Saturday, February 9, 2019

LÀNG CỔ NHUẾ * WIKIPEDIA

 
Image result for LÀNG CỔ NHUẾ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigationJump to search
Cổ Nhuế
Địa lý
Diện tích6,5 km²
Dân số
 Tổng cộng77.000 [1]

10769,2  Mật độ


Image result for LÀNG CỔ NHUẾ
Hành chính
Quốc giaViệt Nam
Thành phốHà Nội
HuyệnTừ Liêm
Thành lập1960
 Trụ sở UBNDSố 601 Phạm Văn Đồng, Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội
Cổ Nhuế là một của huyện Từ Liêm (cũ), Hà Nội. Đến khi chia tách để thành lập 2 phường Cổ Nhuế 2Cổ Nhuế 1, Xã có dân số 77 nghìn người) diện tích: 6,5 km². Đây là xã kinh tế phát triển nhất huyện Từ Liêm cũ [2]. Xã có nghề may truyền thống.

Image result for LÀNG CỔ NHUẾ

Phân chia hành chính

Xã Cổ Nhuế (cũ) gồm 12 thôn và 1 tổ dân phố: Hoàng 1, Hoàng 2, Hoàng 3, Hoàng 4 (Khu dân cư trên đường Trần Cung, khu chợ bệnh viện E, từ đường Hoàng Quốc Việt, chưa có số nhà, mọi người hay lầm tưởng là của Quận Cầu Giấy), Hoàng 5 (Khu Đại học Điện lực, Cao đẳng Du lịch, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Triển làm Nông nghiệp, Nhà máy in tiền Quốc gia mọi người hay lầm tưởng là quận Cầu Giấy) Hoàng 6, Đống 1, Đống 2, Trù 1, Trù 2, Viên 1, Viên 2 và tổ dân phố Phú Minh. Ngoài ra địa bàn còn được chia làm nhiều khu dân cư (Tổ dân phố, ngày xưa gọi là xóm) 1A, 1B, 1C, 2A, 2B, 2C, 3A, 3B, 4A, 4B, 5A, 5B, 6A, 6B, 7A, 7B, 8A, 8B, 9A, 9B, 10A, 10B, 11A, 11B, 12A, 12B, 13A, 13B, 14A, 14B, 15A, 15B, 16A, 16B, 17A, 17B, 18A, 18B, 19A, 19B, Tổ dân phố Phú Minh, Tổ dân phố khu TT Công ty XD số 2, Tổ dân phố Học viện Cảnh sát Nhân dân...

Image result for LÀNG CỔ NHUẾ

Nhiều tuyến đường quan trọng chạy qua phường: Đường Phạm Văn Đồng, Đường Hoàng Quốc Việt, Phố Trần Cung, Đường Cổ Nhuế, Đường Văn Tiến Dũng, Phố Đặng Thùy Trâm, Phố Phạm Tuấn Tài, Đường Phan Bá Vành, Phố Tăng Thiết Giáp(Tên chưa chính thức), Phố Cầu Noi (Tên chưa chính thức), phố Nguyễn Văn Thạc(Ngõ 43 Đường Cổ Nhuế)(Tên Chưa chính thức, trên phố có Nhà văn hóa Nguyễn Văn Thạc - Xóm 8B), ngoài ra còn có sông Nhuệ. Đường sắt Bắc Nam chạy qua.
Ngày 27 tháng 12 năm 2013, thành lập quận Bắc Từ Liêm, xã Cổ Nhuế được chia thành 2 phường: Cổ Nhuế 1Cổ Nhuế 2.

Image result for LÀNG CỔ NHUẾ

Lịch sử

Theo cuốn Từ điển Hà Nội - địa danh thì Cổ Nhuế (xã) xưa có tên Nôm là Kẻ Noi, thuộc tổng Cổ Nhuế, phủ Hoài Đức. Thời Pháp thuộc, trước năm 1942, sau khi bỏ cấp tổng, Cổ Nhuế gồm 3 xã (xã thời nhà Nguyễn) là Trù Đống, Hoàng (còn gọi là Cổ Nhuế Hoàng), Viên (còn gọi là Cổ Nhuế Viên). Năm 1945, 3 xã này (mà nay là xã Cổ Nhuế) thuộc quận 5 ngoại thành. Tới năm 1961, xã Cổ Nhuế được thành lập, các xã cũ trở thành thôn và tách Trù Đống thành 2: Cổ Nhuế Trù (Trù hay Chùa (thôn)), Cổ Nhuế Đống. Từ đó, xã Cổ Nhuế gồm 4 thôn.[3] Hai làng Cổ Nhuế Trù và Đống vốn từ một làng Cổ Nhuế (tên Nôm là Kẻ Noi) tách ra vào giữa thời Lý. Từ xa xưa đến đầu thế kỷ XX, hai làng nằm trong xã Cổ Nhuế (cùng với các làng Cổ Nhuế Hoàng và Cổ Nhuế Viên) thuộc tổng Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây (từ năm 1888 trở đi là tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 đổi làm tỉnh Hà Đông). Năm 1926, hai làng tách ra thành một xã riêng gọi là Cổ Nhuế Trù - Đống, dân số có 2034 người.

 Image result for LÀNG CỔ NHUẾ

Sau Cách mạng Tháng Tám, xã Cổ Nhuế Trù - Đống nhập với hai xã Cổ Nhuế Hoàng và Cổ Nhuế Viên thành xã Cổ Nhuế thuộc quận 5 ngoại thành Hà Nội, đến năm 1961 là một xã của huyện Từ Liêm. Tháng 12 năm 2013, xã Cổ Nhuế được tách thành 2 phường mới: Cổ Nhuế 1Cổ Nhuế 2 thuộc quận Bắc Từ Liêm vừa mới thành lập.
Hai làng Cổ Nhuế Trù và Cổ Nhuế Đống xưa cũng là làng nông nghiệp, có truyền thống thâm canh lúa và hoa màu giỏi. Song đến năm Ất Mão niên hiệu Duy Tân (1915), đê Liên Mạc bị vỡ làm phần lớn đồng ruộng của hai làng bị cát bồi lấp, từ chỗ cấy được hai vụ đến đây chỉ cấy được một vụ mùa, còn vụ chiêm phải chuyển sang trồng ngô, khoai lang xen đậu đỗ các loại. Nhờ kinh nghiệm thâm canh nên dân làng tạo được giống ngô nếp rất dẻo và thơm, có tiếng trong vùng. Từ năm 1920, do sản xuất nông nghiệp bị sút kém nên dân hai làng đã tìm học được nghề may để sinh sống. Từ một vài nhà ban đầu, đến năm 1935 cả hai làng đã có vài trăm hộ làm, rồi lan sang hai làng Cổ Nhuế Hoàng và Cổ Nhuế Viên. Rất đông thợ ma của hai làng vào nội thành may thuê cho các nhà thầu hoặc may quần áo cho binh lính, nhiều người có vốn mở hiệu may riêng. Một số chủ hiệu thợ may ở phố Hàng Trống phải lấy tên một thợ may giỏi người Cổ Nhuế làm tên cửa hiệu của mình để thu hút khách hàng.
 Image result for LÀNG CỔ NHUẾ

Về di tích lịch sử, thôn Đống còn ngôi nhà thờ ông Nguyễn Hữu Đạo là quan Thái y viện - cơ quan chăm sóc sức khỏe của vua và hoàng tộc vào thời Lê - Trịnh, từng chữa khỏi bệnh cho Hoàng hậu - vợ vua Lê Hiển Tông. Về sau, ông Đạo còn theo quân ra trận, lập được nhiều công nên được phong làm Thống suất binh Nam, Thượng tướng quân. Nhà thờ được làm bằng 36 cột đá, do chính vua Lê Hiển Tông tặng sau khi ông Đạo về hưu. Trong nhà thờ hiện còn một bảng khắc gỗ ghi lại bài thơ thất ngôn bát tuyệt ca ngợi tài đức của ông Đạo, song điều đặc biệt là một câu có một từ chỉ một vị thuốc quý mà ông đã dùng để chữa bệnh.
Thôn Trù còn một ngôi miếu nhỏ, bên trong còn tấm bia dựng năm Vĩnh Khánh thứ hai (1731) ghi việc ông ông Đỗ Pháp Hiển làm quan trong đội Cấm quân, có công hộ vệ vua đi tuần thú thoát khỏi bị bão đánh đắm thuyền ở cửa biển Thần Phù (Nga Sơn, Thanh Hóa) nên được thăng làm tước Siêu Hải hầu. Vì không có con nên ông bà hiến toàn bộ số ruộng của mình cho làng và được làm tôn làm hậu thần làng.

Đình chùa

Xã có nhiều đình, chùa tập trung ở cả bốn làng Hoàng, Đống, Trù và Viên với 3 ngôi chùa: Chùa Sùng Quang (Thôn Đống 2), Chùa Anh Linh (Thôn Viên 1), Chùa Trùng Hưng (Thôn Hoàng 2). Có hai ngôi đình ở 2 thôn Viên 2 và Hoàng 2, thờ thành hoàng làng (Hoàng Tử Đông Chinh Vương- Lý Công Lực, con trai vua Thái tổ Lý Công Uẩn), Đền Bà chúa thờ Túc Trinh công chúa, con gái vua Trần Thánh Tông. Lễ hội của làng thường được tổ chức vào ngày 10 tháng 2 âm lịch hàng năm. Lễ tế thành Hoàng làng vào ngày 10 tháng 10 âm lịch hàng năm. Ngoài ra ở thôn Viên 1 và Viên 2 còn có Lễ mộc dục và Lễ cúng thực(Công chúa Túc Trinh thời Trần) vào ngày 1 tháng 8 âm lịch hàng năm.
Từ thập niên 1970 các nhà khảo cổ đã đào được một số di vật dưới lòng đất ở đây như: rìu đá, hòn nghiền, hòn cà bằng đá, hòn gạch vuông có hoa văn trám lồng đời Hán, tượng cá hóa rồng thời Lý - Trần[cần dẫn nguồn].

Image result for LÀNG CỔ NHUẾ

Dân cư

Dân cư hiện nay tại xã gồm người bản địa và rất đông những người dân từ nhiều miền đến đây sinh sống, học tập. Rất nhiều người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề may truyền thống. Nhiều công ty may đã và đang được thành lập ở Cổ Nhuế, tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động trong vùng, cũng như lao động ngoại tỉnh.

Image result for LÀNG CỔ NHUẾ

Truyền thống nghề may của xã

  • Làng nghề may Cổ Nhuế có từ lâu đời. Khoảng năm 1920 do sản xuất nông nghiệp bị sút kém nên người dân Cổ Nhuế phải tìm thêm nghề để sinh sống, trong đó có nghề may. Lúc đầu chỉ có ông Trưởng Cốm ở thôn Trù và vài người làm nghề thợ may, sau phát triển dần. Đến năm 1935, cả xã có hàng trăn chiếc máy khâu và có nhiều người ra phố làm nghề may. Người có vốn thì mở hiệu may, người không có vốn thì đi may thuê. Có những thợ may giỏi được chủ đặt tên cho hiệu may của mình. Thời bao cấp, xã thành lập những hợp tác xã may gia công hàng xuất khẩu và phục vụ nhu cầu địa phương. Khi các hợp tác xã giải thể, nhiều xã viên mua máy về nhà để làm thêm. Trong những năm 1990 - 1992, nghề may phát triển nhờ may hàng xuất khẩu đi Ba Lan và Liên Xô. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là áo Giắc -ket, quy mô sản xuất chủ yếu là hộ gia đình. Lúc phát triển, làng có tới hàng trăm hộ chuyên nghề may, xuất hiện nhiều 
  • hộ có số vốn hàng tỷ đồng, trở thành những chủ hiệu lớn. Từ năm 1993, làng nghề chuyên sản xuất những mặt hàng nội địa và nhận gia cong cho một số nhà máy dưới hình thức là hộ tư nhân và các công ty trách nhiệm hữu hạn. Sản phẩm của làng nghề rất đa dạng: quần áo mùa hè, mùa đông của cả người lớn và trẻ em. Nguồn nguyên liệu là vải được nhập khẩu từ Trung Quốc. Công nghệ sản xuất bằng máy may công nghiệp. Nhân lực lao động chủ yếu là sử dụng lao động phổ thông, tự đào tạo. Hiện nay, mặc dù làng nghề đang gặp nhiều khó khăn trong mở rộng thị trường tiêu thụ, thiếu vốn, nhiều lao động chưa qua đào tạo, mặt bằng sản xuất không đều, nhưng cũng đã tạo việc làm cho khoảng 7000 lao động, thu nhập ổn định và cũng ký kết được một số hợp đồng xuất khẩu nước ngoài. Ngoài sản xuất theo hộ gia đình, nhiều công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập nhận gia công cho các xí nghiệp, thậm chí họ còn nhận gia 
  • công cho những hộ sản xuất nhỏ theo thời vụ
  •  
  • .Image result for LÀNG CỔ NHUẾ
  • Từ những năm đầu thế kỷ 20, nghề may không chỉ đem lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho dân làng Cổ Nhuế mà còn tạo ra những thay đổi về cơ cấu dân cư, quan hệ xã hội của làng, đặc biệt là làm hình thành đội ngũ công nhân may mặc có tay nghề cao, có ý thức cao về vị thế xã hội của mình.

 Làng Cổ Nhuế

Lướt mạng, thấy một bài độc nhất vô nhị nói về làng Cổ Nhuế – một địa danh nổi tiếng với cái nghề mà chẳng ai muốn kể ra. Tác giả ký tên Tiến sỹ – Hàn Sỹ chắc là nick name đã  tản luận vắn tắt cái nghề “khó kể” một cách trắng phớ, không e dè. Lao động là chân chính  – điều này  không bao giờ cũ. Vì vậy, nghề thu phân người khổ  sở nhưng lương thiện bao giờ cũng đáng tôn vinh hơn những việc bất lương ác đức… Trước đây tôi cũng mục sở thị nhiều người dân Cổ Nhuế lấy phân ở nhà xí công cộng nội thành cũng như dẻo dai gánh những gánh nặng ” sản phẩm ” trên đường. Tôi, được cái biết nghĩ, và lúc còn thiếu niên nhi đồng cũng từng nhặt phân trâu làm phân chuồng bón ruộng, nên chưa bao giờ dám coi khinh những người làm việc này mà chỉ thấy ghê ghê kinh kinh cái ” món” hàng kia. Và cũng có lúc nghĩ: làm phim đề tài này nhỉ? tại sao không! Nhưng rồi tự trả lời: ai duyệt cho,  ngay đề cương đã không thể thông qua, và giả sử nếu cho làm thì ngôn ngữ phim chưa biểu đạt được phần mùi vị, sẽ làm hỏng 1 đề tài hay
Hì hì…
LÀNG CỔ NHUẾ
 Hàn Sĩ – Tiến sĩ Vật Lý, Hà Nội
Lúc tôi còn nhỏ mẹ tôi thường đe tôi: “Nếu không học hành tử tế thì sau này chỉ có đi hót cứt thôi con ạ”. Hình ảnh người gánh phân suốt ngày lang thang trong cái thị trấn nghèo quê tôi làm tôi rùng mình. Cái tương lai có mùi khó ngửi này chẳng quyến rũ được ai. Nhưng mẹ tôi lầm. Thời tôi lớn đây là cái nghề hái ra tiền. Ít nhất cũng hơn hẳn cái sự kiếm ăn với cái bằng tiến sĩ của tôi. Anh biết đấy, viện Khoa Học của tôi nằm cạnh làng Cổ Nhuế, tôi có đủ sở cú để khẳng định với anh điều đó.
Làng này sống bằng nghề hót cứt, có đền thờ Thành Hoàng hẳn hòi. Thành Hoàng làng Cổ Nhuế là một vị hót cứt chính hiệu. Trong đền người ta thờ đôi quang và chiếc đòn gánh cùng hai mảnh xương trâu cầm tay … Người làng Cổ Nhuế đã đời này qua đời khác, ngày lại ngày, làm sạch cho thủ đô Hà Nội. Vua Lê Thánh Tông từng ban cho làng này câu đối : “Khoác tấm áo bào giang tay gánh vác Thiên hạ Vung hai thước kiếm, tận thu lòng dạ Thế gian”. Anh đừng so sánh làng Cổ Nhuế với làng Phương Lưu ; cạnh trường đại học Hàng Hải của anh ở Hải Phòng. So sánh như thế là hạ nhục làng Cổ Nhuế của tôi đấy. Ngoài cái vinh quang của nghề hót cứt (lao động là vinh quang).
Hơn nữa làng Phương Lưu của anh tuy hót cứt nhưng chủ yếu sống bằng nghề đạo chích, chứ đâu có được ‘’tôn chỉ mục đích’’ như dân Cổ Nhuế. Thanh niên Cổ Nhuế ta thề Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương Nhưng không phải dân làng Cổ Nhuế lúc nào cũng được hưởng cái vinh quang của lao động đâu anh ạ. Kể từ những năm hợp tác hóa ồ ạt vào cuối thập niên 50, nghề hót cứt đã phải chịu nhiều cay đắng. Người ta ngăn cấm những người nông dân đi hót cứt, coi như họ là những người trốn lao động, bỏ việc đồng áng để đi ‘’buôn’’ cứt. Người làng Cổ Nhuế phải tôn trọng pháp luật đành ngồi nhà mà tiếc rẻ những bãi…… đơn côi không người chăm sóc.
Chỉ mãi tới cuối năm 1986, sau đổi mới, đất đai được chia ra để cho các gia đình nông dân tự canh tác. Nghề trồng rau ở ngoại thành Hà Nội sống lại, người Cổ Nhuế mới lại được phép đi…. hót cứt và buôn… cứt. Rau cỏ của xứ ta thơm ngon là nhờ phân Bắc. Các cụ lão nông chi điên dạy thế ! Phân hóa học cho dù là sản phẩm của trí tuệ văn minh, chỉ cho những thứ rau xanh tươi nhưng nhạt thếch. Ðổi mới và cởi trói do mẫu công khai (Glasnost) có cái mặt trái của nó. Trước đây ai muốn đi hót cứt thì hót. Nhưng từ ngày người người đi hót, nhà nhà đi hót thì theo qui luật. ‘’Người khôn, của hiếm’’, dân Cổ Nhuế đã chiến đấu ngoan cường để dành lấy địa vị đầu ngành…. cứt Việt Nam.
Không biết đại tướng đồng hương , ngày ấy có can thiệp vào chuyện này hay không, nhưng theo qui dịnh của UBND thành phố HàNội dân ngoại thành không được phép tự do đi hót cứt và lấy cứt nữa. Trước đây ngoài những bãi cứt vô tổ chức, vô kỷ luật mà bất cứ ai cũng có thể hót. Người đi lấy cứt có thể đến làm vệ sinh cho các nhà xí hai ngăn ở các thành phố để để thu về cho mình một số cứt kiếm được. Bây giờ người nông dân ngoại thành bị bắt buộc phải mua phân tại chợ Cổ Nhuế, một chợ tự cổ chí kim, từ Ðông sang Tây đều không có, được thành lập năm 1989. Giá cả tùy thuộc chất lượng (nói sau). Dân ngoại thành bây giờ trở thành người đi lấy phân thuê cho Cổ Nhuế. Họ được phân chia địa bàn hoạt động, theo lịch sắp xếp mang sản phẩm đến chợ nhưng không phải để họ tự bán. Họ chỉ được nhận phần trăm tiền bán mà giá do ban quản lý chợ Cổ Nhuế quyết dịnh. Chống lại ư ?? Mất việc ngay. Ðội hậu bị, hàng ngàn người xung phong thay chân kiếm cứt (xã hội hiện tại cứt hơi ít lắm, nay phải kiếm, tức là phải đi làm vệ sinh để lấy cứt ở các hố xí, như đã nói trên) Ði kiếm cứt hơn hẳn làm thương nghiệp, đừng nói gì đến nông nghiệp. Mỗi lần tôi hỏi một anh Cổ Nhuế : – Giá cả như thế chắc các anh chóng giàu lắm. Anh đáp : – Anh Giai ơi, trông thế thôi, chứ kiếm được hai sọt thì cũng ăn mẹ nó hết một sọt rồi còn gi !?! Trong chợ phân, xuất hiện phân giả. Người ta dùng đất xét thuồn qua ống nứa, giã nhỏ thân chối trộn lẫn với nghệ bôi bên ngoài và cho tất cả lẫn vào phân thật. Ðó là bí quyết. Phân giả gây náo loạn cho chợ phân khiên thanh niên Cổ Nhuế phải cử ra một bộ phận ‘’kiểm tra chất lượng’’ trước khi giao hàng. Anh còn nhớ dốc Bưởi chạy về viện Khoa Học không ? Trạm kiểm tra được lập ra tại đó, hoạt động từ mờ sáng đến trưa. Mùi uế khí từ tay các kiểm tra viên thọc thẳng vào sọt phân tìm của giả. Nhờ lành nghề và cương quyết, sau đó vài tuần, những đứa làm phân giả bị cắt giấy phép. Tại chợ cứt được chia làm bốn loại: – Hạng nhất (first class) là phân lấy từ khu Ba Ðình… nơi có nhiều gia đình quan chức nên cứt được coi là ‘’nạc’’(tiếng nhà nghề chỉ cục phân rắn chất lượng cao) (!). – Hạng 2, Từ khu Hoàn Kiếm, nơi có nhiều dân buôn bán, nhiều nhà hàng khách sạn. – Hạng 3. Từ khu Hai Bà Trưng và Ðống Ða, nơi đa số dân cư là ngưòi lao động, xài nhiều rau nên ‘’mờ’’ (nhiều nước lỏng bõng) – Hạng 4. Từ ngoại thành, loại này xanh lẹt vì ‘’nguồn nguyên liệu thuần túy là rau muống. Bà con nông dân làm gì có thịt mà ăn. Có lần tại chợ xuất hiện một sọt phân đề chữ : ‘’Phân ngoại 100 phần trăm’’. Dân chúng không hiểu tại sao có bọn dám qua mặt Hải quan, dám nhập cảng ‘’phân ngoại’’ về xài. Về sau chủ nhân sọt phân giải thích : Phân lấy từ bể ‘’phốt’’ (fosse septique) của các sứ quán nước ngoài thì không phải là phân ngoại còn là gì ? Ðây là những điều tai nghe mắt thấy, tôi ghi lại gửi anh để có dịp kể lại cho bà con xa nước nghe chơi… Cho biết quê hương ta có những thứ…. mà người ta hoàn toàn không có.
Tôi bảo đảm đây là sự thật ‘’chăm phần chăm’’. Chuyện có thật .
 Hàn Sĩ – Tiến sĩ Vật Lý, Hà Nội (troinam.net)
Fr : Trannhuong.com
 http://maikakendu.blogspot.com/2013/05/nghe-hot-cut.html

No comments: