Thursday, November 29, 2018

VÕ PHƯỚC HIẾU * HOÀI NIỆM NHÀ THƠ THƯỢNG TÂN THỊ PHAN QUỐC QUANG

Khuê Phụ Thán

(Thể loại ‘liên huờn’ đặc thù Miền Nam)

Hoài niệm nhà thơ
Thượng Tân Thị Phan Quốc Quang


(Nhà Nho Truyền Thống sống Thanh Bạch Vô Cầu)


Đây là mười bài thơ được sáng tác theo thể ‘liên huờn’ hay ‘liên hoàn’ nên người đương thời gọi là ’Thập thủ liên huờn’. Đại ý nói lên tâm trạng một người đàn bà vì hoàn cảnh trái ngang nào đó phải xa chồng xa con nên cất lời than thở sự tình.


Tuy nhiên, ở đây tác giả liên tưởng đến trường hợp của hai vì vua triều Nguyễn: Thành Thái và Duy Tân bị thực dân Pháp đang thời kỳ thạnh hành cưỡng bức, bắt đi đày nơi đảo La Réunion ở Phi Châu. Nên tác giả cảm hứng thác lời một bà phi khóc chồng, khóc con, khóc cảnh chia ly ngăn cách, nghĩa vợ tình chồng dang dở, hoàn cảnh mẫu tử éo le, mẹ con cách mặt, giữa lúc đất nước đấm chìm trong loạn lạc do nạn ngoại xâm, mất chủ quyền. Do vậy có người nghĩ nên đặt cái tựa, thay vì ‘Khuê Phụ Thán’ rất được phổ biến thời bấy giờ ở đất Nam Kỳ Lục Tỉnh mà nên gọi là ‘Thâm cung Trường hận’ mới đúng hơn.


Dù gì nhan đề ‘Khuê Phụ Thán’ có lẽ là nhan đề của nguyên bản, của chính tác giả lúc hoàn tất sáng tác của mình. Vì vậy ở đây chúng tôi xin gọi là ‘Khuê Phụ Thán’ cho hợp với thói quen của những người thưởng thức thi ca, cũng như trong đa số sách vở nghiên cứu văn học ở phương Nam.


Nội dung của bài ‘Khuê Phụ Thán’ được biết như sau. Chúng tôi xin ghi lại nơi đây bản tiêu biểu được phổ cập nhứt, vì trên thực tế do mười bài nầy đã được phổ biến rộng rãi trong quảng đại quần chúng Miền Nam nên có khá nhiều chữ hoặc nhiều câu không được thống nhứt do thói quen của nạn sao chép theo truyền miệng. Việc tam sao thất bổn nầy rất thường xảy ra ở những áng thơ cổ hay thi văn khoảng những năm đầu thế kỷ XIX.


I


Chồng hỡi chồng! Con hỡi con!
Cùng nhau xa cách mấy năm tròn.
Chân trời, góc bể buồn (1) chim cá,
Dạn gió, dày sương tủi nước non.
Mộng điệp khéo vì ai lẻo đẻo,
Hồn quyên luống để thiếp thon von (2).
Ngày qua tháng lại trông đăm đẵm (3),
Muôn dặm xa xuôi (4), mắt đã mòn.


Chú thích những sai biệt:
(1) tin
(2) chon von
(3) đằng đẵng
(4) xa.
II

Đã mòn con mắt ở Phi Âu (5),
Có (6) thấy chồng con đâu ở đâu!
Dẫu đặng (7) non xanh cùng bể (8) tốt,
Khôn ngăn gió thảm với mưa sầu.
Trách ai dắt nẻo, khôn lừa lọc,
Khiến thiếp ra thân chịu dãi dầu!
Bớ bớ xanh kia sao chẳng đoái,
Tấm lòng oằn oại (9) suốt canh thâu.


Chú thích:
(5) một phương Âu
(6) Nào
(7) được
(8) biển
(9) bứt rứt
III


Canh thâu chưa nghỉ (10) hãy còn ngồi,
Gan ruột như dầu sục sục sôi.
Nghĩa gá ấp yêu đành lở dở,
Công cho bú móm chắc thôi rồi.
Quyết gìn giữ (11) dạ tròn sau trước,
Biết (12) cậy nhờ ai tỏ khúc nôi!
Dâu bể xanh xanh, trời một góc,
Hỡi chồng ôi (13)! với (14) hỡi con ôi (15)!


Chú thích:
(10) ngủ
(11) dành giữ
(12) không
(13) ơi
(14) ới

IV


Con ôi (16)! ruột Mẹ ngấu như tương,
Bảy nổi, ba chìm siết (17) thảm thương.
Khô héo lá gan, cây đỉnh Ngự,
Đầy vơi giọt lệ, nước sông Hương.
Quê người đành gởi thân trăm tuổi,
Đất tổ (18) mong gì nợ (19) bốn phương.
Mẹ cũng trông mau rồi một kiếp,
Để cho vẹn vẽ mối cang thường.

Chú thích:


(16) ơi
(17) rất
(18) cuộc thế
(19) chí.
V


Cang thường gánh nặng cả hai vai,
Biết cậy (20) cùng ai, tỏ với (21) ai?
Để bụng chỉn e tằm đứt ruột,
Hở môi thì (22) sợ vách nghiêng tai.
Trăng (23) khuya nương bóng chênh chênh một,
Kiến (24) bể soi hình tẻ tẻ hai.
Nhắm thử từ đây qua đến (25) đó,
Đường đi non nước độ bao dài?


Chú thích:
(20) tỏ
(21) ai hỡi
(22) còn
(23) Canh
(24) kính (25) tới.

VI

Bao dài non nước chẳng hay cùng,
Xin gởi hồn ta đến ở chung.
Sống thác miễn cho tròn một tiết (26),
Trước sau khỏi (27) thẹn với ba tùng.
Quê nhà đã có người (28) săn sóc,
Đất khách nương nhau khỏi lạnh lùng.
Mảng tính chưa xong, vừa chợp mắt,
Trống lầu đâu đã đổ lung tung.

Chú thích:

(26) Hôm sớm cho tròn luôn một tiết
(27) chẳng
(28) có kẻ lo.

VII

Đã đổ lung tung tiếng súng thành,
Dựt mình tỉnh dậy, mới tàn canh.
Sương sa lác đác trên (29) tàu lá,
Gió thổi lai rai lạc (30) bức mành.
Cảnh ấy, tình này thôi hết muốn,
Trời kia, đất nọ nỡ sao đành!
Thương nhau chẳng đặng cùng nhau trọn,
Xin hẹn chung cùng (31) kiếp tái sinh.


Chú thích:

(29) dằn


(31) cùng chung.
VIII

Kiếp tái sinh may có gặp không,
Kiếp này đành thẹn (32) với non sông.
Chiêm bao lẩn thẩn, theo chân bướm,
Tin tức bơ vơ, lạc cánh hồng.
Tính tới, tính lui, thân cá chậu,
Lo quanh, lo quẩn, phận chim lồng.
Đã không chung hướng thôi thì (33) chớ,
Sao nỡ xa nhau, chồng hỡi chồng!
Chú thích:

(32) phụ
(33) thì thôi.
IX


Hỡi chồng có thấu nỗi này chăng?
Sóng gió khi không dậy đất bằng.
Non nước chia hai, trời lồng lộng,
Cha con riêng một, biển giăng giăng.
Mối sầu kia gỡ, khoanh chưa hết (34),
Giọt thảm này tuôn, bửng khó ngăn.
Ngán bấy cuộc đời, khôn gượng gạo,
Canh chầy còn ở dưới cung trăng.

Chú thích (34) dứt.


X


Ở dưới cung trăng luống nỉ non,
Đắng cay như ngậm trái bòn hòn (35).
Khói mây giọng quốc (36) nghe hơi mỏn (37),
Sương tuyết mình ve nhắm đã mòn.
Lằn (38) mỏ làng xa, canh cốc cốc,
Tiếng chuông chùa cũ, dộng bon bon.
Nỗi niềm ai biết ta thương nhớ,
Chồng hỡi chồng, con hỡi con!


Chú thích (35) bồ hòn

(36) cuốc
(37) mỏi
(38) Lần
Tưởng bây giờ chúng ta cũng nên duyệt qua khái lược tình hình Việt Nam những năm sau khi vua Tự Đức mất và nội tình ở triều đình Huế, đặc biệt tìm hiểu tâm trạng và hoài bảo của hai vì vua Thành Thái và Duy Tân để mong được sáng tỏ những uẩn khúc của giai đoạn đất nước rối reng hỗn loạn mà tác giả bài ‘liên huờn’ đã thấm thía cảm hứng biến thành lời thơ. Như chúng ta đều biết, sau khi vua Thiệu Trị, niên hiệu Hiến Tổ Chương Hoàng Đế băng hà năm 1848, truyền ngôi lại cho vị Hoàng tử thứ hai là Hường Nhậm, lúc đó chỉ mới 19 tuổi. Ngài lên ngôi Hoàng Đế ở điện Thái Hòa và lấy niên hiệu là Tự Đức (1829-1883). Triều đại Ngài tuy dài đến 36 năm (1848-1883) nhưng lại mở ra một thời kỳ đen tối nhứt của lịch sử nước nhà.

Việc cấm đạo Thiên Chúa từ thời vua Minh Mạng (1791-1841) vẫn được tiếp tục duy trì, đôi lúc còn khắc khe hơn. Thêm vào đó về phần đối ngoại, triều đình Huế vẫn giữ lập trường trước sau như một là quyết định không cho người ngoại quốc, có nghĩa là người Âu Châu vào nước thông thương tự do buôn bán. Những sự việc nầy là cái cớ để quân Pháp và Y Pha Nho phối hợp cấu kết nhau dùng võ lực nhằm ý đồ xâm lăng nước ta và sau đó áp đặt nền đô hộ xuyên suốt gần một trăm năm.
Khi vua Tự Đức băng hà, Ngài không có con để nối dõi trị vì. Đến đây là giai đoạn có quá nhiều biến chuyển phức tạp nhứt trong triều đình Huế. Một mặt đã mất quyền tự chủ do người Pháp đã hoàn toàn có mặt trên khắp lãnh thổ Việt Nam, lần hồi áp đặt xong hệ thống hành chánh, thuế khóa... để nắm vững quyền cai trị. Như tỉnh trưởng ở trong Nam, khâm sứ, thống sứ và công sứ ở miền Trung và đất Bắc.
Mặt khác còn có tệ nạn tranh chấp quyền lực quyết liệt giữa các cận thần và ngay cả trong nội bộ triều đình, đến mức thanh toán tiêu diệt nhau. Những sự việc nầy gây khủng hoảng trầm trọng và càng ngày càng làm suy yếu thêm tiềm lực quốc gia trước cảnh ngoại xâm.
Vua Tự Đức không có con để nối ngôi nhưng Ngài nhận ba người cháu làm con nuôi. Việc triều chính từ đó về sau nằm gọn trong tay hai quan đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Một người coi về mặt quan lại và một người ở lãnh vực binh lực. Cả hai chuyên quyền, hành xử độc đoán, không nể vì một ai trong triều, tự ý suy tôn, truất phế, bắt giam, cả việc đầu độc các ấu quân nên quần thần và hoàng tộc đều khiếp sợ.
Tình cảnh lúc bấy giờ cực kỳ nguy hiểm, đen tối:
- Người trưởng dưỡng tử của vua Tự Đức là ông Dục Đức phong Thụy Quận Công, húy Nguyễn Phước Ưng Chân (1853-1884) lên ngôi trị vì chỉ võn vẹn có 3 ngày, bị bắt giam không cho ăn uống đến chết đói.
- Vua Hiệp Hòa (1847-1883) tức Lạng Quốc Công, húy Nguyễn Phước Hường Dật, em vua Tự Đức trị vì có 4 tháng rồi bị truất phế bắt uống thuốc độc chết.
- Vua Kiến Phúc (1869-1884) húy Nguyễn Phước Ưng Đăng lên ngôi lúc 15 tuổi, chỉ ở ngôi được 8 tháng rồi mất vì bị bịnh, hưởng dương 16 tuổi.
- Vua Hàm Nghi (1871-1943) húy Nguyễn Phước Ưng Lịch lên ngôi lúc 12 tuổi, trị vì được 1 năm. Sau biến cố ở kinh thành Huế, nhà vua rời bỏ triều đình kéo cờ khởi nghĩa, truyền hịch Cần Vương rồi bị bắt lúc mới 18 tuổi do tên phản nghịch Trương Quang Ngọc điềm chỉ. Sau đó vua bị Pháp đày ở Algérie, một trong những thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi và mất ở khu đồi El Biar cách Alger 12 cây số.
- Vua Đồng Khánh (1864-1889) húy Nguyễn Phước Ưng Kỷ trị vì được 4 năm (1885-1889) rồi thọ bịnh mất năm 25 tuổi.


- Bấy giờ con vua Đồng Khánh còn quá nhỏ nên triều đình Huế và Khâm sứ Rheinart lập con ông Dục Đức là Nguyễn Phước Bửu Lân lên làm vua lúc mới 10 tuổi và đang cùng mẹ bị giam trong ngục thất. Ngài lấy niên hiệu là Thành Thái (1879-1955) trị vì được 19 năm, từ năm 1888 đến năm 1907.
- Vua Duy Tân (1900-1945) húy Nguyễn Phước Vĩnh San kế vị vua cha Thành Thái ở ngôi được 9 năm (1907-1916).
Đến đây, sau khi chứng kiến cảnh xáo trộn, bế tắc không ngày mai ở triều đình Huế chỉ trong thời gian quá ngắn, chúng tôi xin thuật sơ lược cuộc đời của hai vì vua Thành Thái và Duy Tân mà con người cũng như bối cảnh lịch sử nước nhà đã gây hứng thú sáng tác bài ‘Khuê Phụ Thán’ trên đây. Theo Việt Nam Danh Nhân Tự Điển của tác giả Nguyễn Huyền Anh xuất bản năm 1960, tái bản năm 1967 và được Nhà xuất bản Khai Trí tái bản lần thứ ba năm 1972 thì vua Thành Thái, vua thứ 10 triều Nguyễn có những ưu điểm nổi bậc như sau:
«Đến tuổi trưởng thành nhận biết quyền bính của Nam triều cũng như của riêng mình nằm gọn trong tay người Pháp, nhà vua bất mãn, thường tỏ ra có óc chống đối nhà cầm quyền Pháp. Tâm sự của vua Thành Thái bấy giờ đã được diễn tả trong bài thơ Hán văn sau đây, làm khi nhà vua được Pháp mời ra Hà Nội dự lễ khánh thành cầu Doumer:
Võ võ văn văn ý cẩm bào
Ngã vi thiên tử độc gian lao.
Tam bôi hoàng tửu quần lê huyết,
Sổ trản thanh trà bách tính cao.
Thiên lệ lạc dư nhân lệ lạc,
Ca thanh cao xứ khắp thanh cao.
Can qua thư hội hưu đàm luận
Lân tuất tương sanh phó nhị tào.

“Thông minh, sở trường về Nho học, tuy nhiên cũng chịu ảnh hưởng lớn lao về tư tưởng các nhà cách mạng Trung Hoa và Nhật Bản, nhà vua muốn áp dụng các công cuộc cải cách quốc gia (chính nhà vua đã hớt tóc ngắn, biết lái xuồng máy và xe hơi bằng cách nghiên cứu trong các sách báo Âu Tây). Nhưng, trước các ý tưởng cấp tiến của nhà vua, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Để che mắt ngoại nhân, vua Thành Thái giả hành động như một kẻ điên rồ; thực ra bên trong nhà vua ngấm ngầm xướng xuất và khuyến khích việc đưa thanh niên ra nước ngoài cầu học để dùng vào việc mưu đồ đại sự sau nầy.


“Năm 1903, Pháp dò biết được việc nhà vua bí mật giao thiệp với phái Đông Du, muốn cầu viện nước Nhật Bản. Liền đó Toàn quyền Đông Dương Broni và Khâm sứ Trung Kỳ Lévêque bắt ép vua phải thoái vị và nhường ngôi cho Hoàng Thái tử Vĩnh San (tức vua Duy Tân sau nầy) để rồi đưa Ngài vào giam giữ tại Vũng Tàu và đến năm 1915 bí mật đem sang an trí tại đảo La Réunion thuộc Phi Châu… Bị giam cầm nơi đất khách quê người, mãi đến tháng 5 năm 1947 cựu hoàng Thành Thái mới được trở về nước và 7 năm sau mất tại Sài Gòn.


“Khi bị định cư ở Vũng Tàu (Ô Cấp – Cap Saint Jacques) vua Thành Thái đã làm bài thơ cảm khái với lời lẽ thống thiết như sau:


Sống thừa nào có biết hôm nay,
Nhìn thấy non sông đất nước này.
Sừng ngựa chưa quên câu chuyện cũ,
Ruột tằm đòi đoạn mối sầu ‘tây’.
Xuân Thành nghìn dặm mây mù mịt,
Bể Cấp bốn bề sóng vỗ vây.
Tiếng súng đêm ngày nghe nhạc khúc,
Dẫu cho sắt đá cũng chau mày».


Về bài thơ khẩu khí nguyên văn chữ Hán của vua Thành Thái khi được Pháp mời ra Bắc Hà dự buổi khánh thành cầu Doumer, nhà báo Trường Lưu có sao lục bài dịch và bài nầy được đăng trong tuần báo Đời Mới Xuân Nhâm Tý (1972) do lão ký giả Văn Lang Trần Văn Ân sáng lập và làm chủ nhiệm, nội dung như sau:


Áo lũ xênh xang võ với văn,
Riêng ta chín bệ những băn khoăn.
Ba chung rượu ngự, mồ hôi chúng,
Mấy chén trà suông, nước mắt dân!
Sùi sụt trời mưa, sầu muốn khóc,
Véo von tiếng hát, thảm khôn ngăn.
Binh đao cuộc nọ thôi đừng nhắc,
Trăm họ lầm than gắng đỡ đần.
Ngoài ra trong Một Thời Hoàng Tộc Tập II xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1999 mà tác giả Bảo Thái đã có nhã ý gởi tặng chúng tôi ngày 27 tháng 4 năm 2001, ở chương “Xuân về, đọc lại Ngự Thi”, nơi trang 255: “Ngự thi của vua Thành Thái” có chép bài “Thăng Long Thành” do nhà vua sáng tác cũng trong dịp ra Bắc năm Nhâm Dần (1902) với lời chú đóng ngoặc (ghi theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả trang 393). Chúng tôi xin được trích dẫn dưới đây để thêm một lần nữa nói lên thi tài của vì vua lưu đày nầy:


Kỷ độ tang thương kỷ độ kinh
Nhất phiên hồi thủ nhất phiên tình
Ngưu hồ dĩ biến tam triều cuộc
Hổ động không dư bách chiến thành
Nùng lĩnh phù vân kim cổ sắc
Nhị hà lưu thủy khốc ca thanh
Cầm đồ đoạt sáo nhân hà tại?
Thùy vị giang sơn tẩy bất bình?


Lời dịch (không rõ tên tác giả):


Mấy độ tang thương thấy hãi kinh
Lắm phen ngoảnh mặt xót xa tình
Hồ Ngưu đã đổi ba triều đại
Động hổ còn trơ vạn trận thành
Núi Nùng mây phủ nhìn kim cổ
Sông Nhĩ dòng trôi vẵng khốc thanh
Cầm đồ đoạt sáo còn đâu nữa
Ai giúp giang san gỡ bất bình?


Đến đây để cho được đầy đủ hơn, tưởng cũng nên ghi thêm khái lược đôi dòng về vua Duy Tân. Ngài là con thứ 5 của vua Thành Thái lên ngôi năm 1907. «Sẵn tư chất thông minh, tuy còn nhỏ tuổi nhưng vua Duy Tân đã tỏ ra có một tinh thần yêu nước rất nồng nàn. Bẩm tính cương nghị, vả lại đau lòng vì thấy dân tình khổ sở dưới ách thống trị của ngoại nhân… lại thấy người Pháp không thành thực, thêm nữa mang nặng mối thù nhà, nhà vua phẫn uất. Từ năm 1915, thừa lúc Pháp đang mắc chiến tranh với Đức, vua Duy Tân ngầm kết với các nhà chí sĩ cách mạng thuộc Việt Nam Quang Phục Hội là Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, Phan Thành Tài v.v… nuôi hy vọng giải phóng cho dân tộc khỏi ách thống trị của ngoại nhân. Chẳng may cơ mưu bị bại lộ, vua bị bắt sau khi lẻn ra khỏi thành và bị Pháp đưa về giam trong đồn Mang Cá (Huế) rồi đem đày sang đảo La Réunion cùng với vua cha là Thành Thái, lúc đó nhà vua chỉ mới 17 tuổi. Năm 1945 nhà vua bỏ mình trong một tai nạn máy bay ở Bangui thuộc Châu Phi». (Trích đoạn trong Việt Nam Danh Nhân Từ Điển của Nguyễn Huyền Anh).


Bài ‘Khuê Phụ Thán’ với nội dung đánh dấu một khúc quanh đau buồn của đất nước, thể hiện nỗi niềm thương yêu trăn trở, nỗi khắc khoải bất lực của kẻ sĩ, sĩ phu nặng lòng với triều đình. Một thời bài thi đã gây nên luồng tranh luận khá sôi nổi về tác giả đích thực của nó.


Có hai lập luận suy diễn tùy theo vị trí của người phê bình văn học miền Bắc hay miền Nam. Đối với phái miền Bắc, «trong quyển Thi Thoại của Vân Hạc, Quốc Học Thư Xã Hà Nội 1942, trước mười bài ‘Khuê Phụ Thán’ nầy, chép có khác mấy câu:
Đã mòn con mắt ở phương Âu
Tấm lòng bức rứt trót canh thâu
Quê nhà có kẻ lo săn sóc...
Ở trương 224, tác giả nói:
‘Trong cuốn Nữ Lưu Văn Học Sử, một cuốn sách soạn rất công phu (tinh hoa của hơn hai chục pho sách cổ) tác giả là Sở Cuồng tiên sanh, trước khi sao lục mười bài Khuê Phụ Thán đã viết như thế nầy: Bà Nguyễn Hoàng phi, đời đức Thành Thái lúc Ngài đã Tây hành bà có nhiều bài ngâm vịnh mà nhất là mười bài Khuê Phụ Thán rất là lâm ly uyển chuyển, đáng cho là tuyệt điệu. Và sau hết trương 228, tác giả lại luận thêm: Mười bài tuyệt tác trên đây truyền tụng khắp nơi trong nước. Có điều ở Trung Bắc mọi người đều nói và tin như Sở Cuồng tiên sanh, rằng đó là tác phẩm của bà Nguyễn. Duy tại miền Nam, anh em làng văn nhiều người lại cho là tác phẩm của nhà thơ Thượng Tân Thị. Thậm chí để tỏ ý mến phục nhà thơ già đó, có khi người ta lại chua dưới ba chữ Thượng Tân Thị, dòng chữ nầy: (Tác giả Mười bài Khuê Phụ Thán) cố ý phô danh dự cho nhà thơ đã đẻ ra mười bài thơ trên. Mà thấy vậy nhà thơ già đất Nam Trung cũng chẳng nói gì, hình như có ý mặc nhận cái danh dự đó. Vậy chưa biết hẳn Khuê Phụ Thán là của bà Nguyễn hay là của ông Thượng Tân Thị?» (trích Từ Điển Thành Ngữ Điển Tích của Diên Hương).
Tới đây, xin gát qua một bên những dòng chữ phẩm bình không được mấy thanh tao trong đoạn văn chúng tôi vừa trích dẫn đối với nhà nho Thượng Tân Thị, chúng tôi để ý tác giả không hề xác nhận rõ ràng dứt khoát người sáng tác mười bài ‘Khuê Phụ Thán’ là của bà Nguyễn Hoàng phi để cuối cùng vẫn hoài nghi xuất xứ nên mới thốt ra câu: «Vậy chưa biết hẳn Khuê Phụ Thán là của bà Nguyễn hay của ông Thượng Tân Thị?».


Hơn nữa, chúng tôi thiển nghĩ, nếu là những danh tác được nhiều người biết đến thì thông thường tên tác giả được ghi trang trọng dưới mỗi bài nhằm vinh danh người sáng tác. Ở đây lại là một bà phi thì việc nầy càng được tôn trọng nhằm làm sáng danh bậc thi tài hiếm hoi trong vọng tộc. Chúng tôi không thấy một tài liệu nào có ghi tên Nguyễn Hoàng phi bên dưới bài ‘Khuê Phụ Thán,’ cả. Việc không ghi tên thật của bà Hoàng phi họ Nguyễn là việc thiếu tính chính xác và bất kính. Trong văn học thỉnh thoảng cũng có trường hợp ngoại lệ như những bài chung quanh Hoa Ti Gôn của T.T.Kh, nhưng ở đây do chính tác giả cố tình không ghi rõ tên thật hoặc bút danh đầy đủ của mình.
Chúng tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây để thử tìm hiểu tánh danh của bà Nguyễn Hoàng phi. Dưới triều vua Thành Thái theo sách ‘Một Thời Hoàng Tộc’ của Bảo Thái thì Hậu là «bà Nguyễn Thị Định, không rõ năm sinh và năm mất». Cũng trong sách ấy, nơi trang 232 có trích dẫn bài phỏng vấn mệ Bảo Hiền, năm 1998. Mệ là cháu nội của vua Thành Thái, con của ông hoàng thập tam và ông hoàng nầy là con của vua Thành Thái và bà Thứ phi Nguyễn Thị Thục. Như vậy bà Nguyễn Hoàng phi có phải là bà Nguyễn Thị Định hay bà Nguyễn Thị Thục? Chúng tôi nghĩ thêm với một bài thơ ‘lâm ly uyển chuyển, đáng cho là tuyệt điệu’ tất phải được nhiều người tên tuổi trong chốn văn chương chữ nghĩa thưởng thức và các nhà thơ đương thời vốn nhạy cảm trước thời sự đất nước, nhứt định sẽ tâm đắc ngâm vịnh, ngoài việc ngưỡng mộ cảm thông, không thể nào lãnh đạm làm ngơ, không sinh hứng để họa lại.
Ở Trung Bắc chúng tôi không thấy phong trào họa theo nguyên bản mười bài ‘Khuê Phụ Thán’, trái hẳn ở Nam Kỳ Lục Tỉnh phong trào nầy rất rầm rộ. Và những bài họa được lưu truyền rộng rãi trong quảng đại quần chúng dân gian, cả trong các sách nghiên cứu văn chương học thuật thời đó ở vùng đất mới nầy hầu như đều có ghi lại đầy đủ. Mặt khác, thể loại ‘liên huờn’ thường thấy rất thạnh hành ở Nam Kỳ Lục Tỉnh, xem như một thể loại khá đặc thù của địa phương. ‘Liên huờn’ hay ‘liên hoàn’ là liền nhau, một thể văn vần gồm nhiều bài thơ chia nhau nối kết theo thứ tự triển khai nội dung ý tưởng, nhưng đặc biệt là câu đầu của bài dưới nhứt thiết phải lập lại câu chót của bài trên. Hoặc không hẳn là nguyên câu mà thường chỉ lập lại đôi ba chữ chót của câu trên là được.
Do đó mới có ‘thập thủ liên hoàn’ gồm mười bài đường thi bát cú. Nhân đây, chúng tôi xin kể thêm một thể loại tương tự cũng rất được phổ biến trong Nam. Đó là ‘thập nhị liên phong’ gồm mười hai bài thơ tứ cú mà người sáng tác cũng phải áp dụng đúng theo phương cách ‘liên huờn’ nói trên. Thể loại nầy chúng tôi thường thấy trong lãnh vực văn chương tôn giáo ở hai đạo giáo quan trọng ở miền Nam là Cao Đài và Hòa Hảo, chỉ sau Phật giáo và Thiên Chúa giáo.
Ngoài bài ‘Khuê Phụ Thán’ được sáng tác khoảng tháng 3 năm 1919 theo như các sách nghiên cứu đã ghi, nhưng vào buổi bình minh của nền bang giao Pháp Việt, người ta được thưởng ngoạn rất nhiều bài cùng thể loại ‘liên huờn’ đã đánh dấu một thời. Chúng tôi có thể kể ở giai đoạn ‘quốc phá gia vong’ nầy nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, tác giả truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều Vấn Đáp… . Cụ đã sáng tác bài ‘thập thủ liên huờn’ để khóc thương tưởng tiếc hai người nghĩa khí vị quốc vong thân, con của quan Kinh lược Phan Thanh Giản. Cả hai Phan Thanh Tôn và Phan Thanh Liêm thường được người đương thời gọi là Phan Tôn và Phan Liêm đồng thanh đứng lên chống Pháp và đều tử trận ở Giồng Gạch, cách Ba Tri hai cây số thuộc tỉnh Bến Tre.
Dĩ nhiên, chúng tôi phải kể đến cuộc bút chiến làm sôi nổi dư luận giữa nhà thơ khí khái Phan Văn Trị tục gọi là Cử Trị và Đốc phủ sứ Tôn Thọ Tường. Một người thương nước thương nhà, trung vua hiếu dân, dùng văn chương mai mỉa hạng người đã vì bã công danh phú quí, không giữ tròn đạo nghĩa cương thường, không giữ vẹn tiết tháo của một nhà nho chân chính. Và một người cam tâm trở mặt, phản bội triều đình, đứng ra tiếp tay tích cực phục vụ tân trào. Cả hai rất nổi tiếng với những bài ‘thập thủ liên huờn’ như bài ‘Cảm Hoài’ của Cử Trị và mười bài họa ‘Thập thủ liên huờn’ của Đốc phủ Tường.
Như vậy thể loại nầy rất thạnh hành ở miền Nam hơn ở những miền khác của đất nước. Và chính trong những bài ‘thập thủ liên huờn’ rất được phổ cập nầy, người ta rút ra rất nhiều câu thơ ý nghĩa thâm trầm được lưu truyền sâu rộng trong làng văn và quần chúng thuở đó mà người đời sau nhầm lẫn xem như những câu ca dao tục ngữ.
Để tìm hiểu xác minh tác giả ‘Khuê Phụ Thán’, chúng tôi xin trích dẫn sau đây nguyên văn bài viết trong Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển do tác giả Trịnh Vân Thanh biên soạn. Quyển I ấn hành năm 1966 chiếu theo bài ‘Thay lời tựa’ của chính tác giả viết đề ngày 7 tháng 7 năm 1966. Quyển II được ấn hành sau đó một năm, tức năm 1967 và do nhà xuất bản Hồn Thiêng Sài Gòn thực hiện.
Ông Trịnh Vân Thanh tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, nguyên Hiệu trưởng trường Trung học Trịnh Hoài Đức và là Giám đốc Ban Tu thư Siêng Học mà chúng tôi hân hạnh được quen biết và có qua lại thân tình nhờ mối quan hệ thương trường, khi ông làm Kế Toán trưởng của hãng Giày Bata. Hãng nầy do người Pháp điều khiển, trụ sở chánh nơi đường Petrus Ký Sài Gòn. Sách soạn rất công phu, tài liệu phong phú nhưng soạn giả khiêm tốn viết trong lời tựa: «Làm một quyển từ điển mới nghe qua thật là vĩ đại. Sự thật nó chỉ là một công việc góp nhặt, ghi chép, tra cứu, phiên dịch những gì đã có trong những sách khác. Soạn giả chỉ cần chịu khó bỏ ra một thời gian nào đó - 10 hay 15 năm chẳng hạn - để sắp xếp những tài liệu sưu khảo trong các sách thành hệ thống».
Bây giờ chúng ta thử xem Giáo sư Trịnh Vân Thanh hệ thống hóa cách nào khi nói về bài ‘Khuê Phụ Thán’:
«Khuê phụ: người đàn bà trong phòng khuê, ở đây người đàn bà vọng tộc, sang trọng; Thán: than thở. Người đàn bà xa vắng chồng than thở. Trong cuốn Nữ Lưu Văn Học là một cuốn sách soạn rất công phu, gồm hơn hai chục pho sách cổ, tác giả là Sở Cuồng Lê Dư. Theo tài liệu trong Nhà Văn Hiện Đại của ông Vũ Ngọc Phan thì Sở Cuồng Tiên sinh cho mười bài Khuê Phụ Thán tác giả là bà phi triều Thành Thái thì thật là lầm. Bài 1 ‘Chồng hỡi chồng, con hỡi con!’ này nguyên đăng lần đầu ở tạp chí Nam Phong (số 21, tháng Mars 1919) và đề là ‘Mười bài liên huờn của Nguyễn Thị Phí làm’, rồi ở dưới mười bài lại ký ‘Vĩnh Long, nữ học sinh Phan Sơn Đại sao lục’. Mười ba năm sau (tức là khi quyển ‘Nữ Lưu Văn Học Sử’ đã ra đời được ba năm) cũng lại trong tạp chí Nam Phong (số 169, Février 1932), ở mục Văn Uyển (trang 204) bà Phan Sơn Đại - lúc này đã làm nữ giáo học - có viết mấy lời đính chính và dưới lời đính chính có đăng lại bài ‘Khuê Phụ Thán’, kèm theo bài ‘Tục Khuê Phụ Thán’ nữa. Đây là nguyên văn bài đính chính của bà Phan Sơn Đại:
“Mấy lâu nay, tôi có tiếp được nhiều bức thư của các đấng văn hào cùng các bạn nữ lưu trong nước gởi đến hỏi tôi về mười bài thi liên hoàn ‘Khuê Phụ Thán’ của ai làm. Tôi trả lời theo sau đây cho chư quý vị rõ. Nguyên mười bài thi ấy chính là của ông thân tôi là Thượng Tân Thị ngụ ý làm chơi để tỏ lòng hoài cảm. Khi ông thân tôi làm rồi thì các bạn của ông thân tôi khuyên đăng báo. Cực chẳng đã, ông thân tôi phải vâng lời, gởi đăng ở Nam Phong tạp chí năm trước. Song ông thân tôi không muốn lấy văn tài khoe khoang thiên hạ. Nên chỗ tác giả đứng, mượn một tên người đàn bà mà để vào. Còn phía dưới thì đề tên tôi đứng sao lục. Nay chư quí vị đã chất vấn, tôi xin phép ông thân tôi mà cứ thực tỏ bày. Vậy từ nay về sau, xin chư quí vị biết cho mười bài thi ấy là của ông thân tôi làm, chớ không phải của người nào khác. Xin chớ ngộ nhận không nên. Luôn dịp tôi xin đăng lại mười bài thi ấy cho rõ ràng. Kẻo lâu nay các báo đăng đi đăng lại, có chỗ sai lầm, và sau ông thân tôi có tục thêm mười bài nữa. Tôi cũng xin đăng vào đây cho chư quí vị duyệt lãm”.
Mười bài ‘Khuê Phụ Thán’ đa số các sách xuất bản ở phương Nam đều nhứt trí ghi tác giả là Thượng Tân Thị Phan Quốc Quang viết ở Ba Kè tháng 3 năm 1919. ‘Khuê Phụ Thán’ lại được nhiều thi nhân trong Nam tâm đắc đồng tình và kẻ trước người sau họa nguyên vận cũng theo thể ‘liên huờn’ được truyền tụng đến ngày nay. Như trường hợp điển hình là mười bài họa của cụ Tố Phang mà nhiều học giả trích đăng ghi sáng tác năm 1929.
Cụ Tố Phang (1) thác lời đức vua Thành Thái cũng không kém phần nỉ non ai oán như sau:

Muôn dặm từ ngày cách vợ con,
Bấm tay kể đã mấy thu tròn.
Chiếc thân bèo giạt căm vì nước,
Nắm ruột tơ vò thẹn với non.
Gánh nợ giang san vai trĩu nặng,
Mối tình thê tử dạ thon von.
Chi toan mở máy càn khôn lại,
Dạ sắt lòng đinh há mẻ mòn.
II


Mẻ mòn dạ thỏ những lo âu

Nợ nước ơn nhà trả xiết đâu!

Chín khúc tơ vương khôn đoạn thảm,
Hai hàng lụy ứa khó ngăn sầu.
Tang bồng vốn sẵn đường cung kiếm,
Hoa cỏ còn e trận lửa dầu.
Ước hóa Đỗ Quyên cho rảnh kiếp,
Kêu gào tỏ chí với đêm thâu.
III

Đêm thâu chán đứng lại buồn ngồi
Lửa hận nung lòng tợ nước sôi.
Dựa phụng kề loan đành hết kể,
Yêu vàng ấp ngọc cũng thôi rồi.
Lửa hương lạnh nhạt mai lìa trúc
Thân thế hao gầy trẻ khóc nôi.
Mượn nhạn đưa tin, tin khó gởi
Thấu chăng tâm sự vợ con ôi!

IV

Vợ con ôi hỡi! ruột bằm tương

Khó gượng khuây lòng nỗi nhớ thương

Xơ xác thân ve nơi lữ địa,
Lạnh lùng vách quế chốn quê hương.
Cơ trời tang hải xui nên thế,

Ngàn dặm đã đành xa cách nẻo,
Chiêm bao gặp gỡ ước cho thường
V


Cho thường gặp mặt với kề vai,
Đem tấm can trường tỏ với ai.
Bể hận sóng dồn đau đớn dạ,
Trời sầu sét đánh bịt bùng tai.
Đã không xã tắc thâu về một
Mà lại cương thường để rẽ hai.
Hồn điệp năm canh muôn vạn dặm,
Đường dài thiên lý chẳng bao dài.

VI


Bao dài đường sá khó đi cùng,
Gìn giữ cho tròn tiếc thỉ chung.
Đã ở không yên nơi chín bệ,
Làm sao cho vẹn chữ ba tùng. Đêm khuya gối chiếc trùng eo óc,


Gió tối mành thưa cảnh lạnh lùng
Lấy nhớ làm thương, thương đổi nhớ,
Tơ lòng ngày một rối lung tung.
VII


Lung tung còn nhớ trống quanh thành,
Tiếng trống quanh thành vắng điểm canh.<
Cảnh mới say mê con mắt
Quê xưa bận bịu mối tơ mành
Trong vòng lao lý chơn còn vướng,
Ngoài cõi giang san phận đã đành.
Rẽ túy chia uyên trời định số
Trùng phùng họa có kiếp lai sanh!
VIII

Lai sanh biết có gặp nhau không?
Trâu ngựa mong đền nghĩa núi sông.
Thềm quế vừng trăng tròn bóng thỏ
Dao vàng giọt huyết đượm màu hồng.


Thanh long thất thế co nanh vuốt,
Bạch hổ thừa cơ thoát lưới lồng
Thời thế ai xui nên thế thế,
Ba giềng đã lỗi đạo cha, chồng!
IX


Chồng xa vợ cách, tức hay chăng?
Biết tỏ cùng ai nỗi bất bằng.
Cỏ áy hoa xàu con bóng xế,
Trăng mờ đêm quạnh đám mây giăng.
Hộc hồng muôn dặm toan vùng vẫy,
Chim cá trăm đường đã lắp ngăn.
Cảnh lạ lòng quê đau đớn bấy,
Nỗi niềm riêng tỏ với vừng trăng X


Tỏ với vừng trăng chuyện nước non,
Đá tha lấp biển khó nên hòn.

Bút thỏ đề thơ bút đã mòn.
Vò võ thương mình nơi đất khách,
Bơ thờ trách kẻ chốn trường bon.
Biết bao sầu tủi bao ân hận
Muôn dặm từ ngày cách vợ con
(1929)


Đến đây, chúng tôi xin nhắc thêm một chi tiết khá quan trọng mà cũng là sinh hoạt được coi như phổ cập của phương Nam. Đó là những hội Tao Đàn, những Thi Xã qui tụ những bực yêu chuộng thi ca của một thời. Và những Tao Đàn hay Thi Xã nầy đã lưu lại trong kho tàng văn chương văn hóa ở dãy đất phương Nam nhiều nhà thơ lừng lẫy qua những sáng tác xướng họa để đời hay âm vang những buổi ngâm vịnh hợp mặt thanh cao tao nhã.
Đại khái chúng tôi có thể kể Bạch Mai Thi Xã mà con chim đầu đàn là Đốc phủ sứ Tôn Thọ Tường, người sáng lập. Như Nam Phong Thi Xã do cụ Thường Tiên Lê Quang Nhơn chủ trương. Như Tao Đàn Diêu Trì do bác sĩ Trần Ngọc Án thành lập… Ở đây chúng tôi xin nói qua sơ lược về Tao Đàn Diêu Trì. Lý do là vì cụ Thượng Tân Thị một thời là thành viên của Tao Đàn nầy.
Tao Đàn Diêu Trì được thành lập vào khoảng năm 1943 do bác sĩ Trần Ngọc Án, quê quán ở Trà Vinh là người miền Nam đầu tiên tốt nghiệp trường thuốc Hà Nội. Ngoài lãnh vực chuyên môn về y tế, ông rất say mê văn chương thi phú, lấy chữ nghĩa di dưỡng tính tình và tinh thần. Ông lấy bút hiệu Diên Hương và là tác giả của khá nhiều sách đã xuất bản trình làng, trong đó có quyển “Thi Pháp” ấn hành vào năm 1950, nhưng quan trọng nhứt là quyển “Tự điển Thành Ngữ Diễn Tích” được ông biên soạn rất công phu, xuất bản lần đầu tiên năm 1949, tái bản lần thứ nhứt năm 1954, được nhiều thành phần độc giả chọn lọc trong nước biết đến. Tại hải ngoại, sách cũng đã được cộng đồng người Việt Nam lưu vong tiếp đón niềm nỡ sau khi được cơ sở Zieleks ở Houston, Texas (Hoa Kỳ) tái bản vào đầu thập niên 80.
Lúc ấy bác sĩ Án làm việc ở bệnh viện được giới bình dân miền Nam gọi là ‘Bệnh viện Chú Hỏa’ do thương gia khét tiếng Hoa kiều Hui Bon Hoa tức Hui Bòn Hỏa, có tên chuyển âm Việt là Huỳnh Trọng Huấn bỏ tiền ra xây cất rồi hiến cho chánh quyền Pháp thuộc địa. Bệnh viện nầy về sau đổi thành Bệnh viện Sài Gòn tọa lạc trên đường Lê Lợi (tức Bonard cũ), đối diện cheo chéo với chợ Bến Thành huyền thoại. Bác sĩ Án mất năm 1963 tại Đà Lạt. Bà vợ tâm đầu ý hợp của ông, gốc người quận Mõ Cày thuộc tỉnh Bến Tre cũng là một nữ lưu tên tuổi hiếm có lúc bấy giờ ở lãnh vực thơ ca thi phú, tức nữ sĩ Song Thanh, tên thật là Nguyễn Thị Đối.
Những thành viên tên tuổi chánh yếu của Tao Đàn Diêu Trì gồm có bác sĩ Nguyễn Bính, bút hiệu Biến Ngũ Nhy gốc người Trà Vinh là thân phụ của dược sĩ Nguyễn Bính Tiên và tiểu thuyết gia An Khê Nguyễn Bính Thinh, thi sĩ Lê Quang Nhơn, bút hiệu Thường Tiên, gốc người làng Long Châu tỉnh Vĩnh Long từng chủ trương Nam Phong Thi Xã nói trên, cụ cai tổng Lê Quang Chiểu cùng vợ là nữ sĩ Trần Ngọc Lầu, nhà văn Hồ Biểu Chánh, tên thật là Hồ Văn Trung chẳng những nổi tiếng với những tiểu thuyết đồng quê Nam Kỳ Lục Tỉnh mà còn được ngưỡng mộ qua những vở hài kịch, ca kịch cùng những tác phẩm khảo cứu, phê bình và thi ca, cụ Phan Quốc Quang, thi hiệu Thượng Tân Thị, gốc người làng Lại Nông gần kinh thành Huế… Tất cả những vị nầy đều là những gương mặt sáng giá rất được trọng vọng và đã làm nên một thời, cái thời tiếp nối bước sơ khai của nền văn học nghệ thuật và báo chí ở miền Nam.
Tháng 5 năm 1947, cựu hoàng Thành Thái được đưa về Việt Nam và sinh sống ổn định nơi một căn phố khiêm nhường ở đường Thành Thái, đối diện với trường Bác Ái trong Chợ Lớn. Nhân dịp nầy báo chí ở Sài Gòn có đăng mười bài họa nguyên bản bài ‘Thập thủ liên hườn Khuê Phụ Thán’ của cụ Thượng Tân Thị và nói tác giả là cựu hoàng Thành Thái. Tình tiết và thi phong trong các bài họa nầy khiến người ta dễ hiểu lầm là đức vua là tác giả. Nhưng thực ra mười bài họa này chính là của cụ Thường Tiên Lê Quang Nhơn. Cụ sáng tác do xúc cảm hoàn cảnh lưu vong giam cầm trước đây của một bực đế vương nặng lòng với quốc gia dân tộc nên thác lời nhà vua nhằm trang trải nỗi niềm tâm sự của mình. Lời lẽ ý tứ so với nguyên bản cũng không kém phần thống thiết trầm hùng, đã từng đánh động lương tâm người đương thời còn có chút tình đối với vận nước.
Cụ Lê Quang Nhơn người gốc tỉnh Vĩnh Long, nơi nầy một thời cụ Thượng Tân Thị từng dạy học và về sau lại cùng sinh hoạt chung trong Tao Đàn Diêu Trì nên nhứt định đã nhiều lần được đọc và thưởng thức sáng tác ‘Khuê Phụ Thán’ qua mối dây bằng hữu tâm đắc, tri âm tri kỷ. Việc không thấy cụ ghi tên tác giả dưới mười bài ‘Khuê Phụ Thán’ khi Cụ họa nguyên bản, trái với thói quen của người đương thời đều ghi bên dưới bài thơ: ‘tác giả Thượng Tân Thị Phan Quốc Quang’, có thể hiểu như một sự thực đương nhiên không cần phải xác minh.
Chỉ cần cái tựa ‘Khuê Phụ Thán’ là người ta ngầm hiểu là của cụ Thượng Tân Thị? Nếu là của một tác giả nào khác chắc hẳn cụ Thường Tiên đã ghi rõ ràng tên người sáng tác cho được minh bạch. Mà nếu tác giả là bà Nguyễn Hoàng phi như cụ Sở Cuồng Lê Dư ghi nhận thì cụ càng phải làm nhằm tôn trọng một bực thi tài trong vọng tộc.
Chúng tôi xin ghi lại đây toàn bộ 10 bài họa liên hoàn của cụ Thường Tiên:
I


Phước còn tái hiệp vợ cùng con,
Tưởng đã sâm thương một kiếp tròn.
Cá chậu mong chi về gặp nước,
Chim lồng may đặng thả lên non.
Dứt tình căm giận mưu sâu sắc,
Giáp mặt tạm mừng tiếng vỉ von.
Bốn chục năm qua người có biết:
Lá gan sắt đá vẫn chưa mòn!


II


Vẫn chưa mòn mỏi dạ lo âu,
Giải thoát lên đường đã tới đâu?
Cung điện huy hoàng thôi dục vọng,
Dân tình cách bức mãi đeo sầu.
Sông Hương thuyền quyết dạy lèo lái,
Núi Ngự sương không dậy lửa dầu.
Sớm tối ngại ngùng cho thế cục,
Bao giờ non nước mới toàn thâu?
III


Gồm thâu chưa đặng khó nằm ngồi,
Nghiền ngẫm đêm ngày máu hận sôi.
Ngắm nước không đành vui sướng vậy,
Nghĩ mình may khỏi hổ ngươi rồi.
Xứ người tiếc trẻ khôn nguôi dạ,
Quê cũ nhìn trời luống khúc nôi.
Cuộc thế nỗi này chưa quyết định,
Ai ôi giọt lệ dẩy sông Hương
Vì nước, vì nhà nặng vết thương.
Vì nước cố tìm mưu phục quốc,
Vì nhà còn bận bước ly hương.
Một thân tù túng đành thua thế,
Trăm họ tung hoành quyết thắng phương.
Gió loạn cánh hồng thôi tạm xấp,
Xây nền dân chủ mựa xem thường.
V


Thường nhắm phong trào phải đổi vai,
Giang san chung gánh chớ vì ai.
Nô tì chẳng hổ thân mù mắt,
Phiến loạn còn giao tiếng điếc tai.
Liều mạng quân dân đà quyết một,
Ấm thân cơ nghiệp nỡ chia hai.
Riêng mình ngặc nỗi gà bôi mặt,
Khói lửa lầm than phải kéo dài.
VI

Kéo dài trăm trận biết sao cùng,
Sục sục đêm ngày máu hận chung!
Sống thác cũng liều thân đế-bá,
Hơn thua chẳng hổ tiếng thông-tùng.
Lên yên đã rõ đường may rủi,
Phơi cật màng chi gió lạnh lùng.
Ngồi đứng không yên cơn biến chuyển,
Đêm tàn khắc lụn điểm lung tung…
VII


Tung cắc truyền nhau bốn cửa thành,
Thâm nghiêm quân lính chót năm canh.
Chống xâm quyết trổ tay vùng vẫy,
Xáp trận riêng lo thế mỏng mành.
Thương nỗi bầy gà vừa mới nở,
Giúp oai lũ cáo thế sao đành?
Tham danh thủ lợi quên nguồn gốc,
Lơ lãng thù nhà kiếp hổ sanh.
VIII


Hổ sanh trong nước có như không,
Chẳng có công gì với núi sông.
Còn mặc da hùm lừa mắt cáo,
Lại giương lưới nhện vướng chơn hồng.
Anh hùng chí quyết xông tên đạn,
Phản tặc thân cam nhốt chậu lồng.
Non nước may dầu khôi phục lại,
Thây phường gian ngụy chất thành chồng.
IX


Thành chồng thây chết có nên chăng,
Tình thế chi chi thảm khốc bằng.
Tiền bạc ghê tuông nhơn nghĩa tuyệt,
Lợi danh giận lũ lưới rào giăng.
Nhà xiêu ít kẻ ra tay đỡ,
Đê vỡ đông người đủ sức ngăn.
Suy xét tình đời thôi ngán ngẩm,
Bao giờ vui kết bạn cùng trăng.
X


Cùng trăng nhắc chuyện thuở còn non,
Buồn tủi mừng vui chất mấy hòn.
Điện ngọc đền vàng lòng đã chán,
Nhà lao đảo ngục chí chưa mòn.
Quê xưa sớm nhuộm màu tươi đẹp,
Cửa tịnh đành vui tiếng cốc bon.
Bảy chục xuân thu đời chẳng hổ,
Phước còn tái hiệp vợ cùng con.
Nhân đây, chúng tôi cũng xin được vinh danh nhà thơ Thường Tiên qua việc ghi lại bài họa Vọng Phu Thạch của cụ Tôn Thọ Tường như sau:


Bài xướng:

Hình đá ai đem tạt biển đông,
Giống hình nhi nữ dạng ngồi trông.
Da giồi phấn tuyết phơi màu trắng,
Tóc dội dầu mưa giũ bụi hồng.
Ngày nhắm gương ô soi đáy nước,
Đêm cài lược thỏ chải trên không.
Đến nay phỏng đã bao nhiêu tuổi,
Trạc trạc bền gan chẳng lấy chồng.

(Tôn Thọ Tường)


Bài họa:
Nghe nói vọng phu ở phía đông,
Chân đi chưa tới, mắt chưa trông.
Bạc đen bịa lắm tình quân tử,
Tiết nghĩa buồn cho phận má hồng.
Ôm trẻ dầm sương ai biết có?
Trông chồng thành đá kẻ rằng không
Trơ trơ một khối từ sơ tạo
Thêu dệt ra chi chuyện ngóng chồng
(Thường Tiên)

Cụ Phan Quốc Quang là một nhà nho và cũng là nhà thơ với bút danh chánh là Thượng Tân Thị. Theo Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử của hai tác giả Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế, in lần thứ tư và do Nhà xuất bản Văn Hóa ấn hành trong nước thì Cụ sanh năm Kỷ Sửu 1889 và mất năm Bính Ngọ 1966:
“Ông sinh ngày 16 tháng 7 năm 1889 tại làng Lại Nông, gần kinh thành Huế. Từ năm 20 tuổi, ông vào Nam ngụ ở Tam Bình tỉnh Vĩnh Long, nơi nhà người dì có chồng quê ở đấy. Nhờ Đốc học Lê Minh Thiệp có lòng liên tài, hướng dẫn ông vào ngành giáo dục. Ông dạy ở các trường Chợ Lách, Nhơn Phú, Ba Kè trong đất Vĩnh. Từ đó gởi bài đăng báo, dần dần nổi tiếng thơ văn. Ngoài bút danh Thượng Tân Thị được sĩ phu đều biết, ông còn có biệt hiệu Hương Thanh, Hoài Nam Tử… Ông mất ngày 22 tháng 8 năm 1966, thọ 77 tuổi”.
Tại Ba Kè, qua mười bài liên huờn ‘Khuê Phụ Thán’ Cụ nổi tiếng một thời vì đã gây xúc động trong giới sĩ phu yêu nước, nặng tình với non sông xứ sở lúc quê hương đấm chìm trong cảnh nhiễu nhương tranh dành phân tán. Đất nước mất độc lập và tự chủ dưới sự bảo hộ của Pháp, chưa kể Nam Kỳ Lục Tỉnh đã trở thành thuộc địa. Nội dung bài thơ đong đầy tình nghĩa và nước mắt nầy đã chiếm trọn vẹn cảm tình của từng lớp người đương thời qua vị trí và tâm sự nỉ non u uất của một người vợ xa chồng xa con. Vì chẳng những vua cha Thành Thái bị Pháp đày ở Phi Châu mà sau đó không lâu vua con là Duy Tân cũng cùng chung một số phận.
Thượng Tân Thị là một nhà nho ẩn danh theo truyền thống của những bực túc nho thức thời, đau buồn chán ngán và bất lực trước thảm cảnh đất nước đổi đời tai hại, nên thác lời viết thay cho cụ bà Hoàng phi. Cụ nối tiếp tấm gương chói lòa hào quang của các sĩ phu trung với vua hiếu với dân, chọn nghề dạy học nâng cao dân trí, phát huy kỷ cương đạo hạnh và trong thâm tâm nấu nung lòng yêu nước thương nhà hoặc bốc thuốc cứu dân độ thế làm phương kế sinh nhai chờ thời và để xem đời. Như trường hợp cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu, cụ Cử Phan Văn Trị, Học sanh Nguyễn Văn Lạc…
Thuở nhỏ, tôi còn nhớ có biết một ông giáo quê quán ở Hướng Thọ Phú, làng Thọ Cang, quận Thủ Thừa thuộc tỉnh Long An, cùng một làng với cụ Đốc phủ sứ Đào Văn Hội, tác giả nhiều sách nghiên cứu và ký sự, trong đó nổi bật nhứt là quyển ‘Ba Nhà Chí Sĩ Họ Phan’. Cụ Đào Văn Hội là bào đệ của giáo sư Đào Văn Lân dạy môn Việt văn ở trường Petrus Ký vào thập niên 40/50 thế kỷ trước. Ông giáo trên đây tên Huỳnh Đình Công là giáo viên tỉnh Tân An (về sau đổi thành Long An cho đến bây giờ) bị thuyên chuyển xuống Vĩnh Long dạy học.
Một may mắn là ông cùng dạy chung một trường với cụ Phan Quốc Quang Thượng Tân Thị. Vào thuở xa xôi ấy, số giáo viên không đông lắm do thực dân Pháp chủ trương hạn chế, kiềm hãm việc phát triển mở mang dân trí. Và hầu như trong toàn tỉnh nhà hay ngay ở những tỉnh lân cận, các giáo viên đều quen mặt hay biết danh tánh nhau. Đôi khi họ thường xuyên qua lại rất khắng khít thân tình, xem nhau như anh em ruột thịt trong gia đình.
Tinh thần “bằng hữu chi giao mạc nhược thủy” của người xưa được thăng hoa trong sáng. Cha mẹ chúng tôi cũng đều là giáo viên tỉnh Chợ Lớn (khác với Chợ Lớn thành), về sau dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa mất hẳn tên vì bị chia năm xẻ bảy cho các tỉnh lân cận như Gia Định, Long An, Hậu Nghĩa và cả Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Nhờ cùng chung hành nghề gõ đầu trẻ hiếm hoi thời buổi đó nên ông giáo Công và cha mẹ tôi có dịp liên lạc qua mối giao tình. Do đó, chúng tôi gọi ông là Bác, do bác lớn hơn cha tôi đôi ba tuổi.
Ông bác nầy cũng có tính sính thơ, từng tập tành làm thơ Đường trao đổi giao lưu trong phạm vi bằng hữu hạn hẹp, không được biết tiếng ngoài phạm vi địa phương Tân An. Do vậy nên những năm tháng cùng dạy học chung trường với cụ Phan Quốc Quang, bác cũng thường hay đàm đạo ngâm vịnh, đôi khi xướng họa mua vui với Cụ Quang vào những cuối tuần nhàn rỗi không về thăm nhà được.


Vả lại thuở xa xôi đó, dân số toàn quốc Việt Nam không đông đúc và không phức tạp như bây giờ. Lúc ấy, dân tình và các vị chức sắc trong tỉnh trong quận không mấy ai không hãnh diện và tự hào được làm một thành viên chánh thức đứng trong cộng đồng với “hai mươi lăm triệu đồng bào ruột thịt”. So với toàn quốc và các tỉnh lỵ, đô thị thì ở quận lỵ, làng tổng, con số cư dân quả thật không đông lắm. Nhưng được một ưu điểm là con người rất trọng kính nhau, lấy chữ tình chữ nghĩa, lấy đạo đức thỉ chung làm mẫu mực trong cuộc sống. Nhứt là những người tự thân tâm đắc tìm đến với nhau trong chốn từ chương chữ nghĩa, xướng họa thơ ca thi phú.
Bác Huỳnh Đình Công có kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm về cụ Thượng Tân Thị như một người rất dản dị, yêu cuộc sống, một người đạo hạnh, một mực cương trực thẳng thắn. Cụ sống tri túc vô cầu, không chen đua tranh giành, lấy bối cảnh thiên nhiên của làng quê xóm vắng di dưỡng tính tình và tinh thần, lấy chức năng đào tạo thế hệ mai sau làm mẫu mực thăng tiến. Bác không hết lời ca tụng Cụ là một bực thâm nho yêu nước, đúng là một bực sĩ phu ẩn dật, không màn danh vọng và không thiết tha đến danh lợi, trước cảnh nước nhà lâm vào thời kỳ rối reng đen tối mất chủ quyền.
Quả đúng như lời của bà Phan Sơn Đại đã tâm sự trong Nam Phong Tạp Chí năm 1932 đã dẫn trên đây:
“Khi ông thân tôi làm (mười bài ‘Khuê Phụ Thán’) rồi thì các bạn của ông thân tôi khuyên đăng báo. Cực chẳng đã, ông thân tôi phải vâng lời, gởi đăng ở Nam Phong tạp chí năm trước. Song ông thân tôi không muốn lấy văn tài khoe khoang thiên hạ. Nên chỗ tác giả đứng, mượn một tên người đàn bà mà để vào. Còn phía dưới thì đề tên tôi đứng sao lục”.
Thật cao đẹp biết dường nào. Trái hẳn với lập luận phẩm bình của cụ Sở Cuồng Lê Dư, có vẻ bất công đối với một nhà nho sống âm thầm nơi làng quê hẻo lánh, nhưng đầy khí phách và phong thái gương mẫu:
“Duy tại miền Nam, anh em làng văn nhiều người lại cho là tác phẩm của nhà thơ Thượng Tân Thị. Thậm chí để tỏ ý mến phục nhà thơ già đó, có khi người ta lại chua dưới ba chữ Thượng Tân Thị, dòng chữ nầy: (Tác giả Mười bài Khuê Phụ Thán) cố ý phô danh dự cho nhà thơ đã đẻ ra mười bài thơ trên. Mà thấy vậy nhà thơ già đất Nam Trung cũng chẳng nói gì, hình như có ý mặc nhận cái danh dự đó”.
Tôi nghĩ và không biết mình có quá lời hay không là khi sáng tác mười bài ‘Khuê Phụ Thán’, cụ Thượng Tân Thị trong thâm tâm không hề nghĩ đến ánh hào quang lấp lánh của ‘danh dự’ trên đây. Cụ viết để trang trải những nỗi ray rứt thôi thúc cứ âm thầm dấy lên trong lòng mình. Cụ viết như những sĩ phu trước Cụ đã từng viết về những trăn trở nhức nhối, những khắc khoải u buồn, những nghẹn ngào phẫn uất, không biết phải chia xẻ cùng ai giữa đoạn trường lòng người phân tán, chuyển hướng trước tân trào. Nói tóm lại Cụ mượn lời thơ vần điệu, mượn tâm trạng của một bà Hoàng phi khóc chồng khóc con để nói lên tâm sự riêng tư của mình.
Tôi còn nhớ như in bác Huỳnh Đình Công thường hay nhắc đến «thằng Quân», con của cụ Phan Quốc Quang, lúc ấy còn nhỏ khoảng bốn năm tuổi và thường hay lẻo đẻo theo chân bác, cứ chiều chiều dẫn đi chơi nơi nầy nơi nọ chung quanh trường. «Thằng Quân» nầy về sau chính là giáo sư Phan Quốc Quân và cũng là thầy dạy chúng tôi về môn Pháp văn những năm chúng tôi mài đũng quần ở ghế nhà trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký vào khoảng năm 1948 và những năm tiếp theo sau nữa.
on người đôi lúc bắt gặp được dịp may hiếm có. Để vuột khỏi tầm tay mình những dịp may đó là một mất mát không bao giờ tìm lại được. Mà cái gì đã mất mát người ta mới biết quí, mới trân trọng tiếc nuối và luyến nhớ. Tôi đã đánh mất hai dịp may mà thế gian cho là khó tìm lại được, để giờ đây cứ ân hận, lòng mãi mãi bị dày vò khôn nguôi.
Lần thứ nhứt là vào năm 1948, tôi may mắn được trúng tuyển vào trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký. Và ngày tựu trường năm thứ nhứt, vào học lớp C, tôi gặp thầy Phan Quốc Quân dạy môn Pháp văn. Thoạt trông thầy bệ vệ, đôi mắt sáng dưới cặp kiếng cận thật dầy, tiếng nói lại rổn rảng lanh lẹ khiến chúng tôi vô cùng khiếp sợ. Nhưng dần dà thầy tỏ ra rất rộng rãi dễ mến, rất mực thương yêu nâng đỡ chúng tôi. Thầy là người đã gieo vào lòng chúng tôi sự ham mê thích thú ngôn ngữ của Victor Hugo, Voltaire, Lamartine, Chateaubriand…
Vào mỗi giờ Pháp văn, chúng tôi được học hỏi thêm nhiều điều lắm chuyện hiếm quí ở thầy. Chỉ riêng một danh từ, động từ, tỉnh từ… thầy luôn luôn phân tích nguồn gốc la tinh, triển khai đồng âm, đồng nghĩa, phản nghĩa và nhứt là những từ thuộc cùng chung một gia đình. Nhờ đó anh em chúng tôi được võ trang một vốn liếng khó có thể tìm học được ở các giáo sư khác cùng môn học.Thầy không ngớt khuyến khích chúng tôi cần đọc thêm sách Pháp văn để trao dồi sự hiểu biết. Và nhờ lời khuyên lơn nhiệt tình đó nên vào mỗi cuối tuần, chúng tôi thường kéo đến nhà sách Albert Portail (sau nầy đổi thành Xuân Thu) ở đường Catina (Tự Do thời Việt Nam Cộng Hòa) để chọn mua sách.
Đến năm 1950, sau biến cố học sinh Trần Văn Ơn, các trường ở Đô Thành đều đóng cửa và trường Petrus Ký cũng chịu chung một số phận, kể cả khu vực nội trú mà chúng tôi đã trải qua ngót hai năm bị bải bỏ vĩnh viễn từ dạo đó. Chúng tôi nghỉ học một thời gian để đến khi nhập học trở lại cảm thấy cần phải học thêm để bắt kịp học trình dang dở. Do vậy một nhóm anh em chúng tôi kéo đến nhờ thầy Phan Quốc Quân hướng dẫn thêm phần Pháp văn, môn học chánh yếu để mong thi lấy bằng “Brevet du 1er Cycle” hay “Brevet Élémentaire” thuộc chương trình Pháp. Thầy Quân dạy anh em chúng tôi ở một căn phố nơi đường Cô Giang hay Cô Bắc, Sài Gòn, lâu quá chúng tôi không nhớ chính xác. Cứ vào mỗi đầu tháng, chúng tôi đến nhà thầy ở cách đó vài căn phố để đóng học phí. Nơi đây, chúng tôi thường đến sớm hơn ngày thường năm mười phút để đóng xong học phí cho kịp giờ học.
Mỗi lần đó, chúng tôi có gặp cụ Phan Quốc Quang, lúc ấy đã trọng tuổi và trông có vẻ mệt mỏi nên thường ngồi ở ghế xích đu phía trước nhà. Cụ ít nói nhưng khi nói giọng Thừa Thiên khá nặng nên khó nghe đối với những đứa trẻ miền Nam rặc nòi như chúng tôi. Phần chúng tôi, lúc đó vừa nhút nhát, vừa hời hợt, nhứt là chịu ảnh hưởng sâu đậm, nặng nề của nếp sống cổ truyền nể vì và kính trọng người lớn tuổi, nên chỉ dám cúi đầu thưa trình thôi. Do vậy, chúng tôi mất đi dịp may để hỏi Cụ những uẩn khúc cần được làm sáng tỏ về thân thế cùng sự nghiệp văn chương thi phú của Cụ.
Lần thứ hai là khi chúng tôi được đặt chân đến Pháp vào cuối tháng 11 năm 1979 để xin tỵ nạn chánh trị, sau khi sống sót trong chuyến vượt biên thập tử nhất sanh trên Thái Bình Dương. Không biết do tin tức từ đâu, thầy Phan Quốc Quân biết được tin chúng tôi vừa thoát nạn cộng sản và đang mò mẫm tìm phương cách ổn cư tại thành phố Lille thuộc miền Bắc nước Pháp. Từ Paris, thầy có viết một bức thư dài bốn trang giấy để mừng chúng tôi cùng gia đình được ơn trên phù hộ an toàn thoát khỏi xứ tù chung thân xã hội chủ nghĩa.
Việc thầy ưu ái, thương nhớ nghĩ đến hoàn cảnh đang khó khăn của đứa học trò cũ là chúng tôi lúc đó, qua những dòng chữ vấn an và khuyến khích rất mực chân tình đậm đà làm cho chúng tôi rất đỗi xúc động đến rơi nước mắt. Thật là một nghĩa cử đong đầy yêu thương vô bờ bến giúp chúng tôi có thêm niềm tin và hy vọng ở những bước đầu ngập ngừng bỡ ngỡ, giăng mắc chông gai nơi xứ người.
Ở những thư sau, thầy ân cần hỏi tin tức mấy thằng bạn đồng môn của tôi, đều là học trò cũ của thầy. Sau bao năm biển dâu, trí nhớ của thầy còn tốt lắm. Thầy nhớ từng đứa, nhớ những kỷ niệm xưa… Thấy rất vui mừng khi biết được những đứa tốt số đang an cư, sống hạnh phúc ở Hoa Kỳ, Gia Nã Đại hay Úc Châu. Nhưng thầy cũng tỏ ra âu lo cho thân phận những đứa bất hạnh còn kẹt lại nơi quê nhà, tương lai mù mịt, dở sống dở chết.
Thầy cũng nhắc đến từng tên mấy đứa bạn tôi quê quán ở Phú Lâm, Cây Gỏ, Bà Kế, Minh Phụng, Bình Tiên, Phú Định, Mũi Tàu… những đứa đã tự nguyện giúp thầy đi dán bích chương hay đến từng gia đình cử tri để trao ‘bức tâm thư’, khi thầy đứng ra ứng cử chức dân biểu đơn vị Quận VI Đô Thành. Lúc bấy giờ ứng cử là một việc nhưng thực tế chuyện thắng bại không hẳn thuộc quyền định đoạt tối hậu của cử tri. Lần đó thầy thất bại nhưng không vì vậy mất đi ở thầy ý hướng trong sáng và tinh thần phục vụ cộng đồng, phục vụ đồng bào.
Cũng như bất cứ một người tỵ nạn cộng sản nào khác, lúc mới được hồi sinh nơi xứ người, chúng tôi không thoát khỏi gánh nợ cơm áo để nuôi gia đình vợ con nheo nhóc với đôi tay trắng, tứ cố vô thân. Qua thời gian liên lạc với thầy, rồi tiếp đó chúng tôi vô tình lơi dần một cách đáng tiếc. Việc làm lại cuộc đời quá đắng cay nghiệt ngã của chúng tôi quả là nguyên nhân của tội lỗi đối với bực thầy tôi kính yêu trọng quý. Đến giờ phút nầy, mình đối diện với chính mình khi nhắc nhớ sai sót khiếm khuyết đó, trong lòng chúng tôi luôn dấy lên bao nhiêu phiền trách, bấy nhiêu đay nghiến của ăn năn, của hối hận vô bờ. Nhưng niềm hối hận ăn năn gậm nhấm sâu đậm nhứt đối với chúng tôi giờ phút nầy vẫn là việc để mất thêm một lần nữa dịp may khi thầy tôi còn sinh tiền nơi hải ngoại. Chúng tôi không hỏi thầy về những gì chúng tôi cần biết về Cụ Phan Quốc Quang, thân phụ của thầy.
Hôm nay, chúng tôi thử tìm hiểu ‘Thập thủ liên huờn Khuê Phụ Thán’ của Cụ Thượng Tân Thị chẳng qua là để tưởng nhớ một bực nho sĩ ẩn dật nhưng đã góp phần làm nên một thời nơi chéo đất Nam Kỳ Lục Tỉnh ngày xưa. Nhân nhắc đến cụ Phan Quốc Quang, chúng tôi không thể không nhắc đến thầy tôi là giáo sư Phan Quốc Quân. Chúng tôi càng thêm ngưỡng mộ thầy khi gần đây có dịp đọc quyển nghiên cứu đồ sộ “Thân Thế Và Sự Nghiệp Nhà Cách Mạng Nguyễn Thế Truyền” của tác giả Đặng Hữu Thụ (tác giả tự xuất bản năm 1993 tại Pháp). Do đó chúng tôi được biết thêm khi thầy còn là du học sinh tại Pháp, thầy cũng đã từng tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh của người Việt Nam ly hương đòi độc lập tự do dân chủ cho quê hương xứ sở ngay trên đất nước mẹ của thực dân.
Nơi trang 77 của sách nói trên, tác giả Đặng Hữu Thụ viết những giòng sau đây:
“Trong số các người cổ động cho tờ Việt Nam Hồn có hai người hăng say nhất là ông Trần Đình Nam y sĩ ở Huế sau làm tổng trưởng Bộ Nội Vụ trong chánh phủ Trần Trong Kim năm 1945 và Phan Quốc Quân giáo sư tại Sài Gòn, cựu du học sinh tại Pháp. Ông Phan Quốc Quân còn bị mật thám theo rõi vì còn tổ chức các buổi nói chuyện tại các tư gia để cổ động mọi người mua báo Le Paria“.
Tưởng cũng xin được nhắc lại báo Việt Nam Hồn do nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền làm chủ bút kiêm chủ nhiện năm 1925 tại Pháp, xuất bản mỗi tháng một kỳ viết bằng ba thứ chữ Quốc ngữ, Pháp và Hán, có tinh thần quốc gia dân tộc, chủ trương đấu tranh giành độc lập tự chủ cho nước nhà. Còn tờ báo Le Paria là cơ quan chính thức của Hội Liên Hiệp Thuộc Địa xuất bản năm 1922 mỗi tháng một kỳ viết bằng tiếng Pháp nhưng riêng tên báo được in bằng ba thứ chữ Pháp, Hán và Ả Rập với tôn chỉ giải phóng các thuộc địa trên khắp thế giới.


Chúng tôi cũng qua những giòng ôn cố nầy để xin chân thành tri ơn và tạ lỗi với thầy tôi, thầy Phan Quốc Quân, một người thầy gương mẫu đã biến đổi vận mệnh đời tôi. Thầy đã thực sự không nề hà và không quản công lao khổ nhọc trời bể trong thời gian dài bốn năm năm liên tục hướng dẫn chúng tôi có một vốn liếng tối thiểu để làm lại cuộc đời trên đất Pháp. Và nhờ đó, chúng tôi có một cuộc sống hạnh phúc ấm no hiện nay (*).

(*) Chú Thích:
Tôi viết xong bài hoài niệm nầy vào khoảng năm 2009 nhưng khá lâu về sau, nhân một dịp đọc quyển hồi ký “Từ U Minh Đến Cần Thơ“ (Nhà xuất bản Trẻ, TP HCM, 2002) của nhà văn Sơn Nam, tôi thấy có một đoạn tác giả viết về cụ Thượng Tân Thị. Tôi xin được trích dẫn đoạn văn đó nhằm bổ sung bài viết của tôi và cũng để độc giả bốn phương rộng đường nhận xét, xem như sự đóng góp của một chứng nhân sống.
“… Tôi mừng thầm, cám ơn cha mẹ đã chịu cực cho tôi đi xa để thấy chuyện đời. Nếu cứ ở U Minh đá cá thia thia, ăn cá lóc nướng thì vui nhưng u mê, sống ngoài thời cuộc. Rốt lại, gần mãn năm học ở trường Bassac, tôi thuộc vào hạng khá, nhờ… nhớ dai, giỏi về Việt văn và Pháp nhữ.


“Bây giờ, Việt văn không được chú ý, nhưng tôi mải mê vì ông thầy Phan Quốc Quang (biệt hiệu Thượng Tân Thị) quả là giàu tâm huyết. Dạy bực trung học, trong khi các giáo sư mặc Âu phục, mang giày, thắt cà vạt thì ông thủ phận khăn đen áo dài, nói ròng tiếng Việt, không xen tiếng Pháp nào hết (vì ông không rành). Riêng về Hán học, dường như ông chẳng đâu tú tài, cử nhân gì cả… Người thích văn chương, ngoài đời, mến mộ ông qua 10 bài Khuê Phụ Thán….
” Khuê Phụ Thán là tâm sự của bà hoàng hậu, vợ vua Thành Thái, qua lời thơ đã than thở “Chồng hỡi chồng, con hỡi con”, chồng và con đều bị đày. Có vài câu tuyệt dịu như:
- Con ơi, ruột mẹ ngướu như tương,
Bảy nổi ba chìm rất thảm thương.
Khô héo lá gan, cây đỉnh Ngự,
Đầy vơi giọt lệ, nước sông Hương.
Quê người đành gởi thân trăm tuổi,
Cuộc thế mong gì nợ bốn phương…
Thượng Tân Thị đã can đảm ca ngợi hai vị vua nhà Nguyễn”.
Dân Mộc Tiểu lộ, cập nhựt ngày 20 tháng 7 năm 2018.
Võ Phước Hiếu
>
-***-
(1).Tố Phang trên thật là Ngô Văn Phát (1910 - 1983), là nhà văn, nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Khi viết, ngoài bút hiệu Tố Phang, ông còn ký là Thuần Phong, Đồ Mơ.


Tiểu sử

Ông sinh ngày 16 tháng 11 năm 1910 tại Vĩnh Lợi (Bạc Liêu).
Thuở nhỏ, ông học chữ Hán với cha, văn chương bình dân (tục ngữ, ca dao) với mẹ, và học tiểu học tại Vĩnh Lợi. Sau đó, ông lên Sài Gòn học, đậu bằng Thành chung rồi nhập ngạch họa đồ ngành công chánh tại nơi ấy.
Ông yêu thích văn chương từ khi hãy còn nhỏ. Năm 14 tuổi, ông bắt đầu tự làm một số câu ca dao gửi đăng báo Phụ nữ tân văn, rồi thường xuyên cộng tác với báo ấy từ năm 1928 đến năm 1935. Cũng trong quãng thời gian đó (khi chưa đầy 20 tuổi), ông đã làm thơ họa 10 bài Khuê phụ thán của Thượng Tân Thị[1].
Năm 1957, ông được hội Encyclopaedia Britannica ở Luân Đôn (Anh) mời cộng tác. Nhận lời, ông gửi bài "Khảo cứu về thành phố Sài Gòn" và được đăng vào bộ tự điển của hội.
Năm 1964, quyển Ca dao giảng luận của ông đã được nhà nghiên cứu Maurice Durand lược trình và bình luận trong bộ sách của trường Viễn Đông Bác cổ. Cũng trong năm ấy, ông được tổ chức Nghiên cứu Việt học của trường Đại học Sorbonne (Pháp) mời tham gia Dự án Nguyễn Du (Projet Nguyễn Du) để chuẩn bị cho cuộc lễ kỷ niệm 200 năm "năm sinh Nguyễn Du" (1965). Nhận lời, ông gửi thiên khảo luận "Nguyễn Du et la Métrique populaire" (Nguyễn Du với thể dân ca) và được đăng vào bộ sách Mélanges sur Nguyen Du (Tạp luận về Nguyễn Du) [2].
Đồng thời với việc trước tác, ông còn là một nhà giáo. Ông từng dạy Việt văn tại trường Pétrus Ký (Sài Gòn), dạy Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa (Sài Gòn), Sư phạm Huế và Đại học Cần Thơ.
Nhà thơ Tố Phang mất năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 73 tuổi.

Tác phẩm

Căn cứ theo sách Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), thì tác phẩm của Tố Phang có:
  • Cô gái thành: tập thơ vui, ký bút hiệu Đồ Mơ, làm năm 1938, Sao Mai xuất bản năm 1948 tại Sài Gòn.
  • Những cuộc biển dâu: tập thơ, làm năm 1938, Sao Mai xuất bản năm 1950 tại Sài Gòn.
  • Bức tranh vân cẩu: tập thơ, làm từ năm 1930 đến 1944.
  • Hoa gương hương gió: tổng hợp các bài thơ làm từ năm 1929 đến 1960, xếp thành 3 tập là: Bụi ngày xanh, Sóng lòng, Bụi đô thành.
  • Ca dao giảng luận
Ngoài ra, theo website Tri thức Việt, ông còn có: Ngụ ngôn Việt Nam I, II (thơ), Bóng người qua (1928), Giữa Đồng Tháp Mười, Giọt lệ phòng đào (1929), và nhiều tác phẩm kịch, giảng luận văn chương Việt Nam.

Thơ Tố Phang

Là một thi nhân, Tố Phang đứng riêng ra ngoài những phong trào, phe phái. Ông âm thầm học tập và lặng lẽ trước tác. Thành quả tốt đẹp là ông đã nhận được 6 giải thưởng văn chương... Nhìn chung, thơ ông đều mang tính chất một cuộc tình hợp tan, nhuốm màu sắc tôn giáo, hoặc nói về thời cuộc lúc bấy giờ [3]. Dưới đây là một vài đoạn thơ đã được sách Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung) giới thiệu.
Buổi thơ ấu
(trích)
Buổi thơ ấu, những ngày khô ráo,
Anh cùng em ẩn náu sau vườn,
Giả làm một cặp uyên ương,
Biết bao thân ái giữa vườn thanh u?
Trí tưởng tượng ngây thơ cũng quái,
Ta bẻ cây cất trại che chòi,
Nhánh sung dựng cột hẳn hòi,
Vách dùng lá chuối, nóc phơi lá dừa.
Anh móc đất nắn đồ trong bếp,
Em hái rau dọn tiệc linh đình,
Cửa chòi đủng đỉnh che mành,
Mái hiên bông bụp vòng quang giả đèn...
...Cùng nhau duyên đã bén duyên,
Đôi ta dường đã thệ nguyền trăm năm.
Nhưng con tạo oái oăm độc ác
Chẳng cho ai an lạc lâu dài,
...Lớn lên một nẻo một người,
Đôi chim lẻ bạn giữa trời phong ba.
Buổi thơ ấu đã qua không lại,
Thú trẻ con tìm mãi đâu ra.
Vườn xưa đổi chủ thay hoa,
Người xưa nhớ bạn, tuổi già tiếc xuân.
(Sóng lòng)
Một bước đi
(trích)
Một bước đi là một tiếc thương,
Vắng hoa tiều tụy cả khu vườn,
Vắng trăng buồn lạt trời thu quạnh,
Vắng bạn lòng tơ mấy đoạn vương.
Một bước đi là một nhớ nhung,
Xa hoa vườn vắng tiếng côn trùng,
Xa trăng trời vắng mùa thu đẹp,
Xa bạn lòng tơ luống não nùng.
Mỗi một lần đi, chết một lần,
Chết vì xa vắng bạn tương thân,
Chết trong mắt biếc, trong cười nụ,
Chết rũ trong lòng cạn ái ân...
(Sóng lòng)
Nén hương
(trích)
...Hương cùng thi sĩ như nhau,
Nỗi mình, mình biết ai nào thấu cho.
Hương tàn lưu lại nắm tro,
Thi nhân lưu lại nấm mồ, câu thi.
Nấm tro gió thổi bay đi,
Nấm mồ ngọn cỏ xanh rì mọc lên.
Câu thi thiên hạ dần quên,
Ngàn thu thi sĩ còn tên tuổi gì?
Mỹ Thuận, 22 tháng 11 năm 1933.

Chú thích

  1. ^ Nguồn: Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), tr. 345.
  2. ^ Năm 1966, trường Viễn Đông Bác cổ Pháp cho xuất bản bộ sách ấy. Nguồn: 'Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), tr. 344.
  3. ^ Nguồn: Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), phần giới thiệu thơ Tố Phang.

Sách tham khảo

Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng, Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung). Nhà xuất bản Sống Mới, Sài GKhuê Phụ Thán

(Thể loại ‘liên huờn’ đặc thù Miền Nam)

Hoài niệm nhà thơ
Thượng Tân Thị Phan Quốc Quang


(Nhà Nho Truyền Thống sống Thanh Bạch Vô Cầu)


Đây là mười bài thơ được sáng tác theo thể ‘liên huờn’ hay ‘liên hoàn’ nên người đương thời gọi là ’Thập thủ liên huờn’. Đại ý nói lên tâm trạng một người đàn bà vì hoàn cảnh trái ngang nào đó phải xa chồng xa con nên cất lời than thở sự tình.


Tuy nhiên, ở đây tác giả liên tưởng đến trường hợp của hai vì vua triều Nguyễn: Thành Thái và Duy Tân bị thực dân Pháp đang thời kỳ thạnh hành cưỡng bức, bắt đi đày nơi đảo La Réunion ở Phi Châu. Nên tác giả cảm hứng thác lời một bà phi khóc chồng, khóc con, khóc cảnh chia ly ngăn cách, nghĩa vợ tình chồng dang dở, hoàn cảnh mẫu tử éo le, mẹ con cách mặt, giữa lúc đất nước đấm chìm trong loạn lạc do nạn ngoại xâm, mất chủ quyền. Do vậy có người nghĩ nên đặt cái tựa, thay vì ‘Khuê Phụ Thán’ rất được phổ biến thời bấy giờ ở đất Nam Kỳ Lục Tỉnh mà nên gọi là ‘Thâm cung Trường hận’ mới đúng hơn.


Dù gì nhan đề ‘Khuê Phụ Thán’ có lẽ là nhan đề của nguyên bản, của chính tác giả lúc hoàn tất sáng tác của mình. Vì vậy ở đây chúng tôi xin gọi là ‘Khuê Phụ Thán’ cho hợp với thói quen của những người thưởng thức thi ca, cũng như trong đa số sách vở nghiên cứu văn học ở phương Nam.


Nội dung của bài ‘Khuê Phụ Thán’ được biết như sau. Chúng tôi xin ghi lại nơi đây bản tiêu biểu được phổ cập nhứt, vì trên thực tế do mười bài nầy đã được phổ biến rộng rãi trong quảng đại quần chúng Miền Nam nên có khá nhiều chữ hoặc nhiều câu không được thống nhứt do thói quen của nạn sao chép theo truyền miệng. Việc tam sao thất bổn nầy rất thường xảy ra ở những áng thơ cổ hay thi văn khoảng những năm đầu thế kỷ XIX.


I


Chồng hỡi chồng! Con hỡi con!
Cùng nhau xa cách mấy năm tròn.
Chân trời, góc bể buồn (1) chim cá,
Dạn gió, dày sương tủi nước non.
Mộng điệp khéo vì ai lẻo đẻo,
Hồn quyên luống để thiếp thon von (2).
Ngày qua tháng lại trông đăm đẵm (3),
Muôn dặm xa xuôi (4), mắt đã mòn.


Chú thích những sai biệt:
(1) tin
(2) chon von
(3) đằng đẵng
(4) xa.
II

Đã mòn con mắt ở Phi Âu (5),
Có (6) thấy chồng con đâu ở đâu!
Dẫu đặng (7) non xanh cùng bể (8) tốt,
Khôn ngăn gió thảm với mưa sầu.
Trách ai dắt nẻo, khôn lừa lọc,
Khiến thiếp ra thân chịu dãi dầu!
Bớ bớ xanh kia sao chẳng đoái,
Tấm lòng oằn oại (9) suốt canh thâu.


Chú thích:
(5) một phương Âu
(6) Nào
(7) được
(8) biển
(9) bứt rứt
III


Canh thâu chưa nghỉ (10) hãy còn ngồi,
Gan ruột như dầu sục sục sôi.
Nghĩa gá ấp yêu đành lở dở,
Công cho bú móm chắc thôi rồi.
Quyết gìn giữ (11) dạ tròn sau trước,
Biết (12) cậy nhờ ai tỏ khúc nôi!
Dâu bể xanh xanh, trời một góc,
Hỡi chồng ôi (13)! với (14) hỡi con ôi (15)!


Chú thích:
(10) ngủ
(11) dành giữ
(12) không
(13) ơi
(14) ới

IV


Con ôi (16)! ruột Mẹ ngấu như tương,
Bảy nổi, ba chìm siết (17) thảm thương.
Khô héo lá gan, cây đỉnh Ngự,
Đầy vơi giọt lệ, nước sông Hương.
Quê người đành gởi thân trăm tuổi,
Đất tổ (18) mong gì nợ (19) bốn phương.
Mẹ cũng trông mau rồi một kiếp,
Để cho vẹn vẽ mối cang thường.

Chú thích:


(16) ơi
(17) rất
(18) cuộc thế
(19) chí.
V


Cang thường gánh nặng cả hai vai,
Biết cậy (20) cùng ai, tỏ với (21) ai?
Để bụng chỉn e tằm đứt ruột,
Hở môi thì (22) sợ vách nghiêng tai.
Trăng (23) khuya nương bóng chênh chênh một,
Kiến (24) bể soi hình tẻ tẻ hai.
Nhắm thử từ đây qua đến (25) đó,
Đường đi non nước độ bao dài?


Chú thích:
(20) tỏ
(21) ai hỡi
(22) còn
(23) Canh
(24) kính (25) tới.

VI

Bao dài non nước chẳng hay cùng,
Xin gởi hồn ta đến ở chung.
Sống thác miễn cho tròn một tiết (26),
Trước sau khỏi (27) thẹn với ba tùng.
Quê nhà đã có người (28) săn sóc,
Đất khách nương nhau khỏi lạnh lùng.
Mảng tính chưa xong, vừa chợp mắt,
Trống lầu đâu đã đổ lung tung.

Chú thích:

(26) Hôm sớm cho tròn luôn một tiết
(27) chẳng
(28) có kẻ lo.

VII

Đã đổ lung tung tiếng súng thành,
Dựt mình tỉnh dậy, mới tàn canh.
Sương sa lác đác trên (29) tàu lá,
Gió thổi lai rai lạc (30) bức mành.
Cảnh ấy, tình này thôi hết muốn,
Trời kia, đất nọ nỡ sao đành!
Thương nhau chẳng đặng cùng nhau trọn,
Xin hẹn chung cùng (31) kiếp tái sinh.


Chú thích:

(29) dằn


(31) cùng chung.
VIII

Kiếp tái sinh may có gặp không,
Kiếp này đành thẹn (32) với non sông.
Chiêm bao lẩn thẩn, theo chân bướm,
Tin tức bơ vơ, lạc cánh hồng.
Tính tới, tính lui, thân cá chậu,
Lo quanh, lo quẩn, phận chim lồng.
Đã không chung hướng thôi thì (33) chớ,
Sao nỡ xa nhau, chồng hỡi chồng!
Chú thích:

(32) phụ
(33) thì thôi.
IX


Hỡi chồng có thấu nỗi này chăng?
Sóng gió khi không dậy đất bằng.
Non nước chia hai, trời lồng lộng,
Cha con riêng một, biển giăng giăng.
Mối sầu kia gỡ, khoanh chưa hết (34),
Giọt thảm này tuôn, bửng khó ngăn.
Ngán bấy cuộc đời, khôn gượng gạo,
Canh chầy còn ở dưới cung trăng.

Chú thích (34) dứt.


X


Ở dưới cung trăng luống nỉ non,
Đắng cay như ngậm trái bòn hòn (35).
Khói mây giọng quốc (36) nghe hơi mỏn (37),
Sương tuyết mình ve nhắm đã mòn.
Lằn (38) mỏ làng xa, canh cốc cốc,
Tiếng chuông chùa cũ, dộng bon bon.
Nỗi niềm ai biết ta thương nhớ,
Chồng hỡi chồng, con hỡi con!


Chú thích (35) bồ hòn

(36) cuốc
(37) mỏi
(38) Lần
Tưởng bây giờ chúng ta cũng nên duyệt qua khái lược tình hình Việt Nam những năm sau khi vua Tự Đức mất và nội tình ở triều đình Huế, đặc biệt tìm hiểu tâm trạng và hoài bảo của hai vì vua Thành Thái và Duy Tân để mong được sáng tỏ những uẩn khúc của giai đoạn đất nước rối reng hỗn loạn mà tác giả bài ‘liên huờn’ đã thấm thía cảm hứng biến thành lời thơ. Như chúng ta đều biết, sau khi vua Thiệu Trị, niên hiệu Hiến Tổ Chương Hoàng Đế băng hà năm 1848, truyền ngôi lại cho vị Hoàng tử thứ hai là Hường Nhậm, lúc đó chỉ mới 19 tuổi. Ngài lên ngôi Hoàng Đế ở điện Thái Hòa và lấy niên hiệu là Tự Đức (1829-1883). Triều đại Ngài tuy dài đến 36 năm (1848-1883) nhưng lại mở ra một thời kỳ đen tối nhứt của lịch sử nước nhà.

Việc cấm đạo Thiên Chúa từ thời vua Minh Mạng (1791-1841) vẫn được tiếp tục duy trì, đôi lúc còn khắc khe hơn. Thêm vào đó về phần đối ngoại, triều đình Huế vẫn giữ lập trường trước sau như một là quyết định không cho người ngoại quốc, có nghĩa là người Âu Châu vào nước thông thương tự do buôn bán. Những sự việc nầy là cái cớ để quân Pháp và Y Pha Nho phối hợp cấu kết nhau dùng võ lực nhằm ý đồ xâm lăng nước ta và sau đó áp đặt nền đô hộ xuyên suốt gần một trăm năm.
Khi vua Tự Đức băng hà, Ngài không có con để nối dõi trị vì. Đến đây là giai đoạn có quá nhiều biến chuyển phức tạp nhứt trong triều đình Huế. Một mặt đã mất quyền tự chủ do người Pháp đã hoàn toàn có mặt trên khắp lãnh thổ Việt Nam, lần hồi áp đặt xong hệ thống hành chánh, thuế khóa... để nắm vững quyền cai trị. Như tỉnh trưởng ở trong Nam, khâm sứ, thống sứ và công sứ ở miền Trung và đất Bắc.
Mặt khác còn có tệ nạn tranh chấp quyền lực quyết liệt giữa các cận thần và ngay cả trong nội bộ triều đình, đến mức thanh toán tiêu diệt nhau. Những sự việc nầy gây khủng hoảng trầm trọng và càng ngày càng làm suy yếu thêm tiềm lực quốc gia trước cảnh ngoại xâm.
Vua Tự Đức không có con để nối ngôi nhưng Ngài nhận ba người cháu làm con nuôi. Việc triều chính từ đó về sau nằm gọn trong tay hai quan đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Một người coi về mặt quan lại và một người ở lãnh vực binh lực. Cả hai chuyên quyền, hành xử độc đoán, không nể vì một ai trong triều, tự ý suy tôn, truất phế, bắt giam, cả việc đầu độc các ấu quân nên quần thần và hoàng tộc đều khiếp sợ.
Tình cảnh lúc bấy giờ cực kỳ nguy hiểm, đen tối:
- Người trưởng dưỡng tử của vua Tự Đức là ông Dục Đức phong Thụy Quận Công, húy Nguyễn Phước Ưng Chân (1853-1884) lên ngôi trị vì chỉ võn vẹn có 3 ngày, bị bắt giam không cho ăn uống đến chết đói.
- Vua Hiệp Hòa (1847-1883) tức Lạng Quốc Công, húy Nguyễn Phước Hường Dật, em vua Tự Đức trị vì có 4 tháng rồi bị truất phế bắt uống thuốc độc chết.
- Vua Kiến Phúc (1869-1884) húy Nguyễn Phước Ưng Đăng lên ngôi lúc 15 tuổi, chỉ ở ngôi được 8 tháng rồi mất vì bị bịnh, hưởng dương 16 tuổi.
- Vua Hàm Nghi (1871-1943) húy Nguyễn Phước Ưng Lịch lên ngôi lúc 12 tuổi, trị vì được 1 năm. Sau biến cố ở kinh thành Huế, nhà vua rời bỏ triều đình kéo cờ khởi nghĩa, truyền hịch Cần Vương rồi bị bắt lúc mới 18 tuổi do tên phản nghịch Trương Quang Ngọc điềm chỉ. Sau đó vua bị Pháp đày ở Algérie, một trong những thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi và mất ở khu đồi El Biar cách Alger 12 cây số.
- Vua Đồng Khánh (1864-1889) húy Nguyễn Phước Ưng Kỷ trị vì được 4 năm (1885-1889) rồi thọ bịnh mất năm 25 tuổi.


- Bấy giờ con vua Đồng Khánh còn quá nhỏ nên triều đình Huế và Khâm sứ Rheinart lập con ông Dục Đức là Nguyễn Phước Bửu Lân lên làm vua lúc mới 10 tuổi và đang cùng mẹ bị giam trong ngục thất. Ngài lấy niên hiệu là Thành Thái (1879-1955) trị vì được 19 năm, từ năm 1888 đến năm 1907.
- Vua Duy Tân (1900-1945) húy Nguyễn Phước Vĩnh San kế vị vua cha Thành Thái ở ngôi được 9 năm (1907-1916).
Đến đây, sau khi chứng kiến cảnh xáo trộn, bế tắc không ngày mai ở triều đình Huế chỉ trong thời gian quá ngắn, chúng tôi xin thuật sơ lược cuộc đời của hai vì vua Thành Thái và Duy Tân mà con người cũng như bối cảnh lịch sử nước nhà đã gây hứng thú sáng tác bài ‘Khuê Phụ Thán’ trên đây. Theo Việt Nam Danh Nhân Tự Điển của tác giả Nguyễn Huyền Anh xuất bản năm 1960, tái bản năm 1967 và được Nhà xuất bản Khai Trí tái bản lần thứ ba năm 1972 thì vua Thành Thái, vua thứ 10 triều Nguyễn có những ưu điểm nổi bậc như sau:
«Đến tuổi trưởng thành nhận biết quyền bính của Nam triều cũng như của riêng mình nằm gọn trong tay người Pháp, nhà vua bất mãn, thường tỏ ra có óc chống đối nhà cầm quyền Pháp. Tâm sự của vua Thành Thái bấy giờ đã được diễn tả trong bài thơ Hán văn sau đây, làm khi nhà vua được Pháp mời ra Hà Nội dự lễ khánh thành cầu Doumer:
Võ võ văn văn ý cẩm bào
Ngã vi thiên tử độc gian lao.
Tam bôi hoàng tửu quần lê huyết,
Sổ trản thanh trà bách tính cao.
Thiên lệ lạc dư nhân lệ lạc,
Ca thanh cao xứ khắp thanh cao.
Can qua thư hội hưu đàm luận
Lân tuất tương sanh phó nhị tào.

“Thông minh, sở trường về Nho học, tuy nhiên cũng chịu ảnh hưởng lớn lao về tư tưởng các nhà cách mạng Trung Hoa và Nhật Bản, nhà vua muốn áp dụng các công cuộc cải cách quốc gia (chính nhà vua đã hớt tóc ngắn, biết lái xuồng máy và xe hơi bằng cách nghiên cứu trong các sách báo Âu Tây). Nhưng, trước các ý tưởng cấp tiến của nhà vua, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Để che mắt ngoại nhân, vua Thành Thái giả hành động như một kẻ điên rồ; thực ra bên trong nhà vua ngấm ngầm xướng xuất và khuyến khích việc đưa thanh niên ra nước ngoài cầu học để dùng vào việc mưu đồ đại sự sau nầy.


“Năm 1903, Pháp dò biết được việc nhà vua bí mật giao thiệp với phái Đông Du, muốn cầu viện nước Nhật Bản. Liền đó Toàn quyền Đông Dương Broni và Khâm sứ Trung Kỳ Lévêque bắt ép vua phải thoái vị và nhường ngôi cho Hoàng Thái tử Vĩnh San (tức vua Duy Tân sau nầy) để rồi đưa Ngài vào giam giữ tại Vũng Tàu và đến năm 1915 bí mật đem sang an trí tại đảo La Réunion thuộc Phi Châu… Bị giam cầm nơi đất khách quê người, mãi đến tháng 5 năm 1947 cựu hoàng Thành Thái mới được trở về nước và 7 năm sau mất tại Sài Gòn.


“Khi bị định cư ở Vũng Tàu (Ô Cấp – Cap Saint Jacques) vua Thành Thái đã làm bài thơ cảm khái với lời lẽ thống thiết như sau:


Sống thừa nào có biết hôm nay,
Nhìn thấy non sông đất nước này.
Sừng ngựa chưa quên câu chuyện cũ,
Ruột tằm đòi đoạn mối sầu ‘tây’.
Xuân Thành nghìn dặm mây mù mịt,
Bể Cấp bốn bề sóng vỗ vây.
Tiếng súng đêm ngày nghe nhạc khúc,
Dẫu cho sắt đá cũng chau mày».


Về bài thơ khẩu khí nguyên văn chữ Hán của vua Thành Thái khi được Pháp mời ra Bắc Hà dự buổi khánh thành cầu Doumer, nhà báo Trường Lưu có sao lục bài dịch và bài nầy được đăng trong tuần báo Đời Mới Xuân Nhâm Tý (1972) do lão ký giả Văn Lang Trần Văn Ân sáng lập và làm chủ nhiệm, nội dung như sau:


Áo lũ xênh xang võ với văn,
Riêng ta chín bệ những băn khoăn.
Ba chung rượu ngự, mồ hôi chúng,
Mấy chén trà suông, nước mắt dân!
Sùi sụt trời mưa, sầu muốn khóc,
Véo von tiếng hát, thảm khôn ngăn.
Binh đao cuộc nọ thôi đừng nhắc,
Trăm họ lầm than gắng đỡ đần.
Ngoài ra trong Một Thời Hoàng Tộc Tập II xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1999 mà tác giả Bảo Thái đã có nhã ý gởi tặng chúng tôi ngày 27 tháng 4 năm 2001, ở chương “Xuân về, đọc lại Ngự Thi”, nơi trang 255: “Ngự thi của vua Thành Thái” có chép bài “Thăng Long Thành” do nhà vua sáng tác cũng trong dịp ra Bắc năm Nhâm Dần (1902) với lời chú đóng ngoặc (ghi theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả trang 393). Chúng tôi xin được trích dẫn dưới đây để thêm một lần nữa nói lên thi tài của vì vua lưu đày nầy:


Kỷ độ tang thương kỷ độ kinh
Nhất phiên hồi thủ nhất phiên tình
Ngưu hồ dĩ biến tam triều cuộc
Hổ động không dư bách chiến thành
Nùng lĩnh phù vân kim cổ sắc
Nhị hà lưu thủy khốc ca thanh
Cầm đồ đoạt sáo nhân hà tại?
Thùy vị giang sơn tẩy bất bình?


Lời dịch (không rõ tên tác giả):


Mấy độ tang thương thấy hãi kinh
Lắm phen ngoảnh mặt xót xa tình
Hồ Ngưu đã đổi ba triều đại
Động hổ còn trơ vạn trận thành
Núi Nùng mây phủ nhìn kim cổ
Sông Nhĩ dòng trôi vẵng khốc thanh
Cầm đồ đoạt sáo còn đâu nữa
Ai giúp giang san gỡ bất bình?


Đến đây để cho được đầy đủ hơn, tưởng cũng nên ghi thêm khái lược đôi dòng về vua Duy Tân. Ngài là con thứ 5 của vua Thành Thái lên ngôi năm 1907. «Sẵn tư chất thông minh, tuy còn nhỏ tuổi nhưng vua Duy Tân đã tỏ ra có một tinh thần yêu nước rất nồng nàn. Bẩm tính cương nghị, vả lại đau lòng vì thấy dân tình khổ sở dưới ách thống trị của ngoại nhân… lại thấy người Pháp không thành thực, thêm nữa mang nặng mối thù nhà, nhà vua phẫn uất. Từ năm 1915, thừa lúc Pháp đang mắc chiến tranh với Đức, vua Duy Tân ngầm kết với các nhà chí sĩ cách mạng thuộc Việt Nam Quang Phục Hội là Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, Phan Thành Tài v.v… nuôi hy vọng giải phóng cho dân tộc khỏi ách thống trị của ngoại nhân. Chẳng may cơ mưu bị bại lộ, vua bị bắt sau khi lẻn ra khỏi thành và bị Pháp đưa về giam trong đồn Mang Cá (Huế) rồi đem đày sang đảo La Réunion cùng với vua cha là Thành Thái, lúc đó nhà vua chỉ mới 17 tuổi. Năm 1945 nhà vua bỏ mình trong một tai nạn máy bay ở Bangui thuộc Châu Phi». (Trích đoạn trong Việt Nam Danh Nhân Từ Điển của Nguyễn Huyền Anh).


Bài ‘Khuê Phụ Thán’ với nội dung đánh dấu một khúc quanh đau buồn của đất nước, thể hiện nỗi niềm thương yêu trăn trở, nỗi khắc khoải bất lực của kẻ sĩ, sĩ phu nặng lòng với triều đình. Một thời bài thi đã gây nên luồng tranh luận khá sôi nổi về tác giả đích thực của nó.


Có hai lập luận suy diễn tùy theo vị trí của người phê bình văn học miền Bắc hay miền Nam. Đối với phái miền Bắc, «trong quyển Thi Thoại của Vân Hạc, Quốc Học Thư Xã Hà Nội 1942, trước mười bài ‘Khuê Phụ Thán’ nầy, chép có khác mấy câu:
Đã mòn con mắt ở phương Âu
Tấm lòng bức rứt trót canh thâu
Quê nhà có kẻ lo săn sóc...
Ở trương 224, tác giả nói:
‘Trong cuốn Nữ Lưu Văn Học Sử, một cuốn sách soạn rất công phu (tinh hoa của hơn hai chục pho sách cổ) tác giả là Sở Cuồng tiên sanh, trước khi sao lục mười bài Khuê Phụ Thán đã viết như thế nầy: Bà Nguyễn Hoàng phi, đời đức Thành Thái lúc Ngài đã Tây hành bà có nhiều bài ngâm vịnh mà nhất là mười bài Khuê Phụ Thán rất là lâm ly uyển chuyển, đáng cho là tuyệt điệu. Và sau hết trương 228, tác giả lại luận thêm: Mười bài tuyệt tác trên đây truyền tụng khắp nơi trong nước. Có điều ở Trung Bắc mọi người đều nói và tin như Sở Cuồng tiên sanh, rằng đó là tác phẩm của bà Nguyễn. Duy tại miền Nam, anh em làng văn nhiều người lại cho là tác phẩm của nhà thơ Thượng Tân Thị. Thậm chí để tỏ ý mến phục nhà thơ già đó, có khi người ta lại chua dưới ba chữ Thượng Tân Thị, dòng chữ nầy: (Tác giả Mười bài Khuê Phụ Thán) cố ý phô danh dự cho nhà thơ đã đẻ ra mười bài thơ trên. Mà thấy vậy nhà thơ già đất Nam Trung cũng chẳng nói gì, hình như có ý mặc nhận cái danh dự đó. Vậy chưa biết hẳn Khuê Phụ Thán là của bà Nguyễn hay là của ông Thượng Tân Thị?» (trích Từ Điển Thành Ngữ Điển Tích của Diên Hương).
Tới đây, xin gát qua một bên những dòng chữ phẩm bình không được mấy thanh tao trong đoạn văn chúng tôi vừa trích dẫn đối với nhà nho Thượng Tân Thị, chúng tôi để ý tác giả không hề xác nhận rõ ràng dứt khoát người sáng tác mười bài ‘Khuê Phụ Thán’ là của bà Nguyễn Hoàng phi để cuối cùng vẫn hoài nghi xuất xứ nên mới thốt ra câu: «Vậy chưa biết hẳn Khuê Phụ Thán là của bà Nguyễn hay của ông Thượng Tân Thị?».


Hơn nữa, chúng tôi thiển nghĩ, nếu là những danh tác được nhiều người biết đến thì thông thường tên tác giả được ghi trang trọng dưới mỗi bài nhằm vinh danh người sáng tác. Ở đây lại là một bà phi thì việc nầy càng được tôn trọng nhằm làm sáng danh bậc thi tài hiếm hoi trong vọng tộc. Chúng tôi không thấy một tài liệu nào có ghi tên Nguyễn Hoàng phi bên dưới bài ‘Khuê Phụ Thán,’ cả. Việc không ghi tên thật của bà Hoàng phi họ Nguyễn là việc thiếu tính chính xác và bất kính. Trong văn học thỉnh thoảng cũng có trường hợp ngoại lệ như những bài chung quanh Hoa Ti Gôn của T.T.Kh, nhưng ở đây do chính tác giả cố tình không ghi rõ tên thật hoặc bút danh đầy đủ của mình.
Chúng tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây để thử tìm hiểu tánh danh của bà Nguyễn Hoàng phi. Dưới triều vua Thành Thái theo sách ‘Một Thời Hoàng Tộc’ của Bảo Thái thì Hậu là «bà Nguyễn Thị Định, không rõ năm sinh và năm mất». Cũng trong sách ấy, nơi trang 232 có trích dẫn bài phỏng vấn mệ Bảo Hiền, năm 1998. Mệ là cháu nội của vua Thành Thái, con của ông hoàng thập tam và ông hoàng nầy là con của vua Thành Thái và bà Thứ phi Nguyễn Thị Thục. Như vậy bà Nguyễn Hoàng phi có phải là bà Nguyễn Thị Định hay bà Nguyễn Thị Thục? Chúng tôi nghĩ thêm với một bài thơ ‘lâm ly uyển chuyển, đáng cho là tuyệt điệu’ tất phải được nhiều người tên tuổi trong chốn văn chương chữ nghĩa thưởng thức và các nhà thơ đương thời vốn nhạy cảm trước thời sự đất nước, nhứt định sẽ tâm đắc ngâm vịnh, ngoài việc ngưỡng mộ cảm thông, không thể nào lãnh đạm làm ngơ, không sinh hứng để họa lại.
Ở Trung Bắc chúng tôi không thấy phong trào họa theo nguyên bản mười bài ‘Khuê Phụ Thán’, trái hẳn ở Nam Kỳ Lục Tỉnh phong trào nầy rất rầm rộ. Và những bài họa được lưu truyền rộng rãi trong quảng đại quần chúng dân gian, cả trong các sách nghiên cứu văn chương học thuật thời đó ở vùng đất mới nầy hầu như đều có ghi lại đầy đủ. Mặt khác, thể loại ‘liên huờn’ thường thấy rất thạnh hành ở Nam Kỳ Lục Tỉnh, xem như một thể loại khá đặc thù của địa phương. ‘Liên huờn’ hay ‘liên hoàn’ là liền nhau, một thể văn vần gồm nhiều bài thơ chia nhau nối kết theo thứ tự triển khai nội dung ý tưởng, nhưng đặc biệt là câu đầu của bài dưới nhứt thiết phải lập lại câu chót của bài trên. Hoặc không hẳn là nguyên câu mà thường chỉ lập lại đôi ba chữ chót của câu trên là được.
Do đó mới có ‘thập thủ liên hoàn’ gồm mười bài đường thi bát cú. Nhân đây, chúng tôi xin kể thêm một thể loại tương tự cũng rất được phổ biến trong Nam. Đó là ‘thập nhị liên phong’ gồm mười hai bài thơ tứ cú mà người sáng tác cũng phải áp dụng đúng theo phương cách ‘liên huờn’ nói trên. Thể loại nầy chúng tôi thường thấy trong lãnh vực văn chương tôn giáo ở hai đạo giáo quan trọng ở miền Nam là Cao Đài và Hòa Hảo, chỉ sau Phật giáo và Thiên Chúa giáo.
Ngoài bài ‘Khuê Phụ Thán’ được sáng tác khoảng tháng 3 năm 1919 theo như các sách nghiên cứu đã ghi, nhưng vào buổi bình minh của nền bang giao Pháp Việt, người ta được thưởng ngoạn rất nhiều bài cùng thể loại ‘liên huờn’ đã đánh dấu một thời. Chúng tôi có thể kể ở giai đoạn ‘quốc phá gia vong’ nầy nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, tác giả truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư Tiều Vấn Đáp… . Cụ đã sáng tác bài ‘thập thủ liên huờn’ để khóc thương tưởng tiếc hai người nghĩa khí vị quốc vong thân, con của quan Kinh lược Phan Thanh Giản. Cả hai Phan Thanh Tôn và Phan Thanh Liêm thường được người đương thời gọi là Phan Tôn và Phan Liêm đồng thanh đứng lên chống Pháp và đều tử trận ở Giồng Gạch, cách Ba Tri hai cây số thuộc tỉnh Bến Tre.
Dĩ nhiên, chúng tôi phải kể đến cuộc bút chiến làm sôi nổi dư luận giữa nhà thơ khí khái Phan Văn Trị tục gọi là Cử Trị và Đốc phủ sứ Tôn Thọ Tường. Một người thương nước thương nhà, trung vua hiếu dân, dùng văn chương mai mỉa hạng người đã vì bã công danh phú quí, không giữ tròn đạo nghĩa cương thường, không giữ vẹn tiết tháo của một nhà nho chân chính. Và một người cam tâm trở mặt, phản bội triều đình, đứng ra tiếp tay tích cực phục vụ tân trào. Cả hai rất nổi tiếng với những bài ‘thập thủ liên huờn’ như bài ‘Cảm Hoài’ của Cử Trị và mười bài họa ‘Thập thủ liên huờn’ của Đốc phủ Tường.
Như vậy thể loại nầy rất thạnh hành ở miền Nam hơn ở những miền khác của đất nước. Và chính trong những bài ‘thập thủ liên huờn’ rất được phổ cập nầy, người ta rút ra rất nhiều câu thơ ý nghĩa thâm trầm được lưu truyền sâu rộng trong làng văn và quần chúng thuở đó mà người đời sau nhầm lẫn xem như những câu ca dao tục ngữ.
Để tìm hiểu xác minh tác giả ‘Khuê Phụ Thán’, chúng tôi xin trích dẫn sau đây nguyên văn bài viết trong Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển do tác giả Trịnh Vân Thanh biên soạn. Quyển I ấn hành năm 1966 chiếu theo bài ‘Thay lời tựa’ của chính tác giả viết đề ngày 7 tháng 7 năm 1966. Quyển II được ấn hành sau đó một năm, tức năm 1967 và do nhà xuất bản Hồn Thiêng Sài Gòn thực hiện.
Ông Trịnh Vân Thanh tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, nguyên Hiệu trưởng trường Trung học Trịnh Hoài Đức và là Giám đốc Ban Tu thư Siêng Học mà chúng tôi hân hạnh được quen biết và có qua lại thân tình nhờ mối quan hệ thương trường, khi ông làm Kế Toán trưởng của hãng Giày Bata. Hãng nầy do người Pháp điều khiển, trụ sở chánh nơi đường Petrus Ký Sài Gòn. Sách soạn rất công phu, tài liệu phong phú nhưng soạn giả khiêm tốn viết trong lời tựa: «Làm một quyển từ điển mới nghe qua thật là vĩ đại. Sự thật nó chỉ là một công việc góp nhặt, ghi chép, tra cứu, phiên dịch những gì đã có trong những sách khác. Soạn giả chỉ cần chịu khó bỏ ra một thời gian nào đó - 10 hay 15 năm chẳng hạn - để sắp xếp những tài liệu sưu khảo trong các sách thành hệ thống».
Bây giờ chúng ta thử xem Giáo sư Trịnh Vân Thanh hệ thống hóa cách nào khi nói về bài ‘Khuê Phụ Thán’:
«Khuê phụ: người đàn bà trong phòng khuê, ở đây người đàn bà vọng tộc, sang trọng; Thán: than thở. Người đàn bà xa vắng chồng than thở. Trong cuốn Nữ Lưu Văn Học là một cuốn sách soạn rất công phu, gồm hơn hai chục pho sách cổ, tác giả là Sở Cuồng Lê Dư. Theo tài liệu trong Nhà Văn Hiện Đại của ông Vũ Ngọc Phan thì Sở Cuồng Tiên sinh cho mười bài Khuê Phụ Thán tác giả là bà phi triều Thành Thái thì thật là lầm. Bài 1 ‘Chồng hỡi chồng, con hỡi con!’ này nguyên đăng lần đầu ở tạp chí Nam Phong (số 21, tháng Mars 1919) và đề là ‘Mười bài liên huờn của Nguyễn Thị Phí làm’, rồi ở dưới mười bài lại ký ‘Vĩnh Long, nữ học sinh Phan Sơn Đại sao lục’. Mười ba năm sau (tức là khi quyển ‘Nữ Lưu Văn Học Sử’ đã ra đời được ba năm) cũng lại trong tạp chí Nam Phong (số 169, Février 1932), ở mục Văn Uyển (trang 204) bà Phan Sơn Đại - lúc này đã làm nữ giáo học - có viết mấy lời đính chính và dưới lời đính chính có đăng lại bài ‘Khuê Phụ Thán’, kèm theo bài ‘Tục Khuê Phụ Thán’ nữa. Đây là nguyên văn bài đính chính của bà Phan Sơn Đại:
“Mấy lâu nay, tôi có tiếp được nhiều bức thư của các đấng văn hào cùng các bạn nữ lưu trong nước gởi đến hỏi tôi về mười bài thi liên hoàn ‘Khuê Phụ Thán’ của ai làm. Tôi trả lời theo sau đây cho chư quý vị rõ. Nguyên mười bài thi ấy chính là của ông thân tôi là Thượng Tân Thị ngụ ý làm chơi để tỏ lòng hoài cảm. Khi ông thân tôi làm rồi thì các bạn của ông thân tôi khuyên đăng báo. Cực chẳng đã, ông thân tôi phải vâng lời, gởi đăng ở Nam Phong tạp chí năm trước. Song ông thân tôi không muốn lấy văn tài khoe khoang thiên hạ. Nên chỗ tác giả đứng, mượn một tên người đàn bà mà để vào. Còn phía dưới thì đề tên tôi đứng sao lục. Nay chư quí vị đã chất vấn, tôi xin phép ông thân tôi mà cứ thực tỏ bày. Vậy từ nay về sau, xin chư quí vị biết cho mười bài thi ấy là của ông thân tôi làm, chớ không phải của người nào khác. Xin chớ ngộ nhận không nên. Luôn dịp tôi xin đăng lại mười bài thi ấy cho rõ ràng. Kẻo lâu nay các báo đăng đi đăng lại, có chỗ sai lầm, và sau ông thân tôi có tục thêm mười bài nữa. Tôi cũng xin đăng vào đây cho chư quí vị duyệt lãm”.
Mười bài ‘Khuê Phụ Thán’ đa số các sách xuất bản ở phương Nam đều nhứt trí ghi tác giả là Thượng Tân Thị Phan Quốc Quang viết ở Ba Kè tháng 3 năm 1919. ‘Khuê Phụ Thán’ lại được nhiều thi nhân trong Nam tâm đắc đồng tình và kẻ trước người sau họa nguyên vận cũng theo thể ‘liên huờn’ được truyền tụng đến ngày nay. Như trường hợp điển hình là mười bài họa của cụ Tố Phang mà nhiều học giả trích đăng ghi sáng tác năm 1929.
Cụ Tố Phang (1) thác lời đức vua Thành Thái cũng không kém phần nỉ non ai oán như sau:

Muôn dặm từ ngày cách vợ con,
Bấm tay kể đã mấy thu tròn.
Chiếc thân bèo giạt căm vì nước,
Nắm ruột tơ vò thẹn với non.
Gánh nợ giang san vai trĩu nặng,
Mối tình thê tử dạ thon von.
Chi toan mở máy càn khôn lại,
Dạ sắt lòng đinh há mẻ mòn.
II


Mẻ mòn dạ thỏ những lo âu

Nợ nước ơn nhà trả xiết đâu!

Chín khúc tơ vương khôn đoạn thảm,
Hai hàng lụy ứa khó ngăn sầu.
Tang bồng vốn sẵn đường cung kiếm,
Hoa cỏ còn e trận lửa dầu.
Ước hóa Đỗ Quyên cho rảnh kiếp,
Kêu gào tỏ chí với đêm thâu.
III

Đêm thâu chán đứng lại buồn ngồi
Lửa hận nung lòng tợ nước sôi.
Dựa phụng kề loan đành hết kể,
Yêu vàng ấp ngọc cũng thôi rồi.
Lửa hương lạnh nhạt mai lìa trúc
Thân thế hao gầy trẻ khóc nôi.
Mượn nhạn đưa tin, tin khó gởi
Thấu chăng tâm sự vợ con ôi!

IV

Vợ con ôi hỡi! ruột bằm tương

Khó gượng khuây lòng nỗi nhớ thương

Xơ xác thân ve nơi lữ địa,
Lạnh lùng vách quế chốn quê hương.
Cơ trời tang hải xui nên thế,

Ngàn dặm đã đành xa cách nẻo,
Chiêm bao gặp gỡ ước cho thường
V


Cho thường gặp mặt với kề vai,
Đem tấm can trường tỏ với ai.
Bể hận sóng dồn đau đớn dạ,
Trời sầu sét đánh bịt bùng tai.
Đã không xã tắc thâu về một
Mà lại cương thường để rẽ hai.
Hồn điệp năm canh muôn vạn dặm,
Đường dài thiên lý chẳng bao dài.

VI


Bao dài đường sá khó đi cùng,
Gìn giữ cho tròn tiếc thỉ chung.
Đã ở không yên nơi chín bệ,
Làm sao cho vẹn chữ ba tùng. Đêm khuya gối chiếc trùng eo óc,


Gió tối mành thưa cảnh lạnh lùng
Lấy nhớ làm thương, thương đổi nhớ,
Tơ lòng ngày một rối lung tung.
VII


Lung tung còn nhớ trống quanh thành,
Tiếng trống quanh thành vắng điểm canh.<
Cảnh mới say mê con mắt
Quê xưa bận bịu mối tơ mành
Trong vòng lao lý chơn còn vướng,
Ngoài cõi giang san phận đã đành.
Rẽ túy chia uyên trời định số
Trùng phùng họa có kiếp lai sanh!
VIII

Lai sanh biết có gặp nhau không?
Trâu ngựa mong đền nghĩa núi sông.
Thềm quế vừng trăng tròn bóng thỏ
Dao vàng giọt huyết đượm màu hồng.


Thanh long thất thế co nanh vuốt,
Bạch hổ thừa cơ thoát lưới lồng
Thời thế ai xui nên thế thế,
Ba giềng đã lỗi đạo cha, chồng!
IX


Chồng xa vợ cách, tức hay chăng?
Biết tỏ cùng ai nỗi bất bằng.
Cỏ áy hoa xàu con bóng xế,
Trăng mờ đêm quạnh đám mây giăng.
Hộc hồng muôn dặm toan vùng vẫy,
Chim cá trăm đường đã lắp ngăn.
Cảnh lạ lòng quê đau đớn bấy,
Nỗi niềm riêng tỏ với vừng trăng X


Tỏ với vừng trăng chuyện nước non,
Đá tha lấp biển khó nên hòn.

Bút thỏ đề thơ bút đã mòn.
Vò võ thương mình nơi đất khách,
Bơ thờ trách kẻ chốn trường bon.
Biết bao sầu tủi bao ân hận
Muôn dặm từ ngày cách vợ con
(1929)


Đến đây, chúng tôi xin nhắc thêm một chi tiết khá quan trọng mà cũng là sinh hoạt được coi như phổ cập của phương Nam. Đó là những hội Tao Đàn, những Thi Xã qui tụ những bực yêu chuộng thi ca của một thời. Và những Tao Đàn hay Thi Xã nầy đã lưu lại trong kho tàng văn chương văn hóa ở dãy đất phương Nam nhiều nhà thơ lừng lẫy qua những sáng tác xướng họa để đời hay âm vang những buổi ngâm vịnh hợp mặt thanh cao tao nhã.
Đại khái chúng tôi có thể kể Bạch Mai Thi Xã mà con chim đầu đàn là Đốc phủ sứ Tôn Thọ Tường, người sáng lập. Như Nam Phong Thi Xã do cụ Thường Tiên Lê Quang Nhơn chủ trương. Như Tao Đàn Diêu Trì do bác sĩ Trần Ngọc Án thành lập… Ở đây chúng tôi xin nói qua sơ lược về Tao Đàn Diêu Trì. Lý do là vì cụ Thượng Tân Thị một thời là thành viên của Tao Đàn nầy.
Tao Đàn Diêu Trì được thành lập vào khoảng năm 1943 do bác sĩ Trần Ngọc Án, quê quán ở Trà Vinh là người miền Nam đầu tiên tốt nghiệp trường thuốc Hà Nội. Ngoài lãnh vực chuyên môn về y tế, ông rất say mê văn chương thi phú, lấy chữ nghĩa di dưỡng tính tình và tinh thần. Ông lấy bút hiệu Diên Hương và là tác giả của khá nhiều sách đã xuất bản trình làng, trong đó có quyển “Thi Pháp” ấn hành vào năm 1950, nhưng quan trọng nhứt là quyển “Tự điển Thành Ngữ Diễn Tích” được ông biên soạn rất công phu, xuất bản lần đầu tiên năm 1949, tái bản lần thứ nhứt năm 1954, được nhiều thành phần độc giả chọn lọc trong nước biết đến. Tại hải ngoại, sách cũng đã được cộng đồng người Việt Nam lưu vong tiếp đón niềm nỡ sau khi được cơ sở Zieleks ở Houston, Texas (Hoa Kỳ) tái bản vào đầu thập niên 80.
Lúc ấy bác sĩ Án làm việc ở bệnh viện được giới bình dân miền Nam gọi là ‘Bệnh viện Chú Hỏa’ do thương gia khét tiếng Hoa kiều Hui Bon Hoa tức Hui Bòn Hỏa, có tên chuyển âm Việt là Huỳnh Trọng Huấn bỏ tiền ra xây cất rồi hiến cho chánh quyền Pháp thuộc địa. Bệnh viện nầy về sau đổi thành Bệnh viện Sài Gòn tọa lạc trên đường Lê Lợi (tức Bonard cũ), đối diện cheo chéo với chợ Bến Thành huyền thoại. Bác sĩ Án mất năm 1963 tại Đà Lạt. Bà vợ tâm đầu ý hợp của ông, gốc người quận Mõ Cày thuộc tỉnh Bến Tre cũng là một nữ lưu tên tuổi hiếm có lúc bấy giờ ở lãnh vực thơ ca thi phú, tức nữ sĩ Song Thanh, tên thật là Nguyễn Thị Đối.
Những thành viên tên tuổi chánh yếu của Tao Đàn Diêu Trì gồm có bác sĩ Nguyễn Bính, bút hiệu Biến Ngũ Nhy gốc người Trà Vinh là thân phụ của dược sĩ Nguyễn Bính Tiên và tiểu thuyết gia An Khê Nguyễn Bính Thinh, thi sĩ Lê Quang Nhơn, bút hiệu Thường Tiên, gốc người làng Long Châu tỉnh Vĩnh Long từng chủ trương Nam Phong Thi Xã nói trên, cụ cai tổng Lê Quang Chiểu cùng vợ là nữ sĩ Trần Ngọc Lầu, nhà văn Hồ Biểu Chánh, tên thật là Hồ Văn Trung chẳng những nổi tiếng với những tiểu thuyết đồng quê Nam Kỳ Lục Tỉnh mà còn được ngưỡng mộ qua những vở hài kịch, ca kịch cùng những tác phẩm khảo cứu, phê bình và thi ca, cụ Phan Quốc Quang, thi hiệu Thượng Tân Thị, gốc người làng Lại Nông gần kinh thành Huế… Tất cả những vị nầy đều là những gương mặt sáng giá rất được trọng vọng và đã làm nên một thời, cái thời tiếp nối bước sơ khai của nền văn học nghệ thuật và báo chí ở miền Nam.
Tháng 5 năm 1947, cựu hoàng Thành Thái được đưa về Việt Nam và sinh sống ổn định nơi một căn phố khiêm nhường ở đường Thành Thái, đối diện với trường Bác Ái trong Chợ Lớn. Nhân dịp nầy báo chí ở Sài Gòn có đăng mười bài họa nguyên bản bài ‘Thập thủ liên hườn Khuê Phụ Thán’ của cụ Thượng Tân Thị và nói tác giả là cựu hoàng Thành Thái. Tình tiết và thi phong trong các bài họa nầy khiến người ta dễ hiểu lầm là đức vua là tác giả. Nhưng thực ra mười bài họa này chính là của cụ Thường Tiên Lê Quang Nhơn. Cụ sáng tác do xúc cảm hoàn cảnh lưu vong giam cầm trước đây của một bực đế vương nặng lòng với quốc gia dân tộc nên thác lời nhà vua nhằm trang trải nỗi niềm tâm sự của mình. Lời lẽ ý tứ so với nguyên bản cũng không kém phần thống thiết trầm hùng, đã từng đánh động lương tâm người đương thời còn có chút tình đối với vận nước.
Cụ Lê Quang Nhơn người gốc tỉnh Vĩnh Long, nơi nầy một thời cụ Thượng Tân Thị từng dạy học và về sau lại cùng sinh hoạt chung trong Tao Đàn Diêu Trì nên nhứt định đã nhiều lần được đọc và thưởng thức sáng tác ‘Khuê Phụ Thán’ qua mối dây bằng hữu tâm đắc, tri âm tri kỷ. Việc không thấy cụ ghi tên tác giả dưới mười bài ‘Khuê Phụ Thán’ khi Cụ họa nguyên bản, trái với thói quen của người đương thời đều ghi bên dưới bài thơ: ‘tác giả Thượng Tân Thị Phan Quốc Quang’, có thể hiểu như một sự thực đương nhiên không cần phải xác minh.
Chỉ cần cái tựa ‘Khuê Phụ Thán’ là người ta ngầm hiểu là của cụ Thượng Tân Thị? Nếu là của một tác giả nào khác chắc hẳn cụ Thường Tiên đã ghi rõ ràng tên người sáng tác cho được minh bạch. Mà nếu tác giả là bà Nguyễn Hoàng phi như cụ Sở Cuồng Lê Dư ghi nhận thì cụ càng phải làm nhằm tôn trọng một bực thi tài trong vọng tộc.
Chúng tôi xin ghi lại đây toàn bộ 10 bài họa liên hoàn của cụ Thường Tiên:
I


Phước còn tái hiệp vợ cùng con,
Tưởng đã sâm thương một kiếp tròn.
Cá chậu mong chi về gặp nước,
Chim lồng may đặng thả lên non.
Dứt tình căm giận mưu sâu sắc,
Giáp mặt tạm mừng tiếng vỉ von.
Bốn chục năm qua người có biết:
Lá gan sắt đá vẫn chưa mòn!


II


Vẫn chưa mòn mỏi dạ lo âu,
Giải thoát lên đường đã tới đâu?
Cung điện huy hoàng thôi dục vọng,
Dân tình cách bức mãi đeo sầu.
Sông Hương thuyền quyết dạy lèo lái,
Núi Ngự sương không dậy lửa dầu.
Sớm tối ngại ngùng cho thế cục,
Bao giờ non nước mới toàn thâu?
III


Gồm thâu chưa đặng khó nằm ngồi,
Nghiền ngẫm đêm ngày máu hận sôi.
Ngắm nước không đành vui sướng vậy,
Nghĩ mình may khỏi hổ ngươi rồi.
Xứ người tiếc trẻ khôn nguôi dạ,
Quê cũ nhìn trời luống khúc nôi.
Cuộc thế nỗi này chưa quyết định,
Ai ôi giọt lệ dẩy sông Hương
Vì nước, vì nhà nặng vết thương.
Vì nước cố tìm mưu phục quốc,
Vì nhà còn bận bước ly hương.
Một thân tù túng đành thua thế,
Trăm họ tung hoành quyết thắng phương.
Gió loạn cánh hồng thôi tạm xấp,
Xây nền dân chủ mựa xem thường.
V


Thường nhắm phong trào phải đổi vai,
Giang san chung gánh chớ vì ai.
Nô tì chẳng hổ thân mù mắt,
Phiến loạn còn giao tiếng điếc tai.
Liều mạng quân dân đà quyết một,
Ấm thân cơ nghiệp nỡ chia hai.
Riêng mình ngặc nỗi gà bôi mặt,
Khói lửa lầm than phải kéo dài.
VI

Kéo dài trăm trận biết sao cùng,
Sục sục đêm ngày máu hận chung!
Sống thác cũng liều thân đế-bá,
Hơn thua chẳng hổ tiếng thông-tùng.
Lên yên đã rõ đường may rủi,
Phơi cật màng chi gió lạnh lùng.
Ngồi đứng không yên cơn biến chuyển,
Đêm tàn khắc lụn điểm lung tung…
VII


Tung cắc truyền nhau bốn cửa thành,
Thâm nghiêm quân lính chót năm canh.
Chống xâm quyết trổ tay vùng vẫy,
Xáp trận riêng lo thế mỏng mành.
Thương nỗi bầy gà vừa mới nở,
Giúp oai lũ cáo thế sao đành?
Tham danh thủ lợi quên nguồn gốc,
Lơ lãng thù nhà kiếp hổ sanh.
VIII


Hổ sanh trong nước có như không,
Chẳng có công gì với núi sông.
Còn mặc da hùm lừa mắt cáo,
Lại giương lưới nhện vướng chơn hồng.
Anh hùng chí quyết xông tên đạn,
Phản tặc thân cam nhốt chậu lồng.
Non nước may dầu khôi phục lại,
Thây phường gian ngụy chất thành chồng.
IX


Thành chồng thây chết có nên chăng,
Tình thế chi chi thảm khốc bằng.
Tiền bạc ghê tuông nhơn nghĩa tuyệt,
Lợi danh giận lũ lưới rào giăng.
Nhà xiêu ít kẻ ra tay đỡ,
Đê vỡ đông người đủ sức ngăn.
Suy xét tình đời thôi ngán ngẩm,
Bao giờ vui kết bạn cùng trăng.
X


Cùng trăng nhắc chuyện thuở còn non,
Buồn tủi mừng vui chất mấy hòn.
Điện ngọc đền vàng lòng đã chán,
Nhà lao đảo ngục chí chưa mòn.
Quê xưa sớm nhuộm màu tươi đẹp,
Cửa tịnh đành vui tiếng cốc bon.
Bảy chục xuân thu đời chẳng hổ,
Phước còn tái hiệp vợ cùng con.
Nhân đây, chúng tôi cũng xin được vinh danh nhà thơ Thường Tiên qua việc ghi lại bài họa Vọng Phu Thạch của cụ Tôn Thọ Tường như sau:


Bài xướng:

Hình đá ai đem tạt biển đông,
Giống hình nhi nữ dạng ngồi trông.
Da giồi phấn tuyết phơi màu trắng,
Tóc dội dầu mưa giũ bụi hồng.
Ngày nhắm gương ô soi đáy nước,
Đêm cài lược thỏ chải trên không.
Đến nay phỏng đã bao nhiêu tuổi,
Trạc trạc bền gan chẳng lấy chồng.

(Tôn Thọ Tường)


Bài họa:
Nghe nói vọng phu ở phía đông,
Chân đi chưa tới, mắt chưa trông.
Bạc đen bịa lắm tình quân tử,
Tiết nghĩa buồn cho phận má hồng.
Ôm trẻ dầm sương ai biết có?
Trông chồng thành đá kẻ rằng không
Trơ trơ một khối từ sơ tạo
Thêu dệt ra chi chuyện ngóng chồng
(Thường Tiên)

Cụ Phan Quốc Quang là một nhà nho và cũng là nhà thơ với bút danh chánh là Thượng Tân Thị. Theo Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử của hai tác giả Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế, in lần thứ tư và do Nhà xuất bản Văn Hóa ấn hành trong nước thì Cụ sanh năm Kỷ Sửu 1889 và mất năm Bính Ngọ 1966:
“Ông sinh ngày 16 tháng 7 năm 1889 tại làng Lại Nông, gần kinh thành Huế. Từ năm 20 tuổi, ông vào Nam ngụ ở Tam Bình tỉnh Vĩnh Long, nơi nhà người dì có chồng quê ở đấy. Nhờ Đốc học Lê Minh Thiệp có lòng liên tài, hướng dẫn ông vào ngành giáo dục. Ông dạy ở các trường Chợ Lách, Nhơn Phú, Ba Kè trong đất Vĩnh. Từ đó gởi bài đăng báo, dần dần nổi tiếng thơ văn. Ngoài bút danh Thượng Tân Thị được sĩ phu đều biết, ông còn có biệt hiệu Hương Thanh, Hoài Nam Tử… Ông mất ngày 22 tháng 8 năm 1966, thọ 77 tuổi”.
Tại Ba Kè, qua mười bài liên huờn ‘Khuê Phụ Thán’ Cụ nổi tiếng một thời vì đã gây xúc động trong giới sĩ phu yêu nước, nặng tình với non sông xứ sở lúc quê hương đấm chìm trong cảnh nhiễu nhương tranh dành phân tán. Đất nước mất độc lập và tự chủ dưới sự bảo hộ của Pháp, chưa kể Nam Kỳ Lục Tỉnh đã trở thành thuộc địa. Nội dung bài thơ đong đầy tình nghĩa và nước mắt nầy đã chiếm trọn vẹn cảm tình của từng lớp người đương thời qua vị trí và tâm sự nỉ non u uất của một người vợ xa chồng xa con. Vì chẳng những vua cha Thành Thái bị Pháp đày ở Phi Châu mà sau đó không lâu vua con là Duy Tân cũng cùng chung một số phận.
Thượng Tân Thị là một nhà nho ẩn danh theo truyền thống của những bực túc nho thức thời, đau buồn chán ngán và bất lực trước thảm cảnh đất nước đổi đời tai hại, nên thác lời viết thay cho cụ bà Hoàng phi. Cụ nối tiếp tấm gương chói lòa hào quang của các sĩ phu trung với vua hiếu với dân, chọn nghề dạy học nâng cao dân trí, phát huy kỷ cương đạo hạnh và trong thâm tâm nấu nung lòng yêu nước thương nhà hoặc bốc thuốc cứu dân độ thế làm phương kế sinh nhai chờ thời và để xem đời. Như trường hợp cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu, cụ Cử Phan Văn Trị, Học sanh Nguyễn Văn Lạc…
Thuở nhỏ, tôi còn nhớ có biết một ông giáo quê quán ở Hướng Thọ Phú, làng Thọ Cang, quận Thủ Thừa thuộc tỉnh Long An, cùng một làng với cụ Đốc phủ sứ Đào Văn Hội, tác giả nhiều sách nghiên cứu và ký sự, trong đó nổi bật nhứt là quyển ‘Ba Nhà Chí Sĩ Họ Phan’. Cụ Đào Văn Hội là bào đệ của giáo sư Đào Văn Lân dạy môn Việt văn ở trường Petrus Ký vào thập niên 40/50 thế kỷ trước. Ông giáo trên đây tên Huỳnh Đình Công là giáo viên tỉnh Tân An (về sau đổi thành Long An cho đến bây giờ) bị thuyên chuyển xuống Vĩnh Long dạy học.
Một may mắn là ông cùng dạy chung một trường với cụ Phan Quốc Quang Thượng Tân Thị. Vào thuở xa xôi ấy, số giáo viên không đông lắm do thực dân Pháp chủ trương hạn chế, kiềm hãm việc phát triển mở mang dân trí. Và hầu như trong toàn tỉnh nhà hay ngay ở những tỉnh lân cận, các giáo viên đều quen mặt hay biết danh tánh nhau. Đôi khi họ thường xuyên qua lại rất khắng khít thân tình, xem nhau như anh em ruột thịt trong gia đình.
Tinh thần “bằng hữu chi giao mạc nhược thủy” của người xưa được thăng hoa trong sáng. Cha mẹ chúng tôi cũng đều là giáo viên tỉnh Chợ Lớn (khác với Chợ Lớn thành), về sau dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa mất hẳn tên vì bị chia năm xẻ bảy cho các tỉnh lân cận như Gia Định, Long An, Hậu Nghĩa và cả Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn. Nhờ cùng chung hành nghề gõ đầu trẻ hiếm hoi thời buổi đó nên ông giáo Công và cha mẹ tôi có dịp liên lạc qua mối giao tình. Do đó, chúng tôi gọi ông là Bác, do bác lớn hơn cha tôi đôi ba tuổi.
Ông bác nầy cũng có tính sính thơ, từng tập tành làm thơ Đường trao đổi giao lưu trong phạm vi bằng hữu hạn hẹp, không được biết tiếng ngoài phạm vi địa phương Tân An. Do vậy nên những năm tháng cùng dạy học chung trường với cụ Phan Quốc Quang, bác cũng thường hay đàm đạo ngâm vịnh, đôi khi xướng họa mua vui với Cụ Quang vào những cuối tuần nhàn rỗi không về thăm nhà được.


Vả lại thuở xa xôi đó, dân số toàn quốc Việt Nam không đông đúc và không phức tạp như bây giờ. Lúc ấy, dân tình và các vị chức sắc trong tỉnh trong quận không mấy ai không hãnh diện và tự hào được làm một thành viên chánh thức đứng trong cộng đồng với “hai mươi lăm triệu đồng bào ruột thịt”. So với toàn quốc và các tỉnh lỵ, đô thị thì ở quận lỵ, làng tổng, con số cư dân quả thật không đông lắm. Nhưng được một ưu điểm là con người rất trọng kính nhau, lấy chữ tình chữ nghĩa, lấy đạo đức thỉ chung làm mẫu mực trong cuộc sống. Nhứt là những người tự thân tâm đắc tìm đến với nhau trong chốn từ chương chữ nghĩa, xướng họa thơ ca thi phú.
Bác Huỳnh Đình Công có kể cho chúng tôi nghe những kỷ niệm về cụ Thượng Tân Thị như một người rất dản dị, yêu cuộc sống, một người đạo hạnh, một mực cương trực thẳng thắn. Cụ sống tri túc vô cầu, không chen đua tranh giành, lấy bối cảnh thiên nhiên của làng quê xóm vắng di dưỡng tính tình và tinh thần, lấy chức năng đào tạo thế hệ mai sau làm mẫu mực thăng tiến. Bác không hết lời ca tụng Cụ là một bực thâm nho yêu nước, đúng là một bực sĩ phu ẩn dật, không màn danh vọng và không thiết tha đến danh lợi, trước cảnh nước nhà lâm vào thời kỳ rối reng đen tối mất chủ quyền.
Quả đúng như lời của bà Phan Sơn Đại đã tâm sự trong Nam Phong Tạp Chí năm 1932 đã dẫn trên đây:
“Khi ông thân tôi làm (mười bài ‘Khuê Phụ Thán’) rồi thì các bạn của ông thân tôi khuyên đăng báo. Cực chẳng đã, ông thân tôi phải vâng lời, gởi đăng ở Nam Phong tạp chí năm trước. Song ông thân tôi không muốn lấy văn tài khoe khoang thiên hạ. Nên chỗ tác giả đứng, mượn một tên người đàn bà mà để vào. Còn phía dưới thì đề tên tôi đứng sao lục”.
Thật cao đẹp biết dường nào. Trái hẳn với lập luận phẩm bình của cụ Sở Cuồng Lê Dư, có vẻ bất công đối với một nhà nho sống âm thầm nơi làng quê hẻo lánh, nhưng đầy khí phách và phong thái gương mẫu:
“Duy tại miền Nam, anh em làng văn nhiều người lại cho là tác phẩm của nhà thơ Thượng Tân Thị. Thậm chí để tỏ ý mến phục nhà thơ già đó, có khi người ta lại chua dưới ba chữ Thượng Tân Thị, dòng chữ nầy: (Tác giả Mười bài Khuê Phụ Thán) cố ý phô danh dự cho nhà thơ đã đẻ ra mười bài thơ trên. Mà thấy vậy nhà thơ già đất Nam Trung cũng chẳng nói gì, hình như có ý mặc nhận cái danh dự đó”.
Tôi nghĩ và không biết mình có quá lời hay không là khi sáng tác mười bài ‘Khuê Phụ Thán’, cụ Thượng Tân Thị trong thâm tâm không hề nghĩ đến ánh hào quang lấp lánh của ‘danh dự’ trên đây. Cụ viết để trang trải những nỗi ray rứt thôi thúc cứ âm thầm dấy lên trong lòng mình. Cụ viết như những sĩ phu trước Cụ đã từng viết về những trăn trở nhức nhối, những khắc khoải u buồn, những nghẹn ngào phẫn uất, không biết phải chia xẻ cùng ai giữa đoạn trường lòng người phân tán, chuyển hướng trước tân trào. Nói tóm lại Cụ mượn lời thơ vần điệu, mượn tâm trạng của một bà Hoàng phi khóc chồng khóc con để nói lên tâm sự riêng tư của mình.
Tôi còn nhớ như in bác Huỳnh Đình Công thường hay nhắc đến «thằng Quân», con của cụ Phan Quốc Quang, lúc ấy còn nhỏ khoảng bốn năm tuổi và thường hay lẻo đẻo theo chân bác, cứ chiều chiều dẫn đi chơi nơi nầy nơi nọ chung quanh trường. «Thằng Quân» nầy về sau chính là giáo sư Phan Quốc Quân và cũng là thầy dạy chúng tôi về môn Pháp văn những năm chúng tôi mài đũng quần ở ghế nhà trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký vào khoảng năm 1948 và những năm tiếp theo sau nữa.
on người đôi lúc bắt gặp được dịp may hiếm có. Để vuột khỏi tầm tay mình những dịp may đó là một mất mát không bao giờ tìm lại được. Mà cái gì đã mất mát người ta mới biết quí, mới trân trọng tiếc nuối và luyến nhớ. Tôi đã đánh mất hai dịp may mà thế gian cho là khó tìm lại được, để giờ đây cứ ân hận, lòng mãi mãi bị dày vò khôn nguôi.
Lần thứ nhứt là vào năm 1948, tôi may mắn được trúng tuyển vào trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký. Và ngày tựu trường năm thứ nhứt, vào học lớp C, tôi gặp thầy Phan Quốc Quân dạy môn Pháp văn. Thoạt trông thầy bệ vệ, đôi mắt sáng dưới cặp kiếng cận thật dầy, tiếng nói lại rổn rảng lanh lẹ khiến chúng tôi vô cùng khiếp sợ. Nhưng dần dà thầy tỏ ra rất rộng rãi dễ mến, rất mực thương yêu nâng đỡ chúng tôi. Thầy là người đã gieo vào lòng chúng tôi sự ham mê thích thú ngôn ngữ của Victor Hugo, Voltaire, Lamartine, Chateaubriand…
Vào mỗi giờ Pháp văn, chúng tôi được học hỏi thêm nhiều điều lắm chuyện hiếm quí ở thầy. Chỉ riêng một danh từ, động từ, tỉnh từ… thầy luôn luôn phân tích nguồn gốc la tinh, triển khai đồng âm, đồng nghĩa, phản nghĩa và nhứt là những từ thuộc cùng chung một gia đình. Nhờ đó anh em chúng tôi được võ trang một vốn liếng khó có thể tìm học được ở các giáo sư khác cùng môn học.Thầy không ngớt khuyến khích chúng tôi cần đọc thêm sách Pháp văn để trao dồi sự hiểu biết. Và nhờ lời khuyên lơn nhiệt tình đó nên vào mỗi cuối tuần, chúng tôi thường kéo đến nhà sách Albert Portail (sau nầy đổi thành Xuân Thu) ở đường Catina (Tự Do thời Việt Nam Cộng Hòa) để chọn mua sách.
Đến năm 1950, sau biến cố học sinh Trần Văn Ơn, các trường ở Đô Thành đều đóng cửa và trường Petrus Ký cũng chịu chung một số phận, kể cả khu vực nội trú mà chúng tôi đã trải qua ngót hai năm bị bải bỏ vĩnh viễn từ dạo đó. Chúng tôi nghỉ học một thời gian để đến khi nhập học trở lại cảm thấy cần phải học thêm để bắt kịp học trình dang dở. Do vậy một nhóm anh em chúng tôi kéo đến nhờ thầy Phan Quốc Quân hướng dẫn thêm phần Pháp văn, môn học chánh yếu để mong thi lấy bằng “Brevet du 1er Cycle” hay “Brevet Élémentaire” thuộc chương trình Pháp. Thầy Quân dạy anh em chúng tôi ở một căn phố nơi đường Cô Giang hay Cô Bắc, Sài Gòn, lâu quá chúng tôi không nhớ chính xác. Cứ vào mỗi đầu tháng, chúng tôi đến nhà thầy ở cách đó vài căn phố để đóng học phí. Nơi đây, chúng tôi thường đến sớm hơn ngày thường năm mười phút để đóng xong học phí cho kịp giờ học.
Mỗi lần đó, chúng tôi có gặp cụ Phan Quốc Quang, lúc ấy đã trọng tuổi và trông có vẻ mệt mỏi nên thường ngồi ở ghế xích đu phía trước nhà. Cụ ít nói nhưng khi nói giọng Thừa Thiên khá nặng nên khó nghe đối với những đứa trẻ miền Nam rặc nòi như chúng tôi. Phần chúng tôi, lúc đó vừa nhút nhát, vừa hời hợt, nhứt là chịu ảnh hưởng sâu đậm, nặng nề của nếp sống cổ truyền nể vì và kính trọng người lớn tuổi, nên chỉ dám cúi đầu thưa trình thôi. Do vậy, chúng tôi mất đi dịp may để hỏi Cụ những uẩn khúc cần được làm sáng tỏ về thân thế cùng sự nghiệp văn chương thi phú của Cụ.
Lần thứ hai là khi chúng tôi được đặt chân đến Pháp vào cuối tháng 11 năm 1979 để xin tỵ nạn chánh trị, sau khi sống sót trong chuyến vượt biên thập tử nhất sanh trên Thái Bình Dương. Không biết do tin tức từ đâu, thầy Phan Quốc Quân biết được tin chúng tôi vừa thoát nạn cộng sản và đang mò mẫm tìm phương cách ổn cư tại thành phố Lille thuộc miền Bắc nước Pháp. Từ Paris, thầy có viết một bức thư dài bốn trang giấy để mừng chúng tôi cùng gia đình được ơn trên phù hộ an toàn thoát khỏi xứ tù chung thân xã hội chủ nghĩa.
Việc thầy ưu ái, thương nhớ nghĩ đến hoàn cảnh đang khó khăn của đứa học trò cũ là chúng tôi lúc đó, qua những dòng chữ vấn an và khuyến khích rất mực chân tình đậm đà làm cho chúng tôi rất đỗi xúc động đến rơi nước mắt. Thật là một nghĩa cử đong đầy yêu thương vô bờ bến giúp chúng tôi có thêm niềm tin và hy vọng ở những bước đầu ngập ngừng bỡ ngỡ, giăng mắc chông gai nơi xứ người.
Ở những thư sau, thầy ân cần hỏi tin tức mấy thằng bạn đồng môn của tôi, đều là học trò cũ của thầy. Sau bao năm biển dâu, trí nhớ của thầy còn tốt lắm. Thầy nhớ từng đứa, nhớ những kỷ niệm xưa… Thấy rất vui mừng khi biết được những đứa tốt số đang an cư, sống hạnh phúc ở Hoa Kỳ, Gia Nã Đại hay Úc Châu. Nhưng thầy cũng tỏ ra âu lo cho thân phận những đứa bất hạnh còn kẹt lại nơi quê nhà, tương lai mù mịt, dở sống dở chết.
Thầy cũng nhắc đến từng tên mấy đứa bạn tôi quê quán ở Phú Lâm, Cây Gỏ, Bà Kế, Minh Phụng, Bình Tiên, Phú Định, Mũi Tàu… những đứa đã tự nguyện giúp thầy đi dán bích chương hay đến từng gia đình cử tri để trao ‘bức tâm thư’, khi thầy đứng ra ứng cử chức dân biểu đơn vị Quận VI Đô Thành. Lúc bấy giờ ứng cử là một việc nhưng thực tế chuyện thắng bại không hẳn thuộc quyền định đoạt tối hậu của cử tri. Lần đó thầy thất bại nhưng không vì vậy mất đi ở thầy ý hướng trong sáng và tinh thần phục vụ cộng đồng, phục vụ đồng bào.
Cũng như bất cứ một người tỵ nạn cộng sản nào khác, lúc mới được hồi sinh nơi xứ người, chúng tôi không thoát khỏi gánh nợ cơm áo để nuôi gia đình vợ con nheo nhóc với đôi tay trắng, tứ cố vô thân. Qua thời gian liên lạc với thầy, rồi tiếp đó chúng tôi vô tình lơi dần một cách đáng tiếc. Việc làm lại cuộc đời quá đắng cay nghiệt ngã của chúng tôi quả là nguyên nhân của tội lỗi đối với bực thầy tôi kính yêu trọng quý. Đến giờ phút nầy, mình đối diện với chính mình khi nhắc nhớ sai sót khiếm khuyết đó, trong lòng chúng tôi luôn dấy lên bao nhiêu phiền trách, bấy nhiêu đay nghiến của ăn năn, của hối hận vô bờ. Nhưng niềm hối hận ăn năn gậm nhấm sâu đậm nhứt đối với chúng tôi giờ phút nầy vẫn là việc để mất thêm một lần nữa dịp may khi thầy tôi còn sinh tiền nơi hải ngoại. Chúng tôi không hỏi thầy về những gì chúng tôi cần biết về Cụ Phan Quốc Quang, thân phụ của thầy.
Hôm nay, chúng tôi thử tìm hiểu ‘Thập thủ liên huờn Khuê Phụ Thán’ của Cụ Thượng Tân Thị chẳng qua là để tưởng nhớ một bực nho sĩ ẩn dật nhưng đã góp phần làm nên một thời nơi chéo đất Nam Kỳ Lục Tỉnh ngày xưa. Nhân nhắc đến cụ Phan Quốc Quang, chúng tôi không thể không nhắc đến thầy tôi là giáo sư Phan Quốc Quân. Chúng tôi càng thêm ngưỡng mộ thầy khi gần đây có dịp đọc quyển nghiên cứu đồ sộ “Thân Thế Và Sự Nghiệp Nhà Cách Mạng Nguyễn Thế Truyền” của tác giả Đặng Hữu Thụ (tác giả tự xuất bản năm 1993 tại Pháp). Do đó chúng tôi được biết thêm khi thầy còn là du học sinh tại Pháp, thầy cũng đã từng tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh của người Việt Nam ly hương đòi độc lập tự do dân chủ cho quê hương xứ sở ngay trên đất nước mẹ của thực dân.
Nơi trang 77 của sách nói trên, tác giả Đặng Hữu Thụ viết những giòng sau đây:
“Trong số các người cổ động cho tờ Việt Nam Hồn có hai người hăng say nhất là ông Trần Đình Nam y sĩ ở Huế sau làm tổng trưởng Bộ Nội Vụ trong chánh phủ Trần Trong Kim năm 1945 và Phan Quốc Quân giáo sư tại Sài Gòn, cựu du học sinh tại Pháp. Ông Phan Quốc Quân còn bị mật thám theo rõi vì còn tổ chức các buổi nói chuyện tại các tư gia để cổ động mọi người mua báo Le Paria“.
Tưởng cũng xin được nhắc lại báo Việt Nam Hồn do nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền làm chủ bút kiêm chủ nhiện năm 1925 tại Pháp, xuất bản mỗi tháng một kỳ viết bằng ba thứ chữ Quốc ngữ, Pháp và Hán, có tinh thần quốc gia dân tộc, chủ trương đấu tranh giành độc lập tự chủ cho nước nhà. Còn tờ báo Le Paria là cơ quan chính thức của Hội Liên Hiệp Thuộc Địa xuất bản năm 1922 mỗi tháng một kỳ viết bằng tiếng Pháp nhưng riêng tên báo được in bằng ba thứ chữ Pháp, Hán và Ả Rập với tôn chỉ giải phóng các thuộc địa trên khắp thế giới.


Chúng tôi cũng qua những giòng ôn cố nầy để xin chân thành tri ơn và tạ lỗi với thầy tôi, thầy Phan Quốc Quân, một người thầy gương mẫu đã biến đổi vận mệnh đời tôi. Thầy đã thực sự không nề hà và không quản công lao khổ nhọc trời bể trong thời gian dài bốn năm năm liên tục hướng dẫn chúng tôi có một vốn liếng tối thiểu để làm lại cuộc đời trên đất Pháp. Và nhờ đó, chúng tôi có một cuộc sống hạnh phúc ấm no hiện nay (*).

(*) Chú Thích:
Tôi viết xong bài hoài niệm nầy vào khoảng năm 2009 nhưng khá lâu về sau, nhân một dịp đọc quyển hồi ký “Từ U Minh Đến Cần Thơ“ (Nhà xuất bản Trẻ, TP HCM, 2002) của nhà văn Sơn Nam, tôi thấy có một đoạn tác giả viết về cụ Thượng Tân Thị. Tôi xin được trích dẫn đoạn văn đó nhằm bổ sung bài viết của tôi và cũng để độc giả bốn phương rộng đường nhận xét, xem như sự đóng góp của một chứng nhân sống.
“… Tôi mừng thầm, cám ơn cha mẹ đã chịu cực cho tôi đi xa để thấy chuyện đời. Nếu cứ ở U Minh đá cá thia thia, ăn cá lóc nướng thì vui nhưng u mê, sống ngoài thời cuộc. Rốt lại, gần mãn năm học ở trường Bassac, tôi thuộc vào hạng khá, nhờ… nhớ dai, giỏi về Việt văn và Pháp nhữ.


“Bây giờ, Việt văn không được chú ý, nhưng tôi mải mê vì ông thầy Phan Quốc Quang (biệt hiệu Thượng Tân Thị) quả là giàu tâm huyết. Dạy bực trung học, trong khi các giáo sư mặc Âu phục, mang giày, thắt cà vạt thì ông thủ phận khăn đen áo dài, nói ròng tiếng Việt, không xen tiếng Pháp nào hết (vì ông không rành). Riêng về Hán học, dường như ông chẳng đâu tú tài, cử nhân gì cả… Người thích văn chương, ngoài đời, mến mộ ông qua 10 bài Khuê Phụ Thán….
” Khuê Phụ Thán là tâm sự của bà hoàng hậu, vợ vua Thành Thái, qua lời thơ đã than thở “Chồng hỡi chồng, con hỡi con”, chồng và con đều bị đày. Có vài câu tuyệt dịu như:
- Con ơi, ruột mẹ ngướu như tương,
Bảy nổi ba chìm rất thảm thương.
Khô héo lá gan, cây đỉnh Ngự,
Đầy vơi giọt lệ, nước sông Hương.
Quê người đành gởi thân trăm tuổi,
Cuộc thế mong gì nợ bốn phương…
Thượng Tân Thị đã can đảm ca ngợi hai vị vua nhà Nguyễn”.
Dân Mộc Tiểu lộ, cập nhựt ngày 20 tháng 7 năm 2018.
Võ Phước Hiếu
>
-***-
(1).Tố Phang trên thật là Ngô Văn Phát (1910 - 1983), là nhà văn, nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Khi viết, ngoài bút hiệu Tố Phang, ông còn ký là Thuần Phong, Đồ Mơ.

Tiểu sử

Ông sinh ngày 16 tháng 11 năm 1910 tại Vĩnh Lợi (Bạc Liêu).
Thuở nhỏ, ông học chữ Hán với cha, văn chương bình dân (tục ngữ, ca dao) với mẹ, và học tiểu học tại Vĩnh Lợi. Sau đó, ông lên Sài Gòn học, đậu bằng Thành chung rồi nhập ngạch họa đồ ngành công chánh tại nơi ấy.
Ông yêu thích văn chương từ khi hãy còn nhỏ. Năm 14 tuổi, ông bắt đầu tự làm một số câu ca dao gửi đăng báo Phụ nữ tân văn, rồi thường xuyên cộng tác với báo ấy từ năm 1928 đến năm 1935. Cũng trong quãng thời gian đó (khi chưa đầy 20 tuổi), ông đã làm thơ họa 10 bài Khuê phụ thán của Thượng Tân Thị[1].
Năm 1957, ông được hội Encyclopaedia Britannica ở Luân Đôn (Anh) mời cộng tác. Nhận lời, ông gửi bài "Khảo cứu về thành phố Sài Gòn" và được đăng vào bộ tự điển của hội.
Năm 1964, quyển Ca dao giảng luận của ông đã được nhà nghiên cứu Maurice Durand lược trình và bình luận trong bộ sách của trường Viễn Đông Bác cổ. Cũng trong năm ấy, ông được tổ chức Nghiên cứu Việt học của trường Đại học Sorbonne (Pháp) mời tham gia Dự án Nguyễn Du (Projet Nguyễn Du) để chuẩn bị cho cuộc lễ kỷ niệm 200 năm "năm sinh Nguyễn Du" (1965). Nhận lời, ông gửi thiên khảo luận "Nguyễn Du et la Métrique populaire" (Nguyễn Du với thể dân ca) và được đăng vào bộ sách Mélanges sur Nguyen Du (Tạp luận về Nguyễn Du) [2].
Đồng thời với việc trước tác, ông còn là một nhà giáo. Ông từng dạy Việt văn tại trường Pétrus Ký (Sài Gòn), dạy Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa (Sài Gòn), Sư phạm Huế và Đại học Cần Thơ.
Nhà thơ Tố Phang mất năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 73 tuổi.

Tác phẩm

Căn cứ theo sách Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), thì tác phẩm của Tố Phang có:
  • Cô gái thành: tập thơ vui, ký bút hiệu Đồ Mơ, làm năm 1938, Sao Mai xuất bản năm 1948 tại Sài Gòn.
  • Những cuộc biển dâu: tập thơ, làm năm 1938, Sao Mai xuất bản năm 1950 tại Sài Gòn.
  • Bức tranh vân cẩu: tập thơ, làm từ năm 1930 đến 1944.
  • Hoa gương hương gió: tổng hợp các bài thơ làm từ năm 1929 đến 1960, xếp thành 3 tập là: Bụi ngày xanh, Sóng lòng, Bụi đô thành.
  • Ca dao giảng luận
Ngoài ra, theo website Tri thức Việt, ông còn có: Ngụ ngôn Việt Nam I, II (thơ), Bóng người qua (1928), Giữa Đồng Tháp Mười, Giọt lệ phòng đào (1929), và nhiều tác phẩm kịch, giảng luận văn chương Việt Nam.

Thơ Tố Phang

Là một thi nhân, Tố Phang đứng riêng ra ngoài những phong trào, phe phái. Ông âm thầm học tập và lặng lẽ trước tác. Thành quả tốt đẹp là ông đã nhận được 6 giải thưởng văn chương... Nhìn chung, thơ ông đều mang tính chất một cuộc tình hợp tan, nhuốm màu sắc tôn giáo, hoặc nói về thời cuộc lúc bấy giờ [3]. Dưới đây là một vài đoạn thơ đã được sách Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung) giới thiệu.
Buổi thơ ấu
(trích)
Buổi thơ ấu, những ngày khô ráo,
Anh cùng em ẩn náu sau vườn,
Giả làm một cặp uyên ương,
Biết bao thân ái giữa vườn thanh u?
Trí tưởng tượng ngây thơ cũng quái,
Ta bẻ cây cất trại che chòi,
Nhánh sung dựng cột hẳn hòi,
Vách dùng lá chuối, nóc phơi lá dừa.
Anh móc đất nắn đồ trong bếp,
Em hái rau dọn tiệc linh đình,
Cửa chòi đủng đỉnh che mành,
Mái hiên bông bụp vòng quang giả đèn...
...Cùng nhau duyên đã bén duyên,
Đôi ta dường đã thệ nguyền trăm năm.
Nhưng con tạo oái oăm độc ác
Chẳng cho ai an lạc lâu dài,
...Lớn lên một nẻo một người,
Đôi chim lẻ bạn giữa trời phong ba.
Buổi thơ ấu đã qua không lại,
Thú trẻ con tìm mãi đâu ra.
Vườn xưa đổi chủ thay hoa,
Người xưa nhớ bạn, tuổi già tiếc xuân.
(Sóng lòng)
Một bước đi
(trích)
Một bước đi là một tiếc thương,
Vắng hoa tiều tụy cả khu vườn,
Vắng trăng buồn lạt trời thu quạnh,
Vắng bạn lòng tơ mấy đoạn vương.
Một bước đi là một nhớ nhung,
Xa hoa vườn vắng tiếng côn trùng,
Xa trăng trời vắng mùa thu đẹp,
Xa bạn lòng tơ luống não nùng.
Mỗi một lần đi, chết một lần,
Chết vì xa vắng bạn tương thân,
Chết trong mắt biếc, trong cười nụ,
Chết rũ trong lòng cạn ái ân...
(Sóng lòng)
Nén hương
(trích)
...Hương cùng thi sĩ như nhau,
Nỗi mình, mình biết ai nào thấu cho.
Hương tàn lưu lại nắm tro,
Thi nhân lưu lại nấm mồ, câu thi.
Nấm tro gió thổi bay đi,
Nấm mồ ngọn cỏ xanh rì mọc lên.
Câu thi thiên hạ dần quên,
Ngàn thu thi sĩ còn tên tuổi gì?
Mỹ Thuận, 22 tháng 11 năm 1933.

Chú thích

  1. ^ Nguồn: Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), tr. 345.
  2. ^ Năm 1966, trường Viễn Đông Bác cổ Pháp cho xuất bản bộ sách ấy. Nguồn: 'Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), tr. 344.
  3. ^ Nguồn: Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung), phần giới thiệu thơ Tố Phang.

Sách tham khảo

Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng, Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển trung). Nhà xuất bản Sống Mới, Sài G

No comments: