Thursday, July 12, 2018



Họ Nguyễn Làng Vĩnh Lộc

Featured

Họ Nguyễn ta có gia phả từ đời Ông Thành vị tổ thứ 3 . Ông Thành giỏi về khoa phong thủy, Ngài đem mộ ông nội húy Nguyễn Chiêm­ (­1) là thủy tổ của họ vào khai hoang lập ấp ở đây lên cát táng tại xứ Lèn Am ( Xã Quảng Sơn) là nơi cát địa . Ngài sợ con cháu sau này quên những ngày húy lạp và mồ mã ông cha mới làm gia phả của dòng họ ( lời kể lại của các cụ lão thàng trong họ) . Những vị tổ kế tiếp ghi danh sách con cháu truyền từ đời này qua đời khác mãi mãi về sau …
–  Gia phả do tộc trưởng giử
–  Năm 1970 tháng 6 Canh Tuất  Ông Nguyễn Mạnh Sừ(2) đời thứ 13 chi Ông Công Tôn cùng con trai trưởng Nguyễn Văn Biếc(3) đến nhà trưởng tộc Nguyễn Tri Ân (4) ở Giáp Đoài mượn gia phả Hán phiên âm quốc ngữ toàn chi II từ đời thứ 7 trở về sau chép thành 2 bản. Một bản giao trưởng chi II Nguyễn Tùy và 1 bản giử lại .
– Cách đây 21 năm giấy mực đã phai nhạt nên cuối thu Tân Mùi 1991 phải sao lại cho rõ ràng . Bút tích do Ông Biếc sao và ghi tiếp danh sách, có sơ đồ phân hệ thứ tự từng nhánh , có thêm bản đồ mộ chí 2 nghĩa địa Đồng Vụng ( nghĩa địa bên Hợp Hòa)
và Nền Chùa củ ( Ở Vĩnh Lộc)
* Chú thích : (1) Có truyền di tích sau khi ông Thành mất các con cháu đi làm quan xa bận việc công và không may khu rừng nơi mộ ông Chiêm bị hỏa tai xóa mất dấu vết không tìm được, sau phải làm cốt dâu đầu gáo để thay thế và táng tại xứ Cồn Ngô gần cửa Hác . tháng 4 năm 1970 cất bốc về nghĩa địa Đồng Vụng
(2) Ông Nguyễn Mạnh Sừ khi qua chép lại phần gia phả, ông đã 72 tuổi
(3) Ông Nguyễn Văn Biếc năm sao lại bản này ông mới 70 tuổi
(4) Ông Nguyễn Tri Ân ở tòa án về hưu khi qua nhà ông cho mượn để ghi lại gia phả ông mới 60 tuổi
–  Quyển gia phả này tốn nhiều công sức của tuổi già, con cháu trong gia đình dùng khi cần tra khảo . Tuyệt đối không cho một ai mượn đem đi chổ khác quá cửa .
                                                                                    Nguyễn Văn Biếc
           ( Phần lời trình bày là nguyên văn chử ông Biếc ghi ở trang đầu quyển gia phả của ông chép lại)
    – Do chử ông Biếc ghi bằng bút mực cách đây đã 26 năm nên có một số chử đã nhòe . Vì vậy để con cháu ai củng có gia phả họ mình khi cần tra cứu . Mùa hè tháng 6 năm Đinh Dậu (2017) Ông Tú ( 60 tuổi ) đã dựa vào gia phả ông Biếc ghi, sang nhà ông Nguyễn Tri Cần trưởng tộc đời thứ 15 để đối chiếu lại gia phả họ, dựa vào tài liệu : DANH NHÂN QUẢNG BÌNH –  TUYỂN  TẬP : BÁO CÁO KHOA HỌC HỘI THẢO QUỐC GIA về THƯỢNG THƯ ĐẠI HÀNH KHIỂN TRẦN BANG CẨN QUA DI TÍCH , LỄ HỘI TẠI LÀNG VĨNH LỘC  của nhà nghiên cứu Tạ Đình Hà (Sở văn hóa, thể thao và du lịch Quảng Bình ) tài liệu : LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ XÃ QUẢNG LỘC và đến các nhánh ghi tiếp con cháu đời thứ 15, 16, 17 chụp ảnh một số di tích , một vài ý kiến riêng ghi lại trên máy thành quyển GIA PHẢ NGUYỄN TỘC ĐẠI TÔN này và gửi lên mạng cho con cháu rõ.
LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN VĂN Ở LÀNG VĨNH LỘC
– Thần Thành Hoàng làng Vĩnh Lộc là Hoàng tử vua Trần ông là Trần Bang Cẩn, giử chức thượng thư Đại hành khiển – Lĩnh ấn bình Lồi gia vương, phụng mệnh triều đình chinh phạt Chiêm Thành, mở mang bờ cỏi .( Đời vua Trần Minh Tông 1314 – 1357 )
Cụ thủy tổ Nguyễn tộc đại tôn húy Nguyễn Chiêm, quê Thanh hoa ngoại, được đặc cách bổ chức Tả phó quan, Kiêm đốc vận quân lương , cùng con là quan Yên Lễ Hầu ( Nguyễn Uyên ) từng rong ruổi xông pha ghi nhiều công trạng . sau khi yên giặc, thấy châu ma linh – Địa Lý là đất hoang nhàn, Ngài hợp cùng các tướng là các cụ thủy tổ họ Đinh, họ Hoàng cùng lưu lại lập ấp- an dân, đặt tên làng, làm sổ bộ. Trước đặt là Ấp Thị Lang , sau đổi thành làng Vĩnh Khang, đến thời triều Nguyễn ( Gia Long ) tên làng Vĩnh Khang (chử Khang ) phạm vào quốc húy . Nên làng mới giử nguyên chử Vĩnh thay chử Khang thành chử Lộc để giử ân lộc vua ban . Từ đó đến nay mang tên là làng Vĩnh Lộc .
( Nguyên văn trong gia phả họ Nguyễn tộc)

 – Theo tôi ( Nguyễn Anh Tú ) biết từ khoảng năm 1994 – 1998 trong họ cử người đi tìm quê gốc ( trong đó có ông Biếc, kết hợp con cháu ở xa như ông Đình, ông Sinh
 ( tiến sỷ ở H.Nội) ông Thụ ( tiến sỷ ở Ca- na- đa ) cứ cho Thanh hoa ngoại là tỉnh Hải Dương . các ông đã nhờ người dò tìm trong bản đồ và sách xưa Hải Dương không có địa danh nào có tên Thanh Hoa Ngoại . Năm 1998 ông Biếc và vài ông trong họ xuống làng Thuận Bài (phường Q.Thuận ) gặp ông Ma Văn Tròng. ông Tròng là Bí thư Đảng ủy xã Quảng Thuận lúc bấy giờ. Ông Tròng là trưởng tộc họ Ma . Họ Ma củng ở ngoài kia vào lập làng trước hoặc sau làng ta không lâu, nhưng không rõ .( tôi nghe ông Biếc kể lại, nhưng nay không nhớ rõ những ai cùng đi với ông.
 – Việc các ông đi tìm quê ông Chiêm ở Hải Dương hoặc Hà Tây là không đúng .Thanh Hoa Ngoại chử Hán có thể là ngoài Thanh Hoa . Mà tỉnh Thanh Hoa trước đây chính là tỉnh Thanh Hóa ngày nay .Vua Minh Mạng nhà Nguyễn(1820 – 1841) có bà vợ tên Hoa, bà sinh con thì mất sớm . Thương con dâu ngoan hiền chết sớm bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu ( vợ Nguyễn Ánh, mẹ vua Minh Mạnh)  trực tiếp nuôi cháu nội mồ côi  từ nhỏ đến lớn, Khi Minh Mạng nghe lời người vợ sau định lập con của bà này làm thái tử, nhưng bà Thuận Thiên kiên quyết không đồng ý, quyết giử đứa cháu mồ côi làmThái tử ( sau này là vua Thiệu Trị ). bà nói với vua Minh Mạng tránh gọi tên Hoa, tên Hoa trở thành Quốc húy, cho nên từ đó một số địa danh ở trong nước có tên Hoa phải đổi. ví dụ : Tỉnh Thanh Hoa đổi thành Thanh Hóa, chợ Đông Hoa ở Huế đổi thành chợ Đông Ba ….(Theo : Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn của Nguyễn Đắc Xuân)
  Vì sao mới thành lập làng là làng Vĩnh Lộc, mà nay con cháu 3 họ(Đinh – Nguyễn – Hoàng) sang ở và thành lập làng Hợp Hòa, nhà thờ họ Nguyễn và nhánh trưởng củng ở Hợp Hòa ( !… ?)
   Theo tôi suy luận  (Ô.Tú) Theo quy luật phát triển tự nhiên, trên trái đất này trước đây có nhiều vùng là sông, ao hồ, bải cạn, sình lầy … nay đã thành làng mạc trù phú . Hợp Hòa củng không nằm ngoài quy luật đó . Trước đây dân cư còn thưa thớt, dân Quảng Hòa chỉ ở từ Hòa Ninh trở lên mà thôi . Vùng Hợp Hòa lúc bấy giờ là vùng sình lầy với các cây sú, bần, năn, lác …. là nơi cò , vạc, cói ăn ở rất nhiều, thấy vậy dân làng Vĩnh Lộc sang đơm bắt và trồng lương thực( theo lời kể của các cụ cao niên thì vùng cuối làng Hợp Hòa trước những năm 1940 cò vạc rất nhiều cây cối um tùm đi ban ngày một mình còn sợ ma) . Buổi đầu làm chòi để trông coi, sau làm lán và chỉ chồng sang đơm bắt, do con sông Hòa Giang ngăn cách nên sự đi lại rất phiền phức , sau đưa vợ, rồi đưa con sang ở cho thuận tiện . Khi vợ con sang thì cơi nới thêm thành trại, thành nhà, tiếp tục sinh con đẻ cháu đông đúc thành làng . Phong tục ở ta khi con trai lập gia đình thì bố mẹ cho ở riêng, con út ở với bố mẹ . Có lẽ  vì tập tục đó mà con út là nhánh thứ ở lại làng, con trưởng là nhánh trưởng sang ở Hợp Hòa, trưởng tộc ở Hợp Hòa xây nhà thờ bên đó luôn . Không rõ dân sang ở thời kỳ nào ? Nhưng có lẽ phải sau đời thứ 7. Dù sang ở Hợp Hòa nhưng vẫn nhớ về cội nguồn, vẫn sang lễ ở điện Thành hoàng, gọi là giáp Đoài (V.Lộc giáp Đông) sau khi hòa bình lập lại (1954) Nhà nước phân chia địa giới, Hợp Hòa thuộc về Xã Quảng Hòa  (!.?…)
Bên chi trưởng chỉ có nhánh anh em ông Bá, sinh ông Thệ, ông Uyển, ông Lê nhà ở Bại rào, nay con ông Bá vào ở trong làng, ông Thệ con ông anh còn ỏ Bại rào, và nhánh ba anh em ông Lý Đống, ông Đắc, ông Đới ở đội 3 trong làng, nay sinh con đẻ cháu  vẫn ở làng V.Lộc . Bên chi thứ chỉ có ông Dầm, ông Khiển sang ở Hợp Hòa và sinh con đẻ cháu ở bên đó .
Gia Phả:
Advertisements
Report this ad
Report this ad

Làm Nhà Thờ Từ Đường-Nhánh Ông Vưu -Làng Vĩnh Lộc

                                                              LỜI  TỰA
Tiên tổ khảo, Tả phó tướng quân, Đốc vận lương bình Lồi khai khẩn tôn thần húy Chiêm. Quê Thanh Hoa ngoại, theo đức Thành Hoàng con vua Trần là Trần Bang Cẩn vào đánh tan giặc Lồi . Thấy châu Ma Lý hoang đồi cùng chung ba họ ( Đinh, Nguyễn , Hoàng ) trúc bồi giang san. Trước đặt ấp hiệu Thị Lang, cải qua Vĩnh Khang rồi làng Vĩnh Lộc ( Nay là thôn Vĩnh Lộc, Xã Quảng Lộc, Thị Xã Ba Đồn, Tỉnh Q.Bình vào 4/2014 ) .
Từ đời Ông Thành vị tổ thứ ba mới bắt đầu ghi gia phả Họ ( Gia phả họ ở anh Cần – Trưởng họ Đại tôn ) . Nhà thờ họ Đại Tôn ở Hợp Hòa – Xã Quảng Hòa  thờ từ đời thứ nhất đến đời thứ 9. Ông Bà từ đời thứ 10 về sau đang thờ ở nhà trưởng các Chi, các Nhánh .
Thiết nghĩ, người ta lúc sống là mái nhà, khi chết là nấm mồ . Nấm mồ là nơi yên nghĩ ngàn thu . Nơi thờ tự, là chốn đi về dương gian, củng là nơi tụ hội của con cháu mỗi dịp Tảo mộ, Xuân về , là nơi âm dương hòa hợp, con cháu và tổ tiên gặp nhau qua làn hương tỏa quyện, cho tình máu mũ thêm bền chặt bên chén rượu lộc quan, quanh làn hương trầm bảng lãng …..
– Ôi ! Đời người là vậy. Sống ở thác về. Ai mà chẵng qua quy luật đó. Vì vậy khi Ông  Nguyễn Văn Biếc và Bà Đinh Thị Ngữu ( Đời thứ 14 ) mất có di chúc để lại ngôi nhà và đất đai cho con trai là ông Nguyễn Anh Tú. Ông Tú đã hiến đất ( chỉ đất làm nhà và sân ) và nhà củ cho họ tộc để làm nhà Từ đường và đã được sự đồng thuận của con cháu đời thứ 14, 15, 16 trong gia tộc  nội như ngoại quyết định xây nhà Từ Đường .
–  Uống nước nhớ nguồn . Đó là đạo lý tốt đẹp của con Hồng cháu Lạc sống trên đất nướcViệt này. Gốc có sâu, nguồn có xa, cây mới tươi tốt, nền nếp cha ông con cháu trong gia tộc noi theo có trách nhiệm bảo vệ , tôn tạo. Để cho dòng nước trong xanh kế tiếp muôn đời mãi mãi về sau ….

Vĩnh Lộc những ngày tháng tư năm 2016
                                                                           Tự tôn đời thứ 15
  
                                                                           Nguyễn Anh Tú
Các khoản đóng góp làm từ đường_2

No comments: