Thursday, November 1, 2018

SƠN TRUNG * VIỆT NAM THẦN TOÁN

VIỆT NAM THẦN TOÁN

SƠN TRUNG

Tại Việt Nam, sấm ký được truyền lại qua sách vở hoặc truyền khẩu.. Bên Âu Mỹ cũng vậy.

A. THẦN LINH. 

Năm 1938 tại Đền Ngọc Sơn, Hà Nội, nhà giáo Dương Bá Trạc, với sự chứng kiến của linh mục Lê Quang Óanh, đã cầu cơ để xin Bề Trên chỉ dạy về tương lai Việt Nam. Công Chúa Liễu Hạnh đã về cơ cho bài thi tiên tri về vận nước Việt Nam. Chắc cũng có nhiều vị tu sĩ hay học giả khác đã diễn giải bài này cho các đệ tử mình nghe trong nội bộ. Một vị tu thiền sống tại California có duyên may giữ bài thi đó nhiều năm, nay đem phổ biến. Chúng tôi xin phép đưa bài này trên website. Thông thường thì các bài sấm ký, tiên tri của Bề Trên rất khó giải. Chỉ khi nào sự việc xảy ra thì phàm nhân mới thấy Bề Trên không hề nói sai, vì phàm nhân chưa đủ trí tuệ để giải đoán chính xác. Độc giả cũng có thể tự mình thử giải đoán rồi so sánh với cách đoán giải của các vị khác. Hy vọng lời tiên tri của công chúa Liễu Hạnh sẽ thành sự thực để dân tộc Việt Nam sớm được hưởng cảnh thái bình, tự do, hạnh phúc thực sự (TLBT).

Nguyên bản bài cơ

Thiên cơ chẳng dám nói ra
Có duyên đã gặp thì ta đãi lòng
Ba mầu đến độ suy vong
Khỉ về Gà gáy, vầng hồng nổi lên
Cúc vàng rót chén rượu tiên
Uống mà xem lũ đảo điên luân thường
Mèo lùi Cáo nắm kỷ cương
Tương tàn cốt nhục nhiễu nhương lạ kỳ
Nhân gian mấy độ hợp ly
Đồng hoang nhuộm máu kinh kỳ tả tơi
Quỉ Ma giao chiến khắp nơi
Quỉ ở trên trời, Ma ở dưới hang
Cỏ cây non nước điêu tàn
Quỉ nọ ra hàng, Ma ấy mới thôi
Vẩy Rồng tạm tách làm đôi
Bóng câu in dấu muôn đời nhuốc nhơ
Kể từ đôi ngũ nằm chờ
Thầy Tu mở nước bấy giờ mới hay
Chẳng qua cũng giống Quỉ Tây
Ma tàn Quỉ hết đến ngày Long-Hoa
Khỉ về Gà gáy oa oa
Khắp nơi lại dấy can qua kinh trời
Quỉ Ma đến lúc đi đời
Phụ Nguyên Trời đã định ngôi sẵn sàng
Chó mừng tân chủ rõ ràng
Bốn phương tấp nập lên đàng hồi hương
Long Hoa muôn thuở biên cương
Việt Thường con cháu Tiên Rồng vẻ vang.
(Tại Đền Ngọc Sơn, Hà Nội 1938.)


Một hướng giải thích của thiền giả Minh Đạo Trương Thúc Cổn
Câu 3: Ba mầu là cờ tam tài có 3 màu: xanh trắng đỏ của Pháp.
Câu 4: Khỉ là năm Thân 1945, Gà là năm Dậu 1946; Vầng hồng là cờ đỏ sao vàng của VM Cộng Sản
Câu 7: Mèo lùi là vua Bảo Đại tuổi Mẹo thoái vị; Cáo là HCM lên nắm quyền.
Câu 11: Quỉ là thực dân Pháp, Ma là Việt Minh Cộng sản (tức chiến tranh Pháp-Việt Minh)Quỷ ở trên trời: Máy bay Pháp bắn phá, thả bom. Cộng sãn ẩn nấp trong hang núi, trong hầm hố. Pháp thua trận Điện Biên Phủ, quân Pháp đầu hàng Cộng sản.
Câu 14: Quỉ nọ ra hàng là Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ.
Câu 15: Vẩy Rồng là nước VN hình chử S, giống như Rồng lượn, bị chia đôi 1954.
Câu 17: Đôi ngũ là 2 con số 5, tức 1955

Câu 19: Cũng giống Quỉ Tây: Mỹ sang Việt Nam cũng là người Âu Mỹ (gốc là Tây phương)
Câu 20: Ma tàn Quỉ hết: Pháp ,Mỹ đều rút khỏ8 Việt Nam.

Câu 23: Trong bối cảnh chiến tranh lan tràn trên thế giới và loạn lạc bắt bớ của CSVN chính là thời điểm báo hiệu sự cáo chung chế độ CSVN.

Câu 24 và 25: Phụ 阝và Nguyên 元 là 2 bộ của chữ Hán. Phụ 阝và Nguyên 元 ghép lại sẽ thành chữ Nguyễn 阮. Ám chỉ vào năm Tuất (chó) sẽ có một vĩ nhân mang họ NGUYỄN (tân chủ) xuất hiện thể theo Thiên ý sau khi CSVN sụp đổ để lãnh đạo đất nước, mở đầu một thời đại vẻ vang cho dân tộc sau những đêm dài sống trong tủi nhục và nô lệ: Đó là chế độ Đức trị hòa đồng huynh đệ quang minh chính đại tạo an vui hạnh phúc cho toàn dân không còn cảnh bị áp bức bóc lột đàn áp Dân chủ Nhân quyền.

Câu 26: Dân VN bỏ nước ra đi tị nạn CS trên khắp thế giới sẽ lũ lượt hồi hương trở về tổ quốc.

Câu 27 và 28: Sau Hội Long Hoa (Cơ Phán Xét Tận Thế) Dân VN, nòi giống Tiên Rồng, sẽ sống thực sự hòa bình hạnh phúc trong một đất nước có kỷ cương. Việt Thường là tên cũ của nước VN.
Ý tưởng bài cơ bút này cũng có phần giống quan điểm Cao Đài về hội Long Hoa.



B. CÁC BẬC TIÊN TRI

I. SƯ VẠN HẠNH
Thiền sư họ Nguyễn, quê châu Cổ Pháp (古法, nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), từ thuở nhỏ đã thông minh, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật giáo. Năm 21 tuổi ông xuất gia, tu học với bạn là thiền sư Ðịnh Tuệ dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Thiền Ông tại chùa Lục Tổ. Sau khi Thiền Ông mất, ông bắt đầu chuyên thực tập Tổng Trì Tam Ma Ðịa, nên sau này hễ ông nói lời gì đều được thiên hạ cho là phù sấm. Vua Lê Ðại Hành rất tôn kính ông. Năm 980, hoàng đế Đại Tống sai tướng Hầu Nhân Bảo mang quân sang đóng ở núi Cương Giáp Lãng định xâm chiếm nước Đại Cồ Việt, Lê Đại Hành triệu ông vào hỏi nếu đánh thì thắng hay bại. Ông đáp trong vòng từ ba đến bảy ngày quân Tống sẽ rút lui. Lời này sau ứng nghiệm. Khi Lê Đại Hành muốn xuất quân đánh Chiêm Thành để cứu sứ giả bị vua Chiêm bắt giữ nhưng còn do dự, thì Vạn Hạnh nói đây là cơ hội đừng để mất. Sau đó lời này nghiệm, và Lê Đại Hành đánh tan quân Chiêm.[1]
Theo sách Thiền uyển tập anh, thời bấy giờ có người tên Đỗ Ngân muốn ám hại thiền sư; việc chưa xảy ra thì thiền sư đã biết trước, gửi cho Đỗ Ngân bài thơ:
"Cây đất sinh nhau bạc với vàng,
Cớ sao thù địch mãi cưu mang.
Bấy giờ năm miệng hồn thu dứt,
Thật đến về sau chẳng hận lòng."
Đỗ Ngân bèn từ bỏ dã tâm.
Trong cuộc vận động Thân vệ Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) lên ngôi, ông đã tác động dư luận quần chúng bằng sấm truyền rất hữu hiệu. Sách Thuyền Uyển Tập Anh nói những loại sấm truyền và tiên tri ông dùng có rất nhiều thứ không kể hết được. Sách này kể ra một vài phương pháp đã dùng: Hồi Lê Ngọa Triều đang thi hành chính sách bạo ngược [2] bị thiên hạ ghét bỏ, thì tại Cổ Pháp có một con chó trắng xuất hiện trên lưng nó có hai chữ "thiên tử" lấm tấm bằng lông đen. Thiên hạ bèn đồn rằng con chó là tượng trưng cho năm Tuất, và một bậc thiên tử sẽ sinh vào năm Tuất sẽ xuất hiện cũng vào năm Tuất (tức năm 1010). Ngày vua Lý Thái Tổ lên ngôi, thiền sư ở trong chùa Lục Tổ nhưng đã biết trước, nói với người bác và chú của Thái Tổ rằng: "Thiên tử đã băng, Lý thân vệ hiện đang ở nhà, tay chân họ Lý túc trực trong thành lên tới số ngàn. Trong trưa này, Thân vệ ắt được lên ngôi". Bác và chú vua Thái Tổ thấy lo bèn sai người đi dò tin tức, mới thấy lời thiền sư nói đúng.
Ngày Rằm tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 9 (tức 30 tháng 6 năm 1018), khi công hạnh đã viên mãn, Thiền sư gọi đồ chúng lại dặn dò, đọc bài kệ rồi thị tịch. Vua Lý Thái Tổ và tất cả triều thần nhà Lý đến làm lễ Trà tỳ, thỉnh xá-lợi của ông về thờ tại chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh). Bài kệ của ông có nội dung như sau:
"Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cối xanh tươi thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông"

  2. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và những lời sấm truyền

Trạng nguyên thời Mạc - Nguyễn Bỉnh Khiêm - không chỉ nổi danh nhờ tài học sâu rộng, tầm nhìn chiến lược, mà còn được người đời tôn kính vì những lời sấm truyền chính xác.
 Sau khi Trịnh Kiểm giết Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng lo sợ bèn cho người đi hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm nói :"Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân". Nguyễn Hoàng bèn xin Trịnh Kiểm vào trấn thủ Thuận Hóa. Trịnh Kiểm bằng lòng vì muốn tống Nguyễn Hoàng đi cho khuất mắt. Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, gây dựng cơ đồ.

CẢM ĐỀ


1- Thanh nhàn vô sự là tiên
Năm hồ phong nguyệt ruổi thuyền buông chơi
Cơ tạo hoá
Phép đổi dời
Đầu non mây khói tỏa
Mặt nước cánh buồm trôi
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời
Tuổi già thua kém bạn
Văn chương gửi lại đời
Dở hay nên tự lòng người cả
Nghiên bút soi hoa chép mấy lời
Bí truyền cho con cháu
Dành hậu thế xem chơi.

SẤM KÝ

15- Nước Nam từ họ Hồng Bàng
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi dời
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước
Đã bao lần ngôi nước đổi thay
Núi sông thiên định đặt bày
Đồ thư một quyển xem nay mới rành

21- Hoà đao mộc lạc,
Thập bát tử thành.
Đông A xuất nhập
Dị mộc tái sinh.

25- Chấn cung xuất nhật
Đoài cung vẫn tinh.
Phụ nguyên trì thống,
Phế đế vi đinh.

29- Thập niên dư chiến,
Thiên hạ cửu bình.
Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.

33- Hoà đao mộc hồi dương sống lại
Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương.
Hà thời biện lại vi vương,
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.

37- Lê tồn, Trịnh tại,
Lê bại, Trịnh vong.
Bao giờ ngựa đá sang sông,
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
Hà thời thạch mã độ giang.
Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu.

43- Chim bằng cất cánh về đâu?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công.
Bao giờ trúc mọc qua sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.

47- Đoài cung một sớm đổi thay,
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Đầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.

51- Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chim chích u mê,
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.

55- Để loại quỷ bạch Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy
Gia đình một ở ba đi dần dần.
Cho hay những gã công hầu,
Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này.

61- Kìa kìa gió thổi lá rung cây
Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây
Tan tác kiến kiều an đất nước
Xác xơ cổ thụ sạch am mây.

65- Lâm giang nổi sóng mù thao cát,
Hưng địa tràn dâng hóa nước đầy.
Một ngựa một yên ai sùng bái?
Nhắn con nhà vĩnh bảo cho hay.

69- Tiền ma bạc quỷ trao tay
Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua,
Giữa năm hai bẩy mười ba,
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây.

73- Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
Rắn mới hai đầu khó chịu thay,
Ngựa đã gác yên không người cưỡi
Dê không ăn lộc ngoảnh về Tây.

77- Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu
Gà kia vỗ cánh chập chùng bay
Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa
Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.

81- Nói cho hay khảm cung ong dậy,
Chí anh hùng biết đấy mới ngoan.
Chữ rằng lục, thất nguyệt gian
Ai mà giữ được mới nên anh tài.

85- Ra tay điều độ hộ mai
Bấy giờ mới rõ là người an dân
Lọ là phải nhọc kéo quân,
Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.

89- Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuồn luồn
Đàn đi nó cũng một môn phù trì

93- Thương những kẻ nam nhi chí cả
Chớ vội sang tất tả chạy rong
Học cho biết chữ cát hung
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
Bất kỳ nhi ngộ tưởng gì đợi mong.

99- Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tí đều không
Ví dù có gặp ngư ông
Lưới dăng đâu dễ nên công mà hòng.

103- Khuyên những đấng thời trung quân tử
Lòng trung nghi nên giữ cho mình
Âm dương cơ ngẫu hộ sinh
Thái Nhâm, Thái Ất trong mình cho hay.
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Hư vô bàn miệng tiếng nói không.

109- Ô hô thế sự tự bình bồng
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông
Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch
Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng.
113- Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc
Ngưu xuất lam điền nhật chính đông
Nhược đãi ưng lai sư tử thượng
Tứ phương thiên hạ thái bình phong.

117- Ngỡ may gặp hội mây rồng
Công danh rạng rỡ chép trong vân đài
Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà đặt vững ai hay tỏ tường?

121- So mấy lề để tàng kim quỹ
Kể sau này ngu bỉ được coi
Đôi phen đất lở, cát bồi
Đó đây ong kiến, dậy trời quỷ ma

125- Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
Mão Thìn Tí Ngọ bất yên
Đợi tam tứ ngũ lai niên cùng gần.

129- Hoành Sơn nhất đái
Vạn đại dung thân
Đến thời thiên hạ vô quân
Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành.

133- Gà kêu cho khỉ dậy nhanh
Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung
Thiên sinh hữu nhất anh hùng
Cứu dân độ thế trừ hung diệt tà.

137- Thái Nguyên cận Bắc đường xa
Ai mà tìm thấy mới là thần minh
Uy nghi dung mạo khác hình
Thác cư một góc kim tinh non đoài

141- Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý, nhân dân phép màu

145- Xem ý trời ngõ hầu khải thánh
Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai
Song thiên nhật nguyệt sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường

149- Thông minh kim cổ khác thường
Thuấn Nghiêu là trí, Cao Quang là tài
Đấng hiên ngang nào ai biết trước
Tài lược thao uyên bác vũ văn
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.

155- Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Chốc lại mòng gá vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?

159- Đã ngu dại Hoàn, Linh đời Hán
Lại đua nhau quần thán đồ lê
Chức này quyền nọ say mê
Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải thuở hung hoang
Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình

165- Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An

169- Nực cười những kẻ bàng quan
Cờ tam lại muốn toan đường chống xe
Lại còn áo mũ xun xoe
Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

173- Ghê thay thau lẫn với vàng
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.

177- Can qua, việc nước bời bời
Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân
Oai phong khấp quỷ kinh thần
Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca

181- Rừng xanh, núi đỏ bao la
Đông tàn, Tây bại sang gà mới yên
Sửu Dần thiên hạ đảo điên
Ngày nay thiên số vận niên rành rành.

185- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
Can qua xứ xứ khổ đao binh
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân dậu niên lai kiến thái bình

189- Sự đời tính đã phân minh
Thanh nhàn mới kể chyện mình trước sau
Đầu thu gà gáy xôn xao
Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long.

193- Chó kêu ầm ỉ mùa đông
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi
Lợn kêu tình thế lâm nguy
Quỷ vương chết giữa đường đi trên giời

197- Chuột sa chỉnh gạo nằm chơi
Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra
Hùm gầm khắp nẽo gần xa
Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời.

201- Rồng bay năm vẻ sáng ngời
Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng
Ngựa hồng quỷ mới nhăn răng
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời

205- Chín con rồng lộn khắp nơi
Nhện giăng lưới gạch dại thời mắc mưu
Lời truyền để lại bấy nhiêu
Phương đoài giặc đã đến chiều bại vong
Hậu sinh thuộc lấy làm lòng
Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.
211- Đầu can Võ tướng ra binh
Ắt là trăm họ thái bình âu ca
Thần Kinh Thái Ất suy ra
Để dành con cháu đem ra nghiệm bàn

215- Ngày thường xem thấy quyển vàng
Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi
Bởi Thái Ất thấy lạ đời
Ấy thuở sấm trời vô giá thập phân

219- Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian
Mỗi đời có một tôi ngoan
Giúp chung nhà nước dân an thái bình

223- Phú quý hồng trần mộng
Bần cùng bạch phát sinh
Hoa thôn đa khuyển phệ
Mục giã giục nhân canh
Bắc hữu Kim thành tráng
Nam hữu Ngọc bích thành
Phân phân tùng bách khởi
Nhiễu nhiễu xuất đông chinh
Bảo giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

233- Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò
Nhị Hà một dải quanh co
Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nao nao
Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?

239- Nói đến độ thầy tăng mở nước
Đám quỷ kia xuôi ngược đến đâu
Bấy lâu những cậy phép màu
Bây giờ phép ấy để lâu không hào

243- Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình vào ở nội Ngô Tề
Có thầy Nhân Thập đi về
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh

247- Những người phụ giúp thánh minh
Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai
Phùng thời nay hội thái lai
Can qua chiến trận để người thưởng công

251- Trẻ già được biết sự lòng
Ghi làm một bản để hòng giở xem
Đời này những thánh cùng tiên
Sinh những người hiền trị nước an dân

255- Này những lúc thánh nhân chưa lại
Chó còn nằm đầu khải cuối thu
Khuyên ai sớm biết khuông phù
Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngỏ hầu.

259- Cơ tạo hoá phép mầu khôn tỏ,
Cuộc tàn rồi mới tỏ thấp cao.
Thấy sấm từ đây chép vào
Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

Trịnh Văn Thanh.Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) - Sài Gòn – 1966

Bài này có nhiều điểm đã ứng nghiệm:
-câu 51-58: việc Nguyễn Ánh cầu viện Pháp đưa đến việc Pháp xâm lăng Việt Nam.
-câu 55: Một ở ba đi, trỏ các vua Nguyễn thời Pháp thuộc: Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, còn vua Khải Định được Pháp tín nhiệm.
61-70:Cuộc nổi dậy của Nguyễn Thái Học .
109: Chiến tranh Pháp Việt, cộng sản phá hoại đường rầy xe lửa.
133-136; 193-194: Năm ất dâu (1945), nhà Nguyễn cáo chung, Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh lên nắm quyền. Bảo Đại hiền lành (mèo) còn Hồ Chí Minh quỷ quyệt (cáo)

193- Chó kêu ầm ỉ mùa đông
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi. 

Việt Minh nổi dậy vào mùa thu 1945, đến mùa đông thì  gia đình Bảo Đại bỏ sang Pháp.

 Năm Minh Mạng năm thứ 14 (Minh Mạng ở ngôi từ 1820 – 1840), Nguyễn Công Trứ được vua điều đi khẩn hoang ở vùng Hải Dương, Nguyễn Công Trứ thấy địa thế cần phải đào con sông, đào sông thì phải phá đền thờ Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông ra lệnh cho dân phu phá đền để khai phá công trường. Nào ngờ...
   
Khi sai người đào mang bát hương ra, Nguyễn Công Trứ chợt thấy dưới bát hương có một tấm bia đá nhỏ phủ vải điều.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (Nguồn Internet, ảnh mang tính minh họa cho bài viết).
Nguyễn Công Trứ lau sạch đọc được các câu đã ghi :   

Minh Mạng thập tứ/ Thằng Trứ phá đền
Phá đền phải làm đền/ Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay.   
Nguyễn Công Trứ lập tức thảo sớ về kinh, xin bãi bỏ lệnh phá đền. Ông còn cho người sửa sang lại đền Trạng khang trang hơn. Từ đó, ông không còn nghĩ đến việc phá đền để đào sông nữa. 

Nguyễn Công Trứ (Nguồn Internet, ảnh mang tính minh họa cho bài viết)


Tục truyền trong làng có cha con ông Khả đi bắt chuột kiếm sống. Khi đến bên mộ Trạng, hai cha con vướng víu thế nào lại làm đổ tấm bia trên mộ. Dân làng rất sùng kính trạng Trình, nên khi thấy bia mộ bị đổ, họ nổi giận bắt cả hai cha con, kêu nộp phạt ba quan tiền mới tha, vì khi tấm bia đổ xuống thấy có hàng chữ ở sau:   

Cha con thằng Khả. Đánh ngã bia tao/ Làng xóm xôn xao. Bắt đền quan tám   

Cha con ông Khả chịu nộp phạt, nhưng dân làng phải tha cha con về nhà chạy tiền. chỉ tìm được có một quan tám, dân làng không chịu, cha con ông Khả ngẫm nghĩ mới tìm được cách, cha con bèn nói với dân làng: Cha con tôi bị Trạng Trình bắt phạt có quan tám, "Tam quán" nói lái lại thành quan tám . Ðúng như cha con ông Khả đã tìm đủ số tiền
 
Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỷ XVI. Thơ văn của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Kiêm còn lưu lại khoảng gần 1000 bài trong bộ Bạch Vân thi tập (gồm Bạch Vân am thi tập bằng chữ hán và Bạch Vân quốc ngữ thi tập - còn gọi là Trình quốc công Bạch Vân quốc ngữ thi tập). Thơ của ông mang nặng tình người, khuyên người đời biết điều nhân nghĩa, ngoài ra còn một số giai thoại truyền tụng trong nhân gian…. và những lời sấm ký có giá trị.


Khong Minh Gia Cat Luong va nhung loi tien tri sam truyen hinh anh 1
Đền thờ Khổng Minh ở Thành Đô, Trung Quốc. Ảnh: Wordpress.


3. TỨ THÁNH

 Khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX , tại Châu đốc có cậu bé 9 tuổi bổng nói thơ khuyến thiện và tiên tri việc nước. Người ta ghi chép và xuất bản. Bản của Bửu Sơn Kỳ Hương có khoảng 500 câu lục bát, lời thơ cao thâm, gieo vần rất chặt chẽ . Theo Vương Kim trong đoạn viết về Tứ Thánh trong quyển Tận Thế và Hôi Long Hoa do Tân Sanh, Saigon xuất bản 1965 thì quyển Tứ Thánh ra đời từ năm sáu mươi năm nay, trong lúc nước Việt Nam còn đặt dưới quyền bị trị, thế mà đã cho biết về cuộc độc lập sau này. Như vậy là quyển Tứ Thánh ra đời khoảng đầu thế kỷ XX. Có thể nhiều người ghi chép nên có nhiều bản khác nhau. Sau 1975, tôi cũng mua được một bản, bên ngoài ghi là Kim Cổ Kỳ Quan nhưng bên trong lại là Tứ Thánh. Nay đã thất lạc. Có nhiều câu thơ khác với bản này. Tôi hy vọng sẽ tìm lại được và bổ túc cho tập thơ này. Có thể ông ra đời trước hoặc đồng thời với ông Nguyễn Văn Thới (1866-1926) vì trong Kim Cổ Kỳ Quan ông Nguyễn Văn Thới có nói đến Tứ Thánh. .Nhiều đoạn Kim Cổ Kỳ Quan giống với Tứ Thánh. Cộng sản ban đầu nổi lên ở Nga (Trong lịch sử Nga có hai cuộc cách mạng xảy ra ở Nga năm 1917. Cuộc cách mạng thứ nhất là cách mạng tư sản nổ ra vào tháng Hai theo lịch cũ của Nga, hay tháng Ba theo lịch hiện đại. Cuộc cách mạng thứ hai là cách mạng vô sản nổ ra vào tháng Mười theo lịch cũ của Nga, hay tháng 11 theo lịch hiện đại.)
Cách mạng Nga 1917 mở đầu cho kỷ nguyên cộng sản thế mà đầu thế kỷ XX, Nguyễn Văn Thới đã nói đến Cộng sản!
 25. Chó thấy trời mọc phải tru.
Thảm thương chú cộng công phu đợi chờ.


471.  Thương công chú cộng chan dầm.
Vào sanh ra tử mà lầm kế ai!


Nguyễn Văn Thới nói Cộng sản thất bại , mắc mưu kẻ thù. Mắc mưu ai? Mắc mưu Trung Cộng  vì Trung Cộng cho vay nặng lãi, Việt Cộng phải bán đất và biển đảo để trả nợ!

4. TỔNG ĐỐC NGÔ ĐÌNH KHÔI  XEM TƯỚNG BÀ NHU

Sau khi lấy Nhu, Trần Lệ Xuân vẫn gian díu với nhiều người thuộc giai tầng “thượng lưu” như tướng tá trong quân đội, văn nghệ sĩ, cố vấn Mỹ….Trong số đó, cô nàng đa tình này có tình cảm đặc biệt và lén lút tư tình với tướng Trần Văn Đôn.
Mặc dù cả hai rất kín kẽ nhưng cây kim trong bọc lâu ngày cùng lòi ra. Chuyện Lệ Xuân ngoại tình rốt cuộc cũng đến tai Nhu, ông chồng tội nghiệp liên tục bị “cắm sừng”. Nhu giận đỏ mặt, lập tức thuyên chuyển Trần Văn Đôn ra Huế. Ông cố vấn tổng thống muốn nhờ tay ông em cố vấn miền Trung – Ngô Đình Cẩn giám sát và ngăn chặn ông tướng võ biền tiếp tục ái ân vụng trộm với vợ mình.

Tràn Lẹ Xuan, bà có ván tỏng thóng, Ngo Dình Diẹm, Ngo Dình Nhu, Tran Van Don , tuóng Don

Nhu liên tục bị vợ cắm sừng nhưng hết lần này đến lần khác đều tha thứ cho Lệ Xuân
Trần Lệ Xuân thầm hiểu chồng muốn đưa nhân tình vào vòng phong tỏa của Ngô Đình Cẩn, người mà từ lâu có ác cảm với mình. Không thể làm gì khác, bà cố vấn tổng thống uất hận cam chịu kế ly gián của chồng. Tuy nhiên, nàng vẫn hẹn gặp tình nhân một lần trước lúc chia tay. Lưu luyến người tình, Trần Văn Đôn lập tức đồng ý.
Trước đó, Lệ Xuân đã kịp trang trí lại gian phòng ngủ của biệt điện cựu hoàng Bảo Đại ở Đà Lạt. Xuân đến Đà Lạt trước bằng máy bay rồi tướng Đôn sẽ đến chỗ hẹn bằng ô tô riêng ngày hôm sau. Đúng 10h đêm, Đôn ngồi trên xe vượt cửa biệt điện rồi chạy vòng quanh trên con đường rải sỏi và dừng lại trước thềm. Lệ Xuân từ trong chạy ra, tay bắt mặt mừng, rồi cả hai cùng dìu nhau vào bên trong.
Đang lúc cả hai quấn vào nhau như cặp rắn hổ mang thì bên ngoài một chiếc xe hơi gắn bảng đỏ hai sao lao nhanh qua cửa biệt điện. Chiếc xe hung dữ húc tung cả barie chắn cổng. Người lính gác không kịp trở tay thì chiếc ô tô đã phóng đến tận thềm.

Tràn Lẹ Xuan, bà có ván tỏng thóng, Ngo Dình Diẹm, Ngo Dình Nhu, Tran Van Don , tuóng Don
Tướng Trần Văn Đôn

Một thiếu phụ ăn vận sang trọng nhanh chóng mở cửa xe bước xuống. Tay người này xách một chiếc ví lớn đi thẳng vào bên trong. Mấy phút sau, người lính gác cổng bỗng nghe tiếng súng nổ chát chúa, rồi thấy thiếu phụ khi nãy tay cầm súng lục hớt hải chạy ra. Cô ta thúc giục tài xế cho xe lao đi.
Người lính gác vội chạy vào bên trong, đến cửa phòng ngủ thì thấy một cảnh tượng bất ngờ. Bà cố vấn tổng thống gần như lõa lồ, một tay ôm vai bê bết máu. Trong khi đó, tướng Đôn thì mặt mày tái mét, đầu tóc rối bù, đang gọi bác sĩ. Vừa thấy người lính gác, Trần Văn Đôn căn dặn: “Mày có nghe thấy cũng không được nói lại với ai. Bất cứ ai hỏi cũng phải trả lời là không biết gì hết. Phải tuyệt đối giữ bí mật. Đây là mệnh lệnh”.

Vừa lúc đó, xe cứu thương cũng vừa đến. Trần Lệ Xuân vừa đau đớn vì vết thương, vừa tức giận vì bị phá ngang cuộc hoan lạc. Sau này, để giải thích cho vết thương trên tay người tình, trước mặt các bác sĩ quân y, Trần Văn Đôn nói rằng, bà cố vấn cưỡi ngựa tập bắn súng bị tai nạn. Bác sĩ khám rất kỹ rồi kết luận, vết thương không nguy hiểm đến tính mạng.
Tuy nhiên do đạn bị kẹt ở xương vai, phải mổ lấy ra. Cần có một nhà giải phẫu giỏi chuyên môn để tránh để lại sẹo cho phu nhân Lệ Xuân.

Lập “tòa án” gia đình để “xử” chị dâu 
Tai nạn bất ngờ của Trần Lệ Xuân được thông báo ngay về văn phòng cố vấn chính trị phủ tổng thống.
Thoạt tiên, Nhu ngỡ vợ mình bị rủi ro trong lúc tập bắn. Vì từ ngày phát động phong trào phụ nữ bán quân sự, Lệ Xuân thường xuyên tập bắn súng, cưỡi ngựa cùng cô con gái đầu lòng – Ngô Đình Lệ Thủy. Nhu lập tức ra lệnh đưa ngay một máy bay đặc biệt lên Đà Lạt chở vợ bay thẳng sang Manila, đến một bệnh viện hiện đại của Mỹ để cứu chữa.
Ngay hôm Xuân đáp máy bay đi Manila thì Nhu được thuộc hạ mật báo đầy đủ về chuyện Trần Lệ Xuân bị vợ của tướng Đôn bắn vì ghen. Nhu choáng váng như bị cái tát đau điếng. Một người có đầy mưu mô, trăm phương ngàn kế như Nhu, không hề nao núng trước mọi khó khăn thử thách trên chính trường nhưng đành phải bó tay bất lực với người vợ liên tục ngoại tình hết lần này sang lần khác.

Tràn Lẹ Xuan, bà có ván tỏng thóng, Ngo Dình Diẹm, Ngo Dình Nhu, Tran Van Don , tuóng Don

Trong khi đời sống tình dục của Trần Lệ Xuân lúc nào cũng nóng bỏng như ngọn núi lửa thì Ngô Đình Nhu gần như bất lực

Chính vì chuyện này mà Nhu vùi đầu vào công việc, chìm đau khổ và nỗi nhục vào khói thuốc phiện. Trong lúc Nhu cố tình giả điếc, không có phản ứng gì sau vụ Lệ Xuân bị đánh ghen ở Đà Lạt thì người em lãnh chúa miền Trung từ Huế tức tốc bay vào Sài Gòn. Cẩn đòi triệu tập hội nghị gia đình để từ bỏ người chị dâu dâm loạn đã làm ô danh dòng họ Ngô.
Lúc ấy, Diệm cũng vừa ở Mỹ về và người anh cả tổng giám mục Ngô Đình Thục ở Vĩnh Long cũng được mời lên Sài Gòn. Ngô Đình Cẩn chủ trì phiên “tòa” xử án vợ Ngô Đình Nhu, trước sự im lặng tuyệt vọng của ông chồng bị mọc sừng. Tại buổi họp gia đình, Cẩn tuyên bố gia đình họ Ngô không thể để một người đàn bà tác yêu tác quái, bôi tro trát trấu lên mặt tất cả những người trong dòng họ.
Đường đường là một dòng họ cầm quyền một nước mà để cho thiên hạ cười vào mặt vì một người đàn bà. Chẳng lẽ còn đức Cha (tức Ngô Đình Thục), anh tổng thống (Ngô Đình Diệm) cũng sợ Lệ Xuân?.
“Hay là chị ta có bùa mê, thuốc lú làm cho ai nấy mụ người, mê mệt cả rồi? Các anh không nhớ lúc mới cưới chị Xuân về, anh cả tổng đốc Ngô Đình Khôi xem tướng đã nói: “Thứ đàn bà này rồi về sau phá hại cả họ Ngô cho mà coi.” Giờ nên cơ sự như này, chẳng lẽ chịu thua à?, Ngô Đình Cẩn nói.
Thấy mọi người không nói gì, lãnh chúa miền Trung tức tối nhổ bã trầu ra nền nhà rồi nói tiếp: Các anh có nghe ở ngoài người ta nói ra sao không? Tụi lực lượng đặc biệt miền Trung báo cáo với tôi rằng bà cố vấn muốn làm đệ nhất phu nhân Việt Nam nên quyến rũ cả anh tổng thống. Lúc này, Diệm đỏ mặt lên tiếng phủ nhận và khuyên Cẩn không nên nghe lời thiên hạ. Ngồi nghe các anh em nói, Nhu im lặng đứng lên buồn rầu bước đi.

Tràn Lẹ Xuan, bà có ván tỏng thóng, Ngo Dình Diẹm, Ngo Dình Nhu, Tran Van Don , tuóng Don

Sau hội nghị gia đình, Nhu viết một bức thư dài cho Trần Lệ Xuân, kể lại những lời lẽ đã bàn bạc của anh em nhà họ Ngô. Nhu để phần kết luận cho vợ quyết định. Lúc này, Lệ Xuân đã được mổ lấy viên đạn ra và đang chờ vết thương lành lại. Đọc xong bức thư, bà cố vấn tỏ ý muốn đi Pháp một thời gian tĩnh dưỡng cho lại sức và để có thời giờ suy nghĩ rồi trả lời chồng.
Từ Manila, Lệ Xuân đáp máy bay sang Paris. Sự vắng mặt của vợ gần một tháng khiến Nhu phần nào nguôi ngoai chuyện vợ ngoại tình. Rồi một bức thư khá dài từ Pháp được gửi về, với những lời thiết tha ân hận, van xin tha thứ và hứa sẽ không tái phạm. Nhu cảm động bỏ qua tất cả, đánh điện gọi vợ về.
Những điều chưa biết về “khúc phim đánh ghen” 
Sau này bà phu nhân của tướng Đôn thuật lại: Biết ông tướng nhà tôi thế nào cũng hẹn hò với con mụ ấy trước ngày đi Huế, tôi đã để ý canh chừng. Rồi tôi thấy ông lấy xe nhà đi bảo là đi công tác. Tôi đoán ngay là hai người lén lút hẹn hò ở Long Hải hay Đà Lạt nên cho người lấy xe bám theo. Quả nhiên tôi đoán không sai. Khi tôi tông cửa bước vào thì hai người đang trần truồng cuốn vào nhau như đôi rắn hổ mang. Ngay lập tức, bà phu nhân tướng Đôn rút khẩu súng mang theo, chĩa thẳng vào Lệ Xuân và quát: “Muốn sống thì đứng im!”. Tướng Đôn sợ xảy ra đổ máu bèn lao đến toan tước lấy khẩu súng để cho người tình có dịp thoát thân. Tức giận, vợ tướng Đôn đưa tay siết cò. Súng nổ, Lệ Xuân ôm lấy một bên vai và gục xuống.
“Thật tình tôi định nhắm bắn vào chỗ kín cho mụ ấy bỏ thói lang chạ với chồng người khác. Nhưng tại vì run tay để mũi súng chếch lên phía trên, đạn trúng vào vai. Số mụ ấy còn may lắm, đạn chếch xuống tim là coi như mụ ấy đi đời nhà ma. Nhìn thấy máu tôi hoa cả mắt, rồi bỏ mặc mụ ta cùng ông chồng bội bạc, chạy ra chỗ đậu xe và giục tài xế phóng đi thật nhanh”, phu nhân của tướng Đôn thuật lại.


4. VÕ KỲ ĐIỀN XEM THẦY DIỄN
  
Câu Chuyện Ngày Xưa


Buổi sáng hôm đó, tôi và người bạn thân đến nhà cụ Diễn trên một gác nhỏ, trong hẽm đường Hiền Vương. Tôi đang rảnh, Thâu cũng vậy, hai đứa đi loanh quanh trên đường phố Sài Gòn quen thuộc, đã mõi cha^n nên khi ăn uống xong xuôi, Thâu chợt đề nghị coi bói cho biết tương lai. Nghe tới tên cụ Diễn là tôi chịu liền, từ lâu hằng nghe đại danh cụ và ước ao được gặp. Tôi đâu ngờ Thâu lại là chỗ thân tình với cụ và có thể nhờ coi dùm (mà không phải trả tiền và hình như cụ cũng không lấy tiền của khách, tôi không biết rõ lắm việc nầy)

Lúc đó tôi còn trẻ lắm, sống ở tỉnh nhỏ, chuyện hôn nhân cứ trở ngại, trục trặc hoài. Có cái chuyện dễ dàng như vậy mà làm cũng không xong, cả tỉnh bạn bè nay đứa nầy mai đứa kia, cưới vợ lấy chồng từ từ hết trơn, thấy mà tức ứa gan... Do hôn nhân trễ muộn tôi đâm giựt mình, như một nhà xã hội và tâm lý gia, tôi tự tìm hiểu cá nhân, gia đình, xã hội, kinh tế, tâm lý,… và cuối cùng đổ thừa cho là tại cái nầy, tại cái kia và tìm những khuyết điểm của mình, tự trách cứ. Lúc đó do công cuộc làm ăn, tôi thường liên lạc với Thâu. Thâu nghe tôi kể lể tâm sự, phản đối liền – bạn nói tầm bậy hết trơn rồi, không phải tại cái gì cả mà tại cái số mạng, cái số ế vợ,… nếu đúng như mấy lý do kinh tế, tài chánh, gia đình gì gì đó, tại sao có nhiều thằng xấu trai, học kém, nhà nghèo, nhút nhát, nghiã là đủ thứ dở tệ… tại sao cũng có vợ được, tại sao?
Cuối cùng Thâu kết luận - xe hơi còn có số mà, nói chi người ta. Mà muốn biết số mạng ra sao thì bạn phải theo tôi qua kiếm cụ Diễn, thần tướng, hiện nhà ở bên kia đường...

Nhà cụ Diễn trên một căn gác nhỏ, trong hẽm đường Hiền Vương nhiều cây to bóng mát. Bên trong nhà không khi mát mẻ, bàn ghế đồ đạc bày biện theo kiểu xưa, cổ, có nhiều bức tranh Tàu treo dọc theo tường. Lúc đó cụ đang bận tiếp khách. Vài ông khách ăn mặt âu phục, complet, cà vạt chỉnh tề, ngồi đứng chào hỏi dáng vẻ cung kính, khiến tôi đâm e ngại.

Cụ Diễn là một ông già người Bắc tuổi chừng độ trên dưới bảy mươi, người ốm yếu, mong manh, khăn đóng bạc màu, áo dài mỏng bằng the đen. Rõ ràng là một nhà nho nghèo lở vận, ẩn dật, sống an bần lạc đạo trong cái không khí ồn ào, rộn rịp của cái đất Sài Gòn văn minh với chiến cuộc đang leo thang từng ngày… Trong lúc ngồi chờ đợi, tôi quan sát con người và cử chỉ thái độ cụ. Cặp mắt quá nhỏ so với khung mặt, có lẽ vì tuổi già, thân hình như gầy tóp lại. Dầu cụï không đeo kiếng nhưng tôi vẫn không thấy được tròng mắt lớn hay nhỏ. Hai mí mắt đã cố nhướng cho xa nhau nhưng độ hở vẫn chỉ to hơn sợi len giăng ngang chút xíu. Tuy lem nhem như vậy hình như cụ đã thấy hết trơn đời tôi. Sau khi đi qua lại vài bước cho cụ coi tướng, câu đầu tiên cụ nói như vầy : -số ông suốt đời ở chợ.

Tôi dạ cám ơn và thấy cười trong bụng- ông thầy nầy ai cũng khen phục tài giỏi nhưng nói một câu hổng giỏi chút nào. Sáng hôm đó, tôi ăn mặc bảnh bao, đầu tóc mới hớt gọn ghẽ, lại đi chơi với dược sĩ Thâu, rể ông đại sứ nổi tiếng, hổng lẽ tôi lại ở nơi thôn quê. Nói như vậy thì ai cũng có thể nói được. Nhưng tôi cố nhớ lại coi hồi nhỏ tôi có ở nhà quê hay không, quả là không có. Tôi được sanh ra tại đảo Phú Quốc, cái đảo nhỏ xíu như một thôn xóm nghèo, tuy vậy nhà tôi cũng ở ngay tại chợ, thị trấn Dương Đông. Rồi nhà được dọn vài ba lần, lần nào cũng vậy, mở cửa ra là thấy chợ ở ngay trước mắt. Tôi kiên nhẫn chờ nghe tiếp .
-năm ngoái ông bị đụng xe, may là không nguy hiểm tới tính mạng.

Tôi chợt nhìn xuống khuỷu tay, vết thẹo còn lộ đỏ sau một lần té xe rất nguy hiểm từ trên dốc Lò Chén. À thì ra, ổng nhìn thấy vết trầy nầy, bận áo tay ngắn, cái thẹo chần dần như vậy, ai mà không thấy.
-Dạ, dạ, cụ nói đúng, năm ngoài tôi bị nặng lắm, xém chút nữa là nguy rồi, nhờ phước đức ông bà....
-tuy nhà ông ở ngay tại chợ nhưng sau nhà lại có vườn cây.

Trời đất ! mới nhìn có tôi có chút xíu mà nói được cái vườn sau nhà, cũng lạ. Sách tướng tôi cũng đã từng đọc qua vài cuốn, có chương nào chỉ cách nhìn mặt mũi tay chưn mà tả được cảnh vật trước hoặc sau nhà? Bỡi chi tiết nầy khó thể có được. Miền Nam mình, tỉnh nào cũng vậy, đường đất phố xá nhỏ hẹp, nhứt là phố chợ, đất dư tính từng tất, dành để buôn bán làm ăn, chỗ nhiều đâu mà trồng cây ăn trái… Tôi thấy quả ông cụ có tài lạ, tuy vậy chuyện cái nhà, cái vườn có gì quan trọng, nói tới nói lui làm chi ?
-nếu ông không ở trong căn nhà như vậy, thì đã nguy hiểm tới tính mệnh.

Tôi ngồi im, chuyện nầy cũng không biết ra sao nữa, khoa phong thủy địa lý dương trạch có nhiều điều không thể nghĩ bàn. Ông cụ vẫn bình thản, không cần hỏi tới năm tháng ngày giờ sanh, miệng vẫn nói đều đều, thong thả :
-hiện tại ông làm nghề dạy học, dự định đổi đi nơi khác, lần đầu không được lần sau sẽ được…
Tôi giật nẩy người, đầy mình mọc gai óc. Làm sao ông cụ biết tôi làm nghề dạy học, chỉ bao nhiêu đó thôi quả là tay cao thủ. Tôi vừa ở quân trường ra, sau ba tháng thụ huấn quân sự, tóc hớt ngắn, da đen thui, tay chưn còn dính đầy nắng gió. Năm Mậu Thân cuộc chiến tàn khốc, hầu hết thanh niên cở tôi đều vào quân đội. Nếu nhìn dáng vẻ bên ngoài mà đoán tôi là sĩ quan thì dễ đúng hơn. Đâu có nét nào giống thầy giáo. Rồi làm sao biết được tôi đang xin đổi nhiệm sở, hồ sơ hiện bị trở ngại. Chắc bạn mình đã nói lỡ nói trước với ông già nầy hết trơn rồi, tôi liếc qua Thâu. Thâu tỉnh rụi, thấy ông cụ nói không điểm nào trật, khoái chí ngồi cười cười… Rồi lại suy nghĩ, ổng coi cho mình, tốn công tốn sức, có lấy đồng xu cắc bạc nào, nói gạt, nói dối làm chi.

Lời nói cụ đều đều, thong thả, chuyện quá khứ, chuyện tương lai, công danh, khoa bảng, tiền của, sự nghiệp, bạn bè, tai nạn, bịnh hoạn… sẽ như thế nầy, thế kia, tôi vâng dạ liền miệng. Có đoạn ông cụ nói năm gần bốn mươi tuổi tôi sẽ sống ở nước ngoài, một xứ phương Bắc rất lạnh và xài tiền bằng Mỹ Kim, tôi đâm tức cười, không biết là ông còn thức hay đã ngủ, nói mê…

Nhưng mấy cái chuyện xa vời đó có quan trọng gì tới tôi đâu, cái mà tôi đang chờ để biết là chuyện gia đạo tình duyên mà, nóng ruột hết sức, tôi rụt rè ngắt lời :
-Dạ, dạ, nhờ cụ coi dùm chuyện gia đạo vợ con ra sao, hiện tại tôi còn.. một mình.
Ông cụ nhướng cặp mắt tí xíu lên, nói rõ ràng như thấy cô vợ tương lai của tôi trước mặt :
-người vợ tương lai của ông, học hành như thế nầy, gia thế, nhà cửa thế nầy.., cùng nghề nghiệp với ông.
-dạ thưa cụ, theo như cụ nói thì không dám đâu. Tôi ở tỉnh nhỏ, học ít, chỉ muốn tìm người trẻ tuổi và học kém hơn một chút ..

Ông cụ không trả lời, mắt hình như nhắm lại. Tôi nhớ lại từ đầu buổi cho tới giờ, chuyện quá khứ thì rất đúng nhưng không có gì đặc biệt, tôi ở trong nhà nầy hay nhà kia, làm thầy giáo hay sĩ quan thì cũng vậy, còn chuyện tương lai thì chưa biết ra sao. Duy chuyện vợ con thì hơi lạ, tôi nghĩ là ông cụ nói trật vì hồi nào tới giờ chưa bao giờ tôi để ý tới bạn gái đồng nghiệp. Tôi vốn rất sợ cô giáo và những người đàn bà thông minh, học giỏi hơn mình...
-Thưa cụ, xin cụ cho biết chừng nào tôi mới cưới được vợ ?
Ông cụ không trả lời ngay câu hỏi, chợt mở mắt ra, phán cho một câu dứt khoát, khiến tôi sửng sốt như bị tạt một gáo nước lạnh :
-đám cưới ông hầu như không có.

Trời đất, thiệt vậy sao? Thiệt vậy sao, tôi nghe lỗ tai lùng bùng. Chuyện cưới vợ đã trầy vi tróc vảy, rồi tại sao sẽ gặp một cô giáo nghiêm trang… rồi lại không có đám cưới. Hàng trăm câu hỏi tại sao, tại sao trong đầu. Tôi cảm thấy mồ hôi rịn ra đầy mặt. Sao kỳ cục vậy, căn cứ vào đâu mà cụ dám nói như vậy. Tôi nhìn thẳng vào mặt, thấy cụ vẫn bình thản, cụ nói thiệt tình mà đâu phải nói chơi.

Tôi hỏi tiếp, giọng hơi khó chịu ...
-dạ thưa cụ, tại sao lại không có đám cưới, có phải tôi không đủ tiền cưới vợ ?
-không phải, nhà ông thiếu gì tiền.
-vậy tại sao, nếu có đủ tiền tại sao tôi lại không làm đám cưới. Thú thật với cụ, tôi mà thương ai, dù người đó mang bầu hay có con rồi, tôi cũng sẽ làm đám cưới chánh thức, đàng hoàng. Tại sao tôi lại sợ dư luận mà không làm đám cưới, lại dắt con người ta đi không…

Khi nói đến đây, tôi nhớ lại giai đoạn đó ở tỉnh nhà, bạn bè nhiều lắm, đứa nào cưới vợ tôi đều sẵn lòng giúp đỡ. Vừa cho mượn xe, vừa làm tài xế, vừa làm rể phụ, hổng lẽ tới đám cưới mình, không ai tham dự. Ngày cưới tôi phải vui vẻ và đông đảo bạn bè thân tình chớ. Ông cụ chấm dứt bằng lời nói giận dỗi:
-cái mặt ông làm gì dám dắt ai …
Rõ ràng là ông cụ nói nhiều điều vô lý, tôi không còn kiên nhẫn ngồi nghe tiếp nữa, đâm ra vô phép, đứng dậy và nói giọng hờn mát :
-tôi không dám dắt ai, tôi lại có tiền, vậy hỏi cụ, tại sao lại không làm đám cưới cho vui. Tại sao tôi không làm…

Ông cụ không trả lời, khoát tay đuổi tôi và Thâu ra cửa. Tôi cúi đầu cám ơn từ giả cho có lệ, rồi đi thẳng, bụng không vui. Giửa trưa nắng thiệt nóng và xe cộ ồn ào, mùi khói xăng khét lẹt, trong phút chốc những lời tiên đoán của cụ già bay mất tiêu hết, tôi không còn muốn nhớ nữa. Trật lất rồi, nhớ nữa làm chi. Ngồi trên xe, Thâu phân trần:
-bạn biết không, mấy ông hồi nảy toàn là Bộ Trưởng hay Tổng Giám Đốc gì đó. Ông cụ là thầy tướng riêng cho Tổng Thống với Thủ Tướng, nhưng bửa nay sao ổng nói trật tới trật lui, tôi cũng thấy kỳ cục, nhiều việc không đúng, chắc ổng bịnh hoạn hay đương lo việc gì đó, nhớ trước quên sau…

Tôi bộp chộp kết luận một câu ngon lành :
-Thâu nè, bạn tin tôi đi, không bao giờ tôi cưới cô giáo hết và sẽ làm đám cưới thiệt lớn để rủ bạn bè nhậu một bửa cho vui. Đời người chỉ có một lần cưới vợ, tại sao lại không làm, không lớn thì nhỏ chớ, tại sao lại im ru bà rù… Tôi tin đời có định mạng nhưng cũng tin con người có tự do.
*
Và tôi có tự do thiệt tình khi làm quen với D, không bị ai ép buộc cả. Sau ngày đám hỏi, tôi xuống Sài Gòn đến gặp ông già vợ tương lai. Ông trẻ hơn ba tôi nhiều. Cũng vậy, vợ tôi nhỏ tuổi hơn tôi nhiều lắm. Những gì cụ Diễn nói về nàng đều đúng, không trật một điểm nào. Cho đến bây giờ tôi cũng không biết tại sao tôi lại liều gan kết hôn với một cô giáo, từ nào tới giờ tôi vốn kỵ mà. Tôi có kinh nghiệm về việc nầy, mấy thằng bạn tôi có vợ cô giáo, một thời gian sau đều trở thành học trò ngoan ngoản các cô hết trơn. Dầu biết rất rõ nhưng giờ đây tôi cũng tình nguyện làm y như vậy. Đúng là số mạng, chạy trời không khỏi nắng.

Hôm đó là những ngày sau Tết, nhà nàng còn chưng đầy bông hoa. Cái bình sứ cổ đời Khang Hy thật lớn dùng cắm cành mai to bằng cổ tay cao tận nóc nhà. Tôi nhìn sững những câu thơ ngoằn ngoèo nét thảo lòi tói và buộc miệng - cái bình nầy quí lắm đầy rạn da qui, ba dùng như vầy rủi ro nó bể thì sao. Ông già vợ tương lai cười, -làm sao bể được con, ba chưng như vậy cả chục năm nay rồi, có sao đâu. Mấy đứa em vợ bu quanh chờ ông anh rể quí chở đi ăn mì. Cả nhà quây quần ấm áp, tiếng nhạc vang vang đầy nhà. Nhà sắp có đám cưới mà, không vui sao được.

Ông già lắng nghe giọng Khánh Ly trầm ấm vang lên từ chiếc máy nhạc, tự nhiên quay qua tôi -nè nè, con nghe nè, mấy ông văn nghệ sĩ nói chuyện, viết lách thiệt là hay, cái gì mà… giọt nước mắt rơi thành hồ nước long lanh... Câu nói chưa hết, D. lại xí xọn xen vô -bản nầy là Như cánh vạc bay của Trịnh Công Sơn đó ba.

Ông vừøa cầm ly rượu sóng sánh màu hổ phách, vừa lẩm bẩm - Như cánh vạc bay, à, à cánh vạc bay ra làm sao, tượng trưng cho cái gì, thiệt tình ba không hiểu. Rồi khóc mà tới thành hồ nước long lanh - thì thiệt là viết khéo hết sức, viết được tới như vậy thì trên đời hổng có mấy tay. Rồi ông ta bàn tiếp -con nghĩ coi giọt nước mắt có chút xíu, mà làm đầy cả hồ nước là phải khóc nhiều lắm đó nghen...

Tôi ngạc nhiên, ông là tay buôn bán già đời, suốt ngày chỉ thấy cộng trừ nhân chia, tại sao không chịu nói chuyện tiền bạc, nhà đất, của cải, tự nhiên hôm nay sao lại nổi hứng bàn chuyện thơ văn, nghĩ cũng lạ. Bất ngờ ông hỏi tôi, giọng ngọt ngào :
–Nè nè, ba nghe nói con dạy văn chương. Vậy có bao giờ con viết văn hay làm thơ gì không ?

Tôi còn đang giai đoạn ở rể, phải cố gắng lấy điểm để làm vừa lòng ông già vợ. Câu hỏi khiến tôi giựt mình –như vậy là ông ta khen hay chê Trịnh Công Sơn ? Câu trả lời tôi phải như thế nào cho đúng. Trời đất ơi, nhằm cái lúc vui vẻ nầy mà vợ tôi lại cho hát cái bản nhạc mắc dịch đó làm chi. Câu hỏi ngọt ngào như viên thuốc bọc đường có phải là viên thuốc độc ? Tôi phải trả lời sao cho vừa ý ông đây ?

Hồi nào tới giờ quả tình là tôi không biết viết văn hay làm thơ. Nhưng nếu cần nói láo để được vợ thì tôi cũng phải liều gan nói đại. Nhưng mà, câu hỏi độc địa nầy hình như có liên quan tới cái ý nói láo đó. Khóc mà tới đầy cả hồ nước thì là nói láo rõ ràng, ai ai cũng thấy. Nhưng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết ra như vậy và cả nước coi nhạc sĩ nầy là thiên tài, nhạc ông vang rền ngập từ chợ đến quê, ban ngày cũng như ban đêm… Nhưng nói láo nhận mình là văn nghệ sĩ thì khác, không giống kiểu nói láo trong thơ văn…

Tôi còn đang ấp úng tìm câu trả lời thì may quá, bà già vợ đi đâu sợt sợt trở về, thấy tôi bà nói một hơi không kịp thở :
-con về trình lại với anh chị ở trển, ba má đã về Dĩ An nhờ thầy coi ngày cưới rồi . Ông thầy nầy ngày xưa coi cho ba má đó, coi kỹ lắm, ổng tìm được ngày tháng đại lợi, tụi con sẽ ăn đời ở kiếp với nhau, giàu sang phú quí, tử hiếu tôn hiền….
Nói xong bà lục trong túi đưa cho tôi tờ giấy đỏ, đầy chữ viết run rẩy của một cụ già, nghe đâu đã trên chín chục. Rõ ràng là ông thầy Dĩ An coi ngày cưới hỏi thiệt hay, thời gian đã chứng minh được tài năng của ông. Ông bà nhạc gia tôi sống chung nhau cho tới bây giờ, tiền bạc nhà cửa sung túc, con cháu đầy đàn, chưa hề biết đến chuyện ly dị khổ tâm, đau đớn ra làm sao.

Tôi cầm lấy tờ giấy coi ngày cưới, thời gian còn lâu tới bốn năm tháng nữa, hơi bực mình nhưng nhớ lời dặn dò của ba tôi – theo tao ngày nào cũng tốt hết, ổng bả muốn trễ sớm lúc nào cũng được, miễn mầy cưới được vợ thì thôi, lần nầy mà mầy kiếm chuyện để cho trục trặc nữa là kể như suốt đời không có vợ đó con. Tôi đã thấm thía chuyện hôn nhân trễ muộn mà cũng đâu cần ba tôi dặn, năm nay tôi đã ba muơi lăm tuổi rồi, tôi đâu còn ngu mà cà khịa, giận lẫy, kiếm chuyện kiểu con nít như hồi mười tám, hai mươi…

D. đưa cho tôi cục kẹo, tôi ngậm vào miệng, cắn nhẹ thấy có rượu mạnh bên trong. Cuộc đời quả cũng có ngọt ngào, tuy rượu ít nhưng cũng khiến tôi ngây ngất. Đường Trần Hưng Đạo trước nhà, nắng sáng trong, xe chảy thành dòng. Nhớ tới lời tiên đoán cụ Diễn ngày nào - đám cưới ông hầu như không có ! Tôi bật cười. Cụ ơi, đám cưới tôi hã, chắc chắn sẽ rất vui, đông đủ bạn bè, bà con thân thuộc hai bên, làm sao không có, làm sao mà nhỏ cho được. Nội bên vợ, anh chị em D. nếu đếm sơ sơ cũng đủ một chục đủ đầu rồi, nói chi bên gia đình tôi, nội ngoại, sui gia, dâu rể… rồi tới hàng xóm láng giềng, toàn người thân tình ơn nghiã, đâu thể nào không mời người ta đến chung vui.
*
Sau ngày 30 tháng 4, tôi len lỏi trong đám đông hỗn loạn ngơ ngác, xác xơ, tìm đường xuống Sài Gòn, đến nhà vợ chưa cưới. Vừa gặp tôi, D. ôm chầm lấy và mừng rỡ. Trong cơn biến động mấy ngày qua, chuyện liên lạc khó khăn gián đoạn, nàng tưởng là tôi đã thoát ra khỏi quê hương và đành đoạn bỏ nàng lại một mình, đi biệt tích. Tôi không biết nên cười hay nên khóc. Tôi trình bày cho ông bà già vợ chuyện tang thương dâu bể xảy ra trên nhà tôi, tất cả những dự định tương lai đầy màu hồng ngày nào trở thành xám đen, tan nát hết. Ba vợ tôi an ủi :
-con đừng bi quan quá, dù gì đất nước mình cũng không còn chiến tranh, mọi sự rồi sẽ ổn định. Lúc đó mình buôn bán làm ăn trở lại…

Trời đất, chế độ nầy mà ổng còn hy vọng buôn bán làm ăn như xưa! Mọi sự sẽ ổn định, đúng rồi, đống máy cày của ổng đâu còn chưng bày ra ngoài hành lang như lúc trước, mà đem giấu tận phía sau nhà. Chị em D. ngày nào quần là áo lụa, trang điểm kỹ lưỡng từ đầu đến chưn, nay cũng bắt chước mặc bộ bà ba đen giống như mấy cô thôn nữ chỉ thiếu chiếc khăn rằn vắt trên vai. Mấy đứa em trai ngồi im lìm, không còn chạy giởn la hét vang rân như ngày trước.
-thưa ba má, nhà cửa, công danh, sự nghiệp, tiền bạc bây giờ kể như mất mát hết rồi, ngay cả thân mạng con cũng không còn biết ra sao. Bửa nay con xuống thưa với ba má là chuyện hôn nhân của con và D. phải hoãn lại… cho tới chừng nào, chừng nào… con cũng không biết nữa. Cũng có thể là không bao giờ.
Nói tới đây tôi nghe D. khóc rấm rứt, rồi không cầm được nước mắt, tôi cũng khóc theo. Bà già vợ tôi cũng thúc thít nhưng còn rán nói :
-đâu được con, đám cưới tụi con không làm lớn được thì mình làm nhỏ, vợ chồng phải có cưới hỏi đàng hoàng chớ con !
Hoàn cảnh đất nước quê hương hổn loạn, tang tóc như vậy mà làm đám cưới, dù làm nhỏ thế nào đi nữa, dù cố gắng cho lắm cũng không thể làm được, mà coi cũng không được. Tôi trả lời ngay :
-Thưa má, con không biết bị bắt ngày nào, bây giờ chỉ còn lo chuyện chết sống, tù đày, sống chỉ biết được ngày nay, không biết ngày mai ra sao, còn đầu óc đâu mà nghĩ tới chuyện gia đình riêng tư nữa.
Tôi tiếp - chế độ nầy sắt máu lắm, chuyện vui không có mà chuyện buồn thì nhiều, con nghĩ là mọi sự bế tắc, miền Nam mình thua trận rồi. Mà quả vậy, đầu óc tôi lúc đó đặc sệt như chì, không tìm ra giải pháp nào ổn thoả hết. Đi không được, ở không được, sống không được mà chết cũng không được luôn. Tôi có cảm giác thua cuộc, bất lực, thất bại, tê liệt như con kiến bò trên bờ chảo nóng, lanh quanh bò hoài cũng không ra khỏi miệng chảo.

Ông già vợ trầm ngâm một hồi, thở ra :
-ba hiểu rồi, thiệt là cơ khổ. Nhưng chuyện nhơn duyên là chuyện lớn đời người, không thể vì vậy là hai con không thành chồng vợ. Con về thưa với anh chị, ba má dưới nầy không đòi hỏi gì cả, cũng không cần có đám cưới. Tới ngày đó, ba má nấu một mâm cơm gia đình, chỉ cần có mặt anh chị và ba má chứng kiến cho hai con lạy bàn thờ, xin phép ông bà tổ tiên để kết duyên thành chồng vợ là đủ.
Tôi ngắc nga, ngắc ngứ - rồi đồ cưới, khăn áo hoàng hậu, nhẫn cưới cho cô dâu, rượu trà, xe hoa… Ông nói - con không cần đem xuống gì cả, kể như là ba má và em con đã nhận lễ vật đầy đủ rồi, đời bây giờ nhiều chuyện rối rắm lắm, đừng có lo nghĩ thêm chi cho mắc công….
*
Ngày 30-5 năm 1975 nghiã là sau ngày mất nước một tháng, tôi cưới vợ và đám cưới hầu như không có. Bên nhà vợ tôi nấu một mâm cơm cúng tổ tiên, ông bà, hai đứa tôi lạy bàn thờ rồi lạy tứ thân phụ mẫu, ba má tôi và ba má D. ngồi trên bốn cái ghế đẩu nhỏ sắp hàng ngang trước bàn thờ. Chỉ có người nhà và không có ai lạ. Vậy là xong lễ thành hôn. Trong khi hai bên sui gia gặp nhau, cửa nhà đóng kín kỹ lưỡng, sợ công an khu vực vô phá đám, xui xẻo, hàng xóm không ai biết bên trong chúng tôi đang làm việc gì. Ngày hôm sau tôi về Bình Dương, lén dắt vợ đi chào và trình diện với những thân bằng quyến thuộc. Dù hết sức đơn giản nhưng tôi cũng có vợ đàng hoàng tử tế, đầy đủ lễ nghiã !.
*
Khi viết những dòng chữ nầy thì ông già vợ tôi đã mất từ lâu. Nhưng tôi vẫn nhớ rõ những lời ông nói, tình thương ông cho tôi dù bao nhiêu nước chảy qua cầu, cuộc đời dâu biển, tôi vẫn thương ông như thương cha ruột tôi vậy.

Cụ Diễn cũng đã mất rồi, những lời tiên đoán của cụ ngày nào vẫn còn mãi mãi bên tai, làm sao tôi quên được. Tôi nợ cụ nhiều lắm, bây giờ làm sao trả đây. Không phải là nợ vật chất, tiền bạc, gói trà hay chai rượu mà tôi nợ cụ lời xin lỗi chân thành cùng lời khen ngợi tài năng cao xa của cụ. Cái lỗi ngu si của tôi rất lớn, ngày đó tôi còn quá trẻ chưa hiểu đời là gì, đã dám hoài nghi những điều mình chưa biết.

Toronto, ngày 30 /9/2002

Võ Kỳ Điền


 

5. VŨ THƯ HIÊN XEM BÓI (ĐÊM GIỮA BAN NGÀY)

Con người có số mệnh hay không có số mệnh ?
Câu hỏi này luẩn quẩn suốt trong óc tôi vào những ngày tù đầu tiên. Tôi ghi lại ở đây câu chuyện về một hiện tượng thoạt nhìn có vẻ chẳng ăn nhập gì với cuốn sách nhưng là cái làm lung lay tận gốc thế giới quan tưởng chừng đã vững chắc trong tôi, ảnh hưởng tới tâm trạng tôi trong những năm sau này.
Trước hết, cần phải nói ngay rằng hồi ấy tôi duy vật từ đầu đến chân. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật trong tôi có nguồn gốc tầm thường. Cha mẹ tôi duy vật thì tôi duy vật, như lẽ đương nhiên phải thế. Nghe chuyện mẹ tôi kể thì vào thời con gái của bà chủ nghĩa duy vật đặt chân lên nước ta không phải với tư cách một triết thuyết mà như một cái mốt. Nó như ánh sáng điện bỗng bừng sáng trong ngôi nhà xưa nay leo lét đèn dầu. Phàm người thuộc thế hệ bà mà có chút ít tây học đều trở thành duy vật. Chí ít thì họ cũng khoe mình là như thế. Người có chân trong tổ chức cách mạng lại càng duy vật hơn ai. Duy vật đồng nghĩa với cách mạng. Bạn bè cha mẹ tôi đều duy vật cả, trừ ông Tiến cố.


Ông có số phận long đong. Vốn là một nhà duy vật cuồng nhiệt, đảng viên Đảng cộng sản, không hiểu sao ông nhảy sang Thiên Chúa giáo. Rồi trong một mưu toan đầy thiện chí nhằm làm mai cho hai thứ mà ông yêu, Thiên chúa giáo bác ái và chủ nghĩa cộng sản bạo hành, ông bị các đồng chí tống ra khỏi hàng ngũ(1).
Tôi chưa bao giờ tin cả thần thánh lẫn ma quỷ. Bà ngoại tôi sùng Phật, thích đi lễ chùa và ăn chay, làm việc bố thí. Bên nội hãnh diện về mấy đời theo Thiên Chúa giáo, xưng mình đạo gốc, chăm đọc kinh, chăm xưng tội chịu lễ. Bên ngoại lặng lẽ nhập đạo Phật với đạo thờ cúng tổ tiên, coi hai thứ là một.


Cha tôi bỏ đạo khi thành cộng sản. Việc cha tôi bỗng dưng không đi nhà thờ, không xưng tội chịu lễ không những chỉ làm cho ông bà tôi rụng rời chân tay. Nó làm cho cả họ nhớn nhác. Người làng xì xào cha tôi vào hội kín, vì thế ông bỏ đạo. Cha tôi nói ông bỏ đạo vì cho rằng thực dân Pháp đã dùng Thiên Chúa giáo để thôn tính nước ta. Mẹ tôi giải thích việc cha tôi bỏ đạo bằng sự tiếp xúc của cha tôi với ông Đinh Chương Dương(2) và phong trào cách mạng. Ông cho rằng người cách mạng phải dứt khoát với mọi cái gắn liền với những mưu mô của thực dân.


Cái còn lại của đạo Chúa trong cha tôi là lời dạy của Đức chúa Giê-su Ki-ri-xi-tô “: Hãy thương yêu người ta như mình vậy”. Ông thường căn dặn chúng tôi rằng nhân vô thập toàn, con người ta ai cũng có khuyết điểm, mình cũng vậy, cho nên phải độ lượng với nhau, phải sống khoan dung, nhân ái. Gặp hồi chỉnh huấn, cán bộ luôn miệng nói phải vì nhân dân quên mình, thì cha tôi cười. Ông nói rằng chẳng bao giờ ông tin những người khoe họ yêu nhân dân hơn yêu bản thân. “Yêu người bằng yêu mình là tốt lắm rồi ! – ông dạy tôi – Chúa cũng chỉ dám mong người ta yêu người bằng yêu mình mà còn không xong. Hai ngàn năm rồi nhân loại vẫn chưa thực hiện được lời Chúa dạy, mà nay muốn thực hiện điều hơn thế là nói khoác”.


Mẹ tôi thờ ơ với cả hai thứ đạo. Bà không từ chối đi nhà thờ, không chăm chỉ đi chùa, nhưng cũng không phản đối các bà chị chồng đưa các con bà đi rửa tội, chịu Mình Thánh Chúa. Cả bên nội lẫn bên ngoại đều không trách được mẹ tôi, bà chỉ không siêng năng chứ không báng bổ đạo như cha tôi, nhưng cả hai bên đều ngấm ngầm không hài lòng về bà. Bà ngoại tôi không chịu được những lời sàm báng của con gái đối với giới sư sãi, nhưng nhất quyết bắt mẹ tôi phải trung thành với đạo thờ cúng tổ tiên thuần Việt, là thứ đạo mẹ tôi bao giờ cũng tôn trọng.

Vào thời gian xảy ra vụ xét lại chống Đảng, tôi đang viết tiểu thuyết Pháo Đài Xanh, cuốn sách được ấp ủ từ nhiều năm. Đó là cuốn biên niên sử của một làng. Nó sẽ là hình ảnh của sự thay đổi diễn ra trên đất nước. Ngôi làng trong cuốn sách chính là quê nội của tôi. Tôi sống lâu hơn, nhiều hơn với cái quê nhà gạch và đường nhựa, nhưng trong tình cảm tôi gắn bó với cái quê nghèo bùn lầy nước đọng hơn.


Quê nội để lại dấu ấn đậm nét trong tuổi thơ của tôi. Nó là miền đất ruột rà của tôi. Nó chiếm hết tình yêu bé bỏng của tôi.
Tôi được mẹ tôi đưa về quê nội năm tôi lên sáu. Cha tôi vừa bị Pháp bắt. Mẹ tôi không thể cùng lúc vừa nuôi mấy anh em tôi, vừa đi làm thuê, vừa hoạt động cách mạng. Bà đưa tôi về quê cho bà chị chồng nuôi đỡ. Đó là một bà già cô độc, cao lớn, mặt mũi dữ tợn, đuồn đuỗn như một cái phất trần, tên là bà Gái. Cô tôi sống trọn đời đồng trinh trong ngôi nhà ông bà tôi để lại khi đàn em của bà đã tứ tán phương xa. Trong thời gian mấy năm ở với cô Gái, tôi quyến luyến bà, và qua những lời dẫn tích của bà, nhà ái quốc chân chính của làng mình, tôi quyến luyến mảnh đất của cha ông.


Chúng tôi ở trong một ngôi nhà gỗ năm gian, với mấy gian nhà ngang bằng tre nứa mọc ra ở một đầu hồi, kết thúc bằng một gian bếp thấp tè và một chuồng lợn lụp xụp. Nơi đây các bác tôi, các cô tôi (tức là các bà chị của cha tôi) ra đời và lớn lên trong sự ấp ủ của cha mẹ, một ông nhà nho không gặp thời làm nghề bốc thuốc với một bà vợ không biết chữ, nhưng tần tảo và đảm đang, như bất cứ người vợ nào trong những năm xa xưa ấy. Trong ngôi nhà trước kia hẳn rất ồn ào, nay vắng lặng, chỉ còn hai cô cháu tôi, tôi tìm thấy những quyển vở bằng giấy bản với những chữ nho ngòng ngoèo – vở học của cha tôi khi ông bắt đầu ê a Tam tự kinh của một nền học đã chìm nghỉm trong quá khứ.


Tình yêu đối với đất nước ở mỗi con người cũng khó giải thích như tình yêu trai gái. Trong sáu anh chị em của cha tôi chỉ có mình ông đi làm cách mạng. Với đất nước ông có một tình cảm ruột thịt lạ lùng, khó hiểu đối với chính tôi, đứa con ông. Dường như ông không thể sống không có tình yêu dâng hiến đó, như tình yêu Chúa trong lòng tín đồ tử vì đạo. Tôi nhớ ông đã bực bội như thế nào khi đọc trong một cuốn sách giáo khoa của đứa cháu gái lời dạy của một nhà lãnh đạo cho học sinh rằng các cháu phải yêu nước vì “nước ta giàu và đẹp”. Đó là tình yêu vụ lợi, chứ đâu còn là yêu nước, ông kêu lên, nếu nước ta nghèo và xấu thì sao ? không cần yêu nữa à ?
Mặc dầu rời bỏ quê hương từ khi còn nhỏ, cha tôi lúc nào cũng quyến luyến nó, và ông truyền tình yêu đối với mảnh đất tuột rà lại cho những đứa con mình.

Trong cuốn sách dự định, khởi đầu bởi tình yêu đó, tôi muốn ghi lại những số phận người trong làng tôi, một làng quê của đồng bằng Bắc bộ, như là hình ảnh thu nhỏ của cách mạng giải phóng dân tộc qua những thời kỳ tiền khởi nghĩa, kháng chiến chống Pháp, Cải cách ruộng đất… Tôi hi vọng qua những sự kiện xảy ra qua những số phận người trong một làng dựng nên một mảng lịch sử với những bước thăng trầm không phải chỉ của một thế hệ nông dân mang trong mình khát vọng truyền nối về một cuộc sống no đủ, thanh bình.


Mấy cuốn sổ tay của tôi kín đặc tên người tên đất, phong tục, tập quán, thổ ngữ, gia phả, thần phả, những phác họa nhân vật, tính cách, tiểu sử của những nhân vật ấy, cả những tư liệu về chức vụ, quân hàm của quân đội lê-dương, quân đội viễn chinh Pháp vv…
Kể chuyện này ra thì buồn cười, nhưng đúng thế : cái mà tôi còn thiếu cho cuốn tiểu thuyết là một ông thầy bói. Ông này, theo tư liệu thu được, phụ trách một cơ sở kháng chiến trong thành phố. Nhà chiêm tinh phương Đông được viên đại tá tư lệnh xếch-tơ(3), một cựu sinh viên toán-lý ham nghiên cứu phương Đông thần bí, coi như thầy học. Ông thầy bói cũng yêu mến đệ tử của mình.Trong ông tình yêu cuộc kháng chiến và tình yêu anh học trò đánh nhau chí tử.
Tôi không biết gì về bói toán, nhất là khoa tử vi. Từ ngữ của cái nghề cổ xưa nhất thế giới, tên gọi các vì sao không có thật trên bầu trời thế tục xa lạ đối với tôi. Để có được những nhân vật sinh động tôi không ỷ vào trí tưởng tượng vốn không được giàu có, mà thường tìm kiếm trong đời thực những nguyên mẫu cho tới khi có thể, như các nhà văn thường nói, sờ thấy được nhân vật tương lai. Hemingway chia xẻ kinh nghiệm viết văn cho người đi sau “Cái bịa lớn bao giờ cũng giống thật”. Tôi bịa kém. Tôi nghĩ khác : cái thật phong phú hơn cái bịa. Nói cách khác, cuộc đời mới là người bịa chuyện giỏi nhất.

Đúng vào lúc tôi đang viết mấy chương đầu cho cuốn sách thì cha tôi bị bắt, nhà tôi bị khám, bản thảo bị tịch thu. Vào thời điểm rối ren như thế mà tiếp tục viết thì thật gàn dở, nhưng tôi không muốn công việc bị gián đoạn. Tôi chán nản, tôi hụt hẫng, tôi có cảm giác mình chẳng còn lúc nào để viết nữa. Tôi chạy tới với sáng tác như thể nó là cứu cánh. Mà cũng có thể tôi cần được ngụp lặn trong bận rộn để tách mình khỏi những ý nghĩ đen tối về tai họa đang đến.
Tôi đã gặp kẻ hủy diệt thế giới quan của tôi trong bối cảnh như vậy.
Đồn rằng gần đền Hàng Trống có một ông thầy bói giỏi. Ông có thể nói ra vanh vách chuyện quá khứ của mình, còn những gì ông nói về tương lai thì sau nghiệm ra thấy đúng cả.
Người khuyên tôi đến xem bói là cô em dâu tôi, rất tin ở bói toán, và vợ tôi, vốn chẳng bao giờ mê tín dị đoan.


Được chứng kiến cảnh công an nửa đêm hùng hổ tới nhà bắt cha tôi, vợ tôi lo cho số phận của tôi. Mà số phận tôi cũng tức là số phận cái gia đình bé nhỏ mới được xây dựng gồm vợ chồng tôi và hai đứa con lít nhít, một trai một gái. Nếu tôi cũng bị bắt thì gia đình tôi tan nát. Lương vợ tôi không đủ nuôi thân, nói gì nuôi hai đứa con. Trong hoàn cảnh chúng tôi bất cứ ông thầy bói nào cũng đáng tin nghìn lần hơn một chính quyền dối trá.
Ông thầy bói mù cảm thấy sự có mặt của chúng tôi qua những tiếng dép bước rón rén vào nhà. Ông nói, giọng sẽ sàng :
– Xin các vị chờ cho một lát.

Chúng tôi đến đã sớm nhưng có người còn sớm hơn. Ông thầy bói đang xem cho một bà đứng tuổi mặt mày thiểu não, luôn miệng vâng dạ, thỉnh thoảng lại suỵt soạt khấn khứa.
Nhà chật, ông hành nghề trên cái phản. Người trong nhà đi lại loẹt xoẹt, ra đụng vào chạm ầm ĩ, coi như không có ông. Chúng tôi ngồi ghé vào mép cái phản không mấy sạch sẽ. Tôi thất vọng. Tôi tưởng sẽ gặp một cụ đồ nho thất thế với cặp mắt sáng anh minh, giọng nói sang sảng, chứ không phải ông già mù với đôi tay xương xẩu sờ soạng trên chiếc chiếu bẩn để tìm cái đĩa ông vừa đặt xuống. Giọng ề à ông nói với bà khách những chuyện tương lai tầm phào : tháng này bà có lộc, nhỏ thôi, nhưng cũng là lộc, còn tháng sau thì phải cẩn thận kẻo mất cắp, tháng sau nữa sẽ có người nhà ở xa về mang đến tin vui…


Ông không có chỗ trong cuốn tiểu thuyết của tôi. Ông sẽ lạc lõng trong đó như một nhân vật quặt quẹo. Đã định đứng lên ra hiệu cho vợ tôi lẻn về thì quẻ bói của bà khách đến trước cũng vừa xong.
– Mời ông bà ngồi.
Vẫn yên vị, xếp bằng tròn, ông thầy bói quay mặt về phía chúng tôi, hướng rất đúng, như thể đàng sau cặp kính đen là đôi mắt sáng.
Đành lê chân ngồi vào chỗ bà khách vừa bỏ đi.


– Sáng nay tôi độn, biết ông sẽ đến. – cặp kính đen nhìn tôi – Thánh dạy : có quý nhân đến nhà !
Trời đất quỷ thần ơi, tôi mà là quý nhân của ông ư, ông thầy bói ? Quý nhân theo cái nghĩa nào vậy ? Ông nhầm rồi. Tôi chẳng có thể là quý nhân trong bất cứ nghĩa nào, cho bất cứ ai.. Một ngàn lần không, ông thầy bói của tôi ạ, tôi không phải quý nhân trong bất cứ nghĩa nào, càng không thể là quý nhân của ông. Thậm chí tôi cũng chẳng còn tiền để đặt quẻ cho hậu hĩ.
– Không dám. – tôi lúng túng nói – Chúng tôi đến phiền xin cụ xem cho một quẻ.
– Vâng. Ông muốn xem hung cát ? Hay công danh, tài lộc ?
– Cụ cứ nói những gì cụ thấy, xin lỗi, những gì Thánh dạy…
Một nụ cười độ lượng thoảng qua mặt ông thầy.
– Xin ông cho biết ngày sinh tháng đẻ.


Tôi nói. Nhìn xéo qua cặp kính đen, tôi thấy một đôi mắt trắng đục – ông già bị lòa thật. Ông già ngẩng đầu lên, trán hơi nhăn lại, lẩm bẩm một hồi rồi sờ soạng tìm cái đĩa. Bằng hai bàn tay thành kính, ông nâng cái đĩa lên ngang trán, suỵt soạt khấn. Rồi hạ cái đĩa xuống, ông trầm ngâm gieo tiền. Ba đồng trinh rơi xuống mặt đĩa kêu rổn rảng. Sau khi rờ rẫm sờ từng đồng một để biết sấp ngửa, và hẳn cũng để kéo dài thời gian suy nghĩ, ông xoa xoa chúng trên mặt đĩa một lát rồi chậm rãi nói với tôi :
– Tôi sẽ nói ba điều. Nếu ông thấy tôi nói đúng thì ta xem tiếp. Nếu sai, tức là Thánh không cho, xin ông lại đây vào bữa khác.
Tôi sẽ không trở lại đây nữa, bất kể Thánh cho hay không cho.
– Xin cụ cứ nói.
– Thứ nhất, ông đã từng xuất ngoại.

Một câu chẳng quan trọng, không có ý nghĩa. Nhưng kể cũng lạ, căn cứ vào đâu mà ông già mù kia đoán được tôi đã ở nước ngoài ? Tôi không ở nước ngoài lâu tới mức giọng nói bị thay đổi. Một mùi lạ, xà phòng thơm hoặc nước hoa ? Cũng không có chuyện đó. Tôi vừa mới từ những hố bom trở về. Tôi tắm nước ngòi, nước ao tù, không xà phòng, chỉ cốt gột sạch bùn đất. Người mù có khứu giác tinh tường, nhưng ông không thể thấy ở tôi mùi nước ngoài nào.
– Có đúng vậy không ?
– Dạ, thưa cụ cứ nói tiếp.
– Thứ hai, mùa thu năm nay nhà ông có hỉ, hỉ qua tiếp đến hạn.
– Dạ ?
– Hỉ đây ứng vào anh em ông, hoặc em trai lấy vợ, hoặc em gái lấy chồng. Còn hạn, nó ứng vào cụ thân sinh ra ông.


Ông thầy bói nhẩn nha nói trúng vào những sự kiện vừa xảy ra trong gia đình tôi – mùa thu em trai kế tôi lấy vợ, sau đó đến cha tôi bị bắt. Tôi sững sờ.
– Sao mà lại có người số lận đận thế ! – ông già ngẩn người, tư lự – Lạ thật, lạ thật !
– Là sao, thưa cụ ?
– Cứ như Thánh dạy thì hiện nay cụ thân sinh ra ông đang mắc hạn tụng đình, tức là có chuyện lôi thôi nơi cửa quan…
Tôi vờ phản bác :

– Sao có chuyện thế được, thưa cụ ? Cụ thân sinh tôi đã về hưu, hiện sơ tán ở Tam Đảo. Cụ đã có tuổi, chẳng làm gì để có thể mắc vào chuyện lôi thôi.
Ông thầy bói nghiêng đầu kiên nhẫn nghe.
– Vậy mà cứ như quẻ này thì cụ nhà bị bắt rồi.
Ông nói sau một lát im lặng, như thể khi tôi nói ông bận lắng nghe ai đó đang nói với ông, chứ ông không nghe tôi.
Tôi lặng đi. Có thể có sự thật như thế không : một ông già xa lạ, và ông ta biết được những việc xảy ra trong nhà người khác ?
– Nhưng…
– Lận đận quá ! – ông già lắc đầu ái ngại – Tính ra thì thời Tây Tây bắt, thời Nhật Nhật bắt, đến thời ta cũng không yên. Con người sao mà khốn khổ thế ! Cương cường quá, thẳng tính quá, nên mới bị tai vạ. Cự môn đắc địa lại gặp Hỏa tinh, Thất sát… Lại còn thêm mấy hung tinh nữa, mới nguy… Cứ như tôi suy thì cụ nhà không vướng vào chuyện kinh tế đâu, mà đây là chuyện chính trị…
Tôi không còn muốn chối nữa. Nhưng tôi chỉ nói :
– Tôi sẽ đi Tam Đảo thăm cụ tôi ngay.


– Ông đi đi ! Tuy chẳng giúp gì được cụ nhà đâu, nhưng đạo làm con ông phải đi. Mà lạ, cụ nhà gặp nạn ít ra cũng gần cả tháng rồi mà sao không ai báo cho ông biết ?
– Thưa cụ, tôi vừa đi công tác khu 4 về.
Vợ tôi đưa mắt cho tôi.
– Bây giờ phiền cụ xem cho tôi.
Ông thầy bói cúi đầu xuống. Ngón cái đi những bước chậm chạp trên những ngón tay xương xẩu.
– Tôi nói thẳng ra nhá ?
– Vâng, cụ cứ nói thẳng.
– Thế này : chính ông cũng sẽ gặp hạn, ông ấy, nhưng không phải ngay bây giờ. Qua tháng này đã, trong tháng sau…
Tôi liếc vợ tôi. Mặt nàng nhợt đi khi nghe câu nói đó. Tội nghiệp, vợ tôi thương tôi biết bao nhiêu.
– Hạn sẽ xảy ra bất ngờ…- ông ta nói tiếp – Tôi biết, ông không tin đâu, nhưng nó sẽ đến đấy. Hạn này là hạn có kẻ gắp lửa bỏ tay người, việc không có nó bảo là có, việc xong rồi nó bảo là chưa…
Tôi suy nghĩ. Thế là thêm một người khẳng định tôi sẽ bị bắt. Khác ở chỗ người này không nhìn vào tình hình chính trị mà căn cứ ở những vì sao không có thật.
– Hạn liệu có dài không, thưa cụ ? – tôi hỏi.
Ông thầy bói lắc đầu :

– Tôi không nói trước được. Nếu ông cúi mình xuống, không cãi lại, người ta nói gì cũng gật, buộc cho mình cái gì cũng ừ, cứ nhận hết thì xong. Bằng không hạn sẽ kéo dài : hai thành bốn, bốn thành tám, tám thành mười sáu… cứ thế mà nhân lên mãi…
Vợ tôi nước mắt đã lưng tròng.
Xong quẻ, tôi đưa cho ông thầy bói nhiều hơn số tiền tôi định đưa. Tôi hỏi ông về chữ quý nhân mà ông dùng cho tôi thì ông nói :
– Quý nhân là người đáng quý, không có nghĩa nào khác. Không phải ông cho tôi tiền hay cho tôi quà mới là quý nhân. Mong còn có dịp gặp lại nhau.
Trước khi ra về tôi đặt câu hỏi cuối cùng :
– Thưa cụ, cụ đã xem cho nhiều người, biết nhiều số phận, tôi muốn hỏi cụ : có phải thời nay người xấu nhiều hơn người tốt không ?
Ông già cười khà khà :
– Cuộc đời phải có âm có dương, có đực có cái, có xấu có tốt, mới là cuộc đời chứ. Dĩ nhiên, có hồi âm thắng dương, có hồi dương thắng âm, tựu trung chông chênh là thường tình, cân bằng là hãn hữu. Ông có số nhìn xa trông rộng, ông thừa hiểu sự đời, còn hỏi tôi làm gì ?
Trong khi đối thoại với Huỳnh Ngự ở sân Hỏa Lò tôi lại nhớ đến lời tiên tri của ông thầy bói mù : hạn này là hạn có kẻ gắp lửa bỏ tay người, việc không có nó bảo là có, việc xong rồi nó bảo là chưa…
Vậy cái kẻ gắp lửa bỏ tay người kia là ai ?
Rõ ràng không phải cái anh chàng thư lại đang đứng trước mặt tôi rồi. Y bất quá là một tên công sai nhiệt tình.

Kẻ gắp lửa bỏ tay người là chủ của y kia. Tôi nghĩ tới Lê Đức Thọ. Nhưng cả khi đó, cả bây giờ tôi vẫn không hiểu : Thọ muốn gì ở tôi ?
Tôi không hoạt động chính trị. Tôi làm việc, như bất cứ ai trong bất cứ xã hội nào. Tôi thích chủ nghĩa xã hội bởi nó hứa hẹn một tương lai đẹp – tự do, công bằng xã hội, kinh tế phồn vinh. Nhưng những thứ bán kèm với nó như đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, ý thức tổ chức, dân chủ tập trung không được lòng tôi. Cuộc đấu tranh gọi là chống chủ nghĩa xét lại hiện đại mà nhà cầm quyền dấy lên không phải của dân tộc Việt Nam. Càng không phải cuộc đấu tranh của tôi, vì tôi, cho tôi. Tôi chẳng thích chủ nghĩa xét lại nào hết, hiện đại cũng như không hiện đại.
“Hạn này là hạn có kẻ gắp lửa bỏ tay người, việc không có nó bảo là có, việc xong rồi nó bảo là chưa…”. Tôi không thích chính trị mà nhà cầm quyền cứ lôi tôi vào là đúng với câu việc không có nó bảo là có. Tôi đã xa lánh chính trị mà nhà cầm quyền cứ giữ rịt tôi trong nó là ứng với câu việc xong rồi nó bảo là chưa…


Rất có thể người ta không ưng được tôi vì tôi đã vi phạm không phải một lần những điều cấm kỵ. Lần đầu với truyện ngắn Đêm Mất Ngủ (báo Văn Nghệ, 1961), tôi bị Tố Hữu lên án “Vũ Thư Hiên lộ rõ tâm trạng bất mãn với chế độ hiện hành”, trong bài viết :”Giương cao ngọn cờ tính Đảng, chống chủ nghĩa xét lại hiện đại trong văn nghệ”. Cùng bị vạch mặt chỉ tên như những tên xét lại hiện đại trong văn học còn có Nguyên Ngọc và Ngô Ngọc Bội. Tố Hữu coi Nguyên Ngọc nói móc họng Đảng, ví lòng dân như mạch nước ngầm, không dễ thấy nhưng quật đổ được những công trình lớn. Ngô Ngọc Bội (với truyện ngắn Chị Cả Phây) bị Tố Hữu gọi là freudiste(4). ê Việt Nam mà bị coi như freudiste là nặng lắm.


Lần thứ hai tôi bị đánh là vì kịch bản Đêm Cuối Cùng Ngày Đầu Tiên, tôi đã kể trong chương trước. Lần thứ ba nhẹ hơn cả, do truyện ngắn Đêm Mùa Xuân. Nó không bị đánh trên mặt báo, nhưng tập truyện ngắn cùng tên (Nhà xuất bản Lao động, 1963) bị thu hồi một cách lẳng lặng.
Đòn nặng nhất là bài báo của Tố Hữu. Nó xuất hiện trên báo Nhân dân, sau đó được tất cả các báo nhất tề đăng lại, không trừ cả báo Văn Nghệ đã đăng truyện ngắn này. Giáo sư Hoàng Xuân Nhị còn gán thêm cho tôi một tội mà nhà lãnh đạo văn nghệ bỏ sót : “Vũ Thư Hiên đã phất cao ngọn cờ ấn tượng chủ nghĩa nhằm chống lại đường lối văn nghệ xã hội chủ nghĩa của Đảng”. Trong trận đòn hội chợ, nhà phê bình văn học Phong Lê bồi thêm cho tôi một quả đấm muộn trên tập san Nghiên cứu Văn học, cũng với ý ấy. Tôi giận Phong Lê hơn giận vị giáo sư khả kính. Phong Lê thuộc lớp trẻ chúng tôi, lẽ ra không bảo thủ mới phải. Anh em nói Phong Lê chậm hiểu, nhưng không cơ hội. Hai chục năm sau quả nhiên anh cũng bị đánh vì những ý nghĩ vượt ra ngoài khuôn phép.
Từ sau những sự kiện đó tôi không được in nữa.


Nói chung, nhà văn, nhà thơ nào một lần lỡ bút hoặc lỡ lời đều bị như vậy. Vũ Bão(5), tác giả cuốn Sắp Cưới, một cuốn sách hay về Cải cách ruộng đất vì giọng văn dân dã hiếm có, để cho nhân vật nói Trường Chinh bị mất chức tổng bí thư bằng câu “mất bay cái chức Đảng trưởng”, mà nhiều năm bị treo bút, còn hơn cả Lev Tolstoi bị Nhà Thờ Chính giáo Nga phạt vạ anaphema(6) vì tội báng bổ.
Cái khác là Nhà Thờ có thông báo hẳn hoi, có cha đạo cao rao trên tòa giảng cho đàn chiên được biết, còn chúng tôi bị rút phép thông công ngầm, bằng chỉ thị ngầm.
Năm 1964, Nghị quyết 9 được phổ biến rộng rãi, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại hiện đại được phát động người ta liền rầm rộ tổ chức những cuộc rà soát các ấn phẩm để tìm ra những cái có tư tưởng xét lại hoặc bị ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại.


Ai nấy sợ xanh mắt. Bói ra ma quét nhà ra rác, đầu chẳng phải cũng phải tai. Đến nhà văn Đỗ Quang Tiến ở báo Văn Nghệ, người chọn đăng truyện ngắn Đêm Mất Ngủ(7) của tôi, vốn hiền lành, chẳng ai có thể buộc tội ông xét lại, cũng chối phăng tội của ông, đổ ụp nó cho tập thể. Tất nhiên, truyện ngắn được in phải qua mấy người duyệt, Đỗ Quang Tiến đã ranh mãnh cho nó qua được những con mắt cảnh giác lúc chúng mệt mỏi. Đỗ Quang Tiến cười hì hì bảo tôi : “Không làm thế truyện ngắn của cậu không thể ra được, ra rồi mình chối phăng, làm gì nhau tốt ?”.


Tôi quý Đỗ Quang Tiến không phải chỉ vì ông đã tìm cách “lăng xê”(8) tôi. Đối với người mới vào nghề đó là cái ơn lớn. Năm 1956 tôi mới có vài truyện ngắn in trên các tờ Văn Học, Tổ Quốc và Độc Lập. Đỗ Quang Tiến, với tư cách biên tập viên báo Văn Học, đã chọn in Đường Số 4 và sau đó Đêm Mất Ngủ, vào năm 1961. Ông nhà văn xuất thân công chức, trước Cách mạng Tháng Tám ở Nha Thương chính hay Ty Kiều lộ tôi không nhớ rõ, đã có sự hy sinh thầm lặng cho việc vun xới các mầm non văn nghệ. Tôi và các bạn văn trẻ thường tới nhà ông. Chúng tôi chen chúc nhau trên chiếc chiếu hẹp, uống trà đặc, nói chuyện văn chương. Đỗ Quang Tiến có nhiều ý hay, nhiều câu chuyện dí dỏm và những dự định viết không thành. Có người chê Đỗ Quang Tiến hèn. Tôi không nghĩ như vậy. Tôi tiếc những tác phẩm không ra đời. Tôi không coi sự hèn chút ít, tức là hèn nhưng không hại ai, được lịch sự gọi bằng không có gan, là thói xấu. Hầu như các nhà văn vào thời kỳ đó đều hèn một chút, nếu không nhiều. Đó là bản năng tự vệ, có sẵn trong bất cứ sinh vật nào. Không hèn, chính anh sẽ rơi vào sổ đen, nhẹ thì không được lên lương, hoặc mất đứt cơ may ra nước ngoài một chuyến. Nặng, anh có thể bị đẩy đi lao động, chuyển công tác, hoặc bị tống ra ngoài biên chế.
Không kể vụ Nhân văn – Giai phẩm xảy ra đã hơn chục năm, với Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Phan Tại, Hoàng Công Khanh, Phùng Cung(9) bị đi tù, hình thức bắt giam chưa được dùng cho văn nghệ sĩ. Trừ trường hợp Tuân Nguyễn(10), nhà thơ, cán bộ Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, bị bắt mùa hè năm 1965.


Một sáng chủ nhật tôi đến rủ Tuân Nguyễn đi ăn sáng thì thấy cửa nhà anh khóa trái. Tôi ngạc nhiên. Bình thường vào ngày nghỉ nhà thơ lười của chúng tôi chẳng bao giờ dậy sớm. Chủ nhật, mười hai giờ trưa anh vẫn còn trên giường. Tuân Nguyễn có thói quen đọc sách khuya. Uống cà phê một mình thì buồn, tôi dong xe đi tiếp, đến Vũ Huy Cương(11). Cương rầu rầu báo cho tôi tin dữ : Tuân Nguyễn bị bắt rồi. Chuyện thế này : Tuân Nguyễn cả tin hớ hênh đưa cho một ông bạn nào đó cuốn sổ tay trong có mấy bài thơ anh mới làm. Cuốn sổ rơi vào tay công an. Ông bạn của Tuân Nguyễn, hoặc là một nhà mác-xít chân chính, hoặc là một tên chỉ điểm, trong trường hợp này rất có thể chỉ là một. Đáng tiếc, chẳng bao giờ chúng tôi được biết kẻ làm việc nhơ bẩn đó là ai.


Chúng tôi đoán, và đoán không sai : Tuân Nguyễn bị bắt vì bài thơ Trái Tim Hồng Ngọc. Nó được làm nhân đám tang ông Dương Bạch Mai. Anh rất quý ông, gọi ông bằng thầy, ví trái tim ông như viên hồng ngọc vĩnh viễn ngời sáng : “Một tiếng nói chúng tôi chờ đã mất. Đau đớn này đau đớn nào hơn. Chân lý không muốn nằm dưới đất…” Tôi tiếc không tìm được bài thơ của anh để giới thiệu ở đây. Nó vĩnh viễn biến mất. Bài thơ gây xúc động sâu sắc trong chúng tôi hồi ấy. Vì bài Trái Tim Hồng Ngọc, và vì một số bài thơ chưa từng đăng báo, anh bị tù tám hoặc chín năm, tôi không nhớ rõ.
Khi bị bắt Tuân Nguyễn ốm yếu lắm. Anh em đồn anh bị lao phổi. Các đồng chí quẳng anh vào tù, ở trong tù anh lại được các bạn tù, phần đông là lưu manh, chăm sóc. Đêm đầu tiên từ trại tù trở về Hà Nội anh ngủ gục ở ga Trần Quý Cáp. Một cô điếm đi ăn sương gặp anh, thương tình đưa anh về túp lều của cô trong khu ổ chuột sau Khâm Thiên. Cô an ủi anh, cưu mang anh trong những tháng đầu tiên trở về với cuộc sống, khi anh quá chán nản, không muốn gặp mặt bè bạn, thậm chí muốn tự sát. Tuân Nguyễn đứng lên được là nhờ cô. Cảm động trước lòng nhân ái bao la của người con gái không quen biết, anh ngỏ ý muốn gá nghĩa cùng cô, nhưng cô từ chối :”Anh ơi, chúng mình khác nhau nhiều quá, anh làm sao có hạnh phúc với em được. Anh sống sao nổi trong xã hội này nếu vợ anh là em, một con điếm ?!”.
Thời kỳ này là thời kỳ phần lớn những cây bút trẻ im tiếng. Họ không chịu gò mình vào nền văn nghệ quan phương khô xác và kênh kiệu.

Trong bầu không khí ngột ngạt đầy những điều cấm kỵ khó có hứng để mà viết. Nguyễn Tuân phân trần về những cái ông viết để trả nợ cho những chuyến đi : Khi ngồi vào bàn nhà văn phải thấy thoải mái trong lòng thì may ra, may ra thôi, hắn mới viết được một cái gì đó ra hồn. Ngòi bút khi viết mà ngập ngừng, mà run rẩy thì chỉ cho ra những văn phẩm nước ốc, có khi lại còn bốc mùi thum thủm. Khốn nỗi, thời nay im lặng không xong. Im lặng người ta bảo mình không bằng lòng họ, mình có ý chống họ. Cho nên anh đừng lấy làm lạ thấy tôi viết mấy cái ba lăng nhăng. Chẳng qua thỉnh thoảng tôi phải nhảy ra mà hô présent(12) một cái cho phải phép, để cho người ta khỏi bẻ hành bẻ tỏi…”
Ông thầy bói đúng. Có kẻ gắp lửa bỏ tay người…
Sau khi bị bắt tôi tin có thật một Nostradamus(13), cũng như có thật một Trạng Trình.
Nhưng nếu mọi hành động của con người đều nằm trong tiền định thì con người còn là cái gì ? Nó chẳng quyết định được gì hết sao, loại sinh vật có trí khôn là chúng ta ? Nó chỉ là con rối trong tay định mệnh sao ? Nguyễn Du của chúng ta đúng hay sai khi ông nói “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” ?

Chú thích:
(1) Ông Tiến cố (tên thật là Nguyễn Văn Tiến) có lần bị mật thám bắt tại nhà tôi, khoảng năm 1937, hồi ấy ở phố Huế. Mẹ tôi đề nghị viên thanh tra mật thám người Pháp Lanèque để ông Tiến ăn bữa cơm đã xong trước khi vào tù vì “Trời đánh còn tránh bữa ăn”. Lanèque nhận lời dùng cơm cùng gia đình tôi. Bữa cơm chia tay được chụp ảnh kỷ niệm nhưng bức ảnh này đã bị mất trong vụ công an khám nhà năm 1967. Mẹ tôi nhận xét : “Mật thám Pháp đối với kẻ thù lịch sự và tử tế hơn công an ta đối với dân”. Do quan hệ với các chức sắc Thiên Chúa giáo ông Tiến bị chính quyền bắt đi tập trung cải tạo nhiều năm.
(2) Cụ Đinh Chương Dương (1885-1972) là một trong những người sáng lập Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, người tổ chức và đào tạo rất nhiều nhà cách mạng có xu hướng cộng sản tại Việt Nam. Một số được cụ Đinh gửi sang Tàu dự các lớp huấn luyện do cụ Hồ tổ chức. Quê ở huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa. Bị Pháp cầm tù nhiều lần tại nhiều nhà tù khác nhau với số năm tù tổng cộng là 33 năm. Sau Cách mạng Tháng Tám, cụ Đinh ít được nói đến, cho dù với tư cách một nhà cách mạng lão thành đã có nhiều cống hiến cho cách mạng.
(3) Tiếng Pháp secteur, tiểu quân khu, thường bao gồm lãnh thổ của một tỉnh (province) thời thuộc Pháp). Không có khái niệm tương đương trong thuật ngữ quân sự Việt Nam.
(4) Sigmund Freud(1856-1939), nhà tâm thần học người ỏo, người xây dựng ngành phân tâm học, chủ trương bản năng dục bị dồn nén vào vùng vô thức chỉ huy cách hành xử của con người. Ông là tác giả của những cuốn Khoa Học Các Giấc Mơ (1901), Ba Khảo Nghiệm Về Lý Thuyết Tính Dục (1905), Tâm Lý Tập Thể Và Sự Phân Tích “Cái Tôi” (1923).
(5) Tên thật là Phạm Thế Hệ (sinh năm 1932), một nhà văn thiên về lối viết trào lộng, vốn không phải là lối viết được các nhà lãnh đạo yêu thích.
(6) (1828-1910), nhà văn lớn của nước Nga, tác giả Chiến Tranh Và Hòa Bình, Anna Karenina. Do những tư tưởng tiến bộ Lev Tolstoi bị Giáo hội Chính thống Nga rút phép thông công.
(7) Đêm Mất Ngủ – truyện ngắn nói về một thương binh đã chuyển ngành. Vết thương ở đầu gây ra chứng mất ngủ triền miên. Trong một dêm không ngủ được anh đi lang thang trong thành phố. Trên đường anh phát hiện một bóng đen bám sát anh lẵng nhẵng. Anh hiểu đó là một nhân viên công an. Họ chạm trán lúc trời hửng, trò chuyện với nhau và nhận ra nhau là hai người lính ở hai đơn vị quân đội đã từng phối hợp đánh một đồn địch.
(8) Từ tiếng Pháp lancer = ném ra, tung ra, ở đây có nghĩa là giúp đỡ vào văn đàn, để làm quen với độc giả.
(9) Những nhà văn hóa và văn nghệ sĩ bị đi tù liên quan tới vụ Nhân văn – Giai phẩm, trong đó có những người có án và những người không có án.
(10) Tuân Nguyễn, (1931-1983), nhà thơ. Sau khi được tha, với tư cách cán bộ miền Nam tập kết, anh được hưởng trợ cấp hàng tháng khi trở về thành phố Huế sau năm 1975. Tuân Nguyễn vào Sài Gòn sinh sống, rồi mất vì một tai nạn giao thông. Trong lời điếu một người bạn thân của Tuân Nguyễn nói về anh ” Thời đại như ngã ba sông. Anh như con thuyền giữa dòng nước xoáy. Thuyền anh vượt thẳng mà sông lại cong. Chạm bờ sông nước dìm anh tận đáy…”
(11) Biên tập viên Xưởng phim hoạt họa. Sau bị bắt trong vụ “nhóm xét lại chống Đảng” vào đầu năm 1968.
(12) Présent : tiếng Pháp, có nghĩa là : Có mặt !
(13) Nostradamus (tên thật Michel de Nostredame, 1503-1566) nhà vật lý và thiên văn Pháp, nổi tiếng với cuốn Thế Sấm Ký, gồm những lời tiên tri từ năm 1500 tới ngày tận thế, được coi như sẽ xảy ra vào năm 3797. (ĐGBN, Ch,X)


6. Nhà Nhân tướng học Ngô Hùng Diễn
tuongphapngohungdien
tuongphapngohungdien

Cụ Ngô Hùng Diễn, thường được gọi là “thầy bói Diễn”, là một nhà tướng mệnh học nổi tiếng từ cuối thập niên 1930 cho tới khi cụ qua đời, vào năm 1974. Ngay từ đầu năm 1973, cụ đã tiên đoán về thảm cảnh máu lửa ở miền Trung với xác người la liệt, và “CS vào Sài Gòn như chốn không người, rồi tự hủy diệt, tan biến như bọt xà phồng”. Sự việc nêu trên đã được nhiều bậc tiền bối trong làng lý số trước năm 75 đều biết rõ nên tưởng cũng không cần nhắc lại …
Cụ Ngô Hùng Diễn sinh năm Ất Tỵ 1905 tại một làng quê thuộc tỉnh Quảng Yên, là thứ nam trong một gia đình theo truyền thống Nho học. Người anh Cả là cụ Ngô Văn Thuật, bút hiệu Văn Thuật, là nhà báo kiêm kịch tác gia, một trong số những người viết kịch, diễn kịch đầu tiên cùng thời với Vi Huyền Đắc và Thế Lữ. Cụ Văn Thuật cũng là người đem bộ môn Chèo Cổ từ miền Bắc phổ biến tại miền Nam khi có phong trào di cư tị nạn CS năm 1954.

Trước khi trở thành nhà tướng học, cụ Diễn làm việc cho Ngân Hàng Đông Dương chi nhánh Hải Phòng, lúc đó cụ chưa tới 20 tuổi. Do cơ duyên mà cụ gặp và học hỏi được nhiều môn huyền bí do chính thầy Tàu (toàn là những bậc chân sư không luôn) truyền thụ. Nhưng sở đắc của cụ là các môn tướng mệnh học, phong thủy và hoán đổi phương vị sao để cứu người (còn gọi là “hành sao”). Môn thứ ba (hành sao) trong đời cụ chỉ thực hiện vài lần, trong đó có lần cứu đứa cháu trai (con của người anh ruột). Đứa cháu yểu tướng, èo uột có số chết non. Nhờ cụ áp dụng môn chuyển hoán phương vị sao nên tới nay vẫn còn sống và khỏe mạnh.
Quan niệm về tướng số của cụ rất rõ rệt : “Xem tướng xem số là để làm điều lành, tránh điều dữ”. Cụ rất phiền hà khi có người muốn nhờ cụ đem phú quý vinh hoa tới cho mình, kiểu “muốn gỡ nhà người khác đem về làm chuồng heo !”. Theo cụ thì nghề thầy số là nghề …tổn âm đức, vì trong mọi tình huống khi đã xem cho ai, hướng dẫn người xem làm này tránh kia đều là “tiết lộ thiên cơ”. Có lẽ vì vậy nên cả đời cụ chẳng bao giờ dư dã, chỉ đủ ăn đủ mặc và không có con trai nối dõi (chỉ sinh duy nhất có một bà con gái, hiện vẫn còn ở Việt Nam).


Vì quan niệm trên (tổn âm đức) nên cụ không có học trò theo đúng nghĩa. Nếu có ai đó đăng báo vỗ ngực tự xưng mình là đệ tử đích truyền của cụ, thì có nghĩa là người đó đang … nói phét ! Tuy không nhận bất cứ ai là đệ tử nhưng vẫn có một số người theo cụ để học hỏi, và được cụ chỉ dẫn cho một số điều căn bản, với ý hướng chọn bạn tốt, làm điều lành. Những người được cụ chỉ dẫn đều có cách tướng nhân hậu, không tham lam, không dùng môn học do cụ chỉ dẫn làm phương tiện mưu sinh. Một số người hiện định cư tại Hoa Kỳ, như các ông Sáng (cựu đại tá, San Diego), Thụy (giáo sư Santa Clara), Lộc (giáo sư, Garden Grove), Thành (cựu đại tá, Fairfax), Quyến (giáo sư, Falls Church) … đều có nghề nghiệp khác để sinh sống. Tuyệt đối không ai mở văn phòng xem bói hoặc đăng quảng cáo đại ngôn.

Như trên đã nói, đầu năm 1973, khi hiệp định Paris về chiến tranh VN được thi hành thì cụ đã tiên đoán rằng tương lai miền Nam VN sẽ rơi vào tay CS. Về các chính khách đặc biệt cụ đề cập đến 3 nhân vật đóng vai trò then chốt trong ngày mất nước là Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẫu. Cụ nói “Khi VNCH chỉ cần một trong ba bộ mặt sau đây lên nắm vận mệnh thì cầm chắc trong tay ngày mất nước đã tới. Đó là mặt ướt Dương Văn Minh, mặt sưng Vũ Văn Mẫu và mặt tuột Nguyễn Văn Huyền”. Vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, đúng lúc trời đang sáng sủa bỗng tối xầm lại, đài phát thanh Sài Gòn loan tin chính phủ mới, một lúc xuất hiện chình ình ba bộ mặt định mệnh “Ướt, Sưng, Tuột” thì sự việc mất nước là điều dĩ nhiên đã được Thiên Cơ an bày rồi vậy. Nếu đài BBC hay ký giả Derek Wilson có nhận lệnh của ai đó để loan tin bậy về VN, tiếp tay cho CS cưỡng chiếm miền Nam thì cũng là chuyện đã nằm trong định liệu của Tạo Hóa (Thiên Cơ Định Mệnh)….

Trước khi qua đời, cụ được xem một số hình ảnh các nhân vật trong chính phủ Cộng Hòa Miền Nam VN. Cụ cho biết: “đa số quyền cao, cằm đánh vào, là những người có danh mà không có lợi”. Quả nhiên sau khi chiếm được miền Nam không lâu, cả Mặt Trận Giải Phóng lẫn chính phủ do Mặt Trận lập ra đều bị giải thể không kèn không trống. Mặt Trận ra đời năm 1960 với trống rung cờ mở inh ỏi ở Hà Nội vang dội ra ngoài thế giới, khi giải thể chỉ được loan tin đúng 5 dòng chữ corp 6 nơi trang chót của báo Nhân Dân. Nhà viết tự điển Thanh Nghị theo Mặt Trận vừa được cấp cho ngôi nhà góc đường Thống Nhất/Hai Bà Trưng, trông sang trụ sở công ty xăng Esso (ngôi nhà sơn trắng, mái xanh), ở chưa nóng đít là đã bị …. đá đít ra ngoài.

Cụ được hầu hết các nhân vật chính trị lẫn quân sự thời đó mời tới hỏi ý kiến. Cụ nói tướng cách ông Nguyễn Văn Thiệu tai bạt hậu nên không chịu nghe ai, hạ đình bị phá cách nên hậu vận hư hết. Trong thời kỳ NVT làm Tổng Thống, cụ thường được mời vào dinh Độc Lập dùng cơm và nói chuyện thời thế, cụ chỉ yên lặng và nghe nhiều hơn là nói. Lần NVT độc cử, cụ có tìm cách khuyên khéo, nhưng NVT là người chỉ thích làm theo ý mình (duy ý chí). Về bà vợ thì cụ khen là người nhã nhặn, có giáo dục và vượng phu ích tử.

Cụ thường trốn khách, nhất là những vị khách cầu danh cầu lợi. Cụ hay coi chiếu bóng, không giải trí mà để tìm xem những nét tướng không thấy ở ngoài đời. Có phim cụ xem tới 5-6 lần, ngồi liên tục trong rạp chiếu “thường trực” từ sáng đến tối mịt mới về nhà. Trong túi cụ ít khi có tiền. Có tiền cụ mua vé xem chiếu bóng hoặc cho trẻ con mua quà bánh. Tướng cụ cao lớn, dáng đi lắc lư, hai tay ve vẩy, là một trong các cách tướng rất xấu: cách tướng của người hành khất. Nhưng nhờ có những nét tướng khác bù đắp nên cuộc đời cụ tuy không giàu sang, nhưng lúc nào cũng phong lưu. Cụ không có con trai, nhưng khi qua đời cũng vẫn có người chống gậy, là đứa cháu trai gọi bằng chú được cụ “hành sao” cứu mạng năm xưa. Ngoài ra cụ còn có vô số người nhận làm cha nuôi. Đám tang cụ vào tháng 3 âm lịch năm Giáp Dần 1974 khăn trắng chít dài hàng mấy cây số, được coi là một trong số những đám tang lớn nhất trong lịch sử Hòn Ngọc Viễn Đông. Thành phần tham dự ngoài thân nhân họ hàng không quá 50 người, còn lại đều là bè bạn và những người đã từng chịu ơn cụ.

Cụ nói xem tướng không khó, sửa tướng mới khó. Đối với môn địa lý cũng vậy. Có những ngôi nhà người tới ở thường bị đau yếu, nhờ cụ giúp đỡ, cụ chỉ cần thay đổi giường nằm, bàn thờ, hoặc có khi là vị trí cầu tiêu thì tự nhiên đời sống phấn chấn hanh thông hẳn lên.
Hồi sinh thời, cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, Hội trưởng Hội Phật Học Nam Việt, mời cụ xem vị thế chùa Xá Lợi. Cụ nói Chùa cần xây cổng về hướng con đường nhỏ, bên cạnh, nếu không sẽ có đổ máu. Cụ MTT và ban quản trị đều không tin. Khi có vụ Phật giáo tranh đấu đưa tới cuộc cách mạng 1/11/1963, Chùa Xá Lợi trở thành bãi chiến trường người ta mới tin lời cụ. Sau này Chùa được sửa sang lại, làm thêm chiếc cổng bên hông. Cổng chính chỉ mở vào dịp lễ lớn ở mặt đường bà Huyện Thanh Quan, còn hàng ngày ra vào đều dùng cổng bên hông.

Sau cách mạng 1/11/1963 các vị tăng ni muốn tìm một vùng đất rộng để xây dựng một Trung Tâm Phật Giáo. Thượng Tọa Thích Tâm Giác mời cụ đến hỏi ý kiến. Cụ, sau nhiều ngày đi trực thăng xem đất, chỉ vào một khu thuộc Thị Nghè. Lúc đó xa lộ Biên Hòa chưa làm xong, cầu bê-tông nối từ Văn Thánh sang phía ấp Thảo Điền và xã An Khánh Thủ Đức chưa có… Lúc đó, Phật giáo không biết nghe ai bàn, quyết tâm xin bằng được miếng đất ở số 16 đường Trần Quốc Toản. Cụ lại được mời tới coi. Cụ hoàn toàn không đồng ý, vì lẽ khu đất này “hăng tê”, vua chúa Triều Nguyễn khi xưa đã dùng nơi đây làm pháp trường. Thượng Tọa Tâm Giác một mực khăng khăng nói “Phật tới đâu, lành tới đó”. Khi ngôi Chùa Việt Nam Quốc Tự dựng xong với gỗ và tôn … thì nội bộ Phật giáo bắt đầu lủng củng rắc rối. Thật ra thì sự lủng củng này đã có từ trước, nhưng vào thời gian đó mới vỡ tung ra. Cụ thường nói nơi thờ cúng cần chỗ đất tốt, vì quy tụ nhiều người lễ bái. Thế đất 16 đường Trần Quốc Toản có một con lạch như mũi dao đâm sâu vào trong, nhất là tam quan Chùa VNQT làm bằng gỗ và tôn có dáng dấp như cổng nghĩa trang thì dữ nhiều lành ít. Sau này TT Tâm Giác dù có quyết tâm xây ngôi bảo tháp nhưng vẫn không thể hoàn thành. Thời gian trước khi cụ Diễn qua đời, TT Tâm Giác tỏ ý hối tiếc về chuyện đã qua và ngỏ lời xin lỗi. Về miếng đất cụ Diễn “cắm” cho nhà Chùa, sau này trở thành khu Tân Cảng rộng lớn với sông nước hữu tình … thì ai nấy đều tiếc hùi hụi.

Năm 1945, Việt Minh nắm chính quyền, vua Bảo Đại thoái vị trở thành công dân Vĩnh Thụy, cụ tiên đoán thời của vua Bảo Đại hãy còn. Một hôm trong hàng chả cá Lã Vọng ở Hà Nội gặp vua Bảo Đại, cụ cúi mình chào “Hoàng Thượng”. Vua Bảo Đại rối rít đỡ cụ và nói ông không còn làm vua nữa, nhưng cụ một mực gọi “Hoàng Thượng” và mách cho vài điều về mệnh vận trong vài năm sắp tới … Quả nhiên sau đó vài năm (1949), vua Bảo Đại thành vị Quốc Trưởng của chế độ Quốc Gia đầu tiên đương đầu với chủ thuyết vô thần CS.

Gần dinh Độc Lập có một biệt thự của Pháp để lại, biệt thự khá lớn, nhưng không ai có thể ở lâu được, vì trước sau người ở cũng gặp chuyện bất hạnh. Cụ có tới coi và nói “Nhà này chỉ có tướng tinh như Đức Thánh Trần Hưng Đạo mới ở được mà thôi”. Sau 1/11/1963, tướng Dương Văn Minh mời cụ lại và cười tự đắc hỏi “Bây giờ cụ thấy sao ? Tôi ở được chứ ?”. Không muốn đẩy đưa với tướng Minh, cụ đáp cho xong chuyện “Bây giờ ngài đã là Quốc Trưởng rồi mà !”. Câu nói bỏ lửng ở đấy. Nhưng về nhà cụ nói với con cháu “Chết đến nơi rồi mà vẫn còn tự đắc !”. Quả nhiên sau đó không lâu có cuộc chỉnh lý và tướng Minh bị hạ bệ. Sau này biệt thự thuộc chủ quyền một nhà tỷ phú VN. Biết thân biết phận nhà tỷ phú này xin ý kiến cụ. Cụ bảo “Có thể ở, nhưng không được ở phòng khách và toàn bộ ngôi nhà trên … Nơi đây chỉ có thể tiếp khách, làm văn phòng, còn ăn ngủ thì xuống nhà dành cho …. bồi bếp !” Nhà tỷ phú nghe lời cho sửa lại khu nhà phụ cận để ở và không gặp chuyện rủi ro nào, ngoài cái rủi ro mất nước mà toàn dân miền Nam VN đều phải gánh chịu, chứ không phải chỉ mình ông.
Về sinh hoạt thế giới khi đề cập tới nước Anh, cụ nói Thái Tử Charles, con của Nữ hoàng Elizabeth II, không có tướng làm Vua. Ngôi vua nước Anh rồi đây sẽ trở lại dòng vị cựu hoàng thoái vị. Cách đây trên nữa thế kỷ, vị cựu hoàng này đã từ bỏ ngai vàng cưới một phụ nữ Mỹ ly dị chồng, nhường ngôi cho người em, tức Vua George VI, thân phụ của nữ hoàng hiện nay. Tuy sự việc chưa xảy ra, nhưng dù sao cũng là một đề tài chiêm nghiệm. Một bài toán chưa có đáp số.
Cụ Ngô Hùng Diễn mất ngày 13 tháng 3 năm Giáp Dần (1974) tại Quân Y Viện Cộng Hòa, an táng tại nghĩa trang Phước Hòa, Gò Vấp Gia Định.
Lá số Ngô Hùng Diễn

Ngô Hùng DiễnNói về nghệ thuật tướng pháp ở Việt Nam hay có thể toàn cõi á Châu, những thuật sĩ Trung Hoa hay Ấn Độ là những nước có nền văn minh cổ xưa huyền bí quý giá, tôi có thể bảo phụ kính tôn cụ Diễn vào hàng ghế danh dự, nếu đem so sánh tài nghệ với họ.
Tiếc cụ, thì nay cụ cũng đã đi rồi, gọi là có ít lời kính điếu với mớ khả năng sở đoản, xin hương hồn cụ rộng thứ.
Cụ tuổi Ất Tỵ sanh ngày 22 tháng 2 giờ Dần.
Người tuổi Tỵ Mệnh tọa ở Sửu, Thân an tại Tỵ thì 100% không thể là người tầm thường, từ tư cách cho đến hành động dầu ở hoàn cảnh nào, địa vị nghề nghiệp nào cũng phải có liên hệ mật thiết ít nhiều đến danh dự ở nơi ra đời với thẻ bài là công dân.

Định mệnh đặt cụ ở chỗ hiến thân miệt mài làm việc (Bạch Hổ). Thân ở vị trí tỏ rõ một chánh nhân có tài (Thái Tuế, Tả Hữu). Tôi được mục kích một số người, cụ cho biết trường hợp này, trường hợp nọ nếu gặp thì phải tránh. Nhưng người đời có tính tọc mạch thấy đồn hay thì đến năn nỉ nhờ coi, coi rồi lại mù quáng, vì danh lợi, tình duyên cám dỗ để rồi hồn về bên kia thế giới không kịp trở tay.
Không biết có phải, chắc là tướng cũng như số có những cái khắc ác nghiệt chỉ có các thuật sĩ cao tay ấn mới biết, mà rồi người đời quá tham vọng không thể tự kềm chế lấy mình nên không tránh nổi, lại đổ cho là Định Mệnh đã an bài. Biết đâu chỉ là con đường chông gai, người biết vẫn qua khỏi được.
Thiên Tướng ở Sửu không phải là hãm bị Không, Kiếp, Hỏa, Suy làm cho đời kÉm giá không được toại ý vừa lòng, chi phối người Hỏa mệnh một cách ngang nhiên cùng Thanh Long (Thủy) đời phải nhiều phen lênh đênh chìm nổi sống còn. Ở đây Thiên Tướng vì Không, Kiếp không còn là viên tướng quyền uy, chỉ còn là một danh sư, một tuyệt nhân của cửu lưu thuật học cùng với Thiên Khốc ở Sửu (âm cung) nêu cao danh nghĩa chánh phái của vị trí Bạch Hổ.

Thân vô chính diệu ở Tỵ tuổi Hỏa đắc Thái Tuế có một giá trị gấp ngàn lần ý nghĩa cả về phương diện vị trí lẫn hành sao nếu là Liêm Trinh (Liêm Tham ở Tỵ) nếu là Thái Dương thì lại nghịch địa âm dương (Dương hỏa đóng âm cung). Cái tai hại là cung Tài Phủ phùng Không, Kiếp, Phi, Phá, hèn chi lúc sinh thời cụ thường tự nhận là một kiếp khất nhân, theo tôi tưởng đây là một chúa cái bang (vua hành khất) giang hồ với túi gấm tiêu dao được đời trọng vọng ngày này sang tháng khác
.
Bởi thế cụ Diễn mới không mở phòng tiếp khách, mà tiếp khách với giá nào thù lao cho tương xứng với thước ngọc khuôn vàng được cụ chỉ cho. Tôi đã biết một vị bác sĩ mà là một bác sĩ danh môn chánh phái (Mệnh đóng tam hợp tuổi) có thực tài chuyên khoa (Khoa, Tả Hữu) đã nói một câu thành thực khiêm tốn mà xác đáng: “Nghề chúng tôi, nói là cứu nhân độ thế, chỉ cứu cho từng mạng người một. Còn các vị tướng số tinh vi cứu cho cả một gia đình, địa lý chính tông cứu cho cả một dòng họ” Tưởng không phải là không đúng vậy.


Cũng có dư luận cho cụ là quá kiêu, nhiều khi không chịu tiếp một số người đã cầu khẩn xin cụ năm ba câu. Tôi xin thưa thật nghề tướng số nhiều khi dẫn thuật sĩ đến chỗ khó ăn, khó nói, dễ mất lòng người. Một dị nhân quái kiệt như cụ Diễn gặp nhiều khi không muốn nói một câu nào, vì người ngồi trước mặt chỉ là một thứ ký sinh trùng nguy hiểm, một kẻ chỉ có luật pháp chí công thiện nhiên mới răn dạy nổi, tưởng mình có nói cũng chỉ hoài công vô ích, còn mang oán là khác.

Huống chi Thiên Tướng, ngoài những đặc tính đôn hậu mà cương nghị, cũng còn những tính tình nghệ sĩ như ai, cũng ham thú vui thường tình, đàn ngọt hát hay, rượu nồng dê bÉo, đi mây về gió mới nẩy những nhận định quyết đoán của hạng cao thủ thượng thặng, kiếm khách giang hồ. Một khi đã gặp những khuôn mặt chán nản, trong người lại thấy như thiếu thốn nguồn cảm hứng, thử hỏi dẫu là nhà thơ tài hoa đến đâu cũng khó khơi ra được những áng văn tuyệt tác, những câu lên bổng xuống trầm.
Có người còn nói, cụ không mở phòng để lấy thù lao, là cả một sự tính toán khôn khÉo cho những ai mắ nợ tinh thần, cái ân tình nghĩa lụy này nó không biên giới. Tôi nghĩ, không ai biết mình hơn là mình, cụ dẫn dắt đời cụ theo con mắt nghệ thuật của tướng pháp mà trên bản số này thấy nó đi đôi với nhau.

Người đứng trúng tam hợp Thái Tuế là người chỉ biết phục vụ ngay thẳng, đắc Tả Hữu, đủ tài ba quán xuyến ngộ Không, Kiếp biến thành Không đắc dụng (tức là không có lợi gì cho bản thân). Trái lại người đứng tam hợp Tuế Phá, Tả hữu, Không Kiếp là kẻ hận đời, có tài mà là tài của phường lối trên lừa dưới, bịp bơm. Còn sự thanh quả ra sao tùy ở Thiên Mã (người ở thế Tuế Phá, Tang Môn, Điếu Khách thường trực có Thiên Mã) có đắc cách hay không.

Tả Hữu, Không Kiếp của cụ Diễn nó không cho phÉp cụ kinh doanh sự nghiệp nào khác hơn của Thiên Tướng (danh sư tướng pháp). Theo đường này lại đắc dụng cho thế nhân mà không lợi lộc gì cho bản thân vì Phủ, Không, Kiếp, Phi, Phá (Tài) thì lấy thù lao làm gì. Với nghệ thuật siêu đẳng của cụ tưởng không có giá nào tương xứng, mà còn hại cho cái ý nghĩa cao đẹp của một hiệp khách chánh phái cứu nhân độ thế, và còn là bức tường hạn chế với một số thiện nhân vì tài chánh co hẹp mà không dám đến.
Đời cụ bắt đầu vang danh từ thời gian ở Dậu (46-55) cho đến nay ở cung Mùi (66-75) ở trong thế khắc xuất của thời gian, sinh xuất của không gian, hạn hành Thiên Tướng gặp Triệt đắc Khoa trong nghịch cảnh Lộc của Phủ, Không, Kiếp.
Là một hậu sinh, đã được mắt thấy tai nghe lời vàng ngọc của cụ với mớ kinh nghiệm nông cạn ở lá số này, cụ Ngô Hùng Diễn quả là một lão ông Hồng Thất Công (một trong ngũ bá võ lâm của Kim Dung) hiệp khách giang hồ khất thực bằng túi găm với những đường kiếm tuyệt luân không đối thủ, mà non nước Việt Nam sau này, còn lâu mới có được người nối gót.

 https://tuongphapngohungdien.com/nha-nhan-tuong-hoc-ngo-hung-dien/


Gần đây , trong sách vở và truyền khẩu đã có những câu sấm đã ứng nghiệm:

-Ai ơi chớ vội làm giàu,
Thằng Tây nó cút, thằng Tàu nó sang.

-Tiến lên chiến sĩ đồng bào,
Đánh cho Mỹ cút , cho Tàu vào Việt Nam!

Từ khởi đầu chiến tranh Việt Nam, Trung Cộng lập căn cứ biên giới Việt Hoa hàng ngàn cây số vuông để huấn luyện và tiếp tế cho Việt Cộng. Nơi đây không người Việt Nam được lai vãng, chỉ có quân Trung Cộng là toàn quyền. Trong "Đêm Giữa Ban Ngày", Vũ Thư Hiên đã nói việc này.

XEM BÓI Ở MỸ
Tác giả: Minh Nguyệt Graves

Bài số 5378-19-31219-vb5050318


Tác giả cùng 2 con gái tới Mỹ ngày 27 tháng Bảy năm 2001 theo diện đoàn tụ. Mười sáu năm sau, bà hiện có tiệm Nails ở Texas và kết hôn với một người Mỹ. Với sức viết giản dị mà mạnh mẽ, tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ năm 2017. Sau đy là bài viết mới của bà.


***


Khi chuẩn bị đi Mỹ, tôi rất lo lắng chuyện tiền bạc, công ăn việc làm, sức khoẻ, con cái nhưng dường như tôi không hề nghĩ tới những vấn đề về đời sống tinh thần mình sẽ gặp phải, cứ như thể ở Mỹ thì không có những ưu tư lo lắng như bên quê nhà! (Đúng là mụ nhà quê!) Rằng mình sẽ làm gì nếu gặp phải những vấn đề nan giải, cần dựa vào đâu để tìm sự bình an về tinh thần?

Đến khi qua Mỹ rồi, thì mới nhận ra một sự thật là, ở Mỹ cũng như bên Việt Nam thôi, cuộc sống không phải lúc nào cũng êm ả, bình yên, con người không phải lúc nào cũng gặp toàn chuyện may mắn. Bệnh tật có thể phát ra, vào chính lúc mình ít ngờ đến nhất! Tai nạn xe cộ, bị kiện thưa, công việc có lúc trì trệ, bế tắc, sẽ phải lo lắng đến mất ăn mất ngủ, loay hoay để tìm ra câu trả lời cho bài toán của đời mình: “Bỏ đi tìm công việc mới, hay tiếp tục công việc hiện tại?”

Sẽ có những lúc phải quyết định việc quan trọng, phải chọn lựa "Yes or No.” Và tôi, một người mẹ với 2 đứa con dại, không có người bạn đời để được an ủi, góp ý, bàn bạc thì khi phải đối diện với những câu hỏi đó, cảm thấy áp lực dường như nặng nề nhiều hơn những người đàn bà khác thì phải.

Nếu bạn là tôi, bạn sẽ làm gì?

Tôi hay đùa: bây giờ cái gì không biết thì người ta Google để coi thiên hạ làm răng mà bắt chước! Còn tôi, bắt chước Mạ tôi ngày xưa, hễ cần là đi xin Xăm hoặc đi coi bói.

Nhớ mỗi lần Tết đến, ngày đầu năm, việc đầu tiên Mạ tôi làm là đi chùa, thường là chùa Diệu Đế hoặc chùa Ông ở đường Bạch Đằng. Bà nói: “Hướng mô mà đi tới Chùa cũng là hướng tốt hết!”.

Ý bà là người ta thường nói đến việc xuất hành ngày đầu năm, thì nên chọn hướng nào (Đông Tây Nam Bắc…) cho hợp với tuổi của gia chủ, và hợp với năm đó, nhưng theo bà, cứ đi tới chùa lễ Phật là tốt nhất. Tiếp theo đó, bà sẽ xin một quẻ Xăm đầu năm.

Thế bạn đã bao giờ xin Xăm chưa?

Theo tôi biết thì cách xin Xăm và Xăm của ai thì tuỳ vào mỗi Chùa.

Tôi lấy ví dụ cho dễ hiểu: Chùa thờ Ngài Thánh Trần, thì gọi là Xăm của Đức Thánh Trần, hay Xăm xin ở chùa thờ Phật Quan Âm thì gọi là Xăm Quan Âm...Và mỗi nơi cũng có chút ít khác biệt.

Việc đầu tiên là bạn thắp hương trong Chùa, rồi đến khu vực có bàn thờ dành riêng cho việc xin Xăm. Bạn thắp ba nén hương, và khấn lạy trước tượng của Ngài, thành khẩn cầu xin. Chỉ nên xin một điều thôi, đừng xin nhiều điều, rất khó đoán được câu trả lời.

Tiếp đó, có hai miếng gỗ hình trăng lưỡi liềm, để bạn xin quẻ. Mặt sấp mặt ngửa là coi như được, (Cả hai cùng sấp hay cùng ngửa là không coi được!) Tiếp đó, bạn dùng 2 tay cầm cái hộp ống đựng các que Xăm (Có 100 que thì phải?) và lắc cho đến khi nào văng ra một que. Mỗi que có ghi một con số, và mỗi con số sẽ tương ứng với một bài thơ, được in trong những tờ giấy nhỏ đặt trên một cái kệ sách gần đó.

Bài thơ 4 câu bằng chữ Hán, có dịch ra Việt Ngữ, kèm theo lời giải, lời bàn. Sau đó thì tuỳ theo suy đoán của bạn, mà vấn đề sẽ được giải quyết.

Bắt chước Mạ tôi, đầu năm mới hay những khi có chuyện nan giải, không biết hỏi ai, cảm thấy bế tắc, thì tôi lại tới Chùa xin Xăm. Cách người ta xin Xăm như đã nói ở trên, chứ còn tôi, không có kiên nhẫn để lắc hộp Xăm mô! Hoặc là tôi lắc mạnh quá, nó rớt ra cả nạm, hoặc tôi lắc chậm quá, lắc cả tiếng đồng hồ cũng chẳng có que nào rơi ra! Tôi đã thử 3 lần rồi! Có coi được đâu!

Nhưng chẳng lẽ tôi chịu thua sao? Tôi có cách riêng của tôi, tôi chỉ nhắm mắt và bốc đại một cây Xăm, vừa nhanh vừa khoẻ, người tới sau mình không phải đợi lâu! Ai cũng có lợi cả!

Hồi còn ở bên Việt Nam tôi thường đi xin Xăm ở chùa Phước Thành, đường chi thì tôi quên mất tên, mà chỉ nhớ qua cầu Đông Ba. Từ trong Thành nội đi ra hướng cửa Đông Ba, vượt qua dãy bán Nem Chả Tré hấp dẫn đường Đào Duy Từ, thì bạn sẽ thấy cây cầu ở phía tay phải, nó lót bằng ván, có rất nhiều lỗ hổng thiệt đáng sợ, (mà chẳng có ai sợ rớt xuống cầu cả, người ta anh hùng thiệt!)

Sau khi qua khỏi cầu thì sẽ thấy chùa Phước Thành.

Thời đó có cái sướng là xin Xăm xong, Ông Thầy ở trong Chùa sẽ giảng cho mình hiểu lời bài Xăm, rồi tuỳ khả năng tài chính của mình,(hay mức độ đoán trúng của thầy) mà mình cúng dường cho Chùa.

Ngày Tết Nguyên Đán ở Austin nơi tôi đang sống, không phải là ngày lễ của cộng đồng, nên mọi người vẫn đi làm bình thường, nhưng tôi lấy ngày nghỉ, rồi tôi cũng diện áo dài đẹp vô, đi lên chùa Linh sơn trên đường Duval, hay chùa Tàu trên đường Lamar, để thắp hương lạy Phật đầu năm, xin lộc và xin Xăm.

Ngoài ra, có lần tôi phân vân không biết nên dọn về thành phố khác ở, hay lần tôi muốn mở tiệm làm ăn riêng… thì cũng lên chùa xin Xăm để mình thêm can đảm mà quyết định, (giờ mà có ai hỏi tôi là điều đó đúng hay sai thì tôi cũng chịu thua!!!)

Ngoài việc tin vào Xăm, thỉnh thoảng tôi cũng đi coi bói, nhưng tôi không mê lắm, vì tôi vốn dĩ “cứng đầu” Thầy coi không có được!

Bạn đã bao giờ đi coi bói chưa? Bạn có tin vào những điều người ta nói cho bạn biết về cả tương lai và quá khứ của mình không?

Khoảng 17 năm trước, lúc đó tôi 38 tuổi, một buổi chiều rảnh rỗi, tôi ra nhà người bạn gái ở ngoài cầu An Hoà chơi.

Ở Huế thời đó, người ta ăn mặc giản dị lắm, không cầu kỳ như bây giờ. Hầu như đi đâu người ta cũng mặc “bộ đồ bộ”, nó không phải là Pyjama như bộ đồ ngủ mà đơn giản nó là một bộ, “set”, áo và quần cùng màu, để mặc ở nhà suốt ngày, đi chợ, đi quanh quẩn trong xóm, hay chở con đi quanh phố phường cũng không sao!

Hôm đó, tôi không đi làm, nên mặc bộ độ “pô- bờ- lin" màu xanh trời, do chính tay tôi tự may, áo kiểu bà ba, cổ viền trái tim, tay dài và có 2 túi lớn, có xẻ hai bên hông. Quần dài đơn giản và mang đôi dép nhựa "Tiền phong" màu trắng, thời đó khá phổ biến.

Hai đứa tôi nói chuyện tầm phào một lát thì bạn nói:“Đi coi bói Nguyệt hè, trên xóm ngoại có bà ni mới nổi lên coi bói hay lắm, ai cũng khen, người tới coi đông ghê, nghe mô muốn coi phải đợi cả ngày.”

“Tính tau mi biết rồi, có tin chi mấy chuyện bói toán mô, mà mi rủ?” Tôi nói.

"Kệ, chừ rảnh không làm chi, đi coi cho vui.” Bạn tôi năn nỉ.

Vì bạn tôi mới đi có công chuyện về, nên ăn mặc chỉnh tề, quần “Tây’ và áo “kiểu”, còn tôi thì trong bộ bà ba, nên tôi hỏi: “Nhưng mà tau mặc ri, mi mặc rứa, ngó có kỳ không?”

"Có chi mà kỳ, trên xóm thôi.”

Nể bạn, tôi chở hắn đi.

Qua khỏi đường rầy xe lửa, rẽ vào cái ngõ hẻm bên tay trái, đi vòng vèo thêm hai ba con hẻm nhỏ nữa thì tới. Căn nhà chia làm 2 phần chính và cái sân ở giữa. Ngôi nhà nhỏ bên tay trái là nơi “Thầy” sẽ coi bói, cửa đóng hờ, người ra vào rón rén và vẻ mặt trông rất thành khẩn.

Một người đàn bà đi ra, hỏi bạn tôi để ghi tên ai muốn gặp Thầy. Ít phút sau, bà trở ra, nói :“Thầy mắc qua bên Cam- bốt chữa bệnh rồi, chưa biết khi mô về.” Rồi bà quày trở vào trong.

Tôi nói với nhỏ bạn: “Từ Cam- bốt mà về đây, đi xe chắc cũng 2 ngày, ai mà đợi cho nổi, thôi mình về đi.”

Bạn tôi la: “Nói bậy bạ, Thầy đằng vân cỡi gió, chơ có phải người trần mắt thịt như tụi mình mô mà đi xe. Đợi thêm chút nữa coi răng.”

Lê la đi quanh quẩn nhìn mấy cái Am thờ ở ngoài sân, tôi tò mò nhìn vào khe cửa sổ của căn nhà bên trái, vì căn nhà chính thì ngó đơn sơ, nghèo nàn, trống trải lắm.

Có hai người phụ nữ đang ngồi ở góc nhà, vẻ mặt buồn bã, áo não vô cùng.

Rồi người đàn bà ghi tên tụi tôi lúc nãy lại bước ra, thì thào gì đó vào tai họ, và thấy vẻ mặt họ tươi lên. Lát sau nữa thì có một người đàn ông đi ra bàn bạc với họ việc mua sắm lễ vật để cúng, mới nghe sơ sơ cũng đã bạc triệu, (Tôi đúng là tò mò thiệt! Việc của ai mà cũng săm soi!)

Và một lần nữa người đàn bà đó lại mở cửa, tiến đến chỗ hai đứa tôi: “Thầy về rồi, hai chị vô đi.”

A ha! Bạn tôi nói đúng thiệt, thầy đi máy bay hoả tiễn!!!

Sau khi thắp hương ở mấy cái bàn thờ, chúng tôi đến ngồi trước mặt một người phụ nữ đang ngồi xếp bằng dưới đất, chứ không có cái bàn nào cả. Căn phòng tối mờ, không có đèn, chỉ có ánh sáng từ các ngọn đèn trái ớt trên các bàn thờ, nhưng tôi cũng có thể nhìn thấy mặt của bà ấy. Tóc vấn khăn nhiều màu, bà mặc áo dài cũng nhiều màu, nhiều lớp, và đánh phấn sáp trắng lốp rất dày.

Bà nhìn vào mặt tôi chăm chú, rồi hỏi: “Chị sinh năm mô?”

”1962” Tôi đáp gọn lỏn.

“Con Cọp đây. Tướng số chị sang lắm, nhà chị trước mặt có cây lá 2 màu, gần ngã ba đường. Từ năm 40 tuổi trở đi, người ta có chi thì chị có nấy. Đừng lo nghĩ buồn phiền chi cho cực xác. Hậu vận chị sướng lắm, thanh nhàn, an lạc.”

Bà nói một mạch không dứt, rồi khoát tay ra dấu:”Xong rồi.”

Đến phiên bạn tôi thì Bà lại nói nhiều, nói lâu, tôi nhớ đại ý là số bạn tôi vất vả, cực khổ hơn tôi nhiều..

Những gì bà Thầy bói đã nói về mình cứ làm tôi phân vân. Chở bạn về lại nhà, tôi còn đùa: “Bà thầy bói nói rứa có trúng không mi? Chơ tau chừ chồng không có, công việc thì cực quá, đàn bà con gái mà cứ phải lang thang chạy tắc xi ngoài đường, trời mưa bão mịt mùng cũng phải đi làm, con còn dại, giao cho bác giữ trẻ mà cứ lo ngay ngáy. Lương tiền thì đủ sống qua ngày, chơ lấy mô ra mà giàu với an nhàn mi hè? Giả thử như nói mình ưa đi Mỹ chừ có được không nà? Mà bà nói là người ta có chi thì tau có nấy mi hí?”

Ấy vậy mà, bạn có tin không, mấy tháng sau, giấy tờ bảo lãnh cho gia đình tôi sau mười mấy năm thì được tới phiên gọi đi bổ sung, và chỉ một năm sau, đúng là tôi đi Mỹ thiệt! Nói như lời ông anh (Người làm giấy tờ bảo lãnh) cho chúng tôi, lúc đó đang về Việt nam chơi, “Niềm vui không ngờ mà tới,” khi anh mở cái phong bì to tổ bố.

Và một năm sau khi tới Mỹ, tôi kết hôn lại.

Hai vợ chồng tôi lo làm, tiết kiệm từng đồng, nên nhờ trời không có nợ nần, nhà cửa ổn định. Cuộc sống không có gì để phàn nàn, ngoại trừ việc chúng tôi không có con trai! Ha ha ha. Chồng tôi cười: “Thì mình có con rể, hay cháu trai cũng được mà!”

Bà thầy bói nói đúng quá đi chứ!

Cám ơn bà Thầy!

Như đã nói ở trên, tôi không mê coi bói nên hiếm khi đi coi. Đến năm 2010 thì xém chút nữa tôi lại được đi coi bói!

Chuyện là từ sau khi Mạ tôi mất (tháng 4 năm 2009,) ba tôi dọn về Cali ở. Thỉnh thoảng điện thoại hỏi thăm, ông hỏi: “Con ở Austin, nghe có thầy bói mô hay, coi cho ba một quẻ, coi Mạ có siêu thoát chưa?”

Tôi cười: “Rồi, Mạ siêu thoát rồi, coi bói chi cho mất công, tốn tiền vô ích!”

Ba tôi la: “Răng con biết?”

Tôi đáp: “Cái chi mà con không biết! (Ha ha ha), người tốt như Mạ khi chết sẽ siêu thoát, chắc chắn luôn!”

Đùa vậy thôi, nhưng khi nghe chị bạn làm cùng chỗ, bảo có ông thầy coi bói ở Houston, coi trúng như thần, thì tôi mới gọi chị ấy để hỏi cho kỹ. Tôi dặn chị, khi lấy hẹn cho tôi, thì lấy tên Mỹ của tôi, và chuyện muốn hỏi là về người Mẹ đã mất.

Hôm sau, chị gọi lại trả lời: “Đã lấy được hẹn, và Thầy có dặn là, Thầy nhập vai người nào thì sẽ nói ngôn ngữ của người đó. Thầy sẽ nói chuyện với em bằng tiếng Mỹ đó nghe.”

Nghe xong, tôi phát hoảng! Mạ tôi tuy ở Mỹ 18 năm, nhưng không biết tiếng Anh. Bà chỉ biết lõm bõm vài ba câu thông thường như “How are you. Thank you," rồi thôi. Nếu ông Thầy ni nói tiếng Anh, thì chắc chắn người mà ổng nhập vai, không phải là Mạ của tôi rồi!

Vì lý do đó, mà tôi không đi coi bói giùm cho ba tôi nữa!

Thật tình tôi tin vào việc xin quẻ Xăm hơn là coi bói, có thể vì những sự trùng lặp ngẫu nhiên trong đời. Mỗi lần tôi xin, và quyết định nghe theo lời giải của bài Xăm thì kết quả như ý, khiến tôi càng tin hơn.

Thế nhưng có một điều tôi cứ thắc mắc mãi, là Phật không dạy người ta tin vào những điều mê tín dị đoan, như coi bói, đốt vàng mã, vậy thì sao lại có chỗ để xin Xăm ở trên Chùa nhỉ?

Thế bạn có biết không? (Vì chùa là nơi tụ họp nhiều người)

Minh Nguyệt Graves

No comments: