Saturday, August 11, 2018


Cuộc chiến ‘biệt vô tăm tích’ -
 Bùi Tín




Cuộc chiến ‘biệt vô tăm tích’


Bùi Tín 09-04-2015

Sinh Bắc tử Nam. Ảnh: VOV
Cuộc nội chiến Nam – Bắc ở Việt Nam đã chấm dứt được mấy mươi năm, biết bao tài liệu sách báo, hồi ký đã được viết ra, biết bao tư liệu tuyệt mật của các bên đã được công bố, nhiều cánh cửa đã được mở ra để nhìn rõ bản chất, nguyên nhân, diễn biến, các góc cạnh của cuộc chiến.






Trong suốt hơn 20 năm qua, tôi đã được đọc không biết bao nhiêu là sách báo, tài liệu của Ngũ Giác Đài, của Bộ Quốc phòng Liên Xô, Pháp, Anh, của Đệ Tam Quốc tế CS, các hồi ký của các tướng tá cả của Quân đội Nhân dân (QĐND) và của Quân lực VN Cộng Hòa, hồi ký về nhà tù CS, hồi ký về thuyền nhân, rồi những tài liệu tù mù thật giả lẫn lộn, phóng ra từ ổ đen tình báo Hoa Nam Trung Quốc. Vậy mà theo tôi vẫn còn nhiều «góc khuất» của cuộc chiến tranh rất nên làm rõ, để cuộc chiến được tái hiện đúng như nó từng diễn ra trên mọi khía cạnh.

Có những sự kiện nhỏ bé ít người nói đến nhưng lại đóng vai trò rất lớn, có khi có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cuộc chiến.


Xin nêu lên một vấn đề làm thí dụ. Tôi tạm gọi vấn đề này là «cuộc chiến biệt vô tăm tích». Đó là tình trạng quân nhân trong QĐND ở miền Bắc khi đã lên đường vào Nam chiến đấu là cắt đứt mọi quan hệ với gia đình, bạn bè thân thuộc trong một thời gian dài, cho đến khi sống sót được trở ra miền Bắc.


Có thể nói có hàng mấy triệu lượt quân nhân QĐND vượt tuyến như thế, và hàng triệu người đều ở trong hoàn cảnh như thế. Họ lên đường, rồi «biệt vô tăm tích», vì bưu điện Bắc – Nam bị cắt đứt hoàn toàn. Nhưng không hề có một văn bản nào ghi nhận thành chính sách «biệt vô tăm tích» như thế.


Có lẽ rất hiếm quân đội nào trong thời chiến cùng gia đình họ chịu cảnh chia ly triệt để, kéo dài, chịu một cuộc tra tấn đày đọa tinh thần thâm hiểm đau xót triền miên như thế.
Trong thời chiến tôi có dịp hỏi chuyện một số sỹ quan phi công Hoa Kỳ bị bắt, họ còn mang theo cả thư, ảnh vợ con, bố mẹ nhận được trước đó vài hôm từ Mỹ gửi sang Thái Lan hay Hạm đội 7. Họ chiến đấu ở xa hàng ngàn dặm mà mối quan hệ tình cảm được đều đặn. Quân nhân của chế độ Cộng sản miền Bắc nước ta chiến đấu trên đất nước mình mà cứ như bị tha hương, đến một tinh cầu nào xa lạ, không một lá thư nào, một hình ảnh nào.


Bao nhiêu bà mẹ, ông bố, người vợ đêm nằm thương nhớ khôn nguôi người con, người chồng yêu quý của mình, thế rồi chỉ còn có cách nuốt nước mắt vào lòng, cầu Trời khấn Phật cho người thân «biệt vô tăm tích» của mình sống sót trở về.


Các ông cha bà mẹ, người vợ ấy càng chua xót, đau đớn vì cái tỷ lệ sống sót trở về ngày càng hiếm hoi, «sinh Bắc tử Nam» đã thành số phận gần như thiên định, do cuộc chiến ở miền Nam hết sức ác liệt, do bộ phận lãnh đạo CS sùng bái bạo lực, sắt máu, có dã tâm quyết hy sinh không hạn độ sinh mạng công dân cả nước mình cho tham vọng nhuộm đỏ toàn thế giới của Đệ Tam Quốc Tế CS. Chiến tranh để dành độc lập, rồi «chống Mỹ cứu nước» chỉ là nhãn hiệu bề ngoài che đậy dã tâm trên đây.


Nếu như đảng CS Việt Nam để cho quân nhân mình được phép liên lạc với gia đình, tổ chức ngành bưu điện quân sự tỏa rộng vào các chiến trường, theo tôi nghĩ, bộ mặt cuộc chiến đã khác hẳn. Chỉ riêng cảnh rùng rợn của chiến trường, số chết và bị thương phía CS miền Bắc quá lớn, do quân đội miền Nam và lực lượng Hoa Kỳ có hỏa lực quá mạnh (từ trước năm 1964 chiến trường miền Nam, QĐ miền Bắc nói chung chưa đưa chiên xa vào miền Nam, pháo binh còn thưa thớt, không quân miền Bắc chưa hoạt động được) nên thường thương vong các trận đánh là 3/1, 5/1, có khi 10/1. Theo một số báo cáo tuyệt mật tôi được biết khi đi trong các đoàn quân sự cao cấp do tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu, với nhiệm vụ là bí thư báo chí của Bộ trưởng Quốc phòng, sau các đợt «Tổng tiến công và tổng nổi dậy» năm 1968, lực lượng QĐND bị tổn thất nặng hơn bao giờ hết, cơ sở nhân dân bị lộ, nhiều nơi bị mất trắng, có nơi phải đưa bộ đội chính quy miền Bắc vào làm bộ đội địa phương quận huyện. Nhiều đại đội, tiểu đoàn, cho đến cả trung đoàn phải giải thể, sáp nhập vào nhau, có khi đến 2 hay 3 lấn, phải lấy phiên hiệu A, B, C, như Trung đoàn 275 A, 275B, 275C. Ở Khu 5 hồi ấy sỹ quan tử trận nhiều phải đôn gấp tiểu đội trưởng lên đại đội trưởng, tiểu đoàn phó lên trung đoàn trưởng do miền Bắc cử vào không kịp.
Nếu như thư từ thông suốt, các trận đánh thua tơi bời, chết và bị thương như ngả rạ, người bị thương không được cứu chữa, người chết chôn vội rồi đơn vị di chuyển, giải thể không còn biết ở đâu, nếu như cả xã hội được thông tin từ chiến trận, biết rõ những thất bại chồng chất khi ấy thì hậu phương sẽ không cho phép đảng đem con em mình vào lò thiêu sống như thế. Ở Hoa Kỳ khi các trận đánh qua màn TV đi vào phòng ngủ người dân, số tử vong lính Mỹ lên đến 50 ngàn trong 5 năm là toàn xã hội lên tiếng đòi chấm dứt chiến tranh.


Tôi từng tham dự nhiều buổi tiễn đưa một số đơn vị vào Nam, khi qua binh trạm cuối «làng HO» thuộc đất Vĩnh Linh là anh em vĩnh biệt miền Bắc trong cảnh tượng xé lòng mà vẫn phải làm ra vẻ bình thản. Ai nấy đều giống nhau, hiểu nhau, cùng nhau đóng kịch. Lúc ấy không còn đường rút lui. Cứ như qua cầu bắc ngang sông là cầu bị cắt. Đã có một số anh em mất tinh thần, liều mạng, muốn quay lui, vào tù cũng được, nhưng không sao lọt. Vì trách nhiệm của các chính ủy đoàn, các chính trị viên, của các chi bộ là ngăn chặn hiện tượng «B tụt», «B tạt», «B quay», nghĩa là tìm cách lẩn vào rừng, tụt lại sau, tạt ra các bản người dân tộc, rồi tìm cách quay về nhà. Rất ít ai thoát được.


Những anh em ấy bị truy lùng ráo riết, bị giải về hậu phương, bị tù đày không xét xử, cuối cùng ra tù còn phải chịu cuộc sống bị chính quyền CS phường xóm giám sát, khinh thị, cả họ hàng không sao ngẩng đầu lên được.


Thời gian «biệt vô tăm tích» người thân của mỗi gia đình một khác, có khi 2, 3 năm, có khi 5, 6 năm, nhiều khi trên 10 năm, tùy chiến trưòng Trị Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ, hay chiến trường Lào, Miên. Không ai biết rõ con em mình ở nơi nào. Rất hiếm khi có những tin tức của bạn bè, đồng hương bị thương trở ra, được biết là người thân ở Khu 5 hay Nam Bộ, hay Tây Nguyên, còn sống, vắn tắt, sơ sài thế thôi. Những quân nhân tử trận được báo tử rất chậm, chậm 1 năm được coi là bình thường, có khi chậm đến 2, 3 năm, do các đơn vị di chuyển sâu, sổ sách luộm thuộm mất mát, các đơn vị chia ra, nhập vào, thay phiên hiệu, cán bộ tử thương. Vì lẽ ấy mà đến nay QĐND miền Bắc có đến 300 ngàn trường hợp quân nhân mất tích, không biết bị tử trận ngày nào, ở đâu.

Đây là món nợ xã hội của đảng CS đối với nhân dân cho đến nay vẫn không sao trả được. Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, con số chính thức của phía Pháp cho biết số tù binh bị phía Việt Nam bắt giam là 5.782 người, đã trao trả nhiều đợt là 3.290, số còn lại là 2.492 phía Việt Nam không giải thích được là sống chết ra sao, vì sao, ở đâu. Đối với tù binh là người Mỹ cũng vậy, số bị bắt giam là gần 2.000, được trao trả là 591 người, số còn lại là 1.350 hay là 1.469 người, (tùy theo tài liệu của Ngũ Giác Đài hay của Quốc hội Mỹ), phía Việt Nam vẫn không giải thích được.


Đây là thêm chứng minh về lãnh đạo đảng CS cực kỳ vô trách nhiệm đối với sinh mạng con người trong chiến tranh, mặc dầu đã có những quy định quốc tế về trách nhiệm các bên đối với tù binh, về cấm tra tấn, về nuôi dưỡng, chữa bệnh, cho nhận thư từ gia đình, trao trả tù binh đầy đủ sau chiến tranh. Không thể để «biệt vô tăm tích» hàng ngàn trường hợp như thế.


Có thể nói chính sách «biệt vô tăm tích» là quốc sách rất thâm và cực kỳ độc ác, phi nhân có tính toán của đảng CS trong thời chiến.

Nó được thực hiện cùng với chính sách cắt đứt triệt để quan hệ Bắc – Nam trong suốt gần 30 năm chiến tranh, nhằm triệt hạ mọi tình cảm ruột thịt, gia đình, bạn bè ở 2 miền, đặc biệt là giữa hàng triệu bà con di cư từ Bắc vào Nam với người thân ngoài Bắc, buộc phải coi nhau là thù địch, cũng là để bóp ngẹt tinh thần phản chiến âm thầm của bà con ta ở cả 2 miền.


Đây phải chăng cũng là một tội ác, trời không dung đất không tha, của đảng CS để làm nên cái gọi là toàn thắng giả tạo và tạm thời cách đây 40 năm?



Bồi bút Bùi Tín tiếp tục chạy tội cho VC!!!


Hữu Nguyên ( huunguyen@saigontimes.org)



Các loại bồi đều vô cớ bị ô danh
Bởi ông bạn cùng nghành
Có học có hành hẳn hoi là bồi bút.

(Bồi Bút - Nguyễn Chí Thiện)


Đọc bài, Cuộc chiến ‘biệt vô tăm tích’ của Bùi Tín, những người am tường Chiến Tranh Việt Nam đều không đồng ý khi Bùi Tín nhận định Chiến Tranh Việt Nam là một cuộc NỘI CHIẾN. Bùi Tín viết: “Cuộc nội chiến Nam - Bắc ở Việt Nam đã chấm dứt được mấy mươi năm, biết bao tài liệu sách báo, hồi ký đã được viết ra, biết bao tư liệu tuyệt mật của các bên đã được công bố, nhiều cánh cửa đã được mở ra để nhìn rõ bản chất, nguyên nhân, diễn biến, các góc cạnh của cuộc chiến.”

Quan điểm cho rằng Chiến Tranh Việt Nam là một cuộc NỘI CHIẾN đã hiện diện trong đầu óc phần đông người ngoại quốc cũng như một số người Việt thuộc loại ba phải, vì họ không hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam, tham vọng của đảng cộng sản Việt Nam và chính sách xuất cảng cách mạng nhuộm đỏ toàn cầu của cộng sản quốc tế.


Riêng Bùi Tín, theo VC từ năm 18 tuổi, có 45 năm tuổi đảng, là một sĩ quan cấp tá trong quân đội VC và là một nhà báo, trực tiếp tham chiến trong đoàn quân xâm lăng của VC, lại có tới 25 năm sống ở hải ngoại, đọc “biết bao tài liệu sách báo, hồi ký đã được viết ra, biết bao tư liệu tuyệt mật của các bên đã được công bố, nhiều cánh cửa đã được mở ra để nhìn rõ bản chất, nguyên nhân, diễn biến, các góc cạnh của cuộc chiến”, chắc chắn hơn ai hết, Bùi Tín phải thừa biết, Chiến Tranh Việt Nam là một cuộc chiến xâm lăng do CS quốc tế cùng CS Hà Nội chủ xướng, và trong số những người thực hiện có chính bản thân Bùi Tín. Vì vậy, khi viết Chiến Tranh Việt Nam là một cuộc NỘI CHIẾN, rõ ràng Bùi Tín đã cố ý gỡ tội xâm lăng Miền Nam cho VC, giúp VC (trong đó có Bùi Tín) trốn thoát tội ác đã gây nên cái chết của 5 triệu người Việt Nam. Chứng minh tội trạng của y, chúng tôi xin trình bầy 2 điểm chính:

I. Bản chất chiến tranh VN;

II. Bản chất Bùi Tín.


BẢN CHẤT CHIẾN TRANH VIỆT NAM


Trong bài “40 Năm Quốc Hận 30.4”, chúng tôi đã khẳng định, Chiến Tranh VN là cuộc chiến CS BẮC VIỆT XÂM LĂNG MIỀN NAM và quân dân VNCH PHẢI CHIẾN ĐẤU CHỐNG XÂM LĂNG. Sau đây, là một đoạn trong bài viết.


Nếu nhìn vào bản chất cùng nguyên ủy dẫn đến cuộc chiến tranh Việt Nam ta sẽ thấy đó là một cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam do cộng sản Bắc Việt chủ trương với sự hậu thuẫn của CS quốc tế. Nếu nội chiến là cuộc chiến tranh bắt nguồn từ những mâu thuẫn về quyền lợi giữa các thế lực trong một quốc gia thì trái lại, xâm lăng là cuộc chiến tranh của một quốc gia nhằm thôn tính bờ cõi, lãnh thổ một quốc gia khác có chủ quyền.


Trong chiến tranh VN, ngay từ năm 1954 dưới sự chỉ đạo của cộng sản quốc tế, cộng sản VN đã cố tình gài người ở lại miền Nam với trách nhiệm phá hoại, nằm vùng hậu thuẫn cho cuộc xâm lăng thôn tính Miền Nam sau này. Đến nghị quyết hội nghị lần thứ 15 của ban chấp hành trung ương đảng cộng sản khóa 2 thông qua vào tháng 1 năm 1959 cũng ghi rõ sách lược đưa bộ đội chính quy cùng vũ khí của Nga, Hoa từ Bắc vô Nam để thực hiện cuộc xâm lăng Miền Nam. Thi hành nghị quyết này, không đầy 5 tháng sau, ngày 19 tháng 5 năm 1959, cộng sản Hà Nội cho thành lập tuyến đường vận tải quân sự chiến lược gọi là đường mòn Hồ Chí Minh. Kể từ đó, binh lính, vũ khí lũ lượt đổ vào Nam. Hậu quả của việc đưa người, vũ khí vào Nam đã dẫn đến một loạt biến cố tại Bến Tre, Ấp Bắc vào cuối năm 1959, đầu năm 1960.


Ngày nay, ngay cả những trang web điện tử chính thức của CSVN cũng xác nhận, sự hiện diện của cái gọi là “Quân đội nhân dân Việt Nam” và đảng cộng sản Việt Nam tại Miền Nam ngay từ cuối thập niên 1950. Cụ thể, trang web của chính phủ VC đã ghi rõ, Nguyễn Tấn Dũng sinh 17.11.1949 tại Cà Mâu, 17.11.1961 tình nguyện vô du kích, 12 tuổi đã “tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam”, và được kết nạp đảng CSVN ngày 10.6.67.


Như vậy rõ ràng đây là một cuộc chiến xâm lăng mà cộng sản quốc tế gọi là xuất cảng cách mạng nhằm thôn tính Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia có chủ quyền, có dân, có chính phủ và quốc gia đó đã được quốc tế công nhận. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một tổ chức bù nhìn do cộng sản nặn lên, nhằm tạo cho cuộc chiến tranh tại Miền Nam là một cuộc nội chiến đã hoàn toàn bị rữa nát và bị chính cộng sản Hà Nội khai tử ngay sau khi chiếm được Miền Nam.


Đồng ý phần lớn những người tham gia cuộc chiến tranh VN ở cả hai bên chiến tuyến đều là người Việt Nam, nhưng điều đó không phải là yếu tố then chốt để kết luận cuộc chiến tranh đó là cuộc nội chiến. Nếu chỉ căn cứ vào yếu tố đồng chủng ở hai bên chiến tuyến mà đi đến kết luận đó là cuộc nội chiến thì e rằng, nếu Trung Cộng xua quân đánh Hồng Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, hoặc Bắc Hàn xua quân chiếm Nam Hàn… ta cũng cho đó là những cuộc nội chiến hay sao?


BẢN CHẤT BÙI TÍN


Theo GS Trần Đình Ngọc, cựu Dân Biểu VNCH, Bùi Tín là con của Bùi Bằng Đoàn, một người đã làm quan đến chức Thượng Thư, nhờ lòng trung thành với thực dân Pháp, tiếp tay Pháp giết cơ man là người chống Pháp giành Độc lập cho Việt Nam. Khi VC cướp chính quyền năm 1945, Bùi Bằng Đoàn khôn ngoan quay sang cộng tác với Hồ Chí Minh. Là quan to trong triều đại phong kiến, lại cộng tác đắc lực cho thực dân Pháp, trực tiếp nhúng tay vào máu của không biết bao nhiêu người chống Pháp trong đó có cả VC, nhưng Bùi Bằng Đoàn vẫn được VC tin tưởng cho làm Chủ tịch Quốc Hội hai nhiệm kỳ. Như vậy đủ thấy BBĐ là con người tàn nhẫn, độc ác, quyền biến và xảo quyệt như thế nào.


Nhờ mang trong người dòng máu tàn nhẫn, độc ác, quyền biến và xảo quyệt của cha, nên ngay khi tình nguyện theo VC vào năm 1945 khi mới 18 tuổi, Bùi Tín đã được VC trao nhiệm vụ ám sát, thủ tiêu những thành phần đối nghịch với Cộng Sản, đặc biệt là các đảng viên VNQDĐ. Mô tả sự tàn ác và khát máu của Bùi Tín, trong bài, “Tại Sao Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Không Hoan Nghinh, Đón Nhận Bùi Tín?”, LS Lê Duy San viết: “Chính ông Võ Tử Đản cho biết Bùi Tín đã giết cha ông là Võ Bào, đảng viên VNQDĐ, 2 người chú của ông là Võ Sỏ, Võ Liêu và một số người dân Quảng Trị vào năm 1947, 1948. Ông Võ Tử Đản kể: “Mặc dầu tuổi đời đã 82, tôi vẫn không bôi xóa được cảnh tượng ghê rợn, thê thảm trong một đêm trăng nhiều mây mù của trung tuần tháng 3 năm 1947, tại làng Nại Cửu, xã Phong La (nay là xã Triệu Đông), quân Triệu Phong. Bùi Tín, với đôi mắt rực lửa căm thù, dùng báng súng Sten đập mạnh vào người ông thân sinh tôi 5 lần đến gục ngã, sau khi 2 tên tự vệ của Bùi Tín dùng mã tấu chém xối xả vào thân, vào mặt. Biết cha tôi đã chết, Bùi Tín dùng chân đá xác ông xuống sông Vĩnh Định, nơi này cách chỗ cư ngụ của cha tôi khoảng 100 thước. Hiện tại, ngoài tôi ra còn có hai nhân chứng đã mắt thấy, tai nghe lời kết án và hành động sát thủ dã man của Bùi Tín. Họ vẫn còn sống, ông Võ Di ở tại làng Nại Cửu và ông Trần Cận (một trong 6 tên tự vệ đã cùng đi với Bùi Tín đêm hôm đó) ở tại Thị xã Đông Hà, Quảng trị.” Khi bị chính ông Võ Tử Đản tố cáo và hạch tội, Bùi Tín đã phủ nhận và nói rằng với chức vụ Đại Đội Trưởng của ông[dưới ông còn có nhiều người, ý muốn nói] ông đâu cần phải đích thân ra tay như lời ông Võ Tử Đản nói”.


Qua đoạn trích trên, có hai điểm quan trọng cần đề cập. Thứ nhất, tuy không có tài liệu nào công bố số lượng người đã bị Bùi Tín giết hại, nhưng chính Bùi Tín đã xác nhận việc thăng chức quá nhanh chóng của ông: vào tháng 3 năm 1947, nghĩa là chưa đầy 2 năm theo VC, ông đã giữ chức đại đội trưởng đại đội ám sát của VC. Ai cũng biết, muốn thăng chức phải có công trạng. Công trạng của một người trong ban ám sát như Bùi Tín chắc chắn phải dựa trên số người Bùi Tín đã ám sát. Điều đó đủ thấy tội ác của Bùi Tín khủng khiếp, ghê rợn và vượt chỉ tiêu đến thế nào.


Thứ hai, khi Bùi Tín nói, “với chức vụ Đại Đội Trưởng của ông ông đâu cần phải đích thân ra tay như lời ông Võ Tử Đản nói”, đủ cho ta thấy một sự thật, trước khi trở thành Đại Đội Trưởng, Bùi Tín đã đích thân ra tay giết hại nhiều nạn nhân một cách tàn nhẫn và khát máu đúng như lời ông Võ Từ Đản nói.


Trong những năm Cải Cách Ruộng Đất kinh hoàng trên Miền Bắc, bản chất độc ác, tàn nhẫn và khát máu của Bùi Tín lại càng có điều kiện tung hoành khủng khiếp. Sự thật, chắc chắn trong số hàng trăm ngàn cán bộ CCRĐ của VC vào thời điểm đó, hiếm có ai độc ác, tàn nhẫn và khát máu từ đời cha đến đời con như Bùi Tín. Và cũng hiếm có ai được VC giao nhiệm vụ thủ tiêu ám sát mà có thể giết người vượt kỷ lục, giết tàn nhẫn để thăng chức nhanh chóng như Bùi Tín. Như vậy, chắc chắn trong số mấy trăm ngàn nạn nhân bị thảm sát trong thời kỳ CCRĐ, rất nhiều người đã bị cán bộ đội CCRĐ Bùi Tín, trực tiếp hoặc gián tiếp giết chết.


Khi VC tiến hành cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam, bản chất độc ác, tàn nhẫn và khát máu của Bùi Tín lại có điều kiện tung hoành một cách đầy thủ đoạn và xảo quyệt qua bút hiệu Thành Tín. Chắc chắn, trong thế giới văn chương chữ nghĩa sặc sụa mùi tuyên truyền, xuyên tạc mọi sự thật để phục vụ VC, xua quân xâm chiếm Miền Nam, bồi bút Bùi Tín đã chứng minh được thân phận hết lòng khuyển mã cho đảng, nên đã leo tới chức Đại Tá, Phó tổng biên tập báo Nhân Dân, kiêm Tổng biên tập tuần báo Nhân Dân Chủ Nhật. Như vậy, khi hàng triệu thanh niên Miền Bắc bị VC đẩy vô cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam gây tội ác qua chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”, chắc chắn có tội ác to lớn của “bồi bút Thành Tín”.


Cuối năm 1990, Bùi Tín sang Pháp rồi quyết định “xin tỵ nạn” với lý do “để đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho VN”. Tuy nhiên, với 45 năm là “tội đồ của dân tộc” (như LS Lê Duy San khẳng định), trong suốt 25 năm sống ở hải ngoại, Bùi Tín chưa hề kể và chính thức xin lỗi về những tội ác kinh tâm động phách mà ông đã phạm. Trái lại, Bùi Tín còn tự hào với những chiến công y đã tạo dựng trên xương máu của không biết bao nhiêu người vô tội. Suốt thời gian ở hải ngoại, Bùi Tín đã viết nhiều bài vở, nhằm chạy tội một cách tinh vi cho VC. Hiểu rõ bản chất bất nhân, độc ác, man rợ của Hồ Chí Minh, Bùi Tín vẫn tìm mọi cách bệnh vực Hồ Chí Minh là người yêu nước thương dân. Và đến hôm nay, 40 năm sau khi Chiến Tranh VN kết thúc, Bùi Tín vẫn tiếp tục tìm cách chạy tội cho VC, bằng cách viết bài cho rằng Chiến Tranh VN là một cuộc NỘI CHIẾN. Điều đó cho thấy, Bùi Bằng Đoàn, Bùi Tín và VC là một. Vì là một, nên khi chạy tội cho thân phụ Bùi Bằng Đoàn và chính bản thân mình, bồi bút Bùi Tín không thể không chạy tội cho VC.


Quả thật, đáng xấu hổ cho một kẻ cầm viết như Bùi Tín! Và cũng thật đáng thương cho những ai tin Bùi Tín!

Hữu Nguyên
huunguyen@saigontimes.org

No comments: