Monday, November 12, 2018

Nhà nước khủng bố



Chính quyền đã huy động đông đảo tất cả các lực lượng để ngăn, vây bắt người biểu tình.


Theo dõi cuộc biểu tình tại Sài Gòn và Hà Nội vào ngày Chủ nhật 8 tháng 5 vừa qua, ngoài niềm vui khi thấy rất đông người tham dự, tôi còn có một nỗi buồn nặng trĩu trong lòng khi thấy đám công an và thanh niên xung phong, sắc phục cũng như không sắc phục, đánh đập những người đi biểu tình một cách hết sức bất nhẫn. Đàn ông, thanh niên bị đánh, đã đành. Kể cả phụ nữ và trẻ em cũng bị đánh. Đánh xong, người ta kéo xềnh xệch những người biểu tình và vất họ lên xe buýt để chở về các đồn công an, ở đó, một số người còn bị đánh tiếp. Xem, tôi cứ ngạc nhiên tự hỏi: Tại sao người ta đối xử với dân chúng một cách tàn bạo như vậy?
Trước đây, với các cuộc biểu tình chống các hành động gây hấn ngang ngược của Trung Quốc, nhà cầm quyền mạnh tay dẹp thì cũng có thể hiểu được: Họ sợ làm Trung Quốc nổi giận. Nhưng cuộc biểu tình vào ngày 8 vừa qua, cũng như cuộc biểu tình vào ngày 1 trước đó, chỉ để đòi hỏi những điều rất ư hiền lành: cá sạch, biển sạch và môi trường sạch. Đó là những điều ảnh hưởng đến sức khoẻ của tất cả mọi người, hơn nữa, còn ảnh hưởng đến cả tương lai của dân tộc. Những đòi hỏi ấy rõ ràng là rất chính đáng, hoàn toàn phù hợp với những lời hứa hẹn của những người cầm quyền. Vậy tại sao lại đánh đập và bắt bớ những người biểu tình?
Lý do chính, theo tôi, chủ yếu là vị họ sợ.
Trước hết, họ sợ những đòi hỏi kế tiếp, đằng sau những đòi hỏi về cá sạch, biển sạch và môi trường sạch: Đó là những đòi hỏi về sự minh bạch và những chính sách liên quan đến môi trường của chính phủ. Sự kiện cá chết hàng loạt ở bốn tỉnh miền Trung, từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên-Huế, đã bắt đầu từ đầu tháng tư, vậy mà, đến nay, chính quyền vẫn chưa công bố nguyên nhân và phương án giải quyết. Trong khi chính quyền trung ương im lặng, chính quyền các địa phương thì lại bất nhất, lúc người ta khuyên không tiêu thụ hải sản, lúc người ta lại khuyên mọi người ăn tâm ăn tôm cá, thậm chí, như ở Đà Nẵng, người ta lại kêu gọi cán bộ ăn hải sản để làm gương cho dân chúng. Rồi người ta lại rủ nhau xuống biển tắm để chụp hình và đưa lên đài, lên báo. Để cứu ngành ngư nghiệp và du lịch, người ta bất chấp cả những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sức khoẻ của con người. Trong khi đó, cá vẫn tiếp tục chết. Lặn xuống đáy biển, người ta thấy các rạn san hô cũng chết. Và tôm cá cũng chết đầy dưới đáy biển.
Không phải chỉ thiếu minh bạch, chính sách của chính phủ, vốn chỉ biết tập trung vào phát triển kinh tế mà xem nhẹ môi trường cũng là một sai lầm. Môi trường không chỉ là một khái niệm trừu tượng và chung chung. Môi trường gắn liền với kinh tế. Trường hợp cá chết hàng loạt ở các tỉnh miền Trung là một ví dụ. Nó làm cho cả hàng chục ngàn gia đình ngư dân bị điêu đứng. Nó cũng làm cho ngành du lịch ở địa phương bị khủng hoảng trầm trọng. Đó là chưa kể đến sức khoẻ của con người. Bỏ lên bàn cân, liệu những cái lợi từ khu công nghiệp Vũng Áng có thể sánh được với những mất mát mà mọi người phải gánh chịu trước mắt cũng như trong tương lai?
Lý do thứ hai khiến chính quyền sợ biểu tình vì chính bản thân cái gọi là biểu tình. Biểu tình, bất kể xuất phát từ động cơ gì, tự bản chất, bao giờ cũng là một sự phản đối mang tính tập thể. Mà các chế độ độc tài toàn trị thì sợ mọi sự phản đối. Họ biết rõ quyền lực và quyền lợi của họ rất dễ bị lung lay trước những làn sóng phản đối của dân chúng. Hơn nữa, với bản chất lừa bịp, họ không muốn thế giới nhìn thấy những sự phản đối ấy. Hệ thống tuyên truyền của họ lúc nào cũng tô vẽ nên sự đồng thuận của dân chúng đối với sự cai trị độc tài và độc đoán của họ. Họ không những sợ biểu tình; họ còn sợ chữ “biểu tình”. Trong các phương tiện truyền thông đại chúng, khi bị buộc phải nhắc đến các cuộc biểu tình trong nước, họ đều dùng chữ “tụ tập đông người”. Chỉ là “tụ tập” chứ không phải là biểu tình, tức không phải phản đối.
Lý do thứ ba là người ta sợ việc dân chúng ý thức về những cái quyền của họ và cương quyết đòi thực thi những cái quyền ấy. Độc tài nào cũng chà đạp lên các quyền làm người và quyền làm dân của mọi người. Khi dân chúng nhận thức ra các quyền của họ, họ sẽ không còn ngoan ngoãn nghe lời chính quyền nữa. Bằng cách này hay cách khác, họ sẽ lên tiếng và bày tỏ thái độ. Hôm nay người ta có thể yêu sách cá sạch, biển sạch và môi trường sạch, ngày mai, họ có thể yêu sách dân chủ, đa đảng và nhân quyền. Hôm nay chỉ có mấy ngàn người đổ xô xuống đường, ngày mai có thể cả hàng chục ngàn, rồi hàng trăm ngàn, rồi có thể có cả hàng triệu người xuống đường. Sức mạnh của các cuộc biểu tình nằm ở số đông. Khi cả mấy trăm ngàn người biểu tình, không có tên bạo chúa nào dám ra lệnh bắn vào dân chúng. Mà có ra lệnh, công an và quân đội cũng không dám làm. Tấm gương về sự sụp đổ của các chế độ độc tài ở Đông Âu và Trung Đông cho thấy điều đó.
Những nỗi sợ hãi ấy khiến chính quyền thẳng tay trấn áp những người xuống đường biểu tình một cách ôn hoà. Từ sự sợ hãi của họ, họ muốn dân chúng cũng sợ hãi, không dám xuống đường nữa. Khi gieo rắc sự sợ hãi như thế, họ biến thành khủng bố.
Có thể nói, một cách vắn tắt, mọi chế độ độc tài, với những mức độ khác nhau, đều là những nhà nước khủng bố.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.


      https://www.voatiengviet.com/a/nha-nuoc-khung-bo/3323448.html

‘Dân cần minh bạch’





Người dân tọa kháng trước UBND TP Hà Nội.




Trong các cuộc biểu tình liên quan đến môi trường trong mấy tuần vừa qua, có nhiều biểu ngữ, nhưng biểu ngữ tôi cho là gọn và hay nhất là câu “Cá cần biển sạch, dân cần minh bạch”.
Hay vì nó thể hiện đúng bản chất vấn đề khiến nhiều người nhức nhối nhất hiện nay: việc cá chết hàng loạt, thoạt đầu, từ bốn tỉnh miền Trung, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế, sau, có vẻ lan rộng tới tận Đà Nẵng và rồi, tới Thanh Hoá ở phía Bắc và Ninh Thuận ở phía Nam. Ở đâu cũng có cá chết. Cá chết ngoài biển. Cá chết trong hồ nuôi. Việc cá chết như vậy khiến người dân không dám ăn cá và các loại hải sản khác. Dân không dám ăn, ngành ngư nghiệp cũng như ngành du lịch bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đó là chưa kể đến vấn đề sức khoẻ của người dân. Cẩn thận mấy cũng không được. Nhiều người, vì tham, lấy cá chết để làm mắm: mắm bị nhiễm độc. Làm muối, phải lấy nước biển, khi nước biển bị nhiễm độc, muối cũng bị nhiễm độc theo. Tránh ăn cá, nhưng làm sao tránh được nước mắm và muối? Mà nước mắm và muối thì được chở đi bán khắp nơi. Hậu quả là không ở đâu thực sự an toàn cả. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi dân chúng khắp nơi quan tâm và hết sức lo lắng. Đó là vấn đề của cả nước chứ không phải chỉ của những người dân ở miền Trung.
Gắn liền với việc cá chết hàng loạt là vấn đề tính minh bạch của chính quyền. Vụ cá chết bắt đầu từ đầu tháng 4, đến nay, đã một tháng rưỡi trôi qua, chính quyền, từ địa phương đến trung ương, sau vài phát biểu ú ớ và qua quít, đều im lặng. Mọi người đều biết rõ nguyên nhân khiến cá chết hàng loạt là do nước biển bị ô nhiễm. Tuy nhiên, ai làm ô nhiễm và mức độ ô nhiễm như thế nào thì không ai công bố cả. Khi nguyên nhân không được tra cứu, người ta cũng không đưa ra được bất cứ một phương án nào để giải quyết vấn đề.
Chính quyền không những im lặng, họ còn ra lệnh cho báo chí im lặng theo: Chuyện cá chết trắng bờ ở nhiều tỉnh trở thành một đề tài cấm kỵ trên các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống. Mới đây, báo Thế giới Tiếp thị ở Sài Gòn vì đăng hai bài về hiện tượng cá chết liền bị Cục Báo chí phạt 140 triệu đồng và đình bản trong ba tháng. Lấy lý do là không muốn làm dân chúng hoang mang lo sợ, người ta hoàn toàn né tránh việc đề cập đến thảm hoạ cá chết. Nhưng đó không phải là giải pháp: ở đâu dân chúng cũng bàn tán xôn xao. Cứ vào facebook thì thấy: những hình ảnh và những tin tức liên quan đến cá chết nhan nhản.
Tất cả những sự kiện trên đều cho thấy một điều: chính quyền hoàn toàn không minh bạch.
Sự thiếu minh bạch ấy là một sự vi phạm đối với quyền làm người. Làm người, ai cũng có nhu cầu muốn biết. Nhu cầu ấy càng chính đáng và tha thiết khi vấn đề mà người ta muốn biết liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ.
Sự thiếu minh bạch ấy cũng là một sự vi phạm đối với một trong những cái quyền căn bản nhất của công dân. Ở phương Tây, người ta quan niệm rất rõ: Tất cả mọi viên chức nhà nước, ngay cả những người lãnh đạo cao nhất, đều được trả lương từ tiền thuế của dân chúng, do đó, họ có bổn phận phải cung cấp thông tin cho dân chúng về mọi hoạt động của họ, đặc biệt những hoạt động liên quan đến cuộc sống của mọi người. Mà ở Việt Nam hiện nay, không có vấn đề nào quan trọng cho bằng việc môi trường bị huỷ hoại đến độ tôm cá cũng không thể sống nổi: Nó ảnh hưởng không phải chỉ đối với thế hệ hiện nay mà còn đến nhiều thế hệ mai sau.
Việc thiếu minh bạch ấy cũng cho thấy chính quyền Việt Nam hiện nay hoàn toàn không dân chủ. Dân chủ có nhiều biểu hiện, nhưng một trong những biểu hiện quan trọng nhất là tính minh bạch. Việt Nam hay nói “chính quyền của dân, do dân và vì dân”, nhưng không có một chính quyền nào thực sự “của dân” nếu thiếu sự minh bạch. Để có thể tham gia vào chính sự, hay đơn giản hơn, để có thể bỏ phiếu đúng, hay đơn giản hơn nữa, để có thể giám sát chính quyền, một trong các quyền căn bản của người dân, người ta cần phải biết chính quyền đang làm gì. Tính minh bạch (transparency) là điều kiện đầu tiên của tính khả kiểm (accountability). Cả tính minh bạch và tính khả kiểm là những tiền đề của dân chủ.
Việc thiếu minh bạch ấy tất yếu dẫn đến hệ quả là dân chúng không thể tin vào chính quyền. Một số nhà lãnh đạo rủ nhau ra biển tắm và rủ nhau ăn cá biển để dân chúng an tâm: Dân chúng vẫn không an tâm. Chính quyền cấp giấy chứng nhận hải sản sạch cho những lô cá được đánh bắt từ khơi xa để dân chúng tin cậy: Dân chúng vẫn không tin cậy. Cho đến nay, mọi người, nhất là những người ở miền Trung, vẫn không dám ăn cá. Người ta đưa ra một yêu sách chính đáng: cho biết mức độ ô nhiễm thực sự của nước biển.
Mà không phải bây giờ. Chính quyền Việt Nam lâu nay vẫn được xây dựng trên sự mờ ám, ở đó, mọi vấn đề có thể gây khó khăn cho họ đều bị xem là “bí mật quốc gia”. Các phương tiện truyền thông đại chúng luôn luôn bị kiểm duyệt một cách nghiêm ngặt và các giới chức trong chính quyền thì lại không có thói quen tổ chức họp báo để trả lời những thắc mắc của dân chúng. Khi lên tiếng, người ta chỉ nói những điều dối trá. Báo chí nhan nhản những điều dối trá. Nghe mãi những lời dối trá ấy, người dân không còn tin vào chính quyền nữa. Câu “đừng nghe những gì Cộng sản nói” càng ngày càng phổ biến. Như một khẩu hiệu.
Một chế độ không được dân chúng tin cậy không sớm thì muộn chắc chắn sẽ bị sụp đổ.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

    https://www.voatiengviet.com/a/dan-can-minh-bach/3333940.html

    Tất cả các bình luận (65)

    • Long BR Long BR (USA)
      20/05/2016 00:55
      Trần Nhật Quang, nhà tranh luận BBĐ xuất sắc

      VC ứng dụng BBĐ dựng bức tường thành bất hợp tác để đối phó và cai trị VN rất có hiệu quả . Toàn ... bộ người Việt Nam từ thế chủ động bị đẩy vào thế bị động ngay cả trong BBĐ. VC còn 1 chiêu xuất sắc khác để đáp ứng "nhu cầu" tranh luận của VN hiện nay: muốn tranh luận có tranh luận ngay. Muốn là chìu thôi. Hà hà hà !

      Một trong những "biểu tượng" tranh luận công khai và rất là đấu tranh BBĐ là nhân vật Trần Nhật Quang thường xuất hiện trước ống kính để tranh luận công khai với các "nhà" DC ở VN. Tất nhiên, đây là sự tổ chức của VC . Có điều, luật chơi là luật chơi. Một khi anh chấp nhận "tranh luận" với Quang Lùn có nghĩa là anh đang "đấu tranh" cho DC. Trên nguyên tắc, Quang Lùn đã 1 mình "đáp ứng nhu cầu" tranh cãi của mọi người (nếu cần) tới bến. Ha ha ha !
      • Má Hồ Má Hồ (hang động)
        21/05/2016 10:52
        Dùng từ sai. Nói Trần Nhật Quang tranh luận là cực kỳ sai. Nói bậy, nói liều, nói như thằng điên, nói không cần biết đúng sai mà tranh luận cái gì. Phải nói Trần Nhật Quang sủa thì đúng hơn.
    • Hải Trường Sa Hải Trường Sa
      19/05/2016 09:43
      Tại sao các nước CS như Đông Âu ( gồm Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi, Lỗ Ma Ní, An Ba Ni ), Nam Tư (gồm Serbia, Macedonia, Bosnia, Croatia, Slovenia), Mông Cổ, Angola, Nicaragua và tại đất thánh của ôngTổ CS là Liên Sô cũng sụp đổ như lá mùa Thu mà CSVN vẫn tồn tại? Đó là do họ cầu xin TQ bảo vệ để khỏi bị nhân dân lật đổ như các nước CS nói trên. TQ đang nuôi mộng xâm lăng và bành trướng thì CSVN bổng nhiên đem nộp mạng. Họ buộc CSVN phải ký H/Ư Thành Đô 1990 để nhượng đất, nhượng biển, nhượng đảo và làm chư hầu cho TQ bằng "16 chữ vàng và 4 tốt". Đó là cái sợi dây thòng lọng được tròng vào cổ của lãnh đạo CSVN. Nếu họ phản bội thì TQ sẽ xiết cổ. Còn nếu ngoan ngoản vâng lời thì TQ cho sống. Vì vậy, không một kẻ lãnh đạo nào dám hé môi chông đối thật sự. Ví dụ rõ ràng nhứt là TT Nguyễn Tấn Dũng chỉ phát biểu một câu có hơi hám chống TQ là " không để mất chủ quyền quốc gia để đổi lấy tình hữu nghị viển vông" thì bị mất chức ngay trước nhiệm kỳ và không cho ứng cử chức TBT. Trong khi đó, Tổng Trọng nhờ biết cúi đầu vâng dạ Thiên Triều mà được chức TBT. Bởi vậy, vụ cá chết do chất độc thải ra của Formosa thì ông ta phải tìm cách ém nhẹm chớ làm sao dám công bố sự thật? Ông ta sẽ sẵn sàng đánh đổi sinh mệnh của dân tộc VN để giữ cho được chức TBT. Nhân dân Miền Trung nói riêng và nhân dân cả nước nói chung không có cá tôm để ăn thì cũng phải chịu chớ làm gì được ông ta? Ông ta dựa lưng vào cái gốcTQ quá bự, nên chẳng sợ cái đám dân nghèo ốm đói. Chừng nào họ còn cúi đầu thì ông ta vẫn còn tại chức. Tên TBT Caucesscu của Rumania cũng nghĩ như ông ta. Nhưng bất ngờ,nhân dân nổi loạn và binh lính bắt ông ta đem ra xử tử. Ông ta sững sờ không biết tại sao? Ông ta đâu có thấy nhân dân Rumania quá đói vì không có bánh mì để ăn? Đến khi họ vùng lên để lật đổ mới biết thì muộn rồi. Kể cũng tội nghiệp cho những kẻ say mê quyền lực đến điên cuồng không biết đúng sai, phải quấy gì cả.
    • Người Sông Lam Người Sông Lam (Xứ Nghệ)
      19/05/2016 07:31
      @ Nhô-Hoa Kỳ

      1. Một người nhìn sự kiện dưới ánh sáng Mác-Lê thì không còn sự khách quan. Một người mang nhân sinh quan giai cấp thì nhìn đâu cũng chỉ thấy kẻ thù và bất cứ ai khác với mình đều sai, đều ác. Vì thế trong cái tư duy của chủ nghĩa duy vật cộng sản không có sự thật, không có minh bạch và lại càng không có khoa học. Cái chủ nghĩa thổ tả mà bạn Nhô thờ cúng trên bàn chỉ là suy lý giả tưởng và nay thực tế là một hoang tưởng. Đó là lý do mà cái thây chủ nghĩa xã hội đang nằm phơi mình vắt vẻo tang thương bên lề đường của lịch sử đượng đại thế giới.

      2. Để nhìn sự vật khách quan bạn phải là bạn, như cánh chim bay giữa mênh mông vô hạn để nhìn những cái hữu hạn bằng đường nét của chính nó. Muốn như thế, bạn phải là con người của tự do. Với tâm hồn, ý chí và tinh thần vượt lên mọi giới hạn của chủ nghĩa, của thiên kiến, của hận thù thì bạn mới mong tìm thấy chân lý của cuộc đời. Một người đang nhốt mình trong cái chuồng mác-lê, bị nô lệ hóa từ từng khe răng, sợi tóc thì đừng mong chi tìm thấy ý nghĩa của sự minh bạch. Qua bài viết, ai cũng thấy rõ bạn chỉ là một tên nô lệ đang vác trên vai những định kiến lệch lạc to đùng của thế kỷ. Những lời cay nghiệt mà bạn ném vào trang giấy là một minh chứng của những nghiệt ngã mà bạn đang gánh chịu dưới sức nặng của cái chủ nghĩa cuối mùa. Thật tội nghiệp, con cóc ngồi đáy giếng mà vẫn muốn dạy cho đại bàng đâu là giới hạn của đường chân trời.

      3. Bạn đã bao giờ nghe đến thuyết tương đối và câu ngạn ngữ "Nhân vô thập toàn" chưa ?. Hãy học để biết sống vị tha và cảm thông với những khác biệt của tha nhân trong đời sống, như thế sẽ dễ chịu hơn là "Gẫm một mối căm thù trong cũi sắt', và cứ mãi say sưa trong vũng máu bá nhân của X1, X2 và X3. Sống như thế thất đức lắm và tương lai cũng chẳng sáng sủa gì. Bằng tình người, tôi hy vọng một ngày nào đó được nghe bạn, như tiếng chim tự do hót hoan ca giữa bao la mây ngàn. hạnh phúc lắm bạn Nhô ơi !
      • Lê Lai Lê Lai (Sàigòn)
        21/05/2016 10:59
        Viết hay quá, cái này không những Nhô, Phan Bảo Lâm, Song Đao, Dung Dallas và đồng bọn nên đọc mà cả ban tuyên giáo của cái đảng gọi là cộng sản VN nên đọc (nhưng chỉ sợ cái trí và cái tâm ch1ng chưa đủ tốt để cảm được)

     

Nghĩ về quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam



Người dân ở TpHCM chờ đón Tổng thống Obama, ngày 24/5/2016.



Nhân chuyến công du của Tổng thống Barack Obama tại Việt Nam, chúng ta thử nghĩ về mối quan hệ (chính trị) giữa hai nước từng là kẻ thù của nhau trong suốt thời chiến tranh Việt Nam.
Nhắc đến chữ “kẻ thù”, xin lưu ý là, với các chính khách Mỹ, như họ thường nói, chỉ có những lợi ích quốc gia vĩnh viễn nhưng không có bạn hay kẻ thù vĩnh viễn. Bạn hay thù có thể thay đổi từng lúc, tuỳ theo quyền lợi quốc gia của họ. Mà quyền lợi quốc gia của Mỹ, trong giai đoạn hiện nay cũng như trong vài thập niên tới, chủ yếu nằm ở vùng châu Á – Thái Bình Dương nơi họ bị thách thức lớn nhất từ một cường quốc mới nổi: Trung Quốc. Có thể nói toàn bộ chiến lược quay về với châu Á và Thái Bình Dương của Mỹ đều xuất phát từ những đe doạ đến từ Trung Quốc.
Về phương diện chính trị và quân sự, những đe doạ từ Trung Quốc chủ yếu diễn ra trên mặt biển. Chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc, nếu xảy ra, chắc chắn sẽ xảy ra trên biển. Có hai vùng biển chính có thể biến thành chiến trường: Hoa Đông và Biển Đông. Khả năng bùng nổ xung đột lớn ở biển Hoa Đông tương đối ít vì ở đó Trung Quốc phải đối đầu với một kẻ thù rất giàu và cũng rất mạnh, hơn nữa, có quan hệ liên minh chiến lược chặt chẽ với Mỹ: Nhật Bản. Chỉ có ở Biển Đông là Trung Quốc có nhiều ưu thế nhất. Tất cả các đối thủ của Trung Quốc ở vùng biển ấy đều nhỏ và yếu hơn Trung Quốc hẳn. Bởi vậy, để bành trướng lãnh hải và lãnh thổ, chắc chắn Trung Quốc sẽ chọn hướng Biển Đông của Việt Nam. Mà họ đã bắt đầu tiến trình bành trướng ấy thật. Từ hơn một năm nay, họ đã bồi đắp các bãi đá thành đảo nhân tạo và biến chúng thành các căn cứ quân sự. Các nhà bình luận chính trị dự đoán không lâu nữa, Trung Quốc sẽ tuyên bố vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông.
Đối diện với nguy cơ bành trướng ấy của Trung Quốc, Mỹ tuyên bố chính sách chuyển trục về châu Á – Thái Bình Dương. Ở vùng này, Mỹ đã có bốn đồng minh lâu đời và đáng tin cậy nhất: Úc, Nhật, Hàn Quốc và Philippines. Từ mấy năm nay, Mỹ ra sức tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia khác trong khu vực. Liên quan đến Biển Đông, ngoài Philippines, các nước được nhắm tới đầu tiên là Malaysia, Singapore và Việt Nam. Trong số đó, Việt Nam chiếm vị trí quan trọng hàng đầu vì Việt Nam có đảo và vùng biển bị tranh chấp nhiều nhất. Có thể nói chiến lược đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông của Mỹ sẽ phụ thuộc khá nhiều vào thái độ của Việt Nam: Nếu Việt Nam đồng tình với việc xâm lấn của Trung Quốc, Mỹ sẽ mất đi một chỗ dựa quan trọng. Quan trọng nhưng không phải bất khả thay thế: Mỹ vẫn còn nhiều đồng minh khác trong khu vực.
Về phía Việt Nam cũng vậy. Trừ phi Việt Nam cam tâm bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc, cách duy nhất để Việt Nam có thể bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông là phải liên kết với Mỹ. Trước hết, cần loại trừ ngay khả năng Việt Nam có thể một mình bảo vệ được chủ quyền của mình. Tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay khác hẳn những năm 1978-79. Để tự vệ, Việt Nam cần có đồng minh. Từ mấy năm nay, Việt Nam cố sức xây dựng đối tác chiến lược với nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng những quốc gia thực sự có thể giúp Việt Nam trong thế trận đương đầu với Trung Quốc rất hiếm. Ngay cả Nga, nước Việt Nam hy vọng nhất, mới đây cũng tuyên bố ủng hộ Trung Quốc trong chính sách phi quốc tế hoá các tranh chấp ở Biển Đông. Ấn Độ cũng không phải là nước đáng tin cậy: Một mặt, Ấn Độ có truyền thống phi liên kết lâu đời; mặt khác, về quân sự, Ấn Độ cũng không phải là đối thủ của Trung Quốc. Đó là chưa kể, về quyền lợi, không có lý do gì để Ấn Độ chọn đứng hẳn về phía Việt Nam. Một số quốc gia khác, như Úc hay Nhật chỉ có thể trở thành hữu dụng khi Mỹ cũng nhập cuộc. Thành ra Việt Nam chỉ có một đồng minh duy nhất có động cơ và đủ khả năng để giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông: Mỹ. Không còn nước nào khác. Tuyệt đối không.
Bởi vậy, có thể nói tuy cả hai có cùng quyền lợi trên Biển Đông nhưng rõ ràng là Việt Nam cần Mỹ hơn là Mỹ cần Việt Nam.
Đó là trên nguyên tắc.
Trên thực tế, cho đến nay, nước bày tỏ nhiều thiện chí nhất là Mỹ chứ không phải Việt Nam. Để củng cố mối quan hệ song phương, Mỹ có hai nhượng bộ chính: Một, thừa nhận thể chế chính trị phi dân chủ của Việt Nam (qua việc tiếp đón Nguyễn Phú Trọng ở Nhà Trắng, và những cam kết không xâm phạm vào thể chế của nhau) và hai, làm ngơ trước những sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Việt Nam khi quyết định dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Trong khi đó Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền. Thả người này ra, họ lại bắt người khác. Trong nhà tù của họ, do đó, lúc nào cũng đầy những tù nhân lương tâm, không có tội nào khác ngoài việc đòi hỏi dân chủ hay chống lại Trung Quốc.
Ở phương diện này, có thể nói Việt Nam đã “thắng” Mỹ.
Có điều, đó chỉ là những cái “thắng” tạm thời. Về lâu về dài, để xây dựng cái Nguyễn Tấn Dũng gọi là “niềm tin chiến lược”, hai bên cần chia sẻ với nhau những bảng giá trị chung, trong đó, nổi bật nhất là những vấn đề liên quan đến nhân quyền. Không có sự chia sẻ ấy, mọi sự hợp tác đều vẫn bị giới hạn. Chính sự giới hạn đó sẽ làm Việt Nam bị thiệt khi thực sự đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

    https://www.voatiengviet.com/a/nghi-ve-quan-he-my-viet/3344040.html

Lòng tin của dân



Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.


Để theo dõi tình hình chính trị tại Việt Nam, tôi thường đọc các bài phát biểu của những người lãnh đạo trong nước, trong đó, có ông Nguyễn Phú Trọng. Nhưng thú thực, đọc ông rất nản. Quan điểm của ông thường bảo thủ, giáo điều, khuôn sáo, thậm chí ngô nghê, hay nói theo chữ dân chúng miền Bắc thường gọi ông, là rất “lú”. Tuy nhiên, bài nói chuyện của ông tại cuộc hội nghị do Ban Dân vận Trung ương mới tổ chức vào ngày 27 tháng 5 vừa qua có thể được xem là một ngoại lệ, ở đó, ông nhìn vấn đề khá đúng.
Đúng khi ông nhớ lại bài học thân dân được Nguyễn Trãi đúc kết: “Vận nước thịnh hay suy, mất hay còn là do sức dân quyết định. Vương triều nào được lòng dân, cố kết được nhân tâm thì làm nên nghiệp lớn. Trái lại, vương triều nào đi ngược lại lòng dân thì sớm muộn sẽ bị thất bại.” Đúng khi ông, từ bài học ấy, nhìn lại tình hình Việt Nam hiện nay, ông thấy lòng tin của dân chúng đối với đảng của ông càng ngày càng sút giảm nghiêm trọng.
Thật ra, những sự thừa nhận như vậy đã từng xảy ra trong quá khứ. Giữa thập niên 1950, đảng Cộng sản cũng đã từng thừa nhận họ đã sai lầm trong vụ cải cách ruộng đất và quyết định sửa sai. Giữa thập niên 1980, đảng Cộng sản cũng thừa nhận sai lầm trong các chính sách kinh tế, từ đó, quyết định đổi mới. Và bây giờ Nguyễn Phú Trọng lại thừa nhận việc đã để dân chúng đánh mất niềm tin vào đảng.
Nguyễn Phú Trọng chỉ đúng một phần khi cho nguyên nhân chính gây ra hiện tượng sút giảm lòng tin ấy là do “nhiều cán bộ thoái hoá”. Cụ thể hơn, ông cho biết:
“Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức có quyền, có những biểu hiện sa sút phẩm chất, sống xa dân, vô trách nhiệm với dân. Nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành giữ tác phong quan liêu, gia trưởng, độc đoán, thậm chí trù dập, ức hiếp quần chúng. Một số hiện tượng tham nhũng, đặc quyền đặc lợi trong Đảng và trong các cơ quan nhà nước không được đấu tranh kiên quyết và xử lý nghiêm minh. Do đó đã làm tổn thương thanh danh, uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng.”
Ông nói thêm: “Thậm chí có người vô trách nhiệm với dân, vô cảm trước những khó khăn, đau khổ của quần chúng. Một số người còn lợi dụng chức quyền để đục khoét, vơ vét của cải của Nhà nước, trở thành những con sâu mọt tệ hại của xã hội. Có lẽ đây là điều mất mát lớn nhất trong tình cảm của nhân dân, là điều người dân cảm thấy xót xa, buồn phiền nhất.”
Chưa hết. Theo Nguyễn Phú Trọng, “Một số người có chức có quyền giữ tác phong quan cách, gia trưởng, phụ trách địa phương nào, đơn vị nào, thì như một ‘ông vua con’ ở đấy. Thậm chí có cá nhân và tập thể trù dập, ức hiếp quần chúng. Những hành động đó tuy không phải là phổ biến nhưng rất nghiêm trọng, nó làm tổn thương tình cảm và niềm tin của dân đối với Đảng.”
Phân tích dài dòng, có lúc lặp đi lặp lại, nhưng ý chính của Nguyễn Phú Trọng về cái gọi là “thoái hoá” của các cán bộ đảng viên có thể tóm gọn vào bốn điểm chính: quan liêu, độc đoán, áp bức và tham nhũng.
Phân tích như vậy là khá đúng. Tuy nhiên, Nguyễn Phú Trọng chưa thành thật khi cho tình trạng quan liêu, độc đoán, áp bức và tham nhũng ấy chỉ xảy ra ở “một số” hay “một bộ phận” đảng viên và cán bộ. Ở Việt Nam, qua kinh nghiệm cá nhân, hầu như ai cũng biết tất cả những tình trạng ấy rất phổ biến. Ở đâu cũng có. Cấp nào cũng có. Làm nhỏ ăn nhỏ; làm lớn ăn lớn. Cứ hễ có chút chức quyền là tiền bạc trôi vào nhà hầu như ngay tức khắc. Trương Tấn Sang, nguyên Chủ tịch nước, từng thừa nhận tệ nạn tham nhũng không phải chỉ là vài con sâu mà là cả bầy sâu. Nhung nhúc. Và khi đã giàu có và đầy quyền lực như thế, người ta coi dân như rơm, như rác, hay nói theo hình ảnh của Nguyễn Phú Trọng, như những “ông vua con”.
Nhưng ngay cả khi thừa nhận tình trạng “thoái hoá” của cán bộ, đảng viên là phổ biến, người ta vẫn chưa tiếp cận được nguyên nhân đích thực của việc suy giảm lòng tin của dân chúng. Đó chỉ là một trong những nguyên nhân chứ không phải là tất cả. Còn một lý do khác nữa, có khi quan trọng hơn: Các chính sách của đảng. Chỉ lấy một ví dụ gần đây nhất: nạn cá chết trắng bờ ở các tỉnh miền Trung. Sau khi gây ồn ào dư luận vài ngày, nhà cầm quyền chủ trương giấu nhẹm sự thật. Báo chí, từ đó, không được đề cập đến nạn cá chết nữa. Ngay những người thợ lặn, thấy sức khoẻ có vấn đề, đi khám, bác sĩ và bệnh viện cũng giấu kín kết quả. Hai tháng trôi qua, nguyên nhân của nạn cá chết hàng loạt vẫn chưa được công bố. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo địa phương vẫn kêu gọi dân chúng ăn cá và tắm biển. Làm sao người dân tin được khi nhà cầm quyền vẫn tiếp tục nói dối và che giấu sự thật như vậy?
Mà những hành động nói dối và giấu giếm sự thật như vậy không phải là hiếm. Có thể nói toàn bộ lịch sử của đảng Cộng sản tại Việt Nam là lịch sử dài dằng dặc của những sự nói dối và giấu giếm sự thật. Chuyện tham nhũng mà Nguyễn Phú Trọng thừa nhận là “rất nghiêm trọng”, cho đến nay, vẫn chưa hề được điều tra và xử lý. Chỉ hoạ hoằn, lâu, lâu lắm, báo chí mới làm rùm beng lên chuyện vài cán bộ phường xã hay cảnh sát giao thông nhận hối lộ. Còn toàn bộ bức tranh tham nhũng, nhất là ở cấp lãnh đạo từ địa phương đến trung ương thì vẫn bị giấu kín. Ông Lê Khả Phiêu và ông Nông Đức Mạnh lương bao nhiêu một tháng mà sau khi về hưu ở những ngôi nhà như cung điện của vua chúa như vậy? Trong giới cầm quyền tại Việt Nam hiện nay, không ai thắc mắc về những điều ấy cả.
Bên cạnh những việc nói dối và giấu giếm sự thật, điều làm cho dân chúng càng ngày càng mất niềm tin đối với đảng Cộng sản còn là vì, với họ, đảng Cộng sản càng ngày càng phản bội những lý tưởng họ đề ra lúc đầu. Đảng đấu tranh cho những người nghèo khó để tạo ra một xã hội bình đẳng ư? Trên thực tế, đảng chỉ lo giành giật quyền lợi cho bản thân họ. Dân nghèo càng ngày càng nghèo. Đảng tranh đấu cho tự do ư? Trên thực tế, đảng chỉ tước đoạt mọi quyền tự do của con người. Đảng tranh đấu cho độc lập dân tộc ư? Nhìn vào quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc từ gần ba thập niên trở lại đây, người ta chỉ thấy đảng sẵn sàng hy sinh chủ quyền quốc gia để bảo vệ tư thế “ông vua con” của mình.
Làm sao dân chúng có thể tin là đảng nhắm đến lý tưởng cao cả là giải phóng con người trong khi hằng ngày đảng vẫn vùi dập mọi quyền tự do, ngay cả những quyền tự do căn bản nhất của con người?
Làm sao dân chúng có thể tin là đảng yêu nước khi đảng cứ lải nhải nhắc đến những “4 tốt” và “16 chữ vàng” khi Trung Quốc càng ngày càng lấn lướt và những người yêu nước đều bị đảng trấn áp một cách hết sức tàn bạo?
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
    https://www.voatiengviet.com/a/long-tin-cua-dan/3357087.html

Hoà giải giữa Việt Nam và Mỹ


Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang (phải) và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama (trái) phát biểu trong một cuộc họp báo tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2016.
Lâu nay, nói đến chuyện hoà giải, chúng ta chỉ hay giới hạn trong quan hệ giữa người Việt với nhau, chủ yếu là giữa người Việt ở miền Nam và người Việt ở miền Bắc, sau đó, giữa chính quyền Việt Nam và cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Trên thực tế, nội hàm khái niệm hoà giải rất rộng, không chỉ ở phạm vi quốc gia mà còn ở tầm quốc tế, ở đó, sự hoà giải giữa người Việt và người Mỹ là then chốt.
Trước hết, cần nhắc lại một số điểm: Một, mối đe doạ nghiêm trọng nhất đối với độc lập và chủ quyền của Việt Nam hiện nay đến từ những tham vọng bành trướng lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc. Hai, đối diện với sự đe doạ ấy, Việt Nam chỉ có một cách duy nhất để tự vệ là tìm kiếm sự hỗ trợ của quốc tế, trong đó, quan trọng nhất là Mỹ. Ba, trong quan hệ với Mỹ, điều trở ngại lớn nhất chính là quá khứ, là cuộc chiến tranh kéo dài giữa hai nước trước đây. Bởi vậy, có thể nói, công việc cần làm đầu tiên của hai nước là nỗ lực hoà giải.
Sự hoà giải ấy cực kỳ quan trọng bởi vì di sản của cuộc chiến tranh Việt Nam rất nặng nề.
Về phía Mỹ, đó là cuộc chiến tranh ở nước ngoài dài thứ hai của họ (sau cuộc chiến tranh tại Afghanistan hiện nay); đó cũng là một cuộc chiến tranh chia rẽ nước Mỹ một cách sâu sắc nhất. Ngoài 58.000 lính Mỹ bị hy sinh, những chấn thương tâm lý ở những người lính Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam vẫn còn kéo dài rất lâu. Nhiều người vượt qua các chấn thương ấy để hoà giải với Việt Nam, nhưng cũng không ít người vẫn tiếp tục nhìn Việt Nam bằng cặp mắt đầy hận thù và nghi kỵ: chính những người đó là lực lượng chống đối mạnh mẽ nhất đối với mọi nỗ lực hoà giải của chính quyền Mỹ.
Về phía Việt Nam, cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm, từ 1954 đến 1975, cũng là một trong những cuộc chiến tàn khốc nhất với trên ba triệu người, kể cả thường dân ở hai miền Nam và Bắc, bị thiệt mạng. Số lượng bom và các loại chất nổ thả xuống Việt Nam trong hai mươi năm ấy còn nhiều hơn tổng số bom mìn được sử dụng trên khắp thế giới trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Cho đến tận ngày nay, hơn 40 năm sau chiến tranh, những bom mìn ấy vẫn còn là một nguy cơ. Đó là chưa kể các loại hoá chất độc hại, trong đó, đáng kể nhất là chất độc màu da cam, đến nay vẫn ảnh hưởng đến nhiều người.
Di sản nặng nề đến vậy nhưng hầu như bất cứ người sáng suốt và có tầm nhìn chiến lược nào cũng đều thấy rõ một điều: mọi người, từ cả hai phía, đều cần vượt qua quá khứ để cùng hợp tác với nhau nhằm đối phó với những thử thách nghiêm trọng trong hiện tại, trong đó, thử thách lớn nhất là những âm mưu bành trướng của Trung Quốc. Với Mỹ, cũng giống như thời chiến tranh lạnh, Việt Nam lại nằm ở tuyến đầu trong chiến lược chống lại sự bành trướng ấy. Với Việt Nam, âm mưu bành trướng ấy trực tiếp đe doạ đến chủ quyền của Việt Nam trên biển và đảo, thậm chí, có thể cả trên đất liền.
Ý thức được điều đó, lâu nay Mỹ cố gắng bày tỏ nỗ lực hoà giải với Việt Nam. Cả ba tổng thống Mỹ, từ Bill Clinton đến Georges W. Bush và Barack Obama, khi đến Việt Nam, đều nhấn mạnh đến nhu cầu hoà giải để một mặt, gác bỏ những hận thù trong quá khứ; mặt khác, hướng tới tương lai với những sự hợp tác để cả hai bên cùng có lợi. Nói cách khác, Mỹ là những người chìa tay ra trước. Khi chìa tay ra như vậy, họ chấp nhận cả sự nhượng bộ. Có hai sự nhượng bộ lớn: Một là công khai nhìn nhận tính hợp pháp và chính đáng trong vị thế lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng sản Việt Nam, và hai là nhiều lúc nhắm mắt làm ngơ trước những hành động vi phạm nhân quyền một cách trắng trợn của chính quyền Việt Nam. Biểu hiện chính của sự nhượng bộ thứ nhất không những chỉ qua các lời tuyên bố tôn trọng thể chế chính trị của nhau mà còn qua việc chính thức tiếp đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Nhà Trắng vào giữa năm 2015. Biểu hiện của sự nhượng bộ thứ hai là Mỹ quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam ngay cả khi vấn đề nhân quyền chưa được cải thiện dù, trên nguyên tắc, nó vốn được xem là một trong những yêu sách đầu tiên của Mỹ.
Còn phía Việt Nam thì sao? Nhớ, năm 2000, sau khi Tổng thống Bill Clinton phát biểu với nội dung kêu gọi mọi người cố quên quá khứ thù nghịch giữa hai nước để cùng nhau hướng về tương lai, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu phản đối ngay: Theo ông, người Việt Nam không thể và cũng không nên quên cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc đầy chính nghĩa của mình. Bill Clinton ngơ ngác. Giới bình luận chính trị quốc tế, sau đó, cho bài đáp từ của Lê Khả Phiêu là một sự vụng về, phá hỏng không khí hoà giải mà Bill Clinton muốn mang lại. Trong cuốn Bên Thắng Cuộc, Huy Đức kể lại lời của Phan Văn Khải, nguyên Thủ tướng, lúc chuẩn bị đón tiếp Tổng thống Bill Clinton năm ấy, đại khái: Bộ Chính trị ra chỉ thị là, khi gặp Bill Clinton, ông không được cười! Trong cuộc đón tiếp Tổng thống Barrack Obama vừa rồi, không biết Bộ Chính trị có ra chỉ thị gì không nhưng mặt mày của giới lãnh đạo Việt Nam trông rất thiếu thân thiện. Có vẻ như Việt Nam còn khá miễn cưỡng trong tiến trình hoà giải với Mỹ.
Sự khác biệt trong vấn đề hoà giải thể hiện rõ nhất qua thái độ của nhiều người Việt Nam đối với việc ông Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị của đại học quốc tế Fulbright Việt Nam. Về phía Mỹ, người ta xem vai trò của Kerrey, một cựu quân nhân từng tham chiến tại Việt Nam, như một bằng chứng của hoà giải. Phía Việt Nam, ít nhất là đối với một số thành phần nào đó, ngược lại, người ta từ chối cử chỉ hoà giải ấy với lý do bàn tay của Kerrey đã từng dính máu trong cuộc chiến tại Việt Nam. Điều đáng nói là cái gọi là thành phần từ chối ấy dường như không phải nhỏ. Một cách công khai, chỉ có một mình bà Tôn Nữ Thị Ninh lên tiếng. Tuy nhiên, việc bài phỏng vấn ông Đinh La Thăng, trong đó, ông ủng hộ việc Bob Kerrey, bị gỡ ra khỏi các báo, cho thấy thế lực từ chối hoà giải tại Việt Nam rất lớn, ít nhất cũng lớn hơn ông Đinh La Thăng, một uỷ viên Bộ Chính trị và là Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh.
Tại sao chính quyền Việt Nam có vẻ miễn cưỡng trong tiến trình hoà giải với Mỹ như vậy?
Thực tình, tôi không hiểu.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 

 https://www.voatiengviet.com/a/hoa-giai-giua-viet-nam-va-my/3389041.html

Trường Fulbright Việt Nam và vấn đề ký ức chiến tranh




 
Sinh năm 1943, ông Bob Kerrey là một chính khách khá lớn của Mỹ. Ông từng là Thống đốc tiểu bang Nebraska (1983-1987), Thượng nghị sĩ (1989-2001) và là ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1992. Lúc còn trẻ, đi lính, ông được điều sang Việt Nam. Vào đầu năm 1969, đơn vị của ông gây ra một vụ thảm sát đầy tai tiếng tại làng Thạnh Phong, Bến Tre.


Mấy ngày vừa qua, ở trong nước, trên báo chí chính thống cũng như trên các diễn đàn mạng, người ta bàn tán sôi nổi về việc ông Bob Kerrey được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng Quản trị trường đại học quốc tế Fulbright Việt Nam mới được chính thức cấp giấy phép thành lập tại Sài Gòn.
Trường đại học Fulbright Việt Nam là trường đại học tự trị, phi lợi nhuận và theo mô bình giáo dục của Mỹ đầu tiên được thành lập tại Việt Nam.
Trong buổi nói chuyện tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia vào ngày 24 tháng 5 vừa qua, Tổng thống Barack Obama đã xem sự xuất hiện của trường ấy như một dấu son trong tiến trình hoà giải và hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ. Nhiều trí thức Việt Nam chào đón sự ra đời của trường học ấy như một bước ngoặt trong nỗ lực hiện đại hoá ngành giáo dục đại học tại Việt Nam. Người ta hy vọng, với nó, một tầng lớp trí thức mới sẽ được đào tạo một cách bài bản để có thể giúp việc xây dựng đất nước.
Tuy nhiên, mừng thì mừng, nhiều người vẫn áy náy, thậm chí, giận dữ về việc ông Bob Kerrey được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Sinh năm 1943, ông Bob Kerrey là một chính khách khá lớn của Mỹ. Ông từng là Thống đốc tiểu bang Nebraska (1983-1987), Thượng nghị sĩ (1989-2001) và là ứng cử viên Tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1992. Lúc còn trẻ, đi lính, ông được điều sang Việt Nam. Vào đầu năm 1969, đơn vị của ông gây ra một vụ thảm sát đầy tai tiếng tại làng Thạnh Phong, Bến Tre, ở đó, có 24 người, bao gồm 14 phụ nữ, trẻ em và người già, bị giết chết. Theo lời ông Kerrey, mặc dù ông không trực tiếp giết một ai, nhưng cuộc thảm sát do đơn vị của ông gây ra, cũng để lại trong lòng ông một vết thương và một mặc cảm tội lỗi không nguôi day dứt. Ông luôn luôn tìm mọi cách để chuộc lại lỗi lầm ấy. Trong nhiều vai trò khác nhau trong bộ máy chính trị của Mỹ, ông luôn luôn tìm cách thúc đẩy tiến trình hoà giải giữa hai dân tộc, luôn luôn tìm cách giúp đỡ Việt Nam, đặc biệt về phương diện giáo dục, trong đó có việc thành lập trường đại học quốc tế Fulbright Việt Nam.
Sự hối cải và nhiệt tình của Bob Kerrey vẫn không đủ làm cho một số người Việt Nam hài lòng. Họ vẫn nhớ đến bàn tay vấy máu của ông. Họ vẫn cho việc ông làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị đại học Fulbright Việt Nam là một tín hiệu không tốt: Nó gợi nhớ đến chiến tranh và những tội ác của chiến tranh cũng như nó chạm vào vết thương chưa lành hẳn của nhiều người.
Một số người khác cho cách nhìn ấy, tuy chính xác, nhưng nặng về cảm tính. Họ cho trong thời điểm hiện nay, điều Việt Nam cần làm là quên đi những vết thương của chiến tranh, cùng nhìn về tương lai để cùng nhau cộng tác xây dựng đất nước cũng như thúc đẩy tiến trình hội nhập của Việt Nam vào sân chơi lớn của thế giới.
Tôi đồng ý với quan niệm sau, của những người muốn quên thù hận. Nhưng tôi cũng đồng cảm với những người vẫn còn loay hoay với quá khứ. Tuy nhiên, trong bài này, tôi không muốn tham gia vào cuộc tranh luận ấy. Tôi muốn nhân cơ hội này bàn mốt chút về ý nghĩa của ký ức, đặc biệt về ký ức chiến tranh.
Để nhận diện đặc điểm nổi bật nhất của loài người, trước, thời Phục Hưng và Khai Sáng, người ta chú ý đến lý trí (kiểu “tôi tư duy vậy tôi hiện hữu” của Descartes hay “con người là cây sậy biết tư duy” của Pascal); đầu thế kỷ 20, với Phân tâm học, người ta chú ý đến tiềm thức và vô thức; từ vài thập niên trở lại đây, người ta chú ý đến vai trò của ký ức với câu nói nổi tiếng: “Chúng ta là những gì chúng ta nhớ”.
Chính ký ức tạo nên ý niệm về bản sắc của cá nhân cũng như của tập thể: Những gì chúng ta nhớ mang lại ý nghĩa cho những gì chúng ta làm, chúng ta thấy, chúng ta nghe, từ đó, góp phần trả lời câu hỏi ta là ai. Ký ức cũng nối liền từng người lại với nhau, tạo thành một cộng đồng, hay rộng hơn, một quốc gia: Đó là một tập thể những người chia sẻ với nhau một số những ký ức chung về nguồn cội cũng như về lịch sử, kể cả lịch sử đương đại.
Liên quan đến chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến đã kết thúc hơn 41 năm, ký ức vẫn tiếp tục tồn tại trong nhiều người, thuộc nhiều thế hệ và thuộc nhiều chỗ đứng khác nhau. Những người lưu vong, hiện sống ở hải ngoại, xa lắc Việt Nam, vẫn không nguôi trăn trở với những ký ức về chiến tranh, đặc biệt về trận Mậu Thân cũng như tháng 4, 1975 và những tháng ngày sau đó, với các trại cải tạo và những cuộc vượt biển đầy nguy hiểm. Những người ở miền Bắc vẫn không quên những chuyến vượt Trường Sơn và những trận mưa bom dữ dội của Mỹ ngay tại Hà Nội. Mọi người vẫn nhớ và những cái nhớ ấy vẫn tiếp tục chi phối cách suy nghĩ cũng như cách hành xử của họ.
Với những người ngoại quốc từng tham gia vào chiến tranh Việt Nam, ký ức ấy vẫn còn nóng hổi.
Tại trường Đại học Victoria, trong ngành Việt học, ngoài các lớp về ngôn ngữ, văn chương và văn hoá Việt Nam, tôi còn có một lớp về chiến tranh Việt Nam, tập trung chủ yếu vào khía cạnh văn hoá và ký ức chiến tranh (Many Vietnams: War Culture and Memory). Thường, mỗi năm, tôi mời một cựu chiến binh của Úc đến trình bày kỷ niệm và kinh nghiệm của họ. Nhớ nhất là cuộc nói chuyện của nhà văn Barry Heard. Ông vừa nói vừa khóc. Sinh viên của tôi vừa nghe vừa khóc. Cuối buổi học, mắt ai nấy đều đỏ hoe.
Barry Heard kể ông vào lính lúc mới vừa học xong trung học. Sau mấy tháng huấn luyện quân sự, ông được đưa đến Việt Nam. Sau mấy ngày nghỉ ngơi tại Vũng Tàu, đơn vị của ông được máy bay thả xuống một khu rừng rậm với một chỉ thị: Bắn bất cứ người nào họ gặp. Không bao lâu sau, họ gặp người thật. Họ được lệnh khai hoả. Khi tiếng súng ngưng, họ chạy đến xem. Thấy đó là một đoàn bộ đội, có cả phụ nữ. Lần đầu tiên nhìn người chết, nhất là những người đó chết vì những viên đạn do mình bắn ra, cả đơn vị, gồm những thanh niên vừa mới lớn, oà lên khóc nức nở. Có người còn ói mửa liên tục. Nhưng rồi, họ cũng tiếp tục đi hành quân và tiếp tục bắn giết.
Khi trở lại Úc, Heard cứ bị ám ảnh mãi bởi những hình ảnh những xác chết trong rừng rậm ấy. Ông bị khủng hoảng tâm thần đến độ nhiều lần phải vào nhà thương điên. Sau, các bác sĩ khuyên ông hãy viết tất cả những gì ông từng trải nghiệm trong chiến tranh Việt Nam lên trang giấy. Nghe lời, ông viết cả mấy cuốn hồi ký. Tất cả đều bán chạy và từ đó, ông trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng nhất về đề tài chiến tranh Việt Nam tại Úc.
Cuối buổi học, tôi hỏi ông bây giờ đã thấy thanh thản hẳn chưa. Ông đáp: Chưa. Ông vẫn bị ám ảnh về những xác chết trong rừng rậm. Thỉnh thoảng ông vẫn bị những cơn trầm cảm. Ông vẫn phải uống thuốc an thần. Ông lấy một phần tiền từ nhuận bút các cuốn sách ông viết để thành lập một quỹ học bổng giúp các học sinh và sinh viên Việt Nam nhưng ông vẫn không dám về Việt Nam. Tôi hỏi tại sao. Ông đáp: Vì sợ. Ông sợ sẽ không chịu đựng nổi khi nhìn lại khung cảnh Việt Nam. Vừa nói ông vừa ứa nước mắt.
Tôi cũng có một người bạn vốn là hoạ sĩ tại Úc. Anh cũng từng tham chiến tại Việt Nam. Anh kể một lần đụng trận; anh nhắm mắt xả súng về phía trước. Khi trận chiến chấm dứt, anh thấy trước mắt mình xác một thanh niên còn trẻ măng. Trên cổ người thanh niên ấy có một sợi dây chuyền với hình Quan Thế Âm. Anh vừa khóc vừa gỡ sợi dây chuyền ấy. Bây giờ, gần nửa thế kỷ sau, anh vẫn còn đeo sợi dây chuyền ấy trên cổ. Một lần, kể lại câu chuyện ấy với chúng tôi, anh vẫn khóc. Những ký ức về cuộc chiến tranh xa xôi về cả không gian lẫn thời gian ấy vẫn còn sống mãi và vẫn còn khiến anh đau đớn.
Tôi nghĩ Bob Kerrey cũng là một người như thế. Cũng không thoát được những ký ức về chiến tranh Việt Nam. Và cũng muốn làm một điều gì đó cho Việt Nam.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ 
    (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học ViệtNam

Văn hóa thù hận





Người dân thắp nến cầu nguyện cho các sĩ quan cảnh sát bị bắn chết tại Baton Rouge, ngày 18/7/2016.




Cuộc biểu tình ôn hoà của khoảng 1000 người dân Mỹ nhằm phản đối việc cảnh sát bắn chết hai người da đen (một ở Minnesota và một ở Louisiana) tại thành phố Dallas thuộc tiểu bang Texas tuần qua đã kết thúc một cách đẫm máu với cái chết của năm cảnh sát viên, những người đang giữ trật tự cho cuộc biểu tình. Thủ phạm là Micah Johnson, một thanh niên da đen 25 tuổi, từng đi lính tại Afghanistan. Johnson tuyên bố muốn giết những người da trắng, đặc biệt các cảnh sát viên da trắng để trả thù cho những người da đen bị cảnh sát bắn chết.
Đó không phải là lần đầu tiên cảnh sát Mỹ bị bắn với lý do thù ghét chủng tộc. Chỉ mới đây thôi, tháng 12 năm 2014, có hai cảnh sát viên tại New York bị bắn chết bởi một thanh niên da đen cũng với lý do thù hận chủng tộc tương tự. Tuy nhiên, trong lịch sử, chưa bao giờ có số cảnh sát viên bị bắn chết một lúc nhiều như lần này.
Phản ứng lại vụ tàn sát, hầu hết các chính trị gia đều kêu gọi mọi người đoàn kết và thương yêu nhau. Nhưng hầu như không ai có thể phủ nhận được một sự thật: nước Mỹ càng ngày càng chia rẽ, không những về kinh tế, tôn giáo, ý thức hệ và văn hoá mà còn về chủng tộc. Đằng sau vụ bắn giết cảnh sát viên da trắng là nỗi căm thù ngùn ngụt về màu da.
Suy nghĩ cho kỹ, sự căm thù về màu da ấy không phải chỉ có ở Micah Johnson. Ngay cả ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng Hoà, Donald Trump, cũng nhiều lần đưa ra những tuyên bố sặc mùi phân biệt chủng tộc. Ông đòi dựng hàng rào dọc theo biên giới Mỹ-Mexico đế ngăn chận di dân. Ông đòi trục xuất cả mười mấy triệu di dân bất hợp pháp ra khỏi nước Mỹ. Ông chủ trương cấm người Hồi giáo, đặc biệt từ những quốc gia Hồi giáo bị xem là có truyền thống khủng bố, nhập cảnh vào nước Mỹ. Theo tiên đoán của giới bình luận chính trị, cho dù Donald Trump thắng cử vào tháng 11 tới, tất cả những chính sách ấy đều không thể thực hiện được. Tuy nhiên, hai điều quan trọng nhất là: Một, xuất phát điểm của những chính sách ấy là sự thù ghét đối với Hồi giáo và di dân; và hai, những chính sách ấy, sau khi được công bố, làm thổi bùng lên ngọn lửa thù ghét Hồi giáo và di dân ở nhiều người trong cả nước.
Một hiện tượng tương tự cũng vừa xảy ra tại Úc. Trong cuộc bầu cử Quốc Hội liên bang vừa được tổ chức vào đầu tháng 7, đảng Một Quốc Gia (One Nation) của Pauline Hanson chiếm được đến mấy ghế trong Thượng Viện. Một trong những chủ trương chính của đảng này cũng là chống lại người Hồi giáo và những người di dân, đặc biệt di dân từ châu Á. Hanson cho rằng những người châu Á, nhất là người Trung Quốc, đang tràn ngập nước Úc và biến Úc thành một quốc gia bị Á châu hoá. Bà cũng cho rằng những người Hồi giáo bướng bỉnh không chịu hội nhập vào xã hội Úc và không chịu đồng hoá với văn hoá Úc, cứ khăng khăng bảo vệ nền văn hoá riêng của họ, thứ văn hoá thù nghịch với Úc và trực tiếp đe doạ đến Úc. Điều đáng nói không phải là các quan điểm kỳ thị tôn giáo và chủng tộc của Pauline Hanson mà là số phiếu cử tri Úc dành cho bà và cho đảng của bà. Số phiếu ấy cho thấy đằng sau xã hội có vẻ yên bình của Úc đang xuất hiện những làn sóng thù ghét đối với di dân và Hồi giáo.
Nghĩ cho cùng, việc 52% dân Anh bỏ phiếu chọn tách ra khỏi khối Liên Hiệp Âu Châu cũng xuất phát từ thứ văn hoá thù ghét di dân như vậy. Về phương diện chính trị cũng như kinh tế, hầu như ai cũng biết việc tham gia vào khối Liên Hiệp Âu Châu là một giải pháp tối ưu cho Anh. Tuy nhiên, điều nhiều người dân không thể chịu đựng nổi là sự tràn ngập của những người di dân từ các quốc gia khác trong khối đã và đang đổ dồn vào Anh. Không để ý đến sự kiện có rất nhiều người Anh sang sống và làm việc tại các quốc gia Âu châu, họ chỉ thấy sự hiện diện của các di dân từ các nước khác tại Anh như một sự đe doạ đến công ăn việc làm và sự an ninh của họ. Sau cuộc trưng cầu dân ý, làn sóng thù ghét người ngoại quốc càng dâng cao tại Anh. Những sự xâm phạm, bằng lời nói hay hành động, mang tính chất kỳ thị chủng tộc càng lúc càng phổ biến.
Hiện tượng thù ghét di dân, trong đó có những người Hồi giáo, lan rộng ở nhiều quốc gia Tây phương, nơi các đảng cực hữu càng lúc càng mạnh. Tâm điểm của các đảng ấy là chống di dân và chống lại chủ nghĩa đa văn hoá. Họ không muốn người khác cạnh tranh hay giành giật công ăn việc làm của họ, hơn nữa, họ cũng không muốn người khác làm loãng nhạt tính chất đặc thù và được cho là độc đáo trong nền văn hoá truyền thống của họ. Nói chung, người ta thù ghét sự đa dạng.
Dĩ nhiên, biểu hiện cao độ của thứ văn hoá thù ghét ấy là ở các tổ chức Hồi giáo cực đoan. Họ thù ghét tất cả những người ngoại đạo, thậm chí cả những người đồng đạo nhưng khác quan điểm với họ. Họ thù ghét tất cả những gì khác họ. Họ thù ghét văn hoá Tây phương và người Tây phương nói chung. Họ có tham vọng xây dựng những nhà nước dựa trên điều luật Hồi giáo và muốn Hồi giáo hoá cả thế giới.
Có thể nói văn hoá thù hận hiện nay đang lan tràn khắp nơi trên thế giới. Cách đây mấy thập niên, trước sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Liên Xô và Đông Âu cũng như trước xu thế toàn cầu hoá càng lúc càng tăng tốc, nhiều người lạc quan cho rằng thế giới, một lúc nào đó, biến thành một cái làng, làng-toàn-cầu, nơi mọi người gần gũi và sống với nhau một cách hoà bình. Nhưng càng ngày người ta càng thấy xu thế toàn cầu hoá có thể dẫn đến những phản ứng ngược: việc tái phối trí lực lượng lao động trên phạm vi thế giới cũng như việc di dân dễ dàng, một mặt, tạo cơ hội cho nhiều người có công ăn việc làm; mặt khác, lại trở thành một sự đe doạ đối với một số người khác. Đối diện với sự đe doạ ấy, người ta đâm ra thù ghét tất cả những gì đến từ những nơi khác.
Điều đáng nói là nhiều chính trị gia tìm mọi cách để khai thác sự thù ghét ấy để lấy phiếu trong các cuộc bầu cử. Nếu nhờ mị dân, họ thắng, cảm giác thù ghét ấy sẽ dễ dàng trở thành một thái độ kỳ thị chủng tộc. Đó mới là một tai hoạ cho nhân loại.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
  • 16x9 Image

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.


    https://www.voatiengviet.com/a/van-hoa-thu-han/3432499.html