Saturday, August 25, 2018

THI SI HO XUAN HUONG-DA TRUAN MOT KIEP NU NHI

Hồ Xuân Hương nữ sĩ đa truân

  Quế Phượng – Nguyễn Quý Đại

Saturday, January 2, 2010 4:35:10 PM
, ,

 
THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG THANH VÀ TỤC – Quế Phượng (tỗng hợp)
Hồ Xuân Hương viết theo chữ Hán: 胡春香, là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi. Thậm chí có một vài ý kiến còn cho rằng những bài thơ được xem là của bà hiện nay do nhiều người sáng tác, nghĩa là không có ai thực sự là Hồ Xuân Hương. Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bài thơ được khẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu đã tạm thừa nhận một số kết luận bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ như sau : Hồ Xuân Hương xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với người lao động nghèo; bà lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội, vì thế mà bà ít chịu ảnh hưởng bởi Nho giáo còn đang thịnh thời đó.  Là một phụ nữ tài hoa mang cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc. Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn và ông Lê Xuân Giáo, thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai từ Tổng Cóc, Ông Phủ Vĩnh Tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiến.  Các tác phẩm Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng..Năm 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ tên Lưu hương ký 琉香記, theo những nghiên cứu đến nay nhiều người tán thành rằng những bài thơ trong đó là của Hồ Xuân Hương. Lưu Hương Ký là tập thơ có nội dung tình yêu gia đình, đất nước, tuy nhiên nó không thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, nên việc nghiên cứu giá trị thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu được thực hiện trên những bài thơ Nôm còn truyền tụng của bà. 

 
Một nữ sĩ đa truân Từ thời dựng nước, dân tộc Việt Nam luôn luôn có truyền thống chiến đấu chống ngoại xâm dành độc lập bảo vệ quê hương, trong quá trình đó người phụ nữ cũng đã đóng góp rất đáng kể, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-30 trước CN) và Bà Triệu (năm 248) với những chiến tích oai hùng trong lịch sử Việt Nam. Những thế hệ kế tiếp các bậc nữ lưu cũng giúp việc nước, lo việc nhà và đã đóng góp cho lâu đài văn hóa dân tộc như các các nhà thơ nổi tiếng : Đoàn Thị Điểm dịch giả “Chinh Phụ Ngâm khúc” của Đặng Trần Côn, Ngọc Hân công chúa với “Ai Tư vãn”. Lưu thị Hiền (bà Phủ Ba) Ngô Chi Lan Ỷ Lan Phu nhân, Bà Huyện Thanh Quan, Sương Nguyệt Ánh…, trong đó nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở thế kỷ thứ 18 nổi tiếng là Bà Chúa Thơ Nôm. Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn 胡丕演 (1703-1786) ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông Hồ Phi Diễn thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái và dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh họ Hà làm vợ thứ, sinh ra Hồ Phi Mai (1772-1822), nghĩa là Hoa mai bay trên hồ, bút hiệu Xuân Hương. Bà là cháu đời thứ 27 của Hồ Hưng Dật, và ông này có 2 người cháu nổi tiếng mà ai cũng biết là vua Quang Trung Nguyễn Huệ (trước đó có tên Hồ Thơm) và bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương. Lúc Xuân Hương vào tuổi 13 thân phụ mất, bà rời làng Khán Xuân theo mẹ về làng Thọ Xương gần Hồ Hoàn Kiếm, đi học một thời gian sau đó ở nhà giúp việc. Xuân Hương tự học thêm, nhờ thông minh làm thơ hay, tiếng tăm lừng lẫy. Tổng Kình tên tự Nguyễn Công Hòa, ở làng Tứ Xã (huyện Phong Châu, Vĩnh Phú), khi bé tên Cóc, sau nầy HXH gởi bài thơ “Khóc Tổng Cóc“ nên từ đó dân làng gọi ông là Tổng Cóc.  Chuyện tình của bà với Tổng Cóc trở thành giai thoại. Thân phụ của Xuân Hương là nhà giáo thời ấy gọi cụ Đố Xứ, Tổng Cóc và một số chàng trai khác chiều 30 Tết mang quà biếu tết cụ Đồ, bị Xuân Hương ra câu đối – “Tối ba mươi khép cánh càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới” Tổng Cóc đối lại: – “Sáng mồng một mở then tạo hoá để cho thiếu nữ rước xuân vào” Được cụ Đồ Xứ khen hay, có thể Hồ Xuân Hương (HXH) mến mộ chàng có khiếu văn chương ? Tổng Cóc đã lập gia đình nhưng là người có tiếng ăn chơi, tính tình nghệ sĩ thích văn thơ cưới Xuân Hương làm thứ thiếp. Tổng Cóc yêu thương vợ, ông làm nhà thủy tạ cho vợ trông coi ao cá và bảo nàng làm thơ viết vào gỗ, hiện nay tại nhà thờ của ông Kiều Phú, thôn Đại Đình, xã Sơn Dương, Phong Châu, Vĩnh Phú còn tấm ván mít ghi những nét thơ Nôm của Hồ Xuân Hương. Nhà ông Bùi Văn Thắng còn đôi bình và hai ống quyển ghi bút tích 4 câu thơ trang nghiêm của HXH, nói đến tấm gương trong trắng (như người con gái trong trắng) khi xuân hết thì thợ trời cũng chịu. Chỉ còn biết dựa vào phúc đức …. khi ấy hương thơm sẽ tỏa khắp muôn nơi. Xuân Hương bản tính nghệ sĩ giao tiếp rộng, không thể vượt đời sống của làng quê trọng nam khinh nữ, bởi vậy vợ chồng không tránh được việc va chạm hằng ngày trong xã hội phong kiến “Đau đớn thay phận đàn bà ! / Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu“.Xuân Hương bị vợ lớn ghen tương, gia đình chồng đè nén vì thân phận làm thứ thiếp. Nên bà chán ngán cảnh chồng chung bỏ nhà ra đi.
   
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung ! Năm thì mười hoạ chăng hay chớ Một tháng đôi lần có cũng không Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm Cầm bằng làm mướn, mướn không công Thân nầy ví biết dường nầy nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy xong Hồ Xuân Hương mở quán làm kế sinh nhai, khách hâm mộ văn tài bà đến cùng xướng họa, có nhiều chuyện tình trở thành giai thoại. Xuân Hương lãng mạn, phóng khoáng bà muốn vượt qua bức tường nho giáo khắc nghiệt, nhưng không tránh được cái nghiệp tình duyên ngang trái. Xuân Hương gặp ông phủ Vĩnh Tường và làm bài thơ giã từ “khóc Tổng Cóc“. Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi! Thiếp bén duyên chàng có thế thôi Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi. Bài “khóc Tổng Cóc“ gây nhiều dư luận trong văn học, những người ở làng Gáp cho rằng bài thơ đó khóc cho mối tình đầu của bà, từng khổ đau với hoàn cảnh làm vợ trong gia đình Tổng Cóc nên dùng những từ ngữ chỉ họ hàng nhà Cóc nào là nòng nọc đứt đuôi, để giễu Tổng Cóc (thơ gởi Tổng Cóc lúc còn sống chứ không phải khóc người chết). Một lần nữa Xuân Hương lập gia đình với ông phủ Vĩnh Tường cũng làm thứ thiếp, không tránh được cảnh khổ ghen tương cay độc như Hoạn thư: Thời gian sống với ông phủ Vĩnh Tường (ở Thổ Tang, Vĩnh Phú) ông Phủ xem nàng là bạn văn chương. Nhưng số phận của Xuân Hương không được may mắn, cuộc tình ngắn ngủi hơn 2 năm sau phải khóc chồng, chồng chết là nỗi khổ đau nhất của người thiếu phụ, thương cho thân phận kẻ ở người đi. Xuân Hương buồn khổ trước cảnh nhà lạnh lẽo đơn côi, bà trang trải nỗi bi thương của mình trên những dòng thơ buồn não nuột, là tiếng nấc nghẹn ngào của người góa phụ vĩnh viễn xa chồng. Các tác phẩm của bà bị thất lạc, đến nay còn lưu truyền những bài thơ chữ Nôm trong “Xuân Hương Thi Tập”, năm 1964 ông Trần Thanh Mại phát hiện thêm tập thơ chữ Hán “Lưu Hương Ký” 瑠香記 viết năm Giáp Tuất (1814). Hồ Xuân Hương là nhà thơ sử dụng chữ nôm một cách điêu luyện và sắc xảo, ít người sánh kịp. Bà thường chọn những âm khó đọc để hạ vần nói lái, nghĩa bóng thành những bài thơ rất tài tình và đầy thú vị trong đó ý thơ và tình thơ bao gồm : đạo đức, tiếu lâm, hay châm biếm, độc đáo có một không hai trong văn chương bác học.  
 
Tình yêu, tình bạn của Xuân Hương có rất nhiều nghi vấn, khó xác định cảnh đời từng trải của Xuân Hương. Các tài liệu dẫn chứng Xuân Hương giao du rộng rãi với những danh sĩ như Phạm Quí Thích (khắc và in thơ của Nguyễn Du), Nguyễn Huy Tự (tác giả Hoa Tiên), Nguyễn Du, Mai Sơn Phủ, Tốn Phong, Cư Ðình, Trần Quang Tĩnh, và Trần Phúc Hiển, v.v. Học giả Hoàng Xuân Hãn dẫn chứng bà có 3 đời chồng, người cuối cùng là Tham hiệp trấn Trần Phúc Hiến ? Trong vấn đề xướng họa thơ văn, một đối thủ của Xuân Hương được lưu lại là Chiêu Hổ tức Phạm Đình Hổ (1768-1839), là tác giả “Vũ Trung Tuỳ Bút”, bút hiệu Chiêu Hổ, lần ông đến thăm Xuân Hương có ý sổ sàng bị Xuân Hương chê suồng sã Anh đồ tỉnh, anh đồ say Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày Này này chị bảo cho mà biết Chốn ấy hang hùm chớ mó tay… Hùm có nghĩa là hổ, Chiêu Hổ bị Xuân Hương chơi chữ, ông không chịu thua cợt nhả đối lại: Này ông đồ tỉnh, này ông đồ say, Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày ! Hang hùm ví bẵng không ai mó, Sao có hùm con ẵm chốc tay ? Năm 1842 Tùng Thiện Vương ra thăm cảnh Hồ Tây có làm bài thơ viếng mộ Xuân Hương là  “Long Biên Trúc Chi Từ“ được dịch ra Việt ngữ từ học giả Hoàng Xuân Hãn. Ngày nay không thể tìm mộ của bà, tuy nhiên người ta dựng bia để tưởng niệm nữ sĩ Xuân Hương
Những nét tiêu biểu trong thơ Hồ Xuân Hương Hồ Xuân Hương trưởng thành trong giai đoạn lịch sử chiến tranh, ảnh hưởng nặng nề phong kiến “nhất nam viết tử thập nữ viết vô”. Đàn bà ít được đi học, ứng thí như đàn ông, may mắn học ít chữ, lấy chồng sanh con lo việc nội trợ. Xuân Hương đã tỏ ra là một thiên tài, làm thơ khẩu khí khi bà bị trợt té người ta cười, bà làm ngay hai câu thơ để chữa thẹn: Giơ tay với thử trời cao thấp Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài Hồ Xuân Hương thông minh, có tài nhưng tiếc thay sinh ra phận gái nên cái lỗi lạc của bà thành ra lãng mạn mà lắm người cho là “lẳng lơ“! Đọc mấy câu thơ sau của bà, dũng khí như một đấng tu mi nam tử. Khi HXH đi qua miếu Sầm Nghi Đống tại Loa Sơn, là tên Thái thú quân Thanh thua trận thắt cổ chết trên cây đa ở gò Đống Đa mùng 5 tháng giêng năm Kỷ dậu 1789. Người Hoa lập miếu thờ, tin đồn miếu linh thiêng nên bà đề mấy câu thơ : Ghé mắt trông nghiêng thấy bảng treo Kìa đền Thái thú đứng cheo leo Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu ? Xã hội thời phong kiến người ta quan niệm “trai năm thê bảy thiếp, gái chín chuyên chỉ một chồng“ thật là bất công ! vấn đề đa thê ngày nay không được chấp nhận (ngoại trừ các nước theo Hồi Giáo). Ngày xưa chồng chết vợ phải thủ tiết thờ chồng. Hồ Xuân Hương muốn phá cái phong tục thời đó, nên lúc sống với ông Phủ Vĩnh Tường, có người góa phụ trẻ muốn được tái giá, làm đơn xin quan phủ xét, gặp lúc ông phủ đi vắng, HXH xem đơn và phê ngay : Phó cho con Nguyễn thị Đào Nước trong loe lẻo cắm sào chờ ai ? Chữ rằng xuân bất tái lai Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già. Tuy nhiên có tài liệu cho giai thoại này là của bà Huyện Thanh Quan, nhưng theo nhận xét chung lối hành văn nầy không thể nào của bà Huyện Thanh Quan ? Những bài thơ tuyệt tác của Hồ Xuân Hương được lưu truyền hậu thế. Biệt tài thơ Xuân Hương dùng chữ Việt thuần tuý, không vay mượn điển tích sáo ngữ, đọc thơ hiểu được nghĩa đen và nghĩa bóng. Bài “Ngủ quên hay ngủ ngày” tả cô thiếu nữ nằm nghỉ buổi trưa hè trời nóng, cơn gió nồm mát rười rượi làm nàng ngủ quên, giấc ngủ say sưa vô tình bày ra thân hình trẻ trung, mơn mởn da thịt với 
những đường nét tuyệt vời sống động…
   
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng Lược trúc chải cài trên mái tóc, Yếm đào trễ xuống dưới nương long Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt Đi thì cũng dở ở không xong. Cái đẹp bất cứ ở đâu đều được mọi người yêu chuộng, người trần tục thấy hoa đẹp ai không muốn nhìn ? Bồng Đảo, Đào Nguyên là cảnh tiên, Lạch Đào Nguyên suối hoa đào đều là cái đẹp của sự sống. Từ xưa và nay nhiều nhà phê bình bàn cãi tranh luận về thơ Xuân Hương mang tính chất dâm và tục, sinh lý bị đè nén “Libido”. Ngược lại người yêu thơ Hồ Xuân Hương thường hết lời ca tụng, xem những sáng tác của bà là kỳ diệu từ cách dùng chữ chính xác, âm điệu kỳ tài. Cái đặc điểm trong thơ hồ Xuân Hương là tả cái tục nhưng dùng toàn chữ thanh, nếu đọc bốn 4 câu thơ sau người ta hiểu bà tả một ông quan võ nhưng không phải vậy. Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn Ban đêm không mắt sáng như đèn Đầu đội nón da loe chóp đỏ Lưng đeo bị đạn rủ thao đen Là tả “dương vật” Để có thể thẩm định thế đứng của nhà thơ nầy, nói về Văn học không thể đọc một số bài thơ rồi cho là dâm tục có quá đáng chăng ? Bởi vì vấn đề Tình Dục từ Á sang Âu thường được trình bày qua các tác phẩm văn chương, những hình vẽ, tượng điêu khắc chạm trổ trong các Cung điện, Đền đài lưu lại từ ngàn năm về trước có những nét đẹp độc đáo như thân thể đàn bà qua những đường cong tuyệt vời, bộ ngực no tròn lồ lộ dưới lớp xiêm y mỏng manh .. những tác phẩm đó thể hiện linh động nét văn hóa và sắc thái mang tính chất diễn tả về nghệ thuật.  Mỗi dân tộc văn minh có sinh hoạt văn hoá khác nhau. Nhiều sắc dân họ thờ các bộ phận sinh dục, dân tộc Chàm xây các Tháp theo hình tượng Lingam (dương vật) tình dục được nói bình thường trong sinh hoạt của con người. (Còn 1 kỳ)
 Quế Phượng – Nguyễn Quý Đại

No comments: