Wednesday, July 11, 2018

Những ngày vui của Tự Lực Văn Đoàn (I)

 TLVD

Những ngày vui là tên một tác phẩm của Khái Hưng xuất bản vào năm 1941. Tác phẩm này vô tình trùng hợp với những ngay vui của Tự lực văn đoàn trước năm 1940.
1932, Nhất Linh trở về nước sau khi đậu bằng cử nhân sinh vật rồi từ bỏ con đường mòn làm quan phụ mẫu, dấn thân vào nghề dạy, theo đúng tôn chỉ không tiến vi quan mà đạt vi sư, rồi làm báo khi gặp bạn đồng tâm là Khái Hưng. Để thực hiện giấc mộng dùng báo chí để cải tạo văn học và dân sinh Nhất Linh đã mua lại tờ Phong hóa của Phạm Hữu Ninh và đổi mới từ nội dung đến hình thức.
 Tờ Phong hóa được độc giả đón nhận nồng hậu vì nó thổi một luồng sinh khí vào báo giới lúc đó khô khan, nhạt nhẽo vì luẩn quẩn trong thứ tiểu thuyết ngôn tình bi đát hay trong những bài khảo luận hoặc thuyết lý nặng nề. Phong hóa cũng mang lại tiếng cười, dù là cười gượng, vào trong không khí ngột ngạt, bế tắc đè nặng tâm tư mọi người sau vụ thực dân Pháp đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa Yên Báy (1930). Đặc biệt tờ báo còn là nơi cổ xúy cho sự đổi mới thi ca tạo ra thơ mới, một phong trào thi ca quan trọng nhất trong thế kỷ 20.
Cũng vì báo bán với giá rẻ và phổ cập khắp nơi như giáo sư Phạm Thế Ngũ nghi nhận “trong vài tháng số in lên vùn vụt từ ba ngàn số đến mười ngàn. Tháng ba năm sau –1933– sau khi số Xuân ra đời được độc giả hết sức hoan nghênh, Nguyễn Tường Tam thấy bọn mình quả là thành công mới tính chuyện hoạt động lâu dài, cùng anh em cộng tác viên thành lập một nhóm lấy tên là Tự lực văn đoàn”.
Tự lực văn đoàn gồm bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ và Nguyễn Gia Trí. Sau thêm Xuân Diệu và Trần Tiêu. Tú Mỡ kể lại nhóm của ông đã làm việc hăng say dưới sự chỉ dẫn của Nhất Linh: “Anh Tam thuê một cái nhà nhỏ ở ấp Thái Hà để mấy anh em làm việc. Tôi đi làm thì chớ, về đến đấy là bàn bạc về cái tôn chỉ của nhà báo và soạn bài vở cho đủ in trong sáu tháng. Anh Tam vừa viết vừa vẽ. Anh đặt ra mục này mục nọ, giao cho mọi người. Anh có lối làm việc rất khoa học. Anh đã giao cho ai việc gì thì có chuyên việc ấy. Nhiều lúc tôi muốn viết bài về loại khác, anh khuyên chỉ nên chuyên về một lối. Có lẽ là một điều rất hay cho chúng tôi. Tôi có thể nói anh Tam là người đã tạo ra Tú Mỡ vậy”.
Tờ Phong hóa, rồi tờ Ngày nay (1936) đua nhau vùng vẫy trên văn đàn cùng với nhà Đời này xuất bản sách của văn đoàn và tác phẩm hay của các văn hữu khác. Nhờ giải thưởng Tự lực văn đoàn hằng năm mà những nhà thơ như Nguyễn Bính, Anh Thơ, Tế Hanh sớm lên thi đàn, và Đỗ Đức Thu, Bùi Hiển có cơ hội sớm gia nhập vào hội tiểu thuyết, còn Vi Huyền Đắc vào sinh hoạt sân khấu. Đó là những chuỗi ngày vui trong khoảng những năm từ 1932 tới 1940 của Tự lực văn đoàn. Ngày đó, tài chính của văn đoàn xem ra dư dả, anh em hoạt động sát cánh, phân chia mỗi số báo một người chịu trách nhiệm, vượt lên khỏi các báo của đối thủ như tờ Tiểu thuyết thứ bảy của nhóm Tân Dân, tờ Hà nội báo do nhà Hồng Khê tài trợ. Tại đỉnh điểm thành công, Tự lực văn đoàn là hải đăng thu hút những nhà văn và độc giả thích văn chương, chẳng khác một thứ Lương sơn bạc trong lãnh vực văn học. Tú Mỡ dẫn đường cho Thế lữ gặp Nhất linh, Thế lữ đưa Xuân Diệu gia nhập nhóm và Xuân Diệu đưa Huy Cận lại Phong hóaNgày nay và trở thành một kiện tướng của nhóm này. Ngoài ra, còn các ngôi sao khác hội tụ quanhcác tờ báo của văn đoàn như Vũ Đình Liên, Phạm Huy Thông Đoàn Phú Tứ
Ghi lại một số nét sinh hoạt văn học nhộn nhịp và nhân vật của văn đoàn ngày ấy có các hồi ký của Tú Mỡ, Đinh HùngHuy Cận. Chúng ta nghe Huy Cận kể lại những ngày vui của văn đoàn qua hình ảnh khả ái và cuộc sống nghệ sĩ của hai nhân vật chính của văn đoàn là Nhất LinhKhái Hưng:

“Trong trò chuyện cả Nhất Linh và Khái Hưng đều xen những câu hóm hỉnh, một thứ hu-mua rất Việt Nam, nhưng ở Nhất Linh thì kín đáo và đượm chút trữ tình, còn ở Khái Hưng thì bộc lộ thoải mái và điểm những tiếng cười, y như các cụ ta ngày xưa khi bàn chuyện tâm đắc với nhau. Về sau lúc tôi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Nông lâm, tôi còn thường gặp Nhất Linh ở tòa soạn báo Ngày Nay. Có khi anh còn rủ tôi về chơi nhà anh ở thị xã Hà Đông vào một dịp Tết. Lúc đó Nhất Linh đang viết truyện dài Bướm trắng, anh có khoe với tôi là đã viết được gần nửa truyện rồi. Nhất Linh viết truyện trên những quyển vở gạch carô, và viết bằng bút chì vót thật nhọn, chữ viết đều đăn và chữ nhỏ. Trên trang bản thảo ít có chỗ chữa, thoảng hoặc có thêm câu nào thì móc ra ở ngoài lề như kiểu ta chữa bản mo rát của nhà in đem tới. Anh khoe với tôi là viết tiểu thuyết như vậy, anh không hề có đề cương trước, có dàn bài trước, hay nói cho đúng hơn là anh có một thứ dàn bài mơ hồ trong tâm trí, một thứ khung của câu chuyện. Rồi thì anh xông vào viết truyện, mặc cho các nhân vật lôi cuốn anh đi. Anh cũng cho biết có khi anh chủ động dẫn nhân vật qua các ngõ ngách của cuộc đời, nhưng cũng lắm khi nhân vật mà anh đã tạo ra lại cưỡng lại anh và sống theo cái đời tự lập của chúng. Sự vật lộn giữa tác giả và nhân vật có lẽ khá sâu sắc trong truyện Bướm trắng này, là một tiểu thuyết không có luận đề xã hội bộc lộ như những truyện Đoạn tuyệt hay Lạnh lùng. Ở hai quyển tiểu thuyết này tác giả đã phân công cho nhân vật sống những điều cần sống, và nói những điều cần nói, tất nhiên là có xúc cảm, nhưng số phận của nhân vật đã được tiền định trong tâm trí của tác giả. Có một thời vài ba năm, Nhất Linh như đã có “xu hướng xã hội” với tập truyện Tối tăm, mà anh đã lấy một câu của André Gide làm tiêu đề “Anh hãy tin chắc rằng cuộc đời có thể tốt đẹp hơn, cuộc đời của bản thân anh và cuộc đời của những người khác”. Thật ra, đó là xu hướng “Duy dân” (populiste) của Nguyễn Tường Tam, thể hiện trong các truyện của anh cũng như trong phong trào làm nhà “ánh sáng” mà anh cổ động, mà kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đã hào hứng tham gia, vận động nông dân và người nghèo thành thị làm những nhà mái tranh, vách toóc si, bốn phía có mái hiên rộng và mở nhiều cửa sổ để cho “nắng gió ùa vào cái đời tăm tối nơi bùn lầy nước đọng”. Nhất Linh đã chủ trì phong trào “nhà ánh sáng” một cách thực lòng, hào hứng và tin tưởng là mình làm một việc xã hội có ích. Cái sức hấp dẫn của Nhất Linh, cái sức tập hợp của anh với tư cách là giám đốc Tự lực văn đoàn chính là cái lòng tin đó, chính là cái lòng hoài bão của anh đối với tiền đồ văn học nước nhà, tất nhiên là theo quan niệm của anh. Nhất Linh đã đi học Pháp gần 5 năm, cùng một lứa du học với anh Nguyễn Mạnh Tường, nhưng anh Tường thì học về văn chương, mà Nhất Linh học khoa học, anh đã đậu cử nhân khoa học về thiên nhiên học, đặc biệt là về sinh vật học. Nhất Linh vẽ rất khéo, đặc biệt là vẽ những côn trùng, những con vật để minh họa những câu chuyện nửa văn chương, nửa khoa học của anh đăng trên báo Phong hóa. Anh cũng đã minh họa tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng bằng những nét vẽ rất gợi cảm; những tháng anh đã học trường mỹ thuật trước kia không phải là vô ích. Học khoa học nhưng về nước thì anh cùng Khái Hưng lo xây dựng sự nghiệp văn chương, hơn là đi dạy học như đa số những bạn du học như anh. Nhất Linh lại có một hồi mê học nhạc, đặc biệt là mê thổi kèn Clarinét; thường tôi đến tòa soạn báo Ngày nay hay gặp anh thổi những bài nhạc theo những điệu hát trong các phim nổi tiếng hồi bấy giờ là bài Horsay, Nàng Bạch Tuyết và bảy chàng lùn… Thỉnh thoảng anh cũng thổi một vài bản nhạc cổ điển Âu Tây ngắn như bài Sêrênát của Sube, bài Ánh trăng của Bitôven… Lúc Nhất Linh chúm môi thổi Clarinét thì vẻ mặt anh trầm lắng, hai mắt say sưa, thật dễ gây cảm tình. Có người đã nói với tôi là có một bà lần đầu tiên gặp Nhất Linh trong lúc anh đang thổi kèn như vậy là đắm say ngay và về sau mối tình dai dẳng mãi, mỗi một lần bà ta định cắt đứt thì lại gặp tiếng kèn kia đầy tình cảm níu lại. Cũng có người về sau bảo với tôi rằng Nhất Linh thổi kèn Clarinét là để che mắt bọn mật thám đấy thôi. Anh vờ say âm nhạc để đánh lạc hướng bọn phòng nhì, và lấy cớ liên hoan kèn hát để tập hợp những người cùng chí hướng tại Đầm Vạc (Vĩnh Yên), hay tại một đồn điền của người bạn quen ở Vĩnh Yên. Dầu sao thì tiếng kèn Clarinét của Nhất Linh cũng để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc cũng như tiếng đàn tam thập lục của Thạch Lam. Trong ánh mắt của Nhất Linh tôi cảm thấy vừa có một sự tin yêu đằm thắm, một sự say mê nung nấu, lại vừa có chút gì như là điên, như là ánh sáng thỉnh thoảng chớp lên một niềm điên. Về sau, lúc cuối đời, người ta bảo Nhất Linh có phần điên trong tâm tưởng. Nếu quả có thế, thì cái hạt nhân điên đã thoảng hiện trong những năm minh mẫn của anh và có lẽ đó cũng là một yếu tố làm nên cái tâm hồn say mê của nhà văn và làm nên sức hấp dẫn của người thủ lĩnh của Tự lực văn đoàn. Thích nhạc, Nhất Linh rất thích nghe hát và trong những buổi gặp nhau, anh hay cù rủ anh Xuân Diệu hát những bài hát dân tộc ba miền mà anh Xuân Diệu rất thuộc như: Nam ai, Nam bình, hò Huế, vọng cổ, Trường tương tư, Xàng sứ líu (cải lương Nam bộ), bống mạc sa mạc (nhạc Bắc), và những bài hát mới lúc đó như Con thuyền không bến, Đêm đông, Cánh bướm trắng và một số bài hát bằng tiếng Pháp, trích trong phim nổi tiếng lúc bấy giờ, những bài hát mà Tino Rossi đã hát và được lưu truyền khắp thế giới những năm ấy… Có khi Xuân Diệu hát thì Nhất Linh thổi kèn Clarinét điệp theo. Có một tết, Nhất Linh và Thạch Lam đã rủ anh Xuân Diệu và tôi về ăn Tết ở Cẩm Giàng (Hải Dương), nơi bà cụ của hai anh vẫn ở và sinh sống từ ngày ông cụ thân sinh của các anh còn làm quan ở huyện. Đêm giao thừa chúng tôi thức để đi bẻ lộc trong vườn, và sau khi ăn bát chè đậu xanh giữa phút giao thừa thì chúng tôi trải chiếu ngủ trên ổ rơm rất ấm và thỉnh thoảng ngâm thơ Thế Lữ: Thuở ấy đượm màu sương gió biếc – Trời mây huyền ảo đắm hồn thơ – Cây im vin bóng um tùm lá – Sông thẳm nguồn sâu nước đợi chờ… Ấn tượng tổng quát mà Nhất Linh để lại trong tôi ở giai đoạn ấy là một tâm hồn nghệ sĩ say mê, một người đứng đầu một trường phái văn học có hoài bão, một người bạn văn chương có con mắt sành biết khám phá và biết ủng hộ những tài năng. Đó là giai đoạn đẹp trong đời Nhất Linh. Nhất Linh có nhiều con. Bà vợ Nhất Linh là Nhất Linh đã cưới đúng theo nghi lễ của một gia đình “gia giáo ít nhiều thế phiệt” buôn cau ở phố Hàng Cau. Bà là một người vợ đảm đang, lo mọi việc gia đình, để chồng mình có thể toàn tâm lực làm việc xã hội, làm báo, làm văn. Có lần Nhất Linh tâm sự với tôi: “Chắc anh sẽ hỏi tại sao tôi có nhiều con. Có gì đâu! Bà vợ tôi thích đẻ con, vì bà ta cho biết mỗi lần mang thai thì sức khỏe của bà tốt lên, thấy yên ổn trong người. Thụ thai với mang thai đối với vợ tôi là một hạnh phúc. Đó là một hạnh phúc cụ thể, vừa cơ thể vừa tâm hồn, đó là kinh nghiệm của tôi, hay đúng hơn là kinh nhgiệm của bà vợ tôi”. Nhất Linh nói mấy câu đó với một nụ cười tình cảm, tỏ lòng biết ơn đối với người vợ đoan trang và đảm đang của mình. Có lần Nhất Linh cũng nói với tôi: “Làm vợ một nhà văn nhiều khi cũng phiền, và cũng thiệt, phải hy sinh nhiều. Cứ xem vợ ông Tú Xương thì rõ: Quanh năm buôn bán ở mom sông – Nuôi đủ năm con với một chồng – Lặn lội thân cò khi quãng vắng – Eo sèo mặt nước lúc đò đông” (thơ Tú Xương mà Nhất Linh đọc thuộc lòng, với một giọng như là mượn lời thơ trên đây để tỏ lòng biết ơn vợ, mặc dù bà Nhất Linh không đến nỗi vất vả, tần tảo như bà Tú Xương). Nhất Linh đông con mà Khái Hưng lại không có con. Bà Khái Hưng là con gái một gia đình quan lại, nề nếp nho phong, sống giữa xã hội Hà Nội, nhưng năm 30 mà cứ như là một phụ nữ khuê các ngày xưa, dáng dấp e lệ, kín đáo. Khái Hưng và Nhất Linh là hai bạn rất thân mặc dầu tình bạn đó đã được xây dựng lúc hai người đã lớn tuổi, sau khi Nhất Linh đi học ở Pháp về, khi hai người gặp nhau cùng dạy học ở trường Thăng Long, lúc đó Nhất Linh khoảng 26 tuổi và Khái Hưng 36 tuổi. Vì tình bạn đó mà Nhất Linh đã cho đứa con trai của mình tên là Triệu làm con nuôi của vợ chồng Khái Hưng, và em Triệu này lấy họ bố nuôi, thành Trần Triệu. Một kỷ niệm vui nữa của Nhất Linh đối với tôi là khi tập Lửa thiêng của tôi sắp đem in thì tôi hỏi Nhất Linh muốn tôi tặng bài thơ nào. Nhất Linh lật qua các trang thơ đã đánh máy, dừng lại bài Áo trắng: “Anh cho tôi bài thơ này”. Tôi hỏi: “Chắc anh có một kỷ niệm gì liên quan đến tình cảm của bài thơ?” – “Đúng thế, trong đời tôi cũng có một cô áo trắng”. Sau khi đề tặng Nhất Linh bài này, thì có một người khác trong Tự lực văn đoàn cũng muốn tôi tặng bài đó. Thì ra trong đời hầu như ai cũng có một cô áo trắng! Về sau đọc tiểu thuyết của Nhất Linh tôi có chú ý rằng Nhất Linh đã một vài lần tả chiếc áo trắng của người trong truyện, đặc biệt là trong một đoạn của Bướm trắng tác giả đã tả chiếc áo trắng phơi trên dây còn bay ra mùi hương da thịt làm đắm đuối một nhân vật đứng ngắm chiếc áo. Chắc hẳn tác giả đã vận dụng kỷ niệm, đã sống lại kỷ niệm say sưa của mình đẩ viết đoạn văn trên.
Nhân nhắc đến bài Áo trắng, tôi xin ghi thêm kỷ niệm sau đây. Lúc đó là mùa đông 1940, anh Xuân Diệu đã vào Mỹ Tho làm tham tá nhà đoan, tôi vẫn ở gác hàng Than ngày ngày đi học ở trường cao đẳng, áo quần mùa đông vừa đủ mặc, có chiếc áo len mỏng, nhưng không có áo bành tô. Một chiều rét như vậy tôi ghé tờ báo để lấy báo thì gặp Nhất Linh sắp bước ra về. Anh thấy tôi ăn mặc có vẻ sơ sài liền hỏi: “Anh không có bađơxuy à?” Tôi đáp: “Làm gì có! Nhưng cũng không rét lắm”. Anh liền cởi bađơxuy anh đang bận, mặc vào cho tôi. Đó là một chiếc bađơxuy đã cũ, nhưng còn rất lành lặng, chưa đến nỗi bạc màu và may bằng một thứ dạ màu tím than rất nhẹ. Tôi cứ thế ra về với bađơxuy đầu tiên tôi có trong đời. Chiếc áo này tôi đã dùng ba năm, lúc đã sờn vai tôi mang về quê cho đứa em trai lúc đó đã bỏ học về nhà đi cày. Chiếc áo cũ của một nhà văn và một nhà thơ cũng làm anh trai cày có vẻ hãnh diện với bà con trong xóm trong những buổi chợ làng quê.
Về Khái Hưng tôi cũng ghi sau đây một vài kỷ niệm. Lần đầu tiên tôi gặp Khái Hưng cũng là những ngày Tết Mậu Dần (đầu năm 1938). Khái Hưng hơn Nhất Linh mười tuổi, người mảnh khảnh, nước da mai mái, mắt hơi mài mại. Dáng dấp của Khái Hưng rất nhẹ nhõm, chân đi không nghe tiếng, người ta bảo đó là tướng mèo, có thể là biểu hiện một sự thư thái, thoải mái trong tâm hồn, mà cũng có thể là biểu hiện một sự rụt rè, thiếu tự tin. Đó là cách nói của các thầy tướng, còn tôi thì tôi thấy Khái Hưng rất hoạt bát, rất cởi mở, gần như có lúc bộp chộp nữa. Khái Hưng cũng có cái cười hồn nhiên, chào đón, môi cười mà hình như mắt cũng cười theo. Khái Hưng ngồi làm việc, nghĩa là ngồi viết suốt ngày ở cái bàn to của phòng họp tòa báo giữa một đống báo ngổn ngang, bên cạnh luôn luôn có một cái kính lúp để thỉnh thoảng anh lại dùng để đọc những chữ quá nhỏ hoặc quá khó đọc trên một trang báo hay trong một quyển tự vị. Khái Hưng viết truyện dài đăng trên báo Ngày nay, thường là viết hằng tuần một, theo nhịp độ in tờ báo. Đó cũng là cách làm anh phải viết nhanh, viết kịp thời, những điều đó cũng ảnh hưởng đến sự trau chuốt câu văn, và ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự bố cục tình huống. Nói vậy thôi, chứ Khái Hưng viết truyện đã có dàn bài trước, tính cách nhân vật đã được nghiên cứu tương đối kỹ khi đặt bút viết, tất nhiên nhiều tình tiết sẽ được sáng tạo trong quá trình viết, trong quá trình văn đưa lên in trang báo. Còn văn của Khái Hưng thường thì trong sáng, trong trẻo nữa, và có những đoạn mang tính chất thơ như trong Hồn bướm mơ tiên, trong một số tập truyện ngắn của tập Dọc đường gió bụi. Văn của Khái Hưng còn một ưu điểm nữa là rất Việt Nam, một thứ văn Việt Nam mới, hiện đại nhưng tính dân tộc trong câu văn rất rõ. Khái Hưng đọc nhiều tiểu thuyết của phương Tây, và theo tôi biết anh đặc biệt thích đọc các tiểu thuyết của Somerset Maugham và của Dickens. Anh cũng đọc Stendhal, Flaubert và Balzac. Điều mà tôi quý nơi anh là anh còn ham đọc những sách chữ Hán, chữ Nôm của ông cha để lại (Khái Hưng hồi nhỏ đã học chữ Hán đến 12 tuổi rồi mới học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp). Khái Hưng trong lúc làm việc thích uống cà phê và nhờ bà vợ hoặc người nhà ra mua cà phê ở quán Joseph ở bên kia đường Quan Thánh, trước mặt tòa báo. Cũng có mấy lần anh mời tôi đi uống cà phê ở quán này, và tất nhiên là ăn bánh ngọt nữa. Ông chủ quán quen thân với nhà văn, biết tính nhà văn uống cà phê đậm nên bao giờ cũng cho lượng bột cà phê gấp rưỡi hoặc gấp đôi váo cái phin. Đối với các bài thơ của tôi đăng đều trên báo Ngày nay anh đều xem kỹ và mau thuộc. Rất nhiều lần tôi đến tòa báo gặp anh thì anh đọc một loạt mấy câu thơ trong những bài đã đăng trước đây, tỏ ra thích thú và có khi bình luận lý thú.
Khái Hưng mang cốt cách một người tài tử, thích ngao du nay đây mai đó, du sơn du thủy như một cụ nhà Nho ngày xưa. Những cảnh vật vùng trung du mà anh thường hay tả trong các truyện của anh (vùng Phú Thọ, vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, vùng Sơn Tây, Hòa Bình…) chính là những cảnh anh đang sống, đã thân thuộc, đã yêu mến với tấm lòng “lãng tử” của anh. Chính vì vậy mà thứ tình quê hương nhẹ nhàng nhưng thấm thía mà anh đã gợi lên trong văn của anh có sức hấp dẫn, có sức thuyết phục. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, cảnh đồng quê, cả ở vùng trung du và vùng đồng bằng, được gợi lên một cách đẹp đẽ và dễ cảm tình như vậy, khác hẳn với những cái cảnh “cổ điển” được ghép lại bằng những hình tượng vay mượn trong sách xưa của ta hay của Tàu.
Trong Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người chỉ đạo, nhưng Khái Hưng là lực lượng có thể nói là nền móng. Sức sáng tác dồi dào của anh, sự hoan nghênh của công chúng lúc bấy giờ đối với những tác phẩm của anh là chỗ dựa chính cho sự tồn tại của tờ báo Ngày nay và của nhà xuất bản Đời nay. Đối với hai chúng tôi – Xuân Diệu và Huy Cận – thì Khái Hưng cũng như những người khác trong Tự lực văn đoàn đều một lòng yêu nể, rất quý đôi bạn thơ này”.
(Hồi ký song đôi)

No comments: