Saturday, August 25, 2018

TUYỆT KỸ MINH GIÁO


Tuyệt kỹ chấn động giang hồ của Minh Giáo ít được biết tới

Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung có rất nhiều môn võ danh trấn võ lâm, thiên hạ vô địch, một trong số đó không thể không nhắc đến tuyệt học Càn Khôn Đại Na Di, chính nó đã giúp Trương Vô Kỵ cứu Minh Giáo khỏi kiếp nạn diệt vong, đánh bại Lục Đại Môn Phái, chấn hưng Minh Giáo, uy trấn giang hồ.
Càn Khôn Đại Nã Di Tâm pháp là bộ võ công thượng thừa của Minh Giáo. Có thể chuyển đổi đòn tấn công của địch thủ vào người khác hay vào chính địch thủ. Bí kiếp này có bảy tầng, người thông minh cũng phải mất đến 7 năm mới luyện được tầng 1, người bình thường phải đến 14 năm. Càn Khôn Đại Nã Di cực kỳ khó luyện nếu luyện sai sẽ dễ dàng dẫn đến bị tẩu hỏa nhập nha, đứt kinh mạch mà chết.
Càn Khôn Đại Nã Di chủ yếu có những công năng: Mượn lực đánh lực, kích thích giới hạn của cơ thể, Khiến địch lộ sơ hở, tập hợp đạo lý võ thuật đỉnh cao, tích trữ công lực, chuyển đổi hai cực âm dương, chặn chưởng lực, lấy nội công của địch…

Tâm pháp của Càn Khôn Đại Nã Di thực ra là một kỹ thuật vận công cao thâm. Đạo lý cơ bản là tại lúc phát huy nội lực tiềm tàng của mỗi người, công lực tiềm ẩn bên trong của mỗi người vốn là rất lớn, lúc bình thường sẽ không xuất ra nhưng lúc nguy hiểm cấp bách thì một người bình thường cũng sẽ trở nên vô cùng mạnh mẽ.
Luyện bí kiếp này thường dùng tâm, không dùng thân, người luyện ngồi một chỗ để vận công. Càn Khôn Đại Na Di là sự kết hợp giữa thuần dương của thân và thuần âm của thể.

Trương Vô Kỵ 
Trương Vô Kỵ với công pháp Càn Khôn Đại Na Di

Tuy vậy, do giáo chủ đời thứ 33 của Minh Giáo là Dương Đính Thiên bị Thành Côn hãm hại nên tẩu hỏa nhập ma, qua đời đột ngột trong cấm địa của Minh Giáo. Từ đó môn võ công này không còn xuất hiện trên giang hồ mấy chục năm, chỉ đến khi Trương Vô Kỵ vô tình lạc vào mật thất Minh Giáo, học được trong một ngày đêm, bộ võ công này lại tái xuất giang hồ, đánh khắp thiên hạ không địch thủ.
Advertisements
Report this a

Đoàn Dự – Khía cạnh chưa được điện ảnh khai thác

Đoàn Dự là một trong những nhân vật chính của tác phẩm “Thiên Long Bát Bộ”, tác phẩm được xem như vĩ đại nhất của nhà văn Kim Dung.

Đoàn Dự xuất thân là vương tử nước Đại Lý, từ nhỏ đến lớn sống trong giàu sang phú quý, dòng dõi lại nổi tiếng về võ công trên giang hồ. Nhưng chàng lại rất chán ghét chuyện học võ công, sùng bái đạo Phật và trên hết, tâm tính vô cùng lương thiện.
Với triết lý Phật giáo sâu sắc trong Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự chính là người “hữu duyên”, số phận xô đẩy để chàng thư sinh ghét võ như thù lại luyện thành tài những môn công phu trăm năm khó gặp của võ lâm: “Lục Mạch Thần Kiếm”, “Bắc Minh Thần Công”, “Lăng Ba Vi Bộ”…

Đoàn Dự vốn ngay từ đầu phản đối chuyện học võ. Vì chàng cho rằng học võ là để giết người. Chàng ngây thơ nghĩ rằng gặp chuyện gì, mình cứ đem lý lẽ ra để khẳng định phải trái là sẽ giải quyết được vấn đề. Có biết đâu, mỗi người chúng ta, mấy ai biết nhận ra lỗi lầm của mình bao giờ. Ai cũng cho là mình đúng, ai cũng nghĩ là mình có lý. Bởi vậy cho nên mâu thuẫn mới nảy sinh, xung đột mới xuất hiện.
Sau vài lần dùng võ miệng không thành công, Đoàn Dự mới hiểu được suy nghĩ của cha chàng, của bác chàng: giỏi võ không chắc đã giết người, mà không biết võ chưa chắc đã không hại tính mạng của người khác. Nếu mình giỏi võ công, lại có thêm đức độ, thì mình có thể tạo ra nhiều phúc lớn giúp đời. Thí dụ như nhà sư Cưu Ma Trí, hay cha con Mộ Dung Phục, nếu họ không tham lam, không ích kỉ, mà dùng tài năng của mình để hộ pháp cứu đời, thì thế gian này sẽ tốt đẹp hơn biết bao nhiêu ?

Đoàn Dự hiểu được điều này cũng hơi muộn. Bởi thế cho nên Lục Mạch Thần Kiếm của chàng cũng chỉ có thể dùng để cứu tính mạng của chàng lúc nguy cấp, chứ chưa đủ để cứu giúp người lúc nào tùy ý.
Đoàn Dự

Đoàn Dự đi đến đâu là vấn vương tình ái đến đấy. Đầu tiên là với cô bé Chung Linh ngây thơ trong sáng. Rồi đến Mộc Uyển Thanh xinh đẹp, lạnh lùng, sắc sảo. Và sau đó là Vương Ngữ Yên, tiểu thư yểu điệu, đài các. Đoàn Dự tuy cũng có lòng nhân hậu, vị tha gần giống Hư Trúc, nhưng chàng lại bị sắc đẹp đè bẹp. Càng về sau lại càng chìm đắm vào trong giấc mộng nữ sắc. Lúc nào cũng như người mất hồn, ngơ ngơ ngẩn ngẩn, chỉ nghĩ về Vương Ngữ Yên. Cho đến khi chàng có được tình yêu của nàng…
Hình ảnh chàng thư sinh tuấn tú, yếu đuối, có chút ngây ngốc ngao du khắp giang hồ với biết bao kỳ ngộ được xem như một hình ảnh tiêu biểu của truyện kiếm hiệp. Gió tanh mưa máu, âm mưu quỷ kế, nhi nữ tinh trường, bí kíp võ công…chợt nhỏ bé biết bao khi đặt cạnh một gã Đoàn Dự.

Linh Khúc và đêm tàn

Chỉ một khoảnh khắc thôi
Rồi Hoa Sơn, đom đóm ngừng bay
Rồi rừng sâu, gã lãng tử khờ gào khóc …

Xấu xa, bội bạc, tham phú quý giàu sang, có mới nới cũ.
Miệng lưỡi thế gian miêu tả nàng bằng những lời như thế đấy! Còn những người không ghét nàng thì lại thương hại nàng, thương hại nàng ngốc nghếch khờ khạo, mà họ không biết rằng đã yêu, thì còn có ranh giới giữa ngốc nghếch và khôn ngoan, giữa khờ khạo và lý trí nữa sao?
Nàng là một kẻ bạc tình.
Đáng đời nàng. Tội nghiệp nàng. Thương cho nàng. Hãy tha thứ cho nàng.
Tôi không thương nàng. Thương gã Lệnh Hồ đau vì nàng bao nhiêu, lại càng hận nàng bấy nhiêu. Tôi không tội nghiệp nàng. Có chi để tội nghiệp, khi nàng biết rõ con đường mình đã chọn sẽ chỉ là đao gươm rỉ máu mà vẫn cứ tiếp bước.
Tôi lại càng không tha thứ cho nàng.
Bởi nàng không có lỗi.
Tôi ngưỡng mộ nàng.
Vì nàng dám yêu, và dám yêu đến từng hơi thở cuối cùng.
Sự lựa chọn của nàng là sai lầm, nhưng nàng không sai. Bởi nếu tình yêu là sai, thì trên đời thứ gì mới là chân lý?
Nàng lỡ yêu một Lâm Bình Chi dịu dàng mà cứng rắn, cùng đường mà vẫn kiên cường không cúi đầu. Vì sao nàng không biết trước được hắn sẽ trở thành một kẻ bất nam bất nữ, bị oán thù che mờ mắt, sao không biết trước trái tim hắn sẽ còn lạnh hơn cả băng giá? Băng giá rồi cũng sẽ tan, nhưng trái tim của Lâm Bình Chi không bao giờ có thể học yêu thêm một lần nữa.
À, vì nàng không phải là tiên tri.
Nàng vứt bỏ mối tình đầu nồng thắm với một đại sư ca suốt ngày say sưa bất chấp lễ nghĩa để đi theo một kẻ nho nhã thanh lịch, con nhà quyền thế, nghiêm chỉnh đạo mạo y như cha nàng. Vì sao nàng lại bị lừa bởi cái bề ngoài vốn như chiếc áo trắng tinh khôi, mà bên trong sợi vải đã rách tươm hết thập phần như thế?
À, vì nàng không phải là thánh nhân, mà chỉ là một cô gái nhỏ rất đỗi bình thường.
Trách nàng bội bạc, xua đuổi đại sư ca bao năm chăm sóc chở che cho nàng, chỉ vì một kẻ từ đầu đến cuối không để nàng vào trong mắt, không biết rằng nàng đang hiện diện, không quan tâm nàng còn sống hay đã chết rồi.
Vì nàng muốn yêu Lâm Bình Chi cho chân thành, và trọn vẹn.
Vì tình yêu mà có lý trí rạch ròi thì liệu có còn là tình yêu chăng?

Ừ, thì đâu phải nàng trái lệnh cha lặn lội đường xa đem bí kíp Tử Hà về cho Lệnh Hồ Xung chữa bệnh.
Đâu phải nàng trên Tung Sơn đỉnh lại lạc vào giấc mơ đẹp năm xưa, tạm quên mất trượng phu mình và bao nhiêu cặp mắt quần hào đang quan sát mà vẫn vô thức sử Xung Linh kiếm pháp cùng Lệnh Hồ Xung, cũng như thuở nào đại sư ca và tiểu sư muội sử kiếm bên thác nước tuổi thơ.
Ừ, nàng bội bạc thật đấy.
Thương thay gã Lệnh Hồ, bởi hắn sẽ chỉ là những giấc mơ ấy, thoảng qua rồi tan vào không gian. Còn trái tim nàng chỉ chứa đựng được một hình bóng duy nhất, nàng mang theo xuống cõi tuyền đài …
Nàng thương Lệnh Hồ Xung, nhưng không yêu hắn.

Đêm tàn. Máu rỉ.
Đại sư ca của nàng bật khóc điên loạn. Rồi hắn sẽ trả thù cho nàng, rồi hắn sẽ băm vằm Lâm Bình Chi ra thành vạn mảnh.
“Tiểu sư muội chết rồi, xin đại sư ca… hết sức chiếu cố cho gã… đừng để người ta khinh nhờn gã.”

Lệnh Hồ Xung-Nhạc Linh San
Lệnh Hồ Xung không hiểu. Hắn thật sự không hiểu!

Cuối cùng thì tiểu sư muội của hắn đến chết vẫn thủy chung hướng về con người xấu xa đã không ngần ngại đâm nàng một đao để “tỏ lòng thành với Tả chưởng môn”! Cho dù họ Lâm có là kẻ sát hại nàng, nàng vẫn một lòng lo lắng cho sự an nguy của gã!
Cả đến lúc lìa đời, nàng vẫn chỉ nhớ đến kẻ đã sát hại nàng. Lòng nàng sao lại hẹp đến thế, sao lại tàn nhẫn đến thế, lại không dung nổi một Lệnh Hồ Xung lúc nào cũng yêu nàng tha thiết?
Trớ trêu thay.
Hắn ở cạnh một Nhậm Doanh Doanh nhất hô vạn ứng, xinh đẹp hơn nàng thập phần, nhưng chẳng bao giờ mà hắn không nhớ đến nàng. Nàng xua đuổi hắn, hắn cũng chỉ lặng lẽ cắn răng bỏ đi nhưng chẳng bao giờ trách nàng một câu.
Giờ đây, hắn đang ở cạnh nàng khi chồng nàng đã giết hại nàng rồi bỏ đi, đang ôm lấy nàng vào lòng, đang gào thét tưởng như trái tim hắn sẽ vỡ ra làm trăm mảnh, như hắn có thể chết theo nàng bất cứ lúc nào.
Vậy mà lòng nàng vẫn chỉ có Lâm Bình Chi.

Nàng ác lắm!
Nàng cất tiếng hát trong vô thức, bài ca Phúc Kiến Tiểu Lâm Tử dạy nàng trên đỉnh Hoa Sơn những ngày đầu gặp gỡ. Khúc ca nàng ngọng nghịu tập hát theo “Lâm sư đệ”, những ngày vô tư lự nàng cùng gã đi hái nấm trong rừng già.
Rồi tiếng hát của nàng cũng yếu dần đi theo từng hơi thở, nhòe nhoẹt đi theo ánh trăng chênh chếch đang bị mây che.
“Tiểu sư muội! Tiểu sư muội! Sư muội đừng sợ gì hết. Tiểu huynh bồng tiểu sư muội đến chỗ má má.”
Ngốc ạ, nàng có sợ chi đâu … Ngươi khóc cho nàng, nhưng nàng lại đang mỉm cười đấy.
Nàng mỉm cười, mà ngực ngươi sao như có vạn lưỡi dao đâm?
Phải chăng vì đến thời khắc cuối, nàng vẫn chỉ nhớ đến bài hát gã dạy nàng, còn ngươi, kẻ si tình vạn kiếp bất biến, nàng đã đem cất ký ức về ngươi ở nơi nào rồi mà bây giờ lại không tìm ra được?
Đêm tàn. Rừng khép.

Linh khúc của nàng, hoà quyện với tiếng khóc đại sư ca nàng, theo tiếng gió hú của rừng sâu rồi sẽ tan theo sương sớm ban mai. Nàng ngủ rồi, giấc ngủ thiên thu giữa rừng già hiu quạnh, nhưng nàng cũng ngủ mãi trong tim đại sư ca nàng, và sẽ không có ai làm hại nàng được nữa.
Giá như tình yêu không phải là mãi mãi …
Rồi tôi, ngậm ngùi tiễn nàng, nàng thiếu nữ bạc phận dũng cảm dám yêu, và dám đối diện với tình yêu bằng nụ cười – ngay cả khi trên gò má lạnh lẽo không còn cảm giác của nàng, nước mắt gã Lệnh Hồ đang chứa chan rơi …
Rồi nàng, mãi mỉm cười.
Vì tình yêu cho đi mà chẳng cần nhận lại, âu cũng là một niềm hạnh phúc …

Tuyệt đại cao thủ trong Thần Điêu Đại Hiệp là ai?

“Thần Điêu Đại Hiệp” hay còn có cái tên “Thần Điêu Hiệp Lữ” là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Kim Dung. Bối cảnh của “Thần điêu hiệp lữ” là vào cuối thời Nam Tống, khi quân Mông Cổ hùng mạnh, tiêu diệt hầu hết châu Á, châu Âu, đang trực tiếp uy hiếp an nguy của Nam Tống.
Câu chuyện tiếp nối “Xạ Điêu anh hùng truyện” với võ lâm ngũ bá và những cao thủ trẻ tuổi mới trên giang hồ. Chúng ta cùng đánh giá xem ai mới là tuyệt đại cao thủ trong thời đại này?
1/ Dương Quá:
Dương Quá
Ngoại hiệu: Tây Cuồng, Thần Điêu đại hiệp
Dương Quá là nhân vật chính của tiểu thuyết. con của Dương Khang và Mục Niệm Từ. Cuộc đời trải qua nhiều đau thương, là người nữa chính nữa tà, chỉ làm việc theo ý mình. Có cơ duyên học được rất nhiều võ công của các phái hàng đầu võ lâm thời bấy giờ. Sau này tổng hợp lại các võ công sáng tạo ra bộ chưởng pháp độc đáo “Ám nhiên tiêu hồn chưởng”. Dương Quá tung hoành thiên hạ với ngoại hiệp “Thần Điêu đại hiệp”.
Lần luận kiếm Hoa Sơn cuối cùng, Dương Quá được xếp vào ngũ tuyệt với biệt hiệu Tây Cuồng.
Tuyệt kỹ: Ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng, Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm, một chút “Cửu Âm chân kinh”, Cáp Mô Công, Đả Cẩu Bổng pháp, Ngọc Tiêu kiếm pháp…vv

Thần điêu
Dương Quá & Tiểu Long Nữ

2/ Quách Tĩnh:
Ngoại hiệu: Bắc Hiệp
Quách Tĩnh xuất hiện xuyên suốt từ “Xạ Điêu Anh Hùng truyện”, tư chất không thông minh nhưng làm việc quyết đoán, tính cách trung hậu. Cơ duyên xảo hợp học được những võ công thượng thừa phù hợp với tính cách. Sức mạnh hơn người, oai phong bốn cõi, trấn thủ Tương Dương, vang danh đại hiệp, đi lại vạn quân như chỗ không người.
Quách Tĩnh được bầu là Bắc Hiệp trong ngũ tuyệt ở Hoa Sơn luận kiếm lần cuối cùng.
Tuyệt kỹ: Hàng Long Thập Bát chưởng, Cửu Âm chân kinh, Không Minh Quyền, Song Thủ Hỗ Bát, nội công Toàn Chân giáo, võ công Giang Nam Thất Quái…vv

Quách Tĩnh 
Quách Tĩnh trong vòng vây của quân Mông Cổ
3/ Chu Bá Thông:
Ngoại hiệu: Lão Ngoan Đồng
Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông y như trẻ con đội lốt già nua, là một thiên tài võ học. tính cách ham vui nhưng hiếu võ phát cuồng. Đến lúc bị nhốt trên đảo Đào Hoa không có ai chơi với mình, Chu Bá Thông sáng tạo ra tuyệt kỹ “Song Thủ hỗ bát” có thể đồng thời phân tâm hai tay sử dụng hai loại võ công khác nhau. Với võ công đạo gia Toàn Chân, Chu Bá Thông dễ dàng học thành công Cửu Âm chân kinh. Lần Hoa Sơn luận kiếm cuối cùng, các cao thủ đương thời bầu chọn lão đứng đầu với hiệu Trung Ngoan Đông.
Có thể nói võ công của Chu Bá Thông là một trong những người cao nhất của truyện Kim Dung.
Tuyệt kỹ: Không Minh Quyền, Cửu Âm chân kinh, võ công Toàn Chân giáo, Song Thủ hỗ bát…

Chu Bá Thông 
Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông
4/ Kim Luân Pháp Vương:
Kim Luân Pháp Vương được coi là đệ nhất quốc sư Mông Cổ, võ công trí tuệ đều tuyệt đỉnh. Tuy vậy lúc đầu xuất chiến Trung Nguyên theo quân Mông Cổ đụng độ Quách Tĩnh hay sư đồ Dương Quá – Tiểu Long Nữ đều rơi vào thế hạ phong. Đến 16 năm sau trở lại Trung Nguyên, Kim Luân luyện thành công “Long Tượng Bát Nhã công” cương mãnh không kém “Hàng Long Thập Bát Chưởng”.
Trận chiến cuối cùng tại Tương Dương thành, Kim Luân giao đấu sinh tử với Dương Quá thậm chí ban đầu còn ở thế thượng phong. Dương Quá cuối cùng may mắn mới thắng một chiêu. Nếu ở chiến trường khác, chưa chắc đã dễ phân thắng bại.
Tuyệt kỹ: Long Tượng Bát Nhã công, Ngũ Luân công pháp…

 Kim Luân 
Kim Luân Pháp Vương – Mông Cổ đệ nhất quốc sư

Hé lộ tuyệt kỹ thất truyền của Võ Đang phái !

Võ Đang có rất nhiều những tuyệt kỹ bí truyền, trong đó có tuyệt kỹ đã vang danh như Đả huyệt thương địch công. Do là bí truyền nên rất ít người có thể luyện thành công và những tài liệu nghiên cứu sau này cũng chưa hẳn là đã hoàn chỉnh. Nhưng nhắc đến nó, các cao thủ không khỏi rùng mình bởi phép điểm huyệt gây tử thương theo phương pháp… hẹn giờ.
Dựa trên cách vận hành của khí công
Phép điểm huyệt dựa trên nghiên cứu về hoạt động của khí huyết vận động trong các kinh mạch, lưu chuyển thông qua các huyệt đạo. Điểm huyệt là dùng nội công công kích vào những yếu huyệt, tử huyệt của đối phương để dành chiến thắng. Tuy nhiên đó cũng là tuyệt kỹ mang tính bí truyền của từng môn phái.
Như Kim Ân Trung chép trong “Thiếu Lâm thất thập nhị (72) nghệ luyện pháp” thì: “Chỉ có phép điểm huyệt thì lý đó cự kỳ tinh (vi), cách luyện đó cực khó, người giỏi nghệ đó lại quý báu giứ kín với nhau không chịu truyền ra ngoài, cho đến ngày nay người sử dụng được cũng hiếm, chẳng khác gì vẩy lân lông phượng, không đễ tìm được nhiều người”.
Nói như vậy đủ để thấy, không chỉ Thiếu Lâm, mà các tuyệt kỹ của Võ Đang hay các môn phái khác đều được truyền hết sức bí mật, tiết lộ ra ngoài rất mơ hồ, ít ỏi… thậm chí nhiều tuyệt kỹ đã thất truyền.
Trong sách “Thập tứ kinh phát huy” của Hoạt Bá Nhân đời Nguyên chép lại đặc biệt nhấn mạnh trong Bát (8) mạch (bao gồm mạch Nhâm, mạch Đốc, mạch Xung, mạch Đới, mạch Dương Kiểu, mạch Âm kiểu, mạch Âm Duy, mạch Dương Duy) thì 2 mạch Nhâm, Đốc cộng với 12 kinh thành ra Thập tứ kinh. Trên dưới toàn thân phân bố bộ vị theo 14 kinh lạc trên.

1394447246-the-thao-huyet-dao-3

Căn cứ theo sách “Nội kinh” thì cơ thể con người có 365 huyệt vị. Thuật điểm huyệt lại lựa chọn từ số huyệt vị trên ra 36 huyệt “trí mệnh”, lấy đó làm mục tiêu công kích tiêu diệt đối phương (còn gọi là tử huyệt). Phàm đã bị công kích vào đây phải được các cao thủ về y thuật, võ thuật cứu chữa kịp thời, nếu không thì khó qua khỏi.
Tại sao dùng thuật điểm huyệt đánh vào huyệt vị nào đó trên cơ thể người ta lại có thể dẫn đến chết người hay bị tàn phế? Đó là vì kinh lạc là con đường lưu thông vận hành khí huyết khiến các chấtdinh dưỡng thông qua con đường đó chuyển đến khắp cơ thể để duy trì công năng sinh lý một cách bình thường. Trên các kinh lạc đó có một số “đầu nút” mà khí huyết kinh lạc của phủ tạng hội hợp ở các “đầu nút” đó, và đây chính là “huyệt vị”.
Trong giao chiến võ thuật, dùng sức lực cơ thể hoặc nội khí bên trong cơ thể thông qua ngón tay, khuỷu tay, đầu gối, mũi bàn chân… của người điểm huyệt, thật mau lẹ và mãnh liệt đánh trúng vào huyệt vị đối phương, cảm giác kích thích do đó tiến vào kinh lạc gây ra trạng thái lôi truyền dẫn, làm ngăn trở hay rối loạn đến sự vận hành chu chuyển khí huyết trong kinh lạc đối phương. Khí vận hành bị ngáng trở, bế tắc, khí trệ nên huyết trệ, cục bộ khí huyết trong tuần hoàn bị đứt dẫn đến tay, chân, cơ thể bị tê dại,đầu váng, mắt hoa, hôn mê sâu và… qua đời.
Điểm huyệt… hẹn giờ
Đó là phần phân tích sơ qua của tuyệt kỹ Đả huyệt thương địch công- một trong những tuyệt kỹ của phái Võ Đang mà rất ít tài liệu ghi lại được. Kiểu điểm huyệt theo giờ căn cứ vào thuyết kinh lạc “Tý Ngọ lưu chú”: Gân cốt trên toàn thân con người đều có vị trí nhất định, kinh lạc thuộc vào đó nên sự lưu hành của khí huyết càng phải theo đúng đường vào đúng giờ nhất định, tức là lúc nào khí huyết đi đến kinh lạc nào đều có trật tự nhất định.
Sự tuần hoàn huyết dịch và sự vận động nội khí trong cơ thể phát nguốn từ tâm tạng (tim) bắt đầu từ giờ Tý (khoảng 0 giờ), rồi sau đó chu chuyển, lưu dẫn đến 12 kinh (2 mạch Nhâm, Đốc không chia theo thời gian) đầu đuôi liên tiếp nhau tuần hoàn không dứt.
Theo lý luận y thuật từ xa xưa, chức năng trong cơ thể người ta chia làm năm tạng (Ngũ tạng) và sáu phủ (Lục phủ). Ngũ tạng gồm tim, gan, lá lách, phổi, thận. Lục phủ gồm dạ dạy, mật, bàng quan, ruột già, ruột non, và tam tiêu (khoảng trống từ dưới lưỡi xuống khoang ngực, khoang bụng như cuống họng, thực quản…). Khí huyết theo các kinh cứ thế chảy tròn, điều tiết qua Lục phủ, Ngũ tạng và nuôi khắp cơ thể. Mà huyệt vị trong một ngày tuỳ theo sự tuần hoàn đó mà đóng mở.

HTV2H4

Căn cứ vào thuyết khí công này, các đại sư Võ Đang phái đã sáng tạo ra Đả huyệt thương địch công. Dựa trên sự vận động của khí huyết cơ thể như trên, cộng với nội công thượng thừa của các cao thủ, người luyện môn này có thể điểm huyệt theo giờ để đả thương đối thủ nặng hay nhẹ, hoặc thậm chí hạ thủ và ngược lại, có thế vận dụng cách hoạt huyết hành khí, bấm huyệt hoá giải sự ứ đọng và ngừng đau.
Nói chung, sau khi bị điểm huyệt trúng, khí huyết ngưng trệ gây đau đớn, khó chịu. Muốn chữa trị phải tìm được thầy y hoặc cao thủ võ thuật am hiểu huyệt đạo để hoá giải, nếu kinh lạc bế tắc thời gian dài thì phải trị liệu, do khí huyết bị ngưng trệ lâu nên không đến được các bộ vị cần đến trong cơ thể gây tổn thương cho các bộ vị này. Vì vậy sau khi triển khai các thủ pháp khai huyệt xong phải uống một số laọi thuốc men khiến khí huyết điều hoà trở lại mới mong bình phục dần dần.
Các tài liệu cũng rất ít nhắc đến cách luyện công phu này của các đạo sĩ Võ Đang, chỉ thấy nói họ dậy rất sớm, luyện tập khí công, hấp thu tinh khí trời đất rồi xoay mặt vào vách đá phát kình lực luyện điểm huyệt tới mức những vị trí khắc huyệt đạo cơ thể con người trên vách đá lõm sâu.
Tập luyện lên cao hơn nữa, họ phải dùng kìm rút móng tay, luyện cho chai cứng mười đầu ngón tay rồi vận khí điểm huyệt liên tục vào các huyệt đạo được đục lỗ tròn trên người mộc nhân đang quay, sao cho tốc độ các ngón tay vừa đủ lực phát kình, vừa trúng lỗ huyệt mà không bị mộc nhân đang quay bẻ gãy ngón.

Thánh Cô Doanh Doanh- Người phụ nữ hoàn hảo

Bàn về nhân vật nữ chính của Kim Dung thì chỉ có Thánh Cô Nhậm Doanh Doanh mới xứng đáng và duy nhất hai chữ “hoàn hảo”
Kim Dung xây dựng Doanh Doanh hoàn hảo quá, hoàn hảo một cách phi hiện thực. Xinh đẹp, thông minh, mưu trí, tâm lý, khả ái, nhân từ, thủy chung, hiếu thảo, sống tình nghĩa, nấu ăn ngon, hy sinh, biết đàn ca nữa… Không gì không có, không có lấy một khiếm khuyết. Ngay đến những thói xấu cũng chỉ để điểm xuyết cho tính phụ nữ rất đáng yêu.

DD

Hoàng Dung thông minh đấy nhưng đanh đá quá.
Tiểu Long Nữ thì như đứa trẻ lên ba, không phải tuýp của rất nhiều người đàn ông trưởng thành.
Vương Ngữ Yên đẹp như thần tiên nhưng chẳng khác cái bình hoa di động. Yêu ghét cũng chẳng rõ ràng.
Triệu Mẫn, Chu Chỉ Nhược quá sắc sảo, trước sau chỉ bắt nạt chồng.
Tiểu Chiêu, Trình Linh Tố, Song Nhi quá mềm yếu, thiếu cá tính cần thiết.
A Kha, A Tử mãi vẫn không thấy dáng vẻ của thiếu nữ chín chắn.
A Châu duy nhất tiệm cậm Doanh Doanh nhưng thiếu sự thông mình và suy nghĩ sâu sắc để cuối cùng có cái kết quá bi kịch…
Người như Doanh Doanh rõ ràng chỉ cầu mà không được, chỉ thấy trong giấc chiêm bao cũ rích của đám đàn ông muôn thuở ôm truyện Kim Dung mà tặc lưỡi.

Hoa Tranh công chúa – Mối tình dang dở

“Ngươi cứ đi tìm nàng đi, mười năm, hai mươi năm cũng được, rồi quay về đây. Ngươi chỉ cần biết rằng kiếp này ta vĩnh viễn chỉ muốn lấy ngươi, nên chừng nào ta còn sống, ta vẫn cứ chờ ngươi trên thảo nguyên.
Đôi dòng cho nàng thôi, chỉ đôi dòng ngắn ngủi dành cho nàng thôi. -Hoa Tranh.
Cô công chúa si tình ngốc nghếch…
Có bao giờ những đêm sáng sao trên thảo nguyên mênh mông, nàng ngước lên bầu trời cao và tự nhủ Quách Tĩnh có nhớ đến mình?
Có bao giờ nàng ngồi hàng giờ của cả tuổi thanh xuân để tưởng tượng một bóng hình từ thuở ấu thơ?
Có bao giờ nhìn đôi chim điêu trắng vui đùa bên nhau, Quách Tĩnh có nhớ đến nơi thảo nguyên xa xôi một người con gái luôn mang hình bóng của hắn phiêu bạt theo năm tháng?
Tất cả có lẽ đã từng. Nhưng cũng chẳng thay đổi được gì khi tất cả chỉ là hoài niệm của riêng nàng mà thôi.
Ừ thì đâu phải nàng xinh đẹp, khéo léo, thông minh như Hoàng Dung.
Ừ thì đâu phải nàng cưỡng cầu hạnh phúc bằng mọi giá.
Ừ thì tại nàng báo tin, mẹ Quách Tĩnh mới bị cha nàng ép chết.
Nàng ngốc nghếch thật đấy.
Nàng nghe tin Quách Tĩnh bị hại chết chỉ đành tự tử theo hắn.
Nàng từ biệt vị hôn phu cũng chỉ nói vỏn vẹn bốn từ “Ngươi đi chóng về”.
Nàng liều chết, trái lời Thành Cát Tư Hãn để báo tin quân Mông Công đánh thành Tương Dương.
Nàng biết hắn chỉ yêu Hoàng Dung, đành chôn hàng lệ nóng nơi Tây Vực xa xôi.

HT

“Ngươi cứ đi tìm nàng đi, mười năm, hai mươi năm cũng được, rồi quay về đây. Ngươi chỉ cần biết rằng kiếp này ta vĩnh viễn chỉ muốn lấy ngươi, nên chừng nào ta còn sống, ta vẫn cứ chờ ngươi trên thảo nguyên.”
Đây có lẽ là câu nói dài nhất từ khi Hoa Tranh công chúa xuất hiện trong truyện cũng là câu cuối của nàng. Những lần khác, nàng hiếm khi mở miệng. Lúc bé thì “Quách Tĩnh, mình đi xem mấy con điêu đánh nhau đi!”, “Gia gia, Đô Sử nó hiếp đáp con!”

Tôi ước giá nàng có thể nói nhiều hơn, có thể tranh đấu lấy hạnh phúc nhiều hơn một chút,
Nhưng chẳng để làm gì.
Đối với nàng hạnh phúc mà cưỡng cầu thì không còn là hạnh phúc trọn vẹn.
Vì tình yêu cho đi mà chẳng cần nhận lại, âu cũng là một niềm hạnh phúc ..

Hiệp Khách Hành – Triết lý của cái thiện

“Hiệp Khách Hành” mang đậm triết lý Phật giáo, nhân duyên của Kim Dung.
Thạch Trung Ngọc là con trai của hai đại hiệp lừng danh giang hồ, trang chúa Huyền Tố trang- Thạch Thanh và Mẫn Nhu. Sau đó lại được thu vào làm đệ tử của phái Tuyết Sơn, nổi danh chính phái bậc nhất thiên hạ bấy giờ. Nhưng Thạch Trung Ngọc không học được điều gì tử tế, tuổi nhỏ đã gian xảo, nhan hiểm, trăng hoa, hèn nhát…Lớn lên quả nhiên làm những chuyện thương thiên bại lý, tiểu nhân vô sỉ.


Người anh em song sinh của Thạch Trung Ngọc là Thạch Phá Thiên (Cẩu Tạp Chủng) bị kẻ thù của cha mẹ bắt cóc khi còn là sơ sinh, lớn lên trong sự thù hận của bà mẹ (giả), đến cái tên còn không được đặt tử tế. Ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, thường xuyên bị đánh đập, xỉ vả, đặc biệt là bị nhồi nhét những thói hư tật xấu của tầng lớp đáy cùng của xã hội.
Lớn lên một chút thì lưu lạc giang hồ, vô tình nhặt được Huyền Thiết Lệnh bị Tạ Yên Khách đưa lên Ma Thiên Lĩnh.
Tạ Yên Khách là ai? Là Ma Thiên Cư Sĩ giết người không chớp mắt, là gã quái nhân coi trời bằng vung.
Sống với môi trường như thế, những con người như thế mà Thạch Phá Thiên từ đầu đến cuối không mất đi phẩm hạnh.
Một chàng thiếu niên thật thà, chất phác, luôn làm mọi thứ vì người khác. Thạch Phá Thiên mang một cái tâm từ bi của Đức Phật giữa vô vàn cái tham, sân, si của hàng trăm nhân vật khác.
Vậy ta nói “bản chất con người hình thành từ khi mới sinh ra” chứ không hẳn chỉ do môi trường sống tác động?

Chân dung kỳ tài văn học Kim Dung


Mô tả chân dung nhà văn Kim Dung qua các gạch đầu dòng:
Kim Dung sinh ngày 6 tháng 2 năm 1924.
– Ông hoàn thàn 15 cuốn tiểu thuyết trong vòng 17 năm (từ 1955 đến 1972).
– 300 triệu bản in chính thức đã đến tay độc giả của Trung Hoa đại lục, Hồng Kông, Đài Loan
– Kim Dung đã từng 2 lần bị đuổi học.
– Sau năm 1972 ông ngừng viết truyện, chỉ biên tập lại các tác phẩm của mình.
– Dịch giả đưa Kim Dung lên cơn sốt tại Việt Nam được ghi nhận là Tiền Phong Từ Khánh Phụng.
– Tuy nhiên dịch giả truyện Kim Dung tài hoa nhất là Hàn Giang Nhạn với các bản dịch Tiếu ngạo giang hồ, Lộc Đỉnh ký… câu văn thanh thoát tự nhiên, sinh động.
– Sau 1975, các tác phẩm của Kim Dung bị nhà nước Việt Nam liệt vào danh sách cấm với lý do “văn hóa đồi trụy phản động”.
– Tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung hiện vẫn đang đứng đầu các tác phẩm văn học được yêu thích nhất tại Việt Nam.
(Biên tập lại từ wiki)

No comments: