Wednesday, October 31, 2018

Mô thức Trung Quốc là gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa
2018-10-30
Ông Tập Cận Bình là người quyền lực nhất Trung Quốc hiện nay
Ông Tập Cận Bình là người quyền lực nhất Trung Quốc hiện nay
AFP
Khi lãnh đạo Hà Nội làm dư luận phẫn nộ với việc kỷ luật Giáo sư Chu Hảo khiến ông quyết định ra khỏi đảng Cộng sản cùng nhiều trí thức khác thì tại Bắc Kinh, người ta thấy vài biến động đáng chú ý về mô thức phát triển kinh tế của Trung Quốc. Diễn đàn Kinh Tế sẽ tìm hiểu chuyện này….

Diễn biến khác lạ

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, việc ban Kiểm tra Trung ương của đảng Cộng sản Việt Nam bất ngờ công bố việc kỷ luật Giáo sư Chu Hảo vì những tội danh kỳ lạ khiến dư luận nhiều nơi phẫn nộ và một số chuyên gia trí thức thuộc các lứa tuổi khác nhau đã quyết định ra khỏi đảng, kể cả ông Chu Hảo vào hôm Thứ Bảy 27. Người ta nói đến một trào lưu định hướng lại tư tưởng chỉ đạo quốc gia trong giai đoạn khó khăn này. Đúng lúc đó, và giữa nhiều khó khăn của lãnh đạo Bắc Kinh, người ta cũng thấy nổi lên một số tiếng nói khác lạ về tương lai của Trung Quốc. Theo dõi nội tình xứ này từ đã lâu, ông có thể nào trình bày cho thính giả của chúng ta những diễn biến khác lạ đó không?
Ông Đặng Phác Phương nhắc đến tôn chỉ “thao quang dưỡng hối” của Đặng Tiểu Bình là nên khiêm nhượng với quốc tế chứ đừng sớm đòi lãnh đạo thiên hạ vì ưu tiên của Trung Quốc ngày nay là giải quyết các vấn đề nan giải ở bên trong.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, tôi xin nói về bối cảnh gần xa. Cuối Tháng 11 sẽ có Thượng đỉnh của lãnh đạo nhóm G-20 gồm 20 nền kinh tế lớn nhất địa cầu tại Buenos Aires của Cộng hòa Argentina. Vào dịp này, các nước đều theo dõi cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump với Tổng bí thư Tập Cận Bình của Trung Quốc xem trận thương chiến giữa hai nền kinh tế có sản lượng cao nhất thế giới sẽ tăng hay giảm. Thứ hai, trong Tháng 12, Bắc Kinh sẽ kỷ niệm 40 năm Cải Cách và Cởi Mở của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình sau Hội nghị kỳ Ba của Ban chấp hành Trung ương khóa 11, vào cuối năm 1978. Việc cải cách đó mới đưa kinh tế Trung Quốc vào một thời kỳ tăng trưởng ngoạn mục mà nay đang có chỉ dấu tàn lụi. Khi ấy, cuộc tranh luận về cải cách kinh tế hay chính trị tất nhiên xảy ra. Lần này, ta thấy việc tranh luận tại Bắc Kinh có vẻ công khai, khác hẳn sự bưng bít tại Hà Nội. Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng những chuyển động về tư tưởng thường xảy ra rất chậm cho tới khi có kết quả bất ngờ….
Nguyên Lam: Kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa có phương pháp dẫn vào chuyện rất hấp dẫn để lôi kéo sự chú ý của chúng ta. Thưa ông, vì sao ông nói cuộc tranh luận tại Bắc Kinh có vẻ công khai hóa?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta không quên Tập Cận Bình đã tập trung quyền lực đến tối đa, như là một hoàng đế vĩnh viễn sau Đại hội khóa 19 từ cuối năm ngoái. Quan trọng nhất là ông đưa tư tưởng của mình vào Điều lệ đảng và Hiến pháp như một chân lý chính thức không thể bàn cãi, với dấu hiệu của nạn sùng bái cá nhân như Mao Trạch Đông, trong khi bành trướng sức mạnh của Trung Quốc ra mọi nơi. Vậy mà, khi nhắc đến công lao cải cách và cởi mở của Đặng Tiểu Bình sau 30 năm hoang tưởng của Mao, có người đã nói giọng khác.
- Đó là trưởng nam của Đặng Tiểu Bình, ông Đặng Phác Phương, nạn nhân bị tật nguyền vì cuộc Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản Vĩ Đại khi bị ném từ cửa sổ xuống đất cách nay 50 năm. Ở tuổi 74, Đặng Phác Phương không chỉ là nhân vật thuộc “Thái tử đảng”, là con cháu các đại công thần cộng sản Trung Hoa như Tập Cận Bình, ông còn suy ngẫm nhiều từ những thảm kịch đó và là tiếng nói đáng chú ý. Trong tháng trước, Đặng Phác Phương đã như nhắc nhở tư tưởng của thân phụ trong một bài phát biểu đầy tính thực tiễn của Đặng Tiểu Bình.

Đặng Phác Phương nhắc nhở Tập Cận Bình

Nguyên Lam: Nguyên Lam thấy câu chuyện quả là hấp dẫn như chính ông Đặng Tiểu Bình hiện hồn về nhắc nhở Tập Cận Bình vậy. Thế người con trai của Đặng Tiểu Bình đã nói những gì, thưa ông?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Được bầu làm chủ tịch danh dự của “Liên Đoàn Những Người Tật Nguyền Trung Hoa”, Đặng Phác Phương có bài phát biểu sau ba ngày hội nghị củai liên đoàn đặc biệt này. Đặc biệt vì hôm khai mạc có sự tham dự của bảy Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính Trị, kể cả Tổng bí thư Tập Cận Bình. Ngày Đặng Phác Phương đọc diễn văn thì bảy vị lãnh đạo đó không có mặt, nhưng ông vẫn có lời kính trọng dành cho lãnh tụ Tập Cận Bình, rồi nói ra sự thật khác.
Ông Đặng Phác Phương, người nhắc nhở ông Tập Cận Bình về tôn chỉ
Ông Đặng Phác Phương, người nhắc nhở ông Tập Cận Bình về tôn chỉ "thao quang dưỡng hối". AFP
- Rằng chỉ có thực tiễn mới kiểm nghiệm được chân lý nên chính quyền phải giữ cái đầu tỉnh táo và biết vị trí của mình trong quan hệ ngoại giao và phô trương quân sự. Ông nhắc đến tôn chỉ “thao quang dưỡng hối” của Đặng Tiểu Bình là nên khiêm nhượng với quốc tế chứ đừng sớm đòi lãnh đạo thiên hạ vì ưu tiên của Trung Quốc ngày nay là giải quyết các vấn đề nan giải ở bên trong.
- Đáng chú ý hơn thế, Đặng Phác Phương nhắc lại lượng định của thân phụ rằng “củng cố và phát triển Trung Quốc sẽ cần vài chục thế hệ”. Sau nhiều biến động, từ năm 1992, Đặng Tiểu Bình nói mãi tới việc cần “vài chục thế hệ” vì tiến trình phát triển sẽ lâu dài, khó khăn, rắc rối và phức tạp. Nhưng, Đặng Phác Phương cũng nhấn mạnh hai yếu tố quan trọng, rằng không thể đảo ngược việc cải cách từ 40 năm trước, và rằng Trung Quốc nên có thái độ hợp tác để cùng có lợi trong môi trường quốc tế. Đấy là một phê phán tế nhị chính sách của họ Tập hiện nay.
Nguyên Lam: Câu chuyện quả ly kỳ vì con trai của công trình sư đã tạo ra những thay đổi tại Trung Quốc từ 40 năm qua là Đặng Tiểu Bình lại có vẻ như răn bảo người đang lãnh đạo Bắc Kinh hiện nay. Ông giải thích chuyện này như thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi trộm nghĩ Tập Cận Bình có triệu chứng vĩ cuồng hay tự mê sau khi tập trung tối đa quyền lực để giải quyết các vấn đề của Trung Quốc mà ông ta gọi là “những mâu thuẫn cơ bản của kỷ nguyên mới” nhưng chẳng xong vì các vấn đề ấy quá lớn. Vì vậy, những người trong cuộc mới lên tiếng.
- Với vai vế là con trai đệ nhất công thần và còn hơn Tập Cận Bình trên 10 tuổi, Đặng Phác Phương sợ công lao của thân phụ bị mai một và xứ sở gặp loạn nên có vẻ nhắc nhở rằng trong nền dân chủ tập trung thì cũng nên nhớ đến yếu tố dân chủ và phải kiểm nghiệm chân lý từ thực tiễn. Cái hiện tượng “độc quyền chân lý” của một chế độ toàn trị có thể đang rung chuyển nên từ vài tháng nay họ bắt đầu nói về tư tưởng. Khi đó, ta sẽ nhắc đến biến cố thứ hai cũng vừa mới xảy ra…
Nguyên Lam: Chúng ta bước qua phần hai của chương trình hồi hộp ngày hôm nay, thưa ông biến cố thứ hai đó là gì?

Ý kiến của kinh tế gia Trương Duy Nghinh

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc có Đại học Bắc Kinh, xưa kia được gọi là Quốc Tử Giám, nay là lò đào tạo nhân tài cho chế độ, còn có uy tín hơn Đại học Thanh Hoa. Hai tuần trước, một giáo sư của Đại học là ông Trương Duy Nghinh (Zhang Weiying), từng là Khoa trưởng Phân khoa Quản trị Quang Hoa của Đại học này có bài tham luận được đưa lên trang nhà của Đại học làm dư luận chú ý.
- Sinh năm 1959, đã học trong nước rồi tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học Oxford, dưới sự hướng dẫn của một giáo sư kinh tế người Anh, sau này đoạt giải Nobel kinh tế, ông Trương Duy Nghinh chủ trương kinh tế tự do theo trường phái Áo quốc hay “Austrian School”, và được giới kinh tế chú ý từ cả chục năm trước.
Kinh tế gia Trương Duy Nghinh cho rằng dùng mô thức Trung Quốc làm cơ sở thẩm định thành tựu kinh tế trong 40 năm qua là sai lầm và nguy hiểm vì dẫn tới mâu thuẫn xung đột.
- Bài tiểu luận của ông hôm 14 Tháng 10 làm chấn động dư luận vì đả kích mô thức Trung Quốc sẽ tất yếu dẫn tới đối đầu với thế giới Tây phương. Ông cho rằng dùng mô thức này làm cơ sở thẩm định thành tựu kinh tế trong 40 năm qua là sai lầm và nguy hiểm vì dẫn tới mâu thuẫn xung đột. Nói cho dễ hiểu, kinh tế gia này phủ nhận giá trị của mô thức Trung Quốc đang được Bắc Kinh đề cao!
Nguyên Lam: Câu chuyện càng ngày càng lạ vì tại sao một giáo sư kinh tế lại đưa ra một quan điểm trái chiều hay chệch hướng như vậy với tư tưởng của đảng? Ông nhận xét thế nào về chuyện này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thực tế thì cái “mô thức Trung Quốc”, mà Việt Nam coi như mẫu mực, dựa trên quyền lực của một đảng, một khu vực quốc doanh to lớn và một chiến lược công nghiệp gọi là sáng suốt nhưng phương hại cho tương lai xứ sở. Nói cho dễ hiểu theo luận điểm Tập Cận Bình thì mô thức gọi là “xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa” là một tai họa cho Trung Quốc. Giáo sư Trương Duy Nghinh vừa viết như vậy nên mới là điều khá bất thường.
Nguyên Lam: Thuần về kinh tế chính trị học, ông nghĩ sao về luận cứ vừa được một giáo sư kinh tế của Đại học Bắc Kinh đưa ra?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Dưới thời lãnh đạo của Mao Trạch Đông từ năm 1949, Trung Quốc đã trải qua 30 năm suy thoái và khủng hoảng, kể cả Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại hay Đại Dược Tiến làm gần 40 triệu người chết đói dù không bị mất mùa, và 10 năm biến động chính trị của các Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản Vĩ Đại cho tới khi Mao chết năm 1976. Trung Quốc chỉ bắt đầu có mức tăng trưởng rất cao sau khi họ Đặng cải cách đúng 40 năm trước. Làm sao giải thích hiện tượng đó? Rồi làm sao giải thích là ngày nay kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu suy sụp?
- Một là nhờ Đặng Tiểu Bình đã tháo gỡ các rào cản cho sản xuất kinh tế, kể cả chủ nghĩa hoang tưởng và chế độ tập trung quản lý bằng kế hoạch của Mao. Hai là vì Trung Quốc áp dụng kinh nghiệm của các nước tiên tiến, như Hoa Kỳ, Nhật Bản rồi Nam Hàn là nương theo quy luật thị trường tự do và giảm sự can thiệp chính trị vào kinh tế. Ba là nhờ Trung Quốc tìm ra mô hình riêng gọi là “xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa”. Cách giải thích thứ ba trở thành lý luận chính thức của đảng và ngày nay được Tổng bí thư Tập Cận Bình nhấn mạnh. Ông Trương Duy Nghinh thì đả kích cái chân lý giả trá đó.
Nguyên Lam: Ông vừa nói là làm sao giải thích việc kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu suy sụp, xin ông khai triển thêm cái ý này.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi đà tăng trưởng hết còn là 10% một năm như trong mươi năm đầu, đang giảm dần và nay chỉ còn 6-7% thì cách giải thích nào trong ba luận cứ kể trên là hợp lý nhất? Nếu chỉ là nhờ tháo gỡ các rào cản thời Mao thì thời nay chính quyền Bắc Kinh khó làm gì hơn mà phải tìm chiến lược mới, chứ không thể quay về chủ nghĩa Mao. Nếu là do áp dụng quy luật tự do kinh tế như các nước tiên tiến, thì thời nay nên gia tăng mức độ tự do ấy mới có phát triển chứ không thể lui về hướng cũ là gia tăng vai trò quản lý của nhà nước. Và nếu cách giải thích thứ ba về mô thức Trung Quốc, là chân lý của đảng và nhà nước thì người ta chẳng thể làm gì thêm và tương lai Trung Quốc tụt về sau lưng.
- Cùng với diễn văn của Đặng Phác Phương, bài phát biểu của kinh tế gia Trương Duy Nghinh cho thấy phần nào cuộc tranh luận về tư tưởng trong tầng lớp lãnh đạo ngày nay tại Trung Quốc. Ta thấy Bắc Kinh không cho phổ biến rộng rãi nhưng cũng chẳng có biện pháp kỷ luật lối phát biểu gọi là chệch hướng đó. Đấy là chi tiết đáng nhớ vì có người công khai hạ bệ “mô thức Trung Quốc” và có người nói là phải khiêm nhường và kiên nhẫn vì sẽ cần vài chục thế hệ nữa thì mới vượt qua những khó khăn hiện nay. So sánh với thái độ của Hà Nội trong vụ Chu Hảo, ta thấy ngay là Việt Nam vẫn còn tụt hậu.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích ly kỳ của tuần này, và xin hẹn quý thính giả tuần sau.

Loài kiến : « Những chiến lược gia đáng gờm »

Loài kiến : « Những chiến lược gia đáng gờm »
 
Một con kiến Megaponera đang tha con mồi về tổ sau một trận "quyết chiến".Wikimedia Commons

Dân gian có câu : « Kiến tha lâu cũng đầy tổ », hàm ý chỉ sự chăm chỉ, cần cù rồi cũng được đền bù xứng đáng. Thế nhưng, với nhà nghiên cứu Erik Frank, loài kiến còn có nhiều đặc tính thú vị khác. Khi quan sát cuộc chiến giữa loài kiến và mối tại Bờ Biển Ngà, Erik Frank phát hiện ra rằng kiến còn là những binh gia tuyệt vời và có một dịch vụ « quân y » rất hiệu quả.

Không phải giống kiến nào cũng có những « thói quen nhà binh » kiểu ấy. Đặc tính « quân nhân » này đặc biệt chỉ có ở giống kiến có tên khoa học là Megaponera analis, giống kiến Hạ Sahara, những giống kiến càng to khỏe, có chiều dài đôi khi lên đến 2cm. Đây là một trong những giống kiến được cho là rất « hiếu chiến ».
Sau 29 tháng bám lấy tổ kiến từ sáng đến tối, Erik Frank đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ sinh học, chuyên ngành nghiên cứu về Kiến tại trường đại học Wurzburg (Đức) vào tháng Giêng năm 2018, và cho đăng liên tiếp 5 bài nghiên cứu trên một tạp chí khoa học rất có uy tín của Anh, Proceeding B.
Nghiên cứu của anh về giống kiến Megaponera analis khiến báo Le Monde (14/03/2018) phải thốt lên đây quả là « những binh gia đáng gờm ». Quá trình đi săn mồi, tấn công mồi, các công tác hậu chiến của Megaponera chẳng khác gì một chiến dịch quân sự bao gồm các bước : Thăm dò đối thủ, bố trí quân lực, dàn trận, khai chiến, thu gom chiến lợi phẩm, thu nhặt "thương phế binh" và chăm sóc bệnh binh.
Trả lời phỏng vấn Le Monde, anh Erick Frank cho biết điều gì đã thôi thúc anh nghiên cứu về loài kiến này :
« Trong khoảng một tháng, tôi đã nhận thấy rằng những con khỏe mạnh tha về tổ những con bị thương. Nhưng tôi không biết là phát hiện này có thật sự là mới hay không và vì lúc ấy tôi cũng không có mạng Wifi để kiểm chứng, cũng như điện thoại để hỏi giáo sư. Thế là tôi cứ tiếp tục quan sát.
Những con kiến bị thương đó rồi sẽ thế nào ? Ai chuyển chúng đi và bằng cách nào ? Trong một hành trình dài ra sao ? Loài kiến này sẽ tổ chức tấn công như thế nào, bao nhiêu chiến binh, tỷ lệ thương vong trong giao chiến là bao nhiêu ? Để rồi ba tháng sau đó, khi giáo sư của tôi trở về, ông ấy tỏ ra có hứng thú. Ông ấy hỏi ngay là tôi có muốn làm tiến sĩ hay không ».
Xác định mồi và bố trí lực lượng
Với giống kiến Megaponera, miếng mồi ngon nhất chính là mối. Thế nhưng, tổ chức tấn công ổ mối lại không dễ chút nào. Những ụ mối, theo như cách ví von của giới khoa học, giống như là những vương cung thu nhỏ, thành trì vững chắc, có hệ thống điều hòa không khí tự nhiên, và lại rất hòa nhập với môi trường.
Nhưng giống kiến vùng Hạ Sahara này lại hiểu rất rõ là, để có thức ăn, loài mối phải bò ra khỏi cứ địa của mình, đi gom nhặt các vật liệu chết (lá cây, cành, vỏ cây) để cung cấp dinh dưỡng cho những luống nấm của mình. Mối buộc phải tìm chọn cho mình một địa điểm, phủ lên đấy một lớp mai bằng đất để tránh nắng và đương nhiên là cả những kẻ săn mồi, đồng thời nối điểm kiếm ăn với ổ mối bằng một con đường hầm.
Do đó, việc truy tìm địa bàn kiếm ăn của mối chính là nhiệm vụ đầu tiên của kiến "trinh sát". Khi phát hiện được mục tiêu, những con kiến này tiếp cận cẩn trọng, một cách từ từ, để thẩm định số lượng mối được triển khai. « Kiến dọ thám phải tỏ ra thật kín đáo, bởi vì nếu như những con mối canh gác phát hiện ra, chúng sẽ phát tín hiệu báo động và tất cả các con mối sẽ quay về nơi trú ẩn ».
Một khi đã thu thập đầy đủ các thông tin, kiến trinh sát trở về tổ để gây dựng một đạo quân mà nó cần. Khoảng từ 100 đến 600 con sẽ được huy động, xếp hàng hành quân. Đi đầu đàn là kiến trinh sát, nối theo sau là hai hàng sĩ quan phụ trách đánh dấu đường đi bằng cách tiết ra chất pheromone. Kế đến là những con kiến « to », còn có nhiệm vụ bảo vệ tiền tuyến của lực lượng chủ đạo. Phần quân còn lại đi ở phía sau theo từng hàng 4 con, được bọc hậu bởi những con « to » khác.
Dàn trận và giao chiến
Khi đã áp sát mục tiêu, kiến bắt đầu dàn trận. Những con kiến to có thân dài 2cm được xếp vào vị trí tiên phong. Ai tung tín hiệu tấn công ? Điều này anh Erik Frank vẫn chưa rõ. Nhưng bất thình lình cả đội kiến « lớn » cùng lao lên đánh. Mục tiêu là gì ? Phá tan lớp đất phủ do mối dựng nên. Nhiệm vụ được hoàn thành một cách chóng vánh. Tiếp đến là đợt tấn công của những con kiến nhỏ hơn, nhưng đôi càng có đến 5mm cơ bắp.
Kiến "nhỏ" Megaponera có cơ bắp của càng dày 5mm.Wikimedia Commons
Về phía loài mối, chúng cũng phải tổ chức phản công, chia thành hai giới. Những chú lính mối có đôi hàm to khỏe xung trận chặn kẻ thù một cách kiên cường, trong khi những con mối thợ tìm cách trở về hầm để đào thoát.
« Hành động kháng cự của chú lính mối thật là anh hùng. Chúng cắn ở bất kỳ đâu có thể, cắt đứt càng và râu, ôm chặt lấy bụng kiến, và không buông ra nữa. Nhưng có những con kiến khác đến tăng viện, chúng cào cấu để cho mối phải nhả ra, đến lượt chúng cắn lại, cho đến khi nào con mối đầu gần lìa thân… Và kiến bao giờ cũng là kẻ thắng trận và tiếp tục lao vào những con mối thợ còn lại. Nhưng đương nhiên, kiến cũng phải trả một cái giá khá cao ».
Theo ghi nhận của Erik Frank, sau mỗi trận như thế, ít nhất có đến 1/3 quân kiến bị thương trong một cuộc giao chiến chỉ kéo dài từ 10-15 phút.
Vận chuyển phế binh
Chính vào lúc này, điều đáng ngạc nhiên nhất diễn ra. Đứng ngoài trong suốt cuộc chiến, những con kiến to khỏe giờ lại bắt tay vào việc. Số thì tha về tổ chiến lợi phẩm, mỗi con có thể tha đến 6 con mối. Số khác thì chuyển thành lính cứu thương, vận chuyển những con kiến bị thương.
« Sau trận đánh, mỗi trận kéo dài từ 10-15 phút, các chú kiến không những bắt đầu thu gom chiến lợi phẩm là những con mối, mà còn thu nhặt cả những con kiến lính bị thương, những con bị mất một hay hai càng. Những con này sau trận đánh đã tiết ra loại chất pheromone để cầu cứu kiến cứu thương đến hỗ trợ. Nhờ vào loại hóa chất này kiến cứu thương có thể đến xem những con bị thương, ngậm chúng vào miệng và tha chúng về tổ ».
Những con nào bị thương quá nặng, mất hơn 3 càng thì đành chấp nhận số phận hẩm hiu bị bỏ rơi. Một sự sàng lọc đòi hỏi sự tham gia của chính những con kiến bị thương. Chúng sẽ không phát đi tín hiệu hóa học nào, cũng như không chấp nhận vị thế ưu tiên.
Anh Erik Frank lưu ý : « Đó không phải là một sự hy sinh tình nguyện, một hành động tự phát. Những con kiến này không thể đứng dậy và phát tín hiệu tuyệt vọng được. Nhưng cách hành xử này, mang tính tập thể, dựa trên một cơ chế rất đơn giản, lại có vẻ rất hiệu quả ».
Kiến "to" Megaponera (Major) có chiều dài cơ thể lên đến 2cm.Wikimedia Commons
Dịch vụ quân y hiệu quả
Một khi về đến tổ, trách nhiệm được giao lại cho các con kiến « bác sĩ quân y ». Chúng sẽ chăm sóc những con kiến « phế binh » đó như thế nào ? Đến đây, các nhà khoa học Đức đành phải dùng đến một thiết bị camera cực kỳ nhỏ để quan sát 6 ổ kiến được gây dựng trong phòng thí nghiệm.
Những con kiến đóng vai trò « bác sĩ » này phải hành động nhanh và tỉ mỉ, bởi vì chúng chỉ có một giờ để chữa trị, do các vết thương lành sẹo rất nhanh và tình trạng nhiễm trùng sẽ lan toàn thân. Chúng rửa sạch các vết bẩn hay gỡ bỏ những phần còn thừa của mối còn dính trên vết thương bằng cách liếm thật nhiều lên đấy, theo như giải thích của nhà khoa học với đài phát thanh Radio Canada.
« Ngay ở trong các tổ kiến, có những điều mà chúng tôi đã quan sát thấy và chúng tôi cho rằng đây là điều mới mẻ : đó là những con kiến cũng biết chăm sóc vết thương cho con khác, như là dùng móng để lau chùi vết thương hoặc phòng ngừa vết thương bị viêm nhiễm.
Tôi không chắc liệu có thể nói đó là một sự chữa trị thuốc thang hay không bởi vì có thể đó là những chất phòng ngừa giúp rửa vết thương, lau chùi đất, có rất nhiều khả năng để phòng ngừa sự viêm nhiễm. Tuy nhiên, người ta không rõ là vết thương đó đã bị viêm nhiễm rồi hay chưa và các con kiến khác có chăm sóc chống viêm nhiễm bằng chất kháng sinh hay không »
Một thế hệ thuốc kháng sinh tương lai ?
Một câu hỏi khác cũng được Erik Frank và ông K. Eduard Linsenmair, giáo sư hướng dẫn đặc biệt quan tâm : Hiệu quả chữa trị như thế nào ? Để tìm hiểu vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã chọn ra 120 con kiến « phế binh » chỉ mất có hai càng và chia làm ba nhóm : Một số không được điều trị, số khác được đặt vào môi trường vô khuẩn và số còn lại được hưởng chế độ điều trị. Kết quả là : « 80% trong nhóm đầu đều chết trong vòng 24 giờ, 20% tử vong trong nhóm thứ hai và duy chỉ có 10% tử vong trong nhóm thứ ba ».
Kết quả nghiên cứu này của Erik Frank được giới khoa học chuyên nghiên cứu về kiến trên thế giới hoan nghênh. Đây là lần đầu tiên, người ta có thể tập hợp các tài liệu chứng minh một cách khoa học về việc kiến chăm sóc trực tiếp các vết thương cho các con khác đồng loại.
« Chính xác là như vậy. Đây là lần đầu tiên người ta đã nhìn thấy một hệ thống, các bác sĩ, có thể gọi như vậy, cùng với các xe cứu thương của các con kiến. Bởi vì bình thường ra, các con vật chỉ tự chăm sóc các vết thương của bản thân, ví dụ con tinh tinh tự chăm sóc vết thương của nó. Thế nhưng, chăm sóc vết thương cho các con khác thì đây là lần đầu tiên, người ta quan sát thấy được một hệ thống chăm sóc có tổ chức hẳn hoi. »
Erik Frank cho biết thêm trong quá trình làm nghiên cứu sau đại học tại trường đại học Lausanne Thụy Sĩ, anh hy vọng có thể tìm ra lời giải cho những câu hỏi : Những nạn nhân đó chết vì cái gì, hay nói một cách khác bản chất của tình trạng nhiễm trùng là gì ? Thành phần nước dãi mầu nhiệm của kiến có gì ? Bản chất của việc điều trị là phòng bệnh hay chữa bệnh ? Những lời giải này có thể giúp các nhà sinh học khai mở hướng đi tìm ra những thế hệ thuốc kháng sinh mới.

 
 
Kiến Megaponera "bác sĩ" chăm sóc đồng loại bị thương sau trận đánh.
 http://vi.rfi.fr/quoc-te/20180321-loai-kien-chiec-luoc-gia-dang-gom-kh
 

Thế giới sẽ ra sao nếu không còn loài ong ?

Thế giới sẽ ra sao nếu không còn loài ong ?
 
Một trại nuôi ong ở Belarus. Ảnh chụp ngày 24/06/2017. REUTERS

Loài ong đã sống trên Trái đất từ 100 triệu năm nay. Loài vật này quen thuộc đến mức hầu như ai cũng nghĩ rằng chúng sẽ sống mãi mãi. Thế nhưng, ngày càng có nhiều nhà khoa học lên tiếng báo động về tình trạng suy thoái, thậm chí nguy cơ tuyệt chủng của loài ong và, nếu đúng như thế, đây sẽ là một thảm họa đối với nhân loại. Hành tinh của chúng ta sẽ ra sao nếu không có loài ong ? Hôm nay chúng ra sẽ nghe ý kiến của hai nhà nghiên cứu Pháp Yves Le Conte và Lionel Garnery, trả lời RFI Pháp ngữ vào đầu tháng 4/2018.

Yves Le Conte hiện là giám đốc nghiên cứu của Viện Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp INRA, chi nhánh Avignon và cũng là giám đốc Đơn vị nghiên cứu về ong và môi trường, tác giả một cuốn sách về bảo vệ loài ong, vừa được xuất bản tại Pháp. Còn Lionel Garnery là nhà nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học CNRS, giáo sư Đại học Versailles Saint-Quentin-en-Yvelines, đồng thời là chuyên gia di truyền học của loài ong đen.
Ong là loài côn trùng có tổ chức xã hội cao như kiến, mối. Chúng sống theo đàn, trong thiên nhiên hay trong các tổ ong nhân tạo. Mỗi đàn đều có ong chúa, ong thợ, ong non... và có sự phân công công việc, chặt chẽ, rõ ràng. Ong được con người nuôi để khai thác sản phẩm như mật ong, sáp ong, sữa ong chúa,...
Nhưng loài ong cũng có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái vì chúng tham gia vào việc thụ phấn cho các loài thực vật, như các loại côn trùng khác, nếu không muốn nói là có vai trò quan trọng nhất.
Thế mà, từ vài năm nay, số phận của loài ong gây lo ngại ngày càng nhiều, với tỷ lệ tử vong lên tới từ 30 đến 35%, thậm chí lên tới 50% vào mùa đông. Đến mức mà các nhà khoa học lo ngại cho sự tồn vong của loài côn trùng này.
Vậy những nguyên nhân gì khiến loài ong có nguy cơ bị tận diệt như vậy ? Nhà nghiên cứu Yves Le Conte giải thích :
"Nguyên nhân quan trọng nhất là những thay đổi của môi trường chung quanh những con ong. Nền nông nghiệp ngày càng mang tính thâm canh, khiến cho không gian của loài ong ngày càng bị thu hẹp. Tiếp đến là việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, cho dù giới nuôi ong đã quyết liệt chống. Các nhà khoa học chúng tôi nay đều nhận thấy rằng thế hệ thuốc trừ sâu mới đang gây tác hại vô cùng nặng nề cho sự tồn vong của loài ong, như chất neonicotinoide. Những chất này không giết ngay, mà giết từ từ những con ong. Bây giờ, giới chính trị, các hiệp hội phải nỗ lực vận động để hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc trừ sâu trong nông nghiệp".
Một yếu tố khác đe dọa đến loài ong là những vật ký sinh, như Varroa destructor, theo lời ông Le Conte :
"Varroa destructor là một loại acari, giống như một con cua nhỏ biết hút máu. Trong một đàn ong có thể có hàng ngàn varroa destructor, chúng sinh sôi nảy nở và cuối cùng tiêu diệt cả đàn ong. Hiện nay chúng ta có thể dùng hóa chất để chống varroa, hoặc là hóa chất tổng hợp, hoặc là những hợp chất mang tính hữu cơ (bio) hơn, nhưng nếu không chữa trị đàn ong thì chúng cũng sẽ chết. Có thể là về ngắn hạn thì không được, nhưng về dài hạn thì phải làm sao mà chúng ta có thể chọn lọc được những con ong có thể kháng cự những vật ký sinh như varroa".
Nhưng theo lời nhà nghiên cứu Lionel Garnery, nguy cơ bị tận diệt của loài ong là do tổng hợp nhiều yếu tố :
"Chúng ta đã nói về hai nguyên nhân quan trọng nhất, nhưng nếu tách riêng ra thì hai nguyên nhân này không thể giải thích được sự tiêu hao của loài ong. Đúng hơn đó là do sự phối hợp của nhiều yếu tố. Đầu tiên dĩ nhiên đó là những loài ký sinh như varroa, nhưng thật ra varroa chỉ là vật chủ trung gian mang virus. Tức là có rất nhiều nhân tố lây nhiễm đe dọa loài ong.
Nguyên nhân cũng là do tác động của con người lên cây trồng với quy mô lớn, đất canh tác không còn đa dạng về môi trường, tức là không còn đa dạng về phấn hoa, hậu quả là nguồn protein, nguồn vitamin cho loài ong giảm đi, khiến chúng không còn đủ khả năng để kháng cự lại những nhân tố tác hại khác.
Như vậy, chính sự tổng hợp của toàn bộ nhân tố khiến cho loài ong bị tiêu hao nhiều như vậy. Biến đổi khi hậu cũng là một trong những nhân tố đó. Yếu tố này khiến loài ong bị rối loạn, người nuôi ong cũng vậy, vì họ phải thay đổi cách nuôi. Riêng tôi thì chủ trương một cách nuôi mang tính thiên nhiên nhiều hơn, tức là làm sao cho các đàn ong dần dần tự thích ứng với những nhân tố đó, qua việc để cho tiến trình chọn lọc tự nhiên tác động nhiều hơn".
Để chống những loài ký sinh, ta cũng có thể tuyển chọn những con ong gọi là "ong vệ sinh", theo giải thích của nhà nghiên cứu Le Conte :
"Giống ong "vệ sinh" có thể tự bảo vệ chống varroa, một loại acari sống ký sinh, vẫn là hiểm họa số một của ong. Ong "vệ sinh" là những "nữ công nhân" có khả năng phát hiện những lỗ tổ ong đang bị varroa sống bám vào, rồi móc sạch lỗ tổ ong đó, để ngăn chận varroa gây tổn hại cho ong. Tại Viện Quốc gia Nghiên cứu Nông nghiệp, chúng tôi nghiên cứu rất nhiều về đặc tính đó của giống ong "vệ sinh". Chúng tôi muốn đề nghị cho những người nuôi ong một phương pháp đơn giản để giúp họ kiểm tra xem các lỗ tổ ong có "vệ sinh" không và tăng cường khả năng chống varroa của các tổ ong".
Tuy rằng loài ong sống rất thọ, tức là trên nguyên tắc khó bị tận diệt, nhưng theo nhà nghiên cứu Garnery, vấn đề chính là nằm ở tác động con người :
"Vấn đề là sự chuyển biến của xã hội con người, là tác động của con người lên đa dạng sinh thái. Cho dù có biến đổi khí hậu, nếu chúng ta cứ để cho thiên nhiên tự tác động, thì cũng sẽ có những con ong sống sót. Chúng đã từng sống sót qua nhiều thời kỳ băng hà ở châu Âu. Vấn đề ở chỗ loài ong có nhiều lợi ích kinh tế, nên bị con người chi phối. Nếu con người cản trở khả năng kháng cự tự nhiên của loài ong, nguy cơ tận diệt của chúng sẽ lớn hơn".
Về phần nhà nghiên cứu Le Conte, ông cảnh báo về việc một số người dự tính những phương cách để thay thế những vai trò loài ong, như thể họ nghĩ rằng sự diệt vong của loài côn trùng này là điều khó tránh khỏi :
"Tôi có biết được thông tin rằng, nhất là tại Hoa Kỳ, một số nhà nghiên cứu dự định sử dụng các "máy bay không người lái" bằng ong, một loại "ong robot" để sau này có thể thay thế cho những con ong thật. Nghe qua có vẻ thú vị, nhưng về mặt công nghệ, đây là một dự án không tưởng và điều này cũng cho thấy là con người quá tự mãn.
Suy cho cùng, chúng ta đang cần và vẫn sẽ cần đến loài ong. Có những loài cây trái cần đến ong để thụ phấn. Nếu loài ong mất, đi chúng ta sẽ gặp nhiều vấn đề về canh tác, về sản xuất thực phẩm cho chúng ta.
Mặt khác, có một điều chưa ai nói đến, đó là trong thiên nhiên có rất nhiều loài cây cỏ sống hoàn toàn cần đến loài ong trong việc thụ phấn. Nếu chúng ta loại trừ một giống ong nào chuyên giúp thu phấn cho một loại cây nào đó, thì cây đó sẽ chết".
Theo nhà nghiên cứu Le Conte, hậu quả của sự diệt vong của loài ong không chỉ rất nặng nề về mặt thực phẩm, mà sự diệt vong này còn là biểu tượng của sự suy thoái một trường nghiêm trọng:
"Tôi nghĩ là chúng ta sẽ không chết đói vì có rất nhiều loại cây trái không cần đến loài côn trùng để thụ phấn, mà chỉ cần có gió, nhưng chắc chắn là nếu không còn loài ong, chúng ta sẽ mất đi một số loại rau quả và điều này rõ ràng là sẽ gây nhiều khó khăn cho nhân loại.
Đây là một tín hiệu báo động rằng chúng ta phải ngăn chận nguy cơ, vì nếu con người lại có thể phá hủy những thứ đó, thế giới coi như tiêu tùng. Cần phải xem sự tồn tại của loài ong như là một cái ngưỡng không nên vượt qua, mà trái lại phải tìm đủ mọi cách để bảo vệ chúng. Bảo vệ loài ong có nghĩa là bảo vệ môi trường chung quanh chúng ta, bởi vì chúng ta cũng đang ăn những thứ có thuốc trừ sâu, hít thở không khí nhiễm thuốc trừ sâu. Chúng ta phải ngăn chận nguy cơ đó".

http://vi.rfi.fr/khoa-hoc/20180516-the-gioi-se-ra-sao-neu-khong-con-loai-ong

"Kỷ Nhân sinh'' : Khi con người tạo một thời đại địa chất mới

 
Trang bìa cuốn sách "Kỷ Nhân sinh mới"

Từ ít năm gần đây, trong giới khoa học phổ biến một khái niệm về Anthropocène, tạm dịch là « Kỷ nguyên Nhân sinh mới », để ghi nhận một kỷ nguyên địa chất mới, kỷ nguyên mà các hoạt động của con người ghi dấu ấn hết sức sâu đậm lên Trái Đất. Quan niệm « Kỷ nguyên Nhân sinh mới » giúp cho chúng ta hiểu được gì thêm về những hiểm họa lớn đối với nhân loại chúng ta hiện nay, trước nhiều biến đổi khí hậu vượt khỏi tầm kiểm soát, đe dọa nghiêm trọng sự sống còn của nhân loại trên hành tinh ?

Theo quan niệm thông thường, lịch sử thế giới tự nhiên và lịch sử xã hội con người là hai lĩnh vực hoàn toàn tách biệt. Lịch sử biến đổi của Trái Đất, của thế giới tự nhiên, thế giới sinh vật là lịch sử với các giai đoạn được phân ra theo các thời kỳ có bước đi hàng triệu, hàng chục triệu năm..., còn lịch sử xã hội con người chỉ mới bắt đầu tương đối gần đây, với thước đo là năm tháng, là thập kỷ hay thế kỷ. Tuy nhiên, những tác động lớn lao do cuộc cách mạng công nghiệp, khởi nguồn từ Châu Âu lan rộng khắp hành tinh sau đó, làm thay đổi toàn bộ diện mạo Trái Đất, ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường khí hậu, đã làm biến đổi một cách hết sức ghê gớm dòng lịch sử của chính Trái Đất  - cái nôi của sự sống, của xã hội con người.
Tình huống chưa từng thấy và khó dự đoán này thách thức những quan niệm về xã hội hiện đại (modernité), vốn được coi là bất di bất dịch, về mô hình phát triển, về cách thức chung sống trong xã hội... Quan niệm "Kỷ Nhân sinh mới" là một dấu hiệu cho thấy những liên kết giữa các khoa học khác nhau về Trái Đất, các khoa học về xã hội, và những con người đang tìm kiếm và thực thi các giải pháp bảo vệ môi trường. Hiểu quá khứ hơn hai thế kỷ công nghiệp hóa với sự ra đời, tranh đấu hay suy tàn của những quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa hoạt động con người với môi trường, hoạt động con người với khí hậu : Đó là các chủ đề chính được đặt ra trong cuốn sách « Kỷ nhân sinh mới », của hai nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Pháp, sẽ ra mắt trong tháng 10/2013.
Tác giả cuốn sách Christophe Bonneuil, nhà nghiên cứu thuộc CNRS, mang lại một số giải đáp về cuốn sách này, qua chương trình tạp chí « Autour de la question » của RFI.
Kỷ nguyên Nhân sinh mới là gì ?
Giải thích về khái niệm Kỷ nguyên nhân sinh mới, nhà sử học Christophe Bonneuil cho biết :
Christophe Bonneuil : Đây là một từ gốc Hy Lạp cổ. « Kainos » là cái mới, còn « Anthropos » có nghĩa là con người, nhân loại. Như vậy, anthropocène là một kỷ nguyên mới với vai trò nổi trội của con người, bởi các ảnh hưởng của con người đến Trái Đất. Chúng ta ở vào một thời kỳ mà con người kiểm soát việc tạo ra 90% « sinh khối ». 90% các hệ động thực vật được tạo ra trong các không gian ít nhiều do con người kiểm soát. Chúng ta ở trong kỷ nguyên con người làm biến đổi khí hậu. Chúng ta ở trong giai đoạn con người gây ra một khủng hoảng về đa dạng sinh học, tức là cuộc hủy diệt các giống loài. Đây là cuộc đại hủy diệt lần thứ sáu kể từ khi sự sống xuất hiện trên Trái Đất. Điều này chưa từng xẩy ra kể từ 65 triệu năm nay.
Lịch sử Trái Đất với chiều dài 4 tỷ năm là vô cùng phức tạp, lịch sử như thể là một thứ riêng biệt, tạo thành một cái khung, ít chịu ảnh hưởng bởi những hành động của con người. Chúng ta có xu hướng tách biệt những cái gì thuộc về lịch sử con người, thuộc về văn hóa, xã hội, với thời gian tính riêng biệt, với lô gic riêng biệt, với tính nhân quả riêng.
Chúng ta có thể nói đến sự tách biệt giữa khoa học cứng, khoa học về tự nhiên, và khoa học về xã hội và con người ra đời từ sự phân chia ranh giới này. Thuộc về các khoa học cứng là thời gian dài, với các quy luật cứng nhắc của tự nhiên ; còn thuộc về các khoa học xã hội và con người là sự quan sát các quá trình, nhờ đó con người thoát khỏi và chinh phục tự do của mình, với việc giải thoát khỏi những quy định trói buộc của quy luật tự nhiên, bằng cách thống trị tự nhiên.
Thuật ngữ Kỷ nguyên Nhân sinh mới là do nhà khoa học Hà Lan Paul Crutzen, giải thưởng Nobel Hóa học (1995) đề xuất, để nói về sự gặp gỡ giữa lịch sử con người với lịch sử Trái Đất, vào thời điểm cách đây hơn 2 thế kỷ, khi một nền công nghiệp mới xuất hiện tại Châu Âu, với đặc điểm nổi bật là việc khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên trên Trái Đất. Với quan niệm về Kỷ nguyên Nhân sinh mới, kể từ đây, chúng ta khó còn có thể xem lịch sử Trái Đất và lịch sử con người như là hai dòng lịch sử tách biệt nhau.
Trước Kỷ nguyên Nhân sinh mới, là Kỷ nguyên địa chất học mang tên "Thế  Toàn Tân" (Holocène), kéo dài khoảng 11.500 năm. Sự khác biệt của Kỷ Nhân sinh mới so với Thế Toàn tân trước đó là khí hậu ngày nay biến động rất nhanh, những biến chuyển khó lường được so với khí hậu tương đối ổn định trước đây.
Kỷ Nhân sinh bắt đầu từ 5.000 năm trước hay 2 thế kỷ trước ?
Trong giới khoa học, trong số những người tán đồng quan niệm về Kỷ Nhân sinh, cũng có một quan niệm khác là Kỷ nguyên Nhân sinh mới này phải bắt đầu từ cách đây 5.000 năm (chứ không phải cách đây hai thế kỷ), bắt đầu khi xuất hiện những nền nông nghiệp đầu tiên, các hoạt động canh tác quy mô lớn, việc phá rừng… từ đó bắt đầu sinh ra khí thải gây hiệu ứng nhà kính, làm chậm lại thời kỳ băng hà mới.
Tuy nhiên, theo nhà sử học Christophe Bonneuil, Kỷ Nhân sinh mới phải bắt đầu chậm hơn rất nhiều, bởi thời kỳ cách đây 5.000 năm cho đến trước đây hai thế kỷ, khí hậu Trái Đất rất ổn định. Vào thời điểm này, theo nhiều nghiên cứu các hoạt động của con người tham gia vào sự ổn định của khí hậu. Sự chuyển đổi lớn lao chỉ bắt đầu từ cuộc cách mạng Công nghiệp, vào thời điểm con người bắt đầu sử dụng than nằm trong lòng đất. Việc dùng than làm năng lượng có một tác động hết sức to lớn.
Tiếp đó, kể từ sau Thế chiến II, việc sử dụng một cách phổ biến dầu lửa, sự phát triển của xã hội sản xuất và tiêu thụ hướng đến đại chúng, và sự phổ biến toàn cầu của mô hình phát triển phương Tây, nay được áp dụng khắp nơi... khiến đời sống Trái Đất thay đổi một cách triệt để.
Các kịch bản biến đổi khí hậu và niềm tin "địa-công nghệ"
Các nhà khoa học nhìn chung có thể đóng góp được gì trong hoàn cảnh hiện nay, khi tác động của con người đến môi trường trên rất nhiều lĩnh vực đã vượt quá khỏi khả năng kiểm soát. Góp tiếng nói về vai trò của khoa học trước các thách thức môi trường, nhà nghiên cứu Christophe Cassou, thành viên của Giec, nhóm chuyên gia liên chính phủ về biến đổi khí hậu giải thích :
Christophe Cassou : Cương vị của các nhà khoa học chúng tôi khá là phức tạp, nhà khoa học không phải là người đưa ra các giải pháp. Ngược lại các nhà nghiên cứu đưa ra các báo động đỏ khi cần thiết. Vai trò của chúng tôi là ở đó. Không phải trong việc đưa ra các giải pháp, chúng tôi chỉ cung cấp các thông tin đầy đủ và đáng tin cậy nhất có thể được cho những người quyết định, cho các chính trị gia, cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, tài chính… của những người đưa ra các quyết sách.
Nhà nghiên cứu cũng có vai trò nói lên điều là, khí hậu vào cuối thế kỷ này là một khí hậu với nhiều kịch bản. Có nghĩa là chúng ta có thể chọn lựa ngay từ bây giờ khí hậu mà chúng ta muốn và bắt đầu ngay từ bây giờ việc giới hạn lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
Tương lai của chúng ta phụ thuộc vào các quyết định sẽ được đưa ra trong từ 10 đến 20 năm tới. Cần lưu ý đến quán tính của khí hậu, khí hậu có thể được coi như một con tàu khách. Một khi tàu đã khởi hành và đạt đến một tốc độ nhất định, thì khó mà dừng con tàu lại ngay.
Trả lời RFI về cảm nhận của ông trước nhận định kể trên của chuyên gia Giec, tác giả cuốn Kỷ nguyên Nhân sinh mới Christophe Bonneuil cho biết :
Christophe Bonneuil : Tôi rất đồng tình khi ông ấy nói về vai trò của các nhà nghiên cứu là đưa ra các yếu tố, các thông tin ; các nhóm xã hội sẽ tranh luận, chính xã hội sẽ lựa chọn. Tuy nhiên, bất hạnh thay, có những nhà khoa học có liên hệ về quyền lợi với giới công nghiệp. Và chính những nhà khoa học này khẳng định như là người có thể đưa ra được các giải pháp cho chúng ta, có thể cứu nguy được hành tinh với « géo-ingénierie » (địa-công nghệ), tức các kỹ thuật tác động đến khí hậu trên quy mô toàn cầu, với lời hứa hẹn rằng : Chúng ta không cần thay đổi lối sống của chúng ta, chúng ta không cần phải đặt dấu hỏi về phương thức tiêu thụ của chúng ta và chúng ta sẽ có các giải pháp kỹ thuật cho vấn đề này. Có những người như Bill Gates, các tập đoàn công nghiệp lớn đầu tư vào các kỹ thuật này.
Niềm tin thế kỷ XVII : Con người thừa khả năng quản trị Thiên nhiên
Những nghiên cứu về lịch sử Kỷ Nhân sinh mới cho thấy vấn đề tác động của con người đến môi trường đã được đặt ra từ đầu của quá trình công nghiệp hóa. Tuy nhiên, vào thời điểm đó phổ biến một cái nhìn một chiều và một thái độ hết sức lạc quan, ông Christophe Bonneuil phân tích :
Christophe Bonneuil : Lịch sử của Kỷ nguyên Nhân sinh mới cũng là lịch sử của niềm tin và những lời hứa hẹn rằng con người có khả năng quản lý được Thiên nhiên và những thất bại của những hy vọng như vậy. Ví dụ như vào thế kỷ XVIII, vào thời điểm cuộc khủng hoảng rừng bị tàn phá, vì nhu cầu lấy gỗ cho các hoạt động công nghiệp, đã xuất hiện các hiểu biết mới về rừng. Lúc này đã xuất hiện từ « nachhaltigkeit » (tính bền vững) trong một chuyên luận của một tác giả người Đức về kinh tế rừng vào năm 1713. Người ta đã tin tưởng rằng có thể quản lý được rừng với tư cách một nhà tư bản giỏi. Cuối thế kỷ XIX, những người coi sóc rừng đã phản đối quyết liệt phương thức này, vốn dựa trên quan niệm rừng là một nơi dự trữ gỗ, mà không tính đến các chức năng khác của rừng, như việc điều chỉnh lượng nước mưa, điều chỉnh các dòng nước, bảo vệ đất chống sói mòn.
Tiếp sau đó, người ta lại có chủ trương quản lý hành tinh Xanh với chủ trương phát triển các vùng canh tác lớn, với việc lên án các sắc dân bản địa bị thực dân hóa là không có khả năng quản lý một cách duy lý đối với thế giới tự nhiên, họ chỉ là những người săn bắt hái lượm, du canh du cư, đốt rừng…
« Soi sáng bởi khoa học, ta có quyền làm cho Trái đất trở nên có giá trị hơn ». Đây là một quan niệm phổ biến cuối thế kỷ XIX, trở thành « Tín điều của người Da trắng », như tên một cuốn sách của nhà sử học Alain Ruscio (Le credo de l'homme blanc. Regards coloniaux français XIXème-XXème siècles). Quan niệm này mang lại tính chính đáng cho quyền lực thực dân nhờ khoa học, nhân danh quan niệm người Da trắng là người có khả năng sử dụng tốt hành tinh này hơn so với những cư dân bị thực dân cai trị.
Con người là chúa tể của Thiên nhiên : Những cảnh báo và kháng cự đầu tiên
Tác giả « Kỷ Nhân sinh mới » giải thích rõ hơn về nguồn gốc sâu xa của quan niệm biện minh cho cuộc cách mạng công nghiệp hóa, coi việc khai thác triệt để các nguồn tài nguyên của môi trường làm tôn chỉ :
Christophe Bonneuil : Việc đi vào Kỷ nguyên Nhân sinh mới bắt đầu với việc khai thác than, là một biện pháp để đáp ứng lại các xung đột xã hội tại các nước Tây Âu do việc phá rừng lấy gỗ làm nhiên liệu. Nhà xã hội học và sinh thái học Alain Gras trong cuốn « Sự lựa chọn lửa. Nguồn gốc của cuộc khủng hoảng khí hậu » (Le choix du feu. Aux origines de la crise climatique) (2007), cho thấy có một sự lựa chọn hoàn toàn có ý thức trong việc đi vào kỷ nguyên công nghiệp.
Và một trong các nhà tư tưởng của xã hội công nghiệp đầu thế kỷ XIX, Saint Simon (1760-1825), đã nói một cách rõ ràng trong những năm 1820 rằng : Đối tượng của công nghiệp là khai thác hành tinh này. Có nghĩa là chiếm hữu các phẩm vật trong tự nhiên cho nhu cầu của con người. Thực hiện mục tiêu này, con người thay đổi hành tinh, khiến con người thay đổi một cách triệt để các điều kiện tồn tại của mình.
Từ đó, con người tham gia vào việc thể hiện dần dần « bản thể thần thánh ». Saint Simon nói : Vai trò của chúng ta là đi vào thế giới công nghiệp để biến đổi hành tinh và trở thành Chúa trời. Đó là ý thức hệ của chủ trương công nghiệp hóa, mà chúng ta hoàn toàn sống trong đó từ hai thế kỷ nay.
Tuy nhiên, cũng trong thời kỳ ban đầu này, đã xuất hiện những hình thức phản kháng lại chủ trương công nghiệp hóa, lấy Thiên nhiên làm đối tượng khai thác. Charles Fourier (1772-1837), một trong những nhà tiền bối của tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã trả lời Saint Simon, trong tác phẩm mang tên « Sự xuống cấp về vật chất của hành tinh » (Dégradation matérielle de la planète), rằng có một ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến các quá trình tự nhiên, điều này gắn liền với chủ nghĩa tư bản công nghiệp, với sự thống trị của lợi ích cá nhân so với ích tập thể. Và, theo ông, người ta không giải quyết được vấn đề này với các biện pháp vặt vãnh, qua việc ngừng khai thác rừng chẳng hạn (như đòi hỏi của nhiều nhóm cư dân vào thời điểm đó), mà phải thay đổi toàn bộ hệ thống, trong đó có sự thử nghiệm hệ thống mới như « đoàn thể cộng đồng xã hội » (phalanstère), những hình thức đầu tiên của chủ nghĩa xã hội. Đây là một đề nghị cùng vừa mang tính sinh thái, vừa mang tính xã hội.
Tác giả cuốn Kỷ Nhân sinh mới gọi đó là « những cảnh báo » đầu tiên. Các phản kháng chống lại thế giới công nghiệp mang đủ hình dạng khác nhau, có thể về mặt khoa học, hay các phản ứng của giới thợ thủ công, không chấp nhận tham gia vào nền công nghiệp, phong trào phá hủy máy móc…, có thể là sự phản đối của các quý tộc, các cư dân sống bên lề các nhà máy… Cuối thế kỷ XIX, đặc biệt trong trào lưu Mác-xít ở Anh, có sự phê phán  rất mạnh trên phương diện sinh thái, mà bây giờ ta có xu hướng quên đi. Hay sau Thế chiến II, có nhiều tiếng nói cảnh báo rằng Trái Đất là một tổng thể, cần phải có một sự quản lý mang tính trí tuệ đối với môi trường mang tính toàn cầu này.
Quân sự : Ba hệ quả với môi trường/khí hậu
Một điều được nhiều người ghi nhận là, trong suốt hai thế kỷ đầu tiên của Kỷ Nhân sinh mới, rất nhiều phản kháng chống lại làn sóng công nghiệp hóa khai thác triệt để các tài nguyên trên Trái Đất, đã bị thất bại. Để hiểu về sức mạnh của làn sóng công nghiệp hóa trong Kỷ Nhân sinh mới, đồng tác giả cuốn sách, nhà sử học Jean-Baptiste Fressoz, trả lời RFI qua điện thoại từ Luân Đôn, lưu ý đến vai trò trung tâm của quân đội trong quá trình này :
Khi chúng ta quan tâm đến việc loài người đi vào Kỷ nguyên Nhân sinh mới, chắc chắn đấy không phải là con người nói chung, mà một số tổ chức, định chế…, một số dân tộc, một số sắc dân… Trong số các định chế này, quân đội có vai trò rất quan trọng, vai trò trung tâm trong Kỷ nguyên Nhân sinh mới.
Hệ quả thứ nhất : Hiển nhiên là, trên các chiến trường, có sự phá hủy môi trường thiên nhiên rất lớn, điều này được biết rất rõ. Nếu lấy ví dụ của Việt Nam, 30% rừng bị mất, một phần do các chất độc mà người Mỹ sử dụng. Điều này là rõ ràng.
Hệ quả thứ hai : Có những điều ít hiển nhiên hơn. Có quan niệm cho rằng, sau khi đã biết được cách tiêu diệt con người, ta có thể biết cách tiêu diệt các sinh vật nói chung. Có một mối liên hệ rất mật thiết giữa các công nghệ quân sự và các công nghệ được sử dụng trong nông nghiệp, được sử dụng để tiêu diệt các sinh vật có hại. Có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa lịch sử vũ khí hóa học và lịch sử thuốc trừ sâu.
Theo một số công trình nghiên cứu, các hóa chất được sử dụng trong hai trường hợp là hoàn toàn giống nhau. Trong nhiều trường hợp, ngành công nghiệp thuốc trừ sâu là xuất phát từ ngành công nghiệp vũ khí hóa học. Mục tiêu của ngành công nghiệp thuốc trừ sâu không phải là chống lại côn trùng (có hại), mà là tiêu diệt chúng hoàn toàn. Thuật ngữ « tiêu diệt hoàn toàn » được sử dụng trong chiến tranh, nay được sử dụng để chỉ việc tiêu diệt các sinh vật.
Hệ quả thứ ba : Mối liên hệ thứ ba có phần tinh tế hơn và có thể quan trọng hơn, đó là mối liên hệ giữa các kỹ thuật quân sự và mức tiêu thụ năng lượng gia tăng. Thật là ấn tượng khi quan sát thấy các phương tiện quân sự của thế kỷ XX tiêu thụ các khối lượng nhiên liệu khổng lồ như thế nào.
Tôi cho rằng, cần phải đặt Kỷ nguyên Nhân sinh mới trong mối liên hệ với Thế chiến Hai. Vì sao vậy ? Bởi vì chính trong cuộc chiến này mà hình thành một loạt các cơ sở hạ tầng liên quan đến việc tiêu thụ dầu mỏ, các đường ống dẫn dầu, sự phát triển các trung tâm lọc dầu với công nghệ cao cấp để cung cấp nhiên liệu cho máy bay chẳng hạn... Những công nghệ này tiếp sau đó được tái sử dụng trong lĩnh vực dân sự. Rất nhiều cơ sở hạ tầng dân sự đương đại là kế thừa của những gì đã được xây dựng vào thời Thế chiến II.
Biểu đồ lịch sử về tiêu thụ năng lượng cho thấy lượng dầu lửa được tiêu thụ tăng vọt trong thời gian chiến tranh. Theo tôi, trong lĩnh vực này cần phải đặt lại chiến tranh vào trung tâm của Lịch sử.
***
Cuốn « Kỷ Nhân sinh mới » của hai nhà sử học Christophe Bonneuil và Jean-Baptiste Fressoz nằm trong chuyên mục « Kỷ Nhân sinh/Anthropocène » của nhà xuất bản Seuil. « Kỷ Nhân sinh mới » là một trong ba cuốn sách đầu tiên của chuyên mục này. Chuyên mục sẽ chính thức tổ chức ra mắt công chúng trong hai ngày thứ Hai 21 và thứ Ba 22/10 tới tại Paris. Ngày 15 và 16/11, tại Viện chính trị Paris/Science Po, sẽ có cuộc hội thảo quốc tế "Thinking the Anthropocene" (Suy nghĩ về Kỷ Nhân sinh).
Quý vị có thể truy cập toàn bộ chương trình tạp chí giới thiệu cuốn sách qua địa chỉ http://www.rfi.fr/emission/20131007-1-pourquoi-histoire-humaine-elle-rendez-vous-histoire-terre
Các tin bài liên quan
Bệnh Parkinson và phương pháp kích thích não sâu (xem phần ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật)
Chiếc đầu máy hơi nước và niềm tin điều chỉnh được khí hậu
Theo nhà sử học Christophe Bonneuil, vào thời điểm xã hội con người đi vào kỷ nguyên Nhân sinh mới, cuối thế kỷ XVIII, đầu XIX, trong các xã hội Tây Âu đã có rất nhiều hiểu biết về quan hệ giữa xã hội và tự nhiên, giữa xã hội và khí hậu. Quan điểm của thời kỳ này mang đầy tin tưởng lạc quan.
Paul Crutzen, người đề xuất thuật ngữ kỷ nguyên Nhân sinh mới, đã đề nghị điểm khởi đầu của kỷ nguyên này là năm 1784. Đây là năm mà kỹ sư người Anh James Watt (1736-1819) được cấp bằng sáng chế cho chiếc đầu máy hơi nước. Bốn năm trước đó, Buffon (1707-1788) – nhà tự nhiên học Pháp – trong cuốn cuối cùng của Bộ sách « Lịch sử tự nhiên » (L’histoire naturelle) – đã viết rằng : Bề mặt Trái Đất hiện nay mang dấu ấn của những sức mạnh con người. Buffon tin tưởng : Con người có khả năng thay đổi các ảnh hưởng khí hậu nơi mình sống và ấn định nhiệt độ của môi trường mà mình thấy phù hợp. Quan niệm khá phổ biến thời đó là con người tham gia điều chỉnh nhiệt độ Trái Đất, bởi Trái Đất có xu hướng lạnh đi, vì vậy, việc phá một phần diện tích rừng sẽ giúp cho Trái Đất giữ được nhiệt độ ấm hơn.


  http://vi.rfi.fr/khoa-hoc/20131009-ky-nhan-sinh-khi-con-nguoi-tao-nen-mot-thoi-dai-dia-chat-moi

Đại diệt chủng sinh giới do « tham lam, kiêu ngạo và thiển cận »

media 
 
Không có thiên nhiên, không có tương lai" : Khẩu hiệu trong một cuộc tuần hành tại Marseille, ngày 8/9/2018.REUTERS/Jean-Paul Pelissier
 
Giá xăng dầu tăng cao khiến dân Pháp bất bình ; thủ tướng Đức chuẩn bị ra đi khiến tương lai châu Âu rơi vào bất định là một số tựa lớn trang nhất các báo Pháp hôm nay, 31/10/2018. Gây ấn tượng nhất là Libération, báo động về « cuộc đại diệt chủng sinh giới », nhân báo cáo của Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF). Libération có bài phỏng vấn nhà sinh học Gilles Bœuf phân tích về nguồn gốc của thảm họa và khả năng hành động của con người.
« Từ chim chiền chiện cho đến voi » : 60% các giống loài có xương sống đã biến mất trong khoảng thời gian từ 1970 đến 2014, là ghi nhận trong báo cáo của WWF. Trả lời Libération, nguyên giám đốc Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử Tự nhiên Pháp Gilles Bœuf lưu ý là cho dù về mặt ngắn hạn tuyệt chủng chưa xảy ra đối với đa số các giống loài, nhưng tốc độ diệt vong là khủng khiếp. Thế hệ con cháu chúng ta chắc hẳn sẽ không còn được nhìn thấy những loài vật đáng yêu như hươu cao cổ, hay voi. Và không chỉ các động vật to lớn, mà những loài lưỡng thê nhỏ bé, vốn có mặt ở khắp mọi nơi, như ếch nhái. Tương tự với loài chuồn chuồn, một sinh vật kỳ diệu có khả năng bay với vận tốc 90km/h, với rất ít năng lượng, và cùng một lúc nhìn được tứ phía.
Theo nhà sinh học Pháp, sở dĩ có cuộc đại diệt chủng sinh giới hiện nay là do ba tính xấu của con người : Tham lam vô độ, kiêu ngạo và thiển cận.
Các loài vật bị tuyệt diệt, hoặc bởi con người muốn sử dụng chúng cho các sản phẩm tiêu dùng, như sừng tê giác rất được ưa chuộng trong ngành dược học cổ truyền Trung Quốc (hôm 29/10/2018, sau một thời gian cấm, chính quyền Trung Quốc cho phép buôn bán trở lại các sản phẩm với thành phần từ tê giác và hổ - người viết), hoặc do môi trường bị ô nhiễm và bị thôn tính. Nhà sinh học Pháp đặc biệt nhấn mạnh đến tình trạng rừng ở khắp nơi trên thế giới bị biến thành nơi canh tác nông nghiệp quy mô lớn, ví dụ như cho đậu tương biến đổi gien ở Brazil hay Achentina, dùng cho chăn nuôi gia súc, một thảm họa đối với đất đai và sinh giới. Rừng ở Indonesia, ở Malaysia bị biến thành đồn điền trồng cọ, để cung cấp nguyên liệu cho động cơ chạy bằng xăng sinh học, đe dọa làm tuyệt diệt loài vượn orang-outang, hay hổ Sumatra.
Giải pháp duy nhất : « Tái hòa giải » với thiên nhiên
Con người đã ảo tưởng là có thể sống không cần đến thiên nhiên, trong khi bản thân sự tồn tại của cơ thể con người đã là hiện thân cho sự đa dạng sinh học, với bao nhiêu tế bào, vi khuẩn tồn tại cộng sinh. Nguyên giám đốc Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử Tự nhiên Pháp nhấn mạnh là : loài người không thể phá hủy được sự sống, bởi các biểu hiện của sự sống sẽ vẫn tồn tại, cho dù loài người có không còn nữa. Nhưng rất có thể là, với đà diệt chủng hiện nay, con người sẽ biến mất cùng với các loài động vật có xương sống, với các loài thực vật quen thuộc trong vườn nhà của chúng ta. Biến đổi khí hậu khiến tình hình càng trở nên khó khăn hơn.
« Giải pháp duy nhất », theo ông, đó là « tái hòa giải nền kinh tế mới, được cân nhắc một cách kỹ lưỡng, với thiên nhiên ». Tình hình hiện nay là « đã quá trễ để có thể bi quan ». Không ai biết được thời điểm nào thảm họa sẽ là « không thể đảo ngược ». Chỉ có một cách duy nhất là hành động khẩn cấp.
Dân chúng bị bỏ rơi, lãnh đạo dân túy xuất hiện
Về nguồn gốc sâu xa của sự trỗi dậy của các thế lực chính trị cực đoan đe dọa môi trường, sinh thái hiện nay, nhà sinh học Pháp dẫn lời nhà triết học Edgar Morin : « Khi những người cầm quyền bỏ mặc một bộ phận lớn dân chúng ở bên lề xã hội, thì chỉ cần một ‘‘guru’’ (hay một người lãnh đạo có sức mê hoặc) đầu tiên đến, ông ta sẽ dành chiến thắng ». Đó là trường hợp lãnh đạo cực hữu Jair Bolsonaro ở Brazil vừa đắc cử tổng thống, hay chiến thắng của hai đảng dân túy tại Ý mới đây…
Bài xã luận của Libération, mang tựa đề « Đe dọa », nhấn mạnh tình thế rất nan giải của nhân loại hiện nay, khi cộng đồng quốc tế cần đến các nỗ lực phối hợp, thì các thế lực dân tộc chủ nghĩa, thờ ơ với mọi việc diễn ra ngoài biên giới quốc gia, đang trỗi dậy ở khắp nơi.
Đóng góp phi thường của thiên nhiên cho kinh tế
Không chỉ là bệ đỡ cho sự sống của con người, đa dạng sinh học còn có đóng góp quyết định vào nền kinh tế nhân loại. Báo Le Monde dẫn thêm một con số của báo cáo WWF gây bàng hoàng : đóng góp của « các loài côn trùng và chim chóc thụ phấn » cho nông nghiệp hàng năm tương đương với 125.000 tỉ đô la, gấp 1,5 GDP toàn cầu (chưa tính đến các đóng góp khác của thiên nhiên – người viết). Nhà môi trường Pascal Canfin bình luận : « nếu phải trả tiền cho dịch vụ này, mô hình kinh tế hiện nay của chúng ta sẽ phá sản ».
Merkel rút khiến Macron và Liên Âu suy yếu ?
Tuyên bố sẽ không tái ứng cử vào chức thủ tướng của lãnh đạo Đức Angela Merkel, vào năm 2021, gây bàng hoàng. Le Figaro có bài « Merkel rút khiến Macron và Liên Âu suy yếu ».Đối với châu Âu, tuyên bố ra đi của thủ tướng Merkel là một tin buồn rơi đúng vào thời điểm đầy khó khăn. Liên Hiệp Châu Âu mất đi một trong hai lãnh đạo chủ chốt (người còn lại là tổng thống Pháp Emmanuel Macron), trong khi các nền móng của ngôi nhà châu Âu đang rung chuyển, do các phong trào chống hệ thống, cùng lúc với việc Nga và Mỹ tung ra các đòn tới tấp, và Anh Quốc thì chuẩn bị rời khỏi con tàu chung.
Tình hình hiện nay là trái ngược hẳn với tháng 5/2017, khi tổng thống Emmanuel Macron vừa đắc cử. Nhiều người hy vọng là Liên Âu sẽ tái khẳng định vị thế trên trường quốc tế, với sự cộng tác khăng khít của cặp Pháp – Đức, bởi tân tổng thống Pháp đã coi việc tái khởi động châu Âu là ưu tiên trong chính sách đối ngoại. Trong những tháng tới, cuộc chiến nhằm khẳng định vị trí lãnh đạo mới trong nội bộ đảng CDU của bà Merkel chắc chắn sẽ gây khó khăn cho các phối hợp giữa Đức với Pháp, đặc biệt trong các cam kết về tài chính.
Tuy nhiên, Le Figaro cũng đưa ra các góc nhìn hoàn toàn khác. Theo đó, quan hệ Pháp – Đức kể từ khi tổng thống Macron đắc cử thật ra cũng không hề suôn sẻ. Từ nhiều tháng nay hợp tác Paris – Berlin đã giảm tốc, do các vấn đề nội bộ của Đức, nhất là các hậu quả do chính sách mở cửa cho người nhập cư, và quá trình thành lập chính phủ liên minh, kéo dài trong nhiều tháng.
Ngược lại, chính trị gia Jean-Dominique Giuliani, chủ tịch Quỹ Robert Schuman, nhìn các diễn biến ở Đức với con mắt lạc quan. Theo ông, nếu bà Annegret Kramp-Karrenbauer, một người có quan điểm thân châu Âu, kế nhiệm chức chủ tịch CDU của Merkel, thì việc hợp tác với Pháp có thể sẽ thuận lợi hơn nhiều. Bên cạnh đó, không còn bị ràng buộc vào các áp lực bầu cử, thủ tướng Đức có thể sẽ được rảnh tay để cải cách Liên Âu.
Le Figaro cũng lưu ý là dự án châu Âu không thể do một người, hay một quốc gia duy nhất dẫn dắt. Câu trả lời cho vấn đề này chắc chắn sẽ được quyết định với kết quả của cuộc bầu cử Nghị Viện Châu Âu sắp tới, cử tri sẽ ra phán quyết về số phận của các đảng phái chính trị truyền thống.
Thủ tướng Đức đến muộn : Buổi họp báo kỳ lạ của Merkel
Về phần mình, bài « Buổi hoàng hôn kéo dài của Angela Merkel » của Le Monde đặc biệt chú ý đến diễn biến của cuộc họp báo hôm 29/10 vừa qua tại Berlin, với nội dung được báo trước là thủ tướng Merkel sẽ thông báo không đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo đảng CDU, mà bà liên tục đứng đầu từ năm 2000.
Trái ngược với thói quen luôn luôn đúng giờ, thủ tướng Đức lần này đến trễ đến 15 phút. Bởi nội dung chính đã được thông báo trước, bà Merkel dành thời gian để chăm chút mái tóc và trang điểm. Tiến sĩ vật lý Angela Merkel đã bình thản điểm lại những sự kiện đã dẫn bà đến quyết định ra đi, quyết định tách rời chức vụ thủ tướng ra khỏi chủ tịch đảng. Một quyết định có thể dẫn đến nhiều khó khăn trong việc thực thi quyền lực.
Theo Le Monde, thủ tướng Merkel muốn chuẩn bị kỹ lưỡng cho thế hệ lãnh đạo mới, tránh không để rơi vào tình trạng như người tiền nhiệm Helmut Kohl, và cũng là người đỡ đầu về chính trị của bà trước đây. Trước mắt Angela Merkel và đảng CDU sẽ phải đối mặt với một loạt thách thức : Bầu cử châu Âu tháng 5/2019, cùng với bốn cuộc bầu cử nghị viện bang cũng vào năm tới.
Pháp : Xăng tăng giá, dân kêu gọi phong tỏa đường xá
Giá cả xăng dầu tăng cao tại Pháp là nguồn gốc bất bình đang dâng cao. La Croix cho hay hôm qua, 550.000 người ký tên vào một chỉ trích trên mạng. Một số lời kêu gọi phong tỏa đường xá trên toàn quốc ngày 17/11 tới, để phản đối chính phủ.
La Croix có bài giải thích chi tiết về lý do tại sao dân chúng lại bất bình. Việc giá xăng dầu tăng gây phản ứng mạnh tại các vùng nông thôn, nơi thu nhập thường thấp và xe hơi gần như là phương tiện duy nhất. Thị trưởng một địa bàn nhỏ tỉnh Ille-et-Vilaine ước tính, mức độ tăng giá hiện nay khiến nhiều người phải trả thêm tổng cộng đến hơn 1.000 euro/năm.
Cuộc khủng hoảng tăng giá đang dần dần mang tầm vóc chính trị. Đảng Cộng Sản Pháp lên án các tập đoàn xe hơi « tống tiền », cựu bộ trưởng Môi Trường Ségolène Royal cũng chỉ trích chính sách tài chính thô bạo của chính phủ. Nhiều lãnh đạo đảng cánh hữu LR đòi ngừng tăng thuế, trong lúc lãnh đạo cực hữu Marine Le Pen ủng hộ kêu gọi xuống đường.
Về lý do sâu xa của việc giá cả xăng dầu tăng cao, La Croix thẩm định là, phần trách nhiệm chủ yếu thuộc về phần thuế má tăng, chiếm 60% giá cả cuối cùng. Dự kiến thuế đánh vào xăng dầu, đặc biệt là thuế cacbon sẽ còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Dự kiến chính phủ sẽ tăng thuế cacbon lên 86 euro một tấn, vào cuối nhiệm kỳ, tức gần gấp hai lần so với hiện nay (Thuế cacbon [TICPE] để kìm hãm việc sử dụng năng lượng hóa thạch mang lại cho ngân sách 11 tỉ euro trong năm 2017, và dự kiến là 19 tỉ vào năm 2019).
Bên cạnh vấn đề thuế là giá xăng dầu trên thị trường quốc tế cũng tăng mạnh, do căng thẳng quốc tế, nhất là liên quan đến Iran và Venezuela, hai quốc gia xuất khẩu dầu mỏ. Giá một baril dầu hiện giờ là 80 đô la, so với 50 đô la hồi đầu năm, và 30 đô la năm 2016.
Trợ cấp cho gia đình khó khăn và "đi lại bền vững"
Vẫn về vấn đề tăng giá xăng cho thuế môi trường, La Croix trong một bài viết khác cho biết, chính phủ Pháp không thay đổi đường lối hiện nay, được khởi sự từ thời chính phủ của đảng Xã Hội (vốn được đưa ra vào thời điểm giá dầu thấp hơn nhiều), nhưng tìm cách hỗ trợ các gia đình khó khăn, đặc biệt về chi phí sưởi ấm, và cải thiện điều kiện cách nhiệt, để tiết kiệm năng lượng. Quốc Hội Pháp cũng đang chuẩn bị dự luật liên quan đến « trợ cấp cho đi lại bền vững » (forfait mobilité durable) để khuyến khích mọi người đến nơi làm việc bằng xe đạp, hay đi cùng xe đồng nghiệp, nhằm hạn chế khí thải.
Theo ông Pierre Cannet, chuyên gia về phát triển bền vững ở WWF, càng nhanh chóng chuyển sang các phương tiện ít ô nhiễm hơn, ít phát khí thải hơn, thì người dân sẽ càng ít phụ thuộc hơn vào tình trạng giá xăng dầu biến đổi thất thường.
Lo ngại cho sức khỏe tổng thống Pháp
Theo Le Figaro, lần đầu tiên kể từ khi tổng thống Pháp để lịch trống liền bốn ngày trong tuần. Cụ thể là sau buổi ăn trưa với các dân biểu tỉnh Hauts-de-France hôm qua, thứ Ba, 30/10. Cho đến cuối tuần, tổng thống Macron sẽ dành thời gian để « hoàn toàn nghỉ ngơi » với gia đình, trước đợt tưởng niệm 100 năm ngày kết thúc Thế chiến thứ nhất.
Đổi giờ châu Âu : Khó thống nhất trong năm tới
Trong lĩnh vực xã hội, Les Echos chú ý đến cuộc họp của các bộ trưởng Giao Thông châu Âu hôm thứ Hai, 29/10, không ủng hộ chủ trương của Bruxelles là mỗi quốc gia phải quyết định giờ cố định ngay từ năm tới. Bộ trưởng Giao Thông Áo, quốc gia chủ tịch luân phiên Liên Âu, cho rằng, nếu điều này buộc phải làm ngay trong năm tới, đa số các nước sẽ phản đối. Thời gian hợp lý là 2021, để có thời gian chuẩn bị. Việc mỗi quốc gia đưa ra quyết định chọn giờ cố định theo giờ mùa đông hay giờ mùa hè riêng rẽ, có thể khiến tình trạng giờ giấc ở toàn châu Âu rơi vào rối rắm, đó là dự báo của bộ trưởng Áo Norbert Hofer.
 http://vi.rfi.fr/phap/20181031-dai-diet-chung-sinh-gioi-do-tham-lam-kieu-ngao-va-thien-can

Ngoại trưởng Úc phản đối Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông

media 
Ngoại trưởng Úc Julie Bishop cùng đồng nhiệm Ấn Sushma Swaraj, tại New Delhi, ngày 18/07/ 2017.REUTERS/Adnan Abidi
Phát biểu tại Ấn Độ ngày 18/07/2017, ngoại trưởng Úc Julie Bishop, đã lên tiếng xác nhận trở lại rằng Canberra chống lại việc Bắc Kinh bồi đắp và quân sự hóa các đảo nhân tạo tại Biển Đông. Bà Bishop đồng thời cho rằng cần bảo đảm quyền tự do hàng hải trong vùng.
Theo hãng tin Ấn Độ PTI, trong bài phát biểu tại Hội Nghị về Ấn Độ - Thái Bình Dương lần thứ hai, được tổ chức ở New Delhi, ngoại trưởng Úc tuyên bố nguyên văn như sau : « Chúng tôi (tức là nước Úc), tiếp tục chống lại việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo, và quân sự hóa các thực thể đó ở Biển Đông ».
Bà Bishop khẳng định là quyền tự do hàng hải phải được đảm bảo vì đó là một vấn đề thiết yếu cho giao thương. Ngoại trưởng Úc đồng thời kêu gọi tất cả các nước phải tôn trọng luật pháp quốc tế trong đó có Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, dùng Công Ước này làm bản hướng dẫn để giải quyết tranh chấp.
Ấn Độ chia sẻ lập trường này của Úc. Theo PTI, Ấn Độ có lợi ích thương mại ở Biển Đông, và luôn luôn thúc đẩy các nước có tranh chấp giải quyết bất đồng trên cơ sở Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. New Delhi cũng tích cực yêu cầu tôn trọng quyền tự do hàng hải trong khu vực Biển Đông được cho là giàu tài nguyên.
Dù phản đối Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông, nhưng bà Bishop cũng cho rằng cần phải khuyến khích Trung Quốc thể hiện sức mạnh kinh tế và chiến lược của họ sao cho bảo đảm được việc tôn trọng chủ quyền bình đẳng giữa tất cả các quốc gia, nhằm duy trì và tăng cường trật tự dựa trên luật pháp vốn có lợi cho tất cả các nước.
Trong một hàm ý nhắc đến việc Bắc Kinh coi thường luật pháp quốc tế khi phủ nhận phán quyết vào năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye về Biển Đông, ngoại trưởng Bishop đã « hoan nghênh » việc Ấn Độ giải quyết thành công và hòa bình tranh chấp trên biển dai dẳng với Bangladesh vào năm 2014 theo các quy định của UNCLOS.

http://vi.rfi.fr/chau-a/20170719-ngoai-truong-uc-phan-doi-trung-quoc-quan-su-hoa-bien-dong


Trung Quốc tố cáo Úc khuấy động hòa bình ở Biển Đông


media 
Một bãi san hô nằm trong quần đảo Trường Sa.REUTERS/RITCHIE B. TONGO/POOL
Trong một phiên họp tại Bắc Kinh ngày 14/12/2017, tư lệnh Hải Quân Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo đối tác Úc là không nên can thiệp vào tranh chấp ở Biển Đông. Nhân vật này nhấn mạnh rằng hoạt động của Úc tại Biển Đông « không có lợi cho hòa bình và ổn định trong vùng ».
Theo thông cáo ngày 14/12/2017 của bộ Quốc Phòng Trung Quốc, được Reuters trích dẫn, tư lệnh Hải Quân Trung Quốc Thẩm Kim Long (Shen Jinlong) nhận định với phó đô đốc Úc Tim Barrett rằng hiện tại, tình hình ở Biển Đông là « ổn định và tốt.Nhưng năm vừa qua, các hoạt động của quân đội Úc tại Biển Đông đã đi ngược với xu thế chung về hòa bình và ổn định ». Song ông Thẩm không nêu thêm chi tiết.
Tư lệnh Hải Quân Trung Quốc còn nhấn mạnh : « Điều này không phù hợp với đồng thuận của lãnh đạo hai nước, cũng như với tiến triển trong quá trình hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực ».
Là một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ, rất nhiều lần Úc bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông, nơi Trung Quốc bồi đắp nhiều đảo nhân tạo, xây đường băng và lắp đặt nhiều bệ phóng tên lửa địa đối không và giàn radar.
Úc từng bị Trung Quốc chỉ trích vì các phi vụ bay tuần tra trên Biển Đông và ủng hộ các đợt tuần tra vì tự do hàng hải của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Canberra chưa từng tự mình tiến hành bất kỳ cuộc tuần tra vì tự do hàng hải nào tại Biển Đông.

Thời gian gần đây, Trung Quốc và Úc không ngừng chỉ trích nhau sau những cáo buộc của Canberra cho rằng Bắc Kinh tìm cách can thiệp vào đời sống chính trị Úc. Trung Quốc đã triệu đại sứ Úc lên để phản đối.

 http://vi.rfi.fr/chau-a/20171215-trung-quoc-len-an-uc-khuay-dong-hoa-binh-o-bien-dong


Trung Quốc bị một thất bại trong mưu toan thao túng chính trường Úc ?

media 
Cử tri đảng Tự Do mừng thắng lợi của ứng viên của họ, John Alexander, tại Bennelong. Ảnh 16/12/2017.Reuters
Ngày thứ Bảy, 16/12/2017 vừa qua, một cuộc bầu cử bổ sung vào Hạ Viện đã diễn ra tại thành phố Bennelong, bang New South Wales ở Úc, với kết quả là ứng viên đảng Tự Do đang cầm quyền John Alexander giành chiến thắng trước bà Kristina Keneally, ứng viên của đảng Lao Động.
Trong bối cảnh tranh cãi đang nổi lên giữa Bắc Kinh với chính quyền của thủ tướng Michael Turnbull về những lời tố cáo Trung Quốc mưu toan lũng đoạn đời sống chính trị Úc, cuộc bỏ phiếu tại Bennelong đã thu hút sự chú ý vì đây là một đơn vị bầu cử có đến hơn 20% cử tri là người gốc Hoa, nên được cho là rất dễ bị Trung Quốc tác động.
Trong một bài viết trước cuộc bỏ phiếu, nhật báo Úc tờ Sydney Morning Herald đã ghi nhận một sự kiện có thể làm tăng thêm mối nghi ngờ về việc Bắc Kinh thực sự muốn xen vào nội tình nước Úc: Đó là sự tồn tại của một « Lá thư bí ẩn kêu gọi người Úc gốc Hoa “hạ bệ” chính quyền Turnbull ». Theo tờ báo, đây là một lá thư ngỏ với giọng điệu giận dữ, kêu gọi người Úc gốc Hoa hạ gục « đảng Tự Do cực hữu đang cầm quyền » bằng cách tẩy chay ứng cử viên đảng này là ông John Alexander, và dồn phiếu cho đối thủ của ông là bà Kristina Keneally, ứng viên của đảng Lao Động.
Yếu tố khiến người ta nghi ngờ rằng đây là một lời kêu gọi do Bắc Kinh xúi giục là sự kiện bức thư dài khoảng 1700 từ, ký tên « Một nhóm Hoa Kiều xem Úc là nhà của mình », đã được một người bị cho là đã tiếp xúc với cơ quan phụ trách hoạt động hải ngoại của đảng Cộng Sản Trung Quốc, phổ biến trên mạng.
Lá thư có đoạn : « Khi nhìn lại đảng Tự Do, chúng tôi thấy là đảng này đã hoàn toàn khác so với trước đây. Bây giờ đó là một đảng cực hữu cầm quyền và chống Trung Quốc, chống người Trung Quốc, chống người nhập cư gốc Hoa và sinh viên quốc tế người Hoa... Vì lợi ích của người Hoa hãy vận động, chia sẻ thông điệp này và sử dụng lá phiếu trong tay để hạ bệ  đảng Tự Do cầm quyền cực hữu này ».

Lá thư ngỏ còn tố cáo đảng Tự Do là đã có thái độ « thù nghịch » trên vấn đề Biển Đông, phá vỡ sự tin tưởng lẫn nhau giữa Úc và Trung Quốc, và không ngần ngại đe dọa : « Nếu tình hữu nghị Úc–Trung có vấn đề, thương mại giữa hai bên sẽ suy giảm ».
Dù không biết ai là tác giả, nhưng theo tờ báo Úc, bức thư đã được Ngạn Trạch Hoa (Yan Zehua), một công dân Úc sống ở Sydney đưa lên mạng xã hội Trung Quốc Wechat. Nhân vật này là phó chủ tịch hội Thống Nhất Hòa Bình Trung Quốc tại Úc, một tổ chức cho đến gần đây vẫn được Hoàng Hướng Mặc (Huang Xiangmo), một ty' phú người Hoa nhiều tai tiếng, tài trợ và điều hành.
Hiệp hội này cũng có liên quan đến một hiệp hội tương tự ở Trung Quốc do các quan chức thuộc ban Mặt Trận Thống Nhất của đảng Cộng Sản Trung Quốc lãnh đạo. Đây là ban đặc trách xây dựng ảnh hưởng Trung Quốc ở hải ngoại.
Ông Ngạn Trạch Hoa đã gặp một quan chức của ban này hồi tháng 10 vừa qua. Theo một bản tin trên trang mạng của chính quyền Thượng Hải, nhân một cuộc họp vào năm 2012 với các viên chức của ban Mặt Trận Thống Nhất, ông Ngạn Trạch Hoa đã được yêu cầu là phải sử dụng tổ chức Hoa Kiều của ông là Câu Lạc Bộ Hữu Nghị Úc-Thượng Hải, để thắt chặt quan hệ giữa người Úc gốc Hoa với Trung Quốc và cổ vũ cho tình hữu nghị Úc–Trung. Một bản báo cáo của Liên Hội Kinh Doanh Thượng Hải cũng cho biết là nhân vật này cũng nằm trong phái đoàn của hội Thống Nhất Hòa Bình Trung Quốc tại Úc tiếp xúc với các quan chức Mặt Trận Thống Nhất vào năm 2013.
Trả lời hãng truyền thông Úc Fairfax Media, thoạt đầu ông Ngạn Trạch Hoa đã phủ nhận việc ông đã tiếp xúc với các quan chức thuộc ban Mặt Trận Thống Nhất Trung Quốc, nhưng sau đó đã thừa nhận rằng « có thể » là ông đã gặp một số người nhân các sự kiện tổ chức ở Úc và Thượng Hải. Thế nhưng ông khẳng định : « Đấy không có gì là quan trọng, không phải là một vấn đề. »
Về cuộc bỏ phiếu, một người Hoa ở Sydney quen biết với ông Ngạn Trạch Hoa đã xác nhận rằng các hiệp hội người Hoa ở Bennelong đã nỗ lực vận động người gốc Hoa bỏ phiếu cho bà Keneally. Theo nguồn tin này thì « Các hiệp hội đó rất thân cận với cơ quan đặc trách người Hoa hải ngoại của chính phủ Trung Quốc »
Theo The Sydney Morning Herald, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã mô tả ban Mặt Trận Thống Nhất như là một « vũ khí kỳ diệu » và tầm quan trọng của cơ quan bí mật này trong đảng Cộng Sản Trung Quốc đã được nâng cao sau lời nhấn mạnh đó trên nhiệm vụ, trong đó có những hoạt động nhằm tăng cường ảnh hưởng Trung Quốc ở hải ngoại.
Bức thư dường như đã phản ánh quan hệ ngày càng căng thẳng hơn giữa hai chính quyền Bắc Kinh và Canberra từ khi khi Úc bắt đầu hành động chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc tại Úc.
Lá thư chống đảng Tự Do Úc được tung ra sau khi thủ tướng Malcolm Turnbull tuyên bố quan ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc tại Úc và thông báo luật mới dựa trên quy định đối với các tác nhân ngoại quốc của Mỹ. Một dấu hiệu khác là vụ thượng nghị sĩ đầy thế lực Sam Dastyari của đảng Lao Động phải từ nhiệm sau những tiết lộ về quan hệ gần gũi của ông với những nhà tài trợ người Úc gốc Hoa.
Sau khi Nhân Dân Nhật Báo Trung Quốc ngày 11/12 chỉ trích gay gắt chính quyền Úc, cho rằng Canberra và truyền thông Úc đã có thái độ kỳ thị chủng tộc khi cáo buộc Trung Quốc, truyền thông Hoa ngữ tại Úc đã thay đổi hẳn giọng điệu về cuộc bầu cử ở Bennelong, một thay đổi mang ý nghĩa quan trọng vì Bennelong có tỷ lệ người Úc gốc Hoa cao nhất nước Úc.
Đảng Lao Động đã xác định rằng họ không biết gì về bức thư, về tác giả hay người loan tải là ông Ngạn Trạch Hoa. Tổng thư ký của đảng Lao Động tại bang New South Wales thì cho rằng chính các quan diểm bài Trung Quốc của ông Turnbull đã làm cho cộng đồng người Úc gốc Hoa phải cảnh giác ».
Đảng Tự Do vẫn chiến thắng trong cuộc bầu cử
Kết quả cuộc bầu cử ngày 16/12 vừa qua tại Bennelong tuy nhiên vẫn không thuận lợi cho đảng Lao Động. Người gốc Hoa, chiếm 21% dân số của Bennelong, theo cuộc điều tra dân số năm 2016, quả là đã có chuyển hướng bầu cho bà Keneally, nhưng không đủ để đánh bại ông Alexander của đảng Tự Do.
Tờ báo mạng Asia Times tại Hồng Kông vào hôm qua, 18/12, đã có bài phân tích về kết quả cuộc bầu cử mà trong đó « vấn đề Trung Quốc » nổi cộm. Về lá phiếu của người Úc gốc Hoa, Asia Times đã dẫn phân tích của nhật báo Úc The Australian ghi nhận rằng cử tri gốc Hoa phần lớn đã quay sang bầu cho đảng Lao Động.
Các dấu hiệu rõ nhất về hiện tượng này là tại những nơi mà cư dân gốc Hoa đông đảo nhất, tỷ lệ phiếu bầu thêm cho đảng Lao Động so với kỳ bầu cử trước đây thuộc diện cao nhất.
Tại hai vùng ngoại ô Bennelong, nơi mà các cử tri gốc Hoa chiếm đến 34,5% và 32% cư dân, tỷ lệ bầu thêm cho đảng Lao Động lên đến 12% - tăng gấp đôi so với mức bình quân của toàn thành phố là 5%.
Cũng như vậy, trong số 16 phòng phiếu mà tỷ lệ phiếu bầu thêm cho đảng Lao Động cao hơn mức trung bình, lượng cử tri gốc Hoa chiếm hơn 20% dân số.
Theo Asia Times, điều đó chứng tỏ là lập luận chống Trung Quốc của chính quyền Úc không thu hút được thành phần cử tri gốc Hoa. Câu hỏi đặt ra là liệu quan điểm đó có thu hút các thành phần cử tri khác tại Úc hay không. Câu trả lời sẽ được thấy trong cuộc tổng tuyển cử tới đây.
 
http://vi.rfi.fr/chau-a/20171219-trung-quoc-bi-mot-that-bai-trong-muu-toan-thao-tung-chinh-truong-uc