Friday, November 2, 2018

CHÍ SĨ TRẦN VĂN ÂN


          
Tiểu sử Trần Văn Ân

 Ngày hôm nay xin cáo với Đất Trời: Trần Văn Ân, Pháp Danh Quang Huy, đã từ biệt cõi đời, hòa trong HỒN NƯỚC, tìm về CHÂN NHƯ, trong GIẤC NGỦ MUÔN ĐỜI … 
Cụ Trần Văn Ân sanh vào giờ Tý ngày ông Táo về trời, cuối năm Nhâm Dần, tức ngày 28 tháng 1 năm 1903, tại làng Định Yên, quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên, sau thuộc quận Lấp Vò, tỉnh Sa Đéc, ở tả ngạn sông Hậu Giang.

Cụ xuất thân nhà nghèo, ông thân sinh làm Thày Thuốc Bắc, thêm nghề làm ruộng. Vì lúc sơ sinh bị nước lụt cuốn trôi may nhờ bà ngoại tình cờ bắt gặp vớt lên được cứu sống, nên để nhớ ơn bà, ông thân sinh mới đặt tên cụ là Ân . Thuở nhỏ, cụ theo bà nội và người bác tu hành theo phái Minh Sư, có pháp danh là Quang Huy, ăn trường trai, tụng kinh thầm, và không được đến trường học. Đến năm 1911, sau khi bà nội qua đời, ông thân sinh mới cho cụ vào học ở trường làng Thốt Nốt. Năm 1914, nhờ một sự tình cờ hy hữu, cụ được nhận theo học trường Chasseloup Laubat tại Sài Gòn. Vào lúc đó, không ai có thể ngờ một chú bé nhà quê nghèo nàn, không biết đi giày, ăn chay, xách hũ tương mỗi sáng đến trường, lại có thể theo học chung trường với các cậu công tử con nhà quyền thế kiêu sang.


Chỉ vài năm sau, cụ trở thành một học sinh xuất sắc, thường đứng đầu trong mọi môn học. Các giáo sư của cụ đều đặn can thiệp cho cụ luôn có đủ học bổng để tiếp tục học trình. Sau này, vào năm 1979, một trong các vị giáo sư ấy, ông Tullié, ít lâu trước khi qua đời ở Pamiers, gần Toulouse, cho biết : ông luôn hãnh diện vì hai người học trò xuất sắc là Trần Văn Ân và Lévy (sau dạy đại học Sorbonne). Ông từng vận động cho cụ thi Tú Tài Pháp, nhưng chính quyền thực dân chỉ chấp nhận cho cụ thi « Tú Tài bản xứ ». Bất mãn, cụ bỏ học.

Năm 1923, nhờ Thái Ngươn Xáng, một bạn học khá giả người Việt gốc Hoa giúp đỡ, cụ đi Trung Quốc, ở tại Sán Đầu ba năm, học Hán và Anh Văn cũng như các tiếng địa phương như tiếng Hẹ, Triều Châu, Quảng Đông.

Năm 1926, cụ đi Pháp du học, nhờ một người nhà giàu tặng tiền hải phí, để mượn cụ dắt theo và lo cho hai người con của ông ta. Tại Paris, do sự giới thiệu từ Việt Nam của bác sĩ Trần Văn Đôn (sau làm Đô Trưởng, thân phụ của tướng André Đôn), cụ gặp luật sư Dương Văn Giáo, lúc đó đã là một nhân vật nổi tiếng đấu tranh cho sự độc lập của nước nhà. Từ cuộc gặp gỡ đó, cụ bắt đầu dấn thân vào chính trị.

Tại Aix en Provence, cụ cho ra đời một tờ báo sinh viên tên là Việt Nam Học Báo, do cụ làm chủ bút. Cuối năm 1927, cụ và Liêu Sanh Trân (sau là thành viên trung ương của Đảng Cộng Sản Pháp) đứng ra triệu tập Đại Hội Sinh Viên Đông Dương lần thứ nhứt, với sự tham dự của nhiều tên tuổi sẽ đóng những vai trò quan trọng trong các giai đoạn lịch sử sau đó, như: Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Trịnh Đình Thảo, Dương Văn Giáo, Trần Văn Thạch, v.v… Cụ cũng gia nhập Đảng Việt Nam Độc Lập do Nguyễn Thế Truyền lãnh đạo, và là hội viên của Hội Nhân Quyền, cũng như của Liên Minh Chống Áp Bức Thực Dân (Ligue contre l’opression coloniale).

Về nước, cụ và LS Dương Văn Giáo lập ra tờ báo Đuốc Nhà Nam. Năm 1929, cụ được mời đi dự Đại Hội Toàn Quốc lần thứ ba của Trung Hoa Quốc Dân Đảng tại Nam Kinh. Nhờ bạn Quốc Dân Đảng Trung Hoa chu cấp hoàn toàn phương tiện, bác nán lại Trung Quốc một thời gian dài, thăm viếng nhiều nơi cũng như kết giao rộng rãi.

Trở lại quốc nội tiếp tục hoạt động được ít lâu, cụ buộc phải lánh về quê, và được một người bạn giới thiệu làm giám đốc một công ty rượu đang phá sản tên là Phước Hiệp, còn gọi là Distillerie de Thốt Nốt. Cụ quyết định « làm cách mạng » trong lề lối quản trị công ty, và chỉ ít lâu sau, khiến cho công ty phát đạt trở lại. Tuy vậy, cụ vẫn không quên sứ mạng của mình, và luôn sử dụng cơ sở của công ty để tiếp tục hội họp các bạn ái quốc như quý ông Phan Khắc Sửu (sau làm Quốc trưởng), Tạ Thu Thâu (lãnh tụ Đệ Tứ, bị CS đệ tam giết năm 1945), Nguyễn An Ninh (lúc đó bán dầu cù là, chủ trương báo La Lutte, sau chết tại Côn Đảo), Võ Oanh (sau theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam), Ngô Ứng Tài (thuộc Trung Hoa Quốc Dân Đảng, sau có làm chủ tịch Đảng Dân Chủ thời Đệ Nhị Cộng Hòa), Trần Văn Thạch (lãnh tụ Đệ Tứ, sau chết về tay CS đệ tam), Nguyễn Văn Tạo (sau làm tổng trưởng Lao Động trong chính phủ Hà Nội), Lê văn Thử, Nguyễn Văn Khanh, và cả bạn Trung Hoa Quốc Dân Đảng từ Trung Quốc qua thăm như Châu Lực (luật gia, sau chết trong biến loạn).

Kết quả của các cuộc hội họp đó là : vào năm 1940, cụ bỏ hết sự nghiệp lên Sài Gòn tổ chức Đảng Nhân Dân Cách Mạng. Năm sau, cụ bị bắt, ra tòa vì tội mưu toan lật đổ chính quyền Pháp tại Đông Dương, cùng với các ông Phan Khắc Sửu (lúc đó là công chức), Dương Văn Giáo, Huỳnh Ngô, Ngô Đình Đẩu, Huỳnh Hoài Lạc, Võ Oanh, Trần Quốc Bửu (sau làm chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công), BS Nguyễn Văn Nhã, v.v…

Vì thiếu bằng cớ và nhờ lời khai gỡ tội của người bạn thân là Võ Oanh, cụ chỉ bị giam tại Bà Rá, cho tới khi một người thuộc Đảng Xã Hội Pháp làm tỉnh trưởng Biên Hòa ký giấy phóng thích. Các ông Đẩu, Nhã, Lạc … cả thảy bảy người được trắng án, trong khi bảy vị khác gồm các ông Sửu, Oanh, Bửu, v.v… bị đày đi Côn Đảo. Riêng LS Giáo vì mang quốc tịch Pháp nên ngồi tù tại Sài Gòn, sau được cụ Trần Văn Ân tổ chức cứu thoát.

Ra tù, cụ lãnh chức Tổng Thư Ký Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để lãnh đạo, tại Miền Nam. Vì nghĩ tổ chức này liên hệ nhiều với người Nhật, lúc đó đang đóng quân tại Việt Nam, có thể có những trở ngại về sau này, nên cụ cùng các ông Ngô Đình Đẩu, Nguyễn Văn Sâm và Hồ Văn Ngà thành lập Việt Nam Chính Đảng, sau đổi tên là Đảng Quốc Gia Độc Lập. Cụ luôn nghĩ người Nhật sẽ bại trận.

Năm 1943, tại Sứ Bộ Nhật, trước mặt lãnh sự Iida và đại diện 13 tờ báo Nhật cùng một số bạn Việt Nam (trong số có Nguyễn Văn Sâm lúc đó được Nhật che chở dưới tên giả là Dương Sĩ Kỳ, và Phạm Ngọc Thạch, một người CS « nằm vùng »), cụ tuyên bố : « Đây là một cuộc chiến tranh sản xuất, Nhật không sản xuất lại Đồng Minh nên sẽ bại trận. Nhật Bản nên giúp người Việt Nam chúng tôi dành lại độc lập. Đó là cách thức để lưu lại một ưu thế trong hòa bình dù cho có thua chiến tranh. » Cụ đề nghị võ trang một lực lượng ái quốc, giao cho lãnh tụ Cao Đài Trần Quang Vinh chỉ huy. Cụ cũng tiên liệu việc Nhật đảo chánh Pháp sẽ không thể tránh được, và nghĩ cần có một lực lượng Việt Nam tiếp tay với Nhật lật đổ chính quyền thực dân. Cùng trong giai đoạn này, với sự giúp đỡ của người Nhật, cụ tổ chức cho LS Dương Văn Giáo trốn thoát tù Pháp, và sắp xếp để Đức Thày Huỳnh Phú Sổ liên kết với các lãnh tụ Đệ Tứ Quốc Tế như tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch (sau đều bị CS đệ tam giết, cũng như LS Dương Văn Giáo).

Hoạt động của cụ làm thực dân lo ngại và tìm mọi cách mưu hại. Người Nhật nhắm không bảo đảm nổi an ninh cho cụ nên đề nghị đưa cụ đi lánh nạn ở Singapore. Cụ can thiệp để mang theo một người bạn đang bị truy tố tên Đặng Văn Ký (sau theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam), với tính cách là cộng sự viên (người dự liệu đi cùng lúc ban đầu là ông Diệp Ba). Sau có thêm quý ông Trần Trọng Kim và Dương Bá Trạc, sang tới Singapore, cùng ở chung một chỗ.

Trước khi lên đường đi Singapore, cụ dặn ông Trần Quang Vinh khi theo Nhật tham gia đảo chánh thực dân nhớ đừng giết hại người Pháp. Cụ nói : « Mình chống thực dân chứ không thù ghét người Pháp. Dân tộc Pháp sẽ là bạn của dân tộc Việt. Nên nhân lúc người Pháp thất thế mà làm ơn với họ ». Cụ cũng dặn các bạn thuộc Đảng Quốc Gia Độc Lập nên nhượng bộ cho anh em Đệ Tứ đóng vai trò lãnh đạo để tạo thanh thế cho tổ chức này chặn đường phe Cộng Sản Đệ Tam. Ngoài ra cụ xin Đức Thày Huỳnh Phú Sổ gia nhập Việt Minh để tránh tình trạng phe Cộng Sản Đệ Tam độc quyền thao túng, nắm thế thượng phong.

Tại Singapore, cụ kín đáo học và nói thông thạo tiếng Nhật, trong khi vẫn không ngừng hoạt động. Khi ông Dương Bá Trạc lâm bệnh, cụ chăm sóc tận tình như đối với một người cha, và lúc ông qua đời, cụ đọc điếu văn bằng tiếng Nhật, trước sự ngạc nhiên của quan khách Nhật hiện diện. Người Nhật giao cho cụ điều khiển một chương trình phát thanh bằng Anh Ngữ. Cùng cộng tác dưới quyền cụ có hai học giả giáo sư đại học bị Nhật bắt, một ông người Anh và một ông người Hòa Lan. Vào năm 1945, người Nhật đưa cụ đi Djakarta. Ở đây, cụ nghe tin nước nhà độc lập. Tức thời, cụ đòi trở về Việt Nam. Nhưng người Nhật chỉ chịu đưa cụ trở lại Singapore, và mãi tới khi được tin phu nhân qua đời để lại sáu con thơ, họ mới đành phải đưa cụ về nước, trong điều kiện rất khó khăn, bằng máy bay hai chỗ, vừa phải tránh oanh tạc, vừa lẩn trốn máy bay săn giặc của Đồng Minh. Sở dĩ có sự chần chờ của Nhật trong việc đưa cụ về nước là vì lập trường thống nhất đất nước lập tức của cụ lúc bấy giờ có thể gây khó khăn cho họ.

Về tới Việt Nam, cụ được bầu làm Chủ Tịch Hội Đồng Nam Kỳ. Những nhân vật có tiếng tăm của Hội Đồng Nam Kỳ hết lòng ủng hộ cụ vào lúc đó, nay còn nhớ được là: Nha Sĩ Nguyễn Xuân Bái (thân phụ ông Nguyễn Xuân Oánh), Bác Sĩ Trần Như Lân, Kỹ Sư Lưu Văn Lang (nhạc phụ của BS Trần văn Đỗ) , các ông Hồ Văn Ngà, Đinh Khắc Thiệt (thân Nhật, chú của ông Đinh Thạch Bích), Trương Văn Bền, Kha Vạng Cân (Phó Chủ Tịch Hội Đồng Nam Kỳ). Trong thời gian tại nhiệm, cụ cách chức 12 ông Đốc Phủ tham nhũng, trong số đó có cả những người thân Nhật.

Tháng 7 năm 1945, Thủ Tướng Trần Trọng Kim mời cụ cùng với các ông Ngô Đình Diệm (được Nhật che chở ở Sài Gòn, giao cho sĩ quan Cao Đài Nguyễn Thành Phương giữ an ninh), và Vũ Đình Dy (mới ở Nhật về), ra Huế tham gia một chính phủ đoàn kết quốc gia. Lúc lên đường, có thêm BS Lê Toàn, và bí thư của cụ là ông Nguyễn Văn Tệ. Đi được tới Nha Trang thì phái đoàn bị Cộng Sản kéo người bao vây. Khi bọn này sắp sửa hành hung, thì quân đội Nhật tới kịp giải cứu, nhưng phái đoàn phải quay trở về Sài Gòn. Cùng lúc đó, Tạ Thu Thâu bị Cộng Sản Đệ Tam hạ sát tại Quảng Ngãi, đánh dấu giai đoạn Cộng Sản Đệ Tam công khai ra mặt giết hại người của các phe nhóm khác.

Cũng vào khoảng thời gian này, Nguyễn Văn Sâm ra Huế lãnh chức Khâm Sai Nam Việt. Ông cũng bị người của Cộng Sản giữ lại ở Nha Trang. Trước sự cấp bách của tình thế, cụ Trần Văn Ân và ông Hồ Văn Ngà tức tốc đến gặp Thống Đốc Nhật Minoda, đòi trao trả chính quyền cho người Việt. Sau khi hội ý với các tướng lãnh và viên chức Nhật, ông Minoda long trọng chuyển giao quyền hành cho cụ tại Dinh Gia Long. Lập tức cụ bổ nhiệm Hồ Văn Ngà làm Phó Khâm Sai Nam Việt, Kha Vạng Cân làm Đô Trưởng Sài Gòn Chợ Lớn (với chức vụ này, ông Cân đã ra lệnh hạ hết các tượng đồng của người Pháp). Ba ngày sau, Nguyễn Văn Sâm mới thoát nạn về tới.

Sau đó, phong trào quần chúng do Cộng Sản thao túng nổi lên, khiến cụ và các ông Sâm, Ngà, Cân, buộc phải rút lui, cho tới khi thực dân Pháp theo chân quân đội Anh trở lại Miền Nam mới lập ra Ủy Ban Phong Tỏa Sài Gòn Chợ Lớn. Chỉ ít lâu sau, Hồ Văn Ngà bị Cộng Sản đệ tam bắt đem về giam tại Rạch Giá. Cụ và Nguyễn Văn Sâm phải đi trốn. Cùng một bà vợ Trung Hoa, cụ giả dạng làm người Tàu, tới ẩn náu trong Chợ Lớn. Đầu năm 1946, cụ nhờ bạn Trung Hoa đưa đi trốn tại Nam Vang, rồi theo người buôn lậu vượt biên qua Thái Lan với tên giả là Trần Huệ Dân (cần nhắc lại là cụ nói thông thạo các loại tiếng Tàu thông dụng ở Miền Nam). Cả thực dân lẫn Cộng Sản Đệ Tam đều ráo riết truy lùng cụ trong suốt thời gian này.

Đối với Cộng Sản Đệ Tam lúc đó, cụ chủ trương « đánh chung đi riêng », tức là cùng chung sức đánh thực dân, nhưng các phe nhóm không Cộng Sản vẫn duy trì tổ chức và cơ sở riêng biệt, chứ không sát nhập vào lực lượng do Cộng Sản Đệ Tam điều động. Tuy nhiên, chủ trương này bị đa số các đồng chí của cụ trong Đảng Quốc Gia Độc Lập chống đối, vì họ cho rằng làm như thế sẽ phân tán lực lượng chống thực dân. Họ chủ trương đánh đổ thực dân trước đã, rồi sau đó ai cai trị cũng được, cai trị thế nào cũng được, miễn là lấy lại được chủ quyền cho người Việt. Cụ Trần Văn Ân là một trong số ít người vào lúc ấy đã ý thức được rằng hiểm họa cho nước nhà sẽ không phải là chế độ thực dân đang trên đà sụp đổ khắp nơi , mà chính là : Cộng Sản.

Trong điều kiện đó, Đảng Quốc Gia Độc Lập tan rã. Đa số ủy viên trung ương lần lượt theo Cộng Sản Đệ Tam. Trần Quang Vinh, Trưởng Ban Tổ Chức của Đảng và là Tư Lệnh Bộ Đội Cao Đài (do Nhật võ trang và huấn luyện) bị Cộng Sản tuyên truyền kết án là tội phạm chiến tranh, nên bỏ trốn (ông bị Cộng Sản Đệ Tam bắt được, đem nhốt tại Kim Quy Rạch Giá chung với Hồ Văn Ngà cho tới khi Nguyễn Thành Phương và Vũ Tam Anh đem quân tới phá khám cứu ra, rủi cho Hồ Văn Ngà tối hôm đó có người giữ ngục là học trò cũ mời về nhà dùng cơm nên không được giải cứu, để hôm sau bị đập chết bằng củi đòn – Trần Quang Vinh sau có làm Bộ Trưởng Quốc Phòng, và cũng chết trong tù Cộng Sản sau năm 1975). Sau Tướng Vinh, bộ đội Cao Đài được giao cho một tướng trẻ là Nguyễn Văn Thành chỉ huy. Rủi thay, tướng Thành cũng lại kéo quân theo Cộng Sản Đệ Tam nốt, khiến Đảng Quốc Gia Độc Lập không còn lực lượng quân sự để tiếp thu khí giới do người Nhật sẵn sàng chuyển giao. (Tướng Thành sau bị án tử hình và bị giam tại Côn Đảo cùng với cụ Trần Văn Ân – khi ra tù ông làm cố vấn cho cụ ở Bộ Chiêu Hồi – sau ông bị Cộng Sản liệng lựu đạn sập nhà chết ở Tây Ninh, lúc ông lãnh trách nhiệm giữ an ninh cho Tòa Thánh). Về phía Hòa Hảo thì Đức Thày Huỳnh Phú Sổ bị Cộng Sản Đệ tam vu khống là việt gian, và bị người của Cộng Sản khủng bố, nên cũng phải rút khỏi Sài Gòn.

Một thời gian sau, tình thế lắng đọng, cụ từ Thái Lan trở về phụ giúp Đức Thày thành lập Đảng Dân Xã, do cụ lãnh viết tuyên ngôn vào tháng tám năm 1946, trong một cuộc họp tại nhà ông Hội Đồng Nguyễn Văn Nhiều, đường Palikao, Chợ Lớn (ít lâu sau Cộng Sản Đệ Tam biết chuyện này, đang đêm bắt Hội Đồng Nhiều chặt ra ba khúc, liệng xuống đường mương). Ngoài Đức Thày ra, có mặt hôm đó còn có các ông Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Bảo Toàn. Ít lâu sau, cụ cho ra đời báo Quần Chúng, và được Đảng Dân Xã chỉ thị tham gia chính phủ của Tướng Nguyễn Văn Xuân. Trước khi tham chánh, cụ đặt cho Tướng Xuân ba điều kiện :


* Thứ nhất : cải danh xưng chính phủ Nam Kỳ Tự Trị thành Chính Phủ Lâm Thời Nam Phần Việt Nam, để phá kế hoạch phân ly ba miền theo cách thức « chia để trị » của thực dân. Thật vậy, chính phủ lâm thời Nam Phần Việt Nam được định nghĩa như một chính phủ TẠM THỜI của Miền Nam, trong khi chờ đợi một giải pháp thống nhất. Đó chính là phủ nhận một cách quả quyết chiêu bài « Nam Kỳ tự trị », đặt nguyên tắc thống nhất đất nước hầu dọn đường cho một giải pháp không Cộng Sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam, sau này mới được gọi là « giải pháp Quốc Gia ».

* Thứ nhì là không chấp nhận cho quân đội giáo phái làm lính « partisan » cho Pháp, không đặt họ dưới sự chỉ huy của Pháp, để có thể đương đầu với Cộng Sản mà vẫn giữ được chính nghĩa, hầu sau này đi đến sự tổ chức một « Quân Đội Quốc Gia », gắn liền với « giải pháp Quốc Gia » vừa nói ở trên.

* Điều kiện cuối cùng là trong một ngày, ông Xuân phải gặp cụ đầu tiên lúc sáng, và sau cùng lúc tối, để phối hợp làm việc cho hữu hiệu.

Các sự toan tính giữa cụ và Tướng Xuân được giữ bí mật cho đến ngày chính phủ trình diện Hội Đồng Nam Kỳ. Bài diễn văn ra mắt nội các của Tướng Xuân do cụ và Nguyễn Văn Sâm soạn thảo. Các thành viên chính phủ được cho biết nhưng bị cụ hăm dọa, không ông nào dám hé răng. Đến ngày ra mắt, Hội Đồng Nam Kỳ bỏ phiếu tín nhiệm nội các mới, khiến thực dân bị đặt trước một sự đã rồi, không làm sao khác hơn là chỉ thị báo chí ém nhẹm chuyện này đi. Hai ngày sau, có hai người Cộng Sản đang bị Pháp giam, tự nhiên được thả, và ra tay bắn chết Nguyễn Văn Sâm trên xe buýt ở đường Cây Mai, Chợ Lớn. Sáng hôm đó, ngày 10 tháng 10 1947, ông Sâm đi cùng với cụ đến dự lễ kỷ niệm ngày Song Thập ở Tòa lãnh Sự Trung Hoa, rồi cùng về làm việc ở báo quán Quần Chúng. Tới chiều, ông Sâm mới đi xe buýt về nhà bạn trong Chợ Lớn. Lúc bị bắt lại, hai hung thủ Cộng Sản khai được lệnh giết cả Trần Văn Ân lẫn Nguyễn Văn Sâm.

Năm 1948, cụ đề nghị lá cờ vàng ba sọc đỏ, lấy ý nghĩa quẻ Càn (biểu tượng Thái Dương như cờ Nhật, mà cũng là phương Nam trong Phục Hy Đồ), màu đỏ (Hỏa cũng thuộc phương Nam, tượng trưng phấn đấu, vui vẻ), màu vàng (đất, quẻ khôn, đối với càn), và kích thước « tam thiên lưỡng địa », đồng thời cũng có ý nghĩa ba gạch đỏ tượng trưng cho ba kỳ hợp trong nền vàng tượng trưng đất nước Việt Nam …

Trong cùng thời gian, cụ đưa ông Phan Khắc Sửu xuống Long Xuyên thuyết phục Tướng Nguyễn Giác Ngộ không theo ông Trần Văn Soái mà cứ tiếp tục ở lại chiến khu chống thực dân. Cụ cũng đích thân tới Tây Ninh vận động chống lại việc ông Lê Văn Hoạch (cựu Thủ Tướng) kêu gọi Tòa Thánh lập bộ đội thân Pháp. Lập trường của cụ là: bộ đội Cao Đài phải là nghĩa quân cách mạng chứ không thể tùy thuộc thực dân. Tuy nhiên điều làm cho thực dân tức giận nhứt là việc cụ hết sức ngăn cản không để cho quân đội Bình Xuyên về Đô Thành với thực dân và lập một vùng biệt lập để quy tụ những nhóm kháng chiến không Cộng Sản về đó, hầu sau này có được một lực lượng ái quốc có chính nghĩa đánh lại Cộng Sản. Sau khi Trung Tá Savani, chỉ huy Phòng Nhì, thất bại trong việc thương thuyết với cụ để bộ đội Bình Xuyên ra hàng Pháp, Tướng de la Tour hai lần viết thư đến Thủ Tướng Xuân hăm dọa : « quá 24 giờ mà ông Ân không ra đi thì tôi sẽ không chịu trách hiệm về an ninh của ông ấy ». Tướng Xuân không trả lời. Cụ lần lựa tới hơn một tháng sau mới quyết định lấy danh nghĩa Bộ Trưởng Thông Tin để lên đường công du … Pháp Quốc !

Trước khi khởi hành, cụ yêu cầu các đồng chí nên tiếp tục cộng tác với Thủ Tướng Xuân, để trong giai đoạn khó khăn, có thể vừa né Pháp, vừa né Cộng Sản. Đa số phản đối, muốn bỏ vào bưng đánh hai mặt, Pháp và Cộng Sản. Thương tâm nhứt là trường hợp ông Lâm Ngọc Đường, do cụ đưa vào lập Sở Công An cho chính phủ Nguyễn Văn Xuân, trong lúc thực dân nhứt định không chịu giao ngành Công An Mật Vụ cho chính quyền Việt Nam. Sau khi cụ đi khỏi, ông Đường bỏ vào bưng với Bình Xuyên. Đến khi Tướng Lê Văn Viễn đem lực lượng Bình Xuyên về với Thủ Hiến Trần Văn Hữu, ông cô thế, bị Cộng Sản vây bắt, đóng nọc vào mắt, tai, mũi, miệng, hậu môn, rồi hành hạ ông đến hơi thở cuối cùng.

Qua tới Pháp, cụ mở một mặt trận ngoại giao với nhiều cuộc diễn thuyết, đặc biệt là tại Palais de la Mutualité, Paris, tháng 10 năm 1948, với sự chủ tọa danh dự của ông Chủ Tịch Liên Minh Nhân Quyền (Ligue des Droits de l’Homme). Suốt nhiều tháng sau đó, cụ không ngừng tiếp xúc với các dân biểu, nghị sĩ, các nhận vật trong báo giới, văn đàn v.v… để gây cảm tình đối với nguyện vọng dành độc lập của người dân Việt.

Năm 1949, nhờ sự can thiệp của Đảng Xã Hội (SFIO) và đảng MRP, chính phủ Pháp buộc phải chấp nhận cho cụ trở về nước. Vừa về tới là cụ thành lập Việt Nam Dân Chúng Liên Đoàn, gọi là Việt Đoàn, để hậu thuẫn cho giải pháp Bảo Đại, được cụ coi như một giai đoạn quan trọng của sự hình thành giải pháp quốc gia. Cụ cũng sáng lập báo Đời Mới, với nhiều cây bút về sau trở thành nổi tiếng dưới bầu trời Nam Việt.

Cũng năm 1949, cụ tổ chức « Tiệc Bình Dân » để Quốc Trưởng Bảo Đại vừa về nước có dịp tiếp xúc với các tầng lớp dân chúng, đặc biệt là những người đang hoạt động tại chiến khu. Cũng chính vào dịp đó mà Quốc Trưởng Bảo Đại và Tướng Lê Văn Viễn gặp nhau lần đầu tiên.

Năm 1950, cụ được mời đi dự Hội Nghị Hòa Bình San Francisco, nhưng giờ chót bị Tướng de Lattre de Tassigny tước thông hành không cho đi. Liền hôm sau, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Dean Rusk can thiệp mời cụ sang Mỹ, nhưng với chủ trương không làm bẽ mặt đối phương, cụ khéo léo chối từ. Cũng năm đó, cụ làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Phan Long, và, sang năm 1951, vận động thành công cho Việt Nam lần đầu tiên tham dự một Hội Nghị Quốc Tế như một Quốc Gia độc lập, do một cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc tổ chức. Đó là Hội Nghị Kinh Tế Viễn Đông (ECAFE).

Năm 1953 cụ đề nghị và đứng ra tổ chức Hội Nghị Toàn Quốc quy tụ 212 đai biểu đại diện cho mọi thành phần dân chúng. Giờ chót, cụ kêu gọi Đại Hội biểu quyết chống lại mô hình « Liên Hiệp Pháp » vì theo cụ mô hình này che dấu một sự lệ thuộc trá hình, làm mất đi chính nghĩa của chính quyền quốc gia. Cụ đưa ra khẩu hiệu : « Độc Lập mà không liên lập là cô lập – Liên lập mà không Độc Lập là lệ thuộc ». Hội Nghị Toàn Quốc bầu chống lại Liên Hiệp Pháp. Thực dân lại thêm một lần nữa bị đặt trước một sự đã rồi.

\Suốt những năm từ 1949 tới 1954 cụ đi lại Pháp Quốc nhiều lần để vận động chính giới Pháp ủng hộ một giải pháp quốc gia cho một Việt Nam độc lập.

Năm 1954, Quốc Trưởng Bảo Đại bổ nhiệm ông Ngô Đình Diệm làm Thủ Tướng Toàn Quyền Nam Việt. Ông Diệm với cụ là chỗ quen biết và giao thiệp tốt đẹp từ hơn mười năm trước. Sau khi ông Diệm cầm quyền, cụ có gặp lại ông vài lần, lần nào cũng có cảm tưởng đạt đến một sự tương đồng quan điểm. Lúc ấy, các lực lượng quần chúng Miền Nam đã từng tranh đấu chống thực dân và Cộng Sản tụ tập lại trong một tổ chức tên là Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Lực Quốc Gia, do Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lãnh đạo. Cụ được mời làm cố vấn cho Mặt Trận này. Cụ cũng được mời tham gia phái đoàn của Mặt Trận tới hội kiến với Thủ Tướng Diệm tại Dinh Độc Lập. Phái đoàn còn có các ông Sĩ Thanh, Lai Hữu Tài, Nguyễn Long Thành Nam, Ngài Bảo Đạo Lê Thiện Phước v.v… Cụ được mời ngồi cạnh Thủ Tướng Diệm và phát biểu đại ý như sau:

«Thưa Thủ Tướng, dư luận đến từ những người thân cận với Thủ Tướng thường đề ra những phê phán khắt khe về Giáo Phái, cho là người Giáo Phái dơ dáy, dốt nát, không đứng đắn. Tuy nhiên, xin Thủ Tướng nhận cho rằng : dân có dốt, có hư, mới cần đến Thủ Tướng, mới phải mời Thủ Tướng lại cai trị họ. Họ thiếu ăn học, chân lấm tay bùn, nhưng họ là người của đất nước này. Đời sống của họ gắn liền với đồng quê lầy lội kia, và khi cần, họ sẽ không ngần ngại liều chết để bảo vệ vùng đất ấy. Đám trí thức và trưởng giả được những người thân cận Thủ Tướng quý trọng, đến khi hữu sự sẽ lo vắt giò lên cổ mà chạy trước. Những người ấy khôn ngoan và có nhiều phương tiện, họ đi đâu mà chẳng sống được ? Ngược lại, chính vì người Giáo Phái nghèo nàn thất học, mà họ chỉ có một đường sống duy nhứt, đó là sống với quê hương, và chết một cách duy nhứt, đó là chết trong lòng ruộng đồng của tổ tiên họ để lại.

Thưa Thủ Tướng, mục tiêu của chúng ta ngày nay là ngăn cản không cho Cộng Sản tràn xuống Nam Việt. Người dân quê Giáo Phái, với tín ngưỡng chân thật và tình ràng buộc với quê cha đất tổ, chính là lực lượng chống Cộng Sản hăng say nhứt của Miền Nam này. Dựa vào họ là dựa vào quần chúng, là lấy sức mạnh từ người dân. Xa rời họ là ly khai với quần chúng, là lấy thế lực bên ngoài để cai trị dân. Xin Thủ Tướng xét rõ ».

Thủ Tướng Diệm tỏ vẻ đồng ý, nhưng chỉ hứa sẽ « xem lại » vấn đề …
Ít lâu sau sảy ra cuộc xung đột giữa chính phủ Ngô Đình Diệm với các lực lượng thành viên của Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Lực Quốc Gia. Các bộ đội Hòa Hảo và Cao Đài dần dần thất thế. Tướng Trình Minh Thế ngả theo chính phủ. Lực lượng Bình Xuyên rút ra chiến khu Rừng Sát. Cụ và phần lớn trí thức thành viên của Mặt Trận cũng buộc phải rút theo với họ. Một thời gian sau, cụ và ông Nguyễn Hữu Thuần vượt vòng vây ra gặp Tỉnh Trưởng Biên Hòa là ông Nguyễn Linh Chiêu (anh của Dược Sĩ Nguyễn Quốc Nam hiện ở Paris), tuyên bố : muốn thương thuyết. Ông Chiêu tiếp đãi cụ niềm nở, mời ăn sáng, rồi đưa đi gặp ông Mai Hữu Xuân. Sau đó cụ thương thuyết với các ông Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh trên một chiếc tàu suốt ba hay bốn ngày liền. Đang lúc ấy thì có ông Hồ Hữu Tường từ chiến khu ra tới. Ông Tường nhận đem bản thỏa hiệp về bưng cho Tướng Lê Văn Viễn quyết định. Cụ và ông Thuần ký giấy ở lại không trở về chiến khu. Tiếp đó, cụ bị kết án tử hình và bị giam tại Côn Đảo suốt chín năm dài.

Trong tù, cụ chuyên cần thiền định, nối lại với lối sống tu hành lúc nhỏ dưới ảnh hưởng của bà nội và ông bác Minh Sư… Cụ cũng cố công tìm tòi hiện đại hóa Triết Học Đông Phương, và để giải trí, cụ làm thơ cũng như dịch được hơn sáu trăm bài thơ Trung Quốc đủ mọi thời đại. Ngoài ra, cụ dạy Hán và Anh Văn cho bạn cùng khám, và khuyên nhủ cải thiện được hai người thường phạm tử hình vì can tội sát nhân.

Tháng 11 năm 1963, anh em ông Diệm bị sát hại. Cụ vẫn tiếp tục ngồi tù. Mãi tới ngày 7 tháng 2 năm 1964, sau khi Tướng Khánh «chỉnh lý» Tướng Dương Văn Minh, cụ mới được thả (tướng Khánh là cháu họ xa, kêu cụ bằng cậu). Nhìn lại chín năm tù tử tội, với những lúc bị nhốt dưới hầm tàu với heo, với «kỷ niệm» hai năm trường bị còng chân, sáu tháng nhốt hầm tối «cachot», cụ không hề tỏ lời oán hận. Cụ nói: «mong ông Diệm thành công, và chỉ lo mất nước trong tay Cộng Sản».

Khi ra tù, cụ đã lớn tuổi. Với quá trình đấu tranh không ngừng nghỉ từ năm 1926, và sau chín năm tù tử tội cam khổ, người ta có thể nghĩ rằng cụ sẽ dành những năm tháng còn lại của cuộc đời để nghỉ ngơi hưởng nhàn. Tuy nhiên, cụ đã cương quyết chối từ cái quyền được an dưỡng tuổi già hoàn toàn chính đáng đó, để lại lập tức tiếp tục dấn thân vào con đường phục vụ đất nước. Cụ bất kể địa vị to lớn của mình trong các giai đoạn lịch sử đã qua, để không ngần ngại hòa mình vào chính trường lúc đó, thậm chí nhận lãnh những chức vụ mà nhiều người cho là không xứng đáng với tầm vóc của cụ, như : Tổng Trưởng Thông Tin, Tổng Trưởng Chiêu Hồi, Chủ Tịch Ủy ban Soạn Thảo Sắc Luật Bầu Cử Quốc Hội Lập Hiến, Ủy Viên Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Phụ Tá Đặc Biệt Văn Hóa Chính Trị Phủ Tổng Thống, Cố vấn Phái Đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại Hội Nghị La Celle St Cloud v.v… Cũng trong thời gian này, cụ nhiều lần được mời đi nói chuyện tại quốc ngoại, với những thành quả hiện còn được nhiều người trong cũng như ngoài nước thán phục.

Sống đời lưu vong tại Pháp Quốc, cụ và phu nhân nối kết những chuỗi ngày an bần lạc Đạo, ăn tiền trợ cấp xã hội, ở trong một căn phố dành cho người nghèo (HLM – Habitation à loyer modéré). Suốt cuộc đời trải dài một thế kỷ, với bao nỗ lực đấu tranh, cụ đã không mưu cầu được gì cho bản thân và gia đình mình. Trong cuộc sống nghèo nàn nơi đất khách, cụ dành thời giờ gây dựng kiến thức cho bạn trẻ, những mong có người tiếp nối chí nguyện của mình, và chuyên tâm ghi lại những kỷ niệm lịch sử của cuộc đời cụ, để cho hậu thế khỏi rơi vào những nhận định sai lạc, lấy từ những tài liệu của thực dân hay của đám trí thức thiên tả chuyên chạy theo thị hiếu thời thượng mà bóp méo sự thật . Nhắc lại những kỷ niệm xưa cũng là dịp để cụ tưởng nhớ các bạn « đồng tâm đồng đức », đã đem sanh mạng máu xương lót trải trên con đường lịch sử nước nhà. Hàng năm cụ không quên cúng giỗ từng người, Đức Thày, Sâm, Ngà, Thâu, Thạch, Hùm, Chánh, La Anh, Châu Lực, v.v…

Khi sức khỏe dần dần suy sút, hình ảnh của cụ như lu mờ đi trước những tử đệ vẫn thường quen với vóc dáng và phong độ của một Trần Văn Ân hùng hồn mạnh dạn, của nhà hùng biện dấy động lòng người, của người đấu sĩ luôn hăng hái dấn thân, của bậc triết gia thông thái, kiến thức mênh mông, của nhà chính trị tinh tế, với óc nhận định sâu sắc và trí thông minh làm kinh ngạc người đối diện, của nhà văn đầy hứng cảm, hồn thơ dào dạt, của một Trần Văn Ân hào hoa, với giọng nói tiếng cười luôn đem lại hứng khởi tươi vui … Khi ấy, khi ngôi sao Trần Văn Ân không còn chiếu sáng như xưa, thì những anh em còn quây quần bên cụ lại được chiêm ngưỡng một gương sống khác : đó là gương tận tụy hy sinh gần như toàn diện, với nụ cười đạo đức, bình thản trước nghịch cảnh, của phu nhân của cụ. Quả thực, cụ và phu nhân đã nối tiếp nhau thể hiện qua cuộc sống hằng ngày, cái tinh thần VÔ CẦU BẤT CHẤP mà cụ thường nhắc nhở.

Ngày hôm nay xin cáo với Đất Trời: Trần Văn Ân, Pháp Danh Quang Huy, đã từ biệt cõi đời, hòa trong HỒN NƯỚC, tìm về CHÂN NHƯ, trong GIẤC NGỦ MUÔN ĐỜI …

Trong giấc ngủ muôn đời
Xin dang tay đón người
Đặt người trong ánh sáng
Nguồn sáng của Bầu Trời

(phỏng theo Esdras)

Nguyễn Hoài Vân
11 tháng 9 năm 2002 


Hoài Niệm Lão Ký Giả Văn Lang Trần Văn Ân
(Đấu sĩ của Thế Kỷ)
Trong khoảng thời gian hơn năm mươi năm liên tục lặn hụp trầy vi tróc vãy trong sinh hoạt văn chương chữ nghĩa, chúng tôi rất may mắn được nhiều dịp gặp gỡ thân tình hoặc hợp tác chân thành với các bực đàn chị đàn anh khả kính, qua những bài viết và các tác phẩm đã làm nên một thời ở Miền Nam Việt Nam tự do nhân bản. Để tỏ lòng kính trọng và biết ơn cũng như vinh danh những bậc tên tuổi lẫy lừng nầy, dù trong muộn màng, những năm gần đây trong lúc tuổi đời quá ngưởng cửa chạng vạng, chúng tôi cố gắng ghi lại một ít kỷ niệm trung thực qua những dòng hoài niệm xuất phát từ trong sâu thẳm tâm tư và tình cảm của chúng tôi.
Trong tinh thần đó, chúng tôi đã thực hiện xong phần viết về Giáo sư Sử gia Nam Xuân Thọ Lê Thọ Xuân, Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Ký giả nhà viết phóng sự Phi Vân Lâm Thế Nhơn, Giáo sư Học giả Võ Thủ Tịnh, Ký giả kiêm Soạn giả cải lương Ngọc Huyền Lan Nguyễn Ang Ca, Thi văn họa sĩ Tạ Tỵ, Nhà viết tiểu thuyết đăng từng kỳ trên các nhựt báo An Khê Nguyễn Bính Thinh, Bác sĩ Thi sĩ Bằng Vân Trần Văn Bảng, Họa sĩ Nhà văn Hiếu Đệ Nguyễn Tánh Đệ… để chỉ kể nơi đây vài tên tuổi nổi bậc mà chúng tôi không thể nào quên được, dù thời gian phũ phàng có xói mòn ít nhiều tâm trí chúng tôi. Đa số các bực tăm tiếng nầy hôm nay đã nằm yên đâu đó ở trong nước cũng như ở hải ngoại, người trước kẻ sau, trong cõi vĩnh hằng an bình không hận thù.
Duy còn có hai nhân vật quan trọng ở các lãnh vực phức tạp là văn chương, báo chí và chánh trị, chúng tôi luôn đắn do phân vân không biết phải viết như thế nào để cho trọn tình trọn nghĩa. Và nhứt là tránh những phiền hà trong dư luận cộng đồng ở lãnh vực chánh trị mà cả hai đã nguyền dấn thân đấu tranh xuyên suốt cả cuộc đời, từ tuổi thanh xuân cho đến khi nhắm mắt từ giả thế gian lắm chuyện. Đó là Lão ký giả Văn Lang Trần Văn Ân và Giáo sư Tiến sĩ Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy.
Càng đắn đo phân vân bao nhiêu, chúng tôi càng ray rức bất an trong lòng, vì bao nhiêu kỷ niệm tốt đẹp và trân quý cứ thỉnh thoảng sống dậy rực sáng trong chúng tôi, khiến cho lương tâm chúng tôi mãi mãi thôi thúc không nguôi. Tâm tư và tình cảm chúng tôi luôn réo gọi, không thể vì một lý do gì mà không nhắc nhớ đến hai bực thầy trọng kính mến yêu nầy.
Nhưng khổ một nỗi, ở vị trí và khả năng của chúng tôi mỗi khi cầm bút, chúng tôi cảm thấy mình bất lực. Chúng tôi không biết phải vào đề và triển khai như thế nào cho phù hợp và xứng đáng với vai trò tiêu biểu của cả hai. Nhứt là ở hai lãnh vực chính yếu là đấu tranh chánh trị và lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam.
Dù đắn đo phân vân, dù đối diện với những khó khăn giăng mắc đó đây, rốt cuộc chúng tôi vẫn phải viết. Viết trước nhứt để lòng mình được thanh thản hơn trong những ngày còn lại và hơn thế nữa để không phụ hương hồn người đã xuất, từng nêu cao hành động, phong cách và những tấm gương đời trong sáng. Cả hai vị đã để lại trong chúng tôi những lời trăn trở nhắn nhủ, răn dạy chí tình chí nghĩa hừng hực ngọn lửa tình yêu quê hương thiết tha, thăng hoa chí khí tuyệt đối trung thành với quốc tổ Hùng Vương cùng giồng giống Lạc Long Tiên Rồng.
Vốn biết những khó khăn chồng chất phải đương đầu trải qua nên chúng tôi xin minh định ngay, chỉ trọng tâm nhắc nhớ những kỷ niệm trung thực chúng tôi hồi nhớ và ghi nhận được, không trực tiếp đề cập đến khía cạnh chánh trị vô cùng phức tạp mà lại là sanh hoạt chính yếu của các vị. Nếu có nói đến khía cạnh nầy thì cũng chỉ phớt qua, chẳng đặng đừng.
Lý do là vì ở phần gút mắc và thường xuyên gây tranh cải nầy trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, chúng tôi xét ra mình không đủ khả năng đề cập đến, cũng như vị trí của chúng tôi không cho phép. Do đó, về lãnh vực nầy, chúng tôi xin trân trọng dành cho các bực phê bình cao kiến, các sử gia tên tuổi sẽ khách quan đánh giá đúng mức sự thành bại của hai vị, một khi yếu tố thời gian cần thiết đã lắng đọng và giòng sử mệnh nước nhà được sáng tỏ rõ ràng và dứt khoát hơn.
Hôm nay trước tiên, chúng tôi xin có đôi dòng hoài niệm Lão ký giả Văn Lang Trần Văn Ân. Và sau đó trong một dịp khác, chúng tôi sẽ vô cùng sung sướng nhắc nhớ đến Giáo sư Tiến sĩ Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy. Dù trước hay sau, tâm tư và tình cảm của chúng tôi đối với cả hai vẫn là một, vẫn một mực ngưỡng mộ, trọng kính mến thương. Hẳn nhiên không có sự đối xử phân biệt chi cả.
Khi thực hiện loạt bài hoài niệm các bậc đàn chị đàn anh trước đây, chúng tôi có thói quen thích đặt những tiêu đề để nói lên vai trò và giá trị tiêu biểu, có thể nói nhằm tóm tắt phần nào sự nghiệp văn chương chữ nghĩa, những thành quả về mặt văn hóa Việt Nam của từng người. Do đó trong quyển «Nợ Bút» trình làng năm 2017, chúng tôi có vinh danh năm bậc đàn anh đều đã khuất, qua những tiêu đề sau đây: Giáo sư Lê Thọ Xuân (Sử gia tăm tiếng của Miền Nam Tự Do), Thi sĩ Vũ Hoàng Chương (Nhà thơ sáng ngời Chính nghĩa Quốc gia), Nhà văn Nhà báo Phi Vân Lâm Thế Nhơn (Tác giả của Hương đồng Vị đất Nam Kỳ Lục Tỉnh), Giáo sư Võ Thủ Tịnh (Học giả không biên giới) và Ký giả Nguyễn Ang Ca (Người của «Vòng Tay Lớn»).
Bây giờ, chúng tôi đằn đo trước khi vào truyện, không biết mình nên tìm đặt một tiêu đề nào cho phù hợp và nói lên đầy đủ cuộc đời đấu tranh thăng trầm cả một thế kỷ dài, lúc «lên voi xuống chó», khi tham chánh, lúc tù tội mang bản án tử hình của cụ Trần Văn Ân. Chúng tôi có đọc qua nhiều bài viết lúc Cụ tạ thế của bạn bè thân hữu của Cụ ở khắp nơi trên thế giới nhằm hồi hướng tưởng niệm Cụ. Tất cả đều nhắc nhớ, mỗi người một khía cạnh đặc thù, hầu như đầy đủ sự nghiệp của Cụ lúc sinh thời.
Nhờ đó chúng tôi có lọc qua khá nhiều nhóm từ nhằm vinh danh Cụ. Chúng tôi có thể kể như sau:
- Chiến sĩ của thế kỷ
- Cha già cách mạng của Miền Nam
- Kiến trúc sư của nhiều phong trào, nhiều tổ chức đấu tranh
- Sĩ phu trăm tuổi nơi đất khách
- Chánh trị gia đầy viễn kiến uyên bác và yêu nước
- Một nhà ái quốc
- Một quốc sĩ của Việt Nam
- Một bóng dáng của thế kỷ
- Cây cổ thụ Miền Nam
- Một nhân sĩ lão thành vừa nằm xuống
- Người đấu tranh của ba thế hệ
- Ông già «đạm bạc minh chí», «vô cầu bất chấp»
- Người quốc gia tiêu biểu của Việt Nam
- Một nhân vật đồng tâm đồng đức…
Còn nhiều, nhiều nữa…
Chúng tôi tự vấn mình nên chọn một tiêu đề nào trong số những tiêu đề tiêu biểu trên đây. Bỗng dưng chúng tôi cảm thấy rất sung sướng nhớ đến bức thư đề ngày 26 tháng 3 năm 1995 cụ Ân viết cho chúng tôi, xin được trích dẫn dưới đây:
«…Ngày 29 Mars 1995 là ngày 100 tuổi của một văn sĩ người Đức Ernest Junger, ông được tặng là ‘La Sentinelle du Siècle’. Vậy chú nghĩ cho tôi nên dùng từ nào cho phù hợp? Tôi đề nghị ‘L’Observateur du Siècle’ trong vài năm tới…».
Kế tiếp chỉ vài ngày sau trong thư đề ngày 30 tháng 3 năm 1995, Cụ nhắc nhở chúng tôi và chúng tôi rất cảm động được Cụ tín nhiệm giao cho một nhiệm vụ vô cùng khó khăn:
«Tôi gởi tiếp về ông Ernest Junger – La Sentinelle du Siècle - gởi chú cho đủ tài liệt suy tư. Mình cũng nên dự bị từ đây một số đặc san về ‘L’Observateur du Siècle’ ra vào năm Dần 1998, cũng cuối thế kỷ rồi. Đặc san dầy độ một trăm trang nói lên tư tưởng và sự theo dỏi các trào lưu tư tưởng với câu: ‘Nếu mười năm sau khi cướp chính quyền toàn nước Việt, cộng sản đem lại Tự Do, Hòa Bình, Độc Lập thì Trần Văn Ân ưng chịu bị đánh đòn giữa chợ. Cái gì phi nhân thì sẽ bị tàn rụi v.v…».
‘Người quan sát của thế kỷ’? Nghe qua lúc đó chúng tôi rất thích thú và ưng ý, nguyện sẽ có dịp dùng. Và chúng tôi có ý phấn khởi ca ngợi Cụ, một người tỏ ra lo xa, đã nghĩ tới cái ngày sống đến một trăm tuổi chỉ vài năm thôi. Nhưng đồng thời chúng tôi bỗng dưng lo âu buồn buồn, phải chăng đây là một điềm không may chúng tôi phải đối đầu trong tương lai? Nhưng ngay đó, chúng tôi ghi nhận và tôn trọng ý kiến của Cụ mong có ngày sẽ được xử dụng đến nó.
Nhưng nay cái ngày đó đã đến, dù đến trong muộn màng, dù đến trong bùi ngùi nghẹn ngào của một sự mất mát quá to lớn. Cuối cùng so đi nghĩ lại, chúng tôi lại thấy nhóm từ ‘Người quan sát của thế kỷ‘ không được mạnh mẽ, không mang chở đầy đủ ý nghĩa, nên chúng tôi chọn tiêu đề nầy: «Đấu sĩ của Thế kỷ» (Le Combattant du Siècle) hy vọng sẽ gói ghém một đời cả trăm năm vùng vẫy lẫy lừng của Cụ trong nhiều lãnh vực phức tạp khác nhau. Chúng tôi cũng hy vọng các bạn bè và đồng bào Việt Nam tỵ nạn cộng sản ở khắp nơi trên thế giới cũng như độc giả trung thành của Cụ từ hơn nửa thế kỷ nay cũng đồng tình vui lòng chấp nhận đề nghị của chúng tôi.
Nhân đây, chúng tôi xin nói thêm một chi tiết nhằm xác định lập trường và phong cách của chúng tôi đối với Cụ. Trong những lần thỉnh thoảng gặp gỡ, cũng như qua thư từ thường xuyên Cụ viết cho chúng tôi, có khi đôi ba bức thư chỉ trong vòng một tháng, nhiều lần Cụ lập đi lập lại không mấy vui lòng nên thối thoát chấp nhận việc chúng tôi gọi Cụ bằng tiếng Cụ mà Cụ cho là quá thường tình. Việc nầy không nói lên đầy đủ trọn vẹn tình cảm của Cụ đối với chúng tôi. Lý do là vì quan hệ giữa Cụ và chúng tôi đã trở nên khắn khít thân tình hơn.
Bao lần Cụ nhứt quyết khuyên bảo, khuyên bảo trong tinh thần ruột thịt thương yêu, ngoài yếu tố tâm đắc đồng chí đồng hành. Cụ đề nghị chúng tôi nên gọi Cụ bằng hai tiếng «Anh Hai», tức người anh cả trong một đại gia đình, hình ảnh khắc sâu của truyền thống dân tộc.
Trong thư đề ngày 2 tháng 9 năm 1994, Cụ còn viết cho chúng tôi như sau:
«Tôi gọi chú thím cho bớt gián cách và thêm thân tình. Bạn trẻ như Dr Vân (Nguyễn Hoài Vân), Dr An (Nguyễn Văn An, bút hiệu Quốc Duy) gọi tôi Bác, nhưng các em đó không qua bốn mươi lăm tuổi. Chú đã quá sáu mươi, tức đã được gọi là kỳ lão, cả và thím. Nên tôi muốn xưng ‘Anh Cả’ hoặc ‘Anh Hai’. Trước khi gặp nhau và biết nhau qua một bài thơ, tôi còn giữ ‘gián cách ít nhiều’. Nay đã biết nhau và lòng đã hiểu lòng, sự trao đổi tâm tình và tư tưởng phải chân thành và đầy đủ, không còn e dè.
«Thư chú thím làm vợ chồng tôi cảm động lắm và tự nhiên khiến xem chú thím là người thân. Vậy xin chú thím nhận cho. Chú nên gần tôi hơn cho biết cái ‘tự nhiên của Ân’ vẫn có cái tầm thường, chỉ có cái khác hơn là Ân tôi biết lỗi, xin lỗi mà không hề biết thẹn. Ít ai nghĩ rằng con người cũng là thứ hợp thành – composé – nên cũng là hiện tượng, nên con người không có một. Nên nói là có individu mà không có l’homme».
Thú thật khi nghe qua đề nghị thân tình của Cụ, chúng tôi cảm thấy mình không được phép gọi Cụ như thế, lý do duy nhứt vì sự cách biệt tuổi tác quá chênh lệch giữa Cụ và chúng tôi. Lúc bấy giờ Cụ đã thênh thang và dỏng dạt bước thẳng vào tuổi trượng triều trượng quốc khá xa rồi. Trong khi đó chúng tôi còn đang lẻo đẻo ở vào lớp tuổi trung niên trên đà bay nhảy trong chốn ta bà thế sự nhiểu nhương. Chúng tôi nói chúng tôi không thể gọi như vậy được, mong rằng Cụ hiểu cho nỗi lòng của chúng tôi luôn kính lão, trọng người lớn tuổi hơn mình.
Nhưng Cụ vẫn khăng khăng đòi cho bằng được chúng tôi phải tuân thủ chiều theo ý Cụ. Sau cùng chúng tôi xin thưa, thôi thì từ đây chúng tôi gọi Cụ bằng tiếng «Bác», vừa để tôn trọng người lớn tuổi hơn chúng tôi nhiều mà cũng vừa nói lên cái vị trí người trên trước trong mỗi gia đình Việt Nam muôn thuở. Mặc dầu lúc ấy Cụ vẫn cho việc chúng tôi gọi Bác thì hóa ra Cụ cảm thấy già quá. Do vậy Cụ đề nghị gọi chúng tôi là Chú Em. Cuối cùng Cụ đành phải chấp nhận và cũng từ đó chúng tôi luôn luôn gọi Cụ với danh từ thân thương «Bác», Bác Ân.
Chúng tôi đến với Bác Ân qua một chuyện tình cờ ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi, một chuyện không mơ ước mà đến bất thình lình. Nguyên chúng tôi có viết một truyện ngắn với đề tài đồng quê Nam Kỳ Lục Tỉnh, được chọn đăng nhiều lần trên các báo Việt ngữ ở Âu Châu và Hoa Kỳ. Bác Ân chắc hẳn có dịp đọc qua. Trong truyện ngắn nầy, chúng tôi có dong dài nhắc qua quê hương cội rễ của chúng tôi, vùng Rạch Rít, Thanh Hà, Gò Đen, Bến Lức… thuộc tỉnh Chợ Lớn, về sau thuộc tỉnh Long An. Chúng tôi cũng có nhắc qua một kỷ niệm về địa danh Voi Lá thuộc Long Phú, quận Bến Lức, nơi chí sĩ Nguyễn An Ninh bị thực dân Pháp xét bắt để rồi bị đày ở Côn Đảo và mất ở đây.
Dĩ nhiên khi nói đến Voi Lá Long Phú chúng tôi không thể nào quên đề cập đến một nhân vật mà lúc nhỏ đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Đó là ông Hội đồng Võ Công Tồn mà người địa phương đương thời gọi là Hội đồng Tồn, người đã từng chứa chấp và cùng bị bắt chung một lược với nhà ái quốc Nguyễn An Ninh.
Chúng tôi gưỡng mộ vì ông không phải là một ông ‘Hội Đồng Quỳ (oui)’ hay ‘Hội Đồng Gật’ như biết bao ông Hội Đồng nhan nhản khắp nơi trong tỉnh nhà. Cũng trong truyện ngắn nầy chúng tôi có thuật lại chuyến đi của chúng tôi đến Côn Đảo khi chúng tôi đảm trách một chức vụ nho nhỏ trong guồng máy chánh quyền thời Đệ Nhứt Cộng Hòa. Lúc đó chúng tôi hướng dẫn một phái đoàn chuyên viên đi khảo sát vùng Cỏ Ống, Ông Đụng, Hòn Dừa, Hòn Hải Đăng… cả một tháng trường.
Nơi đây chúng tôi rất hân hạnh được nhà chức trách địa phương đặc cách cho phép chúng tôi đến viếng khám tử hình. Và chúng tôi có gặp những «tử tội» tên tuổi như học giả Hồ Hữu Tường, lão ký giả Văn Lang Trần Văn Ân, ông hội đồng Thuần của tỉnh Long An, cả những đàn em thân tính của cựu tướng lưu vong Lê Văn Viễn như Tư Cóc, Tiểu Lý Quảng, Chín FM v.v… Chúng tôi nói có gặp nhưng chỉ là dịp để gật đầu chào hỏi lịch sự khi các vị nầy được phép thông thả tạm nghỉ chân ở ngoài hành lang để hít thở không khí trong lành của biển cả.
Tuyệt nhiên chúng tôi không có tiếp xúc chuyện trò chi cả. Vì lý do an ninh và chính trị không cho phép. Nhưng dù sao được viếng khám tử hình trong thời điểm đó cũng là một đặc ân đối với chúng tôi rồi. Không phải ai cũng có được.
Chúng tôi có tường thuật lại đầy đủ chi tiết một buổi chiều chúng tôi đến thăm viếng nghĩa địa Hàng Dương của những “tử tội” từ bao nhiêu thập niên qua. Dĩ nhiên theo lời thuật lại và hướng dẫn của nhân viên hướng dẫn và theo yêu cầu khẩn khoản của chúng tôi, chúng tôi có đến yết bái ngôi mộ của chí sĩ Nguyễn An Ninh, đồng thời ngôi mộ của ông Hội đồng Võ Công Tồn nằm cận kề một bên. Thời khoảng nầy là năm 1958 lúc Thiếu tá Bạch Văn Bốn làm tỉnh trưởng.
Chúng tôi có mô tả lại hôm thăm viếng hai ngôi mộ đó. Nói là ngôi mộ để tôn vinh và trọng kính người quá cố đã hy sinh vì sự tồn vinh sống còn của dân tộc. Nhưng thực ra đó chỉ là những nấm đất sơ sài giữa hằng hà sa số các mô đất ngỏn ngang khác của những người yêu nước vô danh đã nằm xuống trong uất ức oán hờn.
Dĩ nhiên trọng tâm của chúng tôi nhằm mô tả trong niềm xúc động cao độ của mình đối với nhân sĩ Võ Công Tồn, người đồng thôn đồng hương thực sự của chúng tôi. Tức cùng chung quận Bến Lức với nhau mà chúng tôi từng hãnh diện trong đời mình. Nay ông đã nằm xuống nơi hoang đảo mù khơi, không một thân nhân ruột rà kề cận trong những giờ hấp hối, không một nấm mồ tươm tấc mà chỉ là một nấm đất với vài thoải gạch làm dấu. Không một bài vị dù thô sơ để lớp hậu sanh có thể tìm và nhận ra, một khi nước nhà được hoàn toàn thanh bình.
Không dè nhờ truyện ngắn nầy mà chúng tôi bắt đầu liên lạc được với Bác Ân để sau đó ngày càng gần gủi với Bác hơn. Lý do là ông Hội đồng Võ Công Tồn là thân phụ của ông Võ Công Phụng, mà ông Phụng về sau lại là nhạc phụ của Bác Ân. Vì Bác gái cuối cùng Như Thủy Võ Kim Lý chính là con gái của ông Phụng. Do đó cả hai Bác đều xem chúng tôi như một phần tử ruột thịt trong gia đình.
Thì ra chỉ nhờ vào một sự tình cờ khiến chúng tôi thêm chia xẻ, khắn khít hơn với gia đình Bác Ân là như vậy. Bác Ân cũng đã xác nhận với chúng tôi trong thư ngày 16 tháng 8 năm 1993 nhưng với đầy đủ chi tiết gia đình hơn:
«…Ông Hội Đồng Tồn sinh năm 1882 tại xã Long Hiệp, tổng Long Hưng Hạ tỉnh Chợ Lớn, mất tại nhà lao Côn Đảo ngày 16.06.1942, người từng nuôi anh Ninh (Nguyễn An Ninh) và rất thân với Hùm (Phan Văn Hùm), Thâu (Tạ Thu Thâu), Thạch (Trần Văn Thạch) là ông nội của vợ tôi ngày nay, là bà thứ ba. Bà là con ông Phụng (Võ Công Phụng) có lò gạch, cháu cô Hai Lang (ông Phụng thứ ba), cháu cô Năm Kiết và cô Tám Viên. Bà là góa phụ của một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, có một con trai hiện sống làm công trong xưởng làm kính mắt ở gần vùng Venise (Ý Đại Lợi).
«Ông Phụng đã qua đời năm 1978. Bà Năm Kiết mới chết năm nay. Hai ông chú Chín Danh (Võ Công Danh) và Mười Hiến theo kháng chiến tập kết, về Nam sau 1975 nghèo xơ xát. Ông Hiến đã quá cố năm trước đây. Còn ông Chín Danh nay thấy ‘đen’ không còn thấy ‘đỏ ‘, thành ra không biết khi chết có hòm chôn không? Nghĩ mà thương cho cả triệu, triệu người. Mong ước cộng sản về lấy tiền nhà giàu cho người nghèo để rồi nghèo rách cả một dân tộc».
Nhưng thực sự và chánh thức chúng tôi đến với Bác Ân qua cửa ngỏ hạn hẹp của văn chương chữ nghĩa, qua truyền thông báo chí. Cũng như trường hợp của chúng tôi đối với các bực đàn chị đàn anh khác. Thuở đó, chúng tôi có gởi tặng Bác Ân tập san Văn Hóa (France Vietnam Culture) do chúng tôi chủ trương và điều hành từ miền Bắc nước Pháp.
Chỉ một thời gian ngắn, Bác viết cho chúng tôi qua thư ngày 8 tháng 12 năm 1992:
«Tôi là một ký giả, được bạn biết với danh xưng Lão ký giả Văn Lang Trần Văn Ân, hiện ở Rennes (35), độc giả của quí đặc san…. Tôi có đọc số 4 Văn Hóa – hai bài Poésie d’Exil: ‘Je laisse derrière moi’ và ‘Vietnam, je crie ton nom’, cảm thấy mình xúc động nhiều. Và khi đọc tới câu chót: ‘Je crie ton nom: Vietnam!’ tôi tự thêm: ‘Et je verse des larmes!’.
«Trong bài ‘Je laisse derrière moi’ hai câu: ‘Larmes blessante d’un peuple se repliant sur soi’ và ‘Pauvre peuple oublié dans un pays sans loi’. Đọc xong tôi muốn viết ngay vài lời ‘chào và tán thưởng’. Tôi cũng có đọc bài ‘Rendez-moi’ và thấm thía với câu ‘Rendez moi la douceur de mon village…’ khiến tôi xúc động nhớ lại bài ‘Nhà Tôi’ viết ở Côn Sơn mùa Đông 1958:
Sau vườn ác lặn chim về tổ
Lách tách tàu dừa đánh nhạc sầu
Đôi lứa cu rù chờ tối xuống
Díu dan âu yếm sớm chiều thâu.
Và xin thêm:
Xóm mình cũ kỹ cũng quê mình
Xa vắng bao năm vẫn hữu tình
Lạnh lẻo trời Tây trông cố quận
Lá vàng rơi rụng dạ rung rinh!
(thư 28.10.1993)
Từ dạo đó, chúng tôi được Bác xem như một phần tử trong đại gia đình của Bác. Nơi đây chúng tôi xin có lời chân thành cám ơn Bác Ân đã từng nhiệt tình đóng góp bài vở phong phú và giá trị, giúp Tập san Văn Hóa (France Vietnam Culture) do chúng tôi chủ trương và điều hành từ đầu thập niên 90 được vững vàng, kéo dài hơn mười lăm năm đến khi đình bản do sức khỏe của chúng tôi không cho phép tiếp tục. Bác viết qua nhiều thể loại khác nhau, từ sáng tác đến thi ca, qua hồi ký, phê bình, nhận định thời sự, nhưng dù ở thể loại nào Bác cũng lôi cuốn hấp dẫn độc giả ở mọi lứa tuổi. Những bài quan điểm chánh trị của Bác đã tạo cho Tập san Văn Hóa một sức sống qua lập trường Dân Tộc, thăng hoa khát vọng chân chính của cộng đồng như Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Nhân Bản v.v…
Chúng tôi không thể kể và trích dẫn hết những bài viết của Bác nhằm cống hiến độc giả một cái nhìn khách quan và trung thực về cuộc sống cũng như hành động đương thời của Bác. Chúng tôi chỉ kể lướt qua vài đề tài tiêu biểu sau đây đã được chúng tôi trân trọng giới thiệu trên Tập san Văn Hóa, như những hồi ký: ‘Tôi quí Tạ Thu Thâu’ (Văn Hóa các số 10 – tháng 8 năm 1994, 11/12 – tháng 12 năm 1994, 13 – tháng 4 năm 1995), ‘Tuổi Trẻ và Bình Minh’ (V.H số 13 – tháng 4 năm 1995), ‘Tại sao tôi viết văn?’ (V.H số 14 – tháng 8 năm 1995), ‘Comment Je Comprends le Bouddhisme’ (V.H số 37 – tháng 10 năm 2001), ‘Con Người Mác-xít – Vật chất sống biết suy tư’ (Matière vivante et pensante) Bác viết tại Rennes tháng 6 năm 1986 v.v…
Tiếp theo đây, chúng tôi muốn ghi lại để được đầy đủ hơn đôi dòng về tiểu sử của Bác Ân. Chúng tôi nhớ hiền huynh Hương Giang Thái Văn Kiểm có viết cho chúng tôi bức thư đề ngày 3 tháng 9 năm 1994 lời lẽ như sau:
«Đây là tiểu sử duy nhất của chí sĩ hiền huynh Văn Lang Trần Văn Ân mà chỉ có tôi còn giữ được. Tôi đã gởi cho ảnh một bổn đã lâu rồi. Và tôi có nói với ảnh bổ chính cái đoạn đường xuất ngoại sau 1975 cho tới nay. Ảnh có viết sơ sơ và gởi cho tôi nhưng mà tôi đã xếp vào một hồ sơ hoặc một bài nào đó lúc tra cứu mà nay tìm chưa ra.
«Chú nên hỏi nơi bác sĩ Nguyễn Hoài Vân và nhờ biên thêm đoạn hải ngoại mới đủ. Hoặc chú phone hỏi cụ Ân xem có còn bản copie phần 2 đó không? Tôi rất mong Cụ sống lâu 100 tuổi nên cũng nên lo từ bây giờ cho kịp lúc cần. «Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu…».
Nhìn qua bản tiểu sử hiếm hoi nầy trong ‘Nhân Vật Việt Nam 1973’ do Việt Nam Thông Tấn Xã ấn hành cũng trong năm 1973, chúng tôi thấy được những nét đại cương, nhứt là những chức vụ Bác Ân đảm trách dưới các chánh thể Việt Nam Cộng Hòa, cũng như những đoàn thể đảng phái chánh trị Bác đã dấn thân suốt cả cuộc đời. Sau khi Bác qua đời có nhiều thân hào nhân sĩ ở khắp nơi trên thế giới ít nhiều có nhắc đến hoạt động đa dạng, nhứt là công lao của Bác ở mọi lãnh vực từ chánh trị đến văn hóa báo chí, qua sáng tác và thi ca. Nhưng chỉ có bản tiểu sử của Bác do bác sĩ Nguyễn Hoài Vân viết chúng tôi cho rằng khá chính xác. Do vậy chúng tôi xét không nên lập lại ở đây vì bản tiểu sử đó đã được gia đình cũng như tác giả cho phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Kèm theo còn có bản tiểu sử do anh Thái Văn Kiểm gởi cho Bác Ân trước đây.
Tôi chỉ ghi thêm bản tiểu sử do anh Thái Văn Kiểm gởi cho tôi năm 1994 không có phần hoạt động của Bác Ân sau tháng Tư Đen 1975. Thời gian nầy Bác bất đắc dĩ phải sống cuộc đời lưu vong tại thành phố Rennes (Pháp), nhưng Bác vẫn tiếp tục con đường đấu tranh nhằm giải thể chế độ độc tài chuyên chính cộng sản Việt Nam. Điểm quan trọng trong khoảng thời gian cuối đời nầy của Bác là Bác đứng ra thành lập Tổ chức Phục Việt. Nhưng sau khi có dịp đọc quyển nghiên cứu «Thân Thế và Sự Nghiệp Nhà Cách Mạng Nguyễn Thế Truyền» của tác giả Đặng Hữu Thụ (tác giả tự xuất bản năm 1993 tại Pháp), chúng tôi xin ghi nhận thêm là bản tiểu sử của Bác Ân nơi trang 145 là đầy đủ hơn hết, kể cả hai thời kỳ mà anh Thái Văn Kiểm đã nói đến ở đoạn trên.
Về Tổ chức Phục Việt, bác sĩ Nguyễn Hoài Vân có ghi nhận định nghĩa của Bác Ân như sau trong bài viết «24 câu hỏi về Phục Việt»:
«Phục Việt là khôi phục lại và thích nghi hóa những tinh hoa của người Việt Nam, những cái đã làm cho suốt bốn ngàn năm nay người Việt, nước Việt vẫn còn hiện hữu, mặc dù đã phải chịu nhiều bão táp phong ba…
«Phục Việt không phải là một tổ chức chính trị… vì các tổ chức chính trị Việt Nam, ít ra là trong giai đoạn nầy nên có tinh thần Phục Việt. Lý do vì tinh thần Phục Việt sẽ giúp các tổ chức ấy có được một điểm đồng thuận, một lý tưởng chung, để hóa giải những khác biệt và tiến đến hợp tác với nhau để xây dựng lại đất nước.
«Phục Việt cũng không phải là một chủ thuyết chính trị… vì Phục Việt thuộc về lãnh vực văn hóa, có thể khai triển thành Đạo Sống. Bản chất của Phục Việt là không giáo điều nên có thể dung nạp nhiều chủ thuyết».
Tôi tưởng cũng nên nhắc lại ở đây Tổ chức Phục Việt gồm những cây viết trụ cột của báo Hồn Nước (chỉ hiện diện có hai năm trong làng báo chí Việt Nam ở hải ngoại) như: bác sĩ Trần Ngọc Quang, Tiến sĩ Nguyễn Văn Trần, ký giả Nguyễn Thứ An (Nguyễn Văn Thuận), bác sĩ Nguyễn Hoài Vân… Bác sĩ Trần Ngọc Quang được bầu vào chức vụ chủ tịch tổ chức nầy.
Riêng Bác Ân còn triển khai tinh thần Phục Việt của Bác như sau:
«Tôi sợ nạn mất gốc nên có đề xướng Phục Việt nhưng vì quá già nên chỉ có vài ba tử đệ lai rai. Nay thấy từ trong nước tới hải ngoại, mình đang tiến tới vong bản… Trong ba bốn năm nữa trẻ đâu còn nói tiếng Việt. Và nếu có về nước – cũng chỉ ‘par curiosité’, mất thương nước ‘par motivation’. Mà đời sống vật chất Âu Mỹ là đời sống vật chất chạy theo tiền bạc, ích kỷ, là tự giết cả giống nòi. Nên nhớ tồn chủng là lẽ sống còn, chớ không phải chủ nghĩa lạc hậu dân tộc (nationalisme arriéré). Vườn hoa cả trăm, ngàn thứ hoa, có gốc riêng biệt nên coi đẹp và quý báu.
«Sở học của Ân là học lượm lặt từ Pháp tới Nho…. Ân học với bạn về Nho và nhờ đọc sách Tàu rồi suy diễn ra. Từng đọc các sách Mác xít và ‘militant’… Ân không chấp nhận quan niệm Mác xít về con người cả về duy vật biện chứng pháp. Sau học Dịch Lý với thuyết Âm Dương chấp nhận ‘nhất thể lưỡng diện’ - Tâm vật là Một…
«Sai lầm căn bản của Max là nhận xét con người là ‘vật chất biết suy tư’. Ân đưa ra tư tưởng Phục Việt giúp suy nghĩ về hậu cộng sản. Tất cả là vấn đề sự sống của con người cho nên Ân dùng câu ‘nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân’ của Khổng Tử làm căn bản cho Phục Việt. Tôi vui lòng chấp nhận làm người mất nước hơn sống với cộng sản. Và tôi không ưng về nước khi cộng sản còn làm độc tài vô sản…. Về nhận định con người và sự sống Ân thưa: phải sống bốn chiều: thể xác, tâm tư, tâm trí, tâm thần (hồn)».
Sau ngày Bác Ân tạ thế, Bác gái Như Thủy Võ Kim Lý có gởi cho chúng tôi giữ làm tài liệu và kỷ niệm bản hồi ký của Bác Ân. Chúng tôi thấy cần được phổ biến rộng rãi hơn nên có tham khảo ý kiến của Bác gái và nhờ người em kết nghĩa là họa sĩ Trần Minh Tâm ở Strasbourg Pháp giúp đánh máy. Nhờ đó chúng tôi nhơn ra nhiều bản gởi đến các thân hữu của Bác Ân để gìn giữ, hoặc khi có đầy đủ phương tiện sẽ xuất bản thành sách trịnh trọng hơn.
Đây là hồi ký hiếm hoi được cân nhắc chắc chiu của một đời người từ thuở nhỏ đến tuổi trượng triều trượng quốc. Hồi ký gồm nhiều chương như ‘Thằng Nhỏ Ăn Chay Đi Học’, ‘Đời Thằng Quang Huy‘, ‘Thư Viết Cho Con’ v.v… Căn cứ vào thiên hồi ký nầy chúng tôi xin ghi lại một vài nét chánh yếu mà lòng vững tâm không sợ bị sai lạc do nạn ‘tam sao thất bổn:
Bác Ân chào đời vào năm 1903 lúc đêm 23 rạng 24 tháng chạp âm lịch vào giờ tý tại làng Định Yên, Cái Dầu, tổng An Phú thuộc quận Thốt Nốt, trước đây thuộc tỉnh Long Xuyên. Cái tên Quang Huy của Bác là tên Đạo do ông lão ở chùa Minh Sư Long Xuyên, hiệu Quảng Đức Tế đặt cho, do người bác Hai của Bác đưa Bác vào thọ giáo, cầu Đạo vào khoảng năm 1907-1908. Bác cũng có thố lộ ngày xưa dòng họ của Bác thuộc họ Phạm, về sau mới đổi thành họ Trần và kể từ đời của Bác đến các thế hệ con cháu tất cả đều cùng mang họ Trần.
Những năm được dịp tiếp xuất với Bác Ân, Bác đã để lại trong chúng tôi bao nhiêu lời nói hay và tư tưởng đẹp, xuất phát từ một tấm lòng trung với nước hiếu với dân, một lòng một dạ kiên định lập trường chống lại chủ nghĩa vô thần cộng sản Đệ Tam cùng bè lũ gian nhân hiệp đảng đang ngự trị nơi quê nhà, phá nát đất nước, dìm dân tộc xuống tận cùng của vực thẳm. Chúng tôi không sao không ghi lại những cảm xúc của chúng tôi đối với những gì Bác đã gieo trong lòng mình, những yếu tố vô giá giúp chúng tôi minh định rõ ràng vị trí và hướng đi của mình.
Bây giờ chúng ta thử nhắm mắt bình tâm lắng tai nghe tâm tình của Bác Ân về một vài lãnh vực nhức nhối của thế hệ chúng ta. Và của cả lớp hậu sanh ở hải ngoại và trong nước nữa. Đại khái như quan niệm nhứt quán của Bác về hai chữ Dân Chủ, một đề tài từng gây tranh luận sôi nổi trong các giới chánh trị và đấu tranh ở hải ngoại:
«Trong vấn đề Dân Chủ có hai đoạn: vì dân và do dân. Mà vấn đề tối quan hệ là tin cậy, là đồng thuận (consensus), cộng đồng ưng ý và trọng nhân phẩm, biết thủ pháp phụng công. Vấn đề Tự Do nói cho có chánh trị, chớ ít ai définir (định nghĩa) được ‘la liberté’. Trước kia, có nhiều nhà hoạt động chánh trị và đấu tranh tên tuổi cùng tôi có chỗ bất hòa vì phần lớn trong số đó cho là ‘nếu có Dân Chủ là xong mọi chuyện’.
«Tôi bảo không và chia Dân Chủ ra hai giai đoạn: ‘Vì Dân’ và ‘Do Dân’. Bởi vì cộng sản làm việc không kể lý hay nguyên tắc. Mà cộng sản đã nắm hạ tầng – ta thì tổ chức Dân Chủ toàn diện, đầy đủ, cho bầu cử cấp tỉnh, quận là mình câu cá cho nó ăn, là mình thua ngay. Nên làm ngược lại là đi từ trên xuống, vì dân trước. Vấn đề nầy đòi hỏi lãnh đạo hy sanh. Mà mình không có lãnh đạo, không có:
Kỳ thân chánh bất lịnh nhi hành
Kỳ thân bất chánh lịnh nhi bất hành.
Không có lãnh đạo vì không có người biết thương người cộng sự...
“Nói tới Dân Chủ, ta phải thận trọng đáo để vì Dân Chủ không chỉ nhằm tự do bản năng – liberté des instincts – mà phải đặt vấn đề toàn diện, coi trọng đặc biệt vấn đề trách nhiệm và kỷ luật đối với công lợi công ích, trong sự điều hợp phức biến – harmonisation de la diversité. Phải quan niệm cá nhân là một phần tử không tách rời của cộng đồng. Cho nên trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với cộng đồng phải đi đôi với tự do cá nhân”.
Tiếp theo chúng ta hãy nghe Bác tâm sự chung quanh lá cờ quốc gia, Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, tượng trưng cho chánh nghĩa Việt Nam, tượng trưng cho niềm tin và hy vọng của cộng đồng lưu vong trong công cuộc giải thể chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay ở quê nhà:
“Đó phải là lá Quốc Kỳ, vì xét gần xét xa đều thấy đáng bảo trọng. Xét gần thì do óc phản đối thực dân đem chia đất nước ra ba kỳ, nay trương lá cờ ba sọc nằm trong một nền vàng là muốn nói lên ý chí thống nhất đất nước lại một mối. Như vậy không đáng bảo tồn sao! Tuy nhiên đó mới là vòng ngoài thuộc ý thức, còn vòng trong thuộc tiềm thức thì sâu xa hơn nhiều: nền vàng chỉ trung cang hành thổ nơi ở của con người đại ngã tâm linh nên Kinh Dịch nói ‘an thổ đôn hồ nhân, cố năng ái’. Muốn vào được chốn an thổ nọ thì không thể đi theo lối bái vật hay ý hệ, mà phải dụng ánh sáng tâm linh biểu thị bằng màu đỏ lửa quẻ li. Quẻ li nằm ở cung thứ ba trong tiên thiên bát quái nên hàm ngụ triết lý số ba: trời, đất, người, tức là nền nhân chủ, một triết lý cao hơn hết mà loài người có thể nghĩ ra.
“ Như vậy còn đáng bảo tồn hơn nữa. Chỉ có những kẻ đã vong bản, chạy theo lời xúi dại của ngoại bang mới trân tráo chối bỏ. Chúng ta cần cự tuyệt những kẻ bất rễ đó. Nếu Quốc Khánh Việt Nam phải là ngày giỗ Hùng Vương thì Quốc Kỳ phải là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ”.
Tuy nhiên một đề tài làm cho chúng tôi quá đỗi xúc động vì những nhận xét của Bác xuất phát tự trái tim của người Việt Nam truyền thống muôn thuở, được soi sáng bởi biết bao thành quả hiển hách của tiền nhân và tinh anh chói lòa của Tổ Tiên Dòng Tộc. Chúng tôi nghĩ và tin chắc rằng những người đọc qua tinh thần Hồn Nước của Bác sẽ khâm phục và thấm thía với những gì Bác rút ruột tầm để cô động và thăng hoa nên lời.
Hồn Nước cũng là tên tờ báo do cụ Trần Văn Ân chủ trương xuất bản chỉ được hai năm 1981-1982. Tòa soạn đặt tại số 4 Place Méditerrannée 95200 Sarcelles.
“Sông núi có Khí Thiêng. Nguồn gốc có Uy Linh. Dân tộc có Hạo Khí. Quốc gia có Đạo Nghĩa. Trời đất có Chánh Khí.
“Khí Thiêng, Uy Linh, Hạo Khí, Đạo Nghĩa hòa với Chánh Khí gọi chung là Quốc Hồn, là Hồn Nước.
“Hồn Nước là phần linh thiêng của Quốc Gia Dân Tộc, là cái tinh thần keo đọng của giồng giống từ ngày lập quốc.
“Hồn Nước là cái đúc thành của văn hóa dân tộc, của nền minh triết của thánh hiền từ ngàn xưa.
“Hồn Nước là phần thăng cao của giòng lịch sử oanh liệt của giống nòi trong công cuộc giữ gìn sự nghiệp của tổ tiên.
“Hồn Nước là ánh sáng bừng lên của giòng máu hiền tài dựng nước, là ý chí hùng dũng của sĩ phu giữ nước.
“Hồn Nước là cái vấn vương bên mọi người, là cái không nhìn thấy mà có thường xuyên, là sức linh thiêng phò trì ta và cho ta hy vọng.
“Hồn Nước là khí phách nối liền muôn ngàn thế hệ, là sự sống tinh thần miên tục của Dân Tộc.
“Trong cái triền miên động, trong sự đào thải liên tiếp, trong cái sinh sinh hóa hóa, Hồn Nước là cái mãi còn, và còn trong sự nẩy nở không ngừng của Dân Tộc để tự thành tựu và tự thể hiện.
“Ta còn sông núi, còn nhân dân, còn lịch sử và văn hóa, dầu cho ta mất chủ quyền quốc gia, thì ta chưa hẳn mất, nước ta chưa hẳn tan nếu ta còn Hồn Nước và tranh đấu.
“Còn Hồn Nước là ta còn tất cả bởi vì uy linh của Nguồn còn và không thể khô cạn, bởi uy linh nầy xuất phát từ Chính Khí của Trời Đất.
“Ta nhớ Nguồn là ta biết ta cùng Trời Đất là Một. Nguồn của ta là nguồn Rồng Tiên. Rồng là sức mạnh đại lượng và Tiên là mỹ lệ tinh anh. Cả hai là thể hiện của Chánh Khí. Ý thức Nguồn là ta ý thức Âm Dương, là ta ý thức Thiên Đạo.
«Ý thức Hồn Nước là ta ý thức sự sống còn của Dân Tộc.Với ý thức nầy ta lập chí:
Phục quốc cho Dân Tộc sống còn.
Phục Việt cho hậu thế nẩy nở.
Trì thái bình cho nhân loại âu ca».
Cùng một nhịp suy nghĩ trên đây, Bác Ân không quên đề cập đến một khía cạnh khác cũng vô cùng quan trọng, cực kỳ bức bách, không thể thiếu sót trong cuộc sống hằng ngày của người Việt Nam. Dù họ đang sinh sống trong nước hay ở hải ngoại. Đó là Văn Hóa và cũng nhờ nền tảng vững chắc của Văn Hóa mà chúng ta mới có cơ sở chống lại chủ nghĩa cộng sản Đệ Tam suốt thời kỳ Hà Nội hiếu chiến tập trung chủ lực với sự triệt để ủng hộ của tập đoàn cộng sản quốc tế nhằm xâm chiếm thôn tính Miền Nam. Và chúng tôi cũng xin xác nhận thêm một lần nữa là nhờ đó tạo niềm tin và hy vọng của cộng đồng Việt Nam tỵ nạn ở hải ngoại trong công cuộc trường kỳ đấu tranh kiên cường để giải thể chế độ xã hội chủ nghĩa nơi quê nhà hiện nay.
«Văn Lang tôi sở dĩ chủ trương khôi phục (tức phục hưng) tinh hoa Văn Hóa nước nhà, nói hẹp, và nói rộng là phục hưng cái hay, cái đẹp của văn hóa Đông Phương, vì nó thích ứng thời đại và vì khoa học, trước đây được coi như là cây gậy thần giải quyết được mọi vấn đề thì nay, rõ ra khoa học không giải quyết được điều người ta mong mỏi. Văn minh duy lý duy vật đang tiến về lối cùng đồ mạt lộ để chấm dứt một chu kỳ. Một nền văn minh mới đang chờ đợi nhân loại, văn minh nầy toàn vẹn hơn, gồm cả tâm lẫn vật, thành bởi con người và cho con người mà chúng tôi gọi là văn minh Nhân Bản, xuất phát từ nền minh triết thiên cổ coi Tâm Vật Là Một, Trời Người Là Một, Làm Với Biết Là Một. Tất cả là Một, để rồi hóa hóa sinh sinh vô cùng tận trên căn bản Muôn Loài Một Thể.
«Thiết nghĩ Văn Hóa không chỉ nói về văn nghệ và văn vật. Văn Hóa bao gồm tinh thần Dân Tộc, tư tưởng Dân Tộc, chi tiết Dân Tộc cho đến chế độ chính trị, phong thượng xã hội (phong tục hiếu thượng), luân lý đạo đức và ngôn hạnh của quốc dân với sự tưới rửa quét dọn thường xuyên. Văn Hóa bao hàm mọi mặt của đời sống, vật lý, tâm tư, trí não và tâm linh (linh hồn). Đặt vấn đề luân lý đạo đức không phải nhắm cái xa xưa không còn thích ứng thời đại, mà là chỉ vào cái bất di bất dịch xuyên qua thời và không gian, hạp với nhân tánh (suất tánh) và giúp vào sự nẩy nở và điều hợp của con người để cho con người tự thành tựu và tự thể hiện.
«Đã nói Văn Hóa trùm lên mọi sinh hoạt của con người, thì cũng nói khoa học nằm trong Văn Hóa. Cũng như khi nói tới chế độ chính trị thì không thể xa lánh thực chất của Dân Chủ. Luân Lý mở rộng tánh của con người, con người tự kỷ (cá nhân). Dân Chủ, thực chất Dân Chủ làm sáng tỏ tánh con người (thằng người) con người xã hội nhân quần. Khoa học khai thác tánh của vật. Nói cách khác: Muốn tận cái tánh tự kỷ phải lấy Nhân làm căn bản. Muốn tận cái tánh của con người phải lấy Nghĩa làm đường lối tiến thủ. Muốn tận cái tánh của vật phải nhờ Trí Khôn.
«Phục Hưng Văn Hóa không phải là thủ cựu phục cổ. Chính là làm huy hoàng sáng lạn cái tinh tủy không biến hủ. Nho giáo có cái đặc tánh chủ trương ‘Mỗi ngày mỗi mới, mới lại còn thêm mới’. Phục là khôi phục tiềm lực cố hữu bị thất lạc, cũng là nói Phục Sinh để Hưng Vượng. Cũng là nói chế tạo cái Hoạt Lực cùng tiến với thời đại, với ý nghĩa Phát Dương. Không chỉ tích cực mà thôi còn phải Hướng Tiền. Và không chỉ phát dương cái ưu điểm bản thân, mà còn thu hút cái hay, cái trường xứ của ngoại lai. Nói rộng ra là dung hợp truyền thống với hiện đại, lấy cái đã biết mà tìm ra cái chưa biết, hay nói như người xưa là Ôn Cố Tri Tân. Sự sự việc việc đều xuất phát từ con người, nên chi mỗi con người phải khởi sự từ cái sửa trị bản thân».
Chúng tôi còn hoàn toàn tâm đắc với Bác Ân, khi Bác đã dong dài về một thời khoảng tế nhị, chung vui của toàn thể dân tộc, dù đối với người Việt Nam ở trong nước hay đang lưu lạc khắp nơi trên thế giới. Đó là khi Tết đến với gia đình, mọi người hồi hướng tưởng nhớ sự nghiệp của tiền nhân. Bác luôn nhắc nhở chúng ta ‘Xuân Là Gì?’:
«Là tuổi trẻ của năm và tuổi trẻ là Xuân của đời. Xuân cũng là canh tân, là trẻ trung hóa.
«Người xưa nói: Xuân khai, Hạ trưởng, Thu thâu, Đông tàng. Cho nên Xuân là nẩy nở. Tết Nguyên Đán là cái lẽ dọn mình nẩy nở. Cá nhân nẩy nở trong một xã hội nẩy nở với dân tộc cùng nẩy nở.
«Mưu tìm hạnh phúc cũng là mưu tìm nẩy nở. Vì nẩy nở là Hạnh Phúc, là cái lẽ sống của con người. Hưởng thụ không phải là Hạnh Phúc. Hạnh Phúc cũng là cứu cánh của đời người, thể hiện bằng sự nẩy nở. Mà Tự Do là phương tiện của nẩy nở. Tự Do không phải là Hạnh Phúc cũng không phải là cứu cánh. Mà không có Tự Do thì mất Hạnh Phúc bởi vì mất Tự Do là không nẩy nở».
Đến đây chúng tôi xin ghi lại một kỷ niệm riêng tư đối với Bác Ân. Năm 1994 nhằm những ngày tốt trời vào mùa Hè, vợ chồng chúng tôi cùng quyết định đến Villejean thuộc thành phố Rennes Pháp để thăm viếng vấn an hai Bác. Chúng tôi có dịp lưu lại đây đôi ba ngày và được hai Bác ân cần tiếp đãi trong tinh thần gia đình Việt Nam muôn thuở.
Như tôi đã nói ở đoạn trên, chúng tôi thực sự là người đồng hương đích thực của gia đình hai Bác nên từ đó hai Bác xem chúng tôi như một thành viên chính thức trong gia đình mình. Chúng tôi rất xúc động qua sự tiếp đãi ân cần nồng nhiệt đó của hai người lúc ấy đầu đã bạc trắng, nhưng rất may có sự tiếp tay của Sĩ Hội, con Út của hai Bác. Sĩ Hội còn rất trẻ, đẹp người, ăn nói lịch sự lễ phép, biết tôn trọng những người vai vế, không lâu về sau chẳng may mất ở Việt Nam trong một tai nạn lưu thông trên quốc lộ 1. Đó là nỗi đau đớn vô cùng của hai Bác ở tuổi cuối đời do Sĩ Hội là đứa con duy nhứt của Bác Ân và phu nhân Như Thủy Võ Kim Lý.
Hôm đó, ngoài sự hiện diện của vợ chồng chúng tôi, Bác Ân còn có nhã ý mời cho bằng được bác sĩ Phạm Văn Hạt đến tham dự để câu chuyện ‘ôn cố tri tân’ càng thêm đậm đà sâu đậm và có ý nghĩa hơn. Chỉ trong phút chốc ngắn ngủi Bác sĩ Hạt đến. Trước Tháng Tư Đen 1975, bác sĩ từng giữ chức vụ Chủ tịch Hội Hồng Thập Tự Việt Nam, trụ sở ở đường Hồng Thập Tự Sài Gòn và có lúc được bầu làm dân biểu thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, đơn vị tỉnh Bến Tre, quê hương của bác sĩ.
Bác sĩ cũng như Bác Ân là người tỵ nạn chánh trị cộng sản, đang ổn cư cũng ở thành phố Rennes, chỉ cách tệ xá của Bác Ân không xa mấy. Theo Bác Ân cho biết chính Bác đã khuyên bác sĩ về sinh sống ở Rennes cùng với Bác cho vui và cũng để được ấm áp trong kiếp sống ly hương, cũng như những ngày quạnh quẽ tuổi già.
Đây cũng là lần đầu tiên sau khi lưu vong đến Pháp, chúng tôi gặp lại bác sĩ Hạt nên hôm hội hợp tình cờ đó khiến chúng tôi thêm cảm động hơn lúc nào hết, khi thấy bác sĩ đã bắt đầu lượm thượm chậm chạp, khó cho chúng tôi ghi lại đầy đủ ở đây, ở giờ phút nầy những rung động của mình. Nhìn hai ‘ông già’ đang trực diện với chúng tôi nơi cái bàn cây nhỏ chẳng đáng giá bao nhiêu và vài ba cái ghế quá mức thô sơ nơi căn phòng nhỏ nhắn của chung cư do chánh phủ Pháp giành riêng cho lớp người nghèo khổ với giá mướn chừng mực, chúng tôi càng xót xa cho hoàn cảnh đạm bạc của cả hai, đã rớt từ chót vót của sự nghiệp thênh thang xuống tận cùng của xả hội đương đại. Nhứt là chua xót vì thời gian phũ phàng đã tàn phá con người quá nhanh chóng, không phân biệt một ai.
Hôm lưu lại đây, dĩ nhiên trong câu chuyện hàn huyên, Bác Ân rất hãnh diện nhắc nhớ rất nhiều về gia đình tiếng tăm của Bác gái ở địa phương Voi Lá Long Phú, quận Bến Lức Long An mà người tộc trưởng là nhà cách mạng lão thành Võ Công Tồn đã nằm xuống vĩnh viễn trong uất hận ở nghĩa địa Hàng Dương Côn Đảo. Bác gọi ông Hội Đồng Tồn là ông nội vợ và cũng nhân đó Bác cũng đã say sưa dong dài về những ngày Bác mang cái án tử hình đang chờ được xử, kéo dài cả những chín năm ở đây để qua đó nói lên cái ý chí tuyệt vời của Bác trước nghịch cảnh quá oái oăm trong đời.
Ngoài ra Bác cũng không quên đề cập đến tình hình chánh trị và thời sự lúc bấy giờ, tỏ ra là một nhà ái quốc già dặn, có nhận xét chính xác sâu xa và đầy viễn kiến. Bác ôn cố quá khứ, nhìn trực diện hiện tại cũng như dự phóng và khẳng định con đường tương lai sáng lạn của dân tộc Việt Nam, của giồng giống Lạc Long Tiên Ròng. Chúng tôi đã thức đến khuya lơ khuya lắc để lắng tai nghe những lời vàng ngọc của Bác, của một người vẫn còn sáng suốt minh mẩn, dù đang cận kề cuối con đường của một đời người. Có nhiều việc, nhiều sự kiện lịch sử Bác lưu ý chúng tôi nên quan tâm để ý để không khỏi sơ sót hay lầm lạc, vì Bác nghĩ rằng chúng tôi đang chủ trương điều hành Tập san song ngữ Văn Hóa Pháp Việt (France Vietnam Culture) nên phải càng thận trọng hơn. Chúng tôi rất cám ơn Bác về những lời chỉ bảo khuyên răn quí báu ấy, những lời Bác thốt ra tự đáy lòng yêu thương tha nhân vô vụ lợi rất hiếm hoi, không ít người có được và nhứt là chí tình chí nghĩa, tận tình chỉ dạy cho lớp người đi sau mình.
Có hai sự kiện chúng tôi cần ghi lại nơi đây thuộc về lãnh vực riêng tư, nhưng chúng tôi nhớ đời không sao quên được. Nó đã mãi mãi đeo đuổi theo chúng tôi từ dạo gặp gỡ Bác hôm đó đến tận hôm nay, vẫn còn sáng rực trong tâm tưởng chúng tôi. Việc đầu tiên chúng tôi xin trung thực ghi lại sau đây. Lý do là Bác Ân đã để lại trong chúng tôi những tấm gương trong sáng giúp chúng tôi noi theo và có thể làm kim chỉ nam cho hậu thế suy gẩm để hành động.
Chúng tôi có dịp đọc đâu đó một câu của nhà văn Albert Camus của Pháp (1913-1960): ‘Un exemple n’est pas forcément un exemple à suivre‘. Nhưng trái lại đối với chúng tôi, những tấm gương trong sáng đó Bác Ân để lại trong chúng tôi là những tấm gương đời phải được chúng tôi gìn giữ, trân trọng nghiền ngẩm noi theo.
Nguyên không lâu trước đây, chúng tôi có tập tành viết một ít chuyện đồng quê Nam Kỳ Lục Tỉnh do việc chúng tôi ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng khá nhiều về những bài viết phóng sự giá trị của nhà báo Phi Vân Lâm Thế Nhơn, nhứt là qua quyển Đồng Quê mà chúng tôi đã say sưa nghiền ngẩm không biết bao nhiêu lần, từ lúc còn mài đủng quần ở trung học. Về sau khi sáng lập và điều hành một nhà xuất bản ở thủ đô Sài Gòn, chúng tôi có tái bản mấy lần quyển sách nầy và cũng đã kết thân với tác giả cho đến ngày chúng tôi âm thầm rời bỏ quê hương tìm cuộc sống tự do hạnh phúc.
Bác Ân đã có dịp đọc qua vài ba bài viết ấy của chúng tôi về đồng quê ruộng rẫy Miền Nam, đặc biệt là vùng Thanh Hà, Gò Đen, Bến Lức lúc bấy giờ đã được đăng trên báo chí ở Âu Châu cũng như ở Hoa Kỳ và Gia Nã Đại. Do đó Bác ân cần khuyên bảo và ưu ái hết tình dặn dò chúng tôi rất nhiều ý kiến xây dựng. Bác hết lời khuyến khích chúng tôi nên tiếp tục đeo đuổi theo con đường viết lách khá đặc biệt ấy, vì Bác cho rằng chúng tôi quả đã chọn đúng con đường mình phải đi trong giai đoạn ly hương mà mọi người đều đang sống lưu vong nơi xứ người, đang trăn trở hướng vọng về quê cha đất tổ, về nơi chôn nhao cắt rún cội nguồn gốc rễ của mình.
Nhờ sự tận tình khuyên bảo quí giá đó của Bác Ân, chúng tôi đã mạnh dạng cố gắng hoàn thành hai tác phẩm đầu tay của chúng tôi có nhan đề gợi cảm gợi nhớ là Phá Sơn Lâm Đâm Hà Bá và Hùm Chết Để Da. Hai tập truyện đồng quê nầy rặc mùi hương đồng vị đất Nam Kỳ Lục Tỉnh và may mắn được nhà xuất bản Làng Văn ở Gia Nã Đại nhiệt tình chấp nhận ấn hành lần thứ nhứt và trình làng những năm 2000 và 2001. Cũng nhờ ở sự phấn khời ấy, về sau chúng tôi tiếp tục cầm viết xem như một trách nhiệm của người lưu vong tỵ nạn cộng sản trong giai đoạn phục hồi và vinh danh chính nghĩa quốc gia lấy bối cảnh từ đồng quê và phong tục tập quán của người nông dân chơn chất bám đất bám làng qua hai cuộc chiến vừa qua. Và dĩ nhiên để hóa giải những thao thức triền miên trong tâm trí chúng tôi nhằm tìm lại đôi phút thanh thản an bình trong tâm hồn mình.
Chúng tôi có đọc qua bài ’Vài Cảm Nghĩ Trong Buổi Lễ Cầu Siêu Cho Lão Chí Sĩ Văn Lang Trần Văn Ân’ của nhà văn Hồ Trường An. Chúng tôi bắt gặp một đoạn văn ngắn anh Hồ Trường An ghi lại lời của Bác Ân khuyên bảo tác giả Tập Diễm Ngưng Huy như sau:
«… Bác thấy Trường An biết ít nhiều về chuyện đồng quê vùng Tiền Giang và vùng Hậu Giang. Cháu thử viết truyện dài hay truyện ngắn, lấy bối cảnh đồng quê với các nhân vật ở đồng quê coi sao. Kiều bào chúng ta đang nhớ quê nhà, nhớ cố quốc. Cháu mà viết những gì mà bác vừa nghĩ ra, chắc sẽ được độc giả ưa thích».
Nhờ những lời khuyên bảo đó của Bác Ân, anh Hồ Trường An có cho ra đời hai quyển Lớp Sóng Phế Hưng và Nửa Chợ Nửa Quê, đánh giá bước đầu văn nghiệp quá phong phú của anh sau nầy. Thì ra trước chúng tôi ít năm, Bác Ân đã có lời chí tình khuyên bảo anh Hồ Trường An nên viết truyện đồng quê và anh viết rất thành công ở một lãnh vực ít người viết đến lúc đó. Vì lẽ rất dễ hiểu là ở lãnh vực nầy, người viết phải thực sự sống và sống trọn vẹn trong bối cảnh sông nước ruộng đồng quê hương và nhứt là tâm đắc hiểu tận tường phong tục và tập quán của người dân quanh năm chết sống với ruộng rẫy như chúng tôi đã viết trước đây.
Thì ra con người của Bác Ân là như thế đó. Bác không ngần ngại khuyến khích đôn đốc con cháu hay những người nhỏ tuổi hơn Bác mỗi khi Bác khám phá khả năng tiềm ẩn trong họ. Như trường hợp của anh Hồ Trường An và của chúng tôi. Dĩ nhiên chúng tôi đã đi sau anh Hồ Trường An mấy năm vì hai quyển Phá Sơn Lâm Đâm Hà Bá và Hùm Chết Để Da của chúng tôi được xuất bản một thời gian sau hai quyển Lớp Sóng Phế Hưng và Nửa Chợ Nửa Quê của anh Hồ Trường An.
Anh Hồ Trường An cũng đã viết và xác nhận qua những dòng sau đây:
«Văn nghiệp của tôi nhờ lời khuyên của nhà chí sĩ Trần Văn Ân mà có. Các bực đàn anh của tôi như Xuân Tước, Xuân Vũ, Lê Bảo Trân, Huỳnh Hữu Cửu, Võ Phước Hiếu dù có kiến thức về miệt vườn phong phú hơn tôi nhiều, nhưng các tác phẩm viết về đồng quê của họ ở hải ngoại xuất hiện sau hai cuốn Lớp Sóng Phế Hưng và Nửa Chợ Nửa Quê».
Đến đây chúng tôi xin bước qua một lãnh vực khác, cũng không kém phần hấp dẫn sôi nổi. Trong những đêm tâm tình nầy, Bác Ân còn say sưa bàn về thơ, bình thơ, nhứt là thơ Đường luật. Chúng tôi còn nhớ rõ Bác có nhắc tới bài Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng (tức Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng) của thi sĩ lẫy lừng Lý Bạch mà Bác cho là một tuyệt tác, lời hay ý đẹp.
Bài ấy như sau :
Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.
Bác cũng có nhắc đến bài dịch của học giả Trần Trọng Kim, khiến tôi thêm bái phục trí nhớ quá tốt của Bác vì Bác nhớ không sai sót một chữ nào cả. Ở vào tuổi Bác, trí nhớ được như thế là một hiếm hoi, ít thấy lắm.
Bản dịch của cụ Trần Trọng Kim:

Phía tây bạn biệt Hạc Lâu
Tháng ba trẩy xuống Dương Châu thuận dòng
Cánh buồm bóng hút màu không
Trông xa trắng xóa nước sông bên trời.
Về sau nầy có rất nhiều người dịch trong đó có cụ Chi Điền Hoàng Duy Từ:
Hoàng Hạc từ đây vắng cố nhân
Bạn về hoa khói đất Châu Dương
Cánh buồm heo hút trong mây biết
Chỉ thấy Trường giang chảy ngút ngàn.
Nhân khi nhắc đến bài nầy Bác Ân thố lộ cùng chúng tôi:
“Nhân đọc quyển ‘Theo Ánh Tinh Cầu’ của ông Nguyễn Xuân Vinh bắt gặp bài dịch của cụ Chi Điền Hoàng Duy Từ, tôi cảm thấy muốn dịch. Phải mất mấy ngày mới dịch xong bài của Lý Bạch. Tôi cho câu (4) là chủ bài thơ vì phải có sông Trường Giang và cảnh ‘thiên tế lưu’. Mà vẫn chưa hài lòng với những gì mình đã nghĩ ra. ‘Duy kiến’ có nghĩa là chỉ thấy vì nhìn mãi chiếc buồm mất dần rồi chỉ thấy sông Trường giang chảy giữa trời”.
Bác dịch như sau:
Bạn giã từ, tây Hoàng Hạc Lâu
Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu
Buồm côi thăm thẳm xanh xanh tận
Chỉ thấy lưng trời Trường thủy lưu.
Nói tới thơ, nói vô cùng tận, Bác thao thao không dứt, bất kể giờ giấc, kể cả cơm nước, nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Chúng tôi không lạ gì tâm hồn đam mê của Bác về thơ Đường luật, khi nghe Bác tiếp tục khơi lại những dòng thơ cổ nầy, trong khi chúng tôi không có tha thiết mấy vì mình quá dốt ở lãnh vực thanh tao cao nhả khép kín nầy. Nhưng chúng tôi vẫn phải chú ý ngồi tập trung lắng tai nghe, vẫn tỏ ra mình là người lịch sự, chứng tỏ phong cách tôn trọng niềm đam mê của người đối thoại.
Bác vẫn bình thân kể tiếp rất nhiều bài thơ khác nữa, nhưng trí nhớ của chúng tôi không được như xưa nên chúng tôi không nhớ được bao nhiêu. Nhứt là về phần chữ Hán, trong chúng tôi quả thật rối bời do chỉ học lỏm bỏm vài năm ở trường ốc. Không nhớ nhiều chỉ trừ bài sau đây chúng tôi được đọc qua nhiều lần trên các mặt báo ở hải ngoại sau nầy. Đó là bài Phong Kiều Dạ Bạc (Đêm khuya thuyền đậu ở bến Phong Kiều) của thi sĩ Trương Kế mà đa số những người yêu thơ Đường hầu như đều biết và có lần cũng đã thử dịch qua:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Về sau cũng khá lâu, trong một thư Bác Ân viết cho chúng tôi đề ngày 12 tháng 12 năm1994, Bác viết:
«Trên nguyệt san Petrus Ký Thu Đông tôi có dịch bài Hàn San ký Huệ Dân. Tên Huệ Dân là tên của Trần Văn Ân làm Hoa kiều nhập cảnh Bangkok Thái Lan năm 1946, nhưng chỉ ở đó có mấy tháng rồi trốn lộn về vì Hiệp định Sơ bộ 3 Mars 1946 – Ân tin là sẽ có Nam Kỳ Quốc”.
Tiếp theo cũng trong thư, Bác có nói về bài ‘Nguyệt Lạc’ của Trương Kế, qua đó Bác như hàm ý muốn nói lên và nhấn mạnh quan niệm về thơ Đường của mình:
“… Tôi có tới chơi Tô Châu năm 1929 nhơn dịp đi Nam Kinh phó hội lần thứ 3 – toàn quốc của Trung Quốc Quốc Dân Đảng. Tôi có đến Cô Tô, có chụp hình (máy nhỏ Zeiss Icon mua năm 1926 tại Aix en Provence, Pháp). Tất cả hình ảnh đều mất hết trong tay ông Ngô Đình Nhu và Việt cộng. Tôi có tới chơi Hổ Khưu Sơn (danh tiếng) nhờ tiểu thuyết Đường Bá Hổ… Tôi ở tù thuật cho bạn nghe bị cho tên là Đường Bá Hổ. Tôi có lên núi Thiên Bình cách Tô Châu không xa, xem ‘Cầm Thất’ chỗ Tây Thi đánh đàn, ở đó có thể nhìn ra Thái Hồ, mênh mông như biển cả.
“Về bài ‘Nguyệt Lạc’ của Trương Kế hay lắm rồi. Moi ra mãi chẳng khác nào masturbation intellectuelle. Thơ thì có évasion, sublimation mà tôi gọi là Hồn thơ. Đứng sau cùng là văn, ý, nhạc, tâm (émotion) và Hồn. Nên để ý câu ‘L’art ne fait que des vers, seul le cœur est poète’. Nói chuyện thơ phải có Tâm và Hồn Thơ. Thơ thì phần nhiều có sublimation, có évasion, tức có xa ít nhiều thực tế. Cho nên nói về thơ đừng đòi hỏi ‘cái thực 100%’. Về đối nên để ý cái tương đối, không như hai câu nầy của Bà Huyện Thanh Quan quả là tuyệt đẹp:
‘Lom khom dưới núi tiều vài chú
‘Lác đác bên sông chợ mấy nhà’.
«Tôi nghĩ không nên vạch lá tìm sâu rồi gặp thứ sâu của của Vương An Thạch mà khổ».
Bác Ân còn ân cần phấn khích khuyên bảo chúng tôi với lời lẻ nầy:
«Chú Hiếu chịu khó đọc qua, nghe qua thơ tôi dịch. Có bài nhẹ như gió sơ thu. Có bài mạnh như sóng ‘đuổi xua chân trời’. Ở trong tù Ân cũng có nhiều bài nhẹ nhàng như bài dưới đây:
Sáng ra mấy chú quần đùi đi
Lên núi đốn cây chẳng muốn về
Nghe nói Côn Sơn phong thổ tốt
Mà sao người ở những sầu bi.
«Nhẹ gọn đủ nói lên cảnh các anh khổ sai mỗi ngày phải đi đốn củi rồi lén kết bè trốn tù, phần nhiều chết bỏ xác”.
Rồi Bác xác định về thơ do Bác cảm hứng nên vần điệu:
Thơ ta hay dở kệ ta
Ta cười ta hát với ta đủ rồi
Thơ ta vắng mặt chợ đời
Chẳng khoe thơ thánh thơ tài say sưa
Trong đời chỉ một người ưa
Đủ làm ta hứng thi đua một mình.
Nhân đây chúng tôi cũng xin nói thêm là Bác Ân còn ưu ái động viên chúng tôi thử mạnh dạng «chơi» với thơ Đường xem sao. Chữ «chơi» là chữ Bác dùng rất đúng nghĩa, đúng ý nói lên sự thân mật giữa Bác và chúng tôi. Chúng tôi xin ghi lại giai đoạn đầy hứng thú và đầy hấp lực nầy.
Ngày 17 tháng 6 năm 1994, trong một thư vấn an thường lệ hai Bác, chúng tôi có kèm theo ở đoạn cuối, một bài thơ Đường luật chúng tôi vừa tập tành gieo vần theo lời khuyên nhủ của Bác và cũng để cám ơn Bác đã tận tình chỉ dạy cho. Thì ra cũng nhờ Bác, chúng tôi trở thành người yêu chuộng thơ Đường lúc nào không hay. Và kể từ dạo đó, mỗi khi có dịp, chúng tôi hay say sưa tìm lời tìm ý, chọn vần chọn nhạc điệu nhằm cụ thể hóa nguồn thi hứng tài tử của mình.
Tuy chúng tôi vẫn biết rằng ở lãnh vực thơ Đường, việc sáng tác vô cùng khó khăn đối với một người chân ướt chân ráo vừa bước vào vườn thơ nầy. Nhưng theo lời Bác Ân, người làm thơ trước hết phải chú trọng đến Tâm và Hồn, mà ở hai lãnh vực nầy chúng tôi chủ quan cho là mình có thể hội đủ phần nào. Do vậy hôm đó chúng tôi không ngần ngại gởi đến Bác một bài thơ mong được Bác thẩm định một cách khách quan.
Sau đây là bài thơ chúng tôi đính kèm trong thư:
Viếng Bác Ân
Tháng tám mùa trăng, viếng Bác Ân
Bên thềm chợt thấy dáng danh nhân
Trăm năm, mái tóc màu sông núi
Thế kỷ, bờ vai nét giang san.
Trượng quốc trượng triều âu đã định
Tình nhà nợ nước ắt đa mang.
Cơ Trời vốn dĩ nhiều ngang trái
“Đấu sĩ“ thanh bần, nhẹ lâng lâng.
Chúng tôi viết bài thơ nầy khi hồi nhớ lần đó chúng tôi đến thăm hai Bác ở Villejean. Do đường sá quá xa xôi, chúng tôi ở tận Miền Bắc nước Pháp nên cẩn thận hẹn với Bác sẽ đến khoảng 11 giờ, quá lắm là 11 giờ rưởi trưa. Nhưng không may, hôm đó thời tiết bỗng dưng thay đổi bất thình lình, không được tốt đẹp như mong muốn, phần thì gặp mấy lần liên tiếp kẹt xe cộ, nhứt là lúc vào thành phố Rennes nên chúng tôi đến trễ hơn đúng ngọ. Khi xe chúng tôi lù đù đến nơi chung cư Bác ở, chúng tôi đã thấy bóng dáng Bác rồi. Với mái tóc bạc phơ màu bông bưởi, tay chống gậy, Bác đứng bất động ở hành lang chung cư cố ý trông chờ chúng tôi.
Chúng tôi rất cảm động không biết Bác đã đứng đó từ bao lâu rồi. Quả thật chúng tôi quá ái ngại vì đã vô lễ đối với Bác để Bác phải đích thân chờ đợi lâu lắc. Vừa trông thấy xe chúng tôi, Bác giơ cao cây gậy báo cho chúng tôi biết chúng tôi đã đến nơi và đã đến đúng chỗ. Bác rất muốn sớm được gặp mặt chúng tôi, cũng như chúng tôi khấp khởi trông mong muốn được diện kiến Bác cho thỏa lòng mong chờ.
Ngày 18 tháng 8 năm 1994 tức sau đó ít lâu trong lúc cao hứng chúng tôi lại gởi đến Bác một bài thơ khác nhằm để tỏ lòng nhớ Bác:
Nhớ
Biết viết gì đây để nhớ nhau
Tâm tư khợi động đã nát nhầu.
Nổi trôi thân phận buồn ly xứ
Hờ hững thời gian vụt úa màu

Cắn bút nghĩ quanh sông núi hận
Nghẹn tình đụng phải trái sầu đau.
Tang thương sóng cuốn bao lần nhỉ?
Giấy mực tủi hờn, tóc bạc phau.
Mùa xuân Ất Hợi năm 1995, cũng như hằng năm Bác đều có gởi thư chúc Tết gia đình chúng tôi, cũng như đối với tất cả bạn bè thân hữu đồng chí đồng hành khác của Bác. Trong mỗi thư chúc Tết, Bác luôn luôn có kèm theo lời hay ý đẹp ngắn gọn nhằm đánh động lòng yêu nước, thôi thúc hành động đấu tranh của người nhận. Bác cũng thường có đính kèm theo một bài thơ Việt hay thơ Đường luật với nét bút lông chuyển qua Hán tự như ‘rồng bay phượng múa‘ khiến chúng tôi bồi hồi tưởng nhớ đến thi sĩ quá cố Vũ Hoàng Chương cũng nổi tiếng ở lãnh vực khép kín nầy.
Dịp đó, để đáp lại tấm thạnh tình của Bác, chúng tôi có gởi đến Bác vài bài Đường luật nhân dịp Xuân về:
Đầu Xuân Thương Nhớ
I
Thương nhớ đầu Xuân, nhớ lắm thay!
Nhớ thương “đấu sĩ“, nhớ những ngày:
Trà Cui, quê khó ươm tình nước
Bến Nghé, trường thi hận lũ Tây.
Đất Pháp vẫy vùng lừng Đại Hội
Trời Nam lửa bỏng nguyện nghiêng vay.
Oái oăm thời thế nhiều chìm nổi
Sức ngựa đường dài, hẳn dở… hay.
II
Khúc khuỷu đường dài lắm họa tai
Mưa sa giông bão tiếp tháng ngày.
Mến thương “Quần Chúng” mơ “Đời Mới“
“Đọc Thấy” năm châu mộng đổi thay.
Cam tiếng “Việt gian” bày quốc sách
Bền lòng trung dũng dựng tương lai.
Được thua, thua được, cơ Trời định
Giấc mộng hải hồ vẫn hăng say.
III
Hờ hững thời gian vung vút bay
Hăng say dâng hiến tuổi xuân dài
Ngửa nghiêng vận nước oằn thân gánh
Điên đảo cơ đồ nát trí xoay.
Mấy án tử hình lòng chẳng quản
Bao phen biệt xứ dạ nào lay.
Quê hương văn hiến giờ tím ngắt
Quốc nạn trầm luân, nghẹn đắng cay!
IV
Nước biến nhà tan, vẫn sống đây
Chín mươi tuổi lẻ ắt Trời bày!
“Quang Hưng” “Phục Việt” vầng trăng sáng
“Đa Nạn” hoài Nam uất hận đầy
Lừng lẫy anh hùng thơm trang sử
Kiên gan “đấu sĩ“ vững cờ bay.
“Lưu quân” sứ mạng đành rành đó
Dẫu chẳng tung hoành, chẳng nhạt phai.
V
Còn đây chút nghĩa, chút tình đầy
Góp nhặt hơi thừa tiếp đắp xây.
Nét bút “Văn Lang” son sắt đó
Tấm lòng «Bất Hủ» thủy chung đây.
«Đạt Quan» «Lẽ Sống» vang «Hồn Nước»
«Tinh Tiến» «Đường Sinh» ắt thái lai.
Ôn cố thăng trầm xuân mấy độ
Vườn hồn lãng đãng áng mây bay!
(Miền Bắc Pháp, Xuân Ất Hợi 1995)
Sau đó, chúng tôi nhận được thư hồi đáp nhanh chóng của Bác, chỉ vừa hơn một tuần lễ, đề ngày 26/03/1995:
«Thư ngày 18/03/1995 và 5 bài thi 8 câu (Đường) của chú làm tôi rất cảm động vì chú nói từ ‘Trà Cui‘ tới ‘Đạt Quan Lẽ Sống vang Hồn Nước’ – ‘Tinh tiến Đường Sinh ắt thái lai ‘ - đủ quá rồi. Chắc là chú đã mất thì giờ và bận rộn với vần thơ khá nhiều… Tôi nói tiếng nầy không khỏi bị chú cho là ‘ba phải‘. Tôi thấy thơ có Hồn là thơ hay cho dầu lời, ý và văn có khi ‘kém’. Lúc làm báo tôi không động tới thơ và giao trách nhiệm bình thơ cho một người miền Trung. Và khi làm tờ Đuốc Nhà Nam cuối 1928-1929 chúng tôi giao việc ấy cho ông Tú Oanh (Võ Oanh người quê Hà Tỉnh lớn tuổi hơn tôi khá nhiều – năm 1968 vào bưng với luật sư Trịnh Đình Thảo và ông bạn Lâm Văn Tết của tôi). Thơ là ‘phạm trù rộng, sâu và cao siêu‘ khó mà quyết định. Thơ đã là nhạc của tâm hồn thì sự rung động của tâm hồn là tiêu chuẩn đo lường. Có khi làm cả chục bài cũng không vừa ý mà chỉ vài câu đối nhau quyến rủ mình luôn, khiến mình nhớ mãi. Như hai câu thơ nầy:
‘Tử hình Côn Đảo thâu hoàn vũ
Thất quốc trời Tây đuổi gió mây‘
«Có bạn rành Nho khuyên tôi chửa câu (2) lại cho nó toàn Hán tự mặc dầu nó hay lắm. Tôi vẫn giữ ‘Thất quốc trời Tây đuổi gió mây‘ vừa êm tai vừa đầy ý nghĩa.
«Kể ra chú đã có thể ‘chơi‘ với Đường thi rồi vậy. Chữ, lối dùng, đặt để, trước sau và đối lần lượt rồi tự nhiên mình ‘hay‘ lúc nào không hay».
Nhân ngày sinh nhật của Bác Ân, chúng tôi cảm hứng gởi đến Bác:
Nhớ ngày Sinh Nhựt
Hăm ba Ông Táo vội cao bay
Nức nẻ non sông, tiếng khóc dài (1)
Lật bật cửu tuần vèo giấc điệp
Bẽ bàng thân thế vận chua cay.
Gia vong khoát áo màu «đấu sĩ»
Quốc phá noi gương đấng hiền tài.
Khấp khởi một đời dâng Tổ Quốc
Nỗi buồn sinh nhựt vẫn trời Tây (2).
(1) Òa một tiếng non sông nức nẻ
Nòi Rồng Tiên thêm kể một người
(Mình Với Bóng – Phan Bội Châu)
(2) Sinh nhựt của Bác được tổ chức ở Rennes, Pháp.
Bác Ân và Bác gái còn để lại trong chúng tôi một kỷ niệm khắc cốt ghi tâm, vô cùng xúc động mỗi khi nhắc nhớ đến, dù rằng sự kiện xảy ra quá lâu. Số là hai Bác đã thương mến tặng cho vợ chồng chúng tôi một ‘cà vạt’ nền vàng tươi với ba sọc đỏ thắm, tượng trưng cho lá Quốc Kỳ Việt Nam. Hai Bác dụng ý mong rằng khi có dịp mang nó, chúng tôi sẽ chứng minh mình là người Quốc Gia, dù qua bao nhiêu sóng gió vẫn trước sau như một. Một đặc điểm quan trọng là chính tay Bác gái đã may lấy ‘cà vạt’ nầy khiến chúng tôi càng thêm khâm phục và ngưỡng mộ Bác.
Cũng để tỏ lòng biết ơn đối với tấm lòng và nghĩa cử đầy ý nghĩa nầy, chúng tôi có đôi dòng thơ sau đây:
Nhận Quà Tết
Tết đến, xa quê, những ngậm ngùi
Được quà «đấu sĩ» bỗng rộn vui.
Bao bì gói ghém tình sông núi
Nuộc nhợ buộc ràng phận nổi trôi.
Cà vạt màu cờ ngời quốc sử
Ba dòng huyết thắm giục tim sôi.
Cám ơn công khó đường kim chỉ
Giúp kẻ lưu đày ngẩng mặt soi.
18/01/1995
Lại thêm một bài nữa làm trước đây:
Hưng Bang Đa Nạn
Thân còn, vận nước nghửa nghiêng
Trời dành sứ mạng phải nguyền đấu tranh
Anh hùng xưa, đẹp sử xanh
Hy sinh diệt giặc uy danh lẫy lừng
«Lưu Quân» nào kẻ kiên trung
«Hưng bang đa nạn» vẫy vùng khắc ghi
Tiếc thay vun vút xuân đi
Sức tàn hơi kiệt lỗi nghì núi sông
Thôi còn chút nghĩa tình nồng
Chút lòng son sắt vẹn tròn hiến dâng.
27/09/1994
Tôi viết bài nầy theo yêu cầu của Bác qua thư đề ngày 5 tháng 9 năm 1994 và cũng cảm hứng tâm đắc với đề tài. Bác viết như sau:
«… Muốn viết cho chú dài dài mà sao có việc hoài, đành ngưng rồi tiếp. Thật không muốn như vậy. Sáng nay, nghĩ về câu ‘Hưng Bang đa nạn lưu quân tại’, tôi viết ra mấy câu, dành chúc Tết cho chú đọc trước chơi:
Hưng Bang Đa Nạn Lưu Quân Tại
Nước nát mà ta sống còn
Trời dành sứ mạng phải tròn Lạc Long
Xưa nay chí sĩ uy hùng
Hy sinh dẹp giặc danh lừng sử xanh
‘Lưu Quân’ phận sự đành rành.
«Chú nghĩ nhé! Tiếp tôi cho câu đẹp hơn. Thư nầy tới đây tạm dứt. Hẹn thư sau. Tôi rất tiếc là gặp chú khá muộn. Thư của chú làm tôi thương mến vô cùng. Mà mình thì:
Già rồi
Lôi thôi lắm
Xưa sao quắc thước
Nay sao lượt bượt
Quên trước quên sau quên hoài
Có khi quên cả thân mình già nua
Có cái nhớ mãi không ưa
Cái gông bằng sắt mang vừa cổ chân
Có cái nhớ mãi lâng lâng
Tình nhà nợ nước ân cần nhớ luôn
Âu cũng là hên
Cho già khỏi bận.
Ai ơi muốn chữa bệnh già
Thì đừng, trước có sinh ra làm gì!
Khám tử hình Côn Sơn 1959».
Đời con người không sao tránh khỏi định luật bất biến của tạo hóa: ‘sinh bịnh lão tử‘, có đến có đi, còn mất không một ai tránh khỏi. «Mất còn là lẽ hóa sinh, Yêu thương đọng lại trong tình của ta‘. Nhưng Ông Trời đã ưu ái bang cho Bác Ân một ân huệ hiếm hoi sống đến hơn một trăm tuổi. Ở vào tuổi thọ nầy, dù ở Việt Nam hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới không phải dễ dàng tìm thấy. Nhưng Ông Trời cũng thương mến dang rộng đôi tay hồng ân tiếp rước Bác, khi ra đi rất êm đềm thanh thản, không chút vướng bận thường tình hay tỵ hiềm hận thù. Chúng tôi nói Bác ra đi êm đềm thanh thản vì chúng tôi nghĩ hẳn nhiên Bác đã làm tròn bổn phận đối với Tổ Quốc Dân Tộc, đối với Đất Nước Quê Hương và trong suốt kiếp người hơn một thế kỷ, Bác sống cuộc đời trong sạch trọn vẹn, an phận vô cầu, không hề ăn quỵch thế gian.
Chúng tôi rất xúc động hay tin buồn Bác đã vĩnh viễn giã từ chúng tôi, và từ nay chúng tôi không còn dịp nào nữa để đến vấn an Bác, để được nghe Bác chuyển đạt những lời khuyên dạy nồng nàn hướng thượng, để được nghe Bác bình thơ và dịch thơ Đường, một trong những đam mê cuối đời của Bác. Chúng tôi muốn nói lên nơi đây tâm tư tình cảm của mình đối với Bác, nhân những ngày đau buồn tang khó của gia đình và thân hữu đồng chí đồng hành chí thiết của Bác nên mộc mạc mượn giấy trắng mực đen trang trải lòng mình:
Vĩnh Biệt
Thôi thế từ nay chẳng thấy nhau
Thì đành gọi nhớ tiếng thơ sầu
Trời xanh biêng biếc mây buồn vướng
Nắng hửng chan hòa sắc úa màu
Lưu lạc niềm đau cay tròng mắt
Phũ phàng thân thế thẹn mai sau
Nghĩa tình khơi động lòng tưởng tiếc
Khép mở dòng đời tiếng nấc đau.
19/12/1994
Thương Khóc Bác Ân
Bác đã đi rồi những tiếc thương
Đau lòng «đấu sĩ» khắp muôn phương
«Hưng bang đa nạn» buồn dang dở
Phục Việt phồn vinh nhuốm đoạn trường
Vùng vẫy vá trời bao cam khổ
Tung hoành lấp biển lắm tuyết sương
Cuộc đời chìm nổi trao sông núi
Bác đã đi rồi những tiếc thương!

Sau ngày Bác Ân ra đi, có rất nhiều bài viết chia xẻ niềm đau chung của cộng đồng Việt Nam tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại cũng như chia xẻ nỗi tang khó nầy của Dân Tộc. Và cũng đã hiệp đồng tụng ca công đức của Bác, vừa nồng nhiệt vừa khách quan. Chúng tôi không thể ghi lại tất cả những bài viết giá trị nầy, nhưng xin cho phép chúng tôi chỉ nhắc đến nhận xét sau đây của tiến sĩ Nguyễn Văn Trần, một thành viên của Tổ chức Phục Việt do Bác sáng lập mà chúng tôi cho là cô đọng hơn hết:
«Sự ra đi êm ái, trong yên tỉnh, nhưng lại gây một chấn động tình cảm mênh mông, sâu đậm ở những người thân vì mọi người ai ai đều bắt đầu ý thức từ đây sẽ vĩnh viễn không còn nữa ‘một bóng dáng của thế kỷ’, hùng hồn mạnh dạng của nhà hùng biện dấy động lòng người, của một đấu sĩ hăng hái dấn thân, của một bật triết gia minh mẩn, của nhà chính trị kinh tế với óc nhận định và phản ứng thông minh làm kinh ngạc người đối diện, của nhà văn đầy hứng cảm, hồn thơ dào dạt, của một trang hào hoa với giọng nói tiếng cười luôn luôn đem lại vui tươi nồng ấm».
Chúng tôi cho rằng nhận xét trên đây đã gói ghém tất cả những gì Bác Ân đã để lại cho thế gian và Dân Tộc Việt Nam. Nhưng chúng tôi xét thấy cần trích dẫn thêm đây đôi dòng nói về Bác của nhà báo Mạc Kinh để được đầy đủ hơn. Ông Mạc Kinh là một ký giả kỳ cựu nổi tiếng trong làng báo Miền Nam Việt Nam trước năm 1975, là đồng nghiệp vong niên của Bác Ân, lúc nầy đang tỵ nạn chánh trị ở Anh Quốc. Ông viết từ thủ đô Luân Đôn ngày 9 tháng 11 năm 1991 về Bác Ân lúc Bác còn sanh tiền, trước khi Bác mất chỉ vài năm sau. Nay nhân dịp Bác Ân không còn nữa, chúng tôi thiết tưởng nên ghi lại những phán đoán trung thực, những suy xét chính xác của ông về Bác nhằm nói lên con người chân chính của Bác:
«Tiên sinh có cái quyền vui sướng trọn vẹn, tự tưởng thưởng cho mình cái giá tri tinh thần ngời sáng – vì những điều Tiên sinh chiêm nghiệm từ nửa thế kỷ qua đang thể hiện rõ ràng như ban ngày. Cái lý thú lại càng lý thú hơn những người khác, chính là ở chỗ đó.
«Ở đời, có phải ai cũng thành công được đâu - sự thành công hiểu theo nghĩa thông thường của người thiên hạ - có điều, đối với một số cá nhân đặc biệt, cái chính yếu phải là có lý tưởng, tận tình tranh đấu và chiến đấu, làm với tất cả sự có thể làm được, để rồi lúc đầu đã bạc, lòng riêng không có chút gì thẹn, lụy với chính mình, lương tâm thanh thoát, tâm hồn trong sáng, ngày tháng lửng thửng nhàn du với tuổi trời ban cho, để rồi trước mắt người đời, mãi mãi vẫn là một kẻ đã làm tròn bổn phận xứng đáng con dân đất nước Việt, tưởng như vậy đã là sự thành công tuyệt vời rồi! Tiên sinh đang là như thế !
«Tôi vẫn suy tư vấn đề Hạnh Phúc bên cạnh vấn đề lớn của Dân Tộc, Đất Nước. Vì ý nghĩa tối thượng Hạnh Phúc không nên hiểu giản dị về mặt vật chất, nó còn là Danh Dự. Một cá nhân trong lớp ‘kiếp người‘ phải có tư cách, nhân phẩm thế nào mới được người bạn đường, người tri kỷ dành cho cái danh dự ấy!
«Tiên sinh ngồi giữa anh em chúng tôi ngày nay đã là bông hồng, cánh hồng tuyệt đẹp!».
Thật là đẹp và Bác Ân rất xứng đáng với những lời tán tụng đó. (Trích trong Thơ Văn Lang Và Chư Hữu trong Tủ sách Gia đình 1992).
Sau cùng, chúng tôi xin trích dẫn tâm tình của tác giả Nguyễn Sỹ Hưng trong bài Vĩnh Biệt Nghĩa Huynh Trần Văn Ân:
Người từ chốn đồng quê ruộng rẫy
Sống cuộc đời sôi nổi suốt trăm năm
Học bên Tây để yêu nước Việt Nam
Để chống Pháp, để ngồi tù đế quốc.

Lửa cách mạng người đốt thành bó đuốc
Người vào tù ra khám biết bao phen
Không làm quan, ngồi cùng với dân đen
Đòi quyền sống, đòi tự do dân chủ.

Người thừa sức sống cuộc đời no đủ
Nhưng công danh coi tựa đám phù vân
Khi sang Tàu, khi lưu lạc Thiên Nam
Khi làm báo khi thét to độc lập.

Khi Đỗ Phủ viết câu thơ «thất thập» (*)
Người ngang nhiên sống vượt mấy mươi năm
Em tiếc sao mảnh đất chỗ người nằm
Lại không phải ở quê hương yêu dấu.

Người chiến sĩ suốt cuộc đời chiến đấu
Lúc ra đi thanh thản vẫn tay không
Có ai đem thất bại với thành công
Để đàm luận anh hùng cho được nhỉ?

Treo gương sáng cho đầu xanh tuổi trẻ
Hỡi người cha! người đồng chí trung kiên
Việc của người con cháu sẽ không quên
Hỡi người bạn! người anh đầy nhiệt huyết !

Từ nước Mỹ em tay run muốn viết
Muốn khóc anh khi sự nghiệp chưa thành
Thể xác mất đi, còn lại thanh danh
Còn lại tấm gương muôn đời soi sáng.
(*) Tửu trái tầm thường hành xứ hữu
Nhân sinh thất thập cổ lai hy
Đỗ Phủ
Nhà văn Ái Nhĩ Lan Jonathan Swift (1667-1745) có lưu lại hậu thế câu nầy: “Vivre dans le Coeur de ceux que nous laissons derrière nous, ce n’est pas mourir». Có thể tạm dịch như sau: Sống trong tim của những người chúng ta đã bỏ lại sau lưng chúng ta, đó không phải là chết.
Bác Ân! Bác là một trong những người hiếm hoi đó!
Dân Mộc Tiểu Lộ (Allée des Peupliers)
Viết xong ngày 30 tháng 5 năm 2017

 





TRẦN VĂN ÂN NHÀ BÁO KIÊT XUẤT SỐNG MỘT TRĂM NĂM

Trần Văn Ân sinh ngày 23 tháng chạp năm Nhâm Dần nhưng năm dương lich lai là tháng giêng năm 1902 thành ra ông nằm trong bụng mẹ xuốt năm Nhâm Dần do đó ông qua đời khi lưu vong tại Pháp vào tháng 9 nằm 2002 kể như ông đã trăm tuổi khi lìa cõi thế


Tràn Văn Ân sinh ra tại rạch Trà Cui huyện Thốt Nốt tỉnh Long Xuyên theo lời kể trong hồi ký của ông thì tuy cha là phú hộ nhưng mẹ ông lại giận tánh ‘’trăng hoa’’ của cha ông nên về với me sinh ra bà do đó ông ở nhà bà ngọai tại vùng xa xôi hẻo lánh .Tuy nhà bà ngọai có tiền nhưng lại ăn chay trường vì bà tu tại gia theo phái Minh Sư[Phât Gíao] nên ăn chay trường


Trần Văn Ân sống với ngọai nên cũng ăn chay trương và tụng kinh Phât cho tới bốn tuổi thì bà nôi Trần Văn Ân đem ông về nuôi bà nôi cũng ăn chay trương thành ra Trần Văn Ân lại tiếp tục ăn chay.Năm tuổi Trần Văn Ân được bác Hai đem về nuôi vì mẹ Trần Văn Ạn đã giận cha ‘’thí phát’’ vô chùa tu luôn ủy thác bà ngọai nuôi ông.Bác Hai của Trần Văn Ân cũng tu Phât và ăn chay nên mỗi ngày bác’’bới’’ cơm chay gồm cơm với chao hoăc tương hôt hay muôi ớt cho Trần Văn Ân đem theo ăn trưa sáng thì nắm xôi hay củ khoai lang luôc lót dạ,Tuy sống đạm bạc nhưng Trần Văn Ân mạnh như con trâu’’ cui’’ và học khá giòi.Bẩy tuổi Bác Hai dẫn Trần Văn Ân tới chùa Qủang Đức Tế qui y với pháp danh Quang Huy

11tuổi cha Trần Văn Ân và bác Hai quyết định với bất cứ giá nào cũng phải đưa Trần Văn Ân lện Saigon học trương Tây mà phải thứ trường’’bảnh’’ nhất xứ Đông Dương đó là trương’’bổn quôc’’ có tên là Chasseloup Laubat

Với tiền bạc đầy môt va li bác Hai của Trần Văn Ân đã dẫn cậu bé Trần Văn Ân 11 tuổi xuống tầu thủy rời Thốt Nốt lên Mỹ Tho rối sang xe lửa lên Saigon.Tới ga Saigon bác Hai và Trần Văn Ân lên xe kéo tới thẳng nhà của ông Tô Ngọc Chánh môt đồng hương hiện làm thư ký cho văn phòng luât sư Duval nhờ ông Chánh lo cho Trần Văn Ân vào hoc nội trú trương Chasseloup Laubat ở khu Tây chư không phải khu bản xư không kể gì tốn kém

Ông Chánh cười sòa nói dễ thôi nhưng hơi tốn đây,bác Hai mở va ly bạc trắng ra và trả lời gia đình sẵn sang miễn thằng nhỏ vô trương ‘’bổn quốc’’ học tại khu người Tây là đươc
Ông Tô Ngọc Chánh đã’’chạy’’ cho Trần Văn Ân vào học tại trương Chasseloup Laubat’’khu Âu Chậu[quartier Européen] đàng hòang nhưng chỉ học lớp ba thôi


Dù học lớp ba trường’’bổn quốc’’ nhưng cậu bé nhà quê Trần Văn Ân cũng phải gồng mình mới theo kịp bạn bè vì tiếng Tây trương’’bổn quôc’’ hòan tòan khác với tiếng Tây trương Thốt Nốt đã thế câu bé’’nhà quê Trần Văn Ân quen ăn chay’’dị ứng ‘’ với bơ sửa phó mát sô cô la thit cá nên ngày nào cũng làm môt bụng bánh mì với ‘’ma di’’ hoăc muối tiêu và rau sà lách


Tuy học trường’’bổn quôc’’ cưc như vây nhưng chỉ sáu tháng Trần Văn Ân đã hội nhập với thế giới học sinh trương bổn quôc khu Tây’’ rặc ‘’trở thành môt trong năm học sinh đứng đầu lớp.Lên trung học thì Trần Văn Ân không những học giỏi mà còn nổi tiếng nghĩa hiệp sẵn sàng giúp đỡ bạn bè khi bị bọn Tây con ỷ mạnh bắt nạt vì ở quê Trần Văn Ân có đươc bác Hai dạy cho chút võ nghệ


Năm 1923 Trần Văn Ân đậu bằng Brevet Elémentare với hạng ưu đươc chuyển thẳng lên học seconde thì đúng lúc cha của Trần Văn Ân cũng như bác Hai gặp khó khăn về tiền bạc Trần Văn Ân quyết định nghỉ học .Nghe tin Trần Văn Ân quyết định nghỉ học thầy Tullíe bạn thân với thống đốc Nam Kỳ tên Cognac đã xin ông Cognac cho Trần Văn Ân môt cái học bổng tòan phần nhưng Ttần Văn Ân chỉ nhận học bổng này có nửa năm thì bỏ học nhận kèm hai bạn hoc đi Tây du học với điều kiện đươc lo tiền tầu biển và lo chỗ ăn ở củng học phí miễn là luôn kèm cặp hai người bạn lắm tiền nhiều của nhưng đầu óc khá’’tối tăm’’.Thế là giữa nắm 1926 Trần Văn Ân cùng hai người hoc trò mà cũng là bạn hoc xuống tầu thủy đi Tây Bác Hai vét hết tiền chưa đươc trăm bạc cho cháu dằn túi

Sang Tây sau khi lo chỗ ăn ở tại Marseille Trần Văn Ân thi vào trương Cao Đẳng Công Nghệ ở Marseille và đậu khá cao.Khi ấy tại Aix-en-Provence có một tờ báo của sinh viên viết bằng tiếng Pháp cần phóng viên Trần Văn Ân đa ghi tên dự tuyển và trúng tuyển thế là Trần Văn Ân trở thành nhà báo sinh viên

Làm báo sinh viên Trần Văn Ân đã tham gia ban tổ chức Đai Hội Sinh Viên Tòan Đông Dương trên đất Pháp lần thứ nhất vào năm 1927.Kết quả của Đai Hôi này là bản tuyên bố của sinh viên tòan cõi Đông Dương đòi nhà cầm quyền Pháp phải trao trả Độc Lập cho các nuớc Pháp’’ bảo hộ ‘’ trên bán đảo Đông Dương.Mật thám Pháp khám phá ra tác gỉa cái bản tuyên bố của Tổng Hôi Sinh Viên Tòan cõi Đông Dương không ai khác hơn là đám sinh viên Việt Nam Trần Văn Ân Tạ Thu Thâu Trần Văn Thạch Phan Văn Hùm Hồ Hữu Tương.Thế là nhà cầm quyền Pháp ra tay’’trục xuất ‘’ các tác giả bản Tuyên bố của Tổng Hôi Sinh Viên Tòan Cõi Đông Dương về xứ

Bị trục xúat về nước tháng 10 năm 1928 Trần Văn Ân gặp luât sư Dương Văn Gíao và nhà nho Võ Oanh rủ ra báo liền nhận lới làm Tổng thư ký tòa sọan tờ’’cách nhât báo’’ Đuốc Nhà Nam


Nhờ làm Tổng Thư Ký tòa sọan’’cách nhật báo’’Đuốc Mjà Nam mà thảng năm 1929 Trần Văn Ân đươc mời tham dư đại hôi Quốc Dân Đảng Trung Quốc ở Nam Kinh vào tháng 3 năm 1929 và ờ lại Nam Kinh tới cuối năm mới về nươc

Về nươc Trần Văn Ận gặp lại bạn bè cũ từng làm báo Sinh Viên ở bên Tây thủa nào như Tạ Thu Thâu Phan Van Hùm Hồ Hữu Tương và quyết định cùng bạn bè phát động Phong Trào Đông Dương Dại Hôi một phong trào quần chúng đã lan rông khắp Đông Dưong làm người Pháp phải e ngại và tiếng tăm Trần Văn ÂnTa Thu Thâu Phan Văn Hùm Hồ Hữu Tường vang dôi

Chiến tranh thế giới lần thư nhì xẩy ra người Pháp gom tất cả những nhân sĩ yêu nươc ở Saigon lại kẻ bị dưa đi Côn Đảo người bị đầy đi Bà Rá,Trần Văn Ân bị đầy đi Bà Rá,Trong lúc Trần Văn Ân bị đầy đi Bà Rá thì bà vơ kế của Trần Văn Ân một người Hoa có giao thiệp với môt người Nhât là chủ hãng đóng tầu biển DainamKosi bà than thở chuyện chồng bị đi đầy ông chủ DainamKosi môt lãnh tụ Đảng Hắc Long của Nhât Bản đã bảo với bà Ân là ông sẽ tổ chức cho Trần Văn Ân vượt ngục và xuất ngọai đi lưu vong

Qủa nhiên Đảng Hắc Long đã tổ chưc cho Trần Văn Ân vươt ngục và đưa sang Singapore cùng nhà sử học Trần Trọng Kim nhưng sang Singapore với đàu óc nhậy bén của môt nhà báo Trân Văn Ân đã nói thẳng với người Nhât làNhât nên cầu hòa với Đông Minh nếu không sẽ bại trận nhục nhã đám quân phiệt Nhât bưc mình vì lời nói thẳng của Trần Văn Ân đã đưa Trần Văn Ân qua Nam Dương quần đảo may nhờ sự can thiệp của thủ tương Trần Trong Kim tháng tám năm 1945 người Nhât mới cho Trần Văn Ân về Saigon


Về Saigon Trần Văn Ân gặp lại người bạn cố tri là lụât sư Dương Văn Gíao mới ở Thai Lan về hai ngươi trao đổi và di tới thống nhất là phải đòan kết các lực lương không phân biêt chánh kiến kể cả thân Nhât đẽ chống sư trở lại của thưc dân Pháp và nhà báo Trần Văn Ân vôi vàng đến găp người bạn cũ là Hồ Văn Ngà hiện đương là Phó Khâm Sai của triều đình Huế ở Saigon trong khi luât sư Dương Văn Gíao huy động hai sư đòan hài ngọai quân ở Thái Lan về nươc

Lưc lương quôc gia kháng chiến có quân Cao Đài của đầu sư Trần Quang Vinh quân Hòa Hảo của Đức Thầy Hùynh Phú Sổ một sư đòan của Vũ Tam Anh môt sư đòan của Nguyễn Hòa Hiệp môt sư đòan của Hòang Cao Nhã và bô đôi An Diền của Đai Viêt thêm vào đó còn có hai chi đôi Bình Xuyên của Dương Văn Dương và Lê Văn Viễn


Thấy lưc lương quôc gia kháng chiên quá mạnh Trần Văn Giầu cho lệnh Hùynh Văn Nghê bắt cóc luât sư Dương Văn Gíao và ông Hồ Văn Ngà đem thủ tiêu
Trươc sư ra tay của Trần Văn Gìau nhà báo Trần VănÂn cố gắng xoay trở tình thê từ Xóm Củi qua với Lưc Lương Bình Xuyên rối liên lạc với Đức Thầy Hùynh Phú Sổ một măt chống Trần Văn Gìau mặt khác chống âm mưu lập chính phủ Nam Kỳ Quôc của thưc dân Pháp/Tương De La Toitr bực bôi trước việc làm của TRẦN Văn Ân đã tuyên chiến với nhà báo Trần Văn Ân khiến ông phải lưu vong sang Thái Lan để vận động cho giải pháp Bảo Đai và khi vua Bảo Đai chấp nhận về nươc làm quôc trưởng cử trung tương Nguyễn Văn Xuân làm thủ tương thì thủ tương Xuân nghĩ ngay tới Trần Văn Ân và ông nhận giữ bô Thông Tin đích thân vẽ lá cờ ba sọc đỏ làm quôc kỳ


Nhà báo Trần Văn Ân tham chính không lâu nhưng chính ông là người đặt nền móng cho những chính phủ quôc gia sau này
Nghỉ làm bộ trưởng Trần Văn Ân trở lai với nghề báo ông quyết đinh ra môt tờ báo ảnh lấy tên là Đọc Thấy ,Nghe nhà báo Trần Văn Ân ra báo ảnh đai sứ Mỹ tại Viêt Nam lúc bấy giờ rất tâm đắc mời nhà báo Trần Văn Ân tới và cho biết Phòng Thông Tin Mỹ ở Viêt Nam sẵn sàng đăt mua dài hạn ba nghìn sô mỗi kỳ và trả tiền trươc


Tờ Đoc Thấy đả là tờ báo ảnh đầu tiên ở Viêt Nam bán khá chạy nhưng Trần Văn Ân thấy báo ảnh không phổ cập bằng báo chữ nên đã đổi tơ Đoc Thấy thành tờ Đời Mới và mời nhà văn Hòang Trong Miên làm thư ký toa sọan riêng Trần Văn Ân làm chủ nhiệm kiêm chủ bút mỗi sô viêt bốn bài ký các bút hiêu Dương Văn Đưong Bất Hủ Văn Lang và Trần Văn Ân

Sau môt thời gian Trần Văn Ân thấy Hòang Trong Miên thân Cộng đã mời nhà báo Tế Xuyên tưc Léon Sanh tưc Hòang văn Tiếp con trai bà Cả Môc người nổ phát sùng đầu tiên của khởi nghĩa Yên Bái bắn nhà mộ phu Bazin tại Lò Đúc làm Tổng thư Ký tòa sọan và nhà văn Nguyễn Đưc Qùynh làm phu tá chủ bút


Cuôc đới làm báo của Trần Văn Ân nổi đình đám nhất là xuất bản tờ báo Đời Mới tờ báo có thể so sánh với tap chí Nam Phong của Pham Qùynh hay tùần báo Ngày Nay củaNhất Linh Nguyễn Tương Tam

Tiếc rằng nhà báo Trần Văn Ân vì nghĩa lớn đã cùng với Đức Hộ Pháp Pham CôngTắc lập Măt Trận Thống nhât tòan lực Quốc Gia và nhận làm Tổng Thư Ký Măt Trận Thống Nhất Tòan Lưc Quôc Gia mà phải đi đầy Côn Đảo nên tuần báo Đời Mới phải đình bảnTheo nhà báo Trần Văn Ân ông bị án tử hình mới thấy bạn bè năm châu bốn biển thương ông như thế nào và ở tù ông mới có dịp làm thơNgười sống có đưc nhu Trần Văn Ân bị án tử hình không chêt trở về còn hai lần làm bô trưởng đó là bộ trưởng bô Chiêu Hồi rồi bô trưởng Thông Tin và cuối cùng làm phu tá Tổng Thống kiêm cố vấn Phái Đòan VNCH tại hòa đàm Paris

Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 nhà báo Trần Văn Ân đã bẩy mươi hai tuổi ông trở về vơi nghề báo và ông viết báo tiếng Viêt tiêng Pháp tiếng Hoa thêm hai mưoi tám năm nữa mới rời cõi thế

Nhà báo Trần Văn Ân cuối thế kỷ trươc có viêt thư cho kẻ viết những dòng này la đời ông có cái sung sương là đươc chứng kiến những tiên dóan của mình thành hiên thưc đó la tiên đóan sư tan rã của Liên Xô va khối Đông Âu
Theo Trần Văn Ân thì cuôc đời ông nhờ thủa bé ăn chay học Phật nên ông trải qua biết bao sóng gió vẩn sống vững vàng cái học ngòai đời đã quan trọng nhưng cái học trong kinh nhà Phật còn quan trọng hơn nhiều với đời sống của Trần Văn Ân


Hồ Nam


TRÍCH THƠ TRẦN VĂN ÂN

Tôi và làng thơ
Trời phú tôi thương cảm
Thường sôi sục với mình
Viết chơi nhiều ít chữ
Phơi một người đa tình
Cấm cố tử hình Côn Đảo


Trần Văn Ân

HỒ NAM * HOÀI NIỆM KÝ GIẢ TRẦN VĂN ÂN

 TRẦN VĂN ÂN 

 HỒ NAM

TRẦN VĂN ÂN NHÀ BÁO KIÊT XUẤT SỐNG MỘT TRĂM NĂM



Chuyên mục: Tác GiảCập nhật 5 năm trước

Trời phú tôi thương cảm
Thường sôi sục với mình
Viết chơi nhiều ít chữ
Phơi một người đa tình


TRẦN VĂN ÂN NHÀ BÁO KIÊT XUẤT SỐNG MỘT TRĂM NĂM Trần Văn Ân sinh ngày 23 tháng chạp năm Nhâm Dần nhưng năm dương lich lai là tháng giêng năm 1902 thành ra ông nằm trong bụng mẹ xuốt năm Nhâm Dần do đó ông qua đời khi lưu vong tại Pháp vào tháng 9 nằm 2002 kể như ông đã trăm tuổi khi lìa cõi thế


Tràn Văn Ân sinh ra tại rạch Trà Cui huyện Thốt Nốt tỉnh Long Xuyên theo lời kể trong hồi ký của ông thì tuy cha là phú hộ nhưng mẹ ông lại giận tánh ‘’trăng hoa’’ của cha ông nên về với me sinh ra bà do đó ông ở nhà bà ngọai tại vùng xa xôi hẻo lánh .Tuy nhà bà ngọai có tiền nhưng lại ăn chay trường vì bà tu tại gia theo phái Minh Sư[Phât Gíao] nên ăn chay trường



Trần Văn Ân sống với ngọai nên cũng ăn chay trương và tụng kinh Phât cho tới bốn tuổi thì bà nôi Trần Văn Ân đem ông về nuôi bà nôi cũng ăn chay trương thành ra Trần Văn Ân lại tiếp tục ăn chay.Năm tuổi Trần Văn Ân được bác Hai đem về nuôi vì mẹ Trần Văn Ạn đã giận cha ‘’thí phát’’ vô chùa tu luôn ủy thác bà ngọai nuôi ông.Bác Hai của Trần Văn Ân cũng tu Phât và ăn chay nên mỗi ngày bác’’bới’’ cơm chay gồm cơm với chao hoăc tương hôt hay muôi ớt cho Trần Văn Ân đem theo ăn trưa sáng thì nắm xôi hay củ khoai lang luôc lót dạ,Tuy sống đạm bạc nhưng Trần Văn Ân mạnh như con trâu’’ cui’’ và học khá giòi.Bẩy tuổi Bác Hai dẫn Trần Văn Ân tới chùa Qủang Đức Tế qui y với pháp danh Quang Huy



11tuổi cha Trần Văn Ân và bác Hai quyết định với bất cứ giá nào cũng phải đưa Trần Văn Ân lện Saigon học trương Tây mà phải thứ trường’’bảnh’’ nhất xứ Đông Dương đó là trương’’bổn quôc’’ có tên là Chasseloup Laubat


Với tiền bạc đầy môt va li bác Hai của Trần Văn Ân đã dẫn cậu bé Trần Văn Ân 11 tuổi xuống tầu thủy rời Thốt Nốt lên Mỹ Tho rối sang xe lửa lên Saigon.Tới ga Saigon bác Hai và Trần Văn Ân lên xe kéo tới thẳng nhà của ông Tô Ngọc Chánh môt đồng hương hiện làm thư ký cho văn phòng luât sư Duval nhờ ông Chánh lo cho Trần Văn Ân vào hoc nội trú trương Chasseloup Laubat ở khu Tây chư không phải khu bản xư không kể gì tốn kém


Ông Chánh cười sòa nói dễ thôi nhưng hơi tốn đây,bác Hai mở va ly bạc trắng ra và trả lời gia đình sẵn sang miễn thằng nhỏ vô trương ‘’bổn quốc’’ học tại khu người Tây là đươc


Ông Tô Ngọc Chánh đã’’chạy’’ cho Trần Văn Ân vào học tại trương Chasseloup Laubat’’khu Âu Chậu[quartier Européen] đàng hòang nhưng chỉ học lớp ba thôi

Dù học lớp ba trường’’bổn quốc’’ nhưng cậu bé nhà quê Trần Văn Ân cũng phải gồng mình mới theo kịp bạn bè vì tiếng Tây trương’’bổn quôc’’ hòan tòan khác với tiếng Tây trương Thốt Nốt đã thế câu bé’’nhà quê Trần Văn Ân quen ăn chay’’dị ứng ‘’ với bơ sửa phó mát sô cô la thit cá nên ngày nào cũng làm môt bụng bánh mì với ‘’ma di’’ hoăc muối tiêu và rau sà lách


Tuy học trường’’bổn quôc’’ cưc như vây nhưng chỉ sáu tháng Trần Văn Ân đã hội nhập với thế giới học sinh trương bổn quôc khu Tây’’ rặc ‘’trở thành môt trong năm học sinh đứng đầu lớp.Lên trung học thì Trần Văn Ân không những học giỏi mà còn nổi tiếng nghĩa hiệp sẵn sàng giúp đỡ bạn bè khi bị bọn Tây con ỷ mạnh bắt nạt vì ở quê Trần Văn Ân có đươc bác Hai dạy cho chút võ nghệ


Năm 1923 Trần Văn Ân đậu bằng Brevet Elémentare với hạng ưu đươc chuyển thẳng lên học seconde thì đúng lúc cha của Trần Văn Ân cũng như bác Hai gặp khó khăn về tiền bạc Trần Văn Ân quyết định nghỉ học .Nghe tin Trần Văn Ân quyết định nghỉ học thầy Tullíe bạn thân với thống đốc Nam Kỳ tên Cognac đã xin ông Cognac cho Trần Văn Ân môt cái học bổng tòan phần nhưng Ttần Văn Ân chỉ nhận học bổng này có nửa năm thì bỏ học nhận kèm hai bạn hoc đi Tây du học với điều kiện đươc lo tiền tầu biển và lo chỗ ăn ở củng học phí miễn là luôn kèm cặp hai người bạn lắm tiền nhiều của nhưng đầu óc khá’’tối tăm’’.Thế là giữa nắm 1926 Trần Văn Ân cùng hai người hoc trò mà cũng là bạn hoc xuống tầu thủy đi Tây Bác Hai vét hết tiền chưa đươc trăm bạc cho cháu dằn túi


Sang Tây sau khi lo chỗ ăn ở tại Marseille Trần Văn Ân thi vào trương Cao Đẳng Công Nghệ ở Marseille và đậu khá cao.Khi ấy tại Aix-en-Provence có một tờ báo của sinh viên viết bằng tiếng Pháp cần phóng viên Trần Văn Ân đa ghi tên dự tuyển và trúng tuyển thế là Trần Văn Ân trở thành nhà báo sinh viên


Làm báo sinh viên Trần Văn Ân đã tham gia ban tổ chức Đai Hội Sinh Viên Tòan Đông Dương trên đất Pháp lần thứ nhất vào năm 1927.Kết quả của Đai Hôi này là bản tuyên bố của sinh viên tòan cõi Đông Dương đòi nhà cầm quyền Pháp phải trao trả Độc Lập cho các nuớc Pháp’’ bảo hộ ‘’ trên bán đảo Đông Dương.Mật thám Pháp khám phá ra tác gỉa cái bản tuyên bố của Tổng Hôi Sinh Viên Tòan cõi Đông Dương không ai khác hơn là đám sinh viên Việt Nam Trần Văn Ân Tạ Thu Thâu Trần Văn Thạch Phan Văn Hùm Hồ Hữu Tương.Thế là nhà cầm quyền Pháp ra tay’’trục xuất ‘’ các tác giả bản Tuyên bố của Tổng Hôi Sinh Viên Tòan Cõi Đông Dương về xứ


Bị trục xúat về nước tháng 10 năm 1928 Trần Văn Ân gặp luât sư Dương Văn Gíao và nhà nho Võ Oanh rủ ra báo liền nhận lới làm Tổng thư ký tòa sọan tờ’’cách nhât báo’’ Đuốc Nhà Nam



Nhờ làm Tổng Thư Ký tòa sọan’’cách nhật báo’’Đuốc Mjà Nam mà thảng năm 1929 Trần Văn Ân đươc mời tham dư đại hôi Quốc Dân Đảng Trung Quốc ở Nam Kinh vào tháng 3 năm 1929 và ờ lại Nam Kinh tới cuối năm mới về nươc


Về nươc Trần Văn Ận gặp lại bạn bè cũ từng làm báo Sinh Viên ở bên Tây thủa nào như Tạ Thu Thâu Phan Van Hùm Hồ Hữu Tương và quyết định cùng bạn bè phát động Phong Trào Đông Dương Dại Hôi một phong trào quần chúng đã lan rông khắp Đông Dưong làm người Pháp phải e ngại và tiếng tăm Trần Văn ÂnTa Thu Thâu Phan Văn Hùm Hồ Hữu Tường vang dôi



Chiến tranh thế giới lần thư nhì xẩy ra người Pháp gom tất cả những nhân sĩ yêu nươc ở Saigon lại kẻ bị dưa đi Côn Đảo người bị đầy đi Bà Rá,Trần Văn Ân bị đầy đi Bà Rá,Trong lúc Trần Văn Ân bị đầy đi Bà Rá thì bà vơ kế của Trần Văn Ân một người Hoa có giao thiệp với môt người Nhât là chủ hãng đóng tầu biển DainamKosi bà than thở chuyện chồng bị đi đầy ông chủ DainamKosi môt lãnh tụ Đảng Hắc Long của Nhât Bản đã bảo với bà Ân là ông sẽ tổ chức cho Trần Văn Ân vượt ngục và xuất ngọai đi lưu vong



Qủa nhiên Đảng Hắc Long đã tổ chưc cho Trần Văn Ân vươt ngục và đưa sang Singapore cùng nhà sử học Trần Trọng Kim nhưng sang Singapore với đàu óc nhậy bén của môt nhà báo Trân Văn Ân đã nói thẳng với người Nhât làNhât nên cầu hòa với Đông Minh nếu không sẽ bại trận nhục nhã đám quân phiệt Nhât bưc mình vì lời nói thẳng của Trần Văn Ân đã đưa Trần Văn Ân qua Nam Dương quần đảo may nhờ sự can thiệp của thủ tương Trần Trong Kim tháng tám năm 1945 người Nhât mới cho Trần Văn Ân về Saigon


Về Saigon Trần Văn Ân gặp lại người bạn cố tri là lụât sư Dương Văn Gíao mới ở Thai Lan về hai ngươi trao đổi và di tới thống nhất là phải đòan kết các lực lương không phân biêt chánh kiến kể cả thân Nhât đẽ chống sư trở lại của thưc dân Pháp và nhà báo Trần Văn Ân vôi vàng đến găp người bạn cũ là Hồ Văn Ngà hiện đương là Phó Khâm Sai của triều đình Huế ở Saigon trong khi luât sư Dương Văn Gíao huy động hai sư đòan hài ngọai quân ở Thái Lan về nươc


Lưc lương quôc gia kháng chiến có quân Cao Đài của đầu sư Trần Quang Vinh quân Hòa Hảo của Đức Thầy Hùynh Phú Sổ một sư đòan của Vũ Tam Anh môt sư đòan của Nguyễn Hòa Hiệp môt sư đòan của Hòang Cao Nhã và bô đôi An Diền của Đai Viêt thêm vào đó còn có hai chi đôi Bình Xuyên của Dương Văn Dương và Lê Văn Viễn


Thấy lưc lương quôc gia kháng chiên quá mạnh Trần Văn Giầu cho lệnh Hùynh Văn Nghê bắt cóc luât sư Dương Văn Gíao và ông Hồ Văn Ngà đem thủ tiêu


Trươc sư ra tay của Trần Văn Gìau nhà báo Trần VănÂn cố gắng xoay trở tình thê từ Xóm Củi qua với Lưc Lương Bình Xuyên rối liên lạc với Đức Thầy Hùynh Phú Sổ một măt chống Trần Văn Gìau mặt khác chống âm mưu lập chính phủ Nam Kỳ Quôc của thưc dân Pháp/Tương De La Toitr bực bôi trước việc làm của TRẦN Văn Ân đã tuyên chiến với nhà báo Trần Văn Ân khiến ông phải lưu vong sang Thái Lan để vận động cho giải pháp Bảo Đai và khi vua Bảo Đai chấp nhận về nươc làm quôc trưởng cử trung tương Nguyễn Văn Xuân làm thủ tương thì thủ tương Xuân nghĩ ngay tới Trần Văn Ân và ông nhận giữ bô Thông Tin đích thân vẽ lá cờ ba sọc đỏ làm quôc kỳ


Nhà báo Trần Văn Ân tham chính không lâu nhưng chính ông là người đặt nền móng cho những chính phủ quôc gia sau này


Nghỉ làm bộ trưởng Trần Văn Ân trở lai với nghề báo ông quyết đinh ra môt tờ báo ảnh lấy tên là Đọc Thấy ,Nghe nhà báo Trần Văn Ân ra báo ảnh đai sứ Mỹ tại Viêt Nam lúc bấy giờ rất tâm đắc mời nhà báo Trần Văn Ân tới và cho biết Phòng Thông Tin Mỹ ở Viêt Nam sẵn sàng đăt mua dài hạn ba nghìn sô mỗi kỳ và trả tiền trươc



Tờ Đoc Thấy đả là tờ báo ảnh đầu tiên ở Viêt Nam bán khá chạy nhưng Trần Văn Ân thấy báo ảnh không phổ cập bằng báo chữ nên đã đổi tơ Đoc Thấy thành tờ Đời Mới và mời nhà văn Hòang Trong Miên làm thư ký toa sọan riêng Trần Văn Ân làm chủ nhiệm kiêm chủ bút mỗi sô viêt bốn bài ký các bút hiêu Dương Văn Đưong Bất Hủ Văn Lang và Trần Văn Ân


Sau môt thời gian Trần Văn Ân thấy Hòang Trong Miên thân Cộng đã mời nhà báo Tế Xuyên tưc Léon Sanh tưc Hòang văn Tiếp con trai bà Cả Môc người nổ phát sùng đầu tiên của khởi nghĩa Yên Bái bắn nhà mộ phu Bazin tại Lò Đúc làm Tổng thư Ký tòa sọan và nhà văn Nguyễn Đưc Qùynh làm phu tá chủ bút



Cuôc đới làm báo của Trần Văn Ân nổi đình đám nhất là xuất bản tờ báo Đời Mới tờ báo có thể so sánh với tap chí Nam Phong của Pham Qùynh hay tùần báo Ngày Nay củaNhất Linh Nguyễn Tương Tam


Tiếc rằng nhà báo Trần Văn Ân vì nghĩa lớn đã cùng với Đức Hộ Pháp Pham CôngTắc lập Măt Trận Thống nhât tòan lực Quốc Gia và nhận làm Tổng Thư Ký Măt Trận Thống Nhất Tòan Lưc Quôc Gia mà phải đi đầy Côn Đảo nên tuần báo Đời Mới phải đình bảnTheo nhà báo Trần Văn Ân ông bị án tử hình mới thấy bạn bè năm châu bốn biển thương ông như thế nào và ở tù ông mới có dịp làm thơNgười sống có đưc nhu Trần Văn Ân bị án tử hình không chêt trở về còn hai lần làm bô trưởng đó là bộ trưởng bô Chiêu Hồi rồi bô trưởng Thông Tin và cuối cùng làm phu tá Tổng Thống kiêm cố vấn Phái Đòan VNCH tại hòa đàm Paris


Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 nhà báo Trần Văn Ân đã bẩy mươi hai tuổi ông trở về vơi nghề báo và ông viết báo tiếng Viêt tiêng Pháp tiếng Hoa thêm hai mưoi tám năm nữa mới rời cõi thế


Nhà báo Trần Văn Ân cuối thế kỷ trươc có viêt thư cho kẻ viết những dòng này la đời ông có cái sung sương là đươc chứng kiến những tiên dóan của mình thành hiên thưc đó la tiên đóan sư tan rã của Liên Xô va khối Đông Âu


Theo Trần Văn Ân thì cuôc đời ông nhờ thủa bé ăn chay học Phật nên ông trải qua biết bao sóng gió vẩn sống vững vàng cái học ngòai đời đã quan trọng nhưng cái học trong kinh nhà Phật còn quan trọng hơn nhiều với đời sống của Trần Văn Ân


Hồ Nam

TRÍCH THƠ TRẦN VĂN ÂN


Tôi và làng thơ
Trời phú tôi thương cảm
Thường sôi sục với mình
Viết chơi nhiều ít chữ
Phơi một người đa tình

Cấm cố tử hình Côn Đảo
Trần Văn Ân
Tác giả: Hồ Nam

Theo: Văn Thơ Lạc Việt
 

No comments: