Monday, April 15, 2019

Cần bình tĩnh' theo dõi giàn Đông Phương 13-2

  • 10 tháng 4 2019
  • Bản quyền hình ảnh Getty Images
    Image caption Tàu cảnh sát biển Việt Nam ở gần khu vực giàn khoan Hải Dương 981 hôm 14/5/2014
    Trước việc Trung Quốc dự định sẽ đưa giàn sản xuất dầu khí lớn thứ hai là Đông Phương 13-2 (Dongfang 13-2 CEFB) vào lưu vực vịnh Bắc Bộ ngày 10/4, một nhà nghiên cứu Biển Đông nói Việt Nam "cần bình tĩnh" quan sát.
    Theo Tân Hoa Xã , hôm 10/4 giàn nổi này dự kiến sẽ di chuyển vào khu vực mà Trung Quốc gọi là bồn trũng Yinggehai, vốn có tiềm năng nhiều dầu khí nằm khoảng giữa đảo Hải Nam và bờ biển Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ. mà Việt Nam gọi là bồn trũng Sông Hồng.
    Thông tin này được đăng tải trên mạng xã hội, khiến dư luận hoang mang lo ngại về một kịch bản giống như 5 năm trước, khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào Biển Đông.
    Trả lời BBC hôm 10/4, nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn nói theo thông tin ông nắm được, giàn nổi này sẽ tới vị trí dự kiến là ở sát đường trung tuyến phân chia vịnh Bắc Bộ, trên vùng biển thuộc sự kiểm soát của Trung Quốc.
    "Tôi cũng nhận được thông báo là giàn khoan này sẽ dừng lại ở bên kia đường phân chia vịnh Bắc Bộ, như Tân Hoa xã thông báo. Vì thế, chúng ta chỉ theo dõi chứ chưa phản đối được."
    Bản quyền hình ảnh Trần Đức Anh Sơn
    Image caption Chuyên gia nghiên cứu Biển Đông Trần Đức Anh Sơn
    "Tôi vẫn đang theo dõi đường đi của giàn khoan Dongfang 13-2 CEPB qua tin tức trên báo chí nước ngoài. Tuy nhiên khi nó đang di chuyển trên vùng biển quốc tế và trong trên vùng biển do Trung Quốc kiểm soát thì theo luật pháp quốc tế, chúng ta chưa thể phản đối hoạt động của giàn khoan này được."

    'Cần bình tĩnh theo dõi'

    Cuối năm 2000, Việt Nam với Trung Quốc đã đạt được hiệp định phân chia vịnh Bắc Bộ sau một quá trình đàm phán lâu dài và công phu.
    Theo đó, ông Sơn nói Việt Nam kiểm soát khoảng 53% vịnh Bắc Bộ, nhờ Việt Nam có đảo Bạch Long Vĩ, còn Trung Quốc kiểm soát khoảng 47%.
    "Trong vùng nước do Trung Quốc kiểm soát và trong vùng biển quốc tế, thì Trung Quốc có quyền thực hiện quyền 'tự do hành hải'."
    Bản quyền hình ảnh Getty Images
    Image caption Vụ việc giàn khoan Hải Dương 981 đã làm nổ ra một loạt các cuộc biểu tình chống Trung Quốc trên khắp Việt Nam
    "Chỉ khi nào họ bắt đầu hoạt động thăm dò mà xâm phạm chủ quyền biển Việt Nam, xâm phạm nguồn tài nguyên dưới đáy biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam thì chúng ta mới có thể phản đối. Còn bây giờ chúng ta cần bình tĩnh theo dõi sát sao mọi hoạt động và đường đi của giàn khoan này."
    Nhưng ông Sơn cũng cho rằng đây là "một động thái đáng quan ngại" của Trung Quốc.
    "Dù Trung Quốc nói là họ đã chuẩn bị việc này trong hơn hai năm qua và nay là bước triển khai trên thực địa. Nhưng họ lại chọn thời điểm Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sắp có chuyến thăm Hoa Kỳ để triển khai hoạt động này, thì có vẻ như đây là một động thái dằn mặt Việt Nam."
    Theo Tân Hoa Xã, giàn sản xuất dầu Đông Phương 13-2 (Dongfang 13-2 CEPB) do tổ hợp liên doanh Zhuhai COOEC và Fluor Heavy Industries Co. Ltd. sản xuất là một giàn khoan xử lý dầu khí toàn diện và dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào tháng Sáu.
    Trọng lượng nổi của giaàn khoan là 17.247 tấn, tương đương với trọng lượng của 10.000 chiếc xe hơi thông thường và bao phủ một khu vực rộng bằng một sân bóng đá.
    Giàn khoan này sẽ giúp gia tăng đáng kể sản lượng khí đốt tự nhiên, ước tính sẽ đạt 2,6 tỷ mét khối hàng năm, đủ để cung cấp năng lượng cho Khu vực Vịnh Quảng Đông-Hồng Kông-Macao.

    Saturday, April 6, 2019


    Mỹ hủy visa của công tố viên ICC để ‘bảo vệ chủ quyền’


    Công tố viên Tòa án Hình sự Quốc tế, Fatou Bensouda, bị Mỹ hủy bỏ visa vì cuộc điều tra của bà nhắm vào lực lượng Mỹ ở Afghanistan.
    Công tố viên của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) hôm thứ Sáu cho biết visa vào Mỹ của bà đã bị hủy bỏ.
    Văn phòng của công tố viên Fatou Bensouda cho biết việc Mỹ hủy bỏ visa của bà không nên ảnh hưởng tới các chuyến đi của bà đến Mỹ dự các cuộc họp, bao gồm các cuộc họp thường xuyên tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
    Mỹ chưa bao giờ là thành viên của ICC, một tòa án đặt trụ sở tại thành phố The Hague đặc trách truy tố các tội nghiêm trọng chỉ khi các quốc gia khác không muốn hoặc không thể đưa nghi phạm ra trước công lí.
    Người phát ngôn của Liên Hiệp Quốc Stephane Dujarric nói: “Chúng tôi hi vọng Hoa Kỳ tuân thủ thỏa thuận cho phép các nhân viên của ICC du hành để thực hiện công tác của họ tại Liên Hiệp Quốc.”
    Bộ Ngoại giao Mỹ xác nhận việc hủy bỏ visa của bà Bensouda.
    “Hoa Kỳ sẽ thực hiện các bước cần thiết để bảo vệ chủ quyền của mình và bảo vệ người dân của chúng tôi khỏi việc điều tra và truy tố bất công của Tòa án Hình sự Quốc tế,” bộ nói.
    Tháng trước, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo nói rằng Washington sẽ hủy bỏ hoặc từ chối visa cấp cho nhân viên ICC đang tìm cách điều tra các tội ác chiến tranh và các hành vi ngược đãi khác của lực lượng Mỹ ở Afghanistan hoặc các nơi khác và có thể làm như vậy với những người tìm kiếm hành động nhắm vào Israel.
    Công tố viên ICC này có một yêu cầu đang chờ thụ lí để xem xét các tội ác chiến tranh khả dĩ xảy ra ở Afghanistan mà có thể liên quan đến người Mỹ. Người Palestine cũng đã yêu cầu tòa án thụ lí các vụ kiện chống lại Israel.
    Bà Bensouda năm ngoái đã yêu cầu mở một cuộc điều tra về các cáo buộc tội ác chiến tranh gây ra bởi lực lượng an ninh quốc gia Afghanistan, phiến quân mạng lưới Taliban và Haqqani, cũng như các lực lượng và quan chức tình báo Mỹ ở Afghanistan kể từ tháng 5 năm 2003.
    Chính quyền Clinton năm 2000 kí Quy chế Rome sáng lập ICC, nhưng ông có những ngờ vực về phạm vi thẩm quyền tài phán của tòa án và không bao giờ đệ trình nó để Thượng viện phê chuẩn.

    Những cái chết oan ức



    Thắp nến tưởng niệm nạn nhân vụ thảm sát ở New Zealand.


    Một trong bốn nghi can bị bắt trong vụ giết người hàng loạt tại Tân Tây Lan (New Zealand) vào thứ Sáu vừa qua là một người Úc tên Brenton Tarrant, mà Thủ tướng Úc Scott Morrison nhận diện là thành phần “khủng bố cực hữu”. Cuộc bắn giết mà được gọi là khủng bố này làm cho cả nước Tân Tây Lan, nước Úc và toàn thế giới bàng hoàng, bởi nhiều lẽ.
    Một, Tân Tây Lan là một nước hiền hòa, bạo lực không phải là không có nhưng rất hiếm. Hiền hòa đến độ cảnh sát Tân Tây Lan có khi không cần đeo súng trong lúc thi hành công vụ. Bởi nó không cần thiết.
    Hai, trong lịch sử cận đại của Tân Tây Lan chưa có cuộc tàn sát nào gây thương vong ở tầm mức này. Cho đến nay có 50 người chết, khoảng 40 người bị thương, được chính thủ phạm quay trực tuyến sống (live online), để rồi nữ Thủ tướng Jacinta Ardern phải xác nhận rằng đây là hành động bạo lực bất thường chưa từng xảy ra, và đó là một trong những ngày đen tối nhất trong lịch sử Tân Tây Lan.
    Ba, kể từ vụ khủng bố tại New York vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đến nay, đại đa số các cuộc khủng bố đều do các nhóm Hồi giáo cực đoan thực hiện đối với các nền dân chủ Tây phương. Xu hướng thượng đẳng da trắng (white supremacy) đã gia tăng khắp nơi trong thời gian qua, một phản ứng đối với xu hướng Hồi giáo cực đoan, nhưng các cơ quan tình báo nội địa của Tân Tây Lan lẫn Úc không ngờ bị bỏ sau vài bước.
    Và chắc chắn đây không phải là lần khủng bố sau cùng bởi người da trắng đối với người Hồi giáo, bởi xu hướng thượng đẳng da trắng ngày càng gia tăng.
    Tại sao người ta trở nên cực đoan?
    Thoạt nhìn vào những kẻ khủng bố tàn sát bao nhiêu người vô tội một cách dã man như thế, chúng ta dễ dàng đi đến kết luận rằng họ là những người tà ác, là kẻ ác quỷ (evil). Những người theo một tôn giáo nào đó lại dễ tin vào cách kết luận như thế, bởi nhiều tôn giáo quan niệm địa ngục dành cho ác quỷ. Nhưng cách hành xử của con người nói chung là khá phức tạp, và mỗi đối tượng bị cực đoan hóa cũng khác nhau.
    Tức giận, hận thù hay niềm tin cực đoan đến độ mất hẳn lý trí, lương tri, không còn một chút lòng thương hại nào, để rồi quyết định tấn công người mà họ coi là kẻ thù phải tiêu diệt, rồi nả súng, đâm chém một cách không thương tiếc, là các dấu hiệu của thành phần bị cực đoan hóa. Nhưng thật ra nó chỉ là triệu chứng chứ không phải là nguyên nhân sâu sa.
    Theo cơ quan điều tra FBI của Hoa Kỳ thì không có một lý do riêng lẻ nào giải thích được vì sao người ta trở thành cực đoan bạo lực, nhưng nó thường xảy ra trong tình huống mà người đó đang có khoảng trống nhu cầu cá nhân sâu sắc mà cần được khỏa lắp.
    FBI liệt kê bảy loại nhu cầu cá nhân: 1) quyền lực; 2) thành đạt; 3) kết nối; 4) quan trọng; 5) mục đích sống; 6) đạo đức; 7) phấn khích. Có người muốn quyền lực, có người muốn cảm thấy mình quan trọng, có người lầm tưởng rằng hy sinh vì thánh chiến là tiếng gọi thiêng liêng và được lên thiên đàng, và cũng có người muốn tham gia vì các hoạt động này kích thích và phấn khởi v.v…
    Những kẻ chủ mưu khủng bố, trong đó có các nhà nước khủng bố, hiểu điều này và khai thác tận tình những người ở trong tình trạng tâm lý bất an, dễ bị tổn thương, dễ bị lây động. Họ là những người cảm thấy cô đơn, mất ý nghĩa và mục đích cuộc sống, hay đã từng trải qua cuộc sống đầy căng thẳng, bất mãn với chính quyền sở tại, thù ghét một số hạng người nào đó, không cảm thấy mình có giá trị hay được xã hội quý trọng, hay nghĩ rằng cơ hội thành công của họ là rất giới hạn v.v... Vì sợ, vì bực bội, bị cô đơn, lo lắng, hay trải qua kinh nghiệm khó khăn đau đớn trong cuộc sống, nhưng không được hướng dẫn giúp đỡ, họ càng dễ bị cám dỗ. Các nhà khoa học tâm lý cũng nghiên cứu sâu sắc về địa hạt này, và cũng đưa ra các kết luận tương tự như cơ quan FBI. Họ cho rằng những trải nghiệm cô đơn, đau đớn dễ làm cho người ta trở nên chấp nhận và ủng hộ các quan điểm cực đoan. Thiển cận cũng là một yếu tố đáng kể. Có những người tưởng mình biết nhiều biết đủ, nhưng thật ra kiến thức rất giới hạn; họ chọn các lập trường cực đoan, không khoan dung hay nhượng bộ.
    Tất cả các mẫu người trên dễ bị cám dỗ để rồi trở thành con rối, bị các thế lực khác điều khiển, thay vì ý thức và tự chủ lấy các quyết định đúng đắn của mình. Họ bị tuyên truyền để tin rằng họ đang làm một việc có ý nghĩa, đạo đức, và sự đóng góp và sự hy sinh của họ là cao cả.
    Sự kiện khủng bố tại Tân Tây Lan cho thấy rằng không chỉ những người theo đạo Hồi là nạn nhân của mục tiêu cực đoan hóa, mà người da trắng Tây phương hay bất cứ ai cũng có thể trở thành đối tượng của chủ nghĩa cực đoan. ISIS đã bị đánh bại, nhưng Taliban vẫn còn đó; chủ nghĩa cực đoan về tôn giáo (những kẻ sẵn sàng xả thân vì thánh chiến) hay chính trị không biến mất mà chỉ biến dạng. Chủ nghĩa bộ lạc và chính trị bản sắc (tribalism and identity politics) có xu hướng gia tăng. Hận thù và bạo lực sẽ nuôi dưỡng bạo lực và hận thù, một vòng luẩn quẩn trông như không có lối thoát.
    Có thể làm gì với xu hướng cực đoan?
    Điều quan trọng mà mọi người cần hiểu là rằng tựu chung ai cũng có nhu cầu để được hạnh phúc, sung sướng. Nhưng mỗi người phải tự đi tìm con đường để thực hiện ước vọng này, bởi không ai làm được việc này thay thế mình. Và mỗi thế hệ cũng phải tự làm lấy. Vật chất, dù sung túc, chỉ là một phần trong nhu cầu đời sống phức tạp của con người.
    Có người đi tìm mục đích cá nhân bằng con đường chính đáng. Nó phải đáp ứng các giá trị và nguyên tắc sống của họ. Nhưng cũng có người muốn đi con đường tắc, dễ dàng bị lôi kéo, cám dỗ. Điều chắc chắn là không một ai sinh ra tự nhiên là kẻ giết người cả. Hoàn cảnh cá nhân và xã hội đưa đẩy họ đến con đường như thế.
    Trong sự kiện khủng bố tại Tân Tây Lan hôm qua, nữ Thủ tướng Jacinta Ardern đã chứng tỏ là một lãnh đạo vừa có viễn kiến, chủ động nắm bắt mọi diễn biến, điều động một cách khôn khéo, và trên hết là người có sự cảm thông sâu xa.
    Một, bà Ardern đã họp báo sớm nhất có thể sau khi sự kiện xảy ra để trình bày các thông tin cần thiết, vừa đủ. Đây là điều cần thiết để người lãnh đạo quốc gia, qua truyền thông, trình bày cho người dân hiểu rõ vấn đề, để họ không bị giao động, lo lắng hay cảm thấy bất an. Bà lên án hành động và kẻ khủng bố nhắm vào người di dân đến Tân Tây Lan, trong đó có thể là người tị nạn, mà bà xem tất cả đều là người Tân Tây Lan, là “chúng ta”. Bà cũng liên tục cập nhật thông tin khi có thể, đưa đề nghị để mọi người nên đề phòng đóng cửa/ngưng mọi hoạt động (lockdown) cho đến khi tình huống sáng sủa hơn.
    Hai, bà liền bay đến hiện trường, quan sát, rồi đến thăm cộng đồng Hồi giáo, an ủi vỗ về và chia sẻ nỗi đau thương mất mát to lớn của họ. Bà tế nhị bày tỏ sự tương kính dành cho họ bằng cách mang khăn choàng lên đầu như kiểu cách phụ nữ Hồi giáo. Khi được hỏi bà cảm thấy như thế nào khi đứng trong tòa nhà của kẻ sát thủ người Úc, bà Ardern nói ngay lập tức: “Tôi cũng đang ở trong cùng tòa nhà của những người đưa hắn ta ra công lý”. Bà quan tâm, biết rõ mình cần nói gì trong tình huống khó khăn, và điều này xoa dịu phần nào nỗi đau của những người mất mát qua sự kiện này. Khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump gọi hỏi Hoa Kỳ có thể làm gì để giúp, bà Ardern trả lời: “Cảm thông và yêu thương dành cho tất cả cộng đồng Hồi giáo”.
    Ba, bà Ardern hiểu rằng giải pháp liên can đến khủng bố phải là một loạt các biện pháp cải tổ luật về kiểm soát súng, kiểm soát biên giới, tăng cường chia sẻ thông tin với Úc, và củng cố các biện pháp và tiến trình theo dõi tội phạm. Do đó bà Ardern liền chỉ đạo cho ủy ban điều hợp an ninh quốc nội phải trình bày bản báo cáo về sự vụ này cho nội các của bà vào thứ Hai tới đây để lấy các quyết định nhanh chóng và cần thiết.
    Kiểm soát súng có phải là giải pháp?
    Các cơ quan công quyền Tân Tây Lan lẫn Úc cho đến nay vẫn chưa rõ là làm thế nào một kẻ như Brenton Tarrant có thể hành động kinh hoàng như thế, làm thế nào hắn ta có đến năm súng, hai bán tự động, hai súng ngắn và một súng tự động (tiểu liên) dùng để giết các nạn nhân này, nhưng Tarrant không nằm trong danh sách cần quan tâm theo dõi nào cả?
    Đầu năm 2017, khi Bộ trưởng Cảnh sát Paula Bennett bác bỏ 12 trong 20 đề nghị từ ủy ban điều tra về sự tàng trữ vũ khí trái phép, thì vào tháng 10 năm 2017, Chủ tịch của Hội Cảnh sát Tân Tây Lan Chris Cahill phát biểu rằng đây là cơ hội bị bỏ lỡ, và điều mà có lẽ mang nó trở lại bàn họp này, phải chăng, có thể là một thảm nạn. Điều Cahill nói cách đây 17 tháng quả là như tiên tri. Liền sau sự kiện này, bà Ardern khẳng định một trong những điều chắc chắn phải làm là cải tổ luật kiểm soát súng. Cựu nữ Thủ tướng Tân Tây Lan Helen Clark và rất nhiều chuyên gia về an ninh cũng đồng tình với quan điểm này.
    Hiện tại, Tân Tây Lan chỉ có 4.6 triệu người, mà đã có đến 1.2 triệu cây súng (nhưng ước tính có lẽ lên đến 1.5 triệu cây súng trên thực tế). Nghĩa là bình quân một trong bốn người có súng.
    Trong khi đó, trong dân số 24.6 triệu dân Úc thì chỉ có 3.5 triệu cây súng. Nghĩa là bình quân một trong tám người có súng.
    So với Hoa Kỳ thì trong 100 người thì có đến 120 cây súng, tức bình quân một người có hơn một súng.
    Khi so sánh thì Tân Tây Lan, một quốc gia hiền hòa, nhưng số lượng súng vẫn quá cao, đứng hàng 18 trên thế giới về tỷ lệ người dân có súng.
    Một trong những điều Tân Tây Lan, và khắp nơi trên thế giới, có thể học được từ Úc là luật kiểm soát súng tại đây. Sau khi vụ thảm sát tại Port Arthur, Tasmania vào đầu năm 1996, giết hại 35 người, cựu Thủ tướng John Howard đã rất cương quyết về việc kiểm soát súng, mặc dầu gặp sự phản đối quyết định của các hội bảo vệ quyền sử dụng súng tại đây. Quyết định của nội các Howard vào ngày 6 tháng Năm năm 1996 là cấm mọi loại vũ khí tự động và bán tự động, thiết lập hệ thống đăng ký vũ khí toàn diện trên toàn quốc, dành một thời gian ân xá trong đó vũ khí bị cấm và không đăng ký có thể được giao trả cho công quyền; và việc tạo ra một quỹ bồi thường thông qua thuế thu nhập để mua vũ khí bị cấm từ những người sở hữu. Lịch sử đứng về phía ông Howard về vấn đề này. Trong 25 năm, tỷ lệ giết người giảm 22 phần trăm, từ 307 năm 1989-90 xuống còn 238 năm 2013-14, tức một trên 100 ngàn người. So với Hoa Kỳ thì tỷ lệ là 10.6 trên 100 ngàn người chết vì súng.
    Một trong nhiệm vụ quan trọng nhất của lãnh đạo quốc gia là tìm đủ mọi giải pháp khó khăn nhưng cần thiết để tạo dựng môi trường an toàn và bảo vệ an ninh cho người dân từ những kẻ muốn hãm hại họ. Những vụ giết người bằng súng tại Úc tuy thỉnh thoảng vẫn xảy ra, nhưng từ vụ thảm sát tại Port Arhur cách đây gần 23 năm, hầu như Úc không còn xảy ra các vụ bắn súng giết người hàng loạt nữa, và những kẻ khủng bố như Brenton Tarrant cũng không thể hoạt động tại Úc như đã làm tại Tân Tây Lan.
    Đối phó với khủng bố, cực đoan hay các chủ mưu cực đoan hóa là cực kỳ nhức nhối và phức tạp, vì giải pháp phải mang tính đa chiều và đa tầng. Bà Ardern và dư luận Tân Tây Lan có vẻ sẵn sàng để thảo luận và quyết định mang lại thay đổi tốt hơn cho quốc gia của mình, về luật kiểm soát súng và các biện pháp cần thiết khác. Chính quyền Morrison của Úc cũng họp cấp tốc với giới tình báo nội địa hôm nay để tìm kế hoạch ngăn chặn và kiểm soát tình hình có khả năng leo thang của các xu hướng cực đoan trong thời gian tới.
    Khi sự tức giận, hận thù và chia rẽ gia tăng mà người ta lại có phương tiện như vũ khí, súng đạn trong tay, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân trong những lúc bồng bột dại dột, thì hệ quả là khốc liệt. Nếu phương tiện vũ khí bị tước đi, hay giảm thiểu, thì ý đồ hãm hại người khác, nếu có, cũng khó hoàn thành được mục tiêu.
    Điều cần thiết hiện nay là mọi người dân phải đối phó với vấn đề này bằng cái đầu nguội, không phải bằng cảm tính và cảm giác đe dọa. Lãnh đạo quốc gia đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này. Họ cần thuyết phục và hướng dẫn công chúng từng bước vượt qua các chướng ngại hiện nay, để sự rạn nứt trong người dân gia giảm, để giảm thiểu những nguy cơ bùng nổ lớn hơn cũng như những cái chết oan ức mà có thể tránh được.
    (Úc Châu, 18/03/2019)

    • Phạm Phú Khải

      Từ nhỏ, gia đình bảo giỏi toán. Lớn lên, quyết định học kỹ sư, tưởng sở trường của mình.
      Về sau, thích hoạt động xã hội, đam mê tìm hiểu các hành vi con người và chính trị được định hình bởi các yếu tố nào.
      Gần đây, càng làm việc liên quan đến con người, và càng nghiên cứu nhiều hơn, tôi tìm thấy khoa học hành vi và khoa học xã hội (Behavioural Science and Social Science), trong đó tâm lý, nhất là địa hạt khoa học thần kinh (neuroscience), giải thích được rất nhiều về cách suy nghĩ và hành xử của con người.
      Tôi hy vọng có dịp chia sẻ với bạn đọc về những vấn đề cùng quan tâm, và mong được học hỏi từ mọi người qua trang blog này.

    Cung cách lãnh đạo là chìa khóa


    Thủ tướng Tân Tây Lan, Jacinda Ardern.
    Ngôn từ và hành động của một người có khả năng truyền cảm thông và chuyển hóa hố ngăn cách hoặc thù nghịch với người khác. Ngược lại, nó cũng có khả năng truyền hận thù và tạo phân hóa giữa con người với nhau.
    Vô số bằng chứng từ các nghiên cứu về tâm lý xã hội, trong phòng thí nghiệm cũng như trên thực tế, cho thấy cách hành xử của một người có thể tác động lên người khác, làm cho người ta trở nên vô luân hơn, hận thù hơn và bạo lực hơn; và những người ở địa vị thẩm quyền có ảnh hưởng đặc biệt trong việc tác động lên tiến trình cực đoan hóa, lên quan điểm và hành động lên những người tôn thờ họ [1].
    Ngôn từ và hành động của một lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo quốc gia, và nhất là lãnh đạo một cường quốc, tác động mạnh mẽ lên người dân, một cách tiêu cực hoặc tích cực.
    Qua vụ giết người hàng loạt tại Tân Tây Lan, nhiều cơ quan truyền thông đã đề cập đến sự kiện nghi can người Úc Brenton Tarrant từng xem Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump như là thần tượng của mình. Mặc dầu chính ông Trump và Nhà Trắng phủ nhận mọi liên hệ với Tarrant qua sự kiện này, điều không thể phủ nhận là ảnh hưởng của ông Trump đối với xu hướng thượng đẳng da trắng (white supremacy) [2]. Qua các phát biểu trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng vào những năm 2015, 2016 cũng như các Sắc lệnh Tổng thống sau khi nhậm chức, ngôn từ (kể cả khi nói hay khi im lặng không nói) và hành động (hoặc không hành động), ông Trump biện luận rằng muốn cho nước Mỹ vĩ đại trở lại, Hoa Kỳ không thể tiếp tục là bãi đổ rác cho vấn đề của mọi người khác, và một số chủ trương căn bản của ông mang tính cách bài di dân và bài Hồi giáo [3]. Phần lớn các quan điểm này cũng không thay đổi sau hai năm cầm quyền, kể cả bức tường biên giới mà ông Trump vẫn chưa thực hiện được.
    Không có gì ngạc nhiên khi các xu hướng thượng đẳng da trắng khắp nơi, ngay cả tại những nơi hiền hòa như Úc và Tân Tây Lan, coi cuộc thắng cử của ông Trump vào Nhà Trắng năm 2016 là biến cố quan trọng để ăn mừng [4].
    Sau vụ khủng bố tại Christchurch vừa qua, và sau các biến sự tại Mỹ trong hai năm qua, ông Trump cũng không lên án và không nêu đích danh xu hướng thượng đẳng da trắng đang trổi lên tại Mỹ và khắp nơi [5].
    Trong khi đó, cung cách của nữ Thủ tướng Tân Tây Lan Jacinta Ardern qua sự kiện trên khác hẳn với ngôn từ và hành xử của ông Trump.
    Chỉ chưa đầy một tuần, bà Ardern đã thay đổi cái nhìn của thế giới về Tân Tây Lan. Ngôn từ và hành động của nữ Thủ tướng Ardern không hề chia rẽ hay yếu đuối mà, ngược lại, đầy cảm thông, nhân bản và sức sống. Bà Ardern trở thành biểu tượng của lòng trắc ẩn, bao dung và quyết đoán. Không phải là một biểu tượng không có thực chất, để rồi sụp đổ hay tan thành mây khói sau đó. Không biểu tượng nào có thể đứng vững nếu không có giá trị thật làm nền tảng.
    Đúng một tuần sau vụ tàn sát này, hàng ngàn người Tân Tây Lan đã đến công viên Hagley trước đền Hồi giáo Al Noor tại Christchurch nơi xảy ra vụ tàn sát để làm lễ tưởng niệm và để bày tỏ sự đoàn kết [6]. Hàng ngàn người khác cũng tụ về thành phố Auckland, và nhiều phụ nữ cũng đã mang khăn trùm đầu (hijab) để bày tỏ sự ủng hộ của mình, trong đó có bà Ardern. Cảm động với hình ảnh này, Thủ tướng và Phó Tổng thống của United Arab Emirates/UAE, ông Sheik Mohammed, hôm thứ Bảy vừa qua đã gửi lời tri ân: “Cảm ơn Thủ tướng Jacinta Ardern và Tân Tây Lan đối với sự đồng cảm và ủng hộ chân thành của quý vị mà đã chiếm được sự kính trọng của 1.5 tỷ người theo đạo Hồi sau vụ tấn công khủng bố làm chấn động cộng đồng Hồi giáo trên khắp thế giới.” [7]. Hình ảnh bà Ardern mặt hijab ôm chặt người đạo Hồi sau vụ khủng bố đã được tỏa chiếu lên tòa nhà cao nhất trên thế giới có tên Burj Khalifa tại Dubai, cao 829 mét, với chữ “salam”, có nghĩa là “hòa bình”. Còn ông Mohammad Faisal, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Pakistan, cho rằng bà Ardern đã “chiếm được trái tim của người Pakistan vì lòng trắc ẩn và tài năng lãnh đạo của bà” [8].
    The New York Times đã ca tụng tài lãnh đạo của bà Ardern trong bài “Hoa Kỳ xứng đáng có một lãnh đạo tài giỏi như bà Jacinta Ardern” [9]. Ngoài việc nêu cao cung cách đáng kính của bà Ardern, bài xã luận này nhấn mạnh rằng chỉ qua một vụ tàn sát thôi, và chỉ mất vài ngày (sáu ngày), bà Ardern đã thành công trong biện pháp kiểm soát súng. Vào thứ Năm 21 tháng Ba, bà Ardern tuyên bố rằng tất cả các loại súng tự động và bán tự động kiểu quân sự, và tất cả các bộ phận nào có thể dùng để ráp thành súng kiểu này, đều bị cấm. Trong khi tại Hoa Kỳ hết vụ tàn sát này đến tàn sát khác, cũng như 73 phần trăm người Mỹ nói rằng cần phải có biện pháp để ngăn ngừa bạo lực bằng súng, nhưng chẳng thay đổi gì cả.
    Khi được hỏi bà nghĩ gì về các lời ngợi ca về tài lãnh đạo của mình, bà Ardern trả lời “Tôi không nghĩ là tôi thể hiện tài năng lãnh đạo gì cả. Tôi chỉ nghĩ rằng tôi thể hiện tinh thần nhân bản thôi” [10]. Về nghi can, bà Ardern khẳng định “Hắn ta là một kẻ khủng bố. Hắn là một tội phạm. Hắn là một kẻ cực đoan”. Nhưng bà từ chối nêu tên nghi can. Bà Ardern nhấn mạnh: “Trong chính trị chúng ta có thể chọn cách thể hiện hành vi của mình. Đó là một phần lý do mà tôi đã chủ tâm chọn cách không nêu tên kẻ khủng bố, và gọi nó là xu hướng khủng bố. Nhưng sau cùng nó tùy theo mỗi cá nhân, cơ quan truyền thông và chính trị gia nhận trách nhiệm về địa vị và ngôn ngữ của mình”. Bà Ardern thành thật cho rằng “Tất cả những gì tôi thể hiện là các giá trị của người Tân Tây Lan…”. Tự nhận mình không theo một tôn giáo nào mà chỉ tin vào thượng đế (Agnostic), khi được hỏi làm thế nào để trãi qua kinh nghiệm tang thương như thế này, bà Ardern trả lời: “Tôi nghĩ rằng nếu bạn/mọi người có niềm tin tuyệt đối về tinh thần nhân bản, và tôi vẫn còn có điều đó”.
    Trong cuộc phỏng vấn đặc biệt của Waleed Aly, một điều hợp viên của chương trình The Project trên đài truyền hình số 10, sẽ được trình chiếu vào tối thứ Hai 25 tháng Ba này, trước khi bắt đầu bà Ardern hỏi ông Aly có vấn đề gì không nếu bà ôm ông một cái [11]. Biết ông Aly theo đạo Hồi, bà Ardern cảm nhận sâu sắc nỗi niềm của các tín đồ qua biến cố 15 tháng Ba. Khi được hỏi bà có suy nghĩ nhiều để đi đến quyết định mang khăn trùm đầu sau vụ khủng bố, bà Ardern cho biết bà không mất nhiều suy nghĩ, bởi vì đối với bà đó là điều thích hợp để làm: “Nếu việc tôi mặt hijab này làm cho người ta (phụ nữ theo đạo Hồi) cảm giác an toàn để tiếp tục thực hành niềm tin của họ thì tôi rất vui mừng đã mặt nó”.
    Bà Ardern là người thật, và những gì bà làm đều là chân thật. Không cần bài bản soạn sẵn. Không cần suy nghĩ tính toán. Tư tưởng của bà Ardern thoát ra một cách tự nhiên. Mọi ngôn từ và cử chỉ của bà trong một tuần qua, qua mọi ống kính, đều cho thấy rất thực. Trong thời đại này, nếu không thật thì không dễ gì qua mặt người khác. Lãnh đạo quốc gia của các nước theo đạo Hồi cũng cảm nhận được bản chất thật của bà Ardern nên tri ân bà. Rất nhiều những người không theo đạo Hồi cũng thấy cảm phục về con người thật Jacinta Ardern: đồng cảm, dũng cảm và quyết đoán.
    Tất nhiên có người thương mến thì cũng có người căm ghét. Nhất là trong chính trị, bà Ardern hiểu chuyện đó. Bà Ardern cũng bị hăm dọa sau khi mặt hijab. Nhưng bà hiểu đó là thành phần thiểu số, tuy cần biết nhưng không cần quá bận tâm.
    Sau sự kiện 11 tháng 9 đến nay, và sau bao nhiêu vụ tấn công của các nhóm khủng bố Hồi giáo, từ phái Sunni đến Shia, tại Trung Đông cũng như các nền dân chủ Tây phương, khủng bố của thế kỷ 21 đã làm cho mọi người trên thế gian này cảm thấy bất an: hầu như không còn một nơi nào hoàn toàn an toàn cả. Hồi giáo, và người theo đạo Hồi, trở thành một ám ảnh, âu lo, làm cho khuynh hướng dân tuý, bảo thủ, bài di dân, bài Hồi giáo, trổi lên khắp Âu châu và lan rộng đến Bắc Mỹ, Úc và Tân Tây Lan. Cảm giác bất an và nỗi lo sợ chủ quan của người dân đã làm cho các lãnh đạo chính trị Tây phương, ngay cả những người cấp tiến và không hề phân biệt chủng tộc hay tôn giáo, cũng không muốn đứng gần những gì đại diện cho Hồi giáo. Bởi, nếu không khéo, các chính trị gia có thể mất phiếu hoặc, tệ hơn, trở thành mục tiêu tấn công của các thành phần cực đoan theo xu hướng bài Hồi. Phần lớn chọn thế trung dung để dung hòa các bên cực đoan, bảo thủ. Cũng vì thế nên cung cách lãnh đạo chân thật của bà Jacinta Ardern đã thật sự truyền cảm hứng và chuyển hóa đối với người khác. Bà Ardern đã chiếm được khối óc và trái tim của bao người trên thế giới, không chỉ những người theo đạo Hồi giáo.
    Cung cách lãnh đạo hiệu quả của bà Ardern chứng minh rằng lãnh đạo quốc gia cần phải can đảm lấy những quyết định khó khăn trong các tình huống phức tạp để giảm bới chia rẽ và gia tăng đoàn kết trong người dân. Không lãnh đạo nào có thể làm vừa lòng mọi người, nhưng lãnh đạo tài năng có thể chuyển hóa người dân và hoàn cảnh. Cung cách hành xử đầy cảm thông và chân thật của bà Ardern dành cho người Hồi cũng là điều mà những người từng là di dân, hoặc con cái của các thế hệ này, như nguời Việt tị nạn chẳng hạn, cần trân trọng ghi nhận và ủng hộ. Bởi những người như Jacinta Ardern của Tân Tây Lan, Malcolm Fraser của Úc, hay John McCain của Hoa Kỳ, vân vân…, hành động vì cái tâm của họ, vì đó là lẽ phải cần làm, bất cần phiếu hay những tính toán chính trị vì quyền lợi và quyền lực khác. Họ sẽ đứng về phía thiểu số, bênh vực phía yếu đuối, nếu chính đáng, và sẵn sàng bảo vệ những người đó cho dù dư luận hay thành trì quyền lực có quan điểm ngược lại họ đi nữa.
    Những lãnh đạo như thế sẽ tồn tại theo thời gian, và được bao người thật sự thương mến, tri ân, thay vì những thành phần có toan tính nhất thời và những trò chính trị mị dân.
    (Úc Châu, 24/03/2019)
    Tài liệu tham khảo:
    1. Sophia Moskalenko, “How Could President Trump Have Inspired the NZ Shooter?”, Psychology Today, 19 March 2019.
    2. Albert Redmore, “Trump angered at link to Christchurch attack, blames fake news”, MSN, 19 March 2019.
    3. Yochai Benkler, Robert Faris, and Hal Roberts, “Network PropagandaManipulation, Disinformation, and Radicalization in American Politics”, Oxford Scholarship Online; October 2018.
    4. Alex Mann, Kevin Nguyen and Katherine Gregory, “Christchurch shooting accused Brenton Tarrant supports Australian far-right figure Blair Cottrell”, ABC News, 23 March 2019.
    5. John Nichols, “Why Is It So Hard for Our President to Condemn White Supremacy and Islamophobia?”, The Nation, 15 March 2019.
    6. Anna Fifield, “A week after the shootings, New Zealand joins Muslim community for Friday prayers”, The Washington Post, 22 March 2019.
    7. Joel MacManus, “World's tallest building lit up with image of Jacinda Ardern”, The Age, 23 March 2019.
    8. Maya Salam, “Jacinda Ardern Is Leading by Following No One”, The New York Times, 22 March 2019.
    9. The Editorial Board, “America Deserves a Leader as Good as Jacinda Ardern”, The New York Times, 21 March 2019.
    10. Philip Matthews, “'We are all forever changed': Prime Minister Jacinda Ardern reflects on the week”, Stuff, 22 March 2019.
    11. News, “‘Do you mind if I give you a hug?’ Waleed Aly interviews Jacinda Ardern”, News.com.au; 23 March 2019. Laura Chung, “'Do you mind if I give you a hug?': Jacinda Ardern meets Waleed Aly”, The Sydney Morning Herald, 23 March 2019.

    Phạm Phú Khải

    Từ nhỏ, gia đình bảo giỏi toán. Lớn lên, quyết định học kỹ sư, tưởng sở trường của mình.
    Về sau, thích hoạt động xã hội, đam mê tìm hiểu các hành vi con người và chính trị được định hình bởi các yếu tố nào.
    Gần đây, càng làm việc liên quan đến con người, và càng nghiên cứu nhiều hơn, tôi tìm thấy khoa học hành vi và khoa học xã hội (Behavioural Science and Social Science), trong đó tâm lý, nhất là địa hạt khoa học thần kinh (neuroscience), giải thích được rất nhiều về cách suy nghĩ và hành xử của con người.
    Tôi hy vọng có dịp chia sẻ với bạn đọc về những vấn đề cùng quan tâm, và mong được học hỏi từ mọi người qua trang blog này.

    Lịch sử hình thành NATO


    Một buổi họp của NATO tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, tháng Tư, 2019.
    Vào ngày này 70 năm về trước tại Washington DC, 12 quốc gia gồm Bỉ, Canada, Đan Mạch, Pháp, Iceland, Ý, Luxembourg, Hòa Lan, Na Uy, Bồ Đào Nha, Anh và Hoa Kỳ đã cùng ký tên thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), nền tảng an ninh và ngoại giao từ sau Thế Chiến II.
    Điều 5 của hiệp ước này xác định rằng sự tấn công bằng vũ lực lên một hoặc nhiều nước thành viên tại Âu châu hoặc Bắc Mỹ sẽ được xem là tấn công đối với tất cả các nước thành viên còn lại; nếu bị tấn công, mỗi nước thành viên có thể sử dụng quyền của mình hay phòng thủ tập thể để hỗ trợ cho các thành viên khác, nếu hành động đó xét cần thiết, để tái lập và bảo toàn an ninh của khu vực Bắc Đại Tây Dương. Nguyên tắc phòng thủ tập thể này là trung điểm của hiệp ước, “mang tính độc đáo và lâu dài, gắn kết các thành viên với nhau, cam kết bảo vệ lẫn nhau và thiết lập tinh thần đoàn kết trong Liên minh.” [1] Tuy đối tượng chính của NATO vào thời điểm đó cho đến suốt Chiến tranh Lạnh chủ yếu là Liên Xô, điều 5 chưa bao giờ được dùng tới đối với Liên Xô hay Nga về sau này. Trong suốt lịch sử 70 năm này, chỉ có một lần duy nhất mà NATO đã sử dụng đến điều 5 là vụ khủng bố Al-Qaeda tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 [2].
    Ngày nay nói đến NATO người ta sẽ liên tưởng đến ba yếu tố/tác nhân mà gần như không thể tách rời: Liên Xô/Nga, Hoa Kỳ, và Chiến tranh Lạnh. Nói cách khác, nếu không có sự bất hợp tác và hung hãn và của Liên Xô/Nga, Hoa Kỳ lẫn Anh không có nhu cầu leo thang chiến tranh mà chỉ muốn dồn nỗ lực tái thiết, do đó cũng sẽ không có Chiến tranh Lạnh như chúng ta đã biết, và không có nhu cầu hình thành NATO.
    Nhưng theo nghiên cứu công phu và giá trị của giáo sư John Baylis thì nói đến NATO thì phải nói đến nước Anh, vai trò chủ chốt của Ngoại trưởng Anh Ernest Bevin, và nhất là các ý tưởng vào đầu thập niên 1940 trong kế hoạch tái thiết thời hậu chiến cũng như nỗ lực không ngừng của Bộ Ngoại giao Anh mãi cho đến ngày 4 tháng 4 năm 1949. Chính các nỗ lực này đã góp phần quan yếu đưa đến sự hình thành của NATO [3].
    Nói cách khác, NATO có cả một quá khứ trước cả Hiệp ước Brussels (17 tháng Ba năm 1948), trước cả Hiệp ước Dunkirk (4 tháng Ba 1947), trước cả bài phát biểu của Tổng thống Truman với quốc hội Hoa Kỳ (vào ngày 12 tháng Ba 1947 mà sau này được xem là Học thuyết Truman) và trước điện thư dài của George Kennan cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào ngày 22 tháng Hai 1946 và sau này chỉnh sửa để đăng trên tạp chí Foreign Affairs số tháng Bảy 1947 với bút hiệu “Mr X” có tựa đề “Nguồn gốc Hành vi của Liên Xô”.
    Trong tác phẩm Nền Ngoại giao Thực dụng (The Diplomacy of Pragmatism), giáo sư John Baylis trình bày chi tiết các tài liệu mà ông đã nghiên cứu từ năm 1983, từ các thư viện tại Anh, Hoa Kỳ và Canada, các tài liệu được giải mật, và mất 10 năm để hoàn tất tác phẩm này.
    Baylis cho rằng từ ý tưởng hình thành khung sườn an ninh Đại Tây Dương đã có từ năm 1940, cho đến khi NATO được hình thành là một quá trình phức tạp: Anh tất nhiên không hình thành NATO một mình; và các chính sách ngoại giao của Anh không hoàn toàn nhất quán hoặc thành công trong suốt giai đoạn này (Baylis, trang 3). Thật ra các xu hướng chính sách khác nhau đã nổi lên để tìm sự hậu thuẫn và tầm quan trọng. Trong mười chương sách của cuốn này, kể cả chương cuối là phần kết luận, Gs Baylis đã trình bày chi tiết dựa trên các tài liệu và dữ kiện cho biết nguyên do dẫn đến biến cố 4 tháng Tư năm 1949.
    Chương 1, Gs Baylis dẫn ngược trở lại các nguyên do đưa đến các ý tưởng về an ninh của Âu châu vào năm 1945, không phải tự nhiên xuất hiện, mà nó có nguồn gốc của nó vào những năm trước đó, 1940. Chương 2, Baylis trình bày các khác biệt giữa Văn phòng/Bộ Ngoại giao và Tổng Tham mưu về việc có nên lên kế hoạch cho khả năng rằng sự hợp tác giữa các cường quốc có thể bị tan rã thời hậu chiến. Chương 3, Baylis bàn về những biến đổi trong thái độ của Anh đối với Liên Xô ngay thời hậu chiến. Mặc dầu Bộ Ngoại giao và Tổng Tham mưu của Anh đều đồng ý về nhận xét rằng các chính sách của Liên Xô mang tính hiếu chiến, Bộ trưởng Ngoại giao Ernest Bevin vẫn tiếp tục chủ chương tìm sự hợp tác với lãnh đạo của Liên Xô. Và trong bối cảnh quan hệ ngày càng xấu đi và sự bất định gia tăng, Bevin đã thiết kế chính sách cho Tây Âu. Chương 4 bàn về sự thay đổi trong quan hệ giữa Anh và Pháp vào năm 1945 đến tháng Ba 1947. Điều này dẫn đến sự hình thành hiệp ước Dunkirk vào tháng Ba 1947. Chương 5 bàn về các thay đổi tiệm tiến trong chính sách ngoại giao của Anh từ tháng Ba 1947 đến tháng Ba 1948, thời điểm được xem là Chiến tranh Lạnh đang trên đà gia tăng. Bevin vẫn tiếp tục phấn đấu để duy trì một quan hệ với Liên Xô nhưng mọi nỗ lực này bị sụp đổ sau cuộc họp cấp bộ trưởng vào tháng 12 năm 1947.
    Chương 6 bàn về những khuynh hướng và tranh luận bên trong bộ Tổng Tham mưu về hướng đi của chính sách quốc phòng Anh. Bộ Tổng Tham mưu nhận định rằng Tây Âu, trong đó có Anh, không đủ mạnh để bảo vệ chính mình, và quan ngại về khả năng duy trì chiến lược Khối Thịnh Vượng toàn cầu. Họ tin rằng chỉ có Hoa Kỳ mới có khả năng quân sự và nguồn lực để cân xứng với Liên Xô. Họ cũng lưỡng lự trong việc ủng hộ Bộ Ngoại giao trong vai trò lãnh đạo sự hợp tác quốc phòng của Tây Âu. Họ cho rằng sự cam kết chính trị đối với Tây Âu là vô nghĩa nếu không có khả năng cung cấp hỗ trợ về mặt quân sự vật chất. Với những khó khăn về kinh tế của Anh lúc đó và ưu tiên về Trung Đông trong chính sách chiến lược của Anh, Bộ Tổng Tham mưu cho rằng Anh chỉ nên cam kết vai trò lục địa nếu Hoa Kỳ sẵn sàng đóng vai trò bảo vệ Tây Âu. Họ cũng đề nghị Bộ Ngoại giao nên điều chỉnh thiết kế quy mô (grand design) để chấp nhận một quan hệ phụ thuộc vào Hoa Kỳ trong Liên minh Đại Tây Dương.
    Chương 7, vì kết luận trên của Tổng Tham mưu, nên từ tháng 12 năm 1947 Bộ Ngoại giao Anh đã nỗ lực liên lạc với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đưa đến các buổi thảo luận tại Lầu Năm Góc vào tháng Ba năm 1948, giữa Anh, Canada và Hoa Kỳ, xây dựng nền tảng cho NATO. Chương 8 và 9 trình bày các khó khăn cần phải vượt qua, nhất là phải đạt được sự cam kết của Hoa Kỳ để bảo vệ Tây Âu. Đây cũng là năm bầu cử nên phía Hoa Kỳ chưa thể quyết định gấp, và ngay cả sau bầu cử khi Harry Truman được tái đắc cử tổng thống, nó cũng mất thêm vài tháng để rồi các cuộc thương thuyết đi đến kết thúc thành công. Nên nhớ rằng cho đến giữa năm 1948, Bevin vẫn còn mở các lựa chọn của mình và vẫn duy trì vai trò độc lập của Anh, mặc dầu quan hệ ngoại giao với Liên Xô trở nên căng thẳng. Tuy nhiên cùng lúc đó Bevin nỗ lực thắc chặt quan hệ với Hoa Kỳ, đóng vai chủ đạo tại Âu châu, phối hợp khối Thịnh Vượng Chung, và duy trì vai trò truyền thống của Anh tại Trung Đông. Mục tiêu lâu dài là để tái thiết lập quyền lực của Anh trên thế giới. Đối với các nhà hoạch định quốc phòng, mục tiêu của họ kết hợp với khối Thịnh Vượng Chung để liên minh với Hoa Kỳ đối phó với đe dọa rõ ràng từ phía Liên Xô.
    Chương cuối đánh giá về vai trò của Bevin trong việc hình thành NATO. Baylis cho rằng tuy các chính sách của Bevin không hoàn toàn thành công, và những phê bình về cung cách thực hiện của ông là chính đáng, dù sao đi nữa NATO vẫn là sự thành đạt lớn nhất của Bevin. NAO có lẽ không phải là một giải pháp tốt nhất mà Bevin mong đợi nhưng nó đóng một vai trò quan trọng trong việc củng cố quyền lợi của Anh trong suốt thời Chiến tranh Lạnh (Baylis, trang 4-7).
    Đó là phần trình bày tổng quát của cuốn sách này. Đi vào chi tiết của từng chương sách thì có rất nhiều vấn đề và dữ kiện lý thú, nhưng không thể trình bày trong bài viết ngắn gọn vài trang. Chẳng hạn trong Chương 1, Baylis cho biết theo quan niệm truyền thống thì các nhà hoạch định chính sách Anh tiếp tục ghi nhận tầm quan trọng của sự duy trì thế cân bằng quyền lực tại Âu châu, ngăn ngừa các thế lực thù nghịch nào áp đảo các nước phía dưới, nhưng đồng thời cũng có giả định chính trị căn bản rằng Anh và Pháp sẽ liên minh với nhau trong trường hợp Đức trở nên hiếu chiến trở lại tại Tây Âu. Khi Thế Chiến II bùng nổ năm 1939, khi quân đội của Đức tiến chiếm nhiều quốc gia tại Âu châu, tiến gần đến the Channel, eo biển giữa Anh và Pháp để Quân đội Viễn chinh Anh cần được triệt thoái khỏi Dunkirk vào tháng Năm và Sáu năm 1940, Anh đã phải rà soát lại toàn bộ chính sách quân sự và các tiến cử cho sự sắp xếp an ninh mới thời hậu chiến. Ý tưởng về một hệ thống an ninh Đại Tây Dương đã được Trygve Lie nêu ra khi ông là quyền Ngoại trưởng của chính phủ Na Uy lưu vong tại London vào tháng 11 năm 1940. Các ý tưởng thành lập một tổ chức quốc tế trong thời hậu chiến dựa trên sự hợp tác của các cường quốc cũng trùng hợp với tư tưởng của các nhà lãnh đạo Anh, Canada và Hoa Kỳ, nhất là Franklin Roosevelt (FDR). Trong nhiều lần gặp gỡ với Mackenzie King, Winston Churchill, và cả Joseph Stalin, điều mà FDR quan tâm nhất là làm sao có một cơ chế như Liên Hiệp Quốc và một Hội đồng An Ninh để qua đó các cường quốc cùng nhau đóng vai trò then chốt trong nhiệm vụ gìn giữ hòa bình thời hậu chiến. Churchill muốn Pháp cũng trở thành một cường quốc vì chỉ khi nào Pháp đủ mạnh thì mới giúp Anh ngăn chặn sự tấn công từ phía Đông, dù đó là Đức hay Liên Xô/Nga sau này (Baylis, trang 8 đến 11).
    Nhưng những cam kết giữa Churchill, Stalin và Roosevelt tại hội nghị Yalta từ ngày 4 đến 11 tháng Hai năm 1945 tại Crimea chưa ráo mực thì Roosevelt mất, trong khi sự nghi ngờ giữa các bên ngày càng gia tăng khi chiến tranh càng đến gần thời điểm kết thúc. Sau chiến tranh, trong khi George Kannan gửi điện thư mật phân tích nguồn gốc hành vi của Liên Xô mà sau này trở thành chính sách ngăn chặn của Hoa Kỳ, thì cùng lúc đó Chánh Văn phòng của Đại sứ Anh tại Moscow là Frank Roberts, một người bạn thân của Đại sứ Hoa Kỳ tại Moscow, ông Walter Bedell-Smith, và là một cộng sự thân thiết của George Kennan, cũng gửi các tối mật thư như thế vào những tháng đầu của năm 1946 về London. Roberts cảnh báo rằng Liên Xô là, và phải là, về cơ bản thù nghịch với thế giới tự do, nhất là Hoa Kỳ và xã hội dân chủ Anh. Ngoài ra Anh cũng được xem là một cản trở lớn cho sự bành trướng biên giới của Liên Xô. Vì đế quốc Anh lúc đó trãi rộng gần khắp toàn cầu, sự đụng chạm đối chọi nhau có khả năng rất cao xảy ra v.v… Các quan điểm và phân tích của Roberts có những ảnh hưởng đáng kể tại London như Kennan có tại Washington (Baylis, trang 41 đến 42).
    Từ khi lên nắm chính quyền tháng Bảy năm 1945 trong vai trò Ngoại trưởng, đứng trước những khó khăn đối phó với thái độ và lập trường của Liên Xô về các vấn đề Trung Đông và Đông Âu, và khi sự ngờ vực càng gia tăng, Ernest Bevin tỏ vẻ sẵn sàng có quan điểm cứng rắn với Liên Xô (Baylis, trang 37). Bevin cũng hiểu rằng vào thời điểm đó, ngay cả khi Kennan đang giữa vai trò Giám đốc của Nhân viên Kế hoạch Chính sách (the Director of the Policy Planning Staff) trong Bộ Ngoại giao mà George Marshall làm Ngoại trưởng, ý tưởng thành lập liên minh an ninh với Âu châu được xem là hơi sớm. Ngay cả khi Anh và Pháp đã ký Hiệp ước Dunkirk vào tháng Ba 1947, và một năm sau Hiệp ước Brussels gồm năm nước Anh, Pháp, Bỉ, Luxembourg và Hòa Lan vào ngày 17 tháng Ba 1948, phía Hoa Kỳ vẫn còn rất do dự. Bên trong Bộ Ngoại giao có John Hickerson ủng hộ Hoa Kỳ tham gia, trong khi George Kannan thì chống. Quan điểm của Hội đồng An ninh Quốc gia và Tổng Tham mưu thì đâu đó ở giữa, tức Hoa Kỳ ủng hộ các quốc gia này nhưng không muốn ký một hiệp ước liên minh chính thức (Baylis, trang 93). George Kennan và Charles Bohlen đặt vấn đề liên minh như thế có thật sự cần thiết không trong khi Kế hoạch Marshall có thể đã đủ rồi. Nhưng lý do chính của sự lưỡng lự của các viên chức hàng đầu về ngoại giao, quốc phòng và an ninh quốc gia Hoa Kỳ là vì họ hiểu rằng mặc dầu quan điểm và thái độ của Liên Xô là đáng quan ngại, mà Kennan hiểu rõ hơn ai hết, nhưng quốc hội Hoa Kỳ, và người dân Hoa Kỳ, có ủng hộ cho một chiến lược mới có nguy cơ dẫn đến một cuộc chiến khác nữa. Trước thái độ này của phía Hoa Kỳ, Bevin không bỏ cuộc mà đã nỗ lực phát triển Hiệp ước đã đó, vận động các quốc gia khác tham gia, tạo áp lực lên Marshall và Hoa Kỳ. Ngày 14 tháng Năm 1948, Bevin gửi điện thư đến Marshall biện luận rằng Hiệp ước Đại Tây Dương chủ yếu có giá trị tâm lý, bởi hiện nay cảm giác bất an và bất định của người dân Tây Âu đang lan tràn, cho nên Hiệp ước này sẽ cung cấp sự hỗ trợ cần thiết cho các chính quyền này và giúp tạo ra mức độ tự tin hơn.
    Chính Kennan cảm thấy lý luận của Bevin là chính đáng, là một đóng góp vô giá cho cuộc thảo luận đang diễn ra tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Bevin không sẵn sàng ngồi chờ cho đến khi bầu cử Hoa Kỳ xong. Bevin đã sử dụng những nhân vật ngoại giao xuất chúng đầy kinh nghiệm và khả năng như Ngài Oliver Franks, Đại sứ mới của Anh tại Washington, để thuyết phục phía Hoa Kỳ ngồi xuống thảo luận. Một dữ kiện trùng hợp mang tính quyết định đối với quan điểm của phía Hoa Kỳ là sự phong tỏa Bá Linh của Liên Xô (Berlin blockade). Hồng quân Liên Xô từ chối cho xe lửa của phía đồng minh đi qua Berlin từ ngày 1 tháng Bốn 1948, và phong tỏa toàn bộ từ ngày 24 tháng Sáu 1948 đến 12 tháng Năm 1949. Sau nhiều biến cố chính trị và nhiều tháng trời vận động và thất vọng, cuối cùng các nước Hoa Kỳ, Canada và khối thành viên ký vào Hiệp ước Brussels đã bắt đầu thảo luận vào ngày 29 và 30 tháng Sáu năm 1948 (Baylis, trang 102).
    Về Hiệp ước NATO, Kennan nhận định rằng: chiến lược căn bản của Nga là sự chinh phục Tây Âu bằng biện pháp chính trị; nếu chiến tranh có xảy ra trong tương lai thì có lẽ là cái mà Moscow không mong muốn nhưng không biết làm sao tránh; cuộc chiến chính trị đang được tiến hành, không cần tiếng súng, nhưng mang tính quyết định. Kennan biện luận rằng Hiệp ước NATO sẽ ảnh hưởng đến chiến tranh chính trị này bằng cách gia tăng sự tự tin của Tây Âu dưới áp lực của Liên Xô. Kennan tin rằng nhu cầu liên minh an ninh và tái vũ trang cho phần Tây Âu là một cảm nhận khách quan. Theo Kennan thì cách tốt nhất đối phó với áp lực của cộng sản là nỗ lực phục hồi kinh tế (Baylis, trang 107). Nói cách khác, Hiệp ước NATO theo Kennan mang tính cách tâm lý, như Bevin nhận xét, vì nó cần gia tăng sự tự tin của người Tây Âu trong lúc cần thiết.
    Ngày 15 tháng Ba 1949 các phái đoàn của 12 quốc gia nêu trên đã gặp nhau lần cuối, sau tám tháng thương thuyết kể từ khi Liên Xô phong tỏa Bá Linh, để thảo luận và thông qua bản dự thảo của hiệp ước. Ngay từ đầu các nhà nước Tây Âu và cả Hoa Kỳ cũng không rõ Hoa Kỳ sẽ đi bao xa do thái độ lưỡng lự truyền thống đối với sự tham gia vào mối quan hệ vướng víu mà Hoa Kỳ muốn tránh nhiều lần trong quá khứ nhưng vẫn vướng bận. Vào cuối tháng Ba 1949 Hoa Kỳ đã quyết định ở lại Bá Linh và đóng vai trò then chốt trong các thương thuyết của một thời đại mới trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ.
    Giờ đây chúng ta biết NATO phần lớn là qua vai trò của Hoa Kỳ sẵn sàng bảo vệ các nước đồng minh, thành viên của hiệp ước này, từ con số 12 lên 29 sau bảy thập niên. Nhưng vai trò then chốt của Bevin, Bộ Ngoại giao và Tổng Tham Mưu của Anh trong việc hình thành NATO là quá rõ ràng. Bevin đã thành công mục tiêu vận dụng sức mạnh quân sự và tài nguyên của Hoa Kỳ để bảo vệ Tây Âu, nhưng đồng thời nó cũng đánh dấu sự kết thúc của ước mơ khác của Bevin về vai trò lãnh đạo của Anh tại Tây Âu. Và cũng đánh dấu sự kết thúc đối với tham vọng của nước Anh trong mục tiêu duy trì một vai trò thế giới độc lập hơn (Baylis, trang 120).
    Thời gian 70 năm đã mang lại quá nhiều thay đổi. Anh quốc đã không còn là một đế quốc khổng lồ như xưa nữa, mà ngày càng thu hẹp và tự cô lập. Từ một quốc gia chủ động phát triển thế liên minh Tây Âu và mở rộng gần như toàn Âu châu về sau, để tăng cường hợp tác, phát triển kinh tế và nhất là duy trì hòa bình cho lục địa này, trong những năm qua Anh ở trong trạng thái bị đắm chìm và gần như tê liệt, tiến thoái lưỡng nan, trong việc rút ra khỏi Liên hiệp Âu châu (Brexit). Sau Brexit thì sao, chưa ai rõ, nhất là trong thời kỳ chiến tranh quyền lực đang trở lại. Dù sao NATO đã đóng đúng vai trò tâm lý chiến của nó trong thời Chiến tranh Lạnh: duy trì hòa bình và ngăn ngừa chiến tranh, và Bevin là người có công rất lớn trong nỗ lực hình thành NATO.
    (Úc Châu, 04/04/2019)
    Tài liệu tham khảo:
    1. NATO, “Collective defence - Article 5”, North Atlantic Treaty Organization, Last Updated 12 June 2018.
    2. SUZANNE DALEY, “AFTER THE ATTACKS: THE ALLIANCE; For First Time, NATO Invokes Joint Defense Pact With U.S.”, The New York Times, 13 September 2001.
    3. John Baylis, The Diplomacy of Pragmatism, Britain and the Formation of NATO, 1942-49, The MacMillan Press Ltd, 1993.
    • 16x9 Image

      Phạm Phú Khải

      Từ nhỏ, gia đình bảo giỏi toán. Lớn lên, quyết định học kỹ sư, tưởng sở trường của mình.
      Về sau, thích hoạt động xã hội, đam mê tìm hiểu các hành vi con người và chính trị được định hình bởi các yếu tố nào.
      Gần đây, càng làm việc liên quan đến con người, và càng nghiên cứu nhiều hơn, tôi tìm thấy khoa học hành vi và khoa học xã hội (Behavioural Science and Social Science), trong đó tâm lý, nhất là địa hạt khoa học thần kinh (neuroscience), giải thích được rất nhiều về cách suy nghĩ và hành xử của con người.
      Tôi hy vọng có dịp chia sẻ với bạn đọc về những vấn đề cùng quan tâm, và mong được học hỏi từ mọi người qua trang blog này.

    Diễn đàn Facebook

     https://www.voatiengviet.com/a/lich-su-thanh-hinh-nato/4863421.html

    Đường vào đại học danh tiếng ở Mỹ



    Đại học UC Berkeley ở miền bắc California. Hình minh họa. (Ảnh: Bùi Văn Phú)


    Bùi Văn Phú

    Tháng Ba vừa qua, trong khi cả triệu học sinh Mỹ đang nóng lòng chờ đợi kết quả nhận vào đại học thì dư luận bùng lên xôn xao về việc có những cha mẹ giầu có, những phụ huynh có tiếng tăm đã bỏ tiền tìm cách chạy chọt, kể cả sửa học bạ, sửa bài thi, viết giùm bài luận văn gửi cho trường, mạo nhận là học sinh thiểu năng, thi giùm SAT và ACT; hay thổi phồng thành tích hoạt động, tài năng thể thao để cho con em được vào một số trường danh tiếng của nước Mỹ như Đại học Yale, Đại học California UCLA, Đại học Stanford, Đại học University of Southern California, Đại học Georgetown.
    Mấy chục phụ huynh đã bỏ ra từ vài trăm nghìn đến cả triệu đôla để lo cho con em được nhận vào những trường trên, dù trình độ học vấn không xuất sắc và tài năng của con em thực sự cũng không có.
    Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ FBI sau một thời gian theo dõi và thu thập chứng cứ, hôm giữa tháng Ba đã chuyển hồ sơ qua cho giới chức thẩm quyền để khởi tố khoảng 50 người có liên quan đến vụ việc.
    Gây chú ý nhiều nhất là nữ diễn viên Lori Loughlin của sô truyền hình Full House có nhiều khán giả. Bà đã chi tiền cho một tổ chức hướng dẫn xin vào đại học để hai cô con gái được nhận vào University of Southern California (USC), một trường tư danh tiếng ở gần thủ đô phim ảnh Hollywood.
    Người nhận tiền để lo lót vụ này, cũng đang bị truy tố ra toà, là William Singer, chủ công ti tư vấn vào đại học Edge College & Career Network ở miền Nam California.
    Vụ việc trên cho thấy việc xin vào các đại học danh tiếng có kẽ hở mà những công ti tư vấn đã tìm cách lách, hoặc làm những điều gian dối để đưa sinh viên vào ngôi trường mà phụ huynh mong muốn.
    Đến hôm nay các thí sinh xin vào đại học Mỹ đã nhận được thư với kết quả, vì cuối tháng Ba là thời điểm trường báo cho các em biết có được nhận hay không. Các em có một tháng, hạn chót là ngày 1/5, để báo cho trường biết các em sẽ có theo học hay không.
    Nói chung, học sinh giỏi ở Mỹ, với bảng điểm từ trường cấp ba và điểm của kỳ thi SAT hay ACT thật cao sẽ có nhiều cơ hội để được nhận. Nhưng điểm học bạ và điểm thi không phải là tất cả.
    Xét hồ sơ xin học, nếu chỉ dựa trên bảng điểm thì sẽ có rất đông học sinh gốc châu Á được nhận vào các đại học danh tiếng, vì người châu Á với truyền thống coi trọng giáo dục nên nhiều phụ huynh rất muốn có con em học giỏi để được vào các trường như Harvard, Yale, Stanford, USC, UC Berkeley, UC Los Angeles.
    Đại học Harvard đang bị một nhóm sinh viên gốc châu Á kiện vì không xét đơn nhập học một cách công bằng, vì họ có điểm rất cao, cũng có hoạt động ngoài trường mà vẫn bị từ chối nhận cho học.
    Trong khi đó, liên quan đến vụ chạy chỗ vào đại học cũng đang đưa đến những vụ kiện tụng khác.
    Hai sinh viên, có điểm SAT và ACT gần như tuyệt hảo, hiện đang học tại Đại học Stanford đã nộp đơn trước toà, qua một vụ kiện tập thể (class action), đòi bồi thường từ các đại học Stanford, USC, UCLA, University of San Diego, University of Texas at Austin, Wake Forest University, Yale và Georgetown vì cách tuyển chọn sinh viên của các trường này trong những năm qua có tính gian dối. Theo cáo trạng nộp tại toà, hai sinh viên này, cùng tất cả những người đã nộp đơn xin học, không được công bình tuyển chọn và văn bằng của họ có thể kém giá trị, căn cứ vào những điều tra và truy tố trước pháp luật qua vụ việc mua chỗ vào đại học vừa được đưa ra ánh sáng.
    Với số đông đơn xin nhập học và số được nhận rất ít vào các đại học tốt, điều này thể hiện danh tiếng của của trường và đó cũng là lý do khiến một số phụ huynh đã bỏ tiền ra để chạy chỗ cho con được vào.
    Harvard, Yale hay Stanford chỉ nhận chừng 5-6% số học sinh nộp đơn. Các Đại học U.C. hàng đầu ở California như Berkeley, Los Angeles số học sinh được nhận cao hơn, khoảng 15%.
    Về điều kiện xin nhập học, hãy xem qua số liệu của niên học 2018-19 đã được các trường công bố để có thể hiểu hơn về thủ tục tuyển chọn sinh viên.
    Đại học USC (University of Southern California) là một trường tư nổi tiếng với các ngành nhân văn nghệ thuật, trong khoá mùa thu 2018 đã có 3.401 sinh viên được ghi danh năm đầu ban cử nhân, trong số 64.352 đơn xin.
    50% ở khoảng giữa (từ 25% đến 75%) có bảng điểm cấp 3 từ 3,7 đến 3,97. Như thế nghĩa là đã có 25% được nhận có điểm dưới 3,7 và 25% trên 3,97.
    Cùng khoảng 50% ở giữa, số điểm SAT cho đọc viết là 660 đến 740, cho toán là 690 đến 790. Nếu là điểm ACT thì 32 đến 35 cho đọc và viết, 28 đến 34 cho toán.
    Nếu cộng điểm SAT chung cho Anh văn và toán là từ 1.360 đến 1.510, trên tổng số 1.600 và ACT từ 30 đến 34 trên tổng số 36.
    Đại học Berkeley là một trường công, nổi tiếng về khoa học kỹ thuật, theo số liệu của niên khoá 2018-19, đã có 13.333 trong số 89.614 học sinh nộp đơn được nhận vào.
    50% khoảng giữa có GPA từ 4,16 đến 4,3; điểm SAT từ 660 đến 750 cho Anh văn, 680 đến 790 cho toán và 16 đến 20 cho viết luận văn. Nếu là điểm ACT thì tổng cộng cho toán và Anh văn từ 30 đến 35.
    Nhưng dù có điểm cao có những em đã không được nhận vào các trường danh tiếng. Vì ngoài kê khai điểm, học sinh còn phải viết bài luận văn nói về những thành tích, những hoạt động, những khó khăn cuộc đời và những đam mê, ước vọng trong tương lai.
    Nhân viên xét đơn không chỉ nhìn vào bảng điểm, mà nhìn một học sinh một cách toàn diện.
    Khi vụ mua chỗ đại học được đem ra công luận, Chủ tịch Viện Đại học California Janet Napolitano trong một dịp gặp gỡ với truyền thông có nói là hệ thống Đại học U.C. không có nhận đặc biệt con em những gia đình đã đóng góp nhiều tài chánh cho trường, như bên các trường tư. Tuy nhiên, bà nói nhà trường cũng dành 2% để nhận các sinh viên hội đủ điều kiện tối thiểu về học vấn mà có những tài năng nổi bật về thể thao, âm nhạc hay kịch nghệ.
    Nhìn vào cách chọn lựa sinh viên, Đại học California còn muốn nâng đỡ những gia đình nghèo, những em có bố mẹ chưa bao giờ vào đại học và những sắc dân có ít sinh viên trong trường. Từ một vùng quê hẻo lánh, căn cứ theo bưu cục, trước nay ít có học sinh được nhận vào Đại học Berkeley hay UCLA; hay từ một trường cấp 3 mà nhiều năm qua không có em nào được chọn vào đại học danh tiếng thì một học sinh từ đó dù không thật xuất sắc nhưng cũng có cơ hội được nhận cao hơn một em từ những trường trước nay được biết đến có nhiều học sinh con nhà giầu, học giỏi.
    Như câu chuyện đã được một nữ sinh viên gốc Mexico kể lại qua bài viết trên báo The Daily Californian của Đại học Berkeley hôm 15/3/2019.
    Bố mẹ của Marbrisa Flores đã vượt muôn vàn khó khăn để đến được Hoa Kỳ, sống trong khu nghèo ở vùng trung nam Los Angeles, nơi đa số cư dân là người da đen và gốc Latin làm nghề tay chân hay lặt vặt.
    Một hôm người cha của cô đột ngột qua đời. Nỗi buồn mất cha phủ kín đời cô nên có lúc cô muốn bỏ học, muốn tự sát. Nhưng khi biết được cha là người cũng đã cố gắng vừa đi làm vừa học thêm nên cô không còn nghĩ quẩn mà chú tâm vào học dù trong hoàn cảnh nghèo, phải ra thư viện mượn sách ôn tập thi SAT về học chứ không có tiền để ghi danh học thêm ở những trung tâm luyện thi.
    Kết quả với số điểm đạt được không cao bằng những học sinh cùng lứa đang nộp đơn vào những trường danh tiếng, nhưng điều đó không khiến Marbrisa nản lòng. Cô nộp đơn và đã được nhiều trường nhận, từ USC, UCLA, UC Berkeley, Harvard, Brown. Cô đã chọn Đại học Berkeley và hiện là sinh viên năm thứ ba khoa tâm lý học.
    Câu chuyện của Marbrisa là một trong nhiều câu chuyện của các sinh viên được vào trường danh tiếng, không phải chỉ vì điểm học vấn mà vì nỗ lực muốn vươn lên.
    Nhiều sinh viên gốc Việt, trong đó có tác giả bài viết này, cũng đã từng trải qua những đau thương thể xác cùng dằn vặt tinh thần để đến được nước Mỹ, nhưng luôn mang niềm hy vọng vươn lên nên đã được nhận vào những đại học danh tiếng của Hoa Kỳ.
    Nhìn chung, nếu giữa muôn vàn khó khăn mà một học sinh chứng tỏ được mình có đam mê học và hành, cùng ý chí cố gắng thì hàng trăm đại học danh tiếng ở Hoa Kỳ cũng sẽ dành cho các em những cơ hội để đạt được ước muốn.
    Tác giả tốt nghiệp Đại học Berkeley, hiện là giảng viên đại học cộng đồng ở California và đã có nhiều năm dạy học và huấn luyện sư phạm ở Châu Phi, Châu Á.