nay nó mặc đồ Tây, thắt cà vạt, đội mũ ca lô, đi giày ống, trông như lính đồn, oai nhất vùng này. Được quan lớn sai là diễm phúc lớn cho nhà nó. Nhưng giá lão thống gàn ấy ở đâu đây, chứ không phải còn cách đến nửa cây số thế kia. Ăn mặc đại lễ mà phải chạy đi, quần áo xốc xếch, mồ hôi đầm đìa còn ra làm sao. Chạy đến nơi, hắn thở hổn hển quát:

- Ông có biết cụ lớn đến nơi rồi không?

- Sao lại không?

- Mà ông còn đứng đây? Coi trời bằng vung thật! Có nhanh nhanh lên không?

Thống Bứt định nhân dịp đón rước linh đình, "chơi" lại cánh nhà thằng Bạt cho nó biết tay ông không phải là đụt. Nhưng nhìn cái cảnh nó đã làm ông rã rời, ông cũng đếch thiết nữa. Ông vẫn đủng đỉnh nói gióng một:

- Về đi. Đằng này mỏi chân. Nghỉ đã.

- Lại say rồi phải không?

- Say cái mả thằng bố mày. Từ sáng đến giờ đái ra mà uống à?

Thằng Bạt gạt súng ra khỏi vai, chĩa vào mặt lão. Lão vẫn không thèm nhìn nó. Nó biết khó mà doạ được cái lão điên điên khùng khùng này. Nó cũng không thể hiểu tại sao quan lớn không hỏi ai, chỉ nhớ đến lão, bắt nó phải đi tìm. Nó cắn răng lại nén nhục, khoác súng vào vai, ngồi xuống gần như quỳ cạnh lão:

- Cháu lạy chú. Quan lớn bảo cháu phải mời bằng được chú về.

- Bảo quan, lão ấy bị cảm, đang đánh gió.

- Nhưng còn tiếp quan? Hôm nay là quan về thăm quê hương, quan muốn gặp lại bà con làng xóm, thì xã Cuội phải đứng ra nghênh tiếp.

- Xã Cuội còn ối. Anh không là người xã Cuội à?

- Nhưng chú là xã uỷ đại diện cho dân.

- Cái "xã rách" làm quái gì.

Biết khó lay được lão gàn, hắn xẵng giọng hỏi câu cuối cùng.

- Chú nhất định không về chứ?

- Không là không.

Hắn tím mặt, xách súng quay đi. Muốn bắn vào mặt lão mà phải nín lặng xách súng chạy quay lại. Dù thống Bứt đã mách nước cho hắn nói là lão bị cảm nhưng thế nào thì hắn vẫn không làm tròn phận sự với quan. Một việc quan sai lúc này bằng cả năm, cả đời luồn lọt vất vả. Người hắn cứ run lên, vì tức, vì tiếc rẻ. Nhỡ ra quan lại quở mắng nữa thì... tiên sư cái lão thống Bứt. Mày làm hại ông. Rồi ông sẽ không tha mày. Nhưng cái việc nó lo thót... lên đến cổ, quan lại không còn nhớ, nếu không muốn nói là quên. Quan nhớ đến thống Bứt chẳng qua quan biết thống Bứt chơi với anh em Từ, Mỡ. Từ, Mỡ lại là anh ruột của một cô bé mà cả đời, lúc nào quan cũng thấy thèm thèm, khao khát. Lấy thì con mụ ba giết quan. Quan đành phải yêu thầm, nhớ vụng. Vậy mà thằng con cả của quan ở bốt Thiệt lại... Cho đáng đời nhà nó. Hôm nay quan về đây không phải để cho lũ quân lính hí hửng kiếm chác, cũng không phải để hiểu dụ cho dân tổng Cuội. Quan cũng không thiết gì họ đón rước linh đình. Đã làm quan, phải biết ra oai, biết đánh lừa dân chúng để lúc nào họ cũng phải nghĩ rằng quan làm việc gì cũng là việc nước, việc dân, vất vả đêm ngày lo cho dân, cho nước, có lúc nào quan nghĩ đến việc riêng, lo toan gia thất. Bởi thế quan phải sức cho các nơi. Cũng như ngày xưa quan sức cho các làng phải lo toan việc rước nước, lo hội thi nói khoác ở miếu ông Cuội là vì một con bé mà quan đã nhìn thấy. Bây giờ vẫn là con bé ấy quan phải sức đi các nơi việc quan về quê phủ dụ dân hướng về quốc gia mà phụng sự! Quan phải mục kích xem dân chúng đã thực sự yên ổn làm ăn! Quan phải kiểm tra bọn Việt Minh đã thực sự "mất đất" chưa? Và... Bao nhiêu việc cấp bách nữa quan phải làm. Nhưng... những cái "phải" ấy đã làm quan mất thì giờ, vô tích sự... Chuyện kinh lí của quan nếu không có cái đoạn "phải dò xét âm mưu xảo trá của con vợ thằng trùm Việt Minh nguy hiểm" thì coi như vứt mẹ nó đi. Đấy là lúc quá trưa, tên quan hai đã phải trở về bốt, quan lớn hàng tỉnh đột ngột hỏi thằng đồn Bạt:

- Bọn Việt Minh chống phá ra sao?

- Bẩm quan, trừ tên Kiêm thoát li trước ngày Quốc gia về cai trị tổng ta, còn lại tên nào, chúng con đã lần lượt "cất vó" hết. Hiện chúng đang bị giam trên các đồn Tây.

- Còn cha mẹ, vợ con nó ở nhà?

- Dạ không một đứa nào dám ho he chống lại.

- Thôi được. Dẫn quan đi thị sát xem sao.

- Dạ... dạ... - Thằng Bạt nói gần như líu lưỡi lại, rồi theo lệnh nó phải đích thân dẫn quan đi. Sau khi đưa quan vào nhà hai tên Việt Minh đang bị giam trên đồn Tây, quan bắt dẫn quan đến nhà vợ tên Kiêm trùm Việt Minh. Nhìn túp lều gọi là "nhà" thấy vắng lạnh, quan quát:

- Nó đâu? Tại sao hôm nay không đi đón quan?

- Bẩm quan lớn. Dạ... Bọn nguy hiểm phải tập trung ở đồn không được đi.

- Đồn nào?

- Dạ... dạ... thưa... Bẩm quan ở địa hạt tổng này.

- Mày định để tao đến tra hỏi cái xác nhà không này à? Ngu. Ngu hơn con lợn.

Thằng Bạt run lẩy bẩy vội sai bọn hương dũng đi đưa mẹ con Đất về. Quan ném cái bực bội nhìn ra phía trước cửa hỏi:

- Nhà ai?

- Dạ, bẩm quan nhà tên Từ Việt Minh. Còn đằng sau đấy là tên Mỡ, em nó, cũng là Việt Minh.

- Đã cho rà soát kĩ chưa?

- Dạ bẩm kĩ rồi ạ.

- Chắc không?

- Thưa... Con xin lấy đầu ra bảo lãnh. Đây là khu tối trọng điểm nhất. Chúng con phải theo dõi suốt cả ngày cả đêm không hề có lúc nào chúng con...

- Thôi! Cho cút tất! - Quan thẫn thờ đi đi lại lại từ sân nhà Đất sang đầu nhà Từ rồi thẫn thờ quay trở lại. Đây không giống chỗ quan đã nhìn thấy ngày xưa. Cảnh tan hoang ắng lặng như một bãi tha ma! Cái túp lều mẹ con Đất ở trông như một đụm rác đổ nghiêng. Ruột gan quan cứ nẫu ra. Nước mắt dâng lên ở hai vòm mắt và sống mũi hăng hăng cay, quan phải lấy khăn mùi soa ấp chặt vào mặt để nó hút lấy những giọt nước mắt có thể chảy ra. Hơn mười bốn năm giời rồi! Giá như nó cứ nanh nọc, độc ác, cắn xé và tham lam như hàng chục con đàn bà khác thì quan chỉ cần vứt lại ít tiền, cùng lắm cho bọn hầu hạ ban phát cho nó một chút ân huệ gì đấy rồi ráo tay là xong. Hết nợ. Đằng này! Nó cứ lặng lẽ cắn răng nuôi con giữa rừng rú, không đòi gì, không than thở trách móc một lời. Một con bé ngơ ngác thật thà lúc nào cũng là người lớn, còn quan lớn như một thằng trẻ ranh. Hèn. Một thằng kẻ cắp đã cuỗm mất cả thời con gái của nó. Thực ra, quan không bao giờ muốn rời bỏ nó. Nhưng quan lại không có cách gì vượt ra khỏi vòng kiềm toả của các mụ vợ quan, để có thêm một bạn đời thứ tư. Ba con quỷ cái như ba cái chân kiềng kìm chặt lấy quan bằng những cách khác nhau, cách nào cũng độc địa khó lường. Giữa dạ mà nói, hai mụ trước của quan cũng đần độn, đâu đến nỗi. Nhưng con mụ ba mưu mẹo xảo trá khi nó biết "hai chị" "không xơ múi" gì nữa nó liền tỏ ra "nhường" hết cho các chị rồi lập liên minh tay ba có tất cả con cái cộng sự "lo cho ông nhà chúng mình".

Bọn hương dũng không dám đi theo. Ba mẹ con Đất lếch thếch đem nhau về. Khi nhìn thấy thằng con mình suýt nữa quan "ớ" lên một tiếng và nhao lại ôm nó. Cái miệng rộng, sang. Hàm răng hơi nhô vừa đủ để là người có duyên, xởi lởi, không vổ. Cả cái miệng, hàm răng và mái tóc rễ tre là của quan, không trộn vào đâu được. Chỉ có điều hai má và cằm của quan núng nính làm cái miệng quan hơi thụt lại, hàm răng cũng như lui vào, còn lớp da mặt nó sát tận xương như đẩy cái miệng nhô cao hơn. Nhưng đích thực là cái mặt của quan những năm lên chín, lên mười.

Quan cười cười đi gần lại hỏi thằng bé trước:

- Họ bắt mẹ con cháu lên đồn hả?

Thằng bé gườm gườm quay mặt đi.

Trời ơi, cái mắt gườm gườm, cái mặt sưng sỉa kia là của bố con hồi nhỏ chứ ai. Quan đi gần lại phía mẹ nó nói nhỏ:

- Cô bảo, con chơi với tôi một tí.

Nét mặt Đất không hề thay đổi, chị nhìn theo bảo con:

- Xem mồi còn lửa, cạo khoai nấu cho em bát cháo, con.

Có một cái gì làm ruột gan quan như thắt lại. Quan đi theo con chui vào cái lều quây bằng cây ngô và lá chuối. Thằng bé thổi lửa chưa lên. Quan cúi xuống giúp nó. Nó rụt cái mồi rơm lại. Quan cười cười hỏi:

- Nấu nhiều nhiều cho bác ăn với nhá!

Im lặng.

- Cháu đi học chưa?

- Bạn hương dũng nó có hành hạ mẹ con cháu nhiều không?

Vẫn lặng thinh.

- Hàng ngày mẹ con làm gì để kiếm ăn?

Bỗng thằng bé oà khóc đứng dậy:

- Ông có định giết mẹ con tôi cứ giết đi, không việc gì phải dò la.

Hai mắt quan cay cay. Quan giữ lấy tay thằng bé, lấy khăn mùi soa chấm chấm nước mắt rồi rút tiền đặt vào tay nó.

- Bác người làng này. Bác cho con.

- Ông có nhiều tiền cứ nuôi lính ông đi bắn giết đồng bào, không mua chuộc dụ dỗ được tôi đâu.

Thằng bé giật tay khỏi tay quan, lao ra đứng ở ngoài cửa. Ông quan đần mặt như kẻ thất trận.

- Thôi cháu cứ vào mà nấu cháo. Không cho bác nói chuyện thì thôi.

Quan nặng nề chui ra khỏi túp lều đứng nhìn nó có vẻ thèm thuồng như muốn được làm thân với nó. Nhưng nó lại đi ngay vào bên trong không cho quan nhìn.

Ở chỗ đầu nhà cũ, nay là luống rau cải mới trồng, Đất ngồi ôm con bú, chị vội vàng đưa tay áo quệt nước mắt cứ lặng lẽ giàn xuống miệng. Quan đến bên, đứng ở phía sau chị, nói:

- Tôi có lỗi với cô quá.

- ...

- Vì cái thế tôi không thể chăm lo mẹ con được. Nhưng tôi không phải là thằng đểu cáng đến nỗi thế đâu. Tôi biết, khi có con đáng ra phải cho cả bàn dân thiên hạ biết mình đã có con, mình sung sướng như thế nào. Nhưng cô có con thì như một cái hoạ phải trốn lủi, phải giấu kín mọi chuyện, không được hé răng nói với ai nửa lời. Con có bố mà cũng không biết mặt bố, cả đời không được gọi một tiếng "bố". Nhưng tôi thì cũng thèm gọi nó một tiếng "con" mà nó không cho gọi. Tôi không dám trách gì mẹ con. Tôi chỉ mong mẹ con đừng coi tôi là kẻ lừa lọc, tráo trở quá đáng như thế.

- ...

- Cả chuyến này tôi chỉ cốt để gặp mẹ con xem mẹ con ăn ở ra sao. Chúng nó đồn bao nhiêu chuyện nguy hiểm, bậy bạ sau vụ ở bốt Thiệt. Ngày ấy tôi đã bắt chúng nó phải thả về nhưng không biết về nhà nó còn hành hạ mẹ con như thế nào?

Im lặng.

- Nếu thấy gì khó, cần ở tôi...

- ...

- Chả nhẽ cô lại không thể nói với tôi một lời. Nói gì cũng được. Cô thấy có những gì cần ở tôi, cứ nói đi.

- Tôi chỉ cần ông đừng bao giờ nói gì về đứa con tôi.

- Thôi được. Cứ biết thế đã. Tôi nghe cô. Còn gì nữa nào?

- Đừng bao giờ làm hại đời những người con gái nữa.

Hai hàm răng ông quan phải cắn vào môi như muốn bật máu. Một lời kết án, lại là sự răn dạy làm quan đứng lặng như chết một lúc rồi bảo:

- Thôi, cầm hộ cho tôi ít tiền tôi cho con.

- Đền ơn ông. Mẹ con tôi sống thế này mười mấy năm nay nó quen rồi.

Chị nhất định không cầm. Ông nói như van lạy chị cũng không nhận. Ông đành quay đi.

- Nói với con hộ tôi. Tôi đi.

Nước mắt người đàn bà tự nhiên lại giàn xuống hai má. Chị phải ôm ghì lấy con, chạy vào gục đầu xuống ổ khóc tức tưởi. Thằng Hiếu đứng lặng nhìn mẹ nó. Hai mắt nó vằn lên như lửa cháy. Nó hiểu chính tên quan tỉnh trưởng giả bộ thương xót dân chúng nghèo đói kia đã nói những gì để mẹ nó phải đau đớn đến nỗi này.

Ra đến ngõ, quan cho gọi thằng đồn trưởng lại:

- Từ nay không được bắt con vợ thằng Việt Minh ấy đi trình diện nữa.

- Bẩm quan vâng ạ.

- Cho hương dũng bảo an đập tường nhà tao mang gạch đến xây cho nó. Mà nhà không bị đốt, ngói, gỗ đâu?

- Dạ... Bẩm thưa quan... Bọn du kích Việt Minh sợ trên đồn lấy nhà quan làm chuẩn căn đại bác nên nó dỡ vứt gỗ xuống ao, ngói xếp lại và phủ... Đến khi xây đồn con đã cho mang về đồn để chờ thỉnh quan.

- Đưa hết đến làm đúng như nhà cũ cho nó.

- Dạ bẩm... Sợ con mẹ nó không ở.

- Không phải cho nó. Ngày con mẹ nó chết tao đến, anh em nó bảo cái nhà đó coi như của chung để thờ tổ tiên, sau này gọi là nhà thờ họ. Mẹ con con Đất về ở đấy là trông coi quét dọn chứ quyền gì. Đây là quốc gia bảo vệ những nơi tôn nghiêm thờ cúng. Như tao đã cho lệnh xây dựng tu sửa lại miếu ông Cuội nghe chưa?

- Dạ bẩm quan...

Rồi như sợ đám hương dũng ngu không hiểu hết mưu sâu của quan đối sách với bọn Việt Minh, quan phải giảng giải:

- Con Đất là vợ thằng Việt Minh đầu sỏ ở vùng này. Muốn thu phục nó quy hàng hoặc ít ra cũng không để nó tuyên truyền nói xấu Quốc gia, thì Quốc gia lại phải tỏ là Quốc gia đại lượng. Như tao không thèm đếm xỉa gì đến tất cả đám dân chúng ngoại bối đã cướp hàng vạn tấn thóc của nhà tao. Nghe không?

- Dạ, bẩm quan. Chúng con xin vâng lời quan trên anh minh quảng đại ạ.

- Sức cho các làng nội nhật từ nay đến tết phải tu bổ xong miếu ông Cuội và làm lại nhà thờ họ cho tên Việt Minh đầu sỏ. Phải làm cho dân chúng hiểu Quốc gia bao giờ cũng tôn thờ trời phật tổ tiên chứ không như bọn cộng sản khố rách áo ôm vô thần.

- Dạ thưa... Bẩm quan lớn các đình chùa khác thuộc tổng này...

- Cái gì?

- Dạ bẩm, con định trình quan những đình chùa khác thuộc tổng ta bị đồn Tây và quan quận cho phá xây đồn thì chúng con sẽ phải...

- Ngu. Quan lệnh đến đâu hãy làm đến đấy. Sức nào một lúc làm lại được tất cả. Hiểu chưa?

- Dạ dạ... dạ dạ... 


Phần 2 - Chương 3

Hai mươi ngày sau khi đoàn phó Văn Yến gặp Kiêm, toà án nhân dân đặc biệt xét xử tên địa chủ, quốc dân đảng phản động đại gian đại ác được mở tại xã Ngoại Thượng nay đổi là Đại Thắng. Nhân dân lao động thuộc mười xã phía tây huyện, cả trong và ngoài đê mang cơm nắm, rước cờ, biểu ngữ đi dự đấu. Đúng sáu giờ sáng phải có mặt ở đấu trường tại bãi bồi trước đầm ông Cuội để ổn định tổ chức. Các cán bộ đội và cốt cán trong toàn cụm cũng đến dự cuộc đấu điển hình ở bước một này. Ngày hôm trước khi đấu, thị Đất đến xin anh Thó đi dỡ khoai lang. Anh Thó bảo:

- Hôm nay cho mày ba nồi.

Mụ ngỡ ngàng mừng. Không hiểu vì sao hôm nay anh Thó lại ra ơn cho mụ rỡ gấp ba mọi ngày. Anh Thó lại nói:

- Đúng ba giờ sáng ngày mai, mang con ra tập trung ở miếu. Mang khoai, nước đi. Ngồi cả ngày đấy.

Mụ bủn rủn chân tay, mắt hoa lên phải bấm mười đầu ngón chân lõm vào đất, mụ mới khỏi xiêu người đi. Nghe những ông bà nông dân bàn tán ở mấy ruộng khoai bên cạnh ruộng của mụ từ những hôm trước, mụ tin chắc ngày mai mẹ con mụ mang nhau đi dự đấu chồng mụ. Chọc cái đầm xuống đất, mụ gục đầu xuống cánh tay, rồi cứ ngồi như thế không thể nhấc nổi cái dầm lên nữa. Những ông bà nông dân chiều nay dỡ khoai cạnh ruộng mụ cũng cặm cụi lặng thinh, không ai nói một lời. Có những tiếng rơi tới tấp quanh mụ. Chưa kịp nhận ra điều gì, mụ đã bị người ta ném trúng vào lưng. Không kịp đợi đến ngày mai, người ta đã trút "căm thù" lên mụ ngay từ bây giờ? Mụ cố ngẩng mặt lên để trông thấy sự độc ác của làng xóm! Tất cả mọi người đều quay mặt đi, không ai thèm liên quan đến mụ! Nhưng quang mụ đã đầy lên những củ khoai tròn tím mà ruộng nhà mụ không thể nào có những củ khoai to, đều như thế. Nước mắt mụ ứa ra, mụ muốn chắp tay lại quay bốn bề mà kêu: "Các bác, các anh các chị ơi. Em đội ơn xóm giềng nhiều lắm. Em chỉ mong đừng ai khinh rẻ hắt hủi mẹ con em là quý rồi. Đừng vứt khoai sang, nhỡ có ai người ta thấy". Những người nông dân vẫn quay lưng về phía mụ. Cho đến khi tất cả đội dây, bê khoai về, cũng vẫn không có một ai thèm nhìn, huống hồ lại nói gì với mụ! Mụ lặng lẽ đi nhặt những củ khoai bà con ném cho để vào rổ. Sao lại vừa đúng miệng rổ, vừa ba nồi anh Thó cho phép? Chắc ai cũng hiểu mụ phải mang khoai về trình trưởng xóm, không ai có thể cho mụ nhiều hơn. Thì ra mọi người biết cả cái tiêu chuẩn mụ được phép ngày hôm nay! Đợi mọi người về hết mụ Đất mới ôm đống dây ở đầu bờ đặt vào một bên quang gánh về để nó đúng phép "đào khoai thì phải có dây". Chứ nhà mụ làm gì có bò, có lợn mà cần đến dây khoai. Hôm nay anh Thó trông thấy mụ, cho đi ngay không cần phải bới từng củ, nhấc thử bó dây khoai như mọi ngày. Về đến đầu ngõ mụ nhận ra cái dáng thằng Hiếu đi qua chỗ ruộng khoai mụ vừa ở đấy về. Càng gần, càng rõ là nó. Mụ nghe đồn là nó đi học thuế nông nghiệp ở tỉnh một tháng. Mụ nhẩm tính đến nay mới được một nửa. Sao nó đã về. Hay lại có liên can gì, người ta đuổi học? Mụ giả vờ để gánh xuống, bỏ dây khỏi quang, bê rổ khoai ra giếng rửa chờ con. Từ hôm con được "xuống" thành phần mụ lại lo nó có chuyện gì, phải "lên" thì khổ thân vợ chồng, con cái nó. Thành ra mụ cứ đêm ngày thấp thỏm lo cho con hơn là nỗi cực nhọc tủi hổ của vợ chồng mụ. Khi nghe phong thanh người ta kết tội chồng có làm việc cho thằng tổng Lỡi nên nó mới làm cho cái nhà này, mụ đã định khai ra cái gốc gác của nó. Thôi, xấu thì đã xấu rồi, còn gì để xấu thêm mà phải trốn tránh. Khai được chuyện này ra, bao nhiêu chuyện khác sẽ gỡ ra được, chồng mụ không phải bị buộc oan, không phải "ngàn cân treo sợi tóc" như bây giờ. Nghĩ đến con, mụ lại run lên, không dám hé răng nói điều gì. Giữa chồng bị tù đày và có thể người ta xử bắn với con suốt đời mang nhục, suốt đời bị lạnh nhạt khinh bỉ, bị theo dõi, mụ phải chọn đường nào để mất? Con ơi, đã bao nhiêu đêm mẹ khô nước mắt vì nỗi giằng xé day dứt lòng mẹ, mẹ thèm khát cả chồng và con mà giời bắt mẹ chỉ được chọn lấy một. Mẹ muốn chết trước khi người ta nhục hình chú Kiêm nhưng giời lại bắt mẹ không được để các con mẹ bơ vơ! Đã bao nhiêu lần chỉ tìm cách đi qua, đi lại để được trông thấy cháu, trông thấy "con chó cún" của bà nhưng thấy cháu rồi mẹ lại phải đi như chạy, phải quay mặt trốn lủi để cháu khỏi reo lên gọi bà, để bà khỏi phải nhao đến ôm cháu vào lòng. Bà cháu quấn quýt với nhau được một tí, bố mẹ nó lại "liên can" chả bõ khổ sở thêm. Tránh con bao nhiêu lần nhưng hôm nay mụ cố tìm cách gặp nó chỉ để nói với nó một câu. Ngày mai xử chú. Con liệu mà tránh, khỏi mang vạ vào thân. Nhưng mà nó rẽ đi đường khác rồi. Có nhẽ nó không nhìn thấy mẹ. Mụ đành trông trước trông sau rồi đứng nhìn con. Đến khi cả mụ và nó chìm vào bóng tối mụ mới bê rổ khoai lững thững quay về.

Còn Hiếu? Nó cũng thấy hai chân rã rời không muốn bước khi nó phải tránh mẹ nó. Lớp học hướng dẫn làm biểu mẫu thuế nông nghiệp của tỉnh triệu tập một tháng nhưng chỉ học có hai mươi ngày. Ban chỉ đạo đã cho học viên thuộc cụm này thu xếp về trước khi kết thúc năm ngày để dự một cuộc đấu tranh điển hình. Tên Nguyễn Văn Kiêm, địa chủ đầu sỏ, là chân tay của địch gài vào tổ chức Đảng từ trước Cách mạng Tháng Tám đến nay. Hắn đã chỉ điểm giết hại hàng trăm chiến sĩ Cách mạng, phá vỡ hàng chục cơ sở của ta. Khắp nơi đồn ầm ĩ về tên địch nguy hiểm, về cuộc đấu ngày mai. Ở lớp học của Hiếu người ta nói công khai: "Các đồng chí về dự bắn tên Kiêm". Gặp mẹ, Hiếu phải nói thật hay là nói dối? Nói dối để làm gì? Nói thật để làm gì? Tránh đi để mẹ bớt một đêm đau đớn, thêm được một đêm hi vọng. Ngoài lí do ấy ra, anh vẫn không đủ can đảm để người ta bắt "quả tang" anh vẫn liên lạc với mẹ. Ngày anh được thả về, được đi họp, anh đội Lăng dọn đến ở nhà mẹ vợ anh. Hai ngôi nhà của vợ chồng anh và của mẹ vợ trông như hai cái lều, cách nhau một vườn chuối rộng hơn một sào mà anh vẫn tưởng từ cái gãi tai bên này tiếng thì thầm của vợ chồng ở bên này bên kia đội vẫn nghe, vẫn biết. Vợ anh làm phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã đi họp với đội suốt ngày suốt đêm thì không nói làm gì, còn anh được giao làm trưởng ban thuế nông nghiệp không làm việc ở bên cạnh đội nên vẫn có du kích theo dõi. Người ta vẫn nghi anh chưa dứt khoát vứt bỏ cái kẻ làm mẹ mình để đứng hẳn về phía bần cố. May mà đêm nay anh mới về! Nếu ở nhà, liệu anh có tránh khỏi không lên đấu tố, xỉa xói vào mặt chú Kiêm ngày mai?

Cái cánh cửa ra vào nẹp bằng lá chuối của nhà anh khép kín. Giờ này chắc vợ anh không thể có nhà. Bao nhiêu công việc ngày mai cô ấy phải tham gia. Liệu ngày mai người ta có bắt cô ấy phải lên tố không? Những lần tố ở tiểu tổ, ở xóm, ai cũng bảo cô ấy là người biết đấu tranh, nói năng có bài bản, lớp lang đâu vào đấy. Đêm về nằm bên chồng cô ấy bảo: "Mình cũng phải đấu mạnh thì người ta mới đỡ "nghi". "Đấu mạnh" ở chỗ vắng mặt chú ấy còn được! Ngày mai cô ấy phải đứng trước mặt chú Kiêm xỉa xói, gội thằng nọ, thằng kia. "Bà đây. Bà là Xuyến đây mày có biết không". Chao ôi! Ngày mai! Có tiếng con đùa cười ở bên nhà mẹ vợ, nhưng anh chưa thể sang được. Anh cũng phải sửa soạn cho mình bộ mặt "ngày mai". Sẽ nói, sẽ cười, sẽ căm thù, sẽ đả đảo? Liệu anh có làm được hay lại cứ bần thần mà thương mẹ, thương các em và chú ấy. Ngày mai anh sẽ ngồi đâu? Ai hỏi gì? Phải trả lời những gì? Trời ơi, căng thẳng quá. Anh thẫn thờ đi lại sát cửa đưa tay rờ rờ xem các then chỉ gài sơ sài hay khoá cẩn thận. Bỗng anh rụt tay lại. Tiếng vợ anh rên rẩm phía trong:

- Ôi ôi, ới đội ơi, em chết mất!

Tiếng anh đội Lăng thì thào câu gì nghe không rõ. Tiếng vợ anh:

- Không. Không sao đâu, cứ cho em chút nữa đi. Nữa đi. Nữa đi anh đội. Trời ơi sướng quá. Em chết mất anh ơi.

Hiếu tưởng mình đang ngạt thở giữa con nước lũ ào ào cuốn trôi đi, chới với, chới với. Không biết bám vào đâu. Hai chân run bắn, anh phải ngồi xuống, chống hai tay xuống đất như một con vật bốn chân bám chặt vào đất mới khỏi đổ kềnh ra. Vẫn run quá. Phải bấm cả mười đầu ngón tay vào, đặt ép cả người xuống đất để đỡ run. Anh không sợ đau khi người mình đổ ra đất. Nhưng "đổ" ra lúc này sẽ gây tiếng động, sẽ lộ. Lộ ra lúc này là anh chết. Chỉ có anh là con trai mụ địa chủ phản động hằn thù giai cấp, âm mưu làm mất uy tín của đội, đánh vào đội ngũ cán bộ đội và cốt cán nòng cốt của cuộc cách mạng long trời lở đất chứ đội không bao giờ lăng nhăng làm chuyện bậy bạ. Đội không khi nào xâm phạm đến quyền lợi của bà con nông dân lao động. Không bao giờ đội sai trái thiếu sót. Không kẻ nào cả gan dám có cử chỉ, lời nói làm giảm sút uy tín của đội lúc này. Lúc này chỉ có bọn phản động như chó cùng dứt giậu chống phá điên cuồng cuộc đấu tranh có tính chất quyết định thắng hay bại của bần cố ngày mai! Chao ơi. Giá lúc này anh có một con dao! Một khẩu súng! Hoặc nhảy vào bóp dái thằng đội, bóp cổ con vợ rồi mình đập đầu vào cối đá mà chết! Hai thứ vũ khí đều không có. Còn sự liều lĩnh thì anh là kẻ nhu nhược. Đã không có gì trong tay, không đủ can đảm để làm việc gì, thì phải câm họng, phải "không được biết gì". Có tiếng động ở trong giường, dấu hiệu của mọi việc đã xong xuôi, hai người hỏi nhau "Đến giờ chưa anh?" Hiếu vội vàng bò lồm cồm như một con chó bò khỏi sân nhà mình. Ra đến ngõ mới dám đứng dậy, mới đủ sức đứng dậy rồi chạy ngược lại con đường mình mới đi. Phải chạy thật nhanh, thật xa, phải không để lại dấu vết gì chứng tỏ là anh đã về đến đây, đã như một con chó bò lồm cồm ở trước nhà mình. Đang chạy lao đi như có ai đuổi, nghe tiếng lào xào ở con đường ngang, cắt con đường anh đang chạy. Anh dấn lên độ vài chục bước rồi lững thững quay lại. Gần đến ngã tư nơi anh vừa chạy qua, một người quát:

- Ai?

- Tôi. Hiếu đây. Ai đấy?

Anh đội Quyền, anh Thó và dăm bảy anh du kích từ "trường đấu" về. Nghe Hiếu giải thích cho họ vì sao lớp học của anh được lệnh gấp rút về sớm. Anh đội Quyền bảo:

- Thế là may lắm. Ngày mai đồng chí sẽ thấy một cuộc đấu tranh quyết chí tử. Mà tối nay đồng chí được dự cả đấu thử nữa.

- Thế thì phấn khởi quá. Em phải đi như chạy suốt từ trưa đến giờ, nóng ơi là nóng.

Anh đội Quyền bảo:

- Đồng chí mới về đến đây đã ăn uống gì chưa. Dọc đường ăn rồi à? Thế thì ra đầm Cuội ta tắm cho mát rồi về họp. Anh em đây cũng vừa đi, sửa sang lại trường đấu ướt đầm mồ hôi. Về họp tôi sẽ giới thiệu với bà con, ở như trên tỉnh người ta cũng cho lớp học đồng chí Hiếu về dự đấu ngày mai. Chết chết, quan trọng không đâu bằng. Đấy nó như thế.

Cứ mỗi lần nghe anh đội Quyền nói chỉ muốn phì cười. Nhưng bây giờ thì Hiếu không thể nào cười được. Lội xuống đầm, không biết nước lạnh hay vì sao, Hiếu vừa nhúng người xuống nước đã thấy rét run lên. Anh bảo anh đang ra nhiều mồ hôi tắm lâu sợ cảm. Lên mặc quần áo ngồi ở bờ đầm anh mới nhận ra mình không thể ngồi ở đây. Cái kẻ gọi là cha của anh đã gieo tội ác vào cuộc đời mẹ anh và để bao nhiêu người khác phải gánh chịu, xảy ra ở chỗ này. Một kẻ khác vừa xọc lưỡi dao vào ruột anh cũng lại đẩy anh đến bờ đầm như là sự gặp gỡ của những nỗi đau đớn. Sao anh lại phải ngồi lại chỗ này? Ba mươi năm sau, khi làm bí thư huyện uỷ anh quyết định lấp đầm Cuội. Dân chúng chỉ biết lấp đầm để có cánh đồng rộng mới tiến lên làm ăn lớn, có ai biết điều gì đã xảy ra đêm nay liên quan đến quyết định lấp đầm? Cũng chả thiếu gì việc làm để "cho dân no" mà thực chất chỉ cốt đạt được mong muốn thầm lặng của riêng ai đó. Cốt thoả mãn ý đồ của mình rồi dân no, đói kệ họ. Quan trọng gì. Cùng lắm thì rút kinh nghiệm để "trưởng thành" nhanh chóng sau này. Công bằng mà nói có rất nhiều "công lao đóng góp" của anh đội Lăng trong đêm nay. Trong đêm nay anh là người thầy học đầu tiên của Hiếu về những cuộc chiến đấu sau này. Muốn tiến lên, muốn giành lấy mọi thứ, anh ta biết cách bầy đặt ra mọi thứ kẻ thù để đấu tranh. Kẻ thù càng nham hiểm, cuộc đấu tranh càng quyết liệt, càng chứng tỏ sự vững vàng, kiên định mưu trí cao cường của anh. Kẻ thù càng độc ác xấu xa nhơ bẩn thì anh càng tốt đẹp trong sạch, thành người cao cả hơn muôn người. Ngày xưa chú Kiêm đi đánh kẻ thù thật thì vào sống ra chết, tù đày, đầu rơi máu chảy may ra mới "tìm" được địch để tiêu diệt. Bây giờ kẻ địch "tự tạo" ở làng này ở trong tay anh Lăng cả. Lai có chỉ tiêu nhất loại phải đủ năm phần trăm nên anh "tìm" "địch" cũng dễ, mà "tiêu diệt" chúng cũng dễ. Thoắt cái là kẻ thù, thoắt cái lại là người cùng giai cấp. Bà con bần cố chả biết đường nào mà lần. Chỉ có điều, ngày xưa đánh được địch thật, có chiến thắng thật, dân cũng được giải phóng thật. Còn bây giờ anh ấy đánh địch giả, thắng lợi giả, dân làng Cuội cũng "no ấm" giả. Ngoài kẻ "làm cha" của Hiếu đã liếm gót Tây đi vào miền Nam là có thóc gạo ở trong nội đồng, còn cả ba xã Ngoại bối đồng loạt nhà ba sào ruộng trồng một vụ ngô, một vụ khoai lang, có ai được hạt gạo! Địa chủ cũng chỉ có nắm dải khoai, mấy quả bầu trắng. Tịch biên rồi lại phải để cho nó ăn, không con cái nó chết đói. Nông dân được cái gì? Nơi nào có địa chủ thật, người ta cứ đoàn kết mà đấu tranh. Còn ba xã Ngoại bối đều nghèo đói, khổ sở như nhau việc gì phải tốn đến 84 anh cán bộ, đội, bắt dân thức khuya dậy sớm 5, 6 tháng giời liền đấu tranh. Tìm ra được 26 địa chủ thì sửa sai lại phải hạ cả 26 xuống bần nông và trung nông. Bắn ba người lại phải làm lễ truy điệu giải oan cả ba. Riêng có tên phó tổng Bạt chả cần đội về, chả cần phát động, cả tổng đều biết nó là phản động, tay sai, chỉ điểm phải "tủng xẻo" chứ không chỉ bắn cho nó chết ngay.

Tất cả là cũ rồi. Ai cũng biết rồi. Nói ra để làm gì? Có lợi lộc gì hay chỉ để cho thích mồm? Nhưng anh đội Lăng ạ. Anh bảo: Cái chết trôi sông của mẹ tôi là do tôi gây ra và hơn thế, tôi đã thành kẻ "lưu manh đểu cáng", để anh phải cầm dao định giết tôi ở cửa bếp nhà anh nhưng anh lại quên mất cái hành động đểu cáng của anh ở trong gian lều nhà tôi đêm nay. Anh cũng không nhận ra chính tôi là học trò của anh suốt mấy tháng giời ở sân miếu ông Cuội. Trong những ngày tháng này cứ như anh là người tăng gia sản xuất được ra kẻ thù. Sản xuất ra tội trạng, ra khí thế đấu tranh. Sản xuất ra cả thắng lợi. Đến bây giờ tôi mới hiểu các anh "đã lật dưới lên trên" là thế nào.

Mọi người về đến nơi, dân làng đã đông đặc và Xuyến đã cất lên cái giọng hát lúc tha thiết lúc trầm lắng sâu xa cái điệp khúc "Quê hương". Rồi cả già trẻ, trai gái vỗ tay cùng hát dồn dập như một dàn đồng ca khổng lồ: "Quê hương tôi thiết tha chờ mong đón đội về làng. Quê hương tôi khát khao ngày đêm trút sạch hận thù... Đội về làng là... à cuộc đời ta đổi mới, là sướng... ướng... ứ ớ... ơ. Vui... ui... u..." Cái từ cuối chỉ còn một mình Xuyến ngẩng mặt ngân vút lên rồi vuốt giọng dài ra, ngọt ngào mơn man làm mặt Hiếu nóng bừng, anh đứng lấp mãi vào chỗ tối cố nuốt một làn hơi nóng cộn lên, hai hàm răng anh xiết chặt lại. Rồi anh cười cười với một câu nói thầm thì trong đầu: "Nếu còn ở với anh, nhất định có nhiều dịp sướng... ướng vui đấy em ạ". Nghe anh đội Quyền nói gì đấy, anh đội Lăng từ cửa miếu chạy ra gốc bàng vừa bắt tay vừa ôm choàng lấy Hiếu, không giấu nổi niềm vui cuống quýt:

- Về lâu chưa?

- Em sấp ngửa chạy về tưởng không kịp buổi tập dượt cuối cùng.

Anh Quyền:

- Đồng chí ấy mới về đến đầu làng Nhằng gặp bọn tôi. Anh em rủ nhau đi tắm nên về muộn.

Lăng:

- Không sao. Không sao. Tối nay ta có thể thức suốt đêm. Mừng quá. Mình rất mong cậu. Mình được biết lớp học có 20 ngày nhưng không ngờ trên lại cho cậu về sớm kịp dự ngày mai. Cậu nghe đồng chí phó chủ tịch độ này hát hay đấy chứ?

- Từ khi ở đội thiếu nhi em đã biết cô ấy hát khá.

Xuyến từ giữa sân len ra đứng cạnh chồng hỏi nhỏ:

- Anh về nhà với con chưa? Nó nhớ bố ngày nào cũng nhắc, làm em cứ sốt cả ruột.

- Giữa đường gặp anh Quyền, anh Thó rủ đi tắm luôn, chưa kịp về nhà.

- Anh hay coi thường ghê cơ. Đi đường nóng chưa chi đã tắm. Mà anh ăn gì chưa cơ?

- Ăn quà rồi. Tắm xong lại thấy đói.

Xuyến hơi ngẩn người thanh minh rằng từ hôm anh đi, hai mẹ con cô vẫn ăn cơm bên bà ngoại. Anh Lăng bảo:

- Bây giờ mình giao nhiệm vụ hai cậu về nhà Xuyến kiếm cái gì cho Hiếu ăn rồi hai cậu lại ra đây. Đi đi. Cứ yên trí. Đêm nay còn dài.
° ° °
Đêm nay bà con nông dân lao động làng Cuội nô nức chuẩn bị cho ngày mai. Ngày mai, theo anh đội Quyền thì nó là cái lúc tát cạn rồi, cá phơi mình ra rồi ta chỉ việc lấy cả hai tay chịt đầu, tóm đuôi không cho nó quẫy. Còn anh Lăng thì nói: "Ngày mai chúng ta được nhìn thấy thành quả đấu tranh gian khổ và quyết liệt của giai cấp. Nó là biểu hiện cao nhất của sức mạnh bần cố vùng lên. Khi bần cố đã vùng lên thì sức mạnh kinh hoàng khủng khiếp của nó sẽ làm rung chuyển cả trời đất, không có gì có thể cản nổi".

Suốt bốn tháng bảy ngày ròng rã. Sáng ra đồng cùng nhau ôn nghèo gợi khổ, tối về họp bàn tranh đấu, căm thù và khóc lóc, uất giận và đau thương, hào hứng và căng thẳng... bà con hiểu cái sức mạnh bần cố là thế nào. Ngày mai rồi tất cả sẽ ngơ ngác. Bà con bần cố, nhất là các khổ chủ, lên đấu sẽ ngơ ngác trước sức mạnh vũ bão của giai cấp mình. Kẻ thù sẽ ngơ ngác về sự sụp đổ tan tành của chúng. Những phần tử còn lừng khừng ngơ ngác không biết rồi những gì sẽ xảy ra! Vì thế đêm nay già, trẻ, gái trai, những nông dân lao động của cả ba xóm Cuội (thượng, trung và hạ nay gọi là xóm 1, xóm 2, xóm 3) phải nghìn nghịt tập trung ở miếu ông Cuội để xây dựng khí thế chung cho trận đấu cuối cùng, ngày mai. Cái khí thế bừng bừng vang lên trong tiếng trống, tiếng loa, tiếng hô khản cổ nó dậy lên khiến cả hai thằng con trai tên đại địa chủ phản động cũng đòi mẹ cho ra phục ở bờ tre xem và háo hức chờ đợi ngày mai! Lúc chập tối rửa khoai về, mẹ nó bảo:

- Luộc thêm vào để mai mang đi.

- Đi đâu hả mẹ?

- Đấu địa chủ, còn đi đâu.

- Hà hà. Thích quá.

Thằng bé em bảy tuổi, thằng Sau ôm lấy cổ mẹ nó khoái trá. Đây là lần đầu tiên nó được ra khỏi nhà, được đi đấu địa chủ với bà con nông dân lao động. Thằng Mai chín tuổi, nó ít nói nhưng biết rất nhiều chuyện. Riêng ngày mai nó chưa biết người ta đấu bố mình. Mặt nó vẫn nhăn lại mắng em:

- Làm gì nhắng lên thế. Để yên cho mẹ thở.

Suốt ngày ở nhà với anh, anh bảo gì không nghe là "ăn" củng nên thằng em sợ anh hơn sợ mẹ. Nghe anh mắng, thằng em len lét rời khỏi tay mẹ, mẹ nó kéo nó vào lòng.

- Thôi cho em ngồi với mẹ một tí. Nó nhớ mẹ quá đây mà.

Thằng anh lầm lũi lo toan như người lớn. Nó xếp khoai ra mẹt, lấy bát múc canh bầu, so đũa rồi mới mời mẹ và em.

- Nào thôi, để mẹ ăn đã. Nay đi ngủ sớm.

Canh múc ra, khoai xếp vào mẹt đều đã nguội, mẹ vẫn không ngồi vào ăn. Từ hôm người ta giải bố đi, mẹ bị giam ba ngày rồi được tha về, hai anh em không phải mang cơm cho bố mẹ, chúng nó rất sợ phải ăn một mình. Dù sớm khuya thế nào nó cũng đợi mẹ về ăn cùng. "Hình như mẹ làm sao ấy. Em thấy mẹ lau nước mắt". Thằng em thì thầm với anh. Đã ngồi xuống mâm, thằng anh lại đứng lên. Thằng em cũng bỏ củ khoai vừa cầm, đứng dậy hết nhìn mẹ, lại nhìn anh. Mẹ quay lại bảo:

- Các con ăn đi. Mẹ phải có việc đã.

Hai đứa đứng im, không đứa nào chịu ngồi xuống mâm. Mẹ bảo thằng Sau ra ngoài "gác" để mẹ bàn chuyện với anh Mai. Từ ngày bố bị bắt, Mai như người lớn, một người bạn của mẹ. Có việc gì từ to tới nhỏ mẹ cũng bàn bạc và hỏi ý nó. Để rồi nó lại nghiêm trang ra lệnh cho thằng em phải thế này, thế khác mà không cần giải thích. Thằng em được "gác" là việc hệ trọng nhưng nó vẫn đứng ngoài khe cửa hé mắt nhìn vào. Không nghe được mẹ nói gì, chỉ thấy mẹ thì thầm xong anh Mai bắt nó vào nhà ăn cơm còn mẹ ra cửa, đi. Hai anh em ngồi xuống. Thằng Mai hơi nghiêng mặt ra phía sau lấy vạt áo chấm nước mắt. Tiếng khóc thút thít bật lên, nó không thể giấu giếm được em như mọi khi. Thằng em không thể hiểu chuyện gì, nó chỉ thấy sợ. Nó cầm củ khoai ở tay, nhìn chằm chằm vào anh. Nước mắt nó cũng lặng lẽ chảy xuống. Rồi hai anh em cùng khóc thành tiếng, cùng mếu máo gọi "mẹ ơi, mẹ ơi" chả đứa nào dỗ đứa nào. Chả đứa nào ăn uống gì. Những củ khoai vẫn nằm lạnh lẽo quanh bát canh bầu cũng lạnh tanh ở mâm.

Ra khỏi ngõ, mụ Đất luồn ngay vào ruộng ngô. Phải còng người xuống, mụ lần theo các hàng dõng đi về phía miếu. Lần mò qua hàng chục thửa ruộng, mồ hôi toá ra và hơi thở mệt nhọc không thể làm dịu lại nỗi hoảng hốt của mụ "Liệu ngày mai người ta tha cho anh hay đem anh ra tử hình?". Nỗi hoảng sợ của mụ đã không kìm lại được khi nói với con "Mẹ phải liều đi xem người ta nói gì bố con. Ngày mai người ta đem bố về đấu đấy con ạ". Đến gần sân miếu, mụ nằm phục xuống, nhoài dần vào chỗ có thể nghe ngóng được. Cả sân miếu sáng loá ánh đèn của ba cái măng sông treo thành hàng. Người đen đặc như muỗi. Nằm nghe một lúc mụ mới biết tối nay tất cả bà con nông dân lao động của cả ba xóm Cuội đến đây để tập dượt "đấu" cho thành thạo. Ở gần ngọn đèn chính giữa, anh đội Lăng giở sổ nhìn rồi nói:

- Rút kinh nghiệm lần chúng ta vừa làm thử, tôi nhận xét và bổ khuyết sau:

Một lớn, nhận định chung: Chúng ta có 36 người lên đấu chia thành từng nhóm như sau: Ba người tố về chiếm đoạt ruộng đất. Bốn người về phát canh thu tô. Sáu người bị đánh đập dã man. Năm người về lợi tức (vay ngô, khoai). Một người bị cưỡng hiếp. Bốn người tố tội làm tay sai gián điệp. Ba người tố tội hoạt động Quốc dân đảng. Sáu người tố về tội bóc lột nhân công. Hai người tố âm mưu giết tên Bạt, bịt đầu mối. Hai người tố về âm mưu chống phá cải cách. Nếu một hoặc hai người ở nhóm nào đó "đấu" nó đã "gục", toà sẽ gọi người tố thuộc nhóm khác để đảm bảo đúng thời gian đã định.

Hai lớn: ưu: Trong tám người tố thử, mới có ba người gây được xúc động nhiều như: Anh Thó, chị Xuyến, bà ba Xòi... Những người khổ chủ này đấu có bằng chứng cụ thể, nói từng việc rành mạch, rõ ràng. Bà ba Xòi tốc cái váy lành bằng vải lên để hở cái váy bằng bao tải ở phía trong ra so sánh ngày xưa khổ cực bị bóc lột thậm tệ, với ngày nay sung sướng. Rất cụ thể, làm người ta nhớ ngay. Anh Thó nói: "Ngày xưa mày bắt tao uống thuốc câm. Bây giờ đội cho tao uống thuốc "nói" tao mới được mở mày mở mặt, mới được nói". Như thế là anh Thó ví rất sinh động. Hay là chị Xuyến bước lên bục đấu hỏi ngay: "Mày còn nhớ đống cây ngô không?" Nhất định nó phải hỏi lại "đống cây ngô nào ạ". Lúc bấy giờ mới nói: "Mày còn giả vờ hả. Cái đống cây ngô mà mày đè ngửa tao ra trong đêm 12 tháng chạp năm 1953 có nhớ không? Mày làm tao mất trinh tuyết rồi (chị Xuyến cứ nói chữ "tuyết" được đấy. Nó mộc mạc, rất thành thật) mày làm hại đời tao rồi mày mới bắt tao phải lấy anh Hiếu là con riêng của vợ mày để mày phi tang, trốn tránh tội ác". Như thế là gây được phẫn nộ rất lớn. Tiếng đả đảo của anh Thó hô lên lúc ấy và bà con rầm rộ hô theo rất đúng chỗ, tạo ra một khí thế khác hẳn. Ngày mai cứ thế ta phát huy.

Ba lớn: Khuyết: Còn khuyết điểm của những khổ chủ khác là:

Một: có những việc tố chưa đủ tư liệu, chứng cứ và lí lẽ, buộc tội nó chưa sắc bén. Ví dụ: tố nó đi gặp thằng Lỡi tỉnh trưởng năm 1946 và nó giao nhiệm vụ phá cơ sở của ta cho thằng Bạt năm 1951 thì phải nói rõ lúc ấy sáng hay chiều, đêm hay ngày, nhớ được giờ càng tốt, ở đâu, nội dung nó nói như thế nào? Thằng kia có nói hoặc làm gì không? Những khổ chủ này sau đây gặp đội để bổ sung đầy đủ những điều vừa nêu ở trên.

Hai: Những khổ chủ tố nó về tô tức phải nói cụ thể là bao nhiêu? Nó đã làm cho gia đình mình đói khổ như thế nào. Và phải bắt nó trả, bắt bồi thường như thế nào?

Ba: Tố chưa đủ điều kiện như chị Lạnh nói: Tao để bò ăn ngô, mày đánh tao. Lúc đó bà con nhắc: "đánh bằng gì" mới cuống lên nói: mày tát tao. Lúc bà con nhắc "thương tích" lại vội vàng nói "Mày thương tích tao". Như vậy nếu không đủ điều kiện tự làm cho nó có lí là không được. Để bò ăn ngô thì nó tát, có gì gây được lòng căm thù? Không đủ điều kiện cũng rất khó thuộc. Đã không thuộc dễ cuống làm giảm tác dụng cuộc đấu.

Bốn: - Tố chung chung và "giáo đầu" giống nhau như... ai cũng hỏi câu: "Mày biết tao là ai không?" Tố về bóc lột nhân công chỉ nói nhờ có Đảng và Chính phủ, nhờ mặt trận bà con chúng tao mới được vùng lên đấu tranh với giai cấp của mày. Giai cấp của mày là gian ác, ngồi mát ăn bát vàng, còn giai cấp bần cố chúng tao bị bóc lột tận xương tận tuỷ. Có người lại nói nhầm: giai cấp bần cố chúng tao là xương là tuỷ, làm mọi người cười ồ lên, mất hết khí thế.

Bốn lớn: Bổ khuyết:

Một: Các tổ nhóm sau đây về ôn lại, sửa chữa cho nhau khi nào nhớ đầy đủ, thật trơn tru mới giải tán. Về nhà ngủ các khổ chủ thấy chỗ nào còn ngắc ngứ phải nhẩm lại, thậm chí còn phải ngồi dậy mà tập thử. Làm như lúc bước lên bục đấu, đứng trước mặt nó.

Hai: Ngày mai, chỗ nào khổ chủ bị "vấp" quên mất bà con ở nhóm phải nhắc ngay và các đồng chí tuyên truyền phải cầm loa đứng ngay dậy "đả đảo".

Ba: Nếu người lên tố có nói nhịu hoặc quên, không ai được cười. Ai cười coi như phản động làm giảm ý chí đấu tranh của nông dân. Lúc khổ chủ chịu hoặc quên, bà con cùng nhóm cạnh đấy có thể chạy lên tát vào mặt nó hỏi: "Mày còn ngoan cố nữa không? " hoặc: "Tên địa chủ độc ác, mày phải đền tội" v.v...

Chú ý không được đánh nó chết. Tất nhiên trên này đã có án tử hình rồi. Nhưng phải vạch trần hết sự thâm độc giảo quyệt và tội ác tày trời của nó đã. Nếu bà con ai thấy căm thù quá cứ tự động đứng lên hô đả đảo hoặc chạy lên túm tóc, túm áo nó giật giật, thét lên: "Tội mày trời không dung, đất không tha" hoặc "Phải trả nợ máu cho chúng tao".v.v...

Càng nghe thị Đất càng tê dại mê man... Anh đội Lăng nói:

- Còn một điểm cuối cùng nữa tôi phải phổ biến nốt rồi giải tán về các nhóm.

Mụ Đất vội vã bỏ trở về. Chừng dăm bảy chục mét mụ đứng vụt dậy chạy như ma đuổi. Đã quá nửa đêm. Thằng Mai vẫn ngồi ôm em cạnh mâm khoai và bát canh nguội lạnh. Em ngủ, còn nó thức. Mẹ nó đột nhiên lao vụt vào cửa rồi ngã vật xuống cái nong vốn là "giường" của ba mẹ con. Chân tay lạnh cứng, mẹ nó như người trúng gió. Thằng Mai buông em ra ngã bên cạnh mâm, nó chạy lại lay đầu mẹ. Thằng em cũng tỉnh dậy. Hai anh em túm tay lay lay đầu mẹ, khóc nấc lên. Mẹ nó vẫn cứng lại. Hai đứa sợ run lên. Chúng chỉ dám hoảng hốt gọi thầm mẹ không dám kêu. Kêu khóc, du kích xộc vào, bắt mẹ đi, mẹ chết mất: "Mẹ ơi, mẹ ơi... ơ... Mẹ ơi. Mẹ ơi... ơ... ơ ơ" Chừng mười lăm phút sau mẹ nó mới tỉnh lại, liếm vào hai vành môi khô se, mẹ nó nói đứt quãng:

- Mẹ không... ông... làm sao đâu.

- Mẹ ơi. Mẹ ơi. Mẹ đừng làm sao nhớ.

- Ừ mẹ không làm sao. Các con ăn no chưa?

- Rồi ạ.

- No lắm rồi mẹ ạ.

Cả hai đứa sợ mẹ biết hai anh em chưa ăn gì, đói thì mẹ chết nên chúng cùng nói dối để mẹ khỏi chết.

- Nằm xuống đây với mẹ. Mai khép cửa rồi ngủ đi con. Sắp phải đi rồi.

Cả hai đứa đều không chịu nằm ngủ. Mỗi đứa ngồi một bên, nó cứ sợ rời ra mẹ lại đi mất.

- Không ngủ. Ngày mai các con ốm. Mẹ chết mất.

- Nằm xuống em.

Thằng Mai bảo em nằm vào lòng mẹ, còn nó trước khi nằm hẳn, hỏi mẹ:

- Ngày mai người ta có đấu bố không mẹ?

- Không thấy người ta nói gì đến bố.

- Mai người ta bắn bố đấy mẹ ạ.

- Sao lại nói liều thế hở con.

- Chiều nay con ra đầm Cuội gánh nước, thấy mấy đứa nó đi xem chôn cọc, đào hố về nó nói như thế.

Nó bảo người ta đào hố chôn cọc rồi lại phủ cành cây kín đi để không ai biết.

- Người ta xử người xã khác đấy.

- Không phải mẹ ạ. Ai cũng bảo ngày mai đấu tên Kiêm đầu sỏ.

Im lặng. Mẹ ôm ghì lấy thằng Sau. Thằng Mai lại lập cập nói:

- Con sợ họ bắn bố lắm mẹ ạ. Mẹ ơi con sợ lắm.

- Mai ơi, con ơi. Con ơi... ới anh ơi. ới giời cao đất dày ơi... ơ...ơ

- Ới bố ơi. Bố ơi...

- Ới bố ơi. Bố ơi.

- Ới anh Kiêm ơi. Là anh ơi. Ới ông bà nông dân ơi.

- Ới mẹ ơi là mẹ ơi, bố con đâu rồi mẹ ơi.

- Ới mẹ ơi bố con đâu rồi mẹ ơi.

- Ới ông giời ơi. Ới anh ơi...! Ới giời cao đất dày ơi. Chồng tôi làm gì nên tội nên tình mà hãm hại chồng tôi. Ới giời ơi. Ới ố, ố...

Nhưng giời thì cao, mà đất thì dày. Tiếng kêu của ba mẹ con mụ, dù có là thống thiết bi ai, có là xé ruột xé gan, nát lòng nát dạ hàng trăm người đứng ở đầu nhà hướng về phía nhà mụ lặng lẽ lau thầm nước mắt thì vẫn không thể thấu đến trời cao và đất dày.

Năm giờ chiều ngày hôm sau, trước khi du kích lao đến nhét giẻ vào mồm chồng mụ, mụ còn nghe thấy tiếng gọi. "Các con ơi, Mẹ nó ơi. Tha cho..." rồi mụ mới ngất đi. Mụ không thể biết rằng khi những người du kích xách súng phủi quần đứng dậy và anh đội Lăng bắn phát súng lục cuối cùng vào đầu, máu ộc ra thì có tiếng thất thanh của một cán bộ tóc lốm đốm bạc nhảy từ ô tô xuống kêu: "Đình lại. Đình thi hành án lại". Nhưng chỉ còn có máu chảy đỏ nhoà thân cọc. Những sợi cỏ gà khô cứng dưới chân làm ông bước liêu xiêu rồi ngã gục. Người ta vội vàng chạy lại đỡ ông dậy. Khuôn mặt ông đã đầy cát và hai mắt đỏ vằn lên như máu chảy ở trong đôi mắt người cán bộ lão thành ấy. 

Phần 3 - Chương 1

Chuyện tình thứ tư
Mới 27 tuổi, làm bí thư đảng uỷ khoá đầu tiên vào đầu những năm 60 đã là ghê. Nhưng Hiếu bảo cuộc đời phấn đấu của anh giống như đám kiến cánh trong thân cây tre cộc ở đầu ngõ. Đám kiến chui từ ống tre ra đều hốt hoảng chen nhau nhao lên rồi mới vòng xuống. Từng đàn, dài như một sợi dây luồn qua đám tay gai xuống gốc đi tha mồi. Có con tha được hạt mày ngô, tí vỏ khoai lang, hạt tấm, có con chỉ quẹt đầu vào đống phân trâu, phân bò cho nó dính vào râu, vào mõm mang về góp phần xây lên cái tổ đen kịt ở chỗ ngã ba giữa thân và cành tre, trông như cái sọ đầu lâu. Hiếu cũng "nhao lên" rồi kiên nhẫn cặm cụi đi tha mồi như con kiến, có hơn gì. Từ trưởng ban thuế nông nghiệp, sang làm địa chính rồi trưởng ban giao thông, phó ban vận động hợp tác xã nông nghiệp, trưởng ban thương nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã thôn Thượng, uỷ viên uỷ ban rồi phó chủ tịch, rồi chủ tịch và trúng đảng uỷ (được phân công làm bí thư) khoá đầu tiên khi chuyển từ chi bộ xã thành đảng uỷ. Không phải chỉ bằng năng lực, tận tuỵ, xốc vác chín chắn và có nhiều sáng kiến. Anh còn là người khiêm nhường, kín đáo, tình nghĩa trước sau và nghiêm chỉnh dứt khoát, biết kính trên, nhường dưới. Nghĩa là, một con người toàn diện như anh rất khó kiếm. Anh là một cán bộ công nông đích thực, có rất nhiều khả năng và đức độ của xã, của huyện và cả của tỉnh vào những năm sau này. Bác Văn Yến đã nhiều lần bảo thế. Sau khi kết thúc thời kì phụ trách công tác sửa sai của huyện bác bảo mẹ:

- Những gì không làm tròn bổn phận đối với anh Kiêm, tôi sẽ phải có trách nhiệm với thằng Hiếu. Anh Kiêm không hề yêu cầu gì ở tôi. Nhưng tôi biết anh ấy rất hi vọng ở thằng Hiếu. Thằng bé ngoan và có năng lực công tác. Lo được cho nó để nó thay anh Kiêm lo cho chị và các em nó sau này là trách nhiệm của tôi, chị đừng ngại!

Từ ngày ấy bác Văn Yến đã "nhìn ra" thằng Hiếu, niềm tin cậy của bạn mình, có đầy đủ bản lĩnh và tư thế làm cán bộ chủ chốt sau này. Bác rất không bằng lòng với việc làm của các anh Cu Từ, Cu Mỡ. Hai anh là cán bộ lâu năm, từng vào sống ra chết, lại là bậc cha chú lớn tuổi mà bồng bột. Ai lại cùng với thống Bứt hò hét con cháu đi nhét cứt vào mồm cốt cán tố điêu. Làm thế để làm gì, trong lúc sửa sai rất cần sự ổn định để đoàn kết toàn dân. Thằng Hiếu trẻ, nhưng nó xử lí bình tĩnh êm thấm đâu vào đấy.

Trong lúc cả làng sôi sục chạy đuổi "nhét cứt vào mồm con Xuyến", làm con bé xanh xám mặt mũi, cắt không còn hột máu, thằng Hiếu đứng ra chặn mọi người và ôm lấy vợ bảo:

- Em cứ bình tĩnh, đừng sợ.

- Người ta giết em chết mất anh ơi.

- Bà con đây ai cũng thương anh, không ai nỡ giết em.

- Em chết thì thôi. Chỉ tội con còn bé. Mà anh "gà trống nuôi con".

Anh vuốt tóc vợ khiến những bà con đi "diệt" cốt cán phải vội vàng quay mặt đi. Còn Xuyến, trước bàn tay che đỡ dịu dàng và vững chãi của chồng, cô muốn ghì xiết lấy anh kêu lên "Anh ơi, em biết ơn anh, em yêu anh biết chừng nào. Anh có hiểu được lòng em lúc này không?".

Về đến nhà, anh bảo vợ:

- Mọi việc anh sẽ thu xếp với làng xóm. Chỉ có một điều.

Anh ngập ngừng. Vợ anh hỏi:

- Có nguy hiểm lắm không anh?

- Em phải xin lỗi mẹ. Làm sao để mẹ hiểu, em cũng bị người ta bắt buộc. Tình thế lúc ấy không thể không làm được. Đến bản thân các anh đội không tìm đủ năm phần trăm là địa chủ cũng chết nữa là mình.

- Liệu mẹ có tha tội cho em không anh?

- Thì anh phải xin mẹ cho em. Mẹ thương anh thế nào anh biết rồi.

Cô ôm lấy chồng. Nước mắt cô ướt đẫm mặt anh:

- Nếu được thế thì bảo em liếm xuống đất mà lễ sống mẹ với các em, em cũng làm. Mẹ anh là mẹ em, đi đâu mà thiệt hả anh.

Nhưng chiều hôm sau cô van lạy thế nào, mẹ cũng quay mặt đi. Hai thằng em Mai, Sau ngồi ở bậu cửa, chống tay lên cằm, mắt đứa nào cũng gườm gườm... Im lặng. Bỗng anh Hiếu hỏi:

- Mẹ còn nhớ cái chiều tối trước khi bắn bố con (từ khi sửa sai anh không gọi bằng chú nữa). Con đi học ở tỉnh về trông thấy mẹ bê cả rổ khoai đứng nhìn con ở chỗ bờ giếng?

- Sao tôi lại quên. Tôi đứng chờ anh. Anh sợ liên quan đến con mụ phản động, anh phải tránh mặt.

- Hôm ấy mẹ có giết con, con cũng không thể nào làm gì để mẹ hiểu con được. Con đã ra đầm Cuội tự vẫn mà không xong.

- Anh là cốt cán ai động đến lông chân anh mà phải đi tự vẫn!

- Không phải chuyện đấu tố. Chuyện khác.

Sau một giây nặng nề, căng thẳng, anh nói dịu dàng:

- Chuyện này có lẽ Xuyến kể cho mẹ nghe thì hơn.

Xuyến mừng rỡ:

- Chuyện gì hở anh?

- Chuyện chập tối hôm ấy em và anh đội Lăng đóng cửa lại. Em quằn quại kêu: Ôi đội ơi, em sướng quá, đội cho em chút nữa đi. Nữa đi anh ơi. Chuyện ấy đấy!

Hai mắt cô trợn ngược lên như điện giật.

- Anh nói gì thế? Anh định giết tôi hãy để tôi ra khỏi nhà này đã.

- Cô ngồi im đấy.

Giọng anh vẫn nhỏ nhưng nghe rờn rợn, khiến cô phải sững lại. Anh tiếp:

- Chưa hết đâu. Ngay đêm hôm sau. Bắn oan bố tôi xong, bác Văn Yến triệu tập đội và cốt cán ở lại phổ biến quyết định đình bản án tử hình của bố tôi, lúc về cô và thằng Lăng đi đến ngã ba đầm Cuội cô đã làm gì với nó còn nhớ không? Chính cô kéo tay thằng Lăng đi vào bờ đầm giúi đầu nó xuống bảo: "Anh cho em đi". Thằng Lăng bế cô đặt nằm trên cỏ bảo: "Từ nay ta "chuyển bước" ra bờ đầm. Thằng chồng em nó về rồi. Đội "cắm rễ" cốt cán phải rút vào bí mật".

- Ối giời ơi. Anh định đuổi tôi đi thì anh cứ bảo, không phải vu oan giá hoạ như thế. Ối giời ơi là giời.

- Tôi bảo cô im. Nếu đi được, cô đã đi rồi. Đêm ấy cô hỏi thằng Lăng: "Anh cho em đi với anh. Anh ơi, em không thể xa anh được nữa đâu". Thằng Lăng nó ngồi nhổm dậy nghiến răng lại bảo cô: "Anh cấm em từ nay còn nói lại với anh câu này nữa. Người ta xây dựng cốt cán là để hoạt động ở đây. Không phải xây dựng để cho cô thoát li, có hiểu không?". Lúc ấy cô khóc như cha chết. Không biết cô đã nhận ra điều này chưa. Một thằng đàn ông chưa vợ đã tằng tịu với bao nhiêu đứa con gái khác (bác Văn Yến biết chuyện của nó đấy) không bao giờ nó lại rước con mụ nạ dòng về làm vợ. Nhất là nó đang sợ cái câu: "Em bắt rễ đội. Đội xâu em" đang ầm lên ở vùng này.

Cô vợ ôm lấy mặt kêu lên hô hô, cứ đập mặt xuống lại ngẩng lên như người lễ. Anh biết tiếng khóc của đàn bà khi xô xát bao giờ cũng nhằm cái đích ăn vạ giành thắng lợi. Nhưng anh vẫn thản thiên nói:

- Chuyện này tôi nói cốt để mẹ hiểu cái ngày hôm ấy con mẹ cũng chả sung sướng gì. Thế thôi. Chuyện vợ chồng với nhau để lúc khác. Bây giờ tôi để cô nói chuyện với mẹ.

- Anh giết tôi đi. Giết đi. Tôi còn nói gì nữa.

Cái con đàn bà nó ngu là thế. Định lấp liếm bằng tiếng khóc và tiếng kêu cứ như gào lên nào ngờ càng lu loa càng nông nổi, hớ hênh. Cái chuyện dan díu bao giờ cũng hấp dẫn. Tiếng kêu khóc của cô đã lôi kéo hàng trăm người lặng lẽ ngồi ngoài ngõ lắng nghe sự thú nhận của cô. "Tôi ngủ với thằng Lăng đấy. Anh giết tôi đi. Cứ giết đi". Đến lúc này thì anh Hiếu lại có thể đến bên vỗ vào vai vợ:

- Em buồn cười nhỉ. Chuyện riêng của vợ chồng mình để lúc khuya khoắt đóng cửa mà bảo nhau sao lại làm ầm lên lúc này.

Thế là, nếu anh đội Lăng ở đây mà đánh giá tổng kết thì chỉ một sự việc vừa xảy ra Hiếu đã giành được bốn thắng lợi lớn.

Một là: Bà mẹ muốn ôm chầm lấy con trai để xoa dịu nỗi đau đớn âm ỉ nhục nhã hơn cả đau đớn, khổ sở của bà.

Hai là: Hôm trước anh là cốt cán, cùng đội ngũ với giai cấp bần cố, hôm nay anh là người của nỗi oan trái cùng cảnh ngộ với những người bị giam giữ cùm, trói.

Ba là: Trước nhân dân và bác Văn Yến, người bí thư tỉnh uỷ của những năm sau, anh là một con người đầy bản lĩnh, biết kìm nén và chịu đựng, biết vì cái chung mà nén nỗi đau riêng, gương mẫu đi đầu trong sửa sai.

Bốn là: Anh đã làm được phần nào của những gì anh nghiến răng lại trong đêm cùng anh đội Quyền và anh Thó tắm ở đầm Cuội: "Phải sống".

Và sau này anh còn tiếp tục làm cho vợ anh "sướng vui" thì dân làng vẫn phải kêu lên: "Anh ấy chịu đựng thế là quá lắm rồi".

Mấy ngày sau, Hiếu lên huyện, bác Văn Yến nắm chặt tay anh khen: "Cháu làm công tác ổn định tư tưởng tuyệt vời lắm. Đúng là những nỗi khổ gặp nhau thành niềm an ủi lớn. Cháu bác được lắm".

Anh cũng đến mẹ vợ, kể lại mọi "sự tình". Bà mẹ vợ vừa xấu hổ vừa rưng rưng cảm động trước sự rộng lòng tha thứ của con rể.

Phải mất mười sáu ngày vừa vật vã đau đớn, vừa uất giận và hổ thẹn "nghe ngóng" trước sự dỗ dành lạnh lùng và kiên quyết "cùng nhau" của chồng, Xuyến mới lại trở lại "ái ân". Đêm ấy đã xoá đi những mặc cảm ngăn cách ở chị. Chị yêu anh một tình yêu kính sợ và sự nồng cháy kìm nén trong nỗi rụt rè.

Cái đó hoàn toàn không phải do chị "hối cải" sau sự phản bội của mình. Nếu chỉ có thế, cái sức mạnh "gái một con" ở một "hoa khôi" của xã chị sẵn sàng chia tay anh. Vả lại, chị biết rằng anh không thể nào làm trái ý bác Văn Yến: "Không ai được vì những chuyện cá nhân, riêng tư làm phá vỡ khối đoàn kết chung trong lúc này". Chị yêu anh, một tình yêu sợ hãi, nó ở chỗ khác, chỗ quy luật riêng rất tuyệt vời của đàn bà. Ấy là khi những thằng đàn ông đam mê cuồng nhiệt yêu thương thành thật hết lòng, chăm lo, chiều chuộng hết lòng và hết lòng sợ hãi sự cãi cọ ồn ã thì các bà, các chị sẵn sàng cưỡi lên cổ nó, ngồi lên đầu nó, dày xéo cái thân phận lầm than của nó không biết đến đâu là tận cùng kể cả hôm qua các bà, các chị bị bắt quả tang ngủ với giai, hôm nay các bà, các chị vẫn điềm nhiên giành lại quyền bà chủ. Kể cả thằng đàn ông đó là ông tướng, các chị, các bà cũng không nề hà gì mà không làm "tướng" của các vị tướng để toàn quyền trị vì vừa nghiệt ngã, vừa êm ái, rộn ràng. Còn khi những thằng đàn ông biết yêu một tình yêu mẹo mực gian dối, biết phỉnh nịnh tinh vi và mơn trớn dịu dàng, biết giả vờ đau khổ và sâu sắc một cách rẻ tiền, biết lạnh lùng và nghiêm nghị mà không khô khan cứng nhắc thì y như một cơn nghiện đã chạm tới mà không thoả mãn cái bản chất khao khát khám phá mong muốn chiếm đoạt sự lạ, khiến các bà các chị cứ thấy hao háo thiếu hụt, lúc nào cũng phải cố lên, dấn tới, chới với, chới với trong nỗi uất giận khinh bỉ mà thèm thuồng cháy bỏng để giành lấy sức mạnh từ cái bản chất yếu đuối của mình. Cái tâm trạng hốt hoảng sợ mất, sợ rơi, sợ vỡ, sợ vào tay kẻ khác khiến cho chị cứ như một con chó sẵn sàng cắn lại chủ nhưng lại phải cum cúp biểu lộ lòng trung thành để thoả mãn cái bản chất khao khát: Phải chiếm đoạt lấy lòng tin của chủ.
° ° °
Bây giờ đã vào giữa tháng 10. Cái nắng nao nao và những làn gió hanh se lạnh vẫn như là mùa thu còn bỏ quên, như là giữ cho mùa đông nỗi nhớ bâng khuâng của những buổi chiều vàng ươm, tiếng cười vỡ ra trên mặt đầm Cuội. Mùa đông mới chỉ bắt đầu ở những đôi má đỏ dậy lên của các cô gái trong tổ đổi công và những làn sương trắng mỏng manh phủ trên những cánh đồng cày vỡ đầu tiên của làng Cuội.

Sau những tháng sửa sai, những mắc mớ được gỡ ra, bà con chòm xóm lại đoàn kết thương yêu nhau trong các tổ đội sản xuất được hình thành, trong tiếng cười, tiếng hát rộn ràng. Đêm đêm không ai rình mò, không còn ngờ vực, làng xóm yên vui giữa thanh bình êm ả. Có được bước biến chuyển ổn định nhanh chóng như ngày hôm nay không ai không nghĩ đến sáng kiến của Hiếu. Bác Văn Yến về tỉnh mang theo nỗi băn khoăn làm sao phải có sự thông cảm thực sự giữa cán bộ cũ và mới? Hiếu lên tận tỉnh trình bày với bác ý định tổ chức lễ truy điệu ông Kiêm. Nghe xong bác khen:

- Tốt lắm. Vừa tình nghĩa với oan hồn người đã khuất, vừa tập hợp được cán bộ cả cũ, cả mới. Nhưng cháu phải bảo đảm không được nhân đấy mà khóc lóc kể lể, bêu riếu nhau. Tuyệt đối không được ăn uống, rượu chè.

- Cháu xin hứa với bác. Sau lễ truy điệu này linh hồn bố cháu sẽ được thanh thản hơn.

Anh cũng xin bác viết mấy chữ cho bí thư, chủ tịch xã nói việc này của tỉnh và huyện quyết định để họ khỏi hiểu lầm anh. Anh đưa cho lãnh đạo xã và truyền đạt tinh thần nội dung của "bác Văn Yến". Hai người đều là cốt cán, chỉ mong có dịp được làm lành với cán bộ cũ nên họ mừng lắm. Hiếu lại truyền đạt "ý kiến bác Văn Yến" với bác Từ, bác Mỡ. Rồi anh nói:

- Các bác phải làm sao cái chết của bố cháu không bị tủi nhục. Bác cháu mình lại có dịp bắt chúng nó phải phục dịch. Cũng là dịp để mình "nắn gân" xem thái độ của chúng ra sao rồi ta sẽ liệu "nói chuyện" với chúng nó sau. Mà bác Văn Yến cũng sẽ thu xếp để về dự đấy.

Được phó bí thư tỉnh uỷ về dự truy điệu em rể! Được bắt bọn cốt cán phải hầu hạ! Được toàn chi bộ, uỷ ban, các ngành giới cúi đầu nhận tội (nó cúi xuống mặc niệm em mình là nhận tội, chứ lại không). Toàn những điều trúng ý các bác. Hay!

Cuộc họp toàn thể cán bộ, đảng viên cũ, mới của toàn xã bàn việc tổ chức lễ truy điệu đồng chí bí thư chị bộ Nguyễn Văn Kiêm có mặt trăm phần trăm. Đồng chí Bùi Như Từ phó ban sửa sai được bầu làm trưởng ban tang lễ. Bí thư chi bộ và chủ tịch xã cũng là phó ban sửa sai được bầu làm phó ban. Chi uỷ đang họp, ở ngoài cánh đồng đã biết những chuyện mà nhiều đảng viên không thể biết: "Anh Hiếu không có chân ở ban bệ nào đâu nhưng mọi việc bàn bạc với tỉnh, với huyện, với ông cũ ông mới ở xã là anh ấy làm tất. Kì này anh Hiếu đứng ra làm ma "khô" cho chú dượng là cả tỉnh, cả huyện biết, chả phải vừa!".

Chương trình của ban tổ chức: Lễ truy điệu tiến hành trong một đêm và nửa ngày. Cụ thể là: đêm hôm trước các đoàn thể, chính quyền, đảng viên và nhân dân đến thăm hỏi, chuyện trò, ngày hôm sau chín giờ sáng ra mộ làm lễ. Bí thư chi bộ đọc điếu văn và mặc niệm. Xong, giải tán. Ông trưởng ban có một chương trình khác, chương trình của một mình ông. Ông bảo thống Bứt giúp Nạc gọi phường kèn, phường trống, phường bát âm đến "phục vụ" trước quy định của ban tổ chức một đêm, một ngày. Đầu tiên là thống Bứt làm lễ phục hồn. Khổ thân chú ấy. Nằm dưới đất gần ba tháng, mồ mả được đắp điếm cẩn thận rồi vẫn chưa phải là chết, vẫn chưa được nhập vào cõi âm. Tưởng đã lìa cõi trần gian, dương thế về nơi thiên thu an nhàn, thong dong cõi Niết Bàn, nào ngờ vẫn hồn xiêu, phách lạc. Không còn là người dương, lại chưa ra người âm, vẫn bơ vơ như ma tà đạo tặc giữa đám chúng sinh không nơi trú ngụ. Phục hồn xong mới là người chết. Chôn dưới đất ba tháng trời mới được làm người chết, mới được phát tang. Khăn xô trắng loá lên, đầy nhà, đầy sân, đầy cả vườn chuối tiêu ra tận đầu ngõ, chỗ cây tre cộc dâng tổ kiến cánh đen kịt lên tận đầu. Tiếng khóc nhoa nhoa giữa tiếng kèn, tiếng trống tế thôi thúc trang nghiêm. Hàng tiếng đồng hồ kèn trống tế "suông" vừa dừng, phường bát âm "thay ca" lại cất lên cái âm thanh "kì kèo mắc mớ" nghe cứ ỉ eo, dầm dề. Rồi lại kèn thờ. Rồi cả kèn con cháu, họ hàng có đến hàng trăm người tranh nhau nhờ các ông phường kèn khóc hộ. Các ông rất tận tình nhưng không lấy tiền "thướng" vì hôm nay là nhiệm vụ tổ đổi công của các ông đi phục vụ. Đêm hôm trước "vui quá". Đêm hôm sau các sư được lệnh đến tụng kinh. Cả xã chỉ còn lại nửa ngôi chùa bị phá nham nhở để đựng các đức phật lăn lóc như khoai sọ để trong kho và một ông sư già vừa đi học tập cải tạo vì tội cúng lễ về. Vừa thấm nhuần chính sách "bài trừ mê tín dị đoan" xong lại được lệnh xã đi cầu siêu cho vong hồn bí thư chi bộ. Vừa cấm tuyệt đối không được hành nghề, lại được lệnh phải đi tụng kinh, thành ra cả tiếng mõ, tiếng đọc kinh cứ thấp thỏm, thảng thốt. Tiếng mõ thì to tiếng tụng kinh lại nhỏ, cứ như sắp chìm hẳn đi. Mắt nhìn vào sách, tay gõ mõ và chắp lên cung kính trước ngực, miệng đọc mà ruột thì cứ thậm thột như ở đằng sau đang có người rình, đang có thừng và súng. Sắp có. Này này sắp có tiếng quát: "Ngồi im không được động đậy" "Mày có biết tên Thích Ca là trùm phản động đầu sỏ vừa bị bà con nông dân ở quê nhà nó tử hình nó không? Mày lại muốn xuống cầu cạnh nó hả?".

Nỗi hoảng sợ với lần bị bắt cách đây vài tháng vẫn ám ảnh nhà sư ngay cả khi đã được "lệnh" của chủ tịch xã là "phải cúng thật nhiệt tình vào". Các vãi không chỉ ở làng Cuội mà cả hàng tổng đã lần lượt kéo đến chen chúc quanh sư như là sự đùm bọc, như là sự che chở đỡ cho giọng đọc của sư to lên và tiếng mõ hơi nhỏ lại làm nền cho những lời kinh cung kính được vang lên rành rọt.

Bày ra trò tụng kinh niệm phật Hiếu muốn nó tạo ra sự trang trọng linh thiêng của các bà già khắp nơi. Qua mồm các bà ấy, đám ma to lên rất nhiều. Nhưng anh lại sợ nó dính đến chuyện mê tín, bác Văn Yến mà biết? Bác Cu Từ bảo: "Mày kệ tao để xem có đứa nào dám cản tao". Biết việc làm cốt để xác định quyền lực của bác mình, khó ai có thể ngăn được, nếu không có lệnh của bác Văn Yến. Anh yêu cầu bí thư và chủ tịch:

- Đề nghị các anh cho dừng việc tụng kinh lại. Chương trình làm gì có chuyện này.

Bí thư:

- Thôi, cũng sắp xong rồi. Lát nữa nổi trống tế. Các cơ quan đoàn thể đến viếng là dẹp.

Chủ tịch:

- Đụng vào việc của Cu Từ có mà mục mả. Ai chả biết tụng kinh cho nó đủ lễ bộ, lo gì anh. Mê tín hay không là ở mình. Mai mình ra lệnh cho sư gác mõ lên là xong.

Bằng cách nghĩ cụ thể ấy, Hiếu biết họ sẽ chịu trách nhiệm trình bày nếu bác Văn Yến hỏi đến. Anh yên tâm mà "đau đớn", "xót thương" và mệt mỏi vì bắt tay, vì gật đầu khi khách "chia sẻ"... Bao nhiêu khách xa, bạn gần, anh đều phải tiếp. Còn mẹ chỉ quay mặt vào phục ở chân bàn thờ: "Thôi con tiếp người ta. Mẹ biết đường nào".

Suốt hai ngày, hai đêm hàng mấy trăm người chạy ngược chạy xuôi, tất bật, tíu tít. Bất cứ lúc nào ông Từ cần cái gì, từ thay cái ngọn cây chuối ở đôi độc bình, bàn thờ rước vong phải chằng thừng đỏ, phải đi chục cây số mượn đúng cỗ đòn đám ma ngày xưa, mới đặt minh tinh nhà táng lên được. Tất cả đều có hàng chục người xô đến nhận việc. Cái gì cũng "có ngay", cái gì cũng hoàn hảo đúng ý ông muốn. Đám ma không có người, không có ảnh vẫn cứ khóc lóc tang thương, vẫn sụt sùi rầu rĩ, vẫn cứ xớn xác hoảng hốt. Vợ chồng Hiếu và hai anh em Mai – Sau đều mặc áo sô. Ba đứa con trai đội mũ rơm, chống gậy vông còn bà Đất và Xuyến mũ mấn bồ đài. Tất cả đều thắt đai ngang người bằng dây chuối. Những người ruột thịt này như là nước mắt khô, chỉ khóc được từng lúc tự nó rào ra, từ mỗi người gợi nhớ đến một hình ảnh, cử chỉ gì đấy mà tự nhiên nước mắt rào ứa ra, không ai khóc thành tiếng. Tiếng khóc và kể lể "nguồn cơn", lời lẽ thì bi ai thống thiết mà người nghe lại cứ thấy vui. Những tiếng khóc "thường trực" là của những người đội khăn trắng. Không biết họ hàng đâu ra mà lắm thế. Phải mấy trăm cái khăn trắng. Mấy trăm người ấy, kể cả đảng viên và quần chúng, kể cả cán bộ và nhân dân, cả cốt cán, khổ chủ và người từng bị giam cầm đấu tố. Họ vất vả sấp ngửa ngược xuôi hò hét, quát mắng nhau ỏm tỏi. Ấy là những cái cớ để từ đấy họ bắt chuyện với nhau, sai bảo nhau, cùng nhau "túc trực" hai bốn tiếng trên hai bốn để chẻ củi, đun nước, pha chè, bê điếu, têm trầu, tước đóm... Bao nhiêu người vất vả chỉ cốt hỏi ông Từ, anh Hiếu rằng vôi, rằng chè, rằng nước sôi và ấm tích, cán cờ và vàng hương, điếu văn và vòng hoa... ngành giới nào đi trước và ai ở nhà đón tiếp cấp trên... Ai cũng có việc để phải hỏi, phải bàn để ngầm nói "Tôi đây mà. Tôi đang vất vả đấy. Lúc nào tôi cũng hết tình, hết nghĩa với nhà anh, nhà bác đấy".

Sáng hôm sau, lúc 9 giờ, xe con của bác Văn Yến, có bí thư huyện uỷ đi cùng làm cho lễ truy điệu giải oan cho bí thư chi bộ xã Ngoại Thượng nay là Đại Thắng trở thành một biểu tượng đẹp đẽ điển hình trong toàn tỉnh về thắng lợi sửa sai. Nhìn sự chan hoà thân ái của tất cả cán bộ cũ mới xã Ngoại Thượng có mặt ở đây, phó bí thư tỉnh uỷ hỏi bí thư huyện:

- Anh biết ai là trung tâm đoàn kết ở xã này?

- Báo cáo anh, bà con ở đây ai cũng phải công nhận cậu Hiếu là người có bản lĩnh rất vững vàng. Có khả năng tập hợp quần chúng, có nhiều sáng kiến và tổ chức rất khá.

- Thằng này còn nhiều triển vọng đi xa. Anh chú ý bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho nó.

Khuôn mặt đau khổ vẫn gục xuống đầu chiếc gậy vông và mảnh khăn sô che kín mặt, không nghe thấy câu gì trong những lời trao đổi giữa hai nhà lãnh đạo cấp trên, chỉ một thoáng ngẩng lên, hai tay chắp lại tạ lễ, anh đã hiểu cái kết quả ngày hôm nay nó đến mức nào. Để rồi từ đám ma "khô" này 34 năm sau anh lại làm đám ma "ướt" của người mẹ trôi sông với sự đầy đủ gấp hàng trăm lần. Chỉ có điều, cái kết cục nó lại hoàn toàn ngược lại với sự sắp đặt của anh, mà kẻ phá hoại anh, chính con Huyền, lúc này là đứa con gái chưa đầy bốn tuổi đang núp vào người lay lay cánh tay anh hỏi: "Bố ơi, có ai chết mà làm ma đem chôn hả bố".
° ° °
Bà cũng giống như mọi người, ai cũng ước ao thèm khát được khen. Được một lời khen của người khác đã thích, huống hồ lại được cả huyện khen. Ngoài cái nhẽ ấy ra bà còn nỗi thèm được làm người như người khác. Hơn 40 tuổi đầu đã bao giờ được làm người! Khắc khoải mong được làm người, được như chúng bạn đã thăm thẳm xa xôi, huống hồ lại được giấy huyện khen.

Dân làng Cuội bảo: không biết có phải vì được giấy khen hay được đi họp "gỡ" cho bao nhiêu năm không được họp mà bà không vắng mặt trong bất cứ một buổi họp nào. Làm việc gì bà cũng gương mẫu đi đầu. Việc đi họp, đúng là bà thích thật. Còn "gương mẫu" thì bà nghe lời con giai bà. "Mẹ phải gương mẫu hơn mọi người đấy nhá".

- Thế gương mẫu nó là thế nào?

- Là việc gì cũng phải làm. Xung phong nhận trước người khác, làm tốt hơn người khác.

- Ừ, có chỗ nào gương mẫu anh cứ bảo mẹ.

- Phải làm thế nào để không ai kêu mẹ anh Hiếu không gương mẫu đấy.

Thế là bà gương mẫu. Bà biết, con bà muốn bảo được người khác thì mẹ nó phải làm gương, làm mẫu cái đã. Với lại, hai thằng Mai, Sau nó đã thiệt thòi không có bố, bà phải thay ông ấy để sau này không có chút tơ vương nào cản bước nó đi theo bằng anh, bằng em. Bà gương mẫu xung phong đầu tiên vào tổ đổi công rồi hợp tác xã. Người ta bầu thủ kho, không ai nhận làm, bà lại xung phong. Ngày ấy thủ kho chưa "to hơn thủ trưởng" và cũng chưa biết đường ăn cắp. Với lại, kho hợp tác mới có cứt mèo, cứt chó, chuột chết, rác rưởi và mạng nhện. Hãy nói đến kho và việc bầu thủ kho hợp tác xã Cuội Thượng (trong văn bản bỏ chữ Cuội nhưng toàn dân vẫn quen mồm gọi như trước đây). Kho là cái hậu cung miếu ông Cuội. Miếu ông Cuội làm lại theo lệnh của tổng Lỡi vẫn "chân lùn, mái võng" đúng như ngày xưa. Thực ra chỉ xây lại tường xung quanh và cưa bớt chân cột còn mọi thứ vẫn là "của nó". Mái ngói và rui mè trước khi Tây càn đến các cụ phụ lão đã dỡ mái, giấu ra đầm Cuội. Chỉ còn lại những cột lim to hai vòng tay ôm và tường bao quanh. Khi đến, Tây bắt phu phá tường lấy gạch gánh đi xây đồn, còn lại cột tua tủa trên nền cũ. Tây đã phá, vì sao tổng Lỡi lại cho xây lại? Có người bảo nó muốn ghi nhớ lại cái nơi nó làm chủ trò hội thi nói khoác năm cuối cùng! Có người lại bảo nó còn có âm mưu thâm hiểm gì nữa không biết được! Tốt nhất là phá. Bọn địa chủ xã này nghèo lõ đít, chả có quái gì chia quả thực cho bà con bần cố. Đến bước hai. Cải cách, đội cho dỡ cả mái, phá tường, cưa cột, bậy đá kê để chia quả thực. Hậu cung được giữ lại để chứa các tượng, ngai, gươm đao. Khi các hợp tác xã hình thành, Hiếu, bí thư đảng uỷ, cho tất cả các chỗ còn lại của đình chùa, miếu mạo biến thành kho. Những tượng gỗ, tượng sành sứ sơn son thiếp vàng, những gươm giáo, long đao, bát bửu, long, cờ được "giải tán" làm quản vồ, cán xẻng, chuôi dao, trẻ con bẻ tay ngai và đầu tượng chơi. Vải được xé làm khăn quàng cổ, làm tay nải, giẻ lau và dùng ở những chỗ có thể dùng được. Theo cách nói của anh Quyền thì: "Đấy, kho nó là như thế". Còn việc bầu thủ kho, cũng lại phải dài dòng như vốn nó đã xảy ra. Ở các tổ chức mới mẻ đầy sức hấp dẫn này làm cho bao nhiêu người lăm le hồi hộp được giới thiệu làm chánh, phó chủ nhiệm, kế toán, thủ quỹ, đội trưởng, thư kí. Nên không ai từ chối khi được trên dự kiến. Trên đã dự kiến rồi, bầu nhanh lắm. Đến thủ kho, nó vô cùng quan trọng. Vì đây là sự sống còn của cuộc đấu tranh ai thắng ai giữa hai con đường tập thể và tư hữu. Tập thể là hợp tác xã với tính ưu việt, tuyệt đối của nó nhất định phải thắng tư hữu. Gì chứ, cái khoản máy cày chạy phành phạch suốt đêm, điện đóm sáng trưng là cái chắc. Lại có máy bay chuồn chuồn đi bỏ phân. Cứ bấm máy là nó tòi ra, việc gì mình phải mó tay vào. Nghe đâu có cả máy và cơm. Người già yếu có máy đấm lưng, xoa bóp. Lúc ấy cứ gọi là của cải nhiều như nước sông. Vậy nên kho là quan trọng bậc nhất. Hợp tác xã không có kho như người mẹ nuôi con không có bầu sữa. Có kho là phải có thủ kho, tức là người làm thủ lĩnh của cái kho ấy.

Hai đêm học tập đả thông tầm quan trọng đến như thế rồi, bầu ai, người ấy cũng đành đạch giãy như đỉa phải vôi. Bằng cách gì đó họ cũng không chịu nhận. Bà con nông dân nhà ta vốn "ăn chắc". Họ chỉ tự hỏi: "Thủ kho quan trọng thế, sao lại không được ở trong ban quản trị? Anh thủ kho chẳng qua là anh giữ nhà chứ gì. Giữ kho như giữ nhà, chỉ có loại... Nghe nó tẹp nhẹp, xâu xấu thế nào. Chỉ được giữ, không có quyền hành gì. Lại vất vả. Lại hao hụt, thất thoát! Chả ai dại".

Bà Đất xung phong. Dân làng hoan hô rầm rầm. Bà Đất làm là nhất. Ai cũng nghĩ thế, nhưng không ai nỡ giới thiệu bà làm cái việc cực nhọc ấy.

Ba mẹ con bà Đất phải quét tước dọn dẹp cọ rửa cật lực suốt ba ngày mới xong được cái hậu cung. Hợp tác cho đóng bộ cánh cửa và giao cho bà cái khoá Trung Quốc, hai chìa. Bà được trang bị hai cái nong vựa, hai lá cót và tám chiếc chão đánh đai. Nhưng đến vụ thu hoạch bà lại dựng nong, cuộn cót cuốn thừng mang về gác trên bếp. Ngô đỗ thu xong giao cho mọi nhà mang về tự phơi, tự đập. Đến khi nộp thuế, bán "nghĩa vụ" theo tỉ lệ mà gánh đi. Cứ gọi là răm rắp. Thành ra kho bà Đất không đựng ngô đỗ mà lại đổ phân chuồng và ủ phân xanh để bón cho vụ sau. Ba mẹ con bà cứ tiếc mãi công dọn "kho" lại để làm chuồng phân. Bà thành thủ kho phân. Cũng chẳng có làm sao. Cốt nhất ai cũng nộp đầy đủ, cân kẹo đàng hoàng, ngô đỗ hợp tác sai quả, chắc hạt, bà con ăn nên làm ra, đời sống dư dật là anh Hiếu nhà bà nó cũng nở mày nở mặt. Con làm bí thư đảng uỷ, mẹ cứ là gương mẫu xung phong. Xung phong tiến quân vào khoa học kĩ thuật, xây hố xí hai ngăn đầu tiên. Xung phong nộp ngô đỗ đạt tiêu chuẩn loại nhất. Xung phong đầu tiên lăn xuống ao lấy bùn làm phân. Xung phong... như thế mà khi thằng Mai học xong lớp 10 lại phải ở nhà. Nó là thằng có chí, học giỏi, đỗ đạt cao. Nhưng "Dù sao, con em những người bị cách mạng xử lí cũng không được đi học đại học và đi làm bất cứ việc gì ngoài việc làm ruộng ở nông thôn". Những năm sửa sai anh Hiếu là con bà, gọi chú Kiêm bằng bố. Bây giờ thành phần của anh ấy và tất cả mọi mối quan hệ giống như khi đã được tách thành phần trong cải cách. Anh gọi chú Kiêm bằng ông ấy. Duy có bà, anh vẫn gọi bằng mẹ. Anh không hề nói gì chuyện khó khăn của thằng Mai với bà. Anh là người quyết định cuối cùng số phận những người đi học, đi thoát li nhưng lúc mẹ hốt hoảng hỏi "vì sao" anh chỉ ậm ừ bảo:

- Chắc là do sức khoẻ hoặc có chuyện gì đấy, mẹ để tôi hỏi lại xem.

Anh ấy lại bận nhiều việc, không thấy nói lại với bà. Chắc là chưa hỏi được. Bà nghĩ thế. Nhưng chính con Huyền lại ôm lấy cổ bà lúc bà đang ngồi cạnh đống phân ở cửa miếu.

- Bà có buồn không hở bà?

Cháu bà (nói trộm vía cháu) nó tinh khôn như người lớn. Biết hết mọi chuyện lúc nào nói chuyện với cháu, bà cũng nói như với bạn bè, hoặc cố làm ra thế.

- Đang lúc làm ăn tiến tới, sao lại buồn?

- Cháu nói chuyện chú Mai cơ. Bà chưa biết đâu. Cháu biết rồi đấy. Chú Mai không được đi học. Giấy gọi "đại học" gửi về rồi nhưng bố cháu phải theo chỉ thị của huyện, không cho chú ấy đi.

Bà cũng có linh cảm thấy điều ấy khi anh Hiếu có vẻ tránh bà. Về nhà, bà thấy hai mắt thằng Mai đỏ hoe. Bà bảo:

- Mẹ độ này cũng yếu lắm rồi. Con ở nhà đỡ đần mẹ. Kèm cặp cho em nó học. Một vài năm nữa có đi đâu hãy đi.

Thằng Mai nổi cáu:

- Mạt kiếp cũng chả được đi đâu. Ai người ta tin mình mà đi với ở.

Mấy tháng sau người ta tuyển thanh niên xung phong đi làm đường. Bà phải tức tốc nói như van lạy Hiếu cho em đi. Tưởng khó khăn thế nào. Hoá ra lại đi cùng con giai lão Bạt và ba đứa học hết lớp bảy ở đội thuỷ lợi của hợp tác. Thằng Mai cũng cứ đi. Hơn hai năm sau, tức là cuối năm 1965 nó gửi thư về khoe đã được chuyển sang bộ đội và chuẩn bị "vào sâu" trong "B". Bà mừng rỡ, gặp ai cũng khoe "Cháu nó được đi vào "B" rồi". Anh Hiếu cũng phấn khởi. Ở cuộc họp nào nói về chiến thắng của quân dân miền Nam anh cũng bảo:

- Thằng em tôi hiện nay là chiến sĩ Quân giải phóng. Nghe nói đơn vị nó vừa được tuyên dương đơn vị anh hùng, đánh rất giỏi.

Thôi, thế là mừng, thằng Mai là chiến sĩ giải phóng, đánh nhau ở trong "B" không biết sống chết thế nào nhưng thằng em nó ở nhà, có "đi đâu" đã có thằng anh nó "đỡ" cho. Gia đình đi "B" người ta cũng ưu tiên.

Nhưng khi thằng em chuẩn bị thi tốt nghiệp lớp 10 thì thằng anh là kẻ phản bội Tổ quốc. Nó là tên chiêu hồi. Đài của địch nói là nó đã kêu gọi chiến hữu cùng tiểu đội, trung đội quay súng trở về với "chính nghĩa Quốc gia".

Bà Đất không hề hay biết gì chuyện đó. Cán bộ trên huyện, trên tỉnh nghe đài, người ta lan truyền cho nhau đến tận những bà đi làm cỏ ở đồng Cuội cũng biết, cũng thì thầm. Tự nhiên bà lại thấy ai cũng lang lảng, tránh đi, mỗi khi trông thấy bà. Bất đắc dĩ có phải gặp mặt nhau hoặc vì công việc gì đấy thì cũng hỏi han cho có lệ, bàn bạc qua quýt, không thấy ai vồ vập, cười nói bả lả hoặc xẻ lấy miếng vỏ, quệt tí vôi như mọi khi. Bà lại thấy hoảng sợ. Trong mọi nỗi đau đớn, bà hoảng sợ nhất, đau đớn nhất là khi bị tách ra khỏi mọi người. Kể cả người thân lẫn người sơ đều không muốn "dính" đến bà, không cho bà nhập vào niềm vui, nỗi buồn, những đói no, sướng khổ của họ. Thật khốn khổ cho cái kiếp của bà. Sao bà lại sinh ra vào cái thời buổi lạ lùng. Thoắt cái cả làng, cả tổng xô lại ai cũng như xé ruột xé gan cho bà. Thoắt cái lại quay phắt mặt đi, nhất loạt lạnh lùng, nhất loạt xa lánh. Ai cũng phải đề phòng như bà là kẻ "nguy hiểm chết người". Có chuyện gì thế hở trời đất? Chắc không phải do chuyện công tác của bà. Ai cũng bảo bà là cán bộ thủ kho phân mẫu mực. Ai đến cân bà cũng khiêng, xúc, vun quét quét tước hộ. Bà giữ gìn bảo vệ phân của công không hề rơi vãi một li. Vậy thì có chuyện gì đây. Bà cũng lên tìm hỏi mấy anh trong ban quản trị vẫn quý mến, tin cẩn bà. Không ai dám hé răng nói lại với bà cái chuyện liên quan đến bọn Mỹ – Nguỵ đang là tin mật không được phổ biến. Nhưng chính cái Huyền lại chạy vào ôm lấy bà khóc:

- Bà ơi, cháu thương bà lắm. Bà có biết chuyện chú Mai không?

- Làm sao, làm sao hở cháu ơi. Chú Mai...

- Chú ấy đi theo địch rồi. Lại cả lên đài của nó rủ quân giải phóng của mình về hàng nữa.

Thế là mọi chuyện dân làng đối với bà hai ngày nay bà biết cả rồi. Đêm hôm đó, đợi thật khuya bà mới dám đi tìm anh Hiếu. Anh buồn bã bảo bà:

- Thì đúng thế còn gì nữa. Người ta phổ biến, tôi ngồi, mặt dày như cái mặt mo ở trên huyện ấy.

- Giời ơi, sao anh không bảo mẹ một câu.

- Bảo để làm gì?

Biết anh ấy đang phải nén nỗi giận dỗi lại, bà gục mặt xuống như một kẻ tội phạm trước mặt con. Lại đau đớn. Lại tủi hổ. Nhưng bà không dám khóc. Không dám hé răng kêu than khóc lóc. Một lúc sau anh Hiếu lầm lầm đứng dậy đi dọn dẹp chỗ ngủ. Bà lủi thủi ra về. Con Huyền từ trong giường chạy vọt ra. Mặc cho bố nó quát, bà can, nó cứ vào ngủ với bà đêm nay. Đến giữa đường hai chân bà như không còn đủ sức bước. Bà ngồi sụp xuống. Đêm tối che giấu cho khuôn mặt hổ thẹn và tiếng khóc thầm vụng của bà. Con Huyền quay mặt vào bụi tre đứng lặng im chờ bà khóc. Rồi tự nhiên nước mắt nó cũng chảy ra. Nó lặng lẽ lấy vạt áo lau, không để cho bà biết, sợ bà lại khóc nhiều hơn. Nhưng khi bà nó kêu: "Ới Mai ơi, con có biết những lúc như thế này của mẹ không, con ơi..." Nó quay lại bảo bà nó:

- Bà còn gọi chú ấy làm gì. Nếu chú ấy thương đến bà chú ấy đã không làm thế.

Nghe cháu nói, bà quặn ruột lại. Nỗi đau của bà như là tăng lên gấp bội nhưng trước cháu bà như là bé bỏng, không dám khóc nữa. Hai bà cháu về đến nhà, thằng Sau đang đi tìm mẹ bên nhà bác Từ. Bác vẫn thức, biết em gái đã về nhà, ông cho thằng Sau về gọi mẹ sang. Nghe tin đồn cả mấy ngày, chập tối nay ông mới chính thức nghe thằng Hiếu nói. Ông thấy giận em gái. Nó không xui con nó làm cái việc khốn nạn ấy, nhưng ông vẫn tím mặt lại khi nhìn thấy em. Có lẽ vì nó đã đẻ ra thằng ấy. Mà sao nó lại phải cuống quýt cho thằng con đi "xung phong". Để bây giờ ông cũng mang tiếng là bác nó. Em gái chào, ông không trả lời, cũng không bảo ngồi. Phải lâu lắm mới nén được cơn giận, ông hỏi như quan toà.

- Tại sao ngày ấy cô phải đùng đùng cho nó đi?

- Em chỉ nghĩ bao nhiêu bạn bè nó được đi đây đi đó. Để cháu ở nhà tủi thân nó. Thôi thì không được bộ đội cháu nó được là thanh niên xung phong.

- Dễ thường chỉ một mình cô lo cho con cô hả?

Ông dừng lại như để bà Đất phải tự hiểu là các bác có bao giờ bỏ rơi mẹ con nhà cô. "Một giọt máu đào"...

- Chính hiểu được tấm lòng của các anh nên không bao giờ em dám làm điều gì trái ý các bác. Phải im lặng thật lâu, ông Từ mới lại nói ra cái điều hệ trọng mà không bao giờ ông đem bàn bạc với đàn bà. Dù việc của cô, nhưng cô là đàn bà tôi cũng không bàn. Ông lại hỏi:

- Cô có biết ngày ấy tôi đã định như thế nào không?

Tất nhiên là em gái không biết. Ông hỏi cốt để cho em phải hiểu được cái dự định sâu xa của ông, chứ không phải để cho em trả lời. Ông tiếp:

- Tôi bàn với thằng Hiếu rồi. Nó bận không đi được thì tôi đi. Tôi xuống tỉnh gặp bác Văn Yến xin bác ấy nói xuống huyện mình để thay đổi cái lí lịch cho bọn trẻ khỏi tội chúng nó.

- Em cứ nghĩ sửa sai cho nhà em, cả tỉnh cả huyện về làm lễ truy điệu rồi.

- Đúng là đàn bà các cô chỉ nghĩ nông nổi, vặt vãnh. Người ta sửa sai là hạ thành phần, giả nhà cho cô, dù nó chỉ còn cái khung. Cô không là giai cấp bóc lột, chồng cô không là phản động, được khôi phục đảng tịch. Nhưng ai sửa sai cho chú ấy sống lại. Không sống lại được, tức là vẫn ấm ức với cái án tử hình chứ gì? Gia đình cô là gia đình cách mạng. Nhưng các con cô sau này ai dám bảo nó không còn uất ức với cái chết của bố nó. Cho nên nó vừa xuất thân của một gia đình cách mạng nhưng nó lại là phần tử có thù oán với cách mạng, buộc người ta phải phòng xa, không được để nó đi đâu, không diệt từ mầm mống của nó, sau này nó phá ra, có giời mà giữ. Bây giờ cô đã thấy nhỡn tiền thằng con cô chưa?

- Em nghĩ là cháu nó dát quá. Bằng cái sào xông rồi, tối tăm đi học tổ, học nhóm vẫn phải thằng em đưa đi. Nó không phải vì oán giận gì mà theo địch đâu.

- Có nghĩ là người ta đổ oan cho con nhà cô. Cái gì nó cũng có nguồn gốc sâu xa cả.

- Em chỉ nói, cháu nó có thể lầm lạc nhưng không phải vì nó oán thù cách mạng. Bác nói vậy sao con nhà Bạt có giấy tư về xã nó là dũng sĩ?

- Cái đó cũng chưa chắc. Huyện các anh ấy bảo uỷ ban xã cứ giữ đấy để người ta còn điều tra lại xem sao đã.

- Thế thì bác cũng nhờ trên huyện người ta điều tra lại chuyện thằng cháu hộ em.

Đúng là chuyện đàn bà. Ông nghĩ bụng rồi lừ lừ đứng dậy, lừ lừ quay đi, để lại sự xót xa âm thầm của cô em gái nỗi đau ngỡ ngàng trên khuôn mặt non nới của thằng cháu 17 tuổi. Những dòng nước mắt mặn chát và tiếng khóc của nó cố ghìm lại. Cho đến tận sáng, lúc mẹ và cháu gái đã luộc xong khoai giục nó dậy ăn rồi đi học, nó buông một câu gọn lỏn như chém ngang niềm hi vọng cuối cùng của mẹ nó.

Phần 3 - chương 2

Những chiếc xe con của đoàn kiểm tra và khách tham quan các tỉnh nối đuôi nhau rời khỏi sân miếu ông Cuội. Hai tay giơ lên tự nắm vào nhau rung rung chào khách vừa hạ xuống, Hiếu quay lại cười cười với hàng chục cán bộ của xã đứng sau anh: Hàm răng trắng hơi nhô ra vừa tới cái ranh giới để có cảm giác "vổ", lập tức nó vòng lại, rộng ra trông rất sang và có duyên. Hàm răng ấy vẫn cười cười hào phóng trong suốt cuộc hội ý của đảng uỷ. Sau bất cứ đoàn kiểm tra hoặc tham quan nào đi, đảng uỷ cũng hội ý rút kinh nghiệm và đề ra phương hướng tiếp khách mới. Hôm nay ưu điểm là chủ yếu. Nhà ông Mây có ba con đi bộ đội. Hai vợ chồng và bốn đứa con nhỏ của ông ở trong một nhà tranh dột nát và ải mọt chỉ chực xô đi, khuỵu xuống, trông lụp xụp quá. Sáng sớm nay vợ chồng con cái kéo nhau sang ở nhà ông Hỷ mới xây. Lạ nhà nhưng không hề ngượng ngập chút nào. Đoàn tham quan kéo vào nhìn cơ ngơi khang trang, cả 40, 50 người ai cũng gật gù khen: "Khá quá". Bà Ba Sòi là mẹ liệt sĩ, một thân một mình, già yếu vẫn ở túp lều trông như cái chuồng lợn đã được anh Nạc đón về từ chiều hôm qua để bà nhận mặt nhớ tên các cháu. Đêm bà lại về lều, sáng sớm nay lại sang ở với vợ chồng anh (!) Khi đoàn đến, các cháu con anh Nạc xúm xít quanh bà đọc báo cho bà nghe tin tức. Được khen: "Ấm cúng quá. Thế này các chiến sĩ ở ngoài chiến trường chả còn lo gì mẹ già con thơ ở nhà". Các y sĩ, y tá, của xóm của thôn mặc áo choàng trắng, đội mũ chữ thập đỏ nghe tim, nghe phổi, bắt mạch đo huyết áp đánh mắt hột cho hết mẹ liệt sĩ lại đến con bộ đội như là sinh ra các gia đình quân nhân là phải ốm đau để y tế còn chăm lo, chữa chạy. Các cháu thiếu nhi thì đến giúp các nhà vợ bộ đội neo bấn. Nào quét tước nhà cửa, chăm lợn, nuôi gà (nhà nào không có gà, mang của nhà khác đến nhốt trong các chuồng, các nơm) trông cứ là ngăn nắp, sạch bong. Đoàn kiểm tra của tỉnh và khách tham quan các tỉnh bạn đến thống nhất kết luận:

"Đây là một bài học thực tế sinh động, hết sức sáng tạo trong công tác hậu phương của xã Đại Thắng. Có lẽ không có một bài bản, sách vở lí luận nào lại có sức thuyết phục bằng ở đây. Đặc biệt là sự thương yêu đùm bọc của bà con thôn Cuội đáng là tấm gương để các nơi khác phải học tập noi theo mà phấn đấu".

- Vâng thì chúng ta còn nhiều đoàn tham quan – Bí thư đảng uỷ nói sau khi nghe trưởng ban tuyên huấn tổng kết kết quả thu được. Phải mở rộng thêm chuồng trại. Phát triển thêm đầu lợn của hợp tác. Quây thêm đăng ở đầm Cuội thả cá chép. Mỗi con ít nhất là một cân trở lên để còn đón nhiều khách.

Rồi anh yêu cầu nuôi một vụ gà đẻ lấy trứng. Các đoàn thể từ các cháu thiếu nhi đến các cụ phụ lão phải có mỗi người một "đầu gà". Có những đôi vợ chồng tham gia cả bốn, năm ngành, giới, lại là bố mẹ của một vài thiếu nhi là con của hai cụ phụ lão, nghiễm nhiên phải có hơn chục "đầu gà" thịt, "đầu gà" đẻ nộp cho xã. Ngoài ra phải trồng cam, chanh quýt, na, chuối, mít, vải nhãn ở tất cả mọi chỗ, mọi nơi để lấy quả. Không có quả thì đi mua để có "cây nhà lá vườn" làm quà tặng khách. Cũng là kết quả của phong trào "ba đảm đang" và "cây tình nghĩa" của người ra đi, với người ở lại để khách thấy được sự sáng tạo của xã mình. Đậu xanh, lạc vừng là sản phẩm của vùng này thì không nói. Cái "anh" gạo nếp cũng phải có dăm ba tấn. Nó đi kèm với đậu xanh, lạc là có ý nghĩa lắm. Cho nên cũng phải có dăm mẫu ruộng "thí nghiệm tăng sản lúa nếp". Bất cứ việc gì bí thư đảng uỷ đề ra, là có hàng hàng chục nghị quyết của đảng, chính quyền đoàn thể và không biết bao nhiêu là cuộc họp để "quán triệt". Có những người bảo cứ yết lên bảng hoặc gọi loa để mọi người làm, khỏi phải họp. Làm tất cả những việc đó không mệt nhọc bằng họp bàn về nó. Thế nhưng không họp bà con lại buồn, nhớ và nhiều lúc không có việc gì mà làm. Vả lại, nhiều việc phải phổ biến nội bộ, chỉ thị riêng trong nội bộ, xử lí trong nội bộ, bàn bạc cãi cọ nhau trong nội bộ. Cũng là lạ. Không biết nội bộ nó là gì mà phổ biến đến tận đứa trẻ con. Ngành nào, cấp nào làm gì cũng là làm theo những chỉ thị, nghị quyết nội bộ chứ không làm theo luật pháp. Luật pháp cứ ra, cứ học, cứ thuộc ra rả như con vẹt mà làm gì, xử lí bất cứ việc gì, kể cả tội giết người cũng cứ là từng làng, từng xóm, từng ngành, từng giới có cách giải quyết riêng theo những chỉ thị, nghị quyết nội bộ của người ta. Luật pháp coi như thừa, vô tích sự "Luật pháp của bà con nông dân mình đặt ra để phục vụ bà con mình chứ nó là cái gì mà phải sợ nó. Không có lãnh đạo, luật pháp vứt". Anh Hiếu bảo thế. Nên cả làng, cả xã sợ những chỉ thị, những ý kiến nói mồm truyền tụng "nội bộ" của anh Hiếu và các ông uỷ ban, đảng uỷ chứ chả sợ gì luật pháp. Việc tày đình các anh ấy đã tha, đã có "chỉ đạo" thì luật pháp coi là cái đinh mục.

Quả là khách quan ngày càng tấp nập. Khí thế của xã cũng phấn khởi bừng bừng. Cán bộ từ ban chỉ huy đội trở lên đều phải lo toan việc tiếp khách, phải sấp ngửa ngược xuôi trong những dịp mổ hàng chục con lợn, vài ba con bò, hàng năm tạ gà, và cá... Cứ là rậm rịch náo nhiệt, nô nức hàng tuần lễ. Hàng mấy trăm người phục dịch đều có tí chút cải thiện hơn ở nhà quanh đi quẩn lại chỉ mấy củ khoai lang, bát cơm bột ngô nguội. Thế là vui. Anh chị em phục vụ vui, vợ chồng con cái họ ở nhà cũng thấy vui. Cả làng cũng vui. Dân mình chỉ cốt lấy cái vui làm chính. Vui lắm. Nhưng không bao giờ bí thư đảng uỷ, sờ đến một điếu thuốc lá của công. Anh phải tiếp hàng trăm, hàng nghìn cán bộ của tất cả các ngành giới từ các tỉnh đến trung ương. Cuộc nào anh cũng phải đứng ra cười, bắt tay và "vinh dự quá". Không có anh, khách coi chuyến đi của mình là "thất bại". Xã thì buồn lặng hẳn đi. Ai cũng thấy vắng bí thư thành tích xã mình "chìm" hẳn. Thành ra, đoàn khách nào muốn chắc chắn gặp được bí thư đảng uỷ phải đăng kí trước. Có được thư riêng của bí thư, chủ tịch tỉnh càng "chất lượng". Dẫn khách đi xăm xăm khắp xã suốt ngày. Nói xa xả suốt ngày. Đến khi khách ăn bữa cơm "rau dưa" anh lại lẻn đi đâu đó, hút điếu thuốc lào, làm vài củ khoai lang, nắm ngô rang hoặc củ dong riềng, uống bát nước vối rồi lại ra cạnh xe cười, nắm tay lại, gật gật tiễn khách. Có lần anh đã phải gắt lên khi đảng uỷ "rút kinh nghiệm".

- Tôi đã nói bao nhiêu lần rồi. Các anh đừng quan tâm đến việc tôi có ăn hay không làm trọng. Bằng cách nào để chúng ta đạt được kết quả cao như chúng ta mong muốn chứ không phải chuyện miếng ăn. Các anh thử nghĩ xem xem, khi tôi không ngồi vào với khách trong bất kì trường hợp nào thì chúng ta huy động sự đóng góp của dân và tranh thủ sự hỗ trợ của trên kết quả hơn, hay tôi sà vào với khách rượu chè say sưa có kết quả hơn?

Phải nói, dăm bảy năm nay, kể từ khi vận động xây dựng hợp tác xã, Hiếu đã đưa Đại Thắng trở nên những xã hàng đầu của tỉnh, trong tất cả mọi lĩnh vực. Dân chúng nai lưng ra làm, của đổ ra tiếp khách tặng quà cũng lắm. Nhưng cũng được bao nhiêu là việc. Đường sá, nhà cửa, vườn tược, chuồng trại, kho tàng, hội trường, trụ sở, trường học, trạm xá xã trông cứ khang trang, sạch, đẹp hẳn lên. Thanh niên đi bộ đội nhiều, làng cứ quang hẳn ra. Việc lại nhiều lên. Xong tất. Thế mới biết cái sức của bà con nông dân mình ghê thật. Căn bản anh đứng đầu có làm cho người ta moi hết sức mình ra hay không? Phải nói anh Hiếu giỏi.

Hàng trăm, hàng nghìn đoàn đến xã này đều phải nhận ra vai trò của anh. Vậy mà một thằng nhà báo mất dạy nó đã dám láo xược nói anh không ra gì. Thằng ấy nó về đây ba lần không viết nổi một chữ lên mặt báo. Chính nó "đổi" cái tên Lưu Minh Hiếu của anh thành Lưu Manh Hiêu. Hôm ấy, sau khi họ ăn uống tiệc tùng, anh đến định "tán dóc" với đám nhà báo. Vào đến cửa đã thấy họ buông màn, nằm hóng chuyện. Thằng nhà báo kính cận, mặt nghênh nghênh trông rất đáng ghét. Nó ngồi hút thuốc vặt ở ghế, nó chõ vào:

- Tay này có khả năng và mưu mẹo rất ghê đấy. Nhưng không Minh mà cũng chẳng Hiếu đâu các ông ạ. Rồi các ông cứ nghiệm mà xem. Cái mắt và cái mồm của hắn rất chửi nhau. Cái mồm là mồm thằng tán gái thành thần. Con kiến trong lỗ cũng phải chui ra với nó. Còn cái mắt lạnh tanh, bạc. Kinh. Cái mắt gian ngoan xảo quyệt, mưu mẹo và tàn nhẫn lắm. Nhưng tất cả những cái ấy lại được giấu kín đi ở những cái nhìn thường xuyên khép hờ, kiểu kín kín hở hở, rất khó có ai phát hiện ra con người thật của hắn. Đúng ra tên của tay này phải là Lưu Manh Hiêu chứ không thể là Lưu Minh Hiếu được.

Hiếu đã định cho dân quân gô cổ thằng nhà báo phản động lại. Đây không chỉ là chuyện mê tín gieo rắc tư tưởng hoài nghi trong nhân dân mà rõ ràng là âm mưu của địch nhằm phá vỡ những cơ sở vững chắc của hậu phương chúng ta. Nhưng làm thế sẽ ầm lên. Những cái mồm của bọn nhà văn, nhà báo nó mà "toe" lên thì có giời bịt lại. Không được đăng lên báo, nó cũng truyền mồm cho nhau. Bọn này quan hệ nhiều, lại nhớ dai. Trị nó mà để nó biết, là hạ kế. Tốt nhất là coi như không hề nghe thấy gì. Với uy tín của mình, chỉ cần cái thư gửi đến, chắc chắn thủ trưởng của nó sẽ phải đuổi nó, việc gì phải làm ầm ĩ lúc này.

Anh đã làm cái việc để tên nhà báo kia trở thành kẻ phá hoại phong trào "điển hình" phải ra ngoài biên chế một cách dễ dàng. Nhưng với anh, mãi mãi sau này nó cứ ám ảnh cái tên của thằng nhà báo nó nói. Khi anh làm phó chủ tịch tỉnh và có những "quan hệ" bị vỡ lở cùng với việc vỡ đê Quân Tải do anh trực tiếp chỉ huy, mất khoảng hơn một tỉ đồng, không biết từ đâu truyền ra, cái tên Lưu Manh Hiêu của anh cả tỉnh biết. Đây là chuyện sau này. Còn hiện giờ? Ngay sáng ngày hôm sau anh vẫn cho tặng đoàn báo chí văn nghệ gạo nếp, gà, cam, đỗ xanh, và chè thuốc. Anh cười rất vui nắm chặt tay thằng mang kính cận hẹn:

- Khi nào có điều kiện anh lại về với tôi. Anh em mình có dịp hàn huyên với nhau. Tôi sẽ dẫn anh đi và kể cho anh nghe những điển hình ở đây, tha hồ anh viết. Hàng năm không hết chuyện.

Lại rút kinh nghiệm. Lần này họp vào buổi tối. Thành phần cũng mở rộng đến các đội trưởng sản xuất và tổ trưởng các giới. Lại khen ngợi và khâm phục, lại biểu dương và học tập. Cái khó của việc tiếp các đoàn tham quan sau này là làm sao nói được khác với những đoàn trước. Có chữ nào hay ho, đắt giá nhất họ dùng hết cả rồi.

Nhưng lời lẽ với làng này quan trọng gì! Căn bản người nói là ai? Kì này toàn các đoàn "cốp" nên có nhiều báo chí đi theo. Các đài báo lại tha hồ mà ca ngợi, tán dương, lại nghe không kịp, đọc không xuể cho mà xem.

Thành ra, người chủ trì rút kinh nghiệm hôm nay chỉ nói vài câu còn chủ yếu để cho gần trăm đại biểu xuýt xoa "bổ sung". Ai cũng ki cóp, nhặt nhạnh từng lời, từng động tác, cử chỉ của khách để làm "tài liệu" và để lại xuýt xoa phổ biến cho các đội, các xóm về sự đánh giá thành tích của xã nhà trong đợt này. Hết phần một, rút kinh nghiệm. Phần hai, bổ bưởi. Những cờ, huy hiệu, tặng phẩm và "sổ vàng" để ở nhà truyền thống như mọi khi. Còn 50 quả bưởi Đoan Hùng phải bổ ra chia cho 510 gia đình quân nhân. Những gia đình có từ ba con trở lên và gia đình liệt sĩ do bí thư và chủ tịch trực tiếp đưa đến. Còn tất cả các cán bộ trong toàn xã phải chia nhau đến từng nhà. Tuy mỗi gia đình chỉ được một múi bưởi nhưng tất cả mọi công sức và những phấn khởi tự hào ở trong ấy. Vậy nên tất cả được phổ biến cách làm như sau:

Người đưa bưởi phải cầm cả hai tay nói: "Hôm nay chúng tôi (hoặc chúng em, hoặc chúng con, hoặc chúng cháu) được đảng uỷ, uỷ ban uỷ nhiệm đến báo cáo với ông (hoặc cụ, hoặc bà, hoặc chị, hoặc cô) là: Nhờ có gia đình ta hết lòng động viên anh (gì đấy) đánh giặc rất là giỏi ở chiến trường nên cả trung ương và các tỉnh đều biết đến gia đình ta. Đây là chút kỉ niệm rất là nhỏ của trung ương và tỉnh uỷ tỉnh bạn giao cho đảng uỷ và uỷ ban là phải mang đến tận tay mỗi gia đình có công góp lớn cho cách mạng".

Gia đình nào cũng run run cảm động, cũng giàn giụa nước mắt và chia nhau cả nhà ăn múi bưởi xong, những ngày sau lại nuôi lợn, nuôi gà, lại nộp đỗ, nộp lạc "buộc bụng đãi khách" mà vẫn cứ phấn khởi tự hào, lại sẵn sàng cho con đi ra mặt trận, lại sẵn sàng gánh chuối, gánh khoai, gánh lạc, gánh đỗ đi tặng bộ đội cao xạ, bộ đội hành quân trú tạm ở xã bên. Vậy mà người nào cũng cứ thấy nhẹ nhàng lâng lâng. Vui. Căn bản là vui quá. Cái niềm vui của Hiếu đã hút được từ tấm lòng chân thành, từ tình yêu làng, yêu nước nồng nàn vốn có của người dân để bày ra các trò cho mọi người được vui vầy theo ý của mình. Sáu gia đình có 3 con đi bộ đội và 9 bố mẹ liệt sĩ nhưng chủ tịch lại nhặt 16 múi bưởi. Hai người đi hết một lượt 15 nhà và gần 12 giờ đêm. Còn lại một múi chủ tịch rụt rè nói với Hiếu:

- Anh để tôi đem lại biếu bà cụ.

Hiếu gạt phắt đi. Nói thế nào cũng không được. Cuối cùng nó là múi bưởi "thừa", "anh cầm về cho con cháu" Hiếu mới chịu nhận.

Thấy anh đến, thằng Sau cuống quýt gọi mẹ. Cả mấy tháng giời nay anh không đến nhưng ngày nào anh đi đâu, làm gì, con Huyền nó vẫn nói. Thằng Sau nghĩ: anh ấy bận quá. Cũng có thể anh ấy giận mẹ về tội anh Mai chạy theo giặc. Mẹ nghĩ: Nó sợ liên quan, người ta sẽ làm mất uy tín của nó. Thôi, đằng nào mẹ cũng chịu mang tiếng rồi để nó tránh đi, nó còn phải làm việc. Nghĩ vậy, bà vẫn thấy tủi thân. Cũng dứt ruột để con ra đi vào nơi hòn tên mũi đạn như mọi người. Đến khi mọi người có "tiêu chuẩn, chính sách" ưu tiên, bà lại trở thành con mẹ thằng phản bội tổ quốc. Mọi người có bao nhiêu người hỏi han chăm lo, dù chỉ là một lời hỏi thăm, bà lại là kẻ người ta phải quên đi, phải chừa ra. Hàng trăm đoàn tham quan đến xã xem xét từng gia đình bộ đội được đối đãi ra sao, có gì khó khăn, có gì còn thiếu hụt? Ai ai cũng được an ủi, khích lệ. Còn bà thì người ta phải đem "giấu" đi và lại như một con hủi phải chạy trốn khỏi khách thập phương biết mặt, biết trong xã này có một mẹ thằng phản quốc. Thấy con đến bà vừa mừng, lại vừa giận. Tủi thân quá, mong mỏi con quá mà giận chứ nó có tội tình gì. Rồi bà lại thấy sợ nữa. Không biết nó đến có chuyện vui hay lại để trút lên đầu bà những chuyện buồn bực. Hay đoàn kiểm tra của trên về có sự cự nự trách cứ gì nó về tội thằng Mai? Vì không biết đầu đuôi thế nào nên từ dưới bếp bà uể oải đi lên, không ra vồ vập cũng không phải lạnh lùng. Hiếu chưa nhìn thấy bà, hỏi em:

- Mẹ đâu. Đi ngủ rồi à?

- Tôi đây. Có việc gì, anh phải sang muộn thế?

- Có đoàn tham quan người ta tặng ít bưởi cho các gia đình quân nhân. Mỗi nhà có một múi, nhiều nhặn gì. Sau cầm đưa cho mẹ này.

- Gia đình này làm gì có tiêu chuẩn.

- Nó làm nó chịu. Mẹ đẻ ra nó, cho nó đi bộ đội thì mẹ là gia đình bộ đội.

- Tôi khốn khổ khốn nạn vì trót đẻ ra nó!

- Nó đi rồi, mẹ có xui nó đâu mà sợ.

- Sao bây giờ anh mới nói với mẹ anh thế?

- Thì cái gì nó cũng phải lựa xem lúc nào. Mẹ tưởng bây giờ người ta đã để yên cho mẹ chuyện ấy à! Nhưng thôi. Để mọi việc tôi sẽ phải lo. Bây giờ tôi muốn cho thằng Sau đi bộ đội. Mẹ thấy thế nào?

- Thằng anh thế, ai người ta dám để thằng em đi?

- Thằng Sau thích đi, tôi sẽ xin.

Sau:

- Được đi thì em thích quá. Anh xin cho em đi đi anh.

- Định đi phải không vướng mắc gì cả.

- Chỉ lo mẹ ở nhà.

- Dễ thường ở nhà người ta chết cả đấy. Định đi thì phải xác định quyết tâm lập công.

- Em sẽ rửa nhục cho mẹ, để mẹ cũng phải như những người khác.

- Xác định thế cũng tốt. Lúc hành động mới quan trọng. Phải chấp hành mọi kỉ luật mệnh lệnh cho thật nghiêm. Lúc đánh nhau phải nghĩ chết thì thôi, đừng làm thằng hèn. Nhục lắm.

- Anh cứ yên tâm. Không bao giờ em để cho mẹ nhục nhã nữa đâu.

- Tao cũng nghĩ thế, nhưng đêm nay cứ phải suy xét cho kĩ đi. Sáng mai trả lời tao.
° ° °
Sau đi bộ đội được bảy tháng. Anh đã chiến đấu trận đầu tiên với máy bay giặc Mỹ tại trận địa của đại đội 4, tiểu đoàn I, sư đoàn 736. Đây là sư đoàn cao xạ đúng như các anh ở tỉnh đội đã hứa với Hiếu sẽ "Gửi thằng Sau vào đơn vị chiến đấu ở ngoài Bắc". Có nghĩa là nó có thể lập công mà không sợ đi theo giặc như thằng anh. Cái giấy khen sau trận chiến đấu đầu tiên như là một liều thuốc "cải tử hoàn sinh" làm cho bà Đất lại ngẩng mặt lên được. Lại có thể sớm khuya chia sẻ niềm vui, nỗi buồn qua miếng vỏ quạch, miếng trầu cùng chị em, bà con xóm giềng. Lại có thể được họp hành, ngoài công việc thủ kho phân, bà được vào chân "hội mẹ chiến sĩ" tham gia phục vụ bộ đội, phục vụ chiến đấu. Những cuộc chiến đấu chỉ như gió ào qua. Đấy là những đoàn quân đêm đêm đi như nước chảy qua làng. Những đêm máy bay giặc Mỹ, đi gây tội ác những đâu, rền rĩ suốt ngày đêm trên đầu. Những trai gái trong làng ào ào xung phong ra mặt trận. Chưa có bom rơi đạn nổ, chưa trông thấy đầu rơi, máu chảy của những chiến sĩ anh dũng hi sinh nhưng làng vẫn phải sẵn sàng. Tiễn người ra đi rồi, người ở lại tập luyện trong các đội dân quân, những đơn vị "bộ đội làng" hành quân rèn đúc ý chí, những tiểu đội tập trung đi lên huyện đón lõng bắn máy bay tầm thấp. Rầm rập đêm đêm là những "chiến sĩ" của làng đeo gạch, đeo đất đi rèn luyện "vai trăm cân, chân ngàn dặm" vượt Trường Sơn"; sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào để thực hiện cho kì được quyết tâm của toàn dân đồng bằng sông Hồng "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" cho miền Nam thắng lớn. Thao thức đêm đêm là những người mẹ, người vợ ngồi bên nồi nước chè xanh, những rổ khoai luộc và những chiếc điếu cày dựa vào gốc tre cho những đoàn quân qua làng không bao giờ báo trước. Chao ôi, là truyền thống yêu nước đánh giặc mỗi xóm, mỗi xã, mỗi thôn kiên trì bám lấy cơ sở, kiên trì xây dựng mỗi xóm thôn, làng xã thành pháo đài chiến đấu "bất khả xâm phạm". Họ đã hiểu được cái "huyết thống" của đồng bằng, cái ý chí quật cường của một dân tộc nhỏ bé khiêm nhường này "không thèm nhìn ngang" với bất cứ nơi nào.

Sau ba tháng đi "tập huấn" ở quân khu Hiếu trở về vừa là người tổ chức, vừa là đội viên của đội cơ động bắn máy bay tầm thấp, đội viên của trung đội "bộ đội làng", đeo gạch đeo đất hành quân "vượt Trường Sơn". Anh là một bí thư đảng uỷ kiêm chính trị viên xã đội thực sự là linh hồn của Đại Thắng chịu đi "hút" lấy trí khôn của mọi nơi về cho làng mình. Mỗi lần đi dự đại hội thi đua, đi báo cáo điển hình trên tỉnh, trên quân khu và các tỉnh khác về, từng ấm chè, điều thuốc, cân đường, hộp sữa được tặng, được cho, anh đều cho mời tất cả những ông bố bà mẹ và vợ bộ đội tập trung ở hội trường cạnh đầm Cuội để ông già thì hút thuốc, bà già thì ăn trầu còn các chị "cầm hộ" kẹo bánh về chia cho các cháu, Ai có phần nấy. Vì "đây là công lao của bà con ta, tôi chỉ là người đi báo cáo lại với cấp trên, với bà con nơi khác để các nơi biết được các gia đình ta đã có tinh thần, có tấm lòng cao cả với nước, với dân như thế nào. Rồi tôi lại chuyển lại lời khen của cấp trên về sự khâm phục của bà con nơi khác về với bà con mình. Nếu không có công lao của bà con, tôi làm gì có cái vinh dự như thế này. Bây giờ cả nước biết đến Đại Thắng. Từ trong chiến trường cũng biết hết bà con ta ai đóng góp công sức như thế nào. Bà con ta nghe đài, người ta nói rồi đấy. Không có các cụ, các ông bà, các chị ngồi đây làm sao cái làng "sống ngâm da, chết ngâm xương" lại ghê gớm đến thế. Thôi thì...".

Lại chỉ cần có thể, là từ bà già rụng hết cả hai hàm răng đến thằng bé thò lò mũi đều hăng hái đêm ngày đi đào hào giao thông, đắp ụ bắn máy bay, gác đêm, báo động có máy bay địch... Không còn biết mệt mỏi, vất vả là gì.

Bà mẹ của anh, bà Đất lại được khấp khởi cuốn vào những bộn bề với cái kho phân của mình, với những thùng nước muối để anh "bộ đội làng" đi tập về ngâm chân, và với cái chức tổ trưởng "hội mẹ"; lại được đi chợ mua mắm muối, rau cỏ cho các vợ bộ đội, được tắm rửa, giặt giũ cho các cháu bé của các gia đình neo đơn. Lại được chầm vập, mắng mỏ và rì rầm to nhỏ với con cháu gái "xấu xí" của bà. Từ khi chú Sau đi bộ đội, bố Hiếu cho Huyền vào ở với bà, cho "vui cửa vui nhà". Cũng từ ngày ấy, đi đâu thì thôi, về nhà anh Hiếu lại ngủ trong này với hai bà cháu, ít khi về nhà. "Công việc tối tăm mặt mũi, còn hở ra lúc nào, mà nghĩ đến vợ đến con". Gọi là ở đây cũng chỉ nửa đêm gà gáy anh ấy mới về đặt mình chưa ấm chỗ đã lại đi, có khi nào có thì giờ để anh ấy hỏi han gì đến bà cháu. Công việc của làng xã vẫn nhịp nhàng tiến tới, trông anh ấy lại sầu muộn, khổ sở. Hay lại có chuyện gì ở chỗ thằng Sau mà anh không tiện nói với mẹ? Mấy tháng nay nó lại không gửi cho mẹ chữ nào! Anh Hiếu bảo "nó bận "cơ động" chiến đấu, làm sao nó biên thư luôn được". Liệu có phải như thế không? Nhỡ có mệnh hệ nào, bà chỉ còn nước đào lỗ mà chui xuống! Thằng anh đã dại dột sa vào vòng tội lỗi xấu xa. Bây giờ đến lượt thằng em? Lạy trời, lạy phật phù hộ độ trì cho con để con cứ hăng hái mà xông pha đừng bao giờ nghĩ chuyện quay lui mà khổ mẹ, khổ anh con ơi.

Nhưng nỗi buồn của anh Hiếu, không những bà không thể hiểu mà, ngay chính bản thân anh ấy cũng không thể hiểu hết cái sức mạnh có thể giúp anh thực hiện "quyết liệt" câu nói như một lời nguyền khi nghe chị hát ở sân miếu trước đêm xử bắn chú Kiêm "Nếu còn ở với anh, nhất định có nhiều dịp "sướng... ương vui" đấy em ạ".

Cái "dịp" ấy nó không thể xảy ra khi bộ ngực chị còn ngồn ngộn và cái cơ thể tròn lẳn chắc nịch của "gái một con" ở một cô gái xinh tươi, đẹp nhất xã này. Lúc ấy anh càng "căm thù" lại càng thấy khát, càng sợ như con mèo sợ mất miếng mỡ ở miệng mình nên càng cố giành giật lấy nó ra khỏi vòng tay kẻ khác. Cố chiếm đoạt lấy nó và ra sức tàn phá nó. Nó giống như chuyện của bố ông Thống Bứt rụng hết hai hàm răng, "họp họ" ở nhà mình, chúng nó mua toàn xương. Lão không nhai, không gặm được thì lão mút cái nước rồi vứt xương cho chó nhà mình, nó cũng đỡ tiếc của. Những cô gái xinh đẹp san sẻ tình cảm cho kẻ khác làm giá trị của họ tăng lên hàng chục lần, nhưng họ cũng phải trả cái giá cho thằng chồng nó tàn phá mình, hoặc tinh thần hoặc thể xác, gấp hàng trăm lần. Cái giờ phút chờ đợi trả thù ấy đã đến với cô gái làng Cuội rồi. Ấy là khi cái tuổi 30 "đã toan về già" như ngồi chồm hỗm trên khuôn mặt võ vời, hai gò má nhô lên, vòm mắt đã rão thành một quầng tối, cái mồm cũng đã rộng ra, cái môi không giòn, hai hàm răng đã khô, cái ngực cũng xẹp xuống và bước đi không gọn gàng xăm xắn, bàn chân, bàn tay đen đúa nứt nẻ, chai sần. Bình thường không có chuyện gì xảy ra thì với một "cô Xuyến" hôm nay đã muốn đổi cả cái xe đạp Thống Nhất, cái đài Siêng Mao cho một thằng nào đó để nó lại "cho em chết đi", huống hồ ở một con người đầy năng lực như anh Hiếu lúc nào cũng tâm niệm phải rửa một mối hận. Thằng Sau đi bộ đội hơn hai năm nay đã làm cho cả mẹ và anh yên bề "ảnh hưởng" của thằng Mai. Cái tuổi 35 tràn đầy sức lực của anh cũng không cần đến quan hệ vợ chồng với Xuyến. Quyết tâm bỏ cô ngày càng tăng lên dữ dội. Nhưng anh phải ghìm nén lại. Đến lúc này đã là lúc có thể chín muồi. Anh hỏi mẹ:

- Bà thấy cô Xuyến độ này thế nào?

- Từ ngày em Sau đi, mẹ nó cũng chạy đi chạy lại luôn. Mẹ con vẫn vui vẻ lắm.

Nói xong thấy con lặng đi. Bà hoảng.

- Có chuyện gì mẹ không biết, anh cứ bảo mẹ. Có bao giờ mẹ làm điều gì trái ý con mà ngại.

Phải một lúc anh mới lại hỏi, giọng có vẻ bực.

- Sao mẹ chóng quên thế?

- Thế chuyện gì mẹ có nhớ đâu.

- Mẹ quên cả kẻ giết chồng mẹ rồi chứ gì?

- Thì từ ngày sửa sai bảo thôi, chín bỏ làm mười, giữ lấy tình mẹ con thì mẹ phải giữ. Nhưng như mẹ, sống để bụng chết mang đi.

- Bây giờ mẹ lại không còn để bụng mang đi nữa?

- Cốt là ở cái thằng đội Lăng. Không đời nào mẹ có thể quên cái thằng sát nhân ấy. Còn con mẹ Xuyến xem ra cũng là nhẹ dạ. "Theo đóm ăn tàn".

- Mẹ nói thế có khác gì nhổ vào mặt tôi. Tôi là thằng lừa lọc ăn gian nói dối. Đi kêu gọi mọi người đoàn kết, bỏ qua mọi chuyện nhưng mình lại vẫn nhỏ nhen ti tiện thù oán với con vợ mình.

- Thì mẹ cũng nghe anh mà đánh chữ đại xá cho nó. Rồi còn cháu Huyền nó đây, bỏ con bỏ cháu mình thế nào được.

- Phải biết đại lượng tha thứ để toàn dân tập trung lại mà nghe theo mình. Mẹ thấy những thằng như thằng Thó, con mụ Xòi và bao nhiêu người khác tôi có thèm phân biệt đối xử với họ?

- Ôi dào, những ngày anh đi học thuế trên tỉnh không biết chứ, thằng Thó nó sỉ nhục tôi hơn con chó.

- Như thế nào cũng coi chúng là bọn ngu si, dốt nát. Thời nào cũng chỉ là thằng dân đen hong hóng ngửa mặt lên như con chó đói chờ được miếng xương là ngoáy tít cái đuôi lên mừng, xun xoe. Chỉ cần một cái lừ mắt, một cái phảy tay hoặc một tiếng "xuỳ" của chủ là chạy tung hoăng đi khắp nơi cắn tứ tung, kể cả cắn vào bố mẹ mình cũng làm để vừa ý chủ. Những thằng cốt cán ngày ấy chỉ cần một củ khoai sống, một lẻ ngô rang là nhắng nhít cả lên, vênh mặt ra oai quát nạt hành hạ làm khổ nhục người khác. Kể cả anh em ruột thịt. Hoặc chỉ cần khen một câu, cho nó được là người tin cậy hơn kẻ khác là sẵn sàng rình rập mò mẫm đêm hôm, thì thào trợn trạo như việc chết người đến nơi. Mẹ có biết từ ngày tôi làm việc, tôi đã sử dụng bọn cốt cán, xâu chuỗi ngày trước thế nào không? Tất cả chúng nó đều thích hung hăng chờ đợi được sai bảo, được hầu hạ, tôi chỉ cần cho nó làm cái chân dao thớt, gọi là phụ trách hậu cần, hầu hạ nấu nướng, gánh nước cho khách rửa chân là đã mừng rối rít, vâng dạ râm ran, đêm hôm mưa gió chầu chực được sai bảo. Những thằng này là loại người dễ sai bảo nhất. Từ ngày làm việc tôi lại thấy yêu những thằng như thế. Cứ những thằng dốt đặc cán mai, bảo gì nghe nấy, tôi rất thích. Còn bọn có chút học hành chữ nghĩa thì chỉ thích tranh luận và góp ý, trừ mấy thằng nó chịu nghe mình, chưa nói nó đã hiểu ý còn toàn là bọn vô tích sự, chỉ chờ hở ra cái là phê bình góp ý. Không cảnh giác với nó rách việc ngay.

Tôi nói tất cả những chuyện như thế để mẹ biết là những thằng như thằng Thó, anh em nhà Mống, Mếnh không nguy hiểm gì cả, chẳng qua là nó ngu, mình bỏ qua cho nó thì nó chịu ơn mình. Còn con Xuyến là con xảo quyệt không thể nào tưởng tượng được. Nó vừa ăn nằm với thằng Lăng xong lúc tôi về nó lại ôm lấy cổ tôi nũng nịu: "Sao lâu thế. Có nhớ em không, hay lại có cô nào trên tỉnh quên em rồi". Nói thật với mẹ, ngày sửa sai không vì tập trung để minh oan cho chú thì tôi chỉ muốn chém cho con Xuyến một nhát rồi mình ra sao thì ra.

- Tội là tội ở cái thằng đội Lăng. Còn nó, mẹ cũng nghĩ ngày ấy nó còn trẻ người non dạ.

Bỗng Hiếu quát làm bà giật bắn.

- Tôi biết mẹ vẫn thương nó hơn thương tôi. Thế mà lúc nào cũng thơn thớt "mẹ vì con vì cái".

Ngồi nhìn theo con đi ra cửa, mồm bà há ra như định nói: "Thôi mẹ xin anh. Nên như thế nào thì bảo mẹ vậy" nhưng bà vẫn lặng câm, để mặc cho nước mắt chảy vào miệng. Bà ngồi cứng đờ như kẻ phạm tội trong vành móng ngựa đã biết bản án của mình rất nặng nề mà không biết khi nào quan toà mới trở lại để đọc lời tuyên án cuối cùng.

Con Huyền đi học về. Nhìn bà, con cháu gái ranh mãnh của bà nó biết chuyện gì xảy ra:

- Có phải bố cháu vừa xỉ vả bà không?

- Bà cấm không được nói thế cháu ơi.

- Bố cháu muốn bà đứng ra "bỏ" mẹ cháu chứ gì?

- Ơ kìa con bé này!

- Bố mẹ cháu phức tạp lắm. Chả ai thèm nói gì với ai. Theo cháu, cứ bỏ nhau quách đi. Cháu theo ai theo một người cho đỡ mệt cái thân.

- Huyền! Bà cấm! – Bà quát nó rồi lật vạt áo lên bưng lấy mặt. Nó sà vào ôm lấy bà. Bà vội vàng buông vạt áo ra, vuốt tóc cho cháu. Rồi cả hai bà cháu không ai biết cháu phải dỗ bà hay bà phải dỗ cháu. Không thể biết hai bà cháu bây giờ phải nghe ai, phải làm gì, phải nói năng như thế nào về bố mẹ nó. Cả hai cùng không hiểu vì sao từ ba bốn năm nay bố mẹ nó không hề đi lại "tình cảm" với nhau mà vẫn như là "trời yên, biển lặng"!

Phần 3 - Chương 3

Con đường Hiếu vẫn đi từ nhà đến huyện dài 12 ki lô mét. Ở đoạn giữa có một cây đa ở cạnh đường thuộc địa phận ấp Phù Hoa nên gọi nó là cây đa Phù Hoa. Từ cây đa Phù Hoa đến ấp dài hơn một ki lô mét. Có một ngôi nhà mới xuất hiện vài ba năm nay đã um tùm cây và sạch mát. Từ ngôi nhà lên đường phải qua một chiếc cầu gỗ gồm ba cây tre đóng then giằng vào nhau dài ba mét bảy, bắc qua con mương rộng gần ba mét. Cái quán nhỏ lợp tranh lưng tựa vào gốc đa, quay mặt ra đường. Ba đoạn tre bương đóng trên cọc ở ba mặt làm ghế. Quán khiêm tốn với với mấy chục bìa đậu, một lọ kẹo bột lẫn cả kẹo dồi nhô lên trước lọ kẹo vừng. Lọ lạc rang có cái chén hạt mít ở trong, cũng với lọ đường trắng đậy bằng cái đĩa xếp những quả chanh thành ngọn để sóng đôi với nhau, hơi lui xuống, so với kẹo dồi. Trước mặt hàng lọ đứng, là cái hộp vuông, mặt kính đựng thuốc lá Trường Sơn, Tam Đảo và Điên Biên. Hai túi ni lon treo lủng liểng từ mái xuống đầu chõng, đựng thuốc lào và chè thái. So với cái chõng nước lỏng chỏng chén bát chè xanh và cặn chè mạn, những cái lọ thuỷ tinh ngắn ngủn đựng kẹo bánh, mặt chõng ướt nhoèn nhoẹt lởm chởm cặn thuốc, bã chè, bên cạnh những chiếc bánh chưng, bánh lá lạnh teo, đây là chõng hàng "hiện đại" nhất huyện lúc bấy giờ. Chủ quán là chị Nho, mũi dọc dừa, răng khểnh, mắt sóng sánh và da trắng như trứng gà bóc. Chị là người làng Bái Trung, nhưng ông bà ngoại ở Hà Nội nên chị ăn học ở trên ấy. Lấy chồng và đẻ con cũng ở trên ấy. Chồng chị là sinh viên đại học sư phạm. Lẽ tất nhiên, khi ra trường anh được phân công ngay lên Tây Bắc. Năm 1962 anh xung phong vào dạy học trong bộ đội rồi xung phong đi "B". Chị có hai đứa con đều là gái. Đứa lớn 15 tuổi, có năng khiếu "chạy" nên đã vào học ở trường thể dục thể thao ở Từ Sơn. Đứa bé 12 tuổi theo mẹ sơ tán về ông bà ngoại ở Bái Trung từ giữa năm 1965. Chị và mẹ đẻ ra ngoài ấp. Cháu ở trong làng với ông, tiện việc học hành.

Từ ngày có quán chị Nho, khách qua đường năng dừng lại nghỉ dưới gốc đa hơn. Quán của chị lúc nào cũng chật ních tiếng cười nói. Chủ yếu là người đi chợ, cánh học sinh, bộ đội tên lửa và đám công nhân địa chất. Các cán bộ xã, huyện qua đây ghé vào uống bát nước chè xanh, hút điếu thuốc lào rồi lặng lẽ đứng lên, quên cả chào chị chủ. Ngày ấy buôn bán là thành phần phức tạp, dù chồng chị là bộ đội nhưng chị xúc phạm đến danh dự của một gia đình quân nhân, không nên tỏ thái độ đồng tình. Vả lại, người đẹp bao giờ cũng là bạn đồng hành, không thể tách rời với mọi sự lăng nhăng, bừa bãi. Mà tách rời sao được khi tất cả mọi thằng đàn ông vừa thèm người ta, vừa chửi bố người ta. Thế là có dư luận. Là thành kẻ xấu. Các anh cứ lăn xả vào kẻ xấu mà tán tỉnh, mà nhìn trộm, mà ước muốn mê muội để rồi lại không ngớt lời chê trách lên án con mẹ rẻ tiền, kệch cỡm (trừ những cái nhìn, cái nhếch môi cười với mình). Quán chị Nho chỉ mở ban ngày. Người ta bảo chỗ gốc cây đa rất nhiều ma ám, nó lại là nơi tụ tập của bọn "ăn sương". Chị Nho biết hết mọi chuyện "ngày xưa" ấy. Chị thích. Không biết vì chuyện ma quỷ ngày xưa làm dân chúng quanh vùng sợ hay biết chắc những năm tháng đánh giặc, trộm cắp biến đâu hết mà mẹ con chị ra ở giữa cánh đồng trống trải!

Vào một buổi chiều vắng vẻ như bao buổi chiều vắng vẻ Hiếu đã đạp xe qua đây. Bao nhiêu lần qua đây anh rất muốn ngồi lại uống chén nước, hút điếu thuốc và cũng như bao nhiêu người khách ngồi lại cốt để nhìn người chủ quán lúc nào cũng ban phát cho khách những cái nhìn dịu dàng như là bạn, là người quen biết từ lâu. Nhưng anh cũng lại giống tất cả cán bộ các xã trong huyện, đến trước cây đa, nhìn thẳng, đạp mải miết như đang có công việc gấp gáp. Chiều nay anh vừa liếc nhìn người chủ quán thì bị "bắt quả tang", chị tươi cười nói:

- Mời bác Hiếu xơi nước đã.

Hiếu xuống xe.

- Sao chị lại biết tên tôi.

- Tên bác cả nước người ta còn biết. Chúng em ở xã bên cạnh, bác lại không cho chúng em được vinh dự biết tên bác ư?

Anh đỏ mặt lên vì cái tiếng "ư" sao lại ngọt, nhẹ và sự ngưỡng mộ của chị đối với anh.

Chị pha ấm chè mới và bóc bao Điện Biên giấy bạc mời anh. Anh bảo:

- Tôi cũng biết tên chị từ khi mới dọn quán đấy.

Lại đến lượt chị hơi bẽn lẽn. Đúng là giữa anh và chị chủ quán chưa biết ai nổi tiếng hơn ai. Dù được đi đây đi đó nhưng lần nào lên đến ga Hàng Cỏ trông thấy con "phe" đã thấy đẹp hơn vợ mình, huống hồ lại gặp Nho, con người có cái cười "toàn dân". Chị ta vừa mở quán nửa tháng trời, cả huyện đã biết "lai lịch", có riêng gì anh. Chỉ uống xong một ấm nước, nói dăm ba câu chuyện bâng quơ, anh chào chị ra về. Chị nói:

- Khi nào qua đây lại mời bác vào hàng em uống nước.

Trong một giây anh lặng người không nói gì, chị đã nhận ra sự câm lặng thiêng liêng ấy và đến khi đôi mắt của anh nhìn chị vắng lặng như chiều mùa đông lãng đãng có những làn sương và khói lam chiều phủ lên cánh đồng Phù Hoa trống trải một màu trắng mơ màng như trong hoang vu thì người chị như ngấm lạnh, giọng nói chìm xuống.

- Thôi, anh...

Hai tuần sau, vào lúc bảy giờ tối, bà mẹ loà lọ mọ với đám củi ướt dưới cái bếp che kín cửa "phòng không" nấu cơm để chị "tiếp khách" ở ngay cái ổ hai mẹ con nằm. Ngọn đèn "phòng không" để trong ống tre bương cũng được vặn nhỏ đi để "địch" khỏi trông thấy. Mọi việc nhanh gọn đến nỗi bà mẹ chưa cho cạn xong nồi cơm đã thấy "anh bạn của nhà con" chào bà ra về.

- Bác ở lại xơi cơm đã. Nho, giữ bác lại con.

Tiếng nói của bà mẹ vọng ra mà bà thì vẫn cười cười quay vào. Nho khép chặt hai cánh tay mình để hai bàn tay anh luồn từ phía sau bóp chặt lấy hai bầu vú, từng đợt anh đẩy cô đi ra sân như là có vẻ dùng dằng, cô nói tiếp lời mẹ:

- Bác ở lại ăn cơm rau dưa với mẹ con nhà em, ngại gì.

Cô phải giữ chặt lấy anh để giữ cho người mình khỏi khuỵu xuống. Anh cũng ghì xiết người mình vào phía sau em nói:

- Thôi xin phép bác với chị để đến khi khác.

Bà mẹ ủ xong nồi cơm lần mò mở cửa ra chào anh, nhưng hai người đã rời nhau ra, vòng phía sau bếp lên đường rồi. Và trước khi anh mở khoá dắt xe ra khỏi quán, chị còn "tiếp" anh một lần nữa cho bõ nỗi thèm khát ngấu nghiến suốt mấy năm nay. Lần này thì anh không bị "sốc" như lúc còn trong ổ và lúc đi qua bếp. Anh đủ sức làm cho chị phải kêu rú lên khiến bà mẹ phải hốt hoảng hắt nước vào lửa, mặc cho tàn tro bay vào mồm vào mắt, vừa ôm lấy mặt vừa nhao ra cửa hỏi:

- Máy bay nó đến hở con?

Chị vội vàng lấy tay bịt mồm anh lại:

- Cao xạ bắn ở phía bờ sông nhiều lắm.

- Thế nó đâu rồi?

- Nó vừa chạy. Con đang chờ xem nó có vòng lại được nữa không.

Nói chữ "được" chị bấm vào tay anh nhưng bà mẹ không để ý đến cái chữ ấy làm gì. Bà dặn con:

- Phải để ý. Có gì thì phải bảo mẹ trước. Nó đến nơi mới kêu làm mẹ cuống lên gio vào đầy mắt rồi.

Từ độ ấy công việc trên tỉnh trên huyện nhiều, lại ngủ ít, người Hiếu rộc hẳn đi. Cũng may, anh vào loại có sức, lại được ít sâm bồi dưỡng nếu không gánh vác làm sao nổi trăm công nghìn việc. Do đi lại nhiều vất vả, lại phải lo nghĩ đến công việc. Mỗi lần về nhà trông mặt anh phờ phạc, có lúc ngồi đần ra như người mất tem phiếu, khiến hai bà cháu đi lại phải rón rén, nói năng phải thì thào để khỏi ảnh hưởng đến anh. Những cái đó đối với bà Đất có hề gì. Cốt sao con cái nó vui vẻ làm được nhiều việc. Cái khó nhất của bà là cứ phải "làm lại" bộ mặt mỗi khi con mẹ Xuyến gặp chồng ở nhà bà. Đang vui vẻ, trông thấy chị, bà phải cau có, nói năng dằn dỗi. Lúc đầu Xuyến sững sờ khó hiểu, sau nghe con Huyền nói, chị thấy tội nghiệp bà lão. Chính tội lỗi của chị đã làm cho bà phải khổ sở như thế. Sáng nay chị chạy vào hỏi:

- Cháu nó đâu rồi hả bà?

Bà vội vàng quay mặt. Chắc anh Hiếu ở nhà nên mẹ phải im lặng. Chị lại nói:

- Con định đưa cháu đi cắt bộ quần áo. Bà thấy cháu ở đâu bảo giúp con.

- Con chị đâu, chị đi mà hỏi. Tôi không phải là con ở cho nhà chị.

Nhìn vào mặt bà, chị suýt bật cười. Lúc quay mặt đi chị lại thấy nước mắt chỉ chực ứa ra. Không nỡ hành hạ bà, chị phải lủi thủi quay về.

Sáng nay anh Hiếu ngồi dậy không thấy bực bõ như mọi khi. Anh dặn bà:

- Mẹ bảo con Huyền chủ nhật tới tôi đưa lên phố huyện đo quần áo, không phải may vá ở đâu.

Đến đêm. Anh đi đâu về đã khuya lắm còn bảo bà pha ấm nước chè. Hai mẹ con ngồi uống nước ở giữa sân, anh vẫn bảo bà, giọng đau đớn như mọi khi.

- Cứ thế này tôi cũng đến chết mất thôi.

Bà thở dài bảo:

- Liệu thế nào cho nó ra ngô, ra khoai, anh giải quyết dứt điểm đi.

- Nhưng mẹ còn thương hại cô ấy.

- Vì anh, vì sợ tội nghiệp cháu tôi, tôi phải "đoàn kết", tôi mắc mớ gì vào đấy.

Anh ngồi lặng đi chứ không gắt. Phải hút mấy điếu thuốc lào xong anh mới nói:

- Có giải quyết được hay không là ở mẹ cả.

Khốn nạn cái thân tôi. Tất cả mọi việc ở nhà này từ xưa đến nay hễ có gì xấu xa, khúc mắc là tại tôi cả. Nghĩ vậy, nhưng bà chỉ dám hỏi:

- Sao lại tại tôi?

- Không phải tại mẹ, nhưng tôi hỏi: mẹ có dám nói ra hết nỗi đau khổ âm thầm của mẹ không?

Anh lặng đi. Bà chờ mãi anh mới giảng giải vòng vèo, chuyện này, chuyện nọ, khó khăn trở ngại này, khác để cho bà hiểu: Nếu anh đứng ra bỏ vợ, lập tức cả nước đồn ầm lên. Mất hết. Nhưng nếu "đây là mâu thuẫn mẹ chồng con dâu căng thẳng hàng chục năm nay vẫn không thể nào dàn xếp được! Bà mẹ chồng không thể nào chấp nhận một người con dâu đã đi ngủ với đội lại vu oan giết bố chồng (chú Kiêm cũng như bố của tôi, không sợ nói sai). Cứ nhìn thấy chị ta, tôi lại không thể nguôi được nỗi đau đớn, thương xót với người chồng đã chết oan uổng. Anh Hiếu còn vợ thì phải bỏ mẹ. Tôi không thể mẹ con với cái người vu oan giá hoạ, gắp lửa bỏ tay người khác được".

Cứ mỗi một chỗ cần nhấn mạnh để mẹ phải nhớ anh Hiếu lại hỏi:

- Mẹ có hiểu không đấy?

- Thì anh cứ nói đi.

Bà vẫn ngồi lặng ở giữa đêm tăm tối, vắng lặng. Lần theo các sợi dây tròng vào cổ bà từ đêm ở giữa cánh đồng Tam Bách Mẫu bà vừa trách phận mình, vừa thương cái kiếp làm người của con. Bà già rồi kể làm gì. Còn nó! Đến lúc được làm người lại mắc vào con vợ. Phải năm chìm bảy nổi mới được như bây giờ! Nhỡ ra có mệnh hệ nào, công lao đổ xuống sông xuống biển hết. Vì con mà mẹ phải lên thác xuống ghềnh, mẹ đâu có quản ngại. Khốn nỗi, mẹ không sao làm được cái việc bụng nghĩ một đằng, lại mồm nói một nẻo. Trong lòng thấy thương nó, tội nghiệp nó mà mặt mày lại phải sưng sỉa hắt hủi nó, mẹ không thể làm như thế mãi được. Ba bảo con:

- Ngày sửa sai mẹ đã trót nói với bác Văn Yến, mẹ bỏ hết mọi sự để giữ cái tình mẹ con.

- Thì tôi đã bảo mẹ phải nói là: Tôi cố nén nhưng càng ngày nó càng bùng lên không sao nén lại được nữa. Mẹ hiểu không?

Thấy mẹ có vẻ lắng nghe, anh bồi dưỡng thêm:

- Mẹ phải nhớ làm gì, nói gì, với ai, ở bất cứ đâu mẹ cũng phải để người ta hiểu được là: con trai tôi vì việc chung nên nó cố nén lại để tha thứ cho cô ta, nhưng tôi thì không thể nào tha thứ cho nó được.

Anh định "bồi dưỡng" thêm sự phẫn uất cho mẹ bằng cái tin: Tôi nghe người ta nói, con Xuyến nó bảo: "Tao đố anh Hiếu bỏ được tao đấy. Bảo tao ngủ với đội mà bỏ tao à? Đội bắt tao ngủ thì tao ngủ. Ngày ấy nếu đội bảo mẹ anh ấy làm như tao bà ấy cũng phải làm nữa là tao". Nhưng sợ mẹ phẫn quá làm toáng lên, không khéo lại hỏng việc. Với lại, nói nhiều làm cho bà rối. Có khi các việc đâu đâu thì nhớ, việc chính lại quên.

Đêm càng khuya mọi động tĩnh càng chìm đi, chỉ còn tiếng thở dài vặt của mẹ và tiếng sụt sịt của con. Anh ngồi xổm, gục mặt xuống hai cánh tay khoanh lại đặt trên đầu gối. Giọng anh nghẹn ngào nấc nấc cất lên tiếng kêu mà anh đã từng kêu bao nhiêu lần với mẹ:

- Trời ơi, sao mẹ lại đẻ ra tôi làm gì để tôi khốn nạn thế này. Không khéo tôi phải bắn viên đạn vào đầu mình mới yên. Trời ơi.

Bà Đất vội vàng.

- Đổ xuống sông xuống ao cái dại dột đi. Ăn với nói.

Bà bảo:

- Hay anh đọc cho mẹ viết vào giấy.

- Để làm gì?

- Để kêu với cấp trên cho anh bỏ chị ấy.

- Mẹ định...

- Không. Anh đọc nhưng là của mẹ, cứ viết vào đấy tại mẹ tất cả.

- Tôi muốn mẹ phải trình bày với tất cả mọi người.

- Thì đấy. Mẹ sợ lúc nói mẹ lại quên hoặc giả nó chệch đi mất.

- Mẹ không nhớ được thì thôi kệ tôi.

Anh vùng vằng đứng dậy. Con Huyền chạy từ trong nhà ra ôm lấy bà:

- Sao bà lại không vào ngủ với cháu để cháu sợ?

Hiếu nhận ra điều gì, hỏi con:

- Mày rình ở hè kia hở Huyền?

- Đâu ạ. Con ở trong giường vừa ra đấy.

- Ở trong giường sao lạnh run lên thế?

Con bé im lặng. Giọng anh rít qua kẽ răng:

- Mày mà bép xép chuyện gì, tao băm mày ra nghe không"

Con bé hoảng hốt ghì chặt lấy bà vội vàng "vâng ạ".
° ° °
Tất cả vẫn là thầm kín. Cái con đường anh đi lên huyện, lên tỉnh, đi báo cáo điển hình khắp nơi vẫn phải đi qua cây đa Phù Hoa. Mỗi lần đi về, khách khứa ồn ào đầy quán, anh vẫn nhìn thẳng, đạp xe vội vã như đang có việc gấp gáp. Nếu có ai nhìn thấy anh trong một giây liếc mắt vào và đúng cái giây ấy chị chủ quán nhìn ra thì cũng không biểu hiện gì chứng tỏ hai người có quen biết nhau. Ngay cả hai lần về Hà Nội "giải quyết" cái hậu quả ân ái của hai người, quán phải đóng cửa mỗi lần mười ngày và chị chủ quán có hơi xanh đi, cũng không ai có thể biết chuyện gì đã xảy ra. Một bề vẫn bình yên. Bề kia, cái đơn li hôn một mình anh kí cũng chỉ thầm kín gửi đến viện kiểm sát và toà án huyện. Một lần uỷ ban xã mời đương sự và hội phụ nữ xã (lẽ ra cả đảng uỷ, nhưng Xuyến đã rút sinh hoạt ra khỏi chi bộ thôn Cuội Thượng) để hoà giải, cũng rất thầm kín. Buổi hoà giải "nhẹ nhàng". Anh Hiếu dù đau xót vẫn sẵn lòng tha thứ, nhưng mâu thuẫn gia đình vẫn ngày càng sâu sắc được cụ thể hoá ở lời khai trước uỷ ban và hội phụ nữ của mẹ anh Hiếu, bà Bùi Thị Đất khai như sau: "Nếu chị Xuyến định sống yên vui với anh Hiếu thì phải đem chồng tôi về trả tôi. Bằng không, hãy giết tôi đi để anh chị đoàn kết với nhau".

Toà án huyện đã ba lần tống đạt Hoàng Thị Xuyến đều vắng mặt không có lí do. Nhưng hồ sơ đã được hoàn chỉnh. Tuy vậy, bước này mới chỉ như hòn gạch "xếp nốt" mua lòng lợn ở cửa hàng huyện để mọi người quen tai dần và ai cũng cảm thấy: "Chuyện mẹ con nhà này căng thẳng, kéo dài không có khả năng hàn gắn".

Khổ thân anh Hiếu.

Những đường đi nước bước, những tính toán chi li đã đâu vào đấy, trong Đại hội đảng bộ huyện vẫn có ý kiến yêu cầu xem xét việc anh Hiếu "chuẩn bị" bỏ vợ. Họ đặt câu hỏi: Có phải vì anh là người có uy tín, đi đây đi đó nhiều, thấy con gái các nơi trẻ đẹp, liệu có xuất hiện tư tưởng chán cô vợ già xấu ở nhà không? Ý kiến ấy đã được phê phán là không có cơ sở để nói như thế. Thiếu xây dựng, không hiểu hết nội tình gia đình anh và nguồn gốc của nó, người nói có ý đồ xấu.v.v... Anh cũng vẫn trúng vào thường vụ, vẫn là đại biểu đi đại hội đảng bộ tỉnh và con đường đi tới của anh là tỉnh uỷ viên, có thể còn là thường vụ. Ngay đêm ở đại hội về, sau phút "gặp gỡ", chị Nho nâng khuôn mặt anh lên khỏi mặt mình, hỏi:

- Chúng nó tố cáo các anh tội hủ hoá nên mới về bỏ vợ hả?

- Ai bảo em thế?

- Ôi, đại hội huyện có gì, ở quán này biết hết. Có khi còn trước cả đại biểu các anh. Như cái chuyện anh đang phấn đấu vào tỉnh uỷ ấy.

- Bọn xấu nó định phá anh.

- Em cứ thích cho nó phá anh đấy.

- Em nói gì thế?

Anh ngồi nhổm dậy, rời khỏi chị. Chị kéo anh nằm xuống.

- Em chỉ thích cho nó phá anh chẳng còn gì, để chúng mình bên nhau suốt ngày suốt đêm.

Anh bật hẳn người đứng lên, khiến chị không kịp níu giữ.

- Anh không ngờ em lại có ý nghĩ đốn mạt đến như thế.

- Anh chửi em đấy à?

- Em có biết anh khốn đốn bao nhiêu năm phấn đấu để được đến ngày hôm nay không?

- Đối với em cái đó không có ý nghĩa gì.

- Nhưng nếu không có cái đó anh chả là quái gì đối với em.

- Anh nhầm. Đối với em lúc này, em cần một thằng đàn ông của anh, chứ không phải cái chức của anh. Nói đúng ra nó cũng có chút tác dụng lúc ban đầu để hấp dẫn đàn bà, để làm quen cho nó nhanh. Em thì chỉ thích ông anh cái điểm dai sức và biết làm cho em thích thôi ông anh ạ.

Chị lại ôm lấy anh. Anh gạt phắt chị ra quát:

- Câm mồm đi. Giọng lưỡi như một con đĩ.

- Tao nói cho thằng lưu manh kia biết nhé. Nếu tao là con đĩ, mày là cái gì. Ở đại hội nó phê bình chỉ như gãi ghẻ cho mày. Còn tao mà nói ý à? Tao lên hẳn trung ương tao nói, tao chỉ cần nói một câu mày đã đi tù rồi chứ không đến câu thứ hai đâu.

- Đừng có doạ thằng này hiểu không?

- Thôi được rồi.

Bằng cách đối xử của con vợ mình đêm hai vợ chồng đứng cạnh thằng Lăng ở miếu ông Cuội và sau đấy anh biết những con đàn bà dù nhà quê, nó cũng có khả năng biến hoá như con yêu tinh, thoắt cái hiện ra nanh vuốt của quỷ dữ, thoắt cái lại dịu hiền, ngây dại như trẻ thơ. Ngay từ đầu gặp con này anh đã không để lại dấu ấn gì, dù một chữ viết để nó có thể túm giữ ngoài hai lần nó đã tự đi "giải quyết". Nhưng rõ ràng câu nói cuối cùng đầy tự tin của nó buộc anh phải ngại. Vốn là người rất có bản lĩnh giành lại chủ động, xử lí nhạy bén những hoàn cảnh bí bách nhất, anh nhanh chóng trấn tĩnh lại. Trong lúc phải tập trung đối phó với dư luận, chống lại bọn phá mình ở đại hội tỉnh tháng sau, làm căng thẳng với cô ta để làm gì nhỉ? Tại sao lại sa vào tranh cãi những chuyện vớ vẩn ấy? Nó nói gì cho thích mồm nó, mình ừ hữ mà không làm cũng chả có sao, huống hồ im lặng để kệ nhà nó! Đúng là thằng ngu mới đi bắt đàn bà phải công nhận sự thất bại hoặc tội lỗi của nó trước mặt mình. Giành lại thắng lợi ở bọn nhẹ dạ này không có cách nào hơn là khéo léo lừa và nịnh. Kể cả có đấm, có thụi và tát vào mặt nó cũng là để lừa nó, nếu không, đánh nó chỉ để mình trở thành thằng vũ phu, tổ cho thiên hạ họ chửi. Sau dăm bảy phút im lặng anh mới hỏi:

- Em đã bình tĩnh lại chưa?

Im lặng.

- Nếu em bình tĩnh anh sẽ hỏi một câu cuối cùng rồi chúng mình vĩnh biệt nhau.

Những câu cải lương như thế này đàn bà cảm động lắm. Đừng khinh thường nó. Chính các nhà thông thái lại hay thất bại trong tình yêu vì không biết hoặc không đủ sức nói những câu cải lương như "vĩnh biệt em", "chúng mình sẽ đưa nhau lên cõi vĩnh hằng"...

- Anh muốn hỏi gì thì hỏi. Việc gì tôi không bình tĩnh.

Khi nó đã trả lời, kể cả trả lời bằng câu chửi bố mình, cũng không phải là ý muốn "vĩnh biệt", lúc ấy lại còn cất lời lên hỏi là đại ngu.

Anh từ từ đi lại gần như để chị có thể nghe thật rõ ràng lời nói như là gang thép của anh. Anh giang tay ra, ôm ghì lấy chị. Lúc đầu chị cố đẩy ra, sau rồi đấm túi bụi vào lưng vào tay anh. Cho đến khi chị thoả mãn rồi anh chỉ cần dặn một câu như ra lệnh:

- Nếu không khôn khéo giữ tuyệt đối bí mật, mà để hở ra một tí, họ có đầy đủ khả năng để bắt chúng ta không được nhìn thấy nhau, chứ không phải là chuyện chức tước của anh. Anh thiết quái gì cái chức ấy. Nhưng có cái chức ấy mới có điều kiện để chúng mình sống với nhau, nghe chưa.

- Vâng.

- Anh cấm không bao giờ được ăn nói như vừa rồi.

- Biết lỗi rồi, người ta mới chiều, lại cứ nói dai.

Sự đồn đại ở quán nước mà Nho nói với anh chỉ mười ngày sau nó thành sự cân nhắc gay cấn ở ban tổ chức tỉnh uỷ. Vấn đề trục trặc vợ chồng, do nguyên nhân sâu xa từ hồi cải cách để lại, sự căng thẳng chủ yếu là mẹ chồng con dâu, không phải anh có tư tưởng chê vợ già, xấu. Cũng không có hiện tượng gì về sự quan hệ của anh với bất cứ cô gái nào. Các đảng viên trong đảng bộ và bà con ở làng Cuội còn bảo: được người nghiêm chỉnh, đứng đắn như anh Hiếu cũng khó. Nhưng dư luận đồn đại ầm ĩ quá. Không phải chỉ quần chúng, ngay các cán bộ xung quanh huyện, xung quanh tỉnh cũng xôn xao khắp nơi. Một đồng chí tỉnh uỷ viên mà có nhiều dư luận như thế nhất là dư luận về đồng chí ấy chê vợ, có nên không? Nên để lại xem xét kết luận xong đã.

Một phía khác, cũng của ban tổ chức lập luận. Nếu chỉ căn cứ dư luận, thì dư luận đồn ai cái gì cũng phải chịu à? Tại sao chúng ta không lãnh đạo dư luận? Vấn đề là: sự việc ấy có hay không, chứ không phải dư luận nhiều hay ít. Cũng không phải là "nên để lại nghiên cứu". Cả 33 đồng chí sẽ vào tỉnh uỷ nay mai đều có dư luận chuyện này, chuyện khác có để cả lại "nghiên cứu" không?

Tóm lại, trong khi chờ đợi xin ý kiến cuối cùng của thường vụ, chủ yếu là chờ đồng chí Văn Yến bí thư đi công tác ở nước ngoài về, ban nhân sự tỉnh chưa thể thống nhất về trường hợp này. Bằng con đường nào đó, Hiếu biết tất cả mọi ý kiến. Thường vụ huyện uỷ đã có công văn và bản thân anh cũng đưa đơn đề nghị thường vụ xem xét, kết luận sớm việc này để anh còn ổn định công tác. Anh nói ráo riết rằng: Nếu có bất cứ một biểu hiện nào về mối quan hệ bất chính với người khác về chê vợ, anh xin chịu kỉ luật nặng nhất, khai trừ khỏi Đảng. Nếu không, tỉnh uỷ phải thông báo cho các nơi thanh minh cho anh. Cả công văn huyện uỷ và đơn của Hiếu được gửi lên tỉnh rồi. Nhưng trong lúc phải tìm cách đối phó "bịt" dư luận anh vẫn đều đặn đi qua cây đa Phù Hoa đêm đêm. Lại thiếu ngủ. Lại ăn uống thất thường. Anh gầy xọp hẳn, hai mắt đã trũng sâu càng sâu thêm. Hàm răng cũng có thiên hướng "vẩu" thực sự.

Hiếu vẫn ngồi gục mặt xuống hai cánh tay ở đầu gối như thói quen mỗi khi anh ngồi xổm ở giữa sân. Mới hơn bảy giờ tối. Mẹ và con Huyền đã đi ngủ. Hai bà cháu biết bố nó độ này lo nghĩ căng thẳng, bà cháu phải tránh hết mọi nhẽ để khỏi "đụng" đến anh. Anh đang nghĩ khi bác Văn Yến về phải tìm cách gặp bác trước, nếu không "cụ" nghe ai đó đụng đến chuyện dư luận "quan hệ" "cụ" cứ gạt phắt đi một tiếng là xong. Biết đâu khi gặp, nghe mình trình bày cụ thấy phức tạp quá cũng gạt đi. Chao ôi, sao mà nhọc nhằn. Giá mà nó cứ thi cử hoặc bỏ tiền ra mà mua, còn đỡ hơn chạy vạy, nghe ngóng, lạy lục nhục nhã như thế này. Đang cơn quẫn bí thì có người cứu anh. Người ấy, một anh thượng uý trợ lí chính sách của tỉnh đội và cô chuẩn uý cũng làm chính sách của huyện đội đến báo anh cái tin sét đánh: hai thằng em anh đều có giấy báo tử. Có những nỗi đau vô cùng của người này lại là cứu cánh đắc lực cho người kia. Hiếu và hai cán bộ chính sách phải ra trụ sở đảng uỷ đóng kín cửa lại. Ngọn đèn bão không cần che chắn được khêu to. Anh cán bộ chính sách tỉnh giở các giấy tờ và hiện vật ra trước mặt. Hai hàng nước mắt lặng lẽ lăn trên má Hiếu. Thằng Mai đã hi sinh anh dũng trong một trận chiến đấu giữ chốt. Nó đã diệt được năm tên Mỹ thì bị trúng đạn của cả một trung đội địch bắn vào một mình nó. Khi đồng đội lấy được xác ra, đạn đã găm gần như kín người. Cái tin địch đưa trên đài, biến nó thành kẻ chiêu hồi là do chúng đánh vào hậu cứ trung đoàn bắt được hồ sơ của quân lực. Còn thằng Sau ở ngoài Bắc thì chỉ có giấy báo tử kèm với bằng khen và gói quần áo, không có người trực tiếp như ở đơn vị Mai về tận tỉnh giao bằng dũng sĩ, huân chương và bộ quân phục nhuốm máu mang kí hiệu K5. Anh cán bộ chính sách nói:

- Báo cáo anh. Đây là trường hợp nó đặc biệt quá. Ban chỉ huy tỉnh đội không dám quyết định xử trí như thế nào nên phải cho chúng tôi về xin ý kiến của anh. Tôi cũng xin trình bày dự kiến của chỉ huy có hai phương án. Một: tung tin bán tín, bán nghi dần dần. Độ ba bốn tháng sau nếu thấy có thể được, lựa thời điểm nào đó để báo cho bà cụ. Hai: có thể một vài tháng nữa báo cho Mai trước. Cũng là dịp công bố với quần chúng, thanh minh cho anh ấy. Rồi tuỳ theo, một hai năm sau ta báo nốt trường hợp thứ hai.

Hiếu:

- Tôi không thể nào ngờ nó lại quá đặc biệt như thế này. Tôi đề nghị các anh báo cáo tỉnh uỷ và huyện uỷ để xin chỉ thị. Nếu không, nhỡ nó xảy ra chuyện gì! Về phía tôi, tôi sẽ phải tìm mọi biện pháp để ổn định tư tưởng cho bà cụ nhà tôi. Tôi lo nhất bà cụ không đủ sức chịu đựng nổi.

- Đấy, cái chính là ở chỗ đó, báo cáo anh...

- Cho nên các anh có trách nhiệm báo cáo với tỉnh uỷ cho ý kiến sớm chủ trương và giao cho tôi hoàn toàn chủ động, khi nào thấy có thể được, tôi sẽ tổ chức báo tử.

- Báo cáo anh, được thế thì tuyệt vời rồi. Xin hứa với anh ngay ngày mai chúng tôi sẽ báo cáo với huyện uỷ, ngày kia về tỉnh, các anh chỉ huy chúng tôi sang báo cáo và xin ý kiến của thường vụ. Nhưng tôi tin chắc trăm phần trăm là thống nhất với ý kiến của anh vì chúng tôi làm tham mưu cho tỉnh uỷ việc này, tôi biết. Căn bản là không làm cho cụ bị "sốc" quá ảnh hưởng đến công tác tuyển quân của địa phương.

- Nếu tôi tổ chức báo ngay tuần tới có được không?

- Dạ tốt quá.

- Khi nào tổ chức báo tử những trường hợp của xã này tôi mời cả tỉnh về đấy.

- Chúng tôi, xin sẵn sàng. Thưa anh. Trường hợp này không những thủ trưởng tỉnh đội mà các đồng chí thường vụ tỉnh uỷ cũng có thể về. Xin anh cứ lo chuẩn bị cho tốt.

Một mình Hiếu ngồi lại giữa trụ sở hàng giờ đồng hồ. Hàng giờ đồng hồ bàng hoàng giữa sự mừng rỡ và nỗi đau xót. Mừng vì thằng Mai là dũng sĩ chứ không phải là tên phản bội; Nỗi nhục canh cánh cho cả mẹ và anh, cả họ hàng xóm giềng được tan ra. Nhưng. Cả hai thằng... Mai, Sau... cùng một lúc, liệu mẹ có chịu nổi nỗi đau này không? Trong đời anh, kể từ khi biết tính toán mọi điều chưa lúc nào anh thương mẹ, lo sợ cho mẹ thực sự như bây giờ. Nhưng ngay bây giờ anh vẫn là con người của những dự định cho công việc và sự nhạy cảm với những thời cơ. Dù bàng hoàng trước cái chết của hai thằng em, anh còn tỉnh táo nhận ra đại hội tỉnh đảng bộ vào cuối tháng sau. Phải tổ chức lễ truy điệu cho hai em trước đấy. Trước mất mát tang thương lớn lao của gia đình anh, không kẻ nào còn đủ nhẫn tâm hại anh. Anh đã hình dung toàn bộ công việc phải làm ngay lúc anh thượng uý chính sách đang nói. Tỉnh uỷ có về đây dự lễ hay không, không quan trọng. Quan trọng là anh còn ngại "dư luận" chuyện vợ con của anh, không nỡ "mổ xẻ" trước những lúc như thế này. Kể ra báo dần từng đứa như "phương án hai" của tỉnh thì mẹ đỡ đau đớn hơn. Nhưng ấn tượng tạo cho mọi người lại không mạnh. Anh cho người mời bố con anh Nạc và bác Từ đến trụ sở. Cả ba người ruột thịt của gia đình đều ngồi đờ ra ngơ ngác, như là không phải thế. Không thể nào có chuyện như thế. Anh Hiếu nói:

- Chỉ thị của tỉnh uỷ trong vòng 20 ngày nữa phải tổ chức báo tử, làm lễ truy điệu. Tuyệt đối không được gây sự xáo động tư tưởng nhân dân trước khi đại hội khai mạc.

Ngừng lại, như để ghìm nỗi đau đớn của mình và để cho các bác, cho anh ngấm những gì mình vừa nói, Hiếu giở cặp vải bạt lấy ra những di vật của các em. Mọi người run rẩy lần giở những bộ quần áo đẫm máu của Mai và chiếc áo sơ mi, cái quần ka ki xanh "Thượng Hải" thằng Sau mặc khi đi nhập ngũ, không ai cầm nổi nước mắt. Hiếu nghẹn ngào đọc những dòng chữ trong giấy báo tử và bằng khen, bằng công nhận dũng sĩ của các em. Để mặc hai hàng nước mắt chảy xuống má, anh nói:

- Việc của gia đình nhưng cũng là trách nhiệm của Đảng. Hai bác với anh xem giúp cháu như thế nào để "giữ" được mẹ cháu.

Bác Từ lúc này là chủ tịch mặt trận Tổ quốc, bác Mỡ là phó chủ nhiệm hợp tác. Ngoài tình nghĩa, hai người đều phải có trách nhiệm của đoàn thể và hợp tác đối với em gái mình. Nhưng cả hai bác vẫn im lặng. Đến khi ra về bác Từ mới hỏi:

- Liệu lúc nào thì có thể "hở" ra với mẹ anh?

- Từng bước một. Như thế nào, cháu xin báo cáo, xin ý kiến hai bác trước khi làm. Còn mẹ cháu, các bác cứ chuẩn bị phương án để các bác gái "bám sát" giúp cháu.

Nạc ở lại "hội ý". Với tư cách là bí thư kiêm chính trị viên, Hiếu giao trách nhiệm "triển khai" cho xã đội trưởng Nạc:

- Ngày mai anh lên huyện đội xin cho mẹ tôi cái giấy khen!

- Về việc gì?

- Thiếu cóc gì việc. Tích cực tham gia phong trào "bạch đầu quân", "Tổ trưởng tổ hội mẹ chiến sĩ xuất sắc", "Gia đình quân nhân gương mẫu"... Thôi anh liệu mà bàn với các anh ấy.

- Tôi sợ các anh ấy không nghe.

- Anh bảo là tôi đề nghị để làm ổn định trong đợt báo tử này. Người ta đổi mạng hai con để lấy mảnh giấy khen bằng bàn tay, còn tiếc hay sao mà không nghe.

- Tôi muốn nói: mình làm thế nào đó cho nó đúng thủ tục. Cứ để dịp nào đó, mình phổ biến cho các xóm bình bầu rồi hướng người ta theo ý định của mình, lúc ấy đưa lên không ai nói vào đâu được.

Hiếu thấy mặt nóng bừng lên, muốn quát vào mặt anh: "Trường hợp này không thể đợi tuần tự như thế được, ông ngu ạ". Nhưng anh phải cố kìm lại.

- Chỉ có một việc lên nói lại ý kiến của tôi như thế rồi về. Anh làm được hay không, nói một tiếng, không phải dài dòng.

- Nếu chỉ thế thì khó khăn gì. Mai tôi đi. Tôi muốn nói là...

- Thôi không phải bàn gì nữa. Sáng mai anh đi sớm, buổi trưa về cho tôi biết tình hình.

Đêm đó anh họp thường vụ. Rồi ngay từ sáng hôm sau nối tiếp nhau các hội nghị uỷ ban, đoàn thanh niên, phụ nữ, dân quân và các bô lão, ban quản trị hợp tác và các chi bộ họp trong cái không khí sụt sùi thương xót và kính phục, ai cũng muốn nhao đến ôm lấy bà Đất mà chia sẻ, mà an ủi, nhưng chỗ nào cũng được nhắc nhở "tuyệt mật". Những "vòng vây" được khép chặt quanh bà Đất để "đưa tin" đến mức nào, ai nói nó đã chết, ai bảo nó còn sống, vẫn có người gặp nó đều có bố trí, có chỉ đạo. Bốn năm ngày giời hai bà cháu con Huyền hết khóc gào lên lại cười ngặt nghẽo về những tin thất thiệt, ai cũng bảo "đúng như thế" mà chả biết tin ai. Hơn 15 ngày sau, khi bà đã chán không muốn nghe ai thì toàn xã mít tinh mừng thành tích của các đơn vị "bộ đội làng" hành quân, tập luyện, bắn súng đạt kết quả chưa từng thấy. Các "chiến sĩ" lên nhận phần thưởng bằng giấy khen của huyện, của xã và hứa hẹn quyết tâm sẵn sàng lên đường giết giặc, dù có phải hi sinh không có ngày trở về thì cũng không hề ngại chùn bước. Những khẩu hiệu hừng hực vang lên. Các chiến sĩ quân giải phóng ở các trại an dưỡng của tỉnh được mời về để kể chuyện chiến đấu và gương hi sinh của bà má miền Nam. Có người: cả chồng và bốn con cùng hi sinh một lúc, người vợ, người mẹ ấy vẫn không gục ngã. Vẫn xin được đưa đường cho bộ đội chiến đấu trả thù cho chồng con má. Trong không khí hào hùng ấy bà mẹ Bùi Thị Đất người mẹ đã gửi cả hai người con thân yêu của mình ra mặt trận, mẹ ở nhà vẫn là một "mẹ chiến sĩ" xuất sắc nhất xã Ngoại Thượng, được huyện đội tuyên dương và trao giấy khen cho mẹ. Cầm tờ giấy khen trên hai bàn tay lật bật bà được dắt lên bục. Bà đi như lạc vào cõi huyền bí mà bước chân như cứ hẫng phải níu chặt lấy tay người dẫn bà. Bà nói:

- Tôi xin hứa là tôi "cam quyết" học tập các bà mẹ ở miền Nam. Nếu không may cả hai đứa con tôi có hi sinh tôi cũng phấn đấu làm tròn phận sự trong tổ hội mẹ.

Tiếng vỗ tay dậy lên, cùng với tiếng khóc thút thít đâu đó mà bà mẹ Đất không để ý. Hiếu xô đến đỡ lấy mẹ khen:

- Mẹ nói hay quá. Nhưng mẹ ơi, có giấy báo tử thật, tôi vừa nhận được.

- Làm sao? Làm sao? Anh bảo gì cơ?

- Có giấy báo tử của các em. Người ta vừa đưa cho tôi. Mẹ lên ngay nói cho mọi người biết là mình không hứa suông.

Lúc bấy giờ ông Từ xốc nách em trở lại các bục kê trên nền làm sân khấu. Bà Đất tì ngực vào bục cho khỏi ngã, để hai tay giơ ba bốn tờ giấy lên.

- Bà con ơi, tôi có giấy báo tử của các con tôi thật rồi đây... ây... tôi không nói dối đâu...

Bí thư huyện uỷ ngồi ở hàng ghế đầu chạy lên đỡ lấy bà. Ông cầm lấy những tờ giấy nói:

- Đây là bằng khen và bằng dũng sĩ diệt Mỹ của đồng chí liệt sĩ Nguyễn Văn Mai. Đây là bằng khen của liệt sĩ Nguyễn Văn Sau. Tôi xin thay mặt cho Đảng bộ và nhân dân toàn huyện, biết ơn người mẹ anh hùng, bất khuất, trung hậu đảm đang của bà mẹ Bùi Thị Đất người đã sinh ra và nuôi dạy được hai chiến sĩ kiên cường của chúng ta, tôi xin...

Tiếng khóc kìm lại, tiếng sụt sịt ở cả sân cũng cố kìm lại, cuộc mít tinh của hàng nghìn con người như biến thành đám tang khổng lồ. Bí thư huyện uỷ dìu bà xuống ngồi ở hàng ghế danh dự, cạnh ông. Hàng chục người mẹ, người vợ bộ đội lau nước mắt chạy lên bục "xin học tập tinh thần hi sinh cao cả của bà mẹ Đất". – "Noi gương bà mẹ Đất chúng tôi xin động viên chồng con mình..." Và hàng chục nam nữ dân quân, "bộ đội làng" lên xin nhận làm con nuôi của mẹ để được "noi gương tinh thần quyết tử của các anh Mai, Sau".


Phần 3 - Chương 4

Giá như bà cứ tự bước lên bục không cần ai dắt! Giá như bà cứ nói những câu không cần ai xui bẩy! Giá như bà cứ làm việc gì bà tự thấy, cần phải làm và không làm việc gì thấy không cần phải làm. Tất cả những "giá như" ấy phải có cái "giá như bà đừng đẻ ra thằng con ấy". Đã đẻ ra nó thì bà chả còn gì để thành riêng biệt, thành một con người hiện diện như mọi con người. Bà trở thành kẻ thất đức, giết hết tình yêu của mọi người dành cho bà là lẽ đương nhiên. Giống như hồi cải cách, khi con người bà đã bất chấp tất cả chỉ có mình đứng trên tất cả như "đội" thì sẽ làm được tất cả. Luật pháp và những chuẩn mực nghìn đời cũng có thể thay đổi mười lăm lần trong một ngày. Chỉ cần mình muốn. Con người đã muốn gì thì cái gì cũng có thể làm được trong nháy mắt. Cả làng thở dài ca thán: Sao lại thế. Mẹ chồng nói thế có khác gì con dâu tố bố chồng ngủ với nó ở đống cây ngô. Câu chuyện này bắt đầu từ lúc cái Huyền bảo:

- Con thèm vào. Bây giờ người ta "buông" cơ.

Nó vứt cái áo, vừa lúc mẹ nó quay lại. Cái áo rơi trúng mặt. Sẵn có mặc cảm bị cả nhà sỉ nhục, ngay cả đứa con chị đẻ ra mới nứt mắt ranh đã khinh chị. Chị tát con. Con bé ôm mặt chạy ra sân, chỗ bà đang quét lá tre. Bà vội vàng bỏ chổi ôm lấy cháu xuýt xoa trên cái má đỏ rựng của nó rồi dắt nó vào hè, người bà lạnh đi.

- Chị tưởng chị đẻ được nó ra là chị có quyền đánh đập, hành hạ nó làm sao cũng được hả?

- Cái đồ hư đốn, mất dạy ấy để làm gì?

- Là chị bảo ai đấy?

- Con bảo con Huyền.

- Con Huyền nó mất dạy ở cái điểm nào, mà chị đánh cháu tôi như đánh đòn thù thế này?

- Con đi mua áo về cho nó. Nó ném vào mặt con.

- Lúc nào cũng áo xống om sòm. Từ nay tôi yêu cầu chị không được mất đoàn kết ở gia đình tôi nữa nhá.

Đấy là chuyện xảy ra ngày 13 tháng 11.

Ngày 18 tháng 12 bà Đất "ngã gãy xương" (người ta đồn thế). Ngày hôm trước mưa rào. Sáng sau đất còn nhão nhoẹt. Bà gánh phân lên kho. Dốc cao, gánh nặng, bà đi xuống, trượt chân, ngã nhào đi tưởng đập mặt vào gốc tre. Bà kêu "ối ối" được vài tiếng, rồi đau quá nằm lịm đi. Chị Xuyến đang đập đất "phần trăm" ở phía ngoài bờ tre vội vàng cầm cả đập chạy vào đỡ bà dậy. Nhưng bà kêu lên thất thanh vì cái chân bà nó bị trẹo khớp xương không thể nào nhấc lên được. Ông Từ và anh Nạc chạy sang cùng Xuyến khiêng bà lên, lại phải đặt ngay xuống. Không biết xương gãy chỗ nào, đành phải đợi y sĩ trạm xá. Dân làng đổ đến như kiến bu đen phía ngoài bờ tre. Ông Từ và bố con anh Nạc phải hò hét, quát lác, chửi tục mới giữ khỏi "xéo nát" người bà. Anh y sĩ, ông Từ và cháu Huyền đi cùng bốn trai làng khiêng bà đến bệnh viện sơ tán của huyện ở Quán Tải giữa một tin đồn lan ra: "Mẹ ông Hiếu ngã vỡ đầu, máu me đầy người, gãy bao nhiêu xương chưa chắc đã cứu được". Anh Hiếu đang họp tỉnh uỷ tức tốc trở về. Một ông lang chuyên "nắn" xương ở bệnh viện huyện xem xét xong "khục" một cái là xong. Hiếu về đến nơi mẹ đã cười nói tươi tỉnh và đi lại bình thường dù còn hơi "ngượng ngượng". Bà nói thế nào Hiếu cũng không cho mẹ về. Gần tháng giời nằm viện tiêm thuốc và ăn uống như chế độ của bí thư chủ tịch huyện. Ngày nào bà cũng được ăn như ăn cỗ. Mà đời bà đã có mấy lần được ăn cỗ? Ai cũng khen bà béo trắng "có phấn" ra. Cái sướng, cái khổ ở đời như đèn cù, cái này hiện ra, cái khác chạy đi, chốc lát lại đổi chỗ cho nhau. Nhưng với bà, cái sướng chỉ nhoáng một cái rồi biến mất tăm còn những nỗi khổ thì cứ chạy quanh, nó như cái bánh xe lăn đi lăn lại đè nát cuộc đời bà. Gần một tháng trời nằm viện mà sau này chị Xuyến bảo là những ngày bà được đi bồi dưỡng "thợ đấu" đã nhanh chóng qua đi, để cả đời bà cứ giày vò, cắn xé tâm can vì mấy tiếng: "Vâng ạ" "Dạ... cũng... à vâng, có ạ..." ở toà án huyện.

Được bảy tháng, kể từ ngày báo tử hai con, bà bị ngã, ra viện được ba tháng, bà là nhân vật chính, "mẫu chốt" của sự tan nát gia đình. Anh con trai đi chiến trường, vợ anh tự vẫn chết, cả họ nhà cô ta đều bảo do bà gây ra cảnh chia lìa này.

Anh Hiếu ngồi bệt ở giữa sân. Anh có thói quen ngồi bệt xuống bất cứ chỗ nào khi anh đang nát óc tính toán một điều gì. Không phải chỉ là hôm nay, bao giờ anh cũng phải tính đường đi nước bước cho hàng 10 năm, 15 năm sau. Khi cần thì bỏ qua tất cả mọi người. Có khi lại phải cân nhắc từng cái cười to hay nhỏ, chỉ mủm mỉm hay phô cả hàm răng xởi lởi ra. Cả cái bắt tay, cả lúc ôm vào người thì hờ hững hay nồng nhiệt. Lúc nào "cương", lúc nào "nhu" để có hiệu quả tốt hơn! Tính hết. Đã hàng chục đêm ngồi giữa sân ngửa mặt lên giời vẫn không thể tìm được giải pháp tối ưu. Vẫn không thể "diệt" được dư luận khi một ông tỉnh uỷ viên bỏ vợ. Anh thấy tiếc rẻ, tự trách mình ngu, bỏ mất cơ hội ngày sửa sai. Thực ra, cũng không thể lường trước được mối quan hệ rộng và có thể yêu được một người như Nho. Cũng không thể hình dung ra cô Xuyến bây giờ để xác định quyết tâm ngày ấy cho dứt khoát. Cái chuyện tố điêu cho bố chồng để mẹ chồng "căm thù", anh vẫn còn "để dành" đấy. Bây giờ nó gần như mất tác dụng nếu không có mâu thuẫn mới nảy sinh. Đến khi tạo được mọi yếu tố hợp lí, lại thấy khó có thể "chui xuống đất" mà chạy trốn dư luận. Có những đêm đã phải tính toán lựa chọn giữa một nhà lãnh đạo chủ chốt với những con đàn bà. Nhưng khi mình bỏ vợ, và mất sạch rồi, liệu còn con nào nó vời đến.

Bác Văn Yến mở lối thoát cho anh ngay sáng hôm sau bác xuống huyện. Thường vụ tỉnh uỷ có dự kiến điều bí thư huyện uỷ phụ trách đoàn dân công hoả tuyến và tham gia bộ chỉ huy hỗn hợp mở nhánh đường Trường Sơn. Hiếu sẽ làm bí thư ở huyện này. Tự nhiên Hiếu thấy đầu mình như lấp loé một cái gì hé mở. Anh tha thiết trình bày với bác Văn Yến rằng anh còn trẻ cần được thử thách ở những nơi ác liệt nhất, rằng trước truyền thống người cha, chú Kiêm cũng coi như người cha thứ hai, và hai đứa em anh, anh không thể ngồi yên ở nơi chưa thật nước sôi lửa bỏng, làm một việc mà người ít sức khoẻ hơn, không có điều kiện ra mặt trận cũng có thể làm được.

- Cháu biết bác rất thương cháu. Bác cho cháu đi, nếu cháu đứng vững trở về, bác càng yên tâm về một đứa cháu không phụ lòng tin của bác, của các đồng chí trong thường vụ. Qua lửa đạn, cháu còn nguyên vẹn trở về sẽ dầy dạn, từng trải hơn, lại càng vững vàng hơn trong cương vị của mình.

Bác Văn Yến nắm chặt tay Hiếu. Ông vô cùng cảm động trước việc làm cao cả, nhận lấy phần nguy hiểm thay cho đồng chí của mình. Một người đã có chí như thế, nhất định nó sẽ làm nên.

Bằng cái ấn tượng ấy, hàng vài chục năm sau ông không thể có một thằng Hiếu, làm những việc tầm thường, chưa nói đến việc xấu. Ông hỏi:

- Đồng chí đi, còn khó khăn gì không?

- Cháu nói thật là, cháu không còn khó khăn gì cả. Chỉ khổ tâm nhất có chuyện mẹ cháu với cô vợ cháu.

- Nghe nói cô ta vẫn mâu thuẫn căng thẳng với bà lão hả?

- Vừa rồi lại xô xát thế nào, mẹ cháu ngã gãy xương phải nằm viện hàng tháng trời.

- Bao giờ?

- Hôm cháu đang họp tỉnh uỷ phải báo cáo bác để về.

- Nhớ rồi. Cô ta vẫn không thể thay đổi. Cái gì nó đã là bản chất, chỉ có đào lỗ mà chôn xuống mới hết. Thôi phải giải quyết đi.

- Toà án người ta có hồ sơ cả rồi. Nhưng cháu nói nó không... khách quan.

- Thôi được, đồng chí cứ để tôi bảo các cậu ấy. Làm sao phải yên ổn mà đi.

- Cháu cũng chỉ mong như thế.

Như thế, căn bản là xong. Cái dư luận đáng sợ nhất là khi nó đến tai người lãnh đạo cao nhất của tỉnh. Người lãnh đạo đã biết trước cái "dư luận" ấy rồi thì "dư luận" chả là cái gì. Hơn nữa, khi đã có cái mác "đi B", không ai có quyền được xúc phạm đến cái từ thiêng liêng ấy. Cho nên khi bí thư huyện uỷ cùng viện trưởng viện kiểm sát, chánh án toà án, hội trưởng phụ nữ quán triệt ý kiến của tỉnh uỷ tìm cách làm ổn định "hậu phương" để anh lên đường thì anh đã có thể yên tâm mà thoả thuê ở cái quán chỗ cây đa Phù Hoa. Chị Nho gạt mái tóc anh xoà trên mặt mình hỏi:

- Vào trong ấy có nhớ những lúc như thế này không anh?

- Làm sao mà quên được.

- Có nhiều không?

- Nếu biết được mình nhớ nhiều hay ít thì chả là nỗi nhớ nữa.

- Đúng rồi. Anh của em giỏi lắm. Thế em hỏi: anh nhớ em độ bao nhiêu lâu nữa?

- Mãi mãi.

- Có thật không anh?

- Đã bao giờ anh nói dối em điều gì?

Chị ôm ghì lấy anh rên lên:

- Trời ơi, em hạnh phúc quá. Lần này cho em hết nhé. Nếu có con ở nhà, em đỡ nhớ anh hơn.

-...

- Kìa. Sao anh không nói.

- Ừ...

- Thật nhé. Đừng để phí. Em khổ thân lắm. Từ ngày chúng mình "đề phòng", em cứ như bị đánh lừa, cứ như miếng ăn đến miệng lại bị giật, người hẫng hẳn đi, chỉ muốn cào cắn, vò xé ngấu nghiến mọi thứ cho nát ra, tan biến vào mình, cho bõ công chờ đợi... giành giật đến phát điên, phát cuồng lên anh ạ. Anh, anh ơi, anh có hiểu không? Những lúc như thế em không dám nói ra nhưng nó ấm ức ở trong người. Anh có biết không anh? Từ nay đến ngày anh đi, "cho em" hết anh nhé.

Ở bên này bờ mương bà mẹ nghe hết lời cầu xin của con gái. Nghe cả tiếng cọt kẹt của chiếc chõng bày hàng. Ruột gan bà sôi lên. Vội vàng chạy bằng mười ngón chân về đầu bếp, bà ném cái đèn đang cầm ở tay vào chiếc cối đá giã bèo nghe "choang" một tiếng. Bà hốt hoảng kêu:

- Mẹ Nho ơi. Mẹ Nho đâu rồi? Châm cho mẹ cái đèn khác. Mảnh thông phong đâm vào chân mẹ bây giờ. Nhanh lên mẹ Nho ơi.

Cả hai người đều đủ bản lĩnh bỏ qua lời kêu cứu của bà mẹ loà lẫm để đi tới tận cùng, nhưng người con trai đã nhanh chóng rời khỏi chị bằng cử chỉ như là sợ hãi, như là bực dọc. Chị sửa sang quần áo rồi ép cặp môi vào má anh an ủi:

- Khổ thân anh. Hãy chịu khó ngồi đây chờ em nhé.

- Đừng để mẹ nghi. Lát nữa anh "đến thăm" cụ. Đêm nay chúng mình ngồi chơi với cụ cũng được.

- Tuyệt vời lắm.

Cô đi qua đoạn tre vòng về đầu kia bếp rồi ra sau nhà như chị từ ngoài cánh đồng mới về. Dù đã cố nén nỗi bực dọc, cô vẫn hận mẹ, kẻ vừa "phá hoại" cô.

- Mẹ vừa gọi con phải không?

- Ừ, mẹ đánh rơi đèn, sợ mảnh văng ra, xéo phải nó.

- Đêm hôm nay mẹ lọ mọ đi đâu để rơi với vỡ.

- Mẹ nấu cơm xong lâu rồi, định đi gọi con về ăn.

- Lúc nào ăn chả được. Mẹ biết con ở đâu mà gọi. Từ mai mẹ đói cứ ăn trước, không phải kêu gọi gì nữa.

Càng nghe nó mắng bà càng mừng. Cái sự nó đòi ở anh ta chưa xong nên nó cáu với bà. Thì được, mày cứ gắt gỏng, mắng nhiếc mẹ mày đi, nhưng đừng để thiên hạ người ta bôi gio trát trấu vào mặt bố mẹ mày. Từ bốn, năm năm nay bà đã biết cái "anh bạn" của chồng nó đến "thăm nó" dù lúc chập tối khi bà sờ soạng nấu cơm, hay nửa đêm gà gáy, vào giữa trưa hay sắp lặn mặt trời thì cũng chỉ ở ba nơi. Chiếc chiếu trải giữa nhà, cái ổ của hai mẹ con (sau này là cái giường một giải đệm của nó) hoặc trên chiếc chõng bán hàng. Bà đã biết thanh niên ở thành thị bây giờ ai cũng muốn như người Tây, người Tàu thì phải làm như thế nó mới ra Tây, ra Tàu. Bà không ngăn cấm. Mà có ngăn cũng không thể được. Bà chỉ nói xa xôi bóng gió để chị ấy cố tránh làm sao đừng để vỡ lở ra là tan nát mọi bề, mà con cái nó khổ sở suốt đời. Tưởng nó cũng biết điều ấy mà cố ghìm giữ lấy cái vỏ để mai kia thằng chồng nó trở về cũng đỡ xót xa. Nào ai biết đâu chính nó lại đòi anh kia phải cho nó đứa con! Thế thì đến mười cái đèn bà cũng phải đập ra, để chặn nó lại, bà tiếc gì. Bà sợ gì nó tức bực trách mắng bà. Bà không làm ầm lên thì thôi, nó lại còn ra vẻ. Khổ nỗi, nó lại là con gái bà. Bà lại phải giữ cả với ông ấy. Không có, ông ấy lại chì chiết "mẹ con nhà bà tốt đẹp thế đấy!".

Nhưng "anh kia" lại rất cảm ơn bà. ít ra cũng là sự cảm ơn của đêm nay. Đêm nay bà đã gỡ cho anh ra khỏi sự níu giữ của con gái bà. Chị đang thèm khát một đứa con. Anh rất lo sợ lần cuối cùng này để lại một hậu quả, có đi đến đâu anh cũng không thể thoát khỏi cái giá phải trả, cái trách nhiệm phải đeo đẳng. Chỉ sau vài tháng đi lại với nhau, chị đã bất chấp mọi thứ, kể cả bom của giặc Mỹ nổ ngay đầu làng để được sống hết mình với anh, được công khai biểu lộ tình cảm với anh. Còn anh thì ngược lại. Có thể nói, chị đã đem lại cho anh những thoả mãn mà không bao giờ anh có được ở Xuyến. Chị là người "khai hoá" mọi dục vọng tiềm ẩn trong anh. Nhưng anh không thể nào đánh đổi một ông Hiếu vào hàng chánh phó chủ tịch, bí thư tỉnh để đổi lấy mối tình ở chị. Mới một chặng đầu trên con đường quá dài của anh, không ai có thể bắt anh dừng lại. Với lại, hình ảnh Lăng luôn luôn ám ảnh anh. Lúc đầu là những ước ao được hiểu biết, được tài hoa và có uy quyền hấp dẫn như Lăng, một con người không hề thấy thất bại, một con người khiến già trẻ trai gái đều sợ, đều mê mẩn thèm khát. Về sau, là kẻ tình địch. Không thể trả thù, thì phải lặng lẽ vượt lên để anh ta ở lại phía sau, biết đâu, một lúc nào đó anh ta lại chỉ là cấp dưới của mình! Tất nhiên chuyện thằng Lăng không phải là mục đích, nhưng nó có tác dụng thôi thúc anh cần phải "nín thở" để bứt khỏi sự phát triển thông thường, nhất là điều kiện thuận lợi hiện nay. Không tranh thủ tận dụng hết tình cảm quý mến của bác Văn Yến là đại ngu. Cho nên, không thể để bất cứ một cái gì rơi vỡ chỉ vì cái chuyện "thầm kín" này. Anh đã tìm mọi cách để chị phải nghe anh, không được để một cử chỉ lộ liễu nào cho người thứ ba biết đến mối quan hệ của hai người. Dẫu là như thế, anh vẫn cảm thấy nỗi hoảng sợ càng ngày càng tăng trước những đòi hỏi tình cảm không biết đến đâu là tận cùng của chị. Càng ngày anh càng thấy để yêu chị hay bất cứ một người đàn bà nào khác, không khó khăn, khổ sở và nhục nhã căng thẳng bằng tìm cách chạy ra khỏi một tình yêu tham lam vô độ và vô cùng mù quáng liều lĩnh của họ. Chị biết anh sẽ đi chiến trường nhưng không thể biết anh sẽ đi vào ngày mai. Ngày mai toà án sẽ xử anh và Xuyến li hôn, chị cũng không hề biết. Cũng may, chưa bao giờ chị tra hỏi anh chuyện đó. Nói đúng ra, có một vài lần chị hỏi như là một sự quan tâm rất thông thường ở bất cứ người nào cũng hỏi câu đó: "Chuyện của anh với bà ta thế nào rồi". Hỏi xong chị cũng không cần nhớ anh có trả lời hay không. "Bà ta xách dép cho em cũng chả đáng". Vậy thì việc gì phải quan tâm. Rồi chị sẽ phải sững sờ, choáng váng trước hai việc cùng xảy ra với anh ngày mai. Nhưng đêm nay vẫn coi như cuộc gặp gỡ thường lệ. Chị còn chờ đợi, còn hi vọng ở những đêm mai, ngày kia và sau này. Rồi sẽ phải tìm cách đưa nhau ra cánh đồng cho nó tự do. Ở nhà, mỗi lần dang dở như thế này, không thể chịu nổi. Anh bê xe đạp qua đoạn tre, dắt vào sân. Bà mẹ chưa kịp hỏi "ai", anh đã chào bà và khoe sắp đi chiến trường, đến tạm biệt cụ.

- Thế ạ. Quý hoá quá. Khi nào thì bác đi.

- Dạ. Còn chờ lệnh. Nhưng chắc cũng không lâu nữa đâu ạ.

- Ừ. Nhanh nhanh mà vào để giặc nó khỏi hành hạ phá hoại bà con đồng bào.

Nhưng "không lâu nữa" là đến bao giờ? Đến bao giờ bà mới thoát được nỗi canh cánh lo sợ hơn cả giặc giã. Chỉ chớp mắt một cái là nó gây ra cái tai hoạ tày đình, chứ lâu la gì. Hay là phải khuyên bảo con Nho? Hay là bàn với ông ấy để đưa con nó ra ngoài này. Mà cần thì dẹp cái cửa hàng này đi. Hay là... Nói thẳng vào mặt anh ta. Hay là... Sự bực dọc, cuống quýt của bà làm Nho hiểu rằng mẹ đã biết chuyện. Nếu mẹ hỏi, sẽ bảo: "Có đấy". Không thì thôi. Việc gì phải "lạy ông, tôi ở..."
° ° °
Phiên toà mở tại chùa Thộp giữa cánh đồng làng Bái Trung. Chùa um tùm cách xa đường chính hàng cây số. Vào chùa chỉ có một con đường độc đạo gọi là đường Rặng Nhãn. Phải qua một cây cầu bắc qua mương mới sang đường "Rặng Nhãn". Tất cả những cuộc họp quan trọng của tỉnh, huyện cần giữ bí mật với địch ở dưới đất, địch ở trên trời, đều đặt ở chùa Thộp. Phiên toà hôm nay cũng vào loại phải giữ bí mật. Phải cảnh giác với những thủ đoạn và âm mưu của địch làm giảm sút uy tín của cán bộ ta.

Chị Xuyến đến chùa Thộp từ sáng sớm với lòng đầy tự tin phần thắng thuộc về mình. Chị được những người họ hàng thân cận ở trong đảng uỷ nói đích xác là anh Hiếu sẽ lên làm bí thư huyện uỷ nay mai. Không thể bỏ được chị đâu. Lần này chị mà không đến toà, là họ xử. Vắng mặt ba lần không có lí do là họ có quyền xử.

Hôm nay chị kiên quyết không bỏ, đố toà dám cho bí thư huyện uỷ bỏ vợ! Chị lành thật, nhưng nếu cần mang con lên kêu gào trước cổng huyện uỷ, tỉnh uỷ hàng tháng, hàng năm chị cũng không quản ngại. Chị có thể lên tận trung ương chị kêu. Liệu có ai dám để một bí thư huyện uỷ như thế không? Chị kêu đến khi về nhà "đuổi gà" chưa chắc đã yên. Nghĩa là, nếu chạy lên trời chị túm chân kéo xuống, mà chui xuống đất thì chị túm tóc lôi lên. Có mà thoát đằng trời. Như là để củng cố lòng tin chắc thắng của chị, chị Biện con nhà cậu ruột của chị làm hội trưởng phụ nữ xã, hôm nay được mời giữ chân thẩm phán. Ngoài tình nghĩa gia đình Biện còn có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của "chị em". Chị cũng hỏi ý kiến Biện có nên đi hay không, Biện bảo:

- Tội gì lại không. Quyền lợi của mình được ăn được nói lại bỏ nó phí, mà mang tiếng chống lại chính sách, luật pháp của Nhà nước.

Lại hỏi:

- Cô có đứng về phía chị không?

- Thì còn đứng về phía nào! Sáng nay đi qua định gọi chị, gặp Huyền nó bảo chị đi từ sớm rồi.

- Cả đêm không ngủ được cô ạ. Cháu Huyền nó bảo là cụ tôi cũng không ngủ. Chị thấy mang nhau dơ mặt ra chỗ này nó xấu hổ lắm em ạ.

- Chị cứ phải bình tĩnh, có gì mà phải xấu với đẹp.

Hai chị em đang vui vẻ chuyện trò, bà Đất đến. Thấy Xuyến, bà lầm lầm đi ra phía đầu sân bên kia. Xuyến nói:

- Mẹ lại đằng này. Đã có ai đâu mà vào, mẹ!

- Tôi còn mẹ con gì với nhà chị nữa.

Xuyến thấy làm thương bà, nói với chị Biện:

- Khổ, mẹ chị cứ phải sưng sỉa lên như thế nhưng bụng dạ có gì đâu.

- Dù thế nào, chị với bà lão cũng phải đoàn kết lại. Phải biết thương bà ấy.

- Thì vưỡn.

Buổi sáng nay toà xử liền ba vụ li hôn. Chị phó chánh án huyện làm chánh án của cả ba phiên toà. Còn các thẩm phán thì thay đổi. Toà công bố thứ tự: Vụ anh Hiếu xin li hôn cùng chị Hoàng Thị Xuyến vào thứ ba. Tám rưỡi sáng toà mới bắt đầu nhưng giấy gọi đúng 7 giờ phải có mặt. Mọi người đều đến từ sáu giờ rưỡi hoặc sớm hơn. Toà bắt đầu xử vụ thứ nhất vẫn chưa thấy anh Hiếu đến. Chắc sợ bẽ mặt. Những cán bộ xung quanh huyện đến "xem" hay đi làm gì mà đông đến mấy chục. Họ bàn tán có vẻ không đồng tình việc anh Hiếu bỏ vợ. Phản đối cả việc ông ấy sẽ lên làm bí thư "Lơ mơ là mất hết như chơi".

- "Chắc ông Hiếu không thể đổi chuyện này để lấy tay trắng đâu". Chị Xuyến nghe thấy cả.

Vào cái giờ này, anh Hiếu đang tất tưởi đi khắp nơi. Chia tay mọi người. Sự "kèm cặp" sít sao của bà mẹ Nho làm cho tình cảm hai người cứ phải dang dở, vồi vội. Hiếu vẫn rất mừng có được cái cớ ấy. Mãi bốn giờ sáng anh mới chia tay chị Nho, đạp xe đến cơ quan huyện uỷ trong nỗi uất ức của người mẹ: "Nó quan trọng (đúng ra là quan hệ) với con mình cớ sao mình lại không thái độ nó (tỏ thái độ). Được rồi. Đêm nay mày mà còn đến đây "quan trọng" với con tao?".

Chị chánh án hỏi:

- Chị Xuyến cho biết, anh Hiếu có biểu hiện gì của những quan hệ nam nữ bất chính?

- Dạ. Tôi chỉ nghe đồn, chưa bắt được quả tang.

- Toà căn cứ vào những chứng lí, chứ không căn cứ vào tin đồn: Chị nói lại.

- Dạ. Thế thì không.

- Chị ngồi xuống. Toà mời anh Lưu Minh Hiếu trả lời câu hỏi của toà.

Hiếu đứng dậy lễ phép khiến chị chánh án hơi cúi như đọc câu hỏi viết ở mặt bàn:

- Anh cho biết anh có nghi ngờ gì chị Xuyến có những quan hệ bất chính?

- Thưa toà có ạ. – Anh kể lại chuyện với anh Lăng mà không nói rõ thời gian và trong hoàn cảnh nào, chỉ biết sau đó tình cảm giữa hai người không còn.

- Anh Hiếu nói không đúng ạ.

- Chị Xuyến. Chị đã từng ngồi ghế chánh án xét xử tội phạm. Chị có biết những nguyên tắc của phiên toà không?

Xuyến thấy như tội lỗi của mình ngày trước đang được đào bới lên.

Chị đứng ngây ra.

Từ đây chị Biện thẩm phán điều hành chính. Chị nói:

- Anh Hiếu ngồi xuống... toà hỏi chị Xuyến cho biết chị có quan hệ với anh Lăng không?

- Dạ thưa toà...

- Chị chỉ cần nói: có hay không.

- Thưa toà... Có. Nhưng... – Chị gục xuống.

- Thôi mời chị ngồi xuống! Toà mời bà Bùi Thị Đất trả lời.

Bà Đất vừa đứng dậy vừa run run "Thưa toà". Toà ngắt lời bà:

- Bà bình tĩnh. Toà hỏi đến đâu bà trả lời đến đấy. Bây giờ bà cho toà biết. Trong biên bản khám nghiệm của bệnh viện huyện ngày 18-12 vừa qua có ghi bà bị trẹo xương chân, chùn lưng sống và có ba vùng bị thâm tím ở đùi và mông, có đúng không?

- Thưa toà là đúng cả đấy ạ.

- Những vết tích kia là do bị ngã hay bị đánh.

- Dạ thưa toà do bị ngã.

- Bà vô ý ngã hay có ai xô đẩy.

- Dạ... Dạ... thưa toà... Hôm ấy tôi gánh phân đi xuống cái dốc trơn tự nhiên thấy nó...

Hình như có tiếng ho, tiếng hắng giọng hay tiếng hấm hứ của ai đấy mà tai bà ù lên, bà không thể nghe rõ. Lúc ấy bà giật mình biết mình nói chệch đi mất. Bà vội vàng chữa lại:

- Vâng vâng. Thưa toà. Nó... nó đẩy tôi. À vâng, nó nó là... chị Xuyến lấy tay đẩy tôi ngã lăn xuống chỗ gốc tre suýt nữa chết ạ.

Chị chánh án:

- Lúc ấy bà có bị ngất đi không?

- Dạ... bẩm thưa toà... cũng có ngất đấy ạ. À tôi bị bất tỉnh nhân sự đấy ạ.

Chị Biện hỏi:

- Bà cho biết nguyên nhân gì khiến chị Xuyến lại đẩy bà ngã.

- Thưa toà là... không có nguyên nhân – Bà liếc thấy anh Hiếu. Mặt anh nhăn lại, bà vội tiếp: À dạ thưa toà là có nguyên nhân chị Xuyến đẩy tôi đấy ạ.

Chị chánh án:

- Bà Đất cứ bình tĩnh trả lời toà. Việc chị Xuyến đẩy bà là do cãi chửi nhau hay vì một cái gì khác.

- Thưa toà là có đấy ạ. Có cái nguyên nhân chị Xuyến đánh con chị ấy chết lặng đi. Tôi thương cháu tôi, tôi mắng chị ấy thế là chị ấy chửi tôi rồi đẩy tôi ngã xuống chỗ bụi tre gãy...

- Thôi được rồi. Toà hỏi: Bà có nhớ hôm ấy là ngày bao nhiêu không?

- Dạ. Thưa toà tôi không nhớ ạ.

- Bà chú ý nghe toà đọc lời khai của chị Xuyến: ngày 13 tháng 11 năm 19... tôi và mẹ chồng tôi có to tiếng rồi sau đó hơn một tháng mẹ chồng tôi mới ngã do... bà thấy có đúng không.

- Dạ thưa toà đúng là như thế ạ.

Chị chánh án lại đưa tay ra hiệu cho chị Biện dừng để chị hỏi tiếp:

- Toà yêu cầu bà Đất bình tĩnh lại nói cho chính xác. Bà hãy nhớ lại chính xác rồi mới trả lời toà. Toà hỏi. Có phải ngày 18 tháng 12 năm 19... bà và chị Xuyến cãi nhau om sòm, chửi mắng lẫn nhau rồi sau đó chị Xuyến đẩy bà ngã lăn xuống bụi tre, có đúng không?

- Dạ thưa toà là đúng ạ. Tôi nhớ chính xác là chị Xuyến đánh con chị ấy, tức là cháu tôi. Tôi thấy thương cháu tôi, tôi mắng chị ấy. Thế là chị ấy đi... à vâng, đi ra ngõ vừa đạp vừa đẩy tôi lăn xuống bụi tre suýt nữa thì chết, à tôi bất tỉnh nhân sự...

- Này, mẹ nói lại đi nhá.

- Đề nghị chị Xuyến trật tự, toà chưa hỏi chị.

- Nhưng sao toà có thể để người ta vu oan giáng hoạ cho tôi như thế?

- Ừ, thử xem ai là người vu oan. Chị còn nhớ chị đã xỉa vào mặt chồng tôi nói những gì ở sân miếu Ông Cuội không? Ai vu cho chồng tôi ngủ với con dâu ở đống cây ngô?

- Ới mẹ ơi, là mẹ ơi. Thà mẹ giết con đi còn hơn mẹ ôi.

Chị Biện quát:

- Toà đề nghị chị Xuyến im lặng.

Chị hiểu tiếng quát như nhắc nhở chị đừng mất bình tĩnh làm hỏng việc nên chị im ngay.

Ngay cả buổi trưa nghỉ một giờ chờ toà nghị án chị vẫn yên trí không thể bằng những lời người ta xui mẹ chồng buộc tội cho chị mà toà có thể kết luận. Nhưng đến khi nghe bà chánh án đọc đến chữ "li hôn", chị gào như cha chết. Cả bốn dân quân gác ở xung quanh chùa chạy lại chỗ chị. Những cán bộ xung quanh huyện, cả đàn ông đàn bà buổi sáng tưởng họ đi xem, bây giờ tất cả xúm lại, dỗ dành an ủi và giữ không cho chị xô lại túm anh Hiếu. Chiếc ô tô của bí thư huyện uỷ đưa anh đi "nhập trạm" đã đỗ dưới hàng cây phi lao, chỗ rẽ xuống bờ mương vào chùa. Anh Nạc và mấy dân quân xã chờ ở đấy để lai mẹ anh về. Hiếu bảo:

- Anh nói với các bác, mẹ em và cả cháu Huyền em có lệnh gấp đi chiến trường.

Anh lên xe, lấy bộ quần áo Tô Châu, mũ giải phóng, dép cao su và khẩu K59 từ ba lô "cóc" ra mang vào người. Mũ cát, bộ ka ki gụ, dép và 167 đồng gửi anh Nạc cầm về cho mẹ anh. Mọi người chưa hiểu đầu đuôi ra sao, chiếc ô tô đã vù đi, anh thò đầu ra ngoài cầm mũ quân giải phóng vẫy những người đứng sau đám bụi tung mù mịt nhìn theo anh, nhìn theo cái bóng nhập nhoè sau vài ba phút đã là cách trở, đã là vời vợi xa xôi, đã không biết đến ngày về, không thể biết có ngày gặp lại?
° ° °
Anh Nạc mải miết đạp xe, không dám động đến sự im lặng của bà cô ruột cúi gằm mặt ngồi ở phía sau như kẻ ăn cắp bị bắt quả tang. Chuyện ông tỉnh uỷ viên bỏ vợ đã lan ra khắp cánh đồng hai bên đường đi về nhà. "Ngày trước con dâu tố bố chồng hiếp nó". "Bây giờ mẹ chồng nói điều con dâu giết mình". "Ngày trước ấm ức nhưng sợ đội không dám ho he. Bây giờ có quyền, có chức đem cả huyện, cả xã xúm vào đánh lừa chị ta để chị ta tưởng ra toà là không thể được. Thế là chị ta tong tớn đi từ nửa đêm". "Ngày xưa tổng Cuội mở hội thi nói khoác. Khắp nơi nô nức sửa soạn hàng năm, lúc ra hội thi, kể cả người giật giải cũng chưa thấm tháp gì với bây giờ. Bây giờ mở mồm ra là người ta đã nói khoác hay hơn các anh giật giải trước đây rất nhiều. Xa xưa thì không biết, từ thời cải cách đến giờ phải nói người ta dạy cho các nơi nói khoác giỏi cực kì. Nói vo hay nhìn vào giấy cũng đều có bài bản. Càng về sau càng có bài bản cứ là đâu vào đấy, bảo thế nào là nên thế, không thể cãi được, hoặc cãi được cũng rục xương". Nghe người ta bàn tán Nạc vừa sượng sùng, như là người ta sỉ nhục bóng gió mình, vừa thấy rờn rợn, như là từ ruột mình nói ra những điều ấy. Không biết từ đâu và sẽ đến đâu, từ nơi nào sinh ra và những nơi nào còn nói theo cái kiểu như làng mình. Ai mở mồm ra cũng bảo vì người này, vì người kia, vì cả làng, cả tổng mà thực ra chả vì ai. Không có con người, chỉ có mục đích của đội, sau này là của xã, của huyện. Con người chỉ vô cùng quan trọng hơn rất nhiều lần cái gậy, cái que, khẩu súng, quả lựu đạn và dây thừng, xích sắt để các ông ấy dùng đi tới đâu đó. Chẳng hạn như mấy năm trước đây Hiếu bắt anh làm tổng chỉ huy hàng nghìn người đi cấy lúa ở dưới cửa sông. Không biết đất mặn, đất chua ra sao, không biết hình dáng kích thước vùng đất ấy nó thế nào! Đã đến đây bao giờ mà biết. Học hành cũng không. Nghe lõm bõm được dăm mười buổi ở tỉnh, ở huyện, đi tham quan được vài ba lần những nơi tiên tiến đi đầu trong mọi phong trào, biết gì về chỗ đất mới mình sẽ làm chủ nó? Nghe nói đã có nơi chinh phục được chỗ ấy rồi. Thì mình cũng phải chinh phục. Không thua kém ai. Không có thất bại. Nhất định phải giành thắng lợi để chào mừng đại hội huyện đảng bộ. Thế là hàng nghìn con người do anh là tổng chỉ huy đi bắt giời, bắt biển phải lui bước. 17 người chết vì ăn nước lợ đi ỉa chảy hàng loạt. 3 người chết do ngâm mình dưới nước lâu bị cảm lạnh. Một người chết đói, năm người gãy chân, cụt tay do tai nạn lao động. Cả thảy 26 người chết và tàn tật. Hết hơn 10 vạn công. Nợ hàng trăm triệu tiền mua sắm dụng cụ, tiền thuê kĩ thuật, tiền giống và tiếp khách cộng với hàng chục khoản phụ phí khác. Kết quả là "Với sức mạnh vá trời, lấp biển nhân dân Ngoại Thượng đã làm nên một kì công chưa từng có trong lịch sử vùng này. Biến hàng trăm mẫu ruộng đất chua mặn thành ruộng cấy lúa, có khả năng thu hơn 300 tấn thóc trong vụ tới". Và Hiếu trúng vào thường vụ huyện uỷ. Nhưng nhân dân thì không thu được một hạt thóc nào ở 100 mẫu ruộng chua mặn ấy. Sự việc này chỉ được "rút kinh nghiệm" trong vài lời nói của Hiếu chứ không có những cuộc rút kinh nghiệm thật. Ai nhắc đến nó, oán trách nó coi như kẻ xấu, có ý đồ không tốt, tiếp tay cho kẻ địch phá hoại đoàn kết của ta. Hoặc là "Nói ra nhằm mục đích gì? Giải quyết cái gì? Cái đã qua rồi để cho nó qua" (riêng có thành tích và công lao của các đồng chí chủ trì của xã thì không bao giờ được quên). Nạc là người sống chân thành hết mình nhưng hay chủng chẳng nói ngang và thích triết lí vặt rất vô tội vạ nên Hiếu dùng anh chuyên đi "chữa cháy", "lấp lỗ hổng". Không việc gì anh làm được đến một năm. Thành ra việc gì anh cũng làm mà không làm được việc gì ra đầu ra đũa. Có lúc anh đã càu nhàu bảo Hiếu: "Hiếu xem thế nào, cứ xách tôi như con cờ ấy khó làm lắm". Hiếu bảo: "Để xem", nhưng anh nghĩ bụng: Không phải là anh em, tôi thải ông lâu rồi. Có làm được việc gì nên hồn mà thắc mắc.

Con Huyền bỏ học ngong ngóng chờ bà và bố mẹ nó trở về. Bao nhiêu chuyện kín kín hở hở lọt vào tai nó. Nó cắn răng lại nén nỗi tủi thân và xấu hổ. Nhưng không thể nén mãi được. Nó hỏi bà. Bà không nói. Nó hỏi mẹ. Mẹ nó ôm nó, van lạy nó rồi kể cho nó nghe sự tình tội lỗi của mẹ. Nó lại thấy thương mẹ và rất sợ bố mẹ bỏ nhau. Sáng nay bà đi, nó gạt nước mắt lạy bà:

- Bà ơi, bà nói thế nào để người ta đừng cho bố cháu bỏ mẹ cháu bà nhé.

Bà quay đi gạt nước mắt không nói gì.

Mẹ nó đi qua đưa cho nó hai nắm cơm nếp bảo:

- Nắm to con đưa bà mang đi để đến trưa bố con ăn với bà, còn phần con.

Nước mắt nó giàn giụa, định không lấy phần của nó, nhưng lại sợ mẹ buồn, nó phải cầm. Mẹ mắng:

- Làm sao con phải khóc? Cứ đi học đi. Có đi đến cùng trời cuối đất cũng không ai ức hiếp được mẹ. Việc gì mà sợ.

Mẹ bảo nó đừng sợ, nó lại càng sợ. Từ lúc mẹ đi, rồi bà đi, nó tha thẩn ở đầu làng, nhìn về phía chùa Thộp. Mãi hai giờ chiều nó mới trông thấy bác Nạc lai bà về. Từ chỗ bụi tre, nó chạy lao ra giữa cánh đồng đón bà, đỡ bà ở trên xe xuống. Bác Nạc thì lầm bầm. Trông bà thì khổ sở, cúi gằm mặt xuống. Nó biết điều gì đã xảy ra. Nó dấn lên nắm lấy ghi đông xe của bác Nạc hỏi. Bác Nạc bảo "giải quyết rồi". Nó hốt hoảng hỏi lại:

- "Giải quyết" là thế nào bác?

- Là "cắt" chứ còn thế nào. Bố mày đi "B" rồi. Quần áo tiền nong bố mày gửi, lát nữa về nhà bác đưa.

Con bé kêu ối một tiếng, nó chạy lại ôm lấy vai bà nó lắc lắc "bắt đền" bà. Nó làm như cái quyết định "đoàn tụ" nằm ở trong người bà nó, nó phải lắc thật mạnh để sự "đoàn tụ" từ bà nó phải bật ra, cho nó vồ lấy. Thật khốn khổ cho bà nó, nó càng lay, người bà nó càng như cái cây bị mất rễ cứ héo dần héo dần, lả xuống. Nó phải hốt hoảng dìu bà nó về. Bà nó nằm vật ra giường, không ăn uống gì. Cũng không nói năng gì.

Đến lúc vàng vàng mặt trời mẹ nó kêu gào khóc vật vã giữa hàng chục bàn tay đỡ lấy người dìu mẹ nó đi về làng. Không hiểu chị đã kêu từ đâu mà tiếng đã khản đặc. Có hàng trăm người lớn và trẻ em không biết từ làng nào lốc thốc chạy theo. Về đến đầu ngõ nhà mẹ chồng, chị cứ bám lấy gốc tre mà réo vào:

- Ới bà Đất ơi là bà Đất ôi. Bà vu oan giáng hoạ cho tôi, bà không sợ giời tru, đất triệt nốt cái giống nòi nhà bà hay sao bà Đất ơi ời...

- Ới bà Đất ơi, làm sao bà nỡ rẽ duyên để vợ lìa chồng, con lìa cha mẹ, tan nát.

- Ới Huyền ơi, con ơi, con bảo là bà con cũng lành hiền phúc hậu không biết điêu toa ăn gian nói dối. Nào con có biết đâu bà lại thù dai, suốt mười mấy năm để bây giờ hại mẹ. Con ôi...

Sau phiên toà, chị lên huyện, lăn ra trước cổng huyện uỷ gào thét. Công an mời chị đi. Ở đây không có anh Hiếu, không ai liên quan gì đến vợ chồng chị. Nếu chị cố tình phá rối trật tự buộc phải giam chị lại. Chị thách thức và đang giằng co với công an, thằng em trai của chị hầm hầm chạy đến lôi chị về. Nó quát mắng chị rằng: có lên tỉnh, lên trung ương cũng không còn hi vọng gì. Việc vợ chồng li hôn chỉ đến toà án tỉnh là hết. Tỉnh đã "chỉ đạo" cho anh Hiếu được bỏ vợ thì kêu ai, để làm gì? Chị lập tức theo nó về ngay. Thì ra lời khóc than kêu gào cũng phải tính toán cân nhắc sự đầy vơi to nhỏ để nó đạt tới cái gì đấy chứ chả ai than khóc vu vơ, chả ai lặn lội kêu gào nơi vắng vẻ không có người hưởng ứng. Ở chỗ cổng huyện uỷ không có ai được vào xem nên nó ít tác dụng. Đến khi về ngõ nhà mẹ chồng nó lại hấp dẫn bởi hàng mấy chục người đi theo và hàng trăm, hàng nghìn lượt người chạy đến xem, đến can ngăn và thì thào bàn tán chê trách bà Đất và thương hại chị, tự nhiên chị lại thấy "nhiệt tình" kêu than rỉa rói bà Đất hăng hái hẳn lên. Bao nhiêu cán bộ, dân quân càng khuyên bảo, càng kéo chị đi về nhà, chị càng chồm lại bám lấy gốc tre, kêu to hơn và chì chiết bà Đất cay độc khiến anh em ông Từ, ông Mỡ "đắng" mặt quá. Ông Mỡ phải đứng giữa sân nhà bà Đất quát:

- Cô Đất đâu rồi! Tội vạ gì mà không dám mở mồm ra. Đ. mẹ nó, ông tha nhét cứt vào mồm con tố điêu, ngủ lang với đội thì thôi lại còn già mồm. Đúng là vừa đánh đĩ vừa...

Ông sầm sầm vào nhà kéo bà Đất dậy lôi xình xịch ra sân rồi ra ngõ đứng vào sát mặt với chị Xuyến để ông mắng:

- Tại sao cô ngu thế? Cô câm mồm để con đĩ nó trát cứt vào mặt cả họ nhà này phỏng?

Xuyến:

- Cả họ nhà ông ức hiếp tôi.

Bà Đất:

- Ai ức hiếp chị. Chị bàn với đội Lăng cho con tôi đi học thuế nông nghiệp rồi ở nhà đêm nào anh đội cũng "xâu" chị cốt cán, chị còn nhớ không? Giá ngày ấy đội Lăng nó cho chị theo, chị đã tếch rồi chả phải đợi đến hôm nay để ai phải chia lìa đâu!

Cái việc chị Xuyến xin lỗi nhà anh Hiếu thì ai cũng biết nhưng không ai nhớ chi tiết cụ thể như ông Mỡ nói:

- Có đời thuở nhà ai, con dâu tố bố dượng chồng để bắn người ta rồi trần truồng ôm nhau ngay chỗ trường bắn ấy mà bảo nhau: "Bắn được thằng "hiếp" giả ấy để chúng mình "hiếp" nhau thật thế này cũng sướng em nhỉ". Con đĩ lại nói: "Anh ơi, anh cứ ở lại đây "hiếp" thật em mãi đừng đi anh nhá". Đ. mẹ con đĩ sao không kể lể cho mọi người nghe đi. Đẹp mặt lắm đấy hả? Thơm tho sạch sẽ, thuỷ chung với chồng con lắm đấy hả?

- Tôi đ. cần thơm tho sạch sẽ gì với nhà ông.

Thế là hết trò. Những người xem thấy sượng mặt phải đi ngay. Họ nghe mãi cũng nhạt, đứng mãi cũng mỏi. Đã không có trò xô xát túm tóc đấm đá nhau cho "xôm trò" hấp dẫn, lại nói bậy. Thời bây giờ người ta quen nghe người đàn ông có quyền chửi đàn bà bậy chứ không quen nghe những người đàn bà được phép nói bậy với đàn ông, nhất là hàng con cháu. Sự thất thố của chị đến nỗi ông Mỡ phải chết lặng đi. Anh em con cháu nhà ông vốn không hề chịu thua bất cứ họ hàng, bè cánh nhà ai, bây giờ lại sững người, không ngờ cô cháu dâu lại "tương" ra một câu đột ngột đến cỡ ấy. Vừa ngượng, vừa sợ ông Mỡ, người xem giãn dần, tản về hết. Hết người "cổ vũ" đã thấy trơ trẽn, lại chỉ còn ông Mỡ và những người con cháu nhà ông, thì còn cái cớ gì để chị kêu than, để chị tì ra chỗ gốc tre này. Không biết cách nào rút cho nó thuận, tiếng quát của thằng em giai đuổi chị như một cứu cánh để chị rút lui "trong danh dự". Nhưng đi đường nó lại xỉ vả chị:

- Thấy đẹp mặt chưa? Tố điêu bố dượng, ngủ với giai, đánh mẹ chồng... Bình thường cũng không ai họ xử lại, huống hồ người ta đã có chỉ đạo. Nó lại đi B. Đến ông giời cũng không dám động đến người đi B. Định lăn ăn vạ cái bà lão lủi thủi như con chó thui ấy để lão Mỡ nó bêu riếu cho. Ngu ơi là ngu. Đã bảo...

Thế rồi đêm hôm ấy trong khi cả tổng Cuội đều ầm ĩ cái tin "con dâu hắt... vào mặt mẹ chồng" thì chị thắt cổ bằng cái dây thừng treo trên cành bàng ở miếu ông Cuội. Và sáng sớm sau thì cả tổng lại xớn xác hỏi nhau chuyện "Mẹ chồng giết con dâu" "Nếu không vì mẹ chồng đổ điêu cho con dâu đánh mình, không vì "anh Hiếu còn vợ thì không còn mẹ", làm sao chồng nó bỏ được nó, làm sao nó phải chết oan chết uổng như thế. Thế là mụ Đất thành kẻ độc ác, gian ngoan. Thế là một lần nữa mụ lại gục mặt xuống nghiêng cái nón lá gồi che lấy mặt, tránh những cái nhìn khinh bỉ oán trách, những lời lẽ độc địa, thì thầm. Lại tách ra khỏi sự đùm bọc đầm ấm của dân làng. Gặp bà, ai cũng chào hỏi, cố làm ra vẻ tự nhiên để bà đỡ xấu hổ, nhưng trong lòng thì nguội lạnh, phải dè chừng và hồ nghi. Khổ thân anh Hiếu. Vợ mất. Bản thân phải ra trận không biết sống chết thế nào! Không ngờ con người như bà Đất lại lắm mưu mẹo!

Phần 4 - Chương 1

Chuyện tình thứ năm
Con Huyền đi đâu về, bảo:

- Bà ơi, nghe tin bố còn sống đấy.

- Ai bảo thế?

- Có người họ đi tàu Thống Nhất chở chuyến khách đầu tiên vào cảng Nhà Rồng bảo có trông thấy ông ấy cầm máy ảnh ra đón. Xem ra có vẻ làm to lắm. Trông béo đen. Ông ấy không biết anh này. Khi anh ta bảo là cùng quê thì ông ấy cũng hỏi thăm tình hình.

- Sao cháu không hỏi anh ta cho kĩ xem có thực sự bố cháu không? Dăm bảy năm không có tí tin tức gì làm sao biết được sống hay chết.

- Chắc là "líp" với cô nào đấy rồi. Nó kẹp chặt quá không rút ra được làm sao còn tin tức được cho bà cháu mình hở bà?

- Bà đã cấm con không được ăn nói bố mẹ như thế. Ai lại con gái cứ gọi bố là ông bô, ông ấy, lão ta, ông via, ông vỉa… gì, nghe nó chướng lắm, bà không chịu được nữa đâu.

- Vâng vâng, cháu xin lỗi bà. Cháu cứ quên mất. Căn bản là bố con đối xử với nhau thế nào chứ gọi nhau thế nào chả được.

- Không có cái kiểu "họ nhà tôm" ấy. Như thế nào cũng là bố đẻ ra mình. Cháu là phận con cái, ăn ở nó phải ra trên ra dưới, nghe ra chửa?

- Cháu chửa rồi, à quên cháu nghe ra rồi bà ạ.

- Mà sao mày đã ra vườn. Dễ như lội cả xuống ao rồi phải không?

- Cháu chỉ rửa chân thôi.

- Thôi chết bà rồi. Bà lại quên không bảo cháu là chưa được rửa chân bằng nước lã. "Giải quyết" mới được hơn hai tháng! Một lần sa bằng ba lần đẻ. Không kiêng cữ cẩn thận về già khổ lắm con ạ. Thôi không được đi đâu nữa. Để bà lấy lá sắc mà uống, rồi tối tối bà pha nước muối ngâm chân. Không thể đùa được con ạ.

- Nhưng bà ơi, con lại "bị" rồi.

Bà trợn mắt lên như người động kinh. Phải dăm phút chết lặng đi, sắc mặt bà mới hoàn lại, giọng hơi run run:

- Cháu bảo thế nào? Có phải...

- Cháu lại thấy quá hạn mười ngày rồi. Mà người lại nôn nao, giống như lần trước bà ạ.

Bà không thể nói được nữa. Vậy là nó mới được khoảng một tháng, lại "bị". Lần trước nó mang nhau đi Hà Nội "giải quyết" bà có hề biết đâu. Thực ra bà cũng đã ngờ ngợ. Con gái dậy thì mà lông mày dựng ngược lên, cái lưng ngay ra, đứng ngồi, đi lại ngượng nghịu là bà biết có sự chả lành. Phần thương cháu, phần sợ nó buồn bã, đành câm lặng. Vì là nó buồn thì bà lại đau hơn nỗi buồn của nó. Nó mà có sự gì thì y như một lưỡi dao phạt ngang vào thân cây bà đang vin, tựa, bấu víu ở đấy. Cái cây ấy đổ xuống, cái thân già chông chênh vất vưởng của bà biết tựa vào đâu mà sống? Năm năm trước, khi mặt bà phải gục xuống vì miệng tiếng đồn đại xa gần bà là kẻ đã giết mẹ nó "không gươm", chính nó quả quyết ở bất cứ đâu rằng không ai được vu oan cho bà nó. "Thì giấy trắng mực đen ghi rõ ràng ý kiến của bà mày?". "Kể cả bà tôi kí hàng trăm chữ, điểm chỉ cả mười đầu ngón tay vào đấy cũng không ai được bảo lòng dạ bà tôi độc địa". Nó còn nói nó biết hết vì sao bà nó phải làm những việc ấy. Nhờ nó bà đã dần dần ngẩng mặt lên nhìn dân làng. Dù còn gượng gạo nhưng bà con dân làng ai cũng nghĩ "đúng là bà Đất không thể tự nhiên nói ra những lời sai ngoa". Nó vừa là ân nhân, vừa là người bạn, chỉ có nó như một người lớn từng trải, mới hiểu thấu lòng bà. Không phải là nó, không ai dám bất chấp sự khinh bỉ của cả họ hàng nội ngoại để chăm lo bà hơn hẳn lúc mẹ nó còn sống. Chỉ có nó mới dám có một tình yêu ngược hẳn với đám đông mà không sợ bị tách rời. Mới 17 tuổi đầu nó đã dám nói giữa cuộc họp ở miếu ông Cuội: "Tôi cứ thành thật, có thế nào nói như thế còn hơn vạn lần các ông các bà đem sách ra mà dạy nhau nói dối và đánh lừa. Đang đói nhăn răng ra, không nghĩ cách cứu đói lại cứ tranh cãi nhau hàng tháng trời xem đổi tên Cuội Thượng, Ngoại Thượng, Nhập và Nhằng thành những cái tên gì gọi cho sang, cho hơn hẳn thiên hạ. Lúc nào cũng chỉ muốn đi tiên phong cho thiên hạ theo. Đúng là cái dân học đòi. Bao giờ cũng muốn phải hơn hẳn ông thầy mình học".Giá bố nó không đi "B", mẹ nó không vừa chết, người ta đã gô cổ nó cho vào tù rồi. Bà cứ tha hồ lạy van cháu. Cháu lại nhất mực thách đố: "Thì những người đang xoen xoét nói một đằng, làm một nẻo còn khổ hơn ở tù kia. Cháu đi tù về tội nói thật. Cùng lắm chỉ dăm ba năm, còn họ tù cả đời họ như bà ấy, sướng cái nỗi gì". Nó cứ như thế, rồi cũng thành người. Có người ghét, người hận, người yêu thương nhưng không ai dám coi thường nó. Thành ra, nhiều lúc nghe người ngoài đồn đại chuyện này, chuyện khác bà cũng không tra khảo gì cháu. Cái nhẽ mà bà không dám hỏi khi nó có mang lần trước là thế. Nhưng mà "thằng kia" vì cớ gì lại không lấy cháu bà làm vợ? Cháu bà dưới con mắt bà, nó còn hơn mẹ nó ngày xưa, hơn cả bà nội nó, lại thẳng thắn, không biết thớ lợ, lừa lọc, gian dối, không biết sợ ai, sợ cái gì, ngoài nỗi hoảng sợ bà nội nó ốm đau vì lo nghĩ hoặc đói khổ. Còn bà thì nó giẫm phải cái gai bà đã hoảng lên. Lần trước bà đã phải thuốc thang và nghiêm ngặt bắt nó kiêng cữ. Vậy mà "thằng kia" định làm hại cháu bà hay sao? Mới nhoáy một cái đã hai lần "bị". Nếu yêu nhau, thương nhau thực sự tại sao nó không báo cáo rồi "tổ chức". Nó biết bà nó đang nghĩ gì, nó bảo bà:

- Anh ấy có vợ, có hai con. Chưa giải quyết được.

Bà chưa kịp tin vào tai mình, cháu lại giải thích:

- Bà yên trí. Mấy hôm nữa lên Hà Nội, Tiễn anh ấy vào công tác trong Nam, cháu "giải quyết" luôn.

Trời đất ơi, nó cứ nói tông tỗng như là chuyện của ai, như cái bụi bám vào áo phủi đi một cái là xong. Bà nó thì ruột gan cứ như chín nẫu ra. Bà phải cố lấy lại bình tĩnh hỏi cho ra nhẽ:

- Cháu nói bà xem, nó là thằng nào, làm gì, ở đâu?

- Bà định bắt đền người ta à?

Nó cười rồi bảo bà nó không cần biết tên tuổi làm gì. Chỉ biết anh ấy là người Hà Nội về đây dạy học. Cả ba năm học cấp ba nó học toán của anh ấy. Đấy là một bộ óc thần kì nhớ từng chữ, từng con số, từng cái dấu phẩy trong tất cả các sách đại số, hình học và lượng giác từ lớp tám đến lớp mười. Tóm lại, anh ấy là người dạy giỏi kinh khủng. Cô mê. Cô cũng biết anh ấy có vợ, có con từ khi mới học lớp tám. Nhưng với bộ mặt và giọng nói đau khổ của thầy khiến tất cả học sinh gái ở lớp đều tin chắc chị ta là người đàn bà hẹp hòi, ích kỉ. Cử chỉ đầu tiên của chị ta mỗi lần chồng về là móc túi xem "thương vợ", "thương con" nhiều hay ít. Lần nào hào phóng lắm chị ta mới để lại cho thầy được ba hào vưa đủ vá một miếng săm hoặc ăn một bát mì "không người lái". Muốn cái gì, chỉ được một thứ. Đạp xe đi về gần một trăm ki lô mét mà có tiền để "ước được cả hai thứ thì viển vông, cao xa quá". Nghe thầy tâm sự mà cô nào cũng thấy cảm động rưng rưng. Thầy bảo trước sau rồi hai người cũng phải chia tay, không thể hợp nhau. Thương thầy, cũng chỉ biết vậy thôi. Kể cả những lúc đột nhiên bồi hồi nghĩ đến thầy, con gái nông thôn dù đầy đủ sức lực ở tuổi 17 "bẻ gãy sừng trâu" cũng không bao giờ dám nghĩ chuyện đùa cợt giăng gió với thầy. Quan hệ của cô với thầy chỉ sau khi đã tốt nghiệp cấp ba, không thi vào đại học, cô ở nhà với bà và xung phong vào trung đội nữ dân quân của huyện, cơ động bắn máy bay tầm thấp. Trong số 42 chị em, có đến 35 người đã có chồng và quá nửa số ấy mới bén mùi "lửa rơm" đã phải tiễn chồng đi Nam chiến đấu. Họ thèm nhớ những đàn ông đến nỗi phải dồn hết sức lực, tâm trí vào những bộ mặt căng thẳng, cứng nhắc trước anh huyện đội phó và các cán sự huấn luyện, tác chiến để chứng tỏ rằng họ không hề mảy may đòi hỏi, nhớ nhung. Như thể họ là những người sinh ra chỉ biết có tập trung tư tưởng vào việc rèn luyện bắn rơi máy bay giặc. Sự nghiêm trang của họ khiến các anh chàng trai trẻ của huyện đội cũng phải thường xuyên cảnh giác với những ý nghĩ không trong sáng xuất hiện, làm giảm sút ý chí chiến đấu của chị em. Nhưng đến khi nằm riêng biệt hoàn toàn với chỗ ở của các anh huyện đội, họ đã xếp thành 21 cặp "anh và em". Chỉ trừ vài ba cặp lớn tuổi, còn hầu hết các cặp "anh chị" ngủ chung trong chiếc màn một. Dù có là nóng đầm đìa mồ hôi thì họ vẫn "chung chăn, chung gối" bày ra đủ trò "ái ân chồng vợ". Cô bé học sinh lớp 10 là người duy nhất của xã Ngoại Thượng được bác Nạc gửi vào đội bắn máy bay của huyện. Cô đã "làm vợ" một "anh". Lấy chồng được bảy ngày phải tiễn chồng trở lại chiến trường "B". Sự "chung đụng" với "chồng" đã làm cho Huyền mất khả năng tự vệ là cảm giác thẹn thùng, rụt rè của người con gái.

Giữa những ngày "căng thẳng" ấy cô gặp lại thầy giáo cũ đã từng quan tâm đặc biệt đến cô và vẫn biết từng ngày cô ở đâu, làm gì, kể từ khi thôi học. Nhưng bà của Huyền thì không biết chuyện này. Hai năm Huyền đi lại với anh, vẫn không thấy anh nhắc nhở gì đến chuyện "chia tay" với người vợ mà anh từng nói trước đây. Huyền vẫn kiên trì chờ. Đến khi lên Hà Nội "giải quyết" lần vừa rồi, Huyền mới nhận ra tư cách thật của con người anh. Anh đạp xe đưa Huyền đến chỗ bác sĩ quen. Trông thấy chị ta, lập tức chân tay, mặt mũi của anh như là mượn của ai. Chỉ thoáng một giây nhìn thấy "ruột gan" anh, Huyền thấy cái hèn ở anh không thể chấp nhận. Huyền rẽ vào con đường đến nhà bác sĩ còn anh vội vã đạp xe theo vợ như thể anh và Huyền chỉ là hai kẻ đi cùng chiều. Cô thấy người lạnh đi và mọi cảm xúc về anh cũng nguội đi. Nhưng đến chiều anh đến nhà bác sĩ đón cô thì lại khác. Vì một mình bơ vơ giữa thủ đô? Vì sự hồn hậu tất bật rất khổ sở của anh? Vì thói quen "gái phải hơi trai" hay vì những kỉ niệm mê man về một tài hoa? Vì một tình cảm đã ăn sâu khó có thể dứt bỏ hay vì một hi vọng còn chờ đợi? Anh lai cô đi suốt 50 ki lô mét trong mưa gió, lầy lội! Cô thì mặc áo mưa, đội mũ, đi giày tất, còn anh đầu trần ướt luốt chuốt. Từ đường nhựa ra đến bến đò ba ki lô mét, bùn trơn anh phải khoá xe gửi, cõng cô ra bến đò rồi mới quay lại dắt xe... Có lẽ vì tất cả những cái đó để chỉ chưa đầy ba tháng sau, cô lại đi "giải quyết" lần thứ hai và tiễn anh đi xa với một mệnh lệnh nghiêm ngặt khiến hàng chục năm sau anh còn phải làm theo: "Dù hoàn cảnh thế nào anh cũng phải súc miệng nước muối thường xuyên để chữa cái "họng hạt" đấy. Nào thôi chia tay. Em vẫn coi anh như một người bạn lớn. Không cần đâu. Em tự lo về được. Phải dũng cảm lên, đừng buồn thế".

Bà lại hỏi:

- Thế cái thằng giời đánh, thánh vật ấy nó định thế nào?

- Sao bà lại nói thế? Anh ấy là người tốt. Cháu chả cần thế nào cả. Chị vợ anh ấy tốt hơn anh ấy nói nhiều. Hiền và đại lượng, đàng hoàng lắm. Cháu có đến nhà để chia tay anh ấy. Cháu hôn anh ấy. Chị ta biết mà vẫn ngơ đi, vui vẻ như không. Chị ta bảo chồng: "Thôi anh cứ vào trong ấy một thời gian đi. Rồi sau này chúng mình xử sự với nhau thế nào cũng được. Nhưng cố giữ để các con nó không biết chuyện bố mẹ".

Nó cứ nói bô bô, đi lại thoăn thoắt mặc cho bà ngồi thở dài não nuột. Trong khi ấy bác Nạc thì thầm với mấy ông trong đảng uỷ ở đầu nhà rằng con Huyền có quan hệ bất chính thật. Anh nhất trí không thể để một phó bí thư xã đoàn phá hoại hạnh phúc của người khác. Phải thay thôi. Huyền gọi:

- Cứ nói to lên bác Nạc ơi. Cháu nghe hết rồi, việc gì phải thì thầm. Các bác đảng uỷ mà làm việc cứ thậm thà thậm thụt nó thế nào ý.

Nạc quát:

- Còn đẹp mắt lắm đấy hả? Liệu mà viết kiểm điểm, nhận kỉ luật đi.

- Kiểm điểm với ai hả bác?

- Với ban chấp hành của mày, còn với ai.

- Cháu thôi rồi. Còn cái kiểm điểm thì cho cháu chịu bác nhé.

Bà Đất lật đật chạy đến lấy tay bịt mồm nó, van lạy nó để nó im đi.

Đến đêm, khi nó nằm ôm lấy bà, bà mới hỏi:

- Cháu ơi, mày định lấy chồng không hở cháu?

- Có chứ ạ. Không lấy chịu thế nào được hở bà.

- Giời ơi, ăn với nói.

- Bà ơi, thế ngày xưa ông cháu mất, bà mới 19, 20 tuổi, làm thế nào bà lại cứ nhịn được mãi thế hả?

- Đừng nói thế cháu.

Cháu nằm im rồi ngay lập tức nó đã ngủ rất say thì bà lại vật vã nghĩ cách nào van lạy hai bác và anh Nạc để có nhời với mọi người cho chuyện giăng gió của nó khỏi vỡ lở, khỏi chuội mất cái chân cảm tình. Ngày hôm sau bà bảo nó rằng nhà mình cả nội ngoại, dâu rể, ông cháu là 14 đảng viên rồi. Cháu cố phấn đấu nữa là 15. Cả làng cả xã này không có họ nhà ai được như thế. Nó cười phá lên hỏi bà:

- Sao bà không phấn đấu làm cái chân cảm tình hở bà?

Bà đau đớn, chết lặng. Nó nhận ra sự bỡn cợt của nó đụng vào sự kính cẩn linh thiêng của bà, bà không cho ai được phỉ báng, chế giễu. Nó biết bà không thể hiểu hết những chữ ấy và công việc nó phải như thế nào nhưng suốt mấy chục năm nay bà sống được là nhờ tựa vào sự linh thiêng kính cẩn ấy. Nó giống như ngày xưa bà đã tựa vào trời phật, thần thánh và gia giáo. Đến ngày khởi nghĩa, gặp được ông Kiêm bà tin và yêu ông, tin kính cẩn. Không ai có thể phỉ báng được những gì, người chồng của bà đem đến cho bà mấy chục năm nay. Con Huyền biết lỗi nhưng không biết cách nào xin lỗi bà, nó dặn:

- Tối nay bà ở nhà, cháu đi gặp mấy đứa trong ban chấp hành nhá.

- Làm gì?

- Cháu nhờ chúng nó giúp cháu đừng làm to chuyện ra ảnh hưởng đến việc phấn đấu của cháu.

Chả biết nó có đi gặp ban chấp hành thật không, có phấn đấu thật không. Nhưng trông mặt mũi nó nghiêm chỉnh và xăm xắn đi ngay bà cũng thấy đỡ tủi thân, thấy mình không hoàn toàn vô tích sự, thấy được tấm lòng của cháu, chỗ tựa duy nhất của bà còn biết nghe lời bà, một bà già ngây ngô nhưng mà thật lòng, suốt đời đau khổ vì tấm lòng thành thật của mình.
° ° °
Đã định bụng hàng tháng trời, hôm nay mới lựa được lúc chị ấy đi làm, bà đặt cháu, rón rén ra gian nhà ngoài hỏi con:

- Mẹ có chuyện định trình bày với con. Anh xem thế nào hộ mẹ!

Hiếu vẫn ngả mình ở ghế xa lông ngửa mặt nhả khói thuốc hỏi:

- Chuyện gì?

- Dưng mà sáng nay anh có đi làm không đã.

Hiếu là người ưa nói chuyện với mọi người, có thể nói cười hàng nửa ngày liền với bất cứ ai đó, nhưng với mẹ, lúc nào anh cũng tiêng tiếc những lời nói. Dù nói bất cứ điều gì với mẹ lúc này anh cũng cảm thấy khó khăn, nhọc nhằn. Cũng là từ khi anh ấy ra làm việc, nhất là từ ngày ở trong Nam ra. Trước đây anh khác. Trước đây, nhất là những đận gian nan, đêm nào anh cũng rì rầm suốt đêm "bồi dưỡng" cho mẹ nói năng thông thạo. Đến bây giờ như là anh phải cố nén lại để nhẹ nhàng giục bà:

- Bà định nói gì, nói nhanh nhanh lên, tôi còn lo việc khác.

- Mẹ sợ anh phải đến cơ quan!

- Khổ lắm. Thì tôi đang ngồi đây, bà lại tưởng, tưởng cái gì.

- Con biết mẹ sống hay chết cũng là vì các con. Không khi nào mẹ có tư tưởng khác.

- Bà nói thẳng vào việc đi xem nào. Tôi không lúc nào có nhiều thời giờ đâu.

- Thì anh cứ để cho mẹ nói có đầu có cuối.

- Tôi đã bảo tôi không có thì giờ nghe bà kể lể dài dòng.

- Ừ thì mẹ nói vắn tắt thôi vậy. Con biết đấy. Cả hai "lần đò" mẹ cũng chỉ còn có một mình con.

- Tôi đã bảo bao nhiêu lần là đừng bao giờ kể lể những chuyện ấy. Mà bà định nói cái gì thế?

- Mẹ chỉ cốt anh hiểu cho lòng mẹ. Ừ thì thôi mẹ không kể ra làm gì. Mẹ chỉ định nói với con độ này cháu nó cứng cáp gửi nhà trẻ được rồi, anh cho mẹ về.

Phải nói ra điều này vì chỉ khi trốn làng đi đẻ ra anh ấy, còn không bao giờ bà ra khỏi nhà được một tuần lễ. Lần này khi chị ấy sinh cháu bà đã lên tỉnh bảy tháng trời không về nhà. Đúng là hơn cầm tù bà. Ở nhà có ăn nắm dải khoai bà cũng thấy nó thoải mái hơn ở đây ăn cơm gạo trắng, có thịt, có cá. Cái tuổi ngoài 60 của bà, lạy trời còn mạnh chân khoẻ tay, còn chợ búa, nấu cơm, gánh nước, giặt giũ cho chị ấy, cho cháu cứ quần quật như một con ở bà vẫn lo được chu tất không có nề hà gì. Đời bà lam lũ nó quen rồi, có quản gì khó nhọc. Bà cứ âm thầm héo hắt đi, nó ở hai nhẽ. Thứ nhất, bà thèm, bà nhớ cái cảnh tối tăm, lặng lẽ ở làng Cuội chứ không chịu được cái bóng điện nó cứ sáng loé lên soi vào mặt không sao ngủ được. Lại ồn ào quá. Lúc nào ở phố xá cũng như có đám đánh nhau, không mấy khi yên ắng, tĩnh mịch. Xóm làng, sớm tối, trừ khi đấu tranh ra còn quây quần, chào hỏi nhau, đằng này sát tường nhau, ai làm gì kệ người nấy. Nghe nó cứ lạnh lẽo thế nào. Cái nhẽ thứ hai là bà đã cố nhịn nhục cái nỗi nhớ âm u để hầu hạ con dâu, nhưng chị ấy lại không thèm sai bảo quát mắng bà, khiến bà thèm cái thèm của một con chó được chủ quát mắng mà không được. Mỗi khi chị ấy định sai bà làm gì, thì chị ấy sai chồng để chồng sai lại bà. Bà làm cái gì không vừa lòng chị ấy, chị ấy lại chiềng ra trước mặt chồng, để anh ấy đe nẹt, xỉ vả:

- Anh nhìn thấy con muỗi đậu vào bát bột của con không? Nhà này đã lụn bại đến mức không sắm nổi cái chạn để bát bột vào hay sao? Vứt bát bột đấy, con bé ăn vào đi ỉa chảy, kiết lị thì chỉ một mình con này đau đớn khốn khổ chứ ai biết đấy là đâu.

Anh chồng quát:

- Ai để ra đấy hả?

Chị vợ lặng lẽ quay đi chỗ khác. Anh chồng gọi mẹ:

- Bà đâu rồi? Vào đây tôi nhờ một tí. Ai để bát bột của con bé cho ruồi bâu, kiến đậu thế kia?

- Đang ăn cháu nó bậy, tôi vội vàng phải vứt đấy rồi đi rửa cho cháu.

- Vội thế nào thì bà cũng phải đậy điệm vào rồi mới đi chứ. Quen cái thói ma mút ở nhà quê, ăn xó mó niêu.

Hay là:

- Đã bảo làm được thì làm, không để đấy, con này vẫn phải lo. Cùng lắm, bỏ ra vài chục bạc là có tất. Việc gì phải nhờ vả, mang ơn khổ sở thế này.

- Cái gì đấy?

- Mở to mắt nhìn vào cái phuy nước xem cái gì thì biết.

Anh chồng quát:

- Bà đâu rồi. Ai bảo bà xách nước trâu đầm trông khốn nạn thế?

- Thì vẫn hứng ở máy như mọi lần. Nằm nghe thấy máy chảy là phải vội vàng lẻn ra hứng để người khác khỏi tranh mất. Đêm tối, mắt mẹ có biết được nước trong hay nước đục. Thôi để nó lắng xuống xem. Nếu không ăn được mẹ sang giếng công đoàn mẹ gánh.

Hay là:

- Mấy hôm nay anh đã nghe thấy khu tập thể người ta nói gì chưa?

- Cái gì?

- Người ta bảo tôi là con thối thây chỉ có nằm ngửa mà ăn chơi đú đởn để hết mẹ chồng rồi đến chồng nai lưng ra hầu hạ.

- Ai nói kệ xác họ.

- Giá như thằng con nào nó ở ngoài thối mồm, kệ cha nhà nó. Đằng này, tự trong nhà thóc mách ra.

- Cô nói gì thế?

- Tôi nói, tôi đ… cần thằng nào con nào đến đây. Vừa tốn cơm, tốn của, vừa mang tiếng ác vào thân.

- Câm mồm đi, đồ vô văn hoá. Vô đạo đức.

- Tao vô văn hoá nhưng tao còn học hết đại học. Học trường Tuyên giáo có bằng cấp hẳn hoi nhé. Còn hơn cái thằng trưởng ty giao thông chỉ biết bịp người ta bằng cách gương mẫu lặn xuống sông. Có cái bằng đại học tại chức thì đổi bằng gà lợn, gạo nếp, đỗ xanh. Còn đạo đức à? Cái thằng xui vợ tố chú dượng ngủ với con dâu để được tách thành phần, được làm cốt cán. Đến sửa sai lại lấy cớ đó mà bỏ vợ để người ta phải phẫn uất treo cổ chết là đạo đức đấy hả?

- Tiên sư con đĩ, không câm họng đi, ông tống ra khỏi nhà.

- Tao thách đấy. Tao nói cho mà biết mặt nhá, không biết điều, cái chức trưởng ty ấy đừng hòng vào tỉnh uỷ nay mai đâu. Thường vụ "cấu tạo" và cái mác chiến trường để trốn cái tiếng giết vợ chỉ đánh lừa được ông Văn Yến thật thà. Con này mà nói toạc ra mọi chuyện thì mười ông Văn Yến cũng phải bỏ chạy để giữ lấy thân, không có con nuôi, cháu nuôi gì đâu nhá.

Bà Đất khóc âm thầm từ lúc nào, bây giờ chạy đến quỳ trước mặt con dâu, van lạy thề thốt:

- Lạy giời có bóng điện chứng giám, không đời nào mẹ lại đi nói chuyện nhà mình với ai. Thôi mẹ lạy con. Tha cho chồng con nó nóng nảy. Mẹ xin, mẹ xin...

Hiếu im lặng. Hiếu lại đành nuốt hận. Anh không ngờ con mẹ nó, mụ Nho, lại trả thù anh ghê gớm như vậy. Năm ngoái ở miền Nam ra anh và mụ về quê "đi lại" với nhau, mụ ấy bảo: "Con Hiền, anh còn nhớ nó không? Con bé học chạy ở Từ Sơn mà hồi sơ tán em bảo anh mang đường sữa và các thứ cho con đấy. Nó dạy học được ba năm thì bị khớp. Xin đi học xuất bản ở trường tuyên giáo. Bây giờ về làm thư viện tỉnh mình. Anh về đấy quan tâm giúp cháu. Em cứ giao hẳn nó cho thủ trưởng đấy". Không ngờ chỉ bốn tháng sau khi "thủ trưởng quan tâm" thì Hiền đã có mang và nhất định bắt anh phải cưới. Nếu không, cô ta sẽ báo cáo tổ chức và tự tử ngay tức khắc. Nhưng cưới thì Nho giết anh. Chính Hiền phải về nhà hàng chục ngày khóc lóc vừa van xin vừa doạ mẹ:

- Anh ấy đáng tuổi bố con thật nhưng con đã yêu hàng chục người, năm sáu lần phá thai rồi. Con thiết gì trẻ với già. Nếu mẹ cấm con, con chuẩn bị sẵn con dao đây rồi. Mẹ đâm vào bụng con cho hai mẹ con con chết một lúc rồi mẹ sẽ xỉ vả, chửi bới anh ấy.

Người mẹ cứng ra như chết. Nghe nói chị định đi tự tử mà giời rét quá. Ra khỏi cửa thấy lạnh run nên phải quay về mặc áo ấm. Mặc xong lại ngại không đi nữa.

Hiếu bí mật đăng kí xong, hai người "biệt tăm" một tháng. Tháng sau về Hà Nội bảo cưới ở quê. Về tỉnh bảo cưới ở Hà Nội.

Mụ Nho đã lôi hết "tung tích" của anh do sự thông minh của mụ tổng hợp các tin vặt ở quán nước nói lại với con để cản nó không được lấy "bồ" của mình. Đến khi con gái đẻ, mụ ấy vẫn từ mặt. Còn con gái mụ, con Hiền vợ anh, nó không thể trông cậy vào ai trong những ngày trở dạ và lúc con còn đỏ hon hỏn, nên nó mẹ mẹ con con vui vẻ với mẹ anh. Từ khi con bé biết lẫy, biết hóng chuyện có thể đem gửi nhà trẻ và chồng có thể thay mẹ giặt giũ cơm nước thì Hiền càng ngày càng khó chịu sự có mặt của bà. Hiếu biết điều đó hàng mấy tháng nay nhưng sợ mọi việc lại đổ hết lên đầu mình, nhất là lúc con ốm đau. Quan trọng hơn nữa là sợ mẹ cho rằng lúc cần anh bắt buộc bà lên ở với vợ chồng anh. Khi không cần lại đuổi mẹ về. Cho nên anh cứ lờ đi như không biết đến chuyện đó. Sáng nay mẹ anh nói ra, anh thấy trong người nhẹ hẳn. Song, anh vẫn nói với mẹ như có ý trì hoãn:

- Hãy khoan đợi xem thế nào đã.

Đợi đến tối, lúc vợ chồng vui vẻ anh hỏi vợ:

- Bà định về quê, ý em thế nào?

Cô xoay ngoắt người nói:

- Sao anh lại hỏi em!

- Thì vợ chồng phải thống nhất. Anh muốn bà ở đây thêm ít tháng nữa để con cứng cáp thêm mà em cũng đỡ vất vả.

- Tuỳ anh. Nhưng em nghĩ bà đã định, đừng nên trái ý bà. Vất vả thì vẫn ngần ấy việc. Thêm người, có thêm được việc gì đâu. Lại mang tiếng mẹ già phải hầu hạ.

Hai hôm sau, vào buổi sáng thứ bảy Hiếu mời bạn bè, quan chức ở tất cả các cơ quan xung quanh tỉnh đến uống nước để bà cụ chào mọi người, về dưới quê. Cả buổi sáng, hàng dăm bảy chục người thành mươi mười lăm đợt đến chào bà. Đợt nào bà cũng phải nói cái câu:

- Thôi thì các bác thông cảm cho tôi. Hai cháu thì nó cứ tha thiết bảo mẹ phải ở lại để có bà, có cháu nó vui vầy mà chúng con cũng có điều kiện chăm sóc mẹ. Nhưng tôi thì tôi cứ nhớ nhà quá, không ăn không ngủ được. Tôi xin các bác cho tôi về, dăm bữa nửa tháng lên với cháu tôi lại xin đến chào các bác.

Sau những lời can ngăn của bao nhiêu người bà vẫn nhất mực đòi về.

Hiền nói:

- Em xin báo cáo thật với các anh, bao nhiêu đêm em nói như van lạy cụ: Cháu nó cứng cáp đi nhà trẻ được rồi nhưng bà cứ ở lại đây với chúng con, với cháu. Cả đời bà cụ vất vả rồi bây giờ được lúc con cháu nó chăm sóc, trông nom, tại sao cụ lại cứ khăng khăng đòi về. Nhưng không tài nào lay chuyển được cụ em. Chúng em đành chịu. Mà thật lòng để cụ em về chúng em không thể nào yên tâm được.

Không biết bà cảm động quá hay nghĩ đến cái lúc đau đớn, xót xa mà nước mắt bà ướt đầm má đứa cháu bà đang bế trong tay. Bà vội vàng lấy vạt áo lau. Rồi nhớ ra điều gì bà lại vôi vàng tìm cái khăn riêng của cháu, nhúng nước sôi lau lại cho cháu. Bà cười cười mà khuôn mặt như méo đi, như đang cố kìm tiếng khóc bật ra.

Phần 4 - Chương 2

Sau đại hội đảng bộ tỉnh, vòng hai Hiếu trúng thường vụ tỉnh uỷ được bố trí về làm bí thư huyện uỷ, huyện "điểm". Vốn là người năng động nhạy bén lại được tham quan 27 ngày ở nước bạn, anh đã hình thành sẵn một huyện làm ăn lớn ở trong đầu như mô hình của bạn. Một liên hiệp công nông sản xuất theo chu trình khép kín quy mô toàn huyện. Với 19 vạn dân trong 45 ngàn héc ta đất tự nhiên và một cơ sở vật chất kiệt quệ anh chắc sẽ gặp khó khăn lớn lắm. Phải có mấy trăm xe vận tải cơ giới trong khi toàn huyện chỉ toàn xe bò. Phải có dăm bảy nhà máy sản xuất thành hàng hoá những sản phẩm làm ra trong khi không có một đồng vốn, một công nhân. Rồi phải có cả máy bay đi phun thuốc trừ sâu trong khi thường xuyên có hai vạn dân phải đi cứu đói từ bốn đến sáu tháng trong một năm. Số còn lại thì quá nửa bữa đói, bừa no. Phải có hàng triệu ki lô oát/giờ điện với hàng chục tỉ tiền vốn trong khi không có nhà nào có đủ năng lực (hoặc không bao giờ nghĩ đến) mua dầu thắp đèn ngoài tem phiếu. Phải có hàng trăm ki lô mét đường nhựa (chưa kể phải có sân bay và đường băng), trong khi mới chỉ có dăm cây số đường trải sỏi. Phải có... phải có khoản nào cũng hàng tỉ, hàng trăm tỉ. Trước mắt phải có 21 tỉ rưỡi để xây dựng bệnh viện đa khoa, làm nhà văn hoá, xây thêm trường cấp ba, hệ thống thuỷ nông cấp thoát nước, vài chục trạm tưới tiêu, xây dựng trạm biến thế và lưới điện, hàng chục con đường cấp phối liên thôn, liên xã trong khi vốn nhà nước tỉnh cấp 0,22 tỷ bằng 220 triệu và huyện chắt chiu từ hàng chục năm nay được 80 triệu tổng cộng bằng 0,3 tỷ. Nhưng không sao, kinh nghiệm ở xã và những năm ở chiến trường cho anh một kết luận: chỉ cần nhiệt tình là có tất. Có những việc tày trời hàng trăm năm không ai làm được nhưng có nhiệt tình làm, có tinh thần thì chỉ làm trong một vài năm, thậm chí chỉ vài ba tháng. Khi đã có nhiệt tình lớn, quyết tâm cao, ta làm kế hạch báo cáo lên trên. Tỉnh đã quyết tâm xây dựng huyện thành mô hình kiểu mẫu làm ăn lớn, bằng giá nào cũng phải tập trung mọi cố gắng để làm cho kì được.

Một ý định đã có sẵn trong đầu lại tin vào khả năng giao dịch đầy thuyết phục của mình, chỉ sau ba tháng về huyện anh đã huy động được toàn bộ 6000 người ăn lương nhà nước ở tất cả ngành giới của huyện và các nhà máy, xí nghiệp, các trường học thuộc trung ương và tỉnh đóng trên địa bàn huyện tham gia công cuộc cải tạo, phát triển nền kinh tế lớn của huyện. Toàn bộ công việc được chia thành hai khối lớn. Khối một: gồm tất cả những nhà tri thức, các cán bộ kĩ thuật và chuyên môn tập trung nằm bò ra ở hội trường huyện uỷ, uỷ ban để tính toán thiết kế các sơ đồ quy hoạch cho một viễn cảnh 5 đến 10 năm tới.

Trên hệ thống sơ đồ của huyện hiện tại được thống kê rất đầy đủ các số liệu toàn bộ cuộc sống xã hội trên tất cả mọi lĩnh vực. Có lẽ quán triệt ý định của bí thư phải làm nổi bật lên viễn cảnh tương lai, hay thực chất nó là thế, mà những con số so sánh về mọi mặt nó chỉ bằng hoặc kém hơn hồi chết đói năm 1945. Chẳng hạn một lao động chính làm quần quật hai sương một nắng từ sáng sớm đến tối nhọ mặt người bình quân giá trị ngày công chỉ mua được bốn phần 10 que kem, nghĩa là đi cày bừa, cuốc đất ròng rã hai ngày rưỡi trời mới được một que kem. Được cái, nông dân không mấy ăn kem và bằng cách nào đó nhiều người vẫn sống đàng hoàng với sập gụ, tủ chè, xe đạp, ra đi ô, xây nhà, xây sân nên không mấy ai xúc động về những con số "đói khổ". Ngay cả những người quần đụp, nón mê, quanh năm không đủ khoai và dong riềng để ăn, cũng không thấy khổ sở lắm, không cần để ý đến giá trị ngày công, cũng không thấy cần thiết phải thay đổi làm gì. Còn những sơ đồ tương lai, sau khi đã xây dựng thành công thì hấp dẫn tệ. Dù người mù chỉ nghe nói, người điếc chỉ biết xem, đều biết chỗ nào là nhà máy chế biến thức ăn gia súc, nhà máy đay, nhà máy dệt, nhà máy làm chuối hộp, nhà máy làm tinh dầu (Hiện nay chưa có cơ sở nào từng lấy hồi, kinh giới, tía tô nhưng rồi sẽ phân công cho các xã tổ chức làm), nhà máy xay sát, nhà máy đóng hộp thịt lợn, thịt gà, thịt vịt thịt ngỗng xuất khẩu. Ở vùng này về độ tháng tám, tháng chín hàng năm có hàng triệu con cò bay về làm tổ đẻ trứng. Có thể ta bắt cò làm thịt đóng hộp xuất khẩu, là sản phẩm đặc biệt của huyện này mà cả thế giới chưa chắc đâu đã có. Nếu ăn khách ta xây dựng thêm nhà máy chuyên sản xuất thịt cò xuất khẩu theo một dây chuyền hiện đại từ A đến Z, nghĩa là từ khâu nhử cò về đây bằng âm thanh và ánh sáng, rồi nuôi, rồi bắt, rồi làm thịt đóng hộp đều bằng máy móc hiện đại điều khiển tự động. Các nhà máy xây lên để làm việc, chứ không phải để báo cáo thành tích nên nhà máy nào cũng phải có tí khói bay lên. Những con đường xe nối đuôi nhau cũng phải thể hiện "ngựa xe như nước". Máy bay trực thăng đang phun thuốc trừ sâu ở cánh đồng nào? Ca nô tàu thuỷ bốc dỡ hàng ở những đâu? Chỗ nào là những bể nước khổng lồ phân phối nước cho những hệ thống tưới tiêu ngầm. Những tấm thảm màu xanh tương lai hi vọng cứ là cò bay gãy cả cành.

Trong khi khối một thiết kế quy hoạch, vẽ sơ đồ thì khối hai gồm tất cả các cơ quan thuộc hệ thống tuyên huấn, thông tin văn hoá, các đoàn thể và sinh viên học sinh, công nhân sưu tầm tài liệu tổ chức học tập cổ động bằng mọi hình thức ở tất cả mọi chỗ, mọi nơi. Tổ chức viết bài cho toà soạn "Bay lên" và Đài phát thanh "huyện ta". Làm sao cả bề nổi bề chìm, bề rộng, bề sâu đều "đồng thời" tạo nên một khí thế mới, cổ vũ toàn dân một lòng tin tưởng tự hào hăng hái quyết tâm, phấn khởi phơi phới, tiến lên chiếm lĩnh đỉnh cao khoa học kĩ thuật biến huyện nhà từ một nơi nghèo nàn lạc hậu thành tươi đẹp ấm no, giàu mạnh toàn diện, tiêu biểu cho sức mạnh sáng tạo nhất tỉnh nhà (chắc chắn là nhất cả toàn quốc nhưng bà con ta vốn khiêm tốn hay cứ nói thế cái đã), 38 chiếc loa miệng như những cái chảo lớn được ty thông tin "tăng cường" mắc cho 36 xã và thị trấn. Đài truyền thanh "huyện ta" cách đây bốn năm khi có nhân viên vừa lên máy nói: "Đây là đài truyền hình huyện ta" thì từ những chiếc loa phát đi trong toàn huyện có tiếng ồm ồm của người đàn ông: "Không luộc lên, thiu bố nó rồi". Từ đây người ta gọi đài truyền thanh "huyện ta" là đài "thiu bố nó rồi" mở từ sáng sớm đến hết giờ đài Hà Nội. Bài viết về những gương dũng cảm, tận tuỵ, sáng tạo mày mò ở các nơi rồi nghị quyết, chỉ thị, lời kêu gọi của huyện uỷ, uỷ ban các ngành, các giới cứ là hừng hực. Có lẽ từ ngày cải cách đến giờ mới lại có sự chỉ đạo tập trung thống nhất từng ngày, từng giờ một cách rầm rộ đến thế.

Ông già mù quơ cây gậy ra phía trước để chuẩn bị một bước chân sẽ bước lên. Rồi lại lẩy bẩy cây gậy lò dò trong khi hai khoé môi cứ nhếch lên như cười rồi nhanh chóng mím lại nghiêm trang, đưa bàn chân run run đặt vào chỗ cây gậy vừa nhấc lên tiến về phía trước. Những bà còng mỏi chân ngồi xuống, tí nữa bị hàng "quân" xô bẹp. Những đứa trẻ cõng em mũi thò lò chen chúc xô đẩy, chửi bới om sòm chí choé... Đoàn quân từ cụ già đến trẻ con "ra trận" hăm hở vào một buổi sáng chủ nhật. Ai cũng có trong tay một thứ gì đó như là xẻng, cuốc, dao thuổng, rổ, sọt, đứng thành hàng, xã nọ nối xã kia ngang dọc, nghìn nghịt người đứng dưới 1850 mét vải được huyện chia đều cho các xã làm băng cờ, khẩu hiệu đỏ thắm rợp trời!

Chả còn mấy chốc nữa giây phút trang nghiêm sẽ đến. Nghĩa là khi "tình bằng có cái trống cơm" phát ra từ cái loa câm bặt, tiếng trống cà rùng, tiếng hô khẩu hiệu của trẻ con dừng lại. Rồi tiếng ọ ẹ phát ra... Vài giây sau mới thấy tiếng hô nghiêm kéo dài và rất to. Sau chào cờ là ông Hiếu bí thư "kính thưa" ngay. Phải năm, sáu lần "kính thưa" chạy rào rào trên ngọn cây, vị tổng chỉ huy Lưu Minh Hiếu mới đọc mệnh lệnh ra quân:

- Toàn huyện là một công trường, toàn huyện là một mặt trận. Chiến trường của chiến sĩ hôm nay là mảnh đất quê hương thân yêu mình đang sống. Kẻ thù của chúng ta hôm nay là nghèo nàn lạc hậu, là thiên tai hạn hán, là úng lụt gió bão, là thiếu nhiệt tình cách mạng, thiếu ý chí tiến công. Tôi kêu gọi toàn đảng, toàn dân huyện nhà hãy dũng cảm, tấn công vào kẻ thù nghèo nàn lạc hậu, tấn công vào gió, bão, tấn công vào nắng, vào mưa bắt chúng phải khuất phục, bắt chúng phải đầu hàng để chúng ta chiếm lĩnh đỉnh cao chói lọi trên mặt trận ấm no hạnh phúc. Đồng bào và đồng chí có quyết tâm không?

Dân chúng từng xã đứng lên "trận địa" của xã mình, không trông thấy người nói tại cuộc mít tinh ở thị trấn nhưng do được phổ biến tập dượt trước cho nên xã nào cũng gào lên rất to ba lần "quyết tâm" đáp lại câu hỏi ở những cái loa treo trên ngọn cây. Chiến dịch ra quân đầu tiên này là mở những con đường liên thông, liên xã ngang dọc trong toàn huyện. Tổng cộng các đường liên xã làm cho ô tô đi là 85 ki lô mét và hàng trăm ki lô mét đường liên thôn cũng phải đắp đủ năm mét rưỡi trên mặt để ô tô đi. Trung bình mỗi xã phải làm năm ki lô mét. Rồi sẽ rải đá và rải nhựa. Cạnh đường là mương dẫn nước, mai kia sẽ đặt hệ thống cống ngầm, sẽ có cột điện cao thế, tức là điện khí hoá hoàn toàn. Tất cả bảy con đường liên xã đều phải thẳng như kẻ chỉ. Công trình hiện đại, làm ăn lớn không thể manh mún. Tất cả đền chùa miếu mạo, nhà cửa chợ búa và vân vân. Ở đâu chạm vào đường đi đã được vẽ và thông qua ở hội trường huyện đều phải phá dỡ, di chuyển. Ai chống lại, dân quân và công an bắt giải lên huyện và cứ phá dỡ để "giải phóng" mặt bằng. Theo thống kê chưa đầy đủ, đến 18 giờ ngày hôm qua đã có 912 trên tổng số 1327 nóc nhà đã phá dỡ di chuyển. 14 trong số 15 đình chùa cũng đã phá xong. Theo báo cáo của các cơ quan có trách nhiệm tại buổi tổng duyệt lúc 23 giờ 7 phút ngày hôm qua thì tất cả đều hăng hái phấn khởi, chỉ có 17 trường hợp ngoan cố không đi, có tên lăn ra nền nhà kêu gào. Lực lượng bảo vệ đã kiên quyết cưỡng bức, thậm chí có trường hợp phải vác họ đi hoặc trói lại đưa về huyện. Số hộ còn lại trước khí thế tiến công của chúng ta ngày mai sẽ phải giải quyết gọn 100 phần trăm. Nghe chủ tịch huyện, phó tổng chỉ huy thứ nhất trực tiếp làm trưởng ban giải phóng mặt bằng báo cáo. Hiếu nghĩ bụng "Nói phét. 100 phần trăm dân chúng mếu máo. Quá nửa số phải dỡ nhà nằm lăn kềnh ra kêu gào than khóc, có chỗ nó còn chửi và đánh lại, dân quân phải bắt hàng trăm người giam ở nhà truyền thống!" Phải lên tỉnh họp thường vụ, nhưng anh vẫn biết hết. Anh đã lường trước mọi chuyện nên toàn bộ lệnh phá nhà, bắt người và những phức tạp khác toàn quyền chủ tịch huyện với tư cách chính quyền quyết định. Nếu khó quá thì xin ý kiến tập thể thường vụ do phó bí thư trực chủ trì. Nói tóm lại. Anh sẽ thúc rất mạnh cho họ làm. Tất cả mọi ý định táo bạo của anh cũng đều có tập thể thường vụ thậm chí cả toàn ban huyện uỷ thông qua và chịu trách nhiệm. Bí thư nói:

- Sẽ vô cùng gian khổ, vô cùng phức tạp như tất cả mọi cuộc cách mạng lớn đều phải có sự hi sinh lớn. Khó khăn càng lớn, vất vả càng nhiều thì ý nghĩa thắng lợi càng sâu sắc lớn lao. Có thể nói việc giải phóng mặt bằng của chúng ta đã cơ bản hoàn thành với khí thế phấn khởi vui mừng và nguyện vọng thiết tha của toàn dân bao đời còn chìm ngập, đến nay chúng ta đã khơi dậy cho nó bùng lên tạo thành sức mạnh ghê gớm. Chỉ qua những ngày chuẩn bị chúng ta đã thấy cái sức mạnh ấy nó ghê gớm như thế nào. Tôi tin là buổi ra quân ngày mai nhất định sẽ bắt đầu một thời kì mới.

Anh biết rằng nông dân được chi ba ngày công cho buổi "ra quân", học sinh được cộng điểm đạo đức, cán bộ được 5 đồng ăn trưa, công nhân ở xí nghiệp trung ương được bồi dưỡng "ca ba", và rất nhiều biện pháp hành chính, nếu cần phải dùng cả lệnh cưỡng bức thì người chạy đi đâu mà không đông đảo, khí thế. Ngừng lại, nhìn mọi người rồi anh tiếp. – Nhất định chúng ta sẽ đóng một dấu son đỏ chót vào lịch sử xây dựng của huyện nhà. Lịch sử đã chọn chúng ta, giao phó cho chúng ta nhiệm vụ trọng đại, chúng ta kiên quyết làm người lính tiên phong trên mặt trận mới tiến công vào...

Sáng hôm sau, mít tinh nửa giờ xong, chủ tịch huyện, trưởng công an, viện trưởng viện kiểm sát, chánh án toà án có công an, dân quân, bộ đội "hộ tống" chia nhau trên các loại xe to nhỏ, súng ống tua tủa ra lệnh, bắt người đập phá để giải phóng nốt mặt bằng. Bí thư huyện uỷ một mình đạp xe đạp tránh những nơi đó, ông xắn quần, mặc áo "ba lỗ" bốc bùn ở chỗ các cơ quan tỉnh, trung ương và huyện. Sau rồi cứ để nguyên người ngợm lem luốc như thế đến vác đất đắp đường ở một vài xã "to mồm" và bốc phét nhất như Bái Trung, Phù Hoa. Ở đâu, bí thư cũng giữ nguyên nụ cười thường trực và nắm tay, ôm chầm lấy những thanh niên, phụ lão đào mai, bốc đất mò. Còn những người ở xa quá anh giơ hai tay của mình nắm thật chặt vào nhau như là một tay thì của anh, tay kia là của hàng trăm hàng nghìn bà con khiến ai cũng có cảm giác bí thư đang nắm lấy tay mình. Có chỗ anh còn lội xuống nước, ngập đến ngang người để thấy hết khó khăn của những người lao động vất vả. Bao nhiêu máy ghi âm, máy ảnh, máy quay phim và các phóng viên lăm lăm sổ tay mở sẵn xô nhau quây lấy quay, chụp và phỏng vấn và anh rất tươi cười trả lời tất cả mọi câu hỏi một cách thông minh và hóm.

- Rất là ấn tượng. Báo cáo anh, ấn tượng lắm ạ – Chánh văn phòng huyện uỷ đi cùng với trưởng phòng thông tin văn hoá đến bên nói. Bí thư đột ngột hỏi lại:

- Cái gì?

- Báo cáo anh, chỗ nào bà con cũng rất cảm động về sự sâu sát, ân tình của bí thư. Ấn tượng về buổi sáng nay rất mạnh và sâu sắc.

Biết thừa anh ta nịnh, bí thư vẫn tủm tỉm cười hỏi lại:

- Họ nói thế nào?

- Họ bảo không những bí thư có tầm nhìn xa rộng, có lí luận sâu sắc, còn có tác phong miệng nói, tay làm, hoà mình với quần chúng. Đúng là ấn tượng ghê lắm.

- Thời buổi này mà lí luận suông, chỉ tay năm ngón thì chỉ được những báo cáo rất dài và phong phú nhiều mặt.

- Báo cáo bí thư, hai mươi năm công tác ở văn phòng huyện uỷ tôi cũng đã có kinh nghiệm về chuyện này. Cho đến hôm nay thực sự không thể nghi ngờ quần chúng lại tự nguyện lao vào cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật một cách phấn khởi, hào hùng hơn cả đi hội.

Hội hè cái con khỉ. Bầy ra bao nhiêu trò động viên giáo dục, khích lệ và bỏ ra mấy trăm triệu chi phí mới được như thế. Dân chúng bây giờ khôn như ranh, có ai mơ màng ngây thơ gì nữa mà vui được như hội. Chỉ quen cái thói lựa theo ý thủ trưởng là không ai bằng. Bí thư chỉ lim dim mắt như là lắng nghe và nghĩ chứ ông không nói ra. Nói ra làm gì! Phản đối cậu ta thì phản đối tất và phản đối ngay cả mình. Thời buổi bây giờ thằng nào làm được việc cũng đều biết cách dối mình và dối cấp trên, nói dối dân chúng. Chả cứ gì cấp trên, ngay dân chúng cũng ưa nịnh, thích được tâng bốc, thích làm ít, khen nhiều. Chính sách (đa dương, thiểu bình) của cụ Văn Yến là tuyệt vời. Một lời khen sai còn hơn mười lời chê đúng. Khen thì bao nhiêu cũng ít. Nói hơi sường sượng một tí vẫn thấy thinh thích. Còn chê? Nhất là cấp trên bị chê thì một lời nhẹ như bấc cũng nặng bằng cối đá tảng. Các cối đá tảng ấy không bao giờ cấp trên nuốt vào bụng được nên buộc nó phải lăn đi. Lăn ngay vào đầu thằng chê. Đã định "phấn đấu" mà còn đi chê cấp trên, nhất là cấp trên quyết định sinh mệnh của mình, có là thằng đại ngu. Cho nên, chỉ có các cụ về hưu mới tích cực đấu tranh, phê và tự phê, người đương chức, nhất là người không có nghề gì ngoài nghề "công tác" trong biên chế nhà nước, mấy ai họ dại.
° ° °


Cái khí thế tự hào phấn khởi nó đang bừng bừng như lửa cháy, bọn địch đã công khai phá hoại trắng trợn, nếu không "cứng" là phong trào ỉu như bánh đa nước. Mất ngay với chúng chứ chả đùa. Nạc xã đội trưởng, phó tư lệnh chiến dịch trực tiếp điều "quân" và chỉ huy như chức trách của một tham mưu trưởng. Suốt từ đêm qua anh cùng thường vụ đảng uỷ, thường trực uỷ ban, công an, phải họp bàn để bố trí với chúng và củng cố tinh thần cho dân không ai chợp mắt. Sớm ra hô hào, đốc thúc các đơn vị ra quân xong lại phải đạp xe lên huyện tìm Hiếu. Không ai biết anh đến điểm nào nên tìm mãi đến trưa anh đành quay về thì gặp Hiếu cũng đạp xe xuống dốc đê.

Trông mặt mũi Nạc hốc hác, hớt hơ hớt hải và rất nghiêm trọng, Hiếu hỏi:

- Lại chuyện gì xảy ra?

Nạc như dỗi, mặt mũi lầm lầm phải nén sự bực bội đang muốn trào túa ra rồi mới trả lời Hiếu:

- Chính con bé nhà chú, nó làm tôi bẽ mặt. Tí nữa nó phá tan hết phong trào. Nửa đêm qua, cả đảng uỷ, uỷ ban định kéo lên huyện. Tôi phải thuyết phục mãi họ mới chịu chia nhau đi vừa vận động vừa dùng biện pháp cứng rắn thì sáng nay mới "ra quân" được đấy.

- Chính con Huyền?

- Nó làm, nhưng âm mưu là những thằng khác.

- Nó về bao giờ?

- Đi thực tập từ một tuần nay ở tỉnh rồi về huyện. Huyện bận tập trung chiến dịch, phòng giáo dục cho chúng nó nghỉ tạm về nhà mấy ngày.

- Con Huyền liên quan gì đến chiến dịch?

- Nó tuyên truyền không công cho địch. Tối qua toàn xã "ra quân" thử, chúng đã kéo đến và con Huyền đã nói bô bô ở giữa sân miếu Cuội là làng này không nên lấp đầm ông Cuội. Làm thế thì có khác gì lấp hết những kỉ niệm, những nhu cầu từ tổ tiên ông cha để lại. Bao giờ có nước máy, có nhà tắm sẽ hay. Bây giờ nhân dân cả xã tắm rửa, giặt giũ ở đây sao lại đem "lấp". Nó lại bảo tại sao lần này nó về quê cứ như vào một trại lính. Toàn xã ai ai mở mồm ra cũng "chiến dịch", "ra quân", "trận đánh", "tiến công", "xung phong", "đầu hàng", nghe cứ rợn cả người. Vùng ta định biến xã hội này thành trại lính. Lúc ấy tôi lại đang trao đổi với bí thư ở trong nhà, anh ấy không biết. Nếu không, tôi đã gô cổ nó, cho người lôi về nhà, còn anh em khác ở đấy ai cũng ngại nó là con chú. Nguy hiểm ở chỗ nó nói, mọi người lại xúm vào nghe. Có người vô ý thức còn hét lên "cô Huyền nói hay quá. Cứ nói nữa đi cho bà con mở mang ra". Tôi nghĩ là con này quan hệ lăng nhăng bừa bãi có khi bọn địch lợi dụng làm cái loa tuyên truyền không công cho nó mà ta không cảnh giác. Đêm qua tôi đã cho lệnh bắt trói tống giam 5 tên.

- Những đứa nào?

- Một thằng dạy ở trường đại học chỗ con Huyền có họ hàng gì với chi nhánh nhà vợ tổng Bạt và thằng Tịnh em trai nhà Bạt đi bộ đội về làm gì ở trên Hà Nội. Thằng thứ ba là vệ sĩ hay lực sĩ gì đấy. Thấy bảo vẫn hát ở trên đài. Còn hai thằng kia thì một là nhà thơ một thằng là châm cứu lí luận, chúng nó đều ở trong nhà thằng Tịnh.

- Bắt chúng nó về tội gì?

- Phát ngôn rất bừa bãi. Chính chúng nó có vẻ cổ vũ xúi giục con Huyền nói bậy. Ăn chơi trác táng bậy bạ. Gần mười giờ đêm còn hò hát tán tỉnh cười đùa. Thằng nhà thơ lại đọc thơ của tay Nguyễn Du nào đấy làm thơ ca ngợi con gái dám trèo tường đi quan hệ bất chính. Nghe rất uỷ mị sướt mướt có tính chất khêu gợi chuyện nam nữ lăng nhăng. Hành động của chúng không những sặc mùi phản động mà còn phá hoại tinh thần và ý chí của hàng mấy chục nam nữ thanh niên ngồi nghe. Nếu không ngăn chúng lại thì những anh chị em đó sáng nay không thể "ra quân" được. Vừa tháng trước chú phổ biến phải cảnh giác với bọn trí thức trí ngủ gì đấy nên khi nghe nói đám này đích thị là trí thức tôi phải cho người bám sát theo dõi ngay. Bắt quả tang lúc chúng đang hát hỏng thơ ca hò vè phản động.

Hiếu nghe vừa muốn bật cười, vừa xấu hổ vì ông anh lớp ba này. Cả tức giận nữa. Khốn khổ ở chỗ, trình độ như thế đã là loại "át" chủ bài của lớp cán bộ được ra đời (từ sau cải cách và sửa sai của xã này) nên anh ấy đã lên lớp giảng bài cho hàng nghìn lượt người của xã về văn hoá tư tưởng về quân sự chính trị, về chủ trương của ta âm mưu của địch. Chuyện gì cũng biết, chuyện gì cũng bàn, cũng "lên lớp" được. Cuối năm 1970 anh ấy đã từng duyệt sách, duyệt nhạc, duyệt tranh, duyệt thơ văn của các nhà văn nhà báo, nhạc sĩ, hoạ sĩ. Viết, vẽ cho xã một quyển đủ tất cả các loại "truyền thống" để xã đi duyệt và cho in. Cái ông "chủ biên" có tên bằng chữ in hẳn hoi ấy lại đi bắt người đọc thơ của Nguyễn Du tác giả truyện Kiều và đề nghị "chú xem tay Nguyễn Du nó công tác ở đâu nên có công văn của huyện uỷ đề nghị trên xử lí tay này không có nguy hiểm lắm". Lại khốn khổ ở chỗ không có những người như ông ấy thì mọi việc ở xã này lại không xong.

Hiếu buồn bã nén một hơi thở mệt mỏi bảo:

- Anh đi mời tất cả các anh em thường vụ về đây.

Ông anh họ lại tất bật một cách nghiêm trọng đạp xe đi. Đúng là con người "chỉ đâu đánh đấy", trung thành tuyệt đối. Hiếu ngồi bệt xuống bệ cỏ. Giá không có người qua lại anh đã ngả người xuống vệ đường cho giãn xương cốt và đỡ căng thẳng, rã rời.

Tất cả mấu chốt để "chữa cháy" những việc đã xảy ra ở xã không khó khăn gì. Làm sao để các "bố" ấy khỏi nhụt chí, "mất khí thế" là được. Nỗi tức giận và giằng xé trồi cộm lên đến tận cổ là chuyện con gái anh. Vừa nghe chuyện nó anh đã muốn lao về nhà túm tóc, tát cho nó tối mặt lại mới hả. Nhưng anh cảm thấy bất lực chính từ mụ vợ anh. Mụ vợ, như một con ma ám ảnh trong tất cả mọi việc. Chuyện con gái anh, mụ ấy yêu cầu hai điều:

Thứ nhất: Pháp luật đã quy định nộp năm đồng một tháng nuôi con khi nó chưa trưởng thành.

Bây giờ nó đã quá mười tám tuổi, nhưng nếu xin tôi vẫn cho cái năm đồng ấy. Không thì thôi. Chín sáu đồng tiền lương của anh cũng không đủ nuôi con anh theo "giá ngoài" đâu, đừng sợ phải nuôi tôi. Nên tôi cứ dứt điểm trừ cho anh ăn tiêu mỗi tháng mười lăm đồng. Ăn cơm tập thể tháng có mười ba đồng, tôi cứ để anh tiêu cả mười lăm. Còn lại phải minh bạch sòng phẳng. Nếu mẹ anh ở đây tôi cũng phải nuôi đàng hoàng. Nếu cụ không thích ở đây, cái tiền vẫn nộp cho con Huyền chuyển sang cho cụ.

Thứ hai: Trước đây anh chửi mắng đánh đập con anh thế nào thì tuỳ. Bây giờ tôi yêu cầu anh không được đánh đập, mắng mỏ nó.

Tưởng vợ thương đứa con riêng của mình, anh phản đối:

- Nó mà hư thì phải dạy bảo giáo dục.

Cô ta hầm hầm bỏ đi. Dăm bảy ngày sau nhân lúc vợ chồng to tiếng, cô ta mới nói toẹt ra:

- Tôi bảo anh đừng đánh mắng con anh là để tôi khỏi mang tiếng dì ghẻ xui bố chửi mắng con chồng. Nhưng tôi cũng để xem thái độ của anh ra sao. Tôi hỏi anh, nếu một kẻ ở ngoài đường nó làm việc gì xấu anh có dám mắng chửi nó không.

- Nhưng nó là con tôi chứ không phải là kẻ qua đường.

- Là con, nhưng nó đủ suy nghĩ để quyết định đời nó, anh không việc gì cứ phải chạy theo lo toan dạy dỗ. Anh còn lo lắng đến con riêng của anh tức là anh không còn thì giờ, tình cảm để "tất cả" cho con như mồm anh vẫn xoen xoét nói với tôi. Anh còn nhớ không?

Phần 4 - Chương 4

Những chuyện tình cuối cùng
Anh mặc bộ pi-ja-ma màu nâu, đội mũ lá, đi dép cao su. Vừa ở xã Tây Kết lững thững đi ra đường nhựa lên tỉnh. Tính anh thích đi bộ và hay ngồi ở quán nước. Trời chưa tối hẳn, mọi người còn trông rõ khuôn mặt dầu dãi vất vả của anh. Nó có dáng dấp của ông lão chăn vịt vừa lùa chúng vào dàng, ra ngồi khểnh ở quán làm tợp rượu. Một người đàn ông chừng trên dưới 40 tuổi ngồi ở ghế đối diện. Anh ta ngước mắt nhìn lên, rồi hơi cúi, cố che giấu một nụ cười. Có lẽ cảm thấy cử chỉ của mình có phần thiếu lịch sự, mặt anh hơi đỏ lên. Vốn có tác phong quần chúng, bao giờ Hiếu cũng chủ động bắt chuyện với người mới gặp. Anh hỏi người kia:

- Chắc anh chờ xe lên Hà Nội?

- Từ giờ đến tối còn chuyến nào nữa không bác?

- Nếu bình thường, khoảng hơn tiếng nữa còn chuyến cuối.

Im lặng vẻ sốt ruột. Rồi anh ta lại hơi cúi quên cả câu "cảm ơn". Một lúc, anh ta ngẩng lên với chiếc điếu cày, vỗ vỗ cho xái thuốc bật ra, đột ngột nói:

- Bác có điều không hay sắp xảy ra.

- Tôi?

- Ngay trong đêm nay. Xem nào. Đúng rồi, chuyện nó phải xảy ra trước sáng ngày mai.

- Chắc là có mấy đồng tiền lẻ trong túi bị móc?

- Nghiêm chỉnh. Việc hệ trọng xảy ra trong gia đình nhà bác, có thể dẫn đến sự tan vỡ.

Anh bắt đầu thấy chột dạ. Thằng con thứ hai của anh mới được ba tuổi đi kiết lị đã nửa tháng nay. Anh đã phải cấp tốc đưa mẹ lên bệnh viện tỉnh trông con đỡ cho vợ đi làm. Anh gọi điện cho bệnh viện và nghe anh em các cơ quan đi thăm cháu về đều bảo đã biến chuyển tốt. Người kia từ từ nhả khói thuốc và mơ màng nhìn theo cái bối khói đang tan ra. Anh sốt ruột hỏi:

- Chuyện gì, anh có thể biết được không?

- Biết.

- Chắc là chuyện các cháu?

- Không. Thằng con thứ hai của bác bị trong vòng mười ngày nay rồi. Bà cụ nhà bác đang ở đấy. Cứ ở đấy rồi sẽ khỏi. Đây là chuyện tình cảm của bác gái nhà ta.

- Vợ tôi?

- Có một người tình cũ vốn là bạn của bác đêm nay lại trở lại ân ái với bà nhà.

- Anh nói cái gì thế?

- Nếu những điều tôi nó từ nãy đến giờ không đúng xin bác bỏ qua và coi như không có chuyện gì.

- À, không không. Tôi xin lỗi anh. Anh cứ tiếp cho. Tôi thấy tại sao... nó lại đúng cả. Xin anh có thể nói qua về người đó được không?

- Người đó hào hoa hơn bác. Ăn nói dịu dàng và rất biết chiều đàn bà. Vào loại "mày râu nhẵn nhụi..."

Ai? Võ hay Phiên, Tịnh hay Phát? Trong hàng chục người tình của cô ta có đến quá nửa vẫn là bạn của anh và thằng nào ăn nói chả lịch sự, dịu dàng, rất biết chiều chuộng. Nhưng ở gần cô ta bây giờ chỉ có Phiên là thư kí khoa học của cơ quan cô ta mà những người làm khoa học thực sự bảo nó là con chó dái đeo cái bằng phó tiến sĩ ở cổ nên ngoài luận cứ về... đàn bà nó có biết gì đâu. Đã có lần qua cánh cửa khép vội anh bắt gặp Phiên ghì riệt lấy vợ anh ở trong phòng làm việc. Khi anh gõ cửa bước vào, hai người mới chỉ kịp buông tay ra, hai cơ thể cứng đờ đang sát lại và vành môi cô ấy còn hằn vệt răng đỏ lựng. Nhưng vợ anh bảo: "Em đang thắc mắc với hắn tại sao lại bắt em làm thêm phần tư liệu tiếng Nga?". Về đến nhà, anh hỏi vợ:

- Sao môi em lại có vết răng?

- Tôi tự cắn vào môi tôi để đỡ khô đấy. Thắc mắc gì!

- Em giỏi thật. Răng mình tự cắn được lên sát mũi mình thì em đi làm trò ảo thuật tốt quá.

- Này, tôi nói cho mà biết nhá. Nó chỉ đáng tuổi em của tôi đấy. Đi thắc mắc với một thằng trẻ con không biết nhục. Đồ đê tiện, hèn mạt. Quen thói bậy bạ lăng nhăng, tưởng ai cũng lăng nhăng bậy bạ như mình. Thế mà cũng là bí thư với tỉnh uỷ?

Thằng phó tiến sĩ "chó dái" ấy "mắt sâu, râu rậm" mà áo quần cũng chẳng "bảnh bao". Cốt cách nói năng dịu dàng, biết chiều chuộng đàn bà và "mày râu nhẵn nhụi" ấy là của Võ. Nhưng đã ba năm nay mình không gặp hắn và vợ mình có quen thuộc gì hắn đâu? Hắn đang làm việc ở Hà Nội, cũng là phó tiến sĩ kinh tế học ở nước ngoài về. Một phụ nữ làm ở vụ tuyên huấn cùng bộ vốn táo tợn bảo: "Một con bò dắt qua biên giới rồi quay lại trở thành phó tiến sĩ Võ ở bộ ta". Nhưng là người luồn lọt giỏi, anh ta vẫn làm viện phó viện nghiên cứu của bộ. Khả năng nổi trội nhất, như là bẩm sinh, như là sức mạnh của ông cha truyền lại cho hắn là tài ghẹo gái nhanh như chớp. Từ giọng nói ẽo ợt, dáng đi điệu đà cho đến mọi cử chỉ đều rất "cải lương" rẻ tiền, gượng gượng, giả giả, không thể chấp nhận ở người đàn ông. Khốn khổ cho những con đàn bà như vợ anh luôn luôn chứng tỏ là người sâu sắc, từng trải, tưởng có thể nhìn thấy tận "tim đen" của mọi thằng đàn ông và cái bộ mặt lạnh, rất cao ngạo, coi thường tất cả bọn đàn ông, khinh bỉ sự tầm thường của nó thì lại rất thèm được đàn ông biết giả vờ phỉnh nịnh, ve vuốt, tỏ lòng trân trọng mình. Anh biết Võ qua một nhà báo chuyên viết về ngành lâm nghiệp. Lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng anh đi với nhà báo đến nhà Võ trong một khu tập thể năm tầng ở phía đông nam thành phố. Vợ hắn, một người đàn bà trông già như mẹ hắn, hắn đưa từ quê ở Nam Định lên làm thợ dệt vải ở Hà Nội. Khi anh và bạn đến, hắn đang hôn chùn chụt vào hai má rồi vuốt khuôn mặt khô đét của người vợ. Giọng hắn đờn đợt õng ẹo:

- Độ này công việc nhiều, tối mắt lại chả được ở nhà ngồi bên em xem ti vi, nghe ca nhạc. Buồn quá. Nào, em yêu, hôn anh lần nữa rồi anh đi nhé, nghe em!

Mụ vợ đỏ bừng mặt tưởng phải úp mặt vào tường vì xấu hổ. Mà xem ra vẫn cứ thinh thích. Nhà báo và anh đứng quay mặt ra ngắm cảnh đợi. Hắn xong việc đi ra bảo hai người: "Đi, con bồ nó đang đợi tôi ở cuối đường Lò Đúc".

Xuống hết cầu thang anh cứ ngớ người ra trước những lời nói tỉnh bơ như không hề có cái cử chỉ hắn cố tình cho mọi người nhìn thấy vợ chồng hắn "tình cảm" phía trong các cửa sổ và cửa chính đều mở.

- Đàn bà là con chó cái. Yêu chó, chó liếm mặt. Các cụ bảo rồi. Cho nên vờn nó, vuốt ve nó như một ông chủ đùa rỡn với con vật. Nó mà quá trớn phải đập ngay vào mặt nó. Bao giờ cũng phải giữ khoảng cách của một ông chủ với con vật, không thể để nó lờn mặt. Có như thế mình mới sai khiến được nó, bắt nó phải thờ phụng mình, chầu chực mình như con chó chầu chực ông chủ. Còn ông chủ thì thả cửa mà ngược xuôi. Hí hí. Đàn ông mà.

Chính cái thằng đàn ông đốn mạt ấy đêm nay lại vờn rỡn vuốt ve vợ anh? Người anh như mê đi. Hai mắt người trẻ tuổi long lên dữ tợn như hai ngọn lửa đốt người anh nóng ran.

- Bác phải trấn tĩnh lại. Nếu không, cả sự nghiệp và công danh của bác tan tành.

- Anh bảo tôi phải làm gì.

- Bác là người có bản lĩnh. Nhiều mưu mẹo. Biết dối mình và dối người trong mọi trường hợp. Bác không việc gì phải chột dạ cái điều tôi vừa nói. Sự dối trá lừa lọc của bác là kinh tởm. Nhưng hôm nay ta khuyên bác hãy tự dối mình rằng chuyện ta nói là không có thật.

- Anh đã bịa đặt để khủng bố tinh thần tôi.

- Phúc cho nhà ngươi còn có một người không dòng dõi, huyết thống với ngươi nhưng lại coi ngươi như con. Người đó đã chết oan uổng nhưng không hằn học lấy oán trả oán như ngươi. Người đó xui khiến cho ngươi được gặp ta, ta báo cho ngươi biết điều dữ để ngươi không bị đột ngột, sinh ra mù quáng làm hỏng hết việc lớn ngươi đang đeo đuổi.

Cách xưng hô tự nhiên thay đổi! Cách nói năng nghiêm khắc, quả quyết như sự phán bảo của bề trên! Anh chưa hề tin vào bất cứ điều gì. Thần thánh, lễ bái lại càng không. Ngay đến đình và chùa khác nhau cái gì, trong mỗi nơi cúng bái ấy cung cách bày đặt, nghi lễ ra sao anh cũng không biết. Đơn giản là những nơi ấy anh chưa hề đặt chân đến. Vậy mà lúc này anh cứ thấy rờn rợn về những điều anh ta nói ra. Anh trấn tĩnh rút thuốc lá mời, dè dặt nói:

- Có thể những điều anh nói chưa xảy ra nên tôi không thể biết thế nào. Xin cho biết rõ về người ở nhà tôi đêm nay. Có được không ạ.

- Ta nói rồi. Người đó trắng, cao to, tóc dày và rất đen, nói năng ngọt ngào, dễ nghe. Ở nơi khác, không phải người cùng nơi vợ ngươi làm việc. Người này là bạn của ngươi chứ không phải bạn của vợ ngươi.

Đúng là thằng Võ. Mồ hôi anh toá ra.

- Nếu chưa tin, nội nhật đêm nay ngươi về nhà sẽ gặp người đó. Nhưng nếu ngươi làm ầm ĩ thì chính vợ ngươi sẽ đứng về phía người đó, làm hại ngươi với cấp trên. Ngươi sẽ bị hại ngầm.

- Thưa. Ngoài ba kẻ là bạn tôi, còn có nhiều người khác quan hệ với vợ tôi nữa không ạ?

- Ta không cần biết ngươi là ai. Chỉ nghe nhà ngươi hỏi như thế ta biết về việc vợ con, ngươi là kẻ cạn nghĩ: Những người bạn của ngươi còn ăn ở với vợ ngươi, huống chi những người chỉ "thân" với vợ ngươi mà không "thân" với ngươi, thậm chí càng không biết ngươi là ai, càng tốt. Cái câu hỏi của ngươi, ta có trả lời cũng không để làm gì. Cái chính là vợ ngươi có thể dừng sự đòi hỏi ở bao nhiêu người đàn ông?

- Thưa... Có thể tả hình dáng, tính nết của vợ tôi?

- Ngươi vẫn còn nghi hoặc những điều ta nói? Ta biết khi ta nói đến tận cùng mọi điều, cái khi chất tiểu nhân trong ngươi sẽ giảm đi. Ngươi sẽ khinh bỉ, kinh tởm hơn là sự uất hận, điên loạn... Vợ người có dáng khoáng đạt "Trường túc bất chi lao". Loại người này đã có thơ rằng: "Những người chân cẳng làng nhàng, một đêm chấp cả mấy làng trai tơ". Dáng người ấy hợp với bản mệnh. Nhưng toàn bộ con người ấy chỉ nên để ý đến hai con mắt: hai con mắt dài. Mi cũng dài ươn ướt rất quyết rũ. Bao nhiêu người "chết" ở đôi mắt ấy. Hai con mắt nói với ta nhiều điều:

Một: Tâm người này không tĩnh. Vẻ chán chường rầu rĩ triền miên ở đôi mắt nói rằng sự thèm khát ở người này không lúc nào được thoả mãn. Lúc nào cũng cảm thấy thiếu hụt, hao háo. Nỗi thèm khát quá nhiều mà cái được luôn luôn cảm thấy quá ít, luôn luôn thấy trong người dấm dứt mà cứ phải đeo đẳng nó mới sinh ra cắn cảu, chán chường với chồng con.

Hai: Người này quỷ quyệt điêu xảo, tinh quái đến khôn lường. Trông thì hiền. Tâm lại ác. Khi một người ở cạnh mà không được việc gì cho bà ta thì kể cả bố đẻ cũng đuổi ra khỏi nhà. Trông thị e lệ, rụt rè và nghiêm khắc, có thể tát vào mặt kẻ nào dám tán tỉnh bờm xơm. Đặc biệt là người này không biết nói đùa, nhất là những câu nói nhạt nhẽo vô duyên của kẻ khác. Nhưng có thể ngả ngay ra với kẻ mới quen, chỉ cần kẻ đó biết kính nể những giá trị tuyệt vời, có một không hai ở một con người đã không may mắn là bà ta, phải sống với một thằng chồng vũ phu, ngu si, cục cằn thô lỗ, một thằng chồng khốn nạn vô liêm sỉ. Gặp một ngàn thằng đàn ông thì bao giờ cái cử chỉ đầu tiên là đau khổ, lời nói đầu tiên là sự hành hạ của thằng chồng, và nước mắt của bà ứa ra. Một ngàn thằng đàn ông ấy, thằng nào biết làm ra một khuôn mặt sầu muộn, đau đớn, uất giận và tỏ ra có sức mạnh rất ghê gớm sẵn sàng bóp nát cái thằng chó chết ấy đi, thằng ấy sẽ chiến thắng. Nhưng hiệu quả "ăn ngay" vẫn là cử chỉ khéo léo thò tay vào túi rút khăn mùi xoa của mình, lặng lẽ chấm những giọt nước mắt ở trên má rồi, xiết chặt bà vào ngực mình, che chở, an ủi, sưởi ấm cho nỗi cô đơn của bà. Và sau đó, theo cách nói của đám thanh niên bây giờ thì: "Vô tư".

Điều thứ ba: Ta hỏi: Có lúc nào người để ý đuôi tai của vợ ngươi có tật?

- Dạ, có vết sẹo ở đuôi tai phải do bị ngã từ nhỏ ạ.

- Đấy là vết tích của một con thú bị thương. Nhà ngươi đã trông thấy những con hổ con báo, lợn lòi chó sói bị thương nó hộc lên như thế nào chưa? Ta biết là đã hơn ba năm nay ngươi phải tìm đến các danh y thượng thặng nhất của nước này để tìm thuốc đặc hiệu, gia truyền chạy chữa cho vợ. Nhưng tất cả đông tây y đều bất lực, đều không thấy thuyên giảm. Sức có hạn, mà ý muốn gặp gỡ lại nhiều. Chửa đẻ chưa kịp kiêng khem đã lại đòi hỏi. Thuốc uống, thuốc truyền, thuốc tiêm chưa kịp ngấm đã phung phí tiêu hao, làm gì thuốc chả giã. Đấy là cái lúc "hộc lên" của con thú có tật, có hiểu không?

Anh buột miệng kêu và người run lên, lắp bắp:

- Thưa...

- Nhà ngươi muốn hỏi tại sao ta lại biết?

- Thưa vâng. Tất cả những điều ấy đều rất đúng ạ. Xin chỉ bảo cho tôi phải làm gì bây giờ.

- Không làm gì cả. Ta đã nói rồi. Càng làm càng thua, kể cả nhà ngươi nhìn thấy vợ mình và người kia đang quấn quýt nhau cũng phải lặng lẽ mà quay mặt đi.

- Tại sao lại phải thế?

- Nhà ngươi mắc tội hay hỏi. Không cần "tại sao" gì cả. Ta chỉ nói việc đời của người dương cũng phải thế rồi huống hồ cái số của nhà ngươi, các quan đã đóng cái gông vào cổ không thể bỏ ra được. Không bỏ ra được, làm ồn lên làm gì. Ngươi trông thấy vợ mình đang bậy bạ với người khác, vợ ngươi van lạy ngươi, thằng kia cũng van lạy ngươi, nhưng họ mặc quần áo xong, ngươi là thằng vu oan, giá hoạ, một thằng nhỏ nhen đa nghi, ghen tuông vớ vẩn.

Không ngờ những lời ấy lại diễn ra lúc 12 giờ rưỡi đêm. Tại nhà anh. Chỉ có điều anh lại không đủ sự bình tĩnh để làm đúng như lời dạy của nhà chiêm tinh. "Không được làm gì?" Tại sao không được làm gì?" Anh gợi ra tất cả mọi điều đều chính xác đến kinh ngạc ấy để làm gì? Trời ơi! Sao lại "không được làm gì". Anh đã lấy chân đạp thình thình vào cánh cửa khoá trái trong ngôi nhà, anh chắc chắn có một thằng đàn ông đang ở đấy, lúc nửa đêm.
° ° °
Một tay bế cháu, một tay mẹ kéo chiếc khăn dù phủ lên đầu và hai cánh tay cho con. Người con lặng lẽ để mẹ lo toan cho mình như thuở còn lên năm, lên mười. Người mẹ tưởng nỗi vất vả mệt mỏi đang làm cho đứa con ngủ thiếp đi ở cuối chân giường như một kẻ hành khất. Nhưng con thì làm sao mà ngủ được. Lặng lẽ để cho mẹ trùm chăn lên, che kín khuôn mặt méo mó hèn mạt của mình, một kẻ đứng đầu cái huyện tiếng tăm lừng lẫy đã trở thành kẻ nhục nhã, một tên thất trận chạy về ẩn náu ở cuối chân giường bệnh viện, nơi người mẹ đã gần một tháng ròng rã bế cháu vò võ thâu đêm.

"- Anh không được đụng đến anh ấy.

"- Cô bênh nó hả?

"- Thì đã sao?

"- Không ngờ cô là một con đĩ trơ trẽn.

"- Anh muốn nói gì, cho anh nói, đây không thèm chấp. Nhưng để đến mai. Bây giờ để cho con bé ngủ đã. Anh Võ lấy xe đạp của em về đi. Mai em vào cơ quan lấy.

Võ lặng lẽ dắt chiếc xe đạp "mi pha" của vợ do chính tay anh mua. Anh xô ra giữ lấy xe quát:

- Đứng lại đây. Không được mang xe đi.

Vợ anh một tay bế con, một tay giằng tay anh ra khỏi xe. Anh gạt vợ ra, chị hơi chúi người đi. Đứa con gái năm tuổi mới thức dậy lúc anh đạp cửa vợ anh đã bế thốc dậy làm nó khóc ầm lên, bây giờ nó lại kêu thét như bị đánh. Hiền bế con nhao ra khỏi cửa kêu:

- Ối bà con tập thể ôi. Anh Hiếu về giết mẹ con tôi. Ối giời ơi. Anh tưởng anh làm to rồi anh muốn giết ai thì giết hay sao. Ối giời ơi, giời ơi.

Lập tức cả khu nhà sáng loà lên. Các cửa sổ, cửa chính bật tung nghe thình thình. Mọi người đã thức dậy và lắng nghe từ tiếng đạp cửa đầu tiên, tiếng cãi cọi xô xát từ lâu. Ai cũng lặng lẽ chầu chực sẵn sàng, chỉ chờ đợi có dịp như thế này là lao ra ào ạt, vừa háo hức vừa hớt hải lo sợ như cháy nhà giết người đến nơi. Chả mấy chốc hành lang và khoảng sân trước của nhà Hiếu chật ních người. Mọi người đang thì thào nghiêng ngó người đàn ông lạ mặt, mấu chốt của sự ầm ĩ này. Một ông già tóc bạc như ông tiên đi từ tốn và hỏi cũng từ tốn:

- Nào có chuyện gì mà ầm lên thế này?

Hỏi xong, ông cứ đi giữa đám người đã lặng thinh, tự rẽ ra lấy lối ông đi vào tận nhà, từ tốn ngồi xuống ghế sa lông. Ông Văn Yến, bí thư tỉnh uỷ. Ông ở một căn hộ hai tầng, có vườn cây, ao cá ở đối diện với khu tập thể của tỉnh qua một con đường nhựa, hai bên là ruộng rau muống. Ông mặc bộ quần áo ngủ kẻ sọc xanh trên nền trắng, đi guốc mộc. Với địa vị của mình cộng thêm sự giản dị, đức tính liêm khiết mẫu mực của ông khiến ông như một ông tiên để người già, người trẻ đều kính phục và nghe ông mỗi khi có sự "phức tạp" trong gia đình. Từ lúc ông xuất hiện, cả người lớn, trẻ con trật tự như một cuộc họp. Trước khi "làm việc" ông yêu cầu các cháu bé và cả thanh niên chưa vợ chưa chồng nhà nào về nhà nấy. Không cháu nào được làm ồn ảnh hưởng đến giấc ngủ của bà con. Đợi cho đám trẻ ra khỏi sân (thực chất chúng rình rập nghiêng ngó ở ngoài hàng rào), "ông tiên" bắt đầu hỏi từ tốn:

"- Nào, chuyện đầu đuôi ra sao, anh Hiếu nói đi.

Hiếu như không thể kìm được nỗi uất hận, anh nói rằng anh về nhà gọi cửa đến 10 phút mà đèn mới bật sáng. Vợ anh vội vàng chạy vào giường trong buồng bế thốc con ra mở cửa. Loay hoay mãi không mở được, nhưng thực chất đợi cho anh này (Võ) vớ vội lấy đồng hồ, và giấy tờ rơi ra giường rồi cô ấy mới "mở được" cửa.

"- Anh điêu toa vu cáo thế không sợ giời đánh, thánh vật à?

"- Chị cứ bình tĩnh lại. Anh Hiếu còn thấy gì nữa không, trình bày tiếp đi. Tôi yêu cầu không ai được làm ồn. Nói đủ nghe thôi.

"- Báo cáo chú. Đây không phải là lần thứ nhất. Hai năm trước vợ cháu quan hệ với anh này phải đi phá thai.

"- Anh nói thế không sợ tội lòi mắt ra à?

"- Cô giấu tôi. Sau bị nhiễm trùng phải đi viện, chính cô phải thú nhận với bác sĩ, còn nhớ không?

"- Cứ đào mả bố cái thằng nào nó hành tôi hùng hục như trâu húc mả rồi lại vu vạ cho tôi.

"- Cô có nhớ ngày ấy tôi đi học ba tháng không về nhà không.

"- Đi đâu thì lúc anh về tôi mới chửa.

"- Thật không? Tôi mang giấy tờ ngày kết thúc của tôi với giấy cô đi viện nhá.

"- Bây giờ anh muốn giấy gì mà chả có.

"- Thôi nhé. Chuyện cũ qua rồi nhắc lại không để làm gì. Hai người, không ai được đả động gì đến chuyện cũ nữa. Bây giờ tôi yêu cầu anh chị phải hết sức bình tĩnh. Lúc này là lúc phải hết sức tỉnh táo không hỏng hết mọi việc. Nào đến chị Hiền trình bày.

"- Vâng ạ. Thưa, bác bận nhiều việc đi suốt ngày đêm không biết chứ bà con tập thể đây ai cũng thấy cháu khổ cực như thế nào. Chồng biền biệt nằm một nơi, có lúc nào nhìn ngó gì đến gia đình vợ con. Mình cháu, một nách hai đứa con ốm đau quặt quẹo thay nhau vào viện. Hầu hai con rồi còn phải hầu hạ mẹ chồng. Rồi lại việc cơ quan sấp sấp, ngửa ngửa chạy như ma đuổi từ sáng sớm đến tối mịt vòng quanh bệnh viện, rồi cơ quan, rồi về nhà giặt giũ, cơm nước cả cho bà, cho cháu. Người cháu cứ ốm đau gầy còm đi cũng chỉ vì khổ sở vất vả, đầu tắt mặt tối, còn hơi sức đâu mà nghĩ đến chuyện bậy bạ. Cháu chỉ thấy tủi nhục với chị em, mang tiếng lấy được chồng cũng ông nọ bà kia, tưởng được nhờ vả sung sướng không ngờ một mình còm cõn nuôi con, hầu hạ mẹ chồng mà thỉnh thoảng chồng lại gây hết chuyện này đến chuyện khác. Lúc nào anh ấy cũng hành hạ, xỉ vả vợ hơn cả con ở ngày xưa. Hơ hơ... hơ... Hu hu... u... hu. Trời ơi, làm sao mà cháu lại khốn khổ khốn nạn đến mức này.

"- Bình tĩnh. Chị cứ phải bình tĩnh lại.

"- Bác bảo cháu bình tĩnh làm sao được với một con người vong ơn bội nghĩa, sấp mặt với cả bạn mình. Anh Võ đây là người vất vả hàng bao nhiêu ngày nay để giúp cho em gái con nhà cô cháu. Tuy là em cháu nhưng cũng là nể tình bạn với anh Hiếu thì anh ấy mới phải lặn lội vất vả hao công tổn lực mà lại giở mặt với người ta. Chỉ có loại người ăn cơm đổ xuống đất mới như thế.

"- Thôi, chị phải bình tĩnh. Bây giờ xin mời đồng chí.

"- Vâng! Trước hết tôi thành thật xin lỗi bác và bà con về việc của tôi và anh Hiếu bạn tôi đã làm bác và bà con mất giấc ngủ và phải nghe những lời nói không được văn minh lịch sự cho lắm. Thật lòng với bác và bà con, tôi cũng không ngờ "làm phúc" mà "phải tội" như thế này. Như chị Hiền nói là cô em gái của chị Hiền học kinh tế ở nước ngoài về muốn xin vào công tác ở viện tôi. Nghĩ là em của chị Hiền cũng như em anh Hiếu, người bạn chí cốt của tôi nên tôi đã phải tìm mọi cách thuyết phục các đồng chí thủ trưởng bộ và vụ tổ chức cán bộ. Cũng xin bác và bà con hiểu cho, thời buổi này để được chấp nhận thêm một chỉ tiêu biên chế ở Hà Nội có khó khăn đến mức nào. Phải gần hai năm trời chờ đợi, kì này chúng tôi mới được phép nhận cô ấy. Vì thế, về tỉnh làm việc và có vinh dự đã được tiếp xúc với bác bí thư, tôi rất là bằng lòng với sự vất vả của mình. Suốt một tuần lễ nay xuống các cơ sở nửa đêm mới về, sáng lại đi sớm, không có lúc nào hở. Ngày mai về Hà Nội rồi. Nên đêm nay tuy đã khuya tôi vẫn cố đi bộ đến để báo cho anh chị biết chuyện của em gái mình. Đến đây hỏi mới biết cụ nhà anh Hiếu không có nhà. Nhưng rất may, chị Hiền với cháu bé đây còn đang thức.

"- Vâng ạ. Cháu cũng phải giặt giũ mấy đống quần áo của bà của cháu tích lại hàng tuần nay. Đêm nào cũng phải lụi cụi đến quá nửa đêm.

"Đồ điêu toa. Chưa hề ngày nào cô phải giặt quần áo của mẹ và các con tôi. Chính mẹ tôi phải giặt giũ, cơm nước cả cho cô. Cả bệnh viện người ta biết đấy. Người ta biết cả một mình mẹ tôi phải hầu cô cả ngày, trông cháu cả ngày và cả đêm để cô chỉ có một việc đi đón con bé ở nhà trẻ về ngủ lấy sức rồi sáng mai đi. Việc cơ quan chỉ có chia mấy tờ báo, tạp chí cho các thủ trưởng xong xách túi ngồi sau "em" thư kí khoa học, hoặc các anh ở "cơ quan bạn" chờ sẵn. Hết giờ hành chính về nằm xoài ra thở và ốm. Ngày nào cũng ốm. Tháng nào cũng ốm. Nhưng khi cần đi, đi ngay. Khi cần nằm thì nằm cả tuần, mẹ chồng phải bê cơm mang đến tận miệng".

Hiền vẫn không để ý đến những ý nghĩ cháy bừng bừng trong đầu chồng. Chị tiếp:

- Chả nhẽ bạn của chồng mình đến báo tin nhận cho em mình được làm việc lại không mời vào nhà uống hớp nước.

- Nếu chỉ thế, khoá cửa vào làm gì? Mà điện lại tắt. Hai người ở một giường. Còn con bé khi nghe tiếng tôi đạp cửa nó mới choàng dậy khóc ở trong buồng?

- Cho anh thả cửa vu cáo. Tôi chỉ biết là tôi không làm được ra cái cầu chì nên lúc điện sáng quá nó đứt, thì tôi phải nhờ bác ấy đánh diêm nối lại hộ.

- Sao phải khoá cửa.

- Không khoá. Chỉ gài vào không có đang xúm chữa điện, kẻ trộm lợi dụng lúc tối tăm.

- Không ngờ cô xảo quyệt, gian trá đến thế.

- Thôi. Thế là rõ. Mọi việc có thể kết luận được rồi. Anh Hiếu ngồi xuống. Bình tĩnh. Không bình tĩnh là hỏng hết mọi việc. Phải thông cảm điện đóm bây giờ nó nhập nhèm lúc sáng lúc tối, khi có khi không. Nhà tôi cũng cháy mấy cái cầu chì rồi. Chuyện vặt, không có vấn đề gì. Đồng chí Võ tận tình có trách nhiệm với bạn bè rất đáng hoan nghênh. Còn anh Hiếu nên rút kinh nghiệm. Những việc vợ chồng nhỏ nhặt như thế này, tuyệt đối không được mất thì giờ nghĩ đến nó nhiều, ảnh hưởng công việc chung. Cũng không được làm ầm ĩ lên. Có gì mình thấy chưa thật hiểu nhau, chưa thật nhất trí, vợ chồng bàn bạc góp ý với nhau, có gì mà phải đao to búa lớn mất hết tình nghĩa vợ chồng, mất danh dự, mất uy tín với quần chúng. Tất cả những chuyện không đáng gì này, phải giải quyết trong phạm vi nội bộ. Trong việc này rõ ràng anh Hiếu vội vàng nóng nảy. Thôi, ta rút kinh nghiệm.

Ông đứng dậy nắm tay Võ thật chặt:

"Xin lỗi đồng chí nhé".

Tất cả những người ở cửa đều thất vọng vì tính tò mò không được thoả mãn và không ngờ càng ngày Hiếu càng tỏ ra thô lỗ, chấp nhặt, hành động đạp cửa là hành động rất du côn, thô bạo. Thiếu hẳn một sự từng trải lịch lãm mà người ta đã thấy ở anh trong mọi việc xã hội. "Ối dào, tưởng là gì. Mỗi tí cầu chì đứt cũng đùng đùng ầm ĩ làm bao nhiêu người mất ngủ".
° ° °
Tuy không biết tường tận tất cả những gì đã xảy ra ở nhà con giai nhưng bà hiểu được nỗi khổ sở, thiểu não của nó. Bế cháu ngồi nhìn con nằm như kẻ chết rồi ở cuối chiếc giường một của bệnh viện, lòng bà quặn lại. Cũng là phận đàn bà, mà bà không thể ngờ đàn bà thời nay lại táo tợn, trơ tráo, chả còn biết đến nhân tâm, luật lệ là gì. Cũng là vì phải giữ cái danh cho con, bà phải cắn răng chịu nhục suốt từ khi chị ấy về "làm dâu" nhà này. Mỗi lần chị ấy đẻ, con cái ốm đau quặt quẹo bà lại được đưa lên tỉnh bốc cứt bốc đái, giặt giũ, hầu hạ con dâu, nâng giấc ôm ấp các cháu. Khi con dâu hết kiêng cữ, đi lại cứng cáp, các cháu chơi đùa khoẻ mạnh, bà lại như thừa ra, vướng víu, như cái của nợ, như con hủi trong nhà. Chị ấy nói cạnh khoé, đá thúng đụng nia nhưng chưa được con trai cho về bà vẫn phải ở lại chịu đựng. Mỗi lần như thế, bà lại bó sẵn quần áo bằng cái dây ni lon xanh anh Hiếu cho từ ngày ở Sài Gòn ra, bỏ vào cái ba lô con cóc chuột khoét cũng của anh Hiếu cho, sẵn sàng: "Thôi mẹ xin các con cho mẹ về dưới quê". Chị ấy vui vẻ bảo: "Cái thể không ở lại được với cháu, bố nó xem thế nào để bà về khỏi khổ bà". ấy là những lần sau này. Còn "ngày xưa" khi chị ấy cần đuổi bà thì chị ấy chửi cháu bà mới được dăm bảy tháng là: "Tiên sư cái giống nhà mày ngu. Tao có nợ nần gì mà định hành tao. Thời buổi này miếng ăn có ai nó đổ ra vệ đường mà tưởng cứ há mõm ra là đớp được, mà bắt con này hầu không thiếu bữa nào". Không những bà chỉ ngu mà còn phải câm và điếc để đợi anh Hiếu về xem đã cho phép bà được đi khỏi hay chưa. Sau này bà mới biết, không lần nào con trai bà làm trái ý vợ nên hễ thấy chị ấy khác ý là bà lấy sợi ni lon xanh buộc quần áo là vừa. Cái số kiếp của bà nó phải như thế là biết phàn nàn, oán giận ai! Đến những cảnh tượng xảy ra gần đây bà thấy đau đớn tủi nhục cho con bà quá. Bà chỉ muốn kêu thấu tận trời cao, đất dày xem làm sao lại có sự ngang trái trớ trêu? Lần đầu tiên bà biết được điều sỉ nhục với con bà mới cách đây mươi ngày. Gần trưa, chị ấy về nằm với con để bà đi nấu ăn. Vừa đặt mình xuống chị ấy đã ngủ mê mệt. Bà cắm nồi cơm điện rồi xách cái túi cước xanh chị ấy vẫn mang theo để mua thức ăn. Mua thịt xong, bà lấy miếng ni lông trong túi ra bọc. Ba bốn cái túi con ở trong ấy rơi ra khiến mọi người kêu rú lên vì kinh tởm. Bà ngơ ngác không biết cái gì định nhặt lên xem. Một bàn tay cầm tay bà, bảo những của nợ ấy là những túi tránh thai vừa dùng xong và giằng lấy miếng ni lông to ở tay bà vứt vào đống rác. Người ta dồn hỏi bà cái túi cước xanh bà mượn của ai. Nó vội vàng hay bất chấp? Chưa tiện chỗ để "phi tang" hay một sự chơi khăm đểu cáng, bẩn thỉu? Bà phải nói dối là bà vừa nhặt được nó ở giữa đường, định khi mua được miếng thịt, con cá, bìa đậu thì gói vào đấy khỏi giây ra túi cước.

Chồng ở xa, con cái ốm đau phải cấp cứu, sao chị ấy còn nỡ làm điều khuất tất? Ban ngày đầu tắt mặt tối lo cho cháu ăn, cháu bậy, lo giặt giũ cơm nước, đêm đến lại vò võ ôm cháu suốt năm canh đã bao lần bà khóc thầm thương phận con lận đận, đau phận mình bị phỉ báng. Ấy vậy mà đêm nào chị ấy cũng gọi điện thoại xuống huyện xem chồng có cầm lấy máy trả lời hay vì sao chậm trễ. Hỏi xem ngày ấy chồng đi những đâu, làm gì, họp hành với ai và hỏi ngay những người ấy xem chồng có nói đúng không. Cứ làm như thằng chồng là kẻ trộm cắp, gian giảo đàng điếm còn chị ấy là người chính chuyên chỉ biết có yêu thương chồng. Thì ra người lành thì chỉ biết chí cốt làm ăn và nghĩ ai cũng tu nhân tích đức, giữ đạo làm người như mình nên ít ngờ vực kẻ khác. Còn kẻ đàng điếm giấm dúi thì lúc nào cũng hốt hoảng ngờ vực. "Gái đĩ già mồm" là thế... Mỗi lần thấy chị ấy nói vào cái máy cho chồng, bà chỉ muốn quát vào miệng cái máy rằng: Vợ anh nó là con đĩ, ngày nào cũng đi ngủ với giai đấy. Công tác, công tộ gì cứ biền biệt suốt năm suốt tháng để cho nó tha hồ ngược xuôi, không ai biết đấy là đâu. Nghĩ đi thì thế. Nghĩ lại, bà sợ có chuyện gì xảy ra khổ thân hai đứa cháu. Mà anh ấy sẽ "ảnh hưởng". Vì thế cho nên bà cứ phải câm miệng lại, không dám hé răng nói nửa lời, để mọi chuyện khỏi vỡ lở. Có nhẽ chị ấy biết cả hai mẹ con bà đều sợ vỡ lở. Nên ngày càng ngang nhiên bày cái sự bẩn thỉu ấy ra trước mắt bà không cần che giấu. Rồi gặp bất cứ ai, bất kì lúc nào chị ấy cũng ủ rũ, chán chường, đau khổ ốm yếu. "Vì cái thằng chồng khốn kiếp nó hành". Kêu ca, riếc móc chồng trước mặt thằng đàn ông, có khác gì như bảo thằng kẻ trộm là buồng nhà tôi lúc nào cũng để ngỏ. "Muốn vào lúc nào thì vào, thích gì thì cứ việc. Mạnh bạo mà đi vào nhá. Tôi để sẵn mọi thứ ở đấy". Có lần con Huyền bảo bà:

- Tại sao bố cháu lại sợ cái mụ đĩ thoã, hợm mình ấy đến thế? Đầu óc thì rỗng tuếch, lúc nào cũng ra vẻ đăm chiêu trí thức. Giữ mấy tờ báo, dăm quyển tạp chí mà cũng khinh khỉnh coi thường tất cả mọi người. Để cháu bảo ông ấy bỏ quách đi.

"- Kìa cháu, mình là phận con cái, ai lại nói như thế. Từ nay bà không cho cháu được ăn nói với người bề trên như vậy đâu.

"- Nó mà là bề trên của cháu à? Hơn mấy cái tuổi bọ. Không sợ bà buồn, sức mấy cháu gọi bằng cô. Đợi đấy. Nghỉ cho "eo" nhé.

"- Huyền! Không được nói nữa mà.

Đột nhiên Hiếu vứt chiếc chăn dù, ngồi dậy hỏi mẹ.

- Bà có thấy thằng nào thậm thụt với con Hiền ở đây không?

- Nào mẹ có thấy gì đâu.

- Hết giờ làm việc nó có về nhà ngay với cháu không?

- Vưỡn.

- Bà để ý thấy nó có dấu hiệu gì của việc giai gái không?

- Anh bảo, có chuyện gì ai người ta mang đến chỗ mẹ. Còn những chỗ khác thì mẹ có đi đến đâu mà biết.

- Tại sao, đêm nó không ở đây trông con để bà về nhà với con bé lớn?

- Thì chị ấy còn phải nghỉ lấy sức ngày sau công tác. Mà mẹ cũng ít ngủ, trông cháu nó thuận hơn.

- Con này mất dạy lắm. Không thể chịu được nữa.

- Theo mẹ, có chuyện gì con cứ bình tĩnh thu xếp cho ổn thoả. 50 tuổi đầu rồi. Nếu số kiếp nó như thế, phải chịu thế, bới móc ra làm gì để người ngoài người ta cười cho.

- Nhưng mẹ có bảo đảm là nó không có chuyện gì không?

Tuy nói thì thầm với mẹ, giọng anh vẫn rin rít qua hai hàm răng như nghiến lại. Người mẹ vẫn một mực không hề thấy gì, biết gì. Thực ra anh hỏi để mà hỏi. Hỏi như để thoát vợi ra cái làn hơi cộm đầy trong lòng, như để có người chia sẻ nên anh rất cần được nghe trả lời như thế. Đã bao nhiêu lần anh chứng kiến hoặc nghe kể lại chuyện này chuyện khác, anh đã cố công làm cho đến tận cùng mọi nhẽ. Nhưng càng tìm ra nhiều chuyện, càng làm ầm ĩ lên thì anh càng mang tiếng, càng để người ta cười cợt đàm tiếu với nhau. Chỉ vì anh sợ mất danh dự với nhân dân, mất uy tín với cấp trên "cái chuyện riêng tư lặt vặt, đáng gì" mà mất hết. Cái khả năng đặc biệt nhạy bén của đàn bà chỉ ở chỗ cảm nhận trực tiếp những thay đổi tình cảm của người đàn ông. Hiền đã cảm nhận thấy chỗ yếu, cái vết "lõm" của anh để tì xoáy vào đó một cách ác độc, man rợ, buộc anh phải chấp nhận tất cả những mối quan hệ bừa bãi của cô. Càng ngày cô càng bất chấp, càng "công khai hoá" để anh chỉ việc "nhìn ngắm" mà tự nuốt nỗi cay đắng nhục nhã vào lòng. Anh rất thèm có được cái giây phút bất cần! Chả cần bất cứ một thứ gì để con người anh được thoát ra khỏi nỗi sợ. Thèm muốn được sống như mọi con người bình thường khác. Khốn nỗi, anh đã nghiện tất cả những thứ kia rồi làm sao mà "cai" được. Mặc khác, cái thói quen sống giấu giếm vụng trộm suốt năm chục năm nay bây giờ có cho anh được công khai phơi bày tất cả mọi ý nghĩ và hành động, đố anh làm được. Mong mỏi đấy. Thèm khát đấy. Nhưng bỏ đi những thói quen, anh không tài nào chịu nổi. Giống như con chim nhốt trong một cái lồng chỉ tìm cách bay ra. Đến vài ba chục năm sau người ta mở lồng cho nó bay nhưng thể nào nó cũng bay lại cái lồng cũ. Nếu cái lồng đó không còn, nó lại bơ vơ, lại phải loay hoay kiếm tìm cái lồng khác mà chui vào để tìm lại thói quen, tìm lại nỗi nhớ.

Bà Đất nhìn mặt con mỗi lúc một đờ đẫn, dại đi, bà vội vàng ôm cháu đứng sát lại mếu máo nói như van lạy con trai.

- Bố nó nằm giường mà nghỉ đi. Đừng nghĩ ngợi gì nữa. Con mà có chuyện gì thì làm sao mẹ sống được con ơi.

No comments: