Tuesday, July 31, 2018

TAP CHÍ VĂN HÓA VIỆT NAM 727

 
SƠN TRUNG
Chủ biên 

 
See the source image
 Chống Đặc khu
S727
 Ngày  25  tháng  7 năm 2018


Những người chứng trên Đại lộ Kinh Hoàng


Quảng Trị Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 Hốt Xác Đồng Bào Tử Nạn trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”
Lời giới thiệu: Loạt bài bên dưới do ba người — nhà văn Giao Chỉ, ký giả và phóng viên nhiếp ảnh NgyThanh, và cá nhân tôi, Trùng Dương — viết từ ba góc nhìn về ba thời điểm khác nhau, song cùng một chủ đề:
“Đại Lộ Kinh Hoàng”, nơi gần 2.000 con người chạy loạn đã bị Cộng quân pháo kích chết thê thảm, không bút nào tả siết được, vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khi Cộng quân từ phiá bắc tràn qua sông Bến Hải đánh chiếm Quảng Trị, trắng trợn vi phạm Hiệp Định Ngừng Chiến Genève 1954.Nhân chứng sống, cựu Trung sĩ Phan Văn Châu, người đã sống và chứng kiến tận mắt cảnh đồng bào bị pháo kích Cộng sản tàn sát trên cái mà phóng viên chiến trường của nhật báo Sóng Thần, NgyThanh, đã đặt tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng” sau khi anh và đồng nghiệp Đoàn Kế Tường là hai người đầu tiên đật chân lên đọan đường này hai tháng sau cuộc tàn sát, và Chương trình hốt xác đồng bào tử nạn trên ĐLKH do nhật báo Sóng Thần phát động– (Trùng Dương).
https://dongsongcu.files.wordpress.com/2018/01/e5267-dai-lo-kinh-hoang.jpg?w=648 
Nhân chứng qua đêm
(Giao Chỉ)
Khi đi tìm nhân chứng của một chiến trường hết sức oan nghiệt và thê lương, hết sức dũng mãnh và hào hùng, tôi vẫn không quên đoạn đường đầy xác người trên Quốc Lộ số 1.Ngay khi chiến trường còn vương khói súng, cây bút nhẩy dù, đại úy Phan Nhật Nam đã viết “Mùa hè đỏ lửa”. Tác phẩm đem vinh quang cho tác giả đồng thời cũng làm khổ ông sau 1975. Nhưng trước sau “Mùa hè đỏ lửa” đã gắn liền vào tên tuổi Phan Nhật Nam.
Phải chờ đến 32 năm sau, Hà Nội mới xuất bản cuốn “Mùa hè cháy” của đại tá pháo binh “quân đội nhân dân” viết về trận pháo kích của trung đoàn pháo Bông Lau, trận pháo dã man trên đường di tản của dân Quảng Trị, giết chết hàng ngàn người và làm đoạn đường trên 2 cây số giữa con sông Thạch Hãn và Mỹ Chánh trở thành “Ðại Lộ Kinh Hoàng”.

Chúng tôi vẫn đi tìm xem ai là người đặt tên cho đoạn đường của trận thảm sát mùa hè năm 1972. Có lẽ chỉ trong chiến tranh Việt Nam mới có cái đại lộ mang tước hiệu kinh hoàng.
Anh phóng viên của bộ thông tin có mặt tại Quảng Trị nói rằng bác đi hỏi ông Lê Thiệp trên Washington, D.C. Khi quân ta phản công ở Mỹ Chánh, ông nhà báo Lê Thiệp có đi theo trên Quốc Lộ 1 qua lối này. Năm 2005 tôi có nhân dịp gặp ông Thiệp tại DC, ông nói rằng không biết tay nào đặt cái tên “Ðại lộ Kinh Hoàng” thật hay. Câu chuyện dừng tại đó.
Một lần khác, chúng tôi rao lên là muốn tìm gặp những ai đã chạy trên con đường ác độc vào đúng lúc địch pháo kích. Tôi biết có trung tá Lê Huy Linh Vũ của Tổng cục Chiến tranh Chính trị là người đã trải qua và đã viết lại thành cuốn sách. Con gái của Trung tá Vũ là họa sĩ Hương, Alaska, có cho phép chúng tôi in lại cuốn này để tặng các bạn. Nhưng ông Vũ nay không còn nữa.

Ðại tá Hà Mai Việt, tỉnh trưởng Quảng trị thời kỳ 1972 đã nói rằng: “Tại ông không lưu tâm đọc sách của tôi. Mở trang này ra mà xem, nhân chứng sống là ông Phan văn Châu. Tôi đã viết rõ từng trường hợp của trận Quảng Trị trong tác phẩm Thép và Máu. Ông nhân chứng này không những chịu đựng trực tiếp trận pháo trên quốc lộ mà còn nằm lại một đêm giữa các xác chết.” Sau cùng nhờ ông Hà Mai Việt, chúng tôi đã gặp nhân chứng sống. Trung sĩ Phan văn Châu, năm nay 68 tuổi, quả thực là một người dân tiêu biểu của miền đất Quảng. Qua máy điện thoại, dường như cả một trời tâm sự tuôn tràn. Những hình ảnh quê hương, chiến tranh, loạn lạc, pháo kích, khói lửa, lẫn lộn giữa trận 1972 và trận 1975.

Nói đến chuyện đất nước biết bao nhiêu địa danh: nào là Nhan Biều, Cầu Ga, Ái Tử, Mai Lĩnh, Cầu Dài. Rồi đến biết bao nhiêu con sông, bao nhiêu rạch nước. Âm thanh đất Quảng của người dân chân chỉ hạt bột, vòng qua quay lại để sau cùng trở về với cái ngày cả gia đình bỏ Nhan Biều mà đi.
Ông Châu nói rằng, lúc đó dường như mọi người đã chạy hết. Phan văn Châu là trung sĩ thông dịch viên cho ngành tình báo tại Ðà Nẵng đang đi công tác về Ái tử.
Ðến khi thiên hạ bỏ chạy hết, thầy thông ngôn trẻ tuổi mặc đồ dân sự cùng một đứa cháu, dẫn vợ có bầu với ba đứa con nhỏ, năm một, 6, 7, và 8 tuổi. Tất cả vội vàng ra đi bỏ lại phía sau căn nhà mới cất tại Nhan Biều bên bờ bắc của sông Thạch Hãn.


Vợ con đi trước một đoạn với gia đình bà chị. Thằng cháu và ông Châu đi xe gắn máy kéo theo một chiếc xe gỗ hai bánh. Hành trang chất đầy, người kéo, người đẩy, chiếc xe qua khỏi cầu Ga, đi được một đoạn dài đến 9 giờ sáng thì pháo nổ ngay trên đường. Con đường đầy người chạy loạn. Cả dân cả lính với đủ mọi thứ xe. Ða số đi bộ vì đường tắc nghẽn nên không thể đi nhanh. Ðạn rơi chỗ nào cũng có người chết. Xác bắn tung lên trời. Khói lửa mù mịt. Mạnh ai nấy chạy. Vợ con thất lạc ngay từ lúc đó. Ông Châu nghĩ rằng vợ con có thể đang ở phía trước. Nhưng phía trước hay phía sau thì cũng bị pháo. Khi pháo tạm ngưng thì có người lại tràn ra đi tới. Nhưng phần lớn nằm yên chịu trận. Có nhiều người không chết ở đợt pháo đầu nhưng rồi bị chết ở các đợt pháo sau. Nhiều xác chết trên đường bị pháo đi pháo lại nhiều lần. Bị thương rồi lại bị pháo rồi cũng chết. Biết bao nhiều người cố chạy cho thoát bỏ lại cả gia đình vợ con. Những đứa nhỏ nằm khóc bên xác mẹ. Những em bé sơ sinh bú vú mẹ đã lạnh khô. Có người còn sống thấy đó mà phải bỏ đi. Ông Châu và đứa cháu chạy về phía đông quốc lộ, vùi thây xuống cát mà chịu đựng một ngày pháo kích. Ðủ loại pháo của cộng sản thay phiên bắn phá suốt một ngày dài. Pháo 122, pháo 130 và pháo 155. Chỉ khi nào có B52 đến thả bom mới thấy địch im tiếng súng được một lúc. Toàn thân ông tê liệt dưới trời nắng gắt. Phải bò đến các vũng nước có cả phân trâu và máu người để uống.


Khi trời tối dần, tất cả đều im lặng và ghê sợ. Ông Châu và đứa cháu bắt đầu bò quanh lật các xác chết đàn bà và trẻ em lên xem có phải vợ con. Lật một xác phụ nữ mà ông nghĩ rằng người vợ, đầu óc ông mê muội. Thằng cháu còn tỉnh táo nói rằng không phải mợ. Mợ có bụng mà cậu. Mấy người khác còn sống cũng làm như vậy. Tất cả đi tìm xác thân nhân. Nhưng rồi trời tối hẳn, bộ đội Việt Cộng bắt đầu xuất hiện. Chúng tìm đến các xe nhà binh và tìm các quân nhân mặc quân phục bắt đi hết. Cậu cháu ông Châu khai là dân thường nên được lệnh phải nằm yên tại chỗ. Ðêm hôm đó, ông Châu thức trắng trên bãi cát đẫm máu của Ðại lộ Kinh Hoàng. Hình như có đôi lúc ông cũng thiếp đi. Cũng chẳng còn nhớ rõ.
Chung quanh toàn xác chết. Người chết nhiều hơn người sống. Những xác chết cháy như than củi . Ông nghĩ rằng chắc xác vợ con cũng quanh đây. Sáng hôm sau, từ sớm mai những người còn sống đành phải bỏ lại một cánh đồng xác ở đằng sau để chạy về miền Nam. Ði đến cầu Dài gần sông Mỹ Chánh thì gặp toán tiền sát của thủy quân lục chiến Việt nam chận lại. Khi biết chắc là không phải quân địch, ông trung úy thủy quân lục chiến phất tay cho qua. Vừa đi khỏi một đoạn đường thì thấy ông sĩ quan bị du kích phía sau bắn sẻ chết ngay tại chổ. Ðó là cái chết cuối cùng ông chứng kiến tại Quảng Trị.


Tìm xe quá giang về Huế với tâm trạng hết sức não nề. Nhưng rồi phép lạ đầu tiên đến với cuộc đời ông. Ngay tại khu vực tạm cư Phú văn Lâu, thuộc thành phố Huế, ông gặp lại đầy đủ vợ con. Bà vợ mang bầu đã dẫn ba đứa con nhỏ đi xuống đường ven biển theo dân địa phương. Ðoàn người đi xa quốc lộ nên tránh được pháo kích.
Vợ con dắt díu nhau đi suốt một ngày một đêm về đến Mỹ Chánh, rồi được xe cho bà bầu quá giang về Huế. Hai năm sau người vợ đầu tiên của ông Châu qua đời, sau khi sinh cho ông thêm ba ngưới con nữa. Cô gái còn nằm trong bụng mẹ trên đại lộ kinh hoàng năm nay đúng 37 tuổi, tốt nghiệp đại học và đã có gia đình, hiện cư ngụ tại miền đông Hoa kỳ.

Những bước chân trần ai trên bãi cát Quảng Trị mùa hè năm 1972 của bà mẹ mang bầu không biết có còn vương vấn chút nào trong lòng cô bé nghe pháo kích từ lúc chưa ra đời. “Tụi nhỏ chẳng biết gì đâu,” ông Châu nói. “Chỉ có đứa lớn nhất năm nay ngoài 40 tuổi là còn nhớ đôi chút.” Hỏi rằng thế ông có được bao nhiêu con tất cả. Ông tính nhẩm rồi nói rằng tất cả 10 con. Bà đầu tiên sáu con. Bà thứ hai ba con. Bà này bỏ tôi đi lấy chồng nên bây giờ vẫn còn ở Việt Nam. Tôi đưa cả ba cháu sang đoàn tụ bên này. Bà hiện nay ở với tôi có một cháu, năm nay cháu 24 tuổi rồi. Bà sau này có một con riêng. Như vậy là chúng tôi có 11 con. Thế bác có hạnh phúc không? “Hạnh phúc chứ. Tất cả là số trời,” ông Châu nói, “Cái đêm nằm ở đại lộ kinh hoàng, uống nước máu người và phân trâu tôi không bao giờ giờ nghĩ đến có ngày đi Mỹ như bây giờ. Tôi nghĩ bấy giờ vợ con chết hết thì mình sẽ ra sao. Làm sao tìm xác? Rồi chôn ở đâu? Hàng trăm xác người chung quanh, biết bao nhiêu xác trẻ con, vợ con tôi đều trong số đó. Không hiểu nó bắn pháo đạn gì quá ác. Tất cả xác chết như than củi chẳng làm sao biết được người nào là người nào.”


“Năm 1973 tôi có trở lại, đi qua con đường thấy có đài tưởng niệm, rồi có các mồ chôn tập thể, có mồ chôn riêng rẽ. Lòng tôi hết sức xúc động,” ông Châu nói. “Cho đến bây giờ tôi vẫn còn xúc động. Con cháu tôi thì nhiều nhưng mà làm sao các con hiểu được những gì tôi đã trải qua. Trận 72 quân ta mới lấy lại một nửa Quảng Trị. Ðứng bên này dòng Thạch Hãn, bên kia là Nhan Biều, nơi tôi ra đời còn cả ngôi nhà thân yêu. Bên ta đã bị địch chiếm bờ Bắc, chỉ giữ được bờ Nam, đến 75 thì bờ Nam cũng chẳng còn.”


“Vâng thưa bác, năm nay em 67 tuổi,” ông Châu nói tiếp, “Quê ở Nhan Biều, bờ bắc sông Thạch Hãn, ngay dưới cầu Ga. Nhà em thi vào làm trung sĩ thông dịch viên năm 1966 khóa 11 tại Quân đoàn I . Sau 75 em trốn được. Nếu khai thật chắc là bị buộc tội CIA. Sau đó em vượt biên rồi đoàn tụ. Trước sau ba vợ, 11 người con. Bà sau này là bà bền chặt nhất đã sống với nhau 25 năm. Vâng, thưa bác, đây chắc chắn là bà sau cùng. Gia đình em rất hạnh phúc. Phần em, dù có bị kinh hoàng nhưng cũng chỉ có một ngày một đêm. So với người ta có người cả đời kinh hoàng thì nỗi khổ của chúng em có thấm vào đâu.”
Ðó là câu chuyện của ông Châu, nhân chứng số 1 của chúng tôi. Tôi hỏi ông Châu câu cuối cùng.
“Ông có biết ai đặt tên Ðại Lộ Kinh Hoàng.” “ Không đâu,” bây giờ ông gọi tôi là cụ. “Cụ với cụ Việt không biết thì ai mà biết. Nhưng quả thực là kinh hoàng thực đấy các cụ ạ.”
Tuy hỏi vậy, nhưng tôi đã tìm ra ai là người đặt tên …



“Đại Lộ Kinh Hoàng”
(NgyThanh)

Năm ấy tôi 23 tuổi, mặc đồ lính mới được một năm, chịu trách nhiệm phòng nhiếp ảnh của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 10 Chiến Tranh Chính Trị, KBC 3463, đóng tại bờ biển Thanh Bình, Đà Nẵng. Với số tuổi oắt con của thời chiến sau khi vừa rời quân trường chỉ một năm, tôi còn ngu ngốc lắm, lại ham vui, và hiếu thắng, ngày nào không ra mặt trận để chiều về làm bản tin hành quân, là một hổ thẹn với tất cả đạo quân phóng viên nằm tại Huế, một thành phố lỏng lẻo vì phần lớn thường dân và vợ con lính đã chạy vào Đà Nẵng, sau kinh nghiệm “di tản chiến thuật” khỏi Quảng Trị Đông Hà.
Bấy giờ, phía Nhảy Dù vẫn giữ cánh trái giữa Quốc Lộ 1 trải dài lên phía Động Ông Đô và căn cứ Barbara, đánh cuốn chiếu ra từ sông Mỹ Chánh. Thủy Quân Lục Chiến cặp sườn QL1 bên trái giăng hàng ngang theo sông Mỹ Chánh ra tới các làng Mỹ Thủy, Gia Đẳng ở trên bờ biển, cùng nhắm hướng tây bắc.


Hôm 1-7-1972 , đám phóng viên chiến trường “ăn cơm tháng ở quán ăn trước khách sạn Hương Giang Huế” không đi tập trung như mọi ngày, mà tản mác theo các đơn vị Nhảy Dù và TQLC bố phòng hơn là theo các mũi dùi tấn công chính trên đường đánh về Quảng Trị. Cái ngày rất dễ nhớ vì vừa chẵn 2 tháng sau khi ông anh họ tôi ném trái CBU-55 xuống cầu Đông Hà để diệt sống đoàn xe tăng T-54 đang qua cầu để tấn công phía sau lưng của quân Việt Nam Cộng Hoà đang “di tản chiến thuật”, bỏ ngỏ phần đất tỉnh Quảng Trị, và̀ tái bố trí ở bờ sông Mỹ Chánh. Hôm ấy tôi đi chung với Đoàn Kế Tường, cả hai chúng tôi là phóng viên chiến trường của báo Sóng Thần. Bên cạnh tình bạn, Đoàn Kế Tường là người Quảng Trị, anh cũng là quân nhân của một đơn vị pháo binh Sư Đoàn 3 Bộ Binh, nên rành rẻ đường đi nước bước trong thành phố, nếu chúng tôi có may mắn lọt vào được thành phố tái chiếm trong tư cách là phóng viên đầu tiên — nhưng chuyện ấy sau mới xẩy ra trên đường Lê Huấn.


Khoảng 10 giờ sáng, đầu cầu Bến Đá vắng lặng và không có lính trấn thủ khi chúng tôi đến: những mũi dùi tấn công của Nhảy Dù và TQLC đã được trực thăng vận vượt sông đánh lên quá sông Trường Phước. Bến Đá bấy giờ có hai cầu. Cầu xe hơi trên QL1 bị phá sập, hoàn toàn không qua được. Chiếc cầu sắt xe lửa nằm ở phía núi gảy gục đoạn giữa cắm xuống sông thành hình chữ V, khu đất đầu cầu do quân VNCH trấn giữ trước đó đã được cài nhiều mìn chống chiến xa.
Thấy yên lặng và không có người, cả ta lẩn địch, hai chúng tôi bò theo khung cầu sắt gẫy qua bên bờ bắc, len lách giữa đám mìn chống chiến xa, để quay trở lại QL1.

Trước mắt chúng tôi, ngay trên bề mặt QL1, là xác xe chiếc ngược chiếc ngang, phần lớn giở mui không biết vì lý do gì. Trong nhiều xe cứu thương đã bị bắn cháy nhưng còn đọc được phù hiệu Hồng Thập Tự hai bên hông, chúng tôi nhìn vào cánh cửa xe hé mở và thấy xác thương binh chết nằm chết ngồi trong đó, mùi tử khí đã dịu thành mùi thối, thay vì mùi tanh nồng của xác người như khi mới chết ít hơn hai tuần. Chúng tôi tiếp tục lội xuống bãi cát hai bên đường, bãi phía biển có nhiều xác chết hơn bãi phía núi, có lẽ vì khi bị tàn sát, người ta có khuynh hướng chạy ra phía đông là khu vực có thể có người tiếp cứu mình, trong khi phía núi chỉ là vùng hoang vu, không có ai sinh sống. Trên bãi cát nầy chúng tôi thấy xác người lớn và xác trẻ em, xác quân nhân và xác thường dân, cảnh sát. Nhiều xác úp mặt chồng lên nhau, có lẽ bị bắn chết khi đang chạy tới để thoát hiểm và bị bắn từ sau lưng.

Vì không có xe cộ lưu thông, hai chúng tôi luẩn quẩn dọc đoạn đường xác người nầy trong vòng khoảng non cây số. Chúng tôi đã chụp (bằng phim) rất nhiều ảnh của đoạn quốc lộ nầy, khi công binh VNCH chưa bắc cầu dã chiến qua sông Bến Đá, nên hình chúng tôi chụp còn nguyên vẹn bãi chiến trường.
Vào xế trưa, công binh bắc xong cầu, và mang xe ủi qua, gạt các xác xe dạt xuống hai bên vệ đường, mở một lối đi nhỏ trên mặt nhựa cho các xe tiếp tế đạn dược lên phía Quảng Trị, cũng như lấy thương binh và xác tử sĩ về. Do đó, ngoài hình ảnh của chúng tôi, những hình chụp sau khi xe ủi qua, đã không còn cảnh nguyên thủy của nét kinh hoàng.

Buổi tối về tới Huế, như mọi khi, tôi gọi cho anh Đỗ Quý Toàn bên Phú Nhuận để nhờ anh ghi lại tin tức về hoạt động của chúng tôi trong ngày, để sau đó anh ấy chuyển cho anh Đỗ Ngọc Yến, là người ngồi cạnh anh Uyên Thao, tổng thư ký tòa soạn. và các anh Trương Cam Vĩnh, Đường Thiên Lý để làm tin và̀ chọn tin. Anh Yến vẫn chuyển tin của chúng tôi tới anh UT như thế mỗi ngày. “Đại Lộ Kinh Hoàng” là cái tên tôi chọn làm đề tựa bài viết ngày hôm ấy. Chọn “Đại Lộ Kinh Hoàng” thật ra cũng chỉ do một phút ngẩu hứng thôi, như một vế cho câu đối “Con Phố Buồn Thiu” (La rue sans joie) mà Bernard Falls đặt cho hương lộ 555 chạy dọc bờ biển Quảng Trị, cách đó vài cây số, trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương Lần thứ nhất, 1946-54.

Vài tuần sau, chị chủ nhiệm Trùng Dương và anh chị em Sóng Thần tổ chức chiến dịch thu lượm xác người trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Tòa báo bỏ chi phí ra làm việc nầy.
Đích thân chủ nhiệm từ Saigon ra ăn chay nằm đất với chúng tôi, hàng ngày kết hợp với anh Nguyễn Kinh Châu, trưởng văn phòng đại diện Sóng Thần Huế, và các thân hữu, chúng tôi liên tục tới hiện trường thu nhặt xác chết gói vào từng bao nylon, trước khi bỏ vào quan tài bằng gỗ thô sơ, mai táng ở một khu đất xin được ở phía đông của QL1, ở làng Mỹ Chánh. Khi làm việc nầy, chúng tôi không treo băng dựng bảng để khoe công. Tấm bảng thật lớn cắm ở đầu cầu bên trái sau khi qua khỏi cầu Bến Đá (trước ngày mất nước) là do lệnh của Tổng thống Thiệu. Bốn chữ “Đại Lộ Kinh Hoàng” là chữ của tôi, nhưng bên dưới tấm bảng ghi là “Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”.

Những chuyện vụn vặt quanh cái tên ĐLKH đã cũ quá rồi, tôi không nhớ hết. Anh Uyên Thao còn sống. Anh Đỗ Quý Toàn còn sống. Ký giả Anh Điển còn sống. Chị Trùng Dương còn sống. Đoàn Kế Tường còn sống (đang làm báo Công An TP HCM). Tôi quý anh [Giao Chỉ, trong nhóm thực hiện phim tài liệu Quảng Trị] nên ghi lại một ít chi tiết để anh đọc chơi, nhưng nếu có ai muốn nhận bốn chữ “Đại Lộ Kinh Hoàng” là của họ, thì cứ giao cho họ, anh ạ. Mất nước, nhưng chúng ta còn nhiều việc phải làm hơn là tranh nhau cái chức vị “tác giả” của bốn chữ sáo rỗng ấy.
Houston, Tháng 9, 2009


Hốt xác đồng bào
Trùng Dương

Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa với trụ sở đặt tại San Jose, California, qua nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, vừa chuyển đến chúng tôi lời mời tham dự vào việc thực hiện cuốn phim tài liệu về trận phản công tái chiếm Quảng Trị của quân đội Việt Nam Cộng Hòa vào Mùa Hè 1972. Đây là một trong một loạt phim tài liệu nhằm viết lại lịch sử 20 năm của Việt Nam Cộng Hòa trong đó, theo Viện BTTN&VNCH, loạt phim Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa gồm bốn DVD, tổng cộng 8 giờ, được coi là “sản phẩm tiêu biểu”.

Ông Lộc cho biết Viện BTTN&VNCH hiện đang xúc tiến thực hiện một bộ phim tài liệu về trận Quảng Trị 1972, còn gọi là “Mùa Hè Đỏ Lửa”, khi Bắc quân đem quân và chiến xa tràn qua Vùng Phi Quân Sự tại vĩ tuyến 17, trắng trợn vi phạm Hiệp Định Geneve 1954, xâm chiếm Quảng Trị vào tháng 3-1972, song bị quân đội VNCH đẩy lui sáu tháng sau đó.
“Trong chiến tranh VN có ba trận đánh quy mô cần quan tâm. Đó là trận Mậu Thân, Hoa Kỳ gọi là Tet Offensive 1968. Trận thứ hai là trận Quảng Trị 1972, Hoa Kỳ gọi là Easter Offensive. Trận thứ ba là 30-4-1975,” Ông Lộc cho biết trong lá thư gửi tới thân hữu. “Lịch sử chiến tranh Việt Nam cần có một phim tài liệu về Quảng Trị. Ðây sẽ là phim đầu tiên.”
Được biết cuốn phim tài liệu về Quảng Trị sẽ gồm hai đĩa. Ðĩa thứ nhất dành cho thời gian từ ngày lui binh sau khi thất thủ Đông Hà – Quảng Trị từ cuối tháng 3 đến đầu ngày 1-5-1972; và đĩa thứ hai dành cho thời gian phản công từ tháng 5 đến tháng 9-1972. Bộ phim Quảng Trị là một phần của chương trình sản xuất các tài liệu song ngữ của Viện BTTN&VNCH để phổ biến khắp thế giới và dành cho thế hệ tương lai.

Chúng tôi được ông Vũ Văn Lộc mời đóng góp vì những bài báo của các phóng viên chiến trường của nhật báo Sóng Thần tường thuật tại chỗ về Mùa Hè Đỏ Lửa, mà một trong những tác giả của những bài tường thuật bấy giờ hiện có mặt tại Hoa Kỳ, là NgyThanh, có thể đóng góp cho dự án phim tài liệu với tư cách một nhân chứng.

Nhật Báo Sóng Thần, do tôi làm chủ nhiệm và chủ bút, cố nhà văn nhà báo Chu Tử làm chủ biên và ký giả Uyên Thao, hiện định cư tại Virginia, làm tổng thư ký, ngoài phần vụ thông tin, đã có những đóng góp ngoài nghề nghiệp mà chúng tôi, vì tính chất nhân đạo của những việc này, ít khi đề cập tới.
Trước hết, về mặt thông tin: Khi chiến trận bùng nổ, văn phòng đại diện Sóng Thần Quảng Trị do anh Nguyễn Quý coi sóc phải di tản vào Huế, sáp nhập với văn phòng đại diện Sóng Thần Huế do anh Nguyễn Kinh Châu điều hành, cộng với NgyThanh đặc phái viên Sóng Thần Quân Khu I từ Đà Nẵng ra tăng cường. Kết quả là nhờ số nhân sự đông đảo của văn phòng ba tỉnh nhập lại, chúng tôi may mắn có đủ lực lượng để bao sân nhiều lãnh vực. Đặc biệt là nhờ văn phòng trưởng Nguyễn Kinh Châu, vốn là một “thổ công” địa phương, có nhiều móc nối quen biết từ cấp tỉnh trưởng trở xuống; Đoàn Kế Tường, quân nhân đồng thời cộng tác với văn phòng Sóng Thần Quảng Trị, vì “đánh mất” Quảng Trị nên ngày nào cũng bám theo các mũi dùi tái chiếm với lời thề sẽ là nhà báo đầu tiên đặt chân trở lại thành phố thân yêu; Trần Tường Trình theo chân Sư Đoàn 1 kiên cường trấn thủ Bastone, Birmingham và Tà Rầu ở cạnh sườn phía tây; và Ngy Thanh, phóng viên và cũng là một nhiếp ảnh viên xông xáo, ra bám trụ tại Huế để hằng ngày theo các mũi tiền quân của QLVNCH săn tin. Trong khi nhiều ký giả trong nước cũng như ngoại quốc, lúc ấy vì bất ngờ, chưa kịp trở tay, thì Sóng Thần đã có tin cập nhật hàng ngày do các đặc phái viên “nằm vùng” của các văn phòng này gửi về. Do đấy, báo Sóng Thần có số bán lớn nhất trong thời kỳ này.

Song có lẽ một trong những điều đáng nói hơn cả, và cũng ít người biết tới, là chương trình hốt xác của ngót 2.000 đồng bào thiệt mạng vì pháo kích lẫn bom bay đạn lạc trên đoạn Quốc lộ 1 từ cầu Bến Đá tới cầu Trường Phước – đoạn đường máu mà NgyThanh trong bài tường thuật qua điện thoại tối 1-7-1972 đã gọi bằng tên “Đại Lộ Kinh Hoàng”, và bốn chữ đó trở thành tên của đoạn quốc lộ của Tử Thần này.

Ngay sau bài tường thuật tại chỗ và những hình ảnh do NgyThanh chụp cảnh máu đổ thịt rơi của các nạn nhân, anh chị em Sóng Thần chúng tôi ở mỗi nơi không hẹn mà gặp trong tâm tư dằn vặt về vô số xác chết phơi nắng dầm mưa trên Đại Lộ Kinh Hoàng. Hồi ấy Nhật Báo Sóng Thần đang thực hiện chương trình “Sống Một Mái Nhà” và tòa soạn ủy thác việc trông coi cho Vũ Ngọc Long, một sinh viên trẻ tới với nhóm ST từ khi còn phôi thai. Hàng tuần hay tháng, tôi không còn nhớ rõ, Long đều đặn dẫn một số sinh viên học sinh tình nguyện đi xây lại nhà cho một gia đình nghèo ở quanh thành phố Saigon. Khi chúng tôi ngồi lại bàn với nhau về việc phải làm một cái gì cho các nạn nhân chiến cuộc này, ký giả Đường Thiên Lý đề nghị quyên tiền để giúp hốt xác nạn nhân và đặt tên cho chương trình này là “Thác Một Nấm Mồ”, có lẽ là cho có được tính liên tục với chương trình do Long trông coi. Trong khí đó ngoài miền Trung, không hẹn mà Nguyễn Kinh Châu cũng bàn bạc với cố bác sĩ Phạm Văn Lương, người trông coi văn phòng Sóng Thần Đà Nẵng. Hai anh đồng ý nhân danh tập thể Sóng Thần để tiến hành thu nhặt xác, và anh Lương gọi vào Saigon đúng lúc chúng tôi cũng vừa bàn xong, và định gọi ra xin quyết định của các văn phòng địa phương.

Máu chảy ruột mềm, đáp ứng của độc giả đối với lời kêu gọi đóng góp của Sóng Thần cho chương trình “Thác Một Nấm Mồ” vừa mau mắn vừa đông đảo, cho thấy tính nhân bản và tình thương rất cao của người Việt miền Nam đối với các đồng bào ruột thịt miền Trung thiếu may mắn chết mà chưa yên, thân xác còn phơi nắng dầm sương ròng rã đã nhiều tháng trời, khiến không ai là không khỏi đau xót. Tôi được anh chị em trong nhóm chủ trương tờ báo đề cử đem gói tiền đầu tiên góp được ra Huế trao anh Nguyễn Kinh Châu để xúc tiến chương trình hốt xác.

Tôi không bao giờ quên được một tuần lễ ở Huế dạo ấy. Hồi ấy, tôi không nhớ đích xác tháng nào, quân Cộng hoà đã lấy lại được phần đất phía dưới Quảng Trị, nơi có đoạn đường có hỗn danh là Đại Lộ Kinh Hoàng, song chưa mở ra cho dân chúng vào vì chiến cuộc vẫn còn diễn ra, với đạn pháo tầm xa 130 ly của quân Cộng sản vẫn thỉnh thoảng rót xuống vùng này từ trên dãy Trường Sơn. Và hễ mỗi lần có pháo kích từ núi xuống là sau đó không bao lâu ta có thể nghe tiếng rung chuyển trời đất của máy bay bỏ bom B-52 dội bom phản kích.

Qua sự dàn xếp của anh Nguyễn Kinh Châu, chúng tôi – gồm anh Châu, NgyThanh, tôi, và cả chị Châu cũng không bỏ lỡ dịp xin đi theo trong một, hai chuyến đầu – vào được khúc đường này, mướn đem theo mấy người phu chuyên nghiệp cải táng. Đối với các ông thợ này – tôi để ý thường họ đem theo vài chai rượu đế, vừa để uống vừa để khử trùng – hốt xác không phải là việc xa lạ: Họ đã trở thành các tay chuyên nghề sau khi phía Cộng Sản chôn sống quá nhiều người trong vụ Tết Mậu Thân 1968 để họ thực hành việc hốt xác của nhiều ngàn người bị chôn trong những hố tập thể.
Ngày đầu nhặt xác dọc hai bên Đại Lộ Kinh Hoàng, tôi như đi trong một cơn mộng dữ, không uống rượu mà như say, bước đi mà chân như không chạm đất, giữa một bầu không khí đầy mùi tử khí trong một khung cảnh với nhiều chiếc xe, kể cả chiến xa, cháy rụi nằm ngang dọc đó đây, áo quần đồ đạc vương vãi bên những xác người đã rữa nát nằm chết đủ kiểu la liệt, trong đó có nhiều đàn bà và trẻ con.

Trong khi NgyThanh bấm máy không ngừng, tôi đi quan sát những xác người. Một trong những hình ảnh tôi nhớ nhất, tới tận bây giờ, là cảnh một người mặc đồ lính đã rách nát, nằm xoãi hai chân hai tay, đầu gối trên một khúc cây gẫy, khuôn mặt gần như chỉ còn xương với tí thịt rữa còn vương dính lại, hai hốc mắt là hai cái lỗ đen ngước lên như chất vấn trời cao. Tự dưng tôi nghĩ anh ta đã chỉ bị thương, chưa chết, đã cố lết tới đây nằm vật ra, mặt ngửa lên trời, và chết dần. Tôi tự hỏi anh đã nghĩ gì trước khi trút hơi thở cuối cùng. Mẹ cha, anh chị em, vợ con hay người tình ở đâu? Lớn lên trong chiến tranh và sống phần lớn ở Sàigòn, thỉnh thoảng có thấy người ta chết vì súng đạn, vì pháo kích, nhưng đây là lần đầu tôi thấy nhiều người chết như vậy, và chết đủ kiểu. Tôi có mô tả những cảnh này trong bài phóng sự đăng làm nhiều kỳ trên báo Sóng Thần, như một báo cáo lại với những nhà hảo tâm đã mau mắn đóng góp tiền bạc để chúng tôi thực hiện công tác nhân đạo này.

Những ngày kế đó chúng tôi hàng ngày, sau khi ăn sáng rất thanh đạm, chất nhau lên một cái xe cam-nhông nhà binh do anh Châu điều đình mượn được, cùng với mấy người thợ bốc xác, trở lại Đại Lộ Kinh Hoàng. Có lúc tôi ngồi xem mấy người thợ bốc xác làm việc, vừa nghe họ kể chuyện hồi hốt xác nạn nhân Tết Mậu Thân, như thể những gì đang diễn ra chưa đủ kinh hoàng bằng. Nào là có linh hồn nọ, linh hồn kia về than còn thiếu bàn tay, khúc xương, cái sọ, vv. Thỉnh thoảng có ông thợ ngưng tay lôi chai rượu đế ra nốc một ngụm. Vì họ làm việc bằng tay trần, không có bao tay, nên ruợu cũng còn được dùng để mấy ông thợ rửa tay trước khi ăn trưa.

Những gì có thể giúp để nhận diện xác chết, như thẻ căn cước, hay một món đồ đặc biệt nào đó tìm thấy gần xác đều được anh Châu ghi lại trong sổ tay, bên cạnh số của xác đã được ghi trên bọc plastic đựng xác. Tôi xem và ghi chép. Khi nào mỏi mệt, tôi ra đứng ngoài lộ nhìn lên rặng núi Trường Sơn, nhớ lại những mẩu chuyện nhà văn hồi chánh Xuân Vũ kể trong Đường Đi Không Đến, tự hỏi sao con người ta ở đâu không chịu ở yên đấy để xây dựng xã hội, phát triển kinh tế, vun sới đời sống và con người, như các nước khác trong vùng Đông Nam Á này? Sao gây ra chiến tranh? để chi? được chi? Rồi tôi ngóng về phía bắc lắng nghe tiếng súng vẳng lại từ phía Quảng Trị, nơi quân Cộng Hòa đang đánh chiếm lại từng thước đất đã bị Cộng quân chiếm đóng, và thầm cầu nguyện cho những người lính Cộng hoà.
Có lần, chúng tôi đang làm việc thì nghe mấy người lính Cộng Hòa gọi nhau ơi ới, và vẫy gọi cả chúng tôi. Anh Châu ra lệnh cho mọi người ngưng tay chạy tìm chỗ ẩn náu vì pháo kích từ trên Trường Sơn bắt đầu rót xuống quanh chỗ chúng tôi. Ai đó kéo tôi xuống một hố bom bảo bám chặt vào thành hố bằng cát, đã hẳn là dù vậy vẫn thấy mình từ từ tuột xuống vì cát rời. Tôi đang thắc mắc sao không xuống hẳn lòng hố cho chắc ăn thì có người chỉ cho tôi thấy một trái bom bi chưa nổ ở dưới lòng hố.


Mỗi chuyến xe chúng tôi chở xác về xếp trong ngôi trường của thị trấn Mỹ Chánh, nhiều người có thân nhân trong đám nạn nhân trên Đại Lộ Kinh Hoàng chờ chực sẵn ở đó xúm lại tíu tít hỏi thăm, mặt ai cũng bơ phờ, thất thần, thấy thương tâm hơn cả người đã chết nay không còn gì để phải vương vấn nữa. Trong một cuộc điện đàm gần đây với NgyThanh, anh Châu cho biết con số đích xác của những xác người đã được hốt về từ Đại Lộ Kinh Hoàng năm ấy: 1.841 xác. Một ngàn tám trăm bốn mươi mốt xác người, anh nói không một giây do dự hồi tưởng, như thể con số ấy đã được ghi tạc trên phiến đá của ký ức anh từ 37 năm qua chỉ chờ dịp bật ra khi được hỏi tới! Những xác người bất hạnh này đã được ch ôn tại một khu đất sau lưng trường tiểu học Phong Nguyên ở Mỹ Chánh, được biết tới với tên Nghĩa trang Đồng bào Chiến nạn Quảng Trị.


Cứ vậy mà một tuần trôi qua đến ngày tôi phải về lại Saigòn, trước sự bịn rịn của anh chị Châu. Tôi mất ngủ nhiều ngày sau đó, vì sợ thì ít mà vì những gì đã thấy đã khiến tôi như tê dại hẳn đi – cảm giác tê dại mà tôi lại được biết tới vào ba năm sau đó, ngày 30 tháng 4, năm 1975 …
Vì nhận thấy đây là một sinh hoạt có tính cách nhân đạo, nếu đưa vào phim có thể làm loãng đi chủ đề của phim, đó là về cuộc chiến đấu dũng cảm của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà nhằm tái chiếm lại Quảng Trị, nên chị em chúng tôi bàn nhau viết bài này để ghi lại một sinh hoạt mà nếu không ghi lại cho các thế hệ tới thì sẽ bị mai một đi, cùng với bao nhiêu câu chuyện khác của một thời Việt Nam Cộng Hoà nhân bản, đầy tình người, dù những hạn chế không tránh được của một chế độ vừa lo phát triển vừa phải lo chống lại tham vọng của những người quyết tâm áp đặt chủ nghĩa Cộng sản phi nhân lên phần đất tự do cuối cùng của Việt Nam.

Bài này cũng xin được coi là thêm một lần nữa, tri ơn những vị hảo tâm đã đóng góp để chương trình “Thác Một Nấm Mồ” được hình thành cách đây đã gần 40 năm. Đồng thời như một nén hương tưởng niệm những người đã bỏ mạng trên Đại Lộ Kinh Hoàng, xác phơi nắng mưa tới hơn hai tháng trời trước khi chúng tôi xin được phép vào tới nơi để làm cái việc hốt xác.
Oregon, Tháng 9, 2009)


Bảy tháng giữa xác người
(NgyThanh ghi lại, các chi tiết dựa theo buổi nói chuyện qua điện thoại với Nguyễn Kinh Châu từ quận Bình Thạnh, Saigon vào tháng 10-2009)
Ba mươi bảy năm sau khi cùng nhau cầm bao nylon lom khom lội vào vùng chiến sự để thu nhặt xác đồng bào bị thảm sát bởi đạn của Sư Đoàn Pháo Bông Lau mà cứ như lén lút vào kho tội ác của Cộng sản để đánh cắp, câu đầu tiên anh Nguyễn Kinh Châu nhắc đi nhắc lại với tôi (như cứ sợ chính mình cũng sai sót) là tên đầy đủ của nghĩa trang mà nhật báo ST đã mai táng 1,841 xác, “Ngĩa Trang Đồng Bào Chiến Nạn Quảng Trị̣ do nhật báo Sóng Thần và thân hữu phụng lập”.

Một lần đi hốt xác đồng bào bị Việt Cộng chôn sống trong tết Mậu Thân ở Huế, và lần thứ nhì hốt xác đồng bào bị Việt Cộng tàn sát trên Đại Lộ Kinh Hoàng ở Quảng Trị, những hình ảnh ghê rợn đã khắc chạm thật sâu vào ký ức anh Châu, như một thứ đền tưởng niệm Cánh Đồng Chết của nạn nhân Pol Pot ở Cam-Pu-Chea – “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Trả lời câu hỏi của tôi, anh Nguyễn Kinh Châu nhắc lại con số 1,841 xác nạn nhân một cách dễ dàng như không cần khui một gói thuốc lá để biết trong đó có 20 điếu. Tôi hỏi tiếp, làm sao anh nhớ được chính xác như thế, anh tâm sự, “Làm sao không, có ngày nào là áo quần không thấm mùi hôi của xác chết, có xác nào không là xác đồng bào, anh em?”

Khi mới bắt tay vào việc, chính quyền và quân đội chưa cho phép thường dân qua sông Mỹ Chánh vì vấn đề an ninh (sợ Việt Cộng trà trộn để hoạt động) và vì vấn đề an toàn (sợ đạn pháo binh Việt Cộng bắn trúng làm chết nhóm người đi lượm xác đồng loại). Vấn đề mang một nhóm thường dân vượt qua phòng tuyến quân sự Mỹ Chánh để tìm và thu nhặt xác là chuyện chưa từng xảy ra trước đây trong chiến tranh Đông Dương. Mặt khác, anh em báo ST ngại một khi đăng lời kêu gọi xin độc giả tiếp tay đóng góp, tiền tới tay rồi mà lỡ xác đồng bào lấy về không được sẽ bị mang tiếng lừa phỉnh, nên anh Châu hội ý với anh em phóng viên ST đang có mặt tại Huế, rồi vào Đà Nẵng bàn thêm với bác sĩ Phạm Văn Lương. Kết quả: chúng tôi quyết định thử nghiệm trước bằng cách tự lực. Anh Châu đã mang chiếc xe gắn máy Honda 68 tới xin cầm cho một thân hữu là anh Huỳnh Văn Phúc, chủ tiệm vàng Phúc Ân kiêm tổng thư ký Hội Đồng Tỉnh Thừa Thiên, lấy 50 ngàn đồng để làm vốn liếng khởi công. Ngạc nhiên thấy anh Châu cầm xe, anh Phúc hỏi dồn, nên đã biết sự thật là anh Châu cần tiền để trao cho thầy Thích Đức Tâm ở chùa Pháp Hải bên cồn Hến đóng quan tài để ra Quảng Trị lượm xác đồng bào bị pháo chết. Biết việc chúng tôi làm như thế, anh Phúc bảo anh Châu cứ mang xe về, và cho anh chị em ST mượn 50 ngàn tiền mặt, một số tiền không nhỏ lúc bấy giờ, để khởi công. Bên cạnh đó, anh em ST vào Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 1 tiếp xúc với Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương. Chỉ huy trưởng, thiếu tá Nguyễn văn Cơ đã cho nhóm Sóng Thần 200 bao nylon loại dùng để tẩm liệm quân nhân tử trận. Ngoài ra, nhóm mượn được một xe GMC của Tiểu Khu Thừa Thiên làm phương tiện vận chuyển đoàn hốt xác và xác hốt được. Về sau khi số xác lượm được tăng lên tới con số gần hai ngàn, anh Cơ vẫn cung cấp đầy đủ để gói ghém tử thi đồng bào, đồng thời phía Tiểu Khu Thừa Thiên tăng cường cho mượn thêm một xe GMC nữa, và phía Tiểu Khu Quảng Trị cho mượn 2 GMC khác, để di chuyển xác chết.


Sóng Thần đã tiến hành hốt xác tất cả 3 đợt. Khi chị chủ nhiệm Trùng Dương từ tòa soạn ra tham dự để ăn đạn pháo kích là đợt một. Đợt nầy đoàn hốt xác có 4 tổ, mỗi tổ 4 người, thu được trên 800 xác. Về sau đoàn hốt xác tăng lên thành 7 tổ. Sợ mùa mưa tới xác đồng bào bị vữa và trôi hết phần thịt, chúng tôi đã tăng gấp đôi số nhân công để rút ngắn thời gian.
Khởi đầu, thầy Đức Tâm thuê đóng và giao cho đoàn 20 quan tài để mang theo, xem thử đủ thiếu thế nào. Lên đường, anh em ST chúng tôi chỉ dám cầu mong lượm được tới 20 xác như mong muốn của thầy Đức Tâm, vì khu vực giữa hai cầu Bến Đá và Trường Phước là đụn cát trắng không nhà cửa cây cối, hễ thấy bóng người di chuyển là tiền sát viên Việt Cộng gọi pháo tầm xa từ Trường Sơn bắn xuống. Kết quả của ngày đầu thật bất ngờ với con số 96 xác. 20 xác đầu tiên được xếp vào quan tài, phần xác còn lại gói tạm vào bao nylon mang về đặt trong các phòng học của trường Mỹ Chánh.


Dạo 1968, anh Nguyễn Kinh Châu là ký giả đã theo chân đoàn người đi khai quật các hố chôn tập thể và đã có loạt hình chạy 8 cột bề ngang trên báo Hòa Bình tường thuật tội ác rùng rợn nầy. Cũng nhờ quen biết cũ từ 4 năm về trước, lần nầy đề xuất việc đi lượm xác, anh Châu đã quay lại Phú Thứ để tìm gặp và thuyết phục các người chuyên về di dời xác chết bốn năm trước, sau Tết Mậu Thân, để họ bằng lòng tham gia công việc nghĩa tử dưới làn đạn pháo của Sư Đoàn Pháo Bông Lau. Đúng là Việt Cộng đã dành cho những người nầy những việc làm có một không hai trong lịch sử tội ác chiến tranh. Nhưng vì lãnh thổ Quảng Trị vẫn còn giao tranh và bom đạn, nên những người phu chỉ bằng lòng nhận lời với chi phí 1.600 đồng mỗi ngày, so với giá thuê mướn làm công nhật ở thành phố Huế lúc bấy giờ là 100 đồng/ngày, và giá vàng 1.600 đồng một chỉ. Sở dĩ giá cả cao như thế mà nhóm ST phải chấp nhận vì khu vực “Đại Lộ Kinh Hoàng” vẫn còn rất kinh hoàng, phu hốt xác ra đó để thu lượm xác không những phải làm việc giữa điều kiện mất vệ sinh giữa những xác chết, mà còn phải đưa lưng đội đạn pháo từ Trường Sơn bắn xuống. Những tay làm báo chúng tôi vì nghiệp dĩ của mình mà lăn lưng ra chốn tên bay đạn lạc, nhưng người dân họ có lý của họ, nhất là khi phải đổi bát máu lấy bát cơm để nuôi thân và nuôi gia đình. Khi tới bãi xác người, những phu lượm xác nầy mỗi người đều mang theo một lọ mắm ruốc. Họ đã lấy ngón tay chấm mắm ruốc bôi lên mũi, dùng mùi thối của mắm để mong át đi mùi thối của xác chết, và cũng để đánh lừa khứu giác của mình.


Sau những ngày đầu vừa làm vừa rút kinh nghiệm, đoàn hốt xác buổi tối về hay tập trung ở nhà từ đường của chị Tôn Nữ Mộng Nhiên ở số 100 đường thuận An, là nơi “đóng đô” của đám phóng viên ST trẻ Trần Tường Trình, Đoàn Kế Tường và NgyThanh. Nghe đám nhà báo bàn bạc chuyện lượm xác, ban đầu hai cô chủ nhà là chị Mộng Nhiên và chị Lẫm góp ý. Từ từ bén chuyện, hai cô tình nguyện tham dự trò chơi với đạn pháo kích. Thế là đoàn hốt xác có thêm hai khuôn mặt hoàng phái, đảm nhiệm việc ghi chép sổ sách và ghi số mỗi xác, cùng những giấy tờ hay di vật gì chúng tôi lấy được trên thi thể của họ̣. Những vật dụng và tư trang cá nhân ấy được cho vào bao nylon có ghi số trùng với số của quan tài, để về sau trả lại cho thân nhân người quá cố.
Công tác hốt xác kéo dài ròng rã tới bảy tháng mới hoàn tất.

Sau khi thu nhặt hết xác trên hai bãi cát dọc hai bên đoạn quốc lộ̣ mang tên “Đại Lộ Kinh Hoàng” và mai táng xong, anh em ST còn giữ lại nửa triệu, tức một phần sáu tổng số tiền lạc quyên được từ đọc giả hảo tâm, chúng tôi đã dùng số tiền nầy dựng một bức tượng Đức Địa Tạng rất lớn ngay chỗ có nhiều xác chết nhất, lập một đền thờ oan hồn, và tổ chức một lễ cúng do anh Lý Đại Nguyên từ Saigon đại diện tòa soạn ra chủ tọa. Đền thờ này vẫn còn cho đến ngày nay.

Lời cuối:

Cuộc chiến nào mà không có thảm sát, chiến tranh nào mà chẳng có nạn nhân. Nhưng hình ảnh của một đứa bé ngồi khóc bên xác mẹ giữa một chiến trường thảm khốc đầy xác thường dân như ở Đại Lộ Kinh Hoàng vẫn là một hình ảnh đau thương nhất mà chúng ta không thể nào quên được.
Vì vậy tôi cố tìm cho được câu chuyện của một nhân chứng đích thực, còn sống để kể lại hầu quý vị và riêng tặng cho đại tá Nguyễn Việt Hải, chỉ huy trung đoàn pháo Bông Lau của Quân đội Nhân dân của nước Cộng hòa Sã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trong tác phẩm “Mùa hè cháy”, xuất bản năm 2005, tác giả đã viết thật rõ ràng là đơn vị của ông khai hỏa tập trung pháo 122, pháo 130 và pháo 155 mà ông gọi là trận địa pháo cường tập trên Quốc lộ 1 vào đám ngụy quân trên đường bỏ chạy.
Ông đại tá pháo binh tác giả của tác phẩm “Mùa hè cháy” đã đích thân quan sát trong vai trò tiền sát viên để trực tiếp chỉ huy bắn.
Bài báo ngắn ngủi và khiêm nhường hôm nay hy vọng sẽ đến tay các pháo thủ miền Bắc ngày xưa để họ nhớ lại thành quả vào ngày 1 tháng 5 trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972.
Ðịnh mệnh nào đã dành cho ông Phan văn Châu còn sống để định cư tại Hoa Kỳ với 11 người con thành đạt, hàng năm vẫn gửi tiền về giúp cho miền quê nghèo khổ xứ Nhan Biều. Bây giờ, những mộ phần tập thể của dân oan chết vì trận mưa pháo Bông Lau năm 72 đã chẳng còn dấu vết. Những đứa bé đói sữa nằm bên xác mẹ rồi cũng đã chết hết trên đại lộ kinh hoàng 37 năm về trước.
Nhưng mà sao tiếng khóc của em vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây …
Giao Chỉ, San Jose
Advertisements

Cha đẻ của ‘Đại Lộ Kinh Hoàng’

Đại Lộ Kinh Hoàng do thiếu tá cố vấn Robert Sheridan chụp tháng 7, 1972. (Hình: Tác giả cung cấp)
Sau khi đánh được thành, phá được địch và chiếm được đất, mặc dù chưa thắng được lòng dân, nhưng vào năm 1999, Bộ Quốc Phòng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã xuất bản cuốn “55 năm Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” trong đó, ở phần đề cập đến chiến dịch tiến công Trị Thiên vào thời điểm Mùa Hè Đỏ Lửa ở Quảng Trị từ 30 tháng 3 đến 27 tháng 6, 1972, Viện Lịch Sử Quân Sự chỉ viết ngắn gọn ở trang 324, với 219 chữ:
“Tư lệnh: Thiếu Tướng Lê Trọng Tấn. Chính ủy: Thiếu Tướng Lê Quang Đạo. Lực lượng tham gia chiến dịch: ba sư đoàn bộ binh (304, 308, 324) và hai trung đoàn độc lập, hai sư đoàn phòng không hỗn hợp (366, 377) gồm tám trung đoàn pháo cao xạ, hai trung đoàn tên lửa, chín trung đoàn pháo mặt đất, hai trung đoàn xe tăng thiết giáp, hai trung đoàn công binh và 16 tiểu đoàn đặc công, thông tin, vận tải.
Từ 30 tháng 3 đến 5 tháng 4, ta phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài, giải phóng hai huyện Gio Linh, Cam Lộ, buộc địch phải rút khỏi tuyến phòng thủ đường số 9. Từ 10 tháng 4 đến 2 tháng 5, bộ đội ta tiếp tục thọc sâu, chia cắt, diệt từng tập đoàn quân địch phòng ngự ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang, giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị.Từ 3 tháng 5 đến 27 tháng 6, các đơn vị củng cố vùng mới giải phóng, đánh địch phản kích.
Sau gần ba tháng chiến đấu liên tục, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 27,000 tên dịch, phá hủy 636 xe tăng thiết giáp, 1,870 xe quân sự, 419 khẩu pháo, bắn rơi và phá hủy 340 máy bay…, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị và ba xã thuộc huyện Hương Điền (Thừa Thiên).”
Quay lại khúc phim hãi hùng
Tác phẩm mới nhất có đề cập tới 4 từ “Đại Lộ Kinh Hoàng,” là cuốn “Phóng Viên Chiến Trường” của 2 tác giả Dương Phục & Vũ Thanh Thủy, do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương vừa trình làng lần đầu hôm 15 tháng 5, 2016 tại Houston. Là phóng viên chiến trường vào sinh ra tử, kinh nghiệm trận mạc, Dương Phục là một trong ba sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) (cùng với Thiếu Tá Đinh Công Chất và Thiếu Tá Phạm Huấn), được vinh dự đại diện chính phủ và nhân dân miền Nam bay trên chiếc C-130 ra Hà Nội vào đầu năm 1973, trong tư cách Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự 4 bên [Four-Party Joint Military Commission; ghi chú của NgyThanh], để giám sát thủ tục trao trả tù binh Hoa Kỳ từ phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong hồi ký của mình, ở phần nhắc lại “Đại lộ Kinh hoàng,” ký giả Dương Phục viết:
“Cuộc di tản hàng chục ngàn người tạo nên một đoàn rồng rắn suốt đoạn đường dài trên quốc lộ 1, và không ngờ đã biến họ thành mục tiêu dễ nhắm của bom đạn Việt Cộng.
Không điều gì gây phản tác dụng cho một chiến thắng hơn là cảnh dân chúng lũ lượt quang gánh, bồng bế nhau liều chết chạy trốn đoàn quân chiến thắng. Cộng Sản điên cuồng trước chuyện dân chúng bỏ đi nên không ngần ngại làm bất cứ gì để ngăn cản. Với thói quen chỉ biết dùng bạo lực như phương cách duy nhất để áp chế người dân, họ đã dùng đạn pháo như mưa sa để đe dọa, hy vọng níu kéo người dân Quảng Trị ở lại…
… Hành động bỏ phiếu bằng chân đó đã như cái tát vào mặt đoàn quân Cộng Sản ở bất cứ cửa ngõ thành phố nào họ đặt chân tới. Cộng quân do đó đã không ngần ngại xả đạn pháo kích thẳng vào đoàn người di tản, từ đoạn Cầu Dài, Diên Sanh, kéo dài đến tận gần cầu Mỹ Chánh. Quân nhân chỉ là thiếu số hướng dẫn đoàn di tản, còn lại đa số là người dân thường, ông già, bà cả, phụ nữ, trẻ em và thương bệnh binh đang nằm điều trị tại các quân y viện.
… Khi Thủy và tôi đến được khu vực này, xác người đã nằm phơi sương dãi nắng gần hai tháng trời. Mùi tử khí vẫn nồng nặc trong cơn gió nóng hổi của vùng đất khô cằn như sa mạc. Chúng tôi ngỡ ngàng không hiểu tại sao quá đông người có thể chết gục cùng một lúc khắp nơi như thế. Quan sát kỹ, tôi nhận ra đa số thi thể nạn nhân đều bị hàng ngàn mảnh vụn li ti như đinh vụn từ đầu đạn pháo của Cộng quân. Một viên đạn pháo kích bắn ra, những mẩu đinh vụn sắt lẻm nầy tung bay mọi phía với tốc độ tàn khốc và xuyên thủng cả những thành xe bằng sắt của đoàn quân xa miền Nam. Loại vũ khí nầy đã hạ gục ngay lập tức mọi người, chết sững trong cùng động tác mà họ đang hành xử đúng lúc đạn pháo bay tới.
Đại Lộ Kinh Hoàng do thiếu tá cố vấn Robert Sheridan chụp tháng 7, 1972. (Hình: Tác giả cung cấp)
 
Đại Lộ Kinh Hoàng do Thiếu Tá cố vấn Robert Sheridan chụp tháng 7, 1972. (Hình: Tác giả cung cấp)
Chưa bao giờ trong đời chúng tôi thấy nhiều người cùng chết một nơi như vậy… Trái tim tôi quặn thắt trong lòng và Thủy vội làm dấu thánh giá rồi quay mặt sang một bên nôn ọe. Gần chỗ tôi đứng là thi thể một người mẹ tay ôm chặt đứa con trong lòng, đứa nhỏ vẫn đang ngậm bầu vú mẹ. Cả hai mẹ con nằm bất động bên bờ đường quốc lộ như hai hình nộm xám đen của một sân khấu quái đản.
Nếu không tận mắt chứng kiến, khó ai có thể tưởng tượng được quang cảnh kinh khủng như thế nào. Xác người nằm vất vưởng khắp nơi. Đồ đạc và quần áo tung tóe phủ kín mặt đường. Xe hơi, gắn máy, xe đạp, kể cả xe đò, nằm ngổn ngang, lăn lóc. Gồng gánh, bao túi, tan nát tung tóe phơi bày hết mọi thứ bên trong. Tất cả mọi xe cộ, từ quân xa, xe jeep, xe hồng thập tự, đến xe đò, xe tư nhân, đều lởm chởm vết đạn xuyên lủng khắp trên các thành xe.
Có những đoạn không còn một chỗ nào trống cho nhóm báo chí chúng tôi đặt chân bước qua. Thủy, vừa gạt nước mắt ứa ra trên má, vừa thận trọng lò mò dò từng bước chân trên mỗi khúc đường. Chúng tôi phải tìm những cành cây làm gậy chống và nhẹ gạt các mảnh quần áo còng queo sang một bên, để biết chắc là mình đã không giẫm lên các xác người khô khốc sau cả tháng phơi bày sương gió.

Đa số xác người đã rữa nát thịt vì nắng mưa, chỉ còn da bọc lấy xương khô lép kẹp đen sậm như những hình nộm ma quái trong các loại phim kinh dị. Sâu bọ và côn trùng bay túa ra khi gậy của chúng tôi lia trúng những xác người ngổn ngang trên đường đi. Có cả một chiếc xe buýt bị pháo bắn nát đầy lỗ đạn li ti khắp thành xe. Mọi hành khách dường như đều tử thương tức khắc vì mọi người vẫn ngồi gục trong từng vị trí trên băng ghế.

Trách nhiệm về cuộc thảm sát
Trước khi miền Nam Việt Nam thất thủ năm 1975, do sự tan rã của Sư Đoàn 3 Bộ Binh, dẫn đến biến cố mất toàn bộ tỉnh Quảng Trị vào ngày đầu tháng 5, 1972, dư luận và báo chí Sài Gòn có khuynh hướng về hùa nhau, chê trách tài lãnh đạo của tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh sư đoàn xấu số này, và trút hết trách nhiệm, kể cả về nhiều ngàn thường dân bị giết trên đường tản cư, cho ông ấy.
Những ngày sau khi mất Quảng Trị, toàn dân rúng động, dân chúng Huế cũng nhanh chân ùa vào Đà Nẵng, Sài Gòn, kéo theo tâm lý sa sút, và tinh thần chiến đấu khủng hoảng nơi thân nhân họ. Vào thời điểm ấy, việc cứu vãn các tỉnh miền Trung không thể tựa vào các sư đoàn trừ bị thiện chiến như Nhảy Dù, TQLC hay các liên đoàn Biệt Động Quân – vì thực sự các quân số này đang vướng tay ở các chiến trường khác trên khắp nước. Tổng tư lệnh quân đội VNCH chỉ còn một thế cờ chót trước khi đầu hàng: một tên tuổi đủ tài thao lược và sạch sẽ để dùng làm liều thuốc cuối cùng. Thật may, ông đã tìm ra, và đã quyết định kịp thời. Ngày 4 tháng 5, 1972, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, đang là tư lệnh Quân Đoàn 4 ở miền đồng bằng sông Cửu Long, nhận lệnh bay ra Đà Nẵng nhận chức tư lệnh Quân Đoàn 1, thay tướng Hoàng Xuân Lãm.
Ảnh bìa “Mùa Hè Cháy” của đại tá CSVN Quý Hải, người chỉ huy các họng pháo bắn vào đoạn Quốc Lộ 1 phía bắc cầu Bến Đá, Quảng Trị. (Hình: Tác giả cung cấp)
Ảnh bìa “Mùa Hè Cháy” của đại tá CSVN Quý Hải, người chỉ huy các họng pháo bắn vào đoạn Quốc Lộ 1 phía bắc cầu Bến Đá, Quảng Trị. (Hình: Tác giả cung cấp)
Tướng Trưởng là người thanh liêm, ít nói, dám làm. Bằng chứng là ông đã cứu nguy được tình hình, và còn chỉ huy tái chiếm được cổ thành Đinh Công Tráng, và tất cả lãnh thổ tỉnh Quảng Trị nằm ở phía Nam sông Thạch Hãn, rồi lầm lì im lặng. Mãi đến sau khi di tản sang Mỹ, vào thời gian được ban quân sử Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ mời, năm 1980 ông mới viết quyển “The Easter Offensive of 1972,” sau đó được Kiều Công Cự chuyển ngữ thành “Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh Năm 1972” ấn hành vào năm 2007, sau khi ông Trưởng đã qua đời.
Chính Tướng Trưởng lên tiếng bạch hóa vai trò của Tướng Giai trong các diễn tiến mất Quảng Trị, dẫn đến dân chết thảm trên ĐLKH. Trong cuốn sách kể trên, tác giả viết:

“… Tướng Lãm đã không quan tâm đến những khó khăn mà tướng Giai gặp phải. Thái độ của ông hoàn toàn lạc quan… Thái độ lạc quan của tướng Lãm lại được thể hiện rõ nét qua biến cố ngày 9 tháng 4… Ở thời điểm nầy, trách nhiệm và quyền hạn của Tướng Giai đã vượt xa hơn vị trí của một vị tư lệnh sư đoàn. Ông đã chỉ huy 2 trung đoàn BB Cơ hữu (TrĐ 2 và 57), điều động hành quân 2 LĐ/TQLC, 3 LĐ/BĐQ, 1 LĐ/Kỵ binh và những lực lượng diện địa của tỉnh Q. Trị. Như vậy ông ta có đủ quyền hạn trên 9 LĐ bao gồm khoảng 23 tiểu đoàn và những lực lượng diện địa… Nhưng có một điều cần lưu ý ở đây là tướng Lãm không tự cảm thấy vội vàng đến thăm viếng những vị chỉ huy dưới quyền của ông ở tại mặt trận hay những đơn vị tuyến đầu của Quân Đoàn 1. Ông chỉ nghe thuyết trình về những diễn biến của trận đánh qua các bản báo cáo và ban hành những chỉ thị, những huấn lịnh cho ban tham mưu của ông. Tự bản thân ông không bao giờ đi thị sát tuyến phòng thủ của SĐ3 để hiểu rõ những trở ngại mà các đơn vị trưởng phải đối mặt…
… Căn cứ Ái Tử, phía bắc sông Thạch Hãn, là một chọn lựa không thích hợp về mặt chiến thuật. Trong suốt tháng 4, đây là điểm mà pháo địch gửi đến hàng ngày đêm với một mức độ dữ dội. Cho nên Tư Lệnh Sư Đoàn 3 đã quyết định dời bộ tham mưu về phía Nam của con sông Thạch Hãn, trong cỗ thành Quảng Trị. Ông ta chỉ hỏi ý kiến của vị cố vấn sư đoàn. Tướng Giai sợ rằng những cấp chỉ huy dưới quyền của ông biết được kế hoạch nầy, họ sẽ tìm cách phá hỏng bằng những hành động vội vàng nào đó. Ông ta cũng không thông báo kế hoạch nầy cho vị tư lệnh Quân Đoàn 1. Đơn giản là ông ta muốn cẩn thận, muốn đặt mọi việc trước một sự đã rồi. Nhưng đó là một hành động gây tức giận cho Tướng Lãm và sự bất tin cậy bắt đầu lớn dần giữa họ, khoảng cách càng lúc càng lớn cho đến những biến cố dồn dập xảy ra dẫn đến sự thất thủ của thành phố Quảng Trị…
… Trong vòng 4 giờ sau đó [ngày 1 tháng 5, 1972, ghi chú của NgyThanh] những phòng tuyến của quân đội miền Nam đã đổ vỡ hoàn toàn… Sau cùng khi biết được những gì đã xảy ra, Tướng Giai đã cùng ban tham mưu lên 3 chiếc M113 trong cố gắng bắt kịp đoàn người phía trước. Lúc đó những chiếc trực thăng Mỹ đã đến để di tản những toán cố vấn và những nhân viên người Việt Nam của họ. Tư lệnh SĐ3 muốn nhập vào đoàn người phía trước nhưng thất bại. Quốc lộ 1 đầy cứng những người dân chạy loạn và những toán quân ô hợp và mọi loại xe cộ, quân đội và dân sự. Tất cả hốt hoảng tìm đường về Huế dưới những bức tường lửa dã man hung bạo của các loại pháo địch. Tướng Giai bị bắt buộc phải quay lại cỗ thành và sau đó ông ta và ban tham mưu được trực thăng Mỹ bốc đi…

Trên quốc lộ 1, cả một dòng thác người chạy loạn, dân sự và binh lính tiếp tục xuôi nam. Con đường đã diễn ra một cảnh tượng tàn sát không thể nào tưởng tượng nổi. Những chiếc xe đủ các loại bốc cháy dữ dội. Những chiếc thiết giáp, GMC, xe nhỏ của quân đội và dân sự đầy cứng cả con đường không tài nào lưu thông được. Trong khi đó pháo binh địch mở ra một cuộc tàn sát đẫm máu không nương tay. Cho đến xế trưa hôm sau, cuộc thảm sát mới chấm dứt. Hàng nhiều ngàn người vô tội đã được tìm thấy trên đoạn đường dài của quốc lộ 1 và sau đó báo chí đã đặt cho cái tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng.” Sự khích động và sự thảm thương của cảnh nầy, cũng giống như cuộc tàn sát tập thể tại Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 đã ám ảnh người dân phía bắc của Vùng 1 Chiến thuật một khoảng thời gian lâu dài.”
Người Mỹ biết gì về cuộc thảm sát?
Đào bới núi sách báo viết về chiến tranh Việt Nam để tìm hiểu thêm về số người từ Quảng Trị chạy về Huế vào ngày 1 tháng 5, 1972, chúng tôi may mắn bắt gặp được tấm ảnh duy nhất do Thiếu Tá Robert Sheridan, TQLC Mỹ chứng kiến và thu vào ống kính. Trong ảnh đăng kèm bài này, độc giả thấy máy ảnh được đặt ở góc tây bắc của cầu Bến Đá, ống kính hướng ra phía quận lỵ Hải Lăng, nơi đặt bản doanh Lữ đoàn 369TQLC trong cuộc hành quân tái chiếm QT vào tháng 7 và tháng 8, 1972.
Ảnh lấy từ trang 195 trong cuốn “The Easter Offensive” (Trận Công kích Mùa Phục Sinh) của tác giả Gerald Turley được nhà xuất bản Presidio in vào năm 1985. Ở chương 18, ông đại tá nhân chứng trong tư cách cố vấn trưởng của SĐ3BB tường thuật:
“Lúc 12 giờ trưa [ngày 1 tháng 5, ghi chú của NgyThanh] Tướng Giai tuyên bố tình hình kể như tuyệt vọng; thành phố không thể cầm cự dù bất cứ tình huống nào. Ngay sau đó, hai chiếc thiết vận xa chạy vào thành cỗ. Tức khắc, Giai cùng khoảng 25 sĩ quan cao cấp của ông trèo vào, hoặc ngồi bên trên các xe ấy để mở màn nỗ lực tẩu thoát về phía sông Mỹ Chánh. Hành động nầy bỗng dưng làm khoảng 18 quân nhân Mỹ bị bỏ rơi, phải trông chờ trực thăng đến di tản một cách vô vọng. Dave Brookbank và Glen Golden đã phải dùng kỹ năng của mình để lên kế hoạch chia nhau tử thủ cỗ thành. Đến 2 giờ, hai chiếc thiết vận xa chở Giai và đoàn tùy tùng quay lại cỗ thành. Hóa ra khi vừa ra khỏi thành phố mới chỉ được lối 1.5 km, xe của họ bị đối phương phác giác và tấn công. Đường thoát bị khóa, họ chỉ còn nước quay ngược về thành. Về tới, Giai tức thì gọi xin trực thăng để di tản ban tham mưu của mình… Bên trong cỗ thành, việc chuẩn bị di tản tiếp tục với tốc độ chớp nhoáng trong khi các cố vấn Mỹ đốt bỏ tài liệu mật càng nhiều càng tốt song song với phá hủy tối đa các đồ quân cụ. Lúc 3 giờ 20, máy phát điện nổ. Vẫn chưa biết liệu có được di tản kịp không, nhưng các cố vấn đã bắt đầu nghe thấy tiếng súng nhỏ ngay phía ngoài tường thành, mỗi lúc mỗi nhiều, và khu vực cũ ngoài phố bắt đầu bốc cháy. Đến 4 giờ 30, chuyến trực thăng đầu tiên sà xuống. Ông Giai và các sĩ quan thân cận nhảy vội lên. 4 giờ 32, máy bay rướn lên, chở theo 37 hành khách. Chiếc thứ nhì nhào xuống, trong vòng hai hoặc ba phút, đã mang đi 47 người. Chiếc thứ ba xuống, bốc 45 người còn lại, với Đại Tá Murdock và Thiếu Tá Golden, là 2 người sau cùng. Đến lượt chiếc thứ tư xuống, nhưng chỉ sau 30 giây, đã cất tàu trống lên khi các phi công biết là tất cả mọi người đã được cứu thoát. Cuộc di tản 129 quân nhân về Đà Nẵng đã kết thúc thành công. Thành phố bị cô lập và bỏ ngõ…
Báo Sóng Thần đề ngày 3 tháng 7, 1972, với tường thuật của 2 phái viên NgyThanh và Đoàn Kế Tường về Đại Lộ Kinh Hoàng. (Hình: Tác giả cung cấp)
 
Báo Sóng Thần đề ngày 3 tháng 7, 1972, với tường thuật của 2 phái viên NgyThanh và Đoàn Kế Tường về Đại Lộ Kinh Hoàng. (Hình: Tác giả cung cấp)
Trước đó, giữa sáng 29 tháng 4, hai đại úy George Philips và Bob Redlin lái xe Jeep tới bộ chỉ huy Lữ đoàn 369TQLC để bốc thiếu tá Sheridan. Philips nói, “Chúa Mẹ ơi, ông có thấy gì ngoài quốc lộ không? Cả mấy ngàn người dân đang chạy, bỏ Quảng Trị lại sau lưng. Ngoài đó, nhìn vào phía Nam hay ngược ra Bắc đều thấy dầy kín dân tỵ nạn.”
Đoàn người cứ thế tiếp tục trong nhiều tiếng đồng hồ. Khoảng giữa trưa 29 tháng 4, pháo binh Bắc quân lại bắt đầu ào ào nhả đạn vào đoàn người ấy. Khi đêm xuống, người tỵ nạn băng qua các vị trí bố phòng của TQLC. Đột nhiên, lúc 9 giờ đúng, trừ những người chậm chân bị tụt hậu lại đàng sau, đoàn ngươi bỗng dưng đứt đoạn. Đại Tá mũ xanh Phạm Văn Chung không lâu sau đó đã nhận được tin nguyên nhân sự đứt đoạn là bởi Bắc quân đã thành công trong việc cắt đứt quốc lộ 1 ở phía Nam thành phố. Vậy rõ ràng là họ đã chiếm được cây cầu qua sông Nhung [cầu Dài, hoặc cầu Trường Phước, ghi chú của NgyThanh] do một cánh quân Biệt Động trấn giữ. Và như thế, nhiều bộ phận của Sư Đoàn 3BB đã bị nhốt cứng cách phòng tuyến Mỹ chánh độ 8 km về phía Bắc.”
Phóng viên Arnold Issacs của tờ Baltimore Sun có dịp đi qua đại lộ kinh hoàng, trông thấy tấn thảm kịch và ghi lại trong cuốn “Without Honor: Defeat in Vietnam and Cambodia” (Chẳng danh giá gì: Chiến bại ở Việt Nam và Cambodia):
“Ở phần mở màn của trận phản công, binh sĩ nhảy dù VNCH đã chứng kiến một trong những cảnh tượng khủng khiếp nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh: những tàn dư của một đoàn công voa gồm vừa lính tráng vừa thường dân bị đốt cháy và bị xé banh xác do bị kẹt lại ở phía bên kia của cây cầu đã bị giật sập [cầu Bến Đá, ghi chú của NgyThanh] để rồi bị tiêu diệt trên hành trình trốn chạy khỏi tỉnh. Trên chiều dài của nhiều dặm đường, xe cộ bị xé toạc thành từng miếng nằm nối đuôi nhau thành một hàng dài hầu như không đứt lìa dọc cả hai bên lề đường. Trên chuyến xe Jeep nhồi nhét đầy ắp nhà báo chạy về hương bắc một vài ngày sau khi lính nhảy dù qua sông, tôi đếm được hơn 400 xác xe trong 3 cây số đầu tiên, và tôi thôi không đếm nữa trước khi tới hết cái đuôi của sự tàn phá. Quân xa thì bạt che mui bị đốt cháy hay đã bay mất, chỉ còn trơ các thanh đỡ mui trông giống các que xương sườn của một bầy khủng long. Xen kẽ giữa chúng là các xác xe tư nhân nằm lộn xuôi lộn ngược: xe đò thì bên hông lăm dăm các lỗ thủng do mảnh lựu đạn hay đạn súng trường, xe đạp xe gắn máy bị vặn cong hoặc gãy gọng từng khúc, xe lam thì chiếc cháy chiếc bị xé từng mảnh, xe hơi cháy đen, đèn pha bị hất tung ra ngoài chỉ còn các lỗ trống như các hố mắt trên đầu lâu con người.”
Phần riêng Thiếu Tá Sheridan, ông ghi nhận những gì mà ông quan sát cảnh tượng vô bờ bến của tấn thảm kịch và sự tàn phá: “Đoàn người chạy giặc kéo dài hàng giờ và tôi nghĩ không đời nào còn có thể chứng kiến một hình ảnh tệ hại hơn khi mà vào sau giờ Ngọ, các pháo thủ của miền Bắc, vì lý do gì thì tôi sẽ không bao giờ hiểu thấu, đã khai hỏa các họng đại pháo trút đạn xuống đầu đoàn người. Hàng trăm người bị giết và bị thương, nhưng cái khối lúc nhúc người ấy tiếp tục ùn về phía Nam. Chúng tôi không thể bắn trả vì tầm bắn của pháo binh địch xa hơn pháo của chúng tôi. Tất cả sự kính trọng tôi vẫn dành cho bộ đội Bắc Việt đã đánh mất từ hôm ấy. Các tiền sát viên của họ, những người chấm tọa độ và chỉnh bắn trận mưa pháo đã đến đủ gần để khẳng định rằng đa phần là dân thường và không thể là một lực lượng quân sự.”
Vòng tròn khép kín
44 năm trước, trong tuần lễ này, quốc lộ tử thần giữa cầu Bến Đá và cầu Trường Phước bốc mùi tử khí. Thật là một trùng hợp lịch sử: Tháng 7 năm nay, cuốn nhật ký chiến tranh Mùa Hè Cháy của tác giả Quý Hải, nguyên là một đại tá của Quân Đội Nhân Dân, được tái bản.
Sáng 1 tháng 7, 1972, khi tôi từ Huế theo chân phóng viên chiến trường Đoàn Kế Tường đến cầu Bến Đá nằm ở phía Bắc phòng tuyến Mỹ Chánh, thì cầu xe đã bị giật sập như các nhân chứng khác đã tường thuật. Thấy khu vực hai đầu cầu vắng lặng, không có lính nhảy dù phòng ngự trong các hố cá nhân và giao thông hào, chúng tôi phán đoán là phía VNCH đã đẩy được đối phương lùi lại một khoảng, nên rủ nhau bò qua chiếc cầu sắt xe lửa cũng đã gãy gục thành hình chữ V xuống nước, nhưng vẫn có thể bò qua được, nếu may mắn trên thành cầu không bị cài mìn hay lựu đạn.
Với một chút liều lĩnh và hiếu thắng của tuổi trẻ, chúng tôi đã bò qua dễ dàng. Ngay đầu cầu phía bên kia của quốc lộ, là một bãi mìn dày đặc, do công binh VNCH cài một cách công khai, ngụ ý đe dọa để ngăn chặn đối phương hơn là nhằm sát thương. Bắt đầu từ bãi mìn hướng ra phía bắc, là dãy xe nhà binh, xe dân sự, xe đạp, xe gắn máy và la liệt xác người như trong tấm hình duy nhất mà tôi còn giữ lại được cho những sử gia nghiên cứu về sau.
Sau nhiều năm tìm tòi, tôi thấy cần bảo lưu tấm hình không đạt yêu cầu nghệ thuật của mình, vì ngoài một tấm thứ nhì do Thiếu Tá Cố Vấn Robert Sheridan thuộc TQLC Mỹ chụp, tất cả các hình ảnh “đại lộ kinh hoàng” còn lại đều được chụp sau khi công binh chiến đấu của Trung Tá Trần Đức Vạn đã bắt xong cầu dã chiến qua sông Bến Đá, để mang xe ủi qua sông, cào một dải khá rộng giữa lòng đường làm tuyến tiếp viện binh sĩ, súng đạn và thực phẩm cho tiền quân. Nhờ có cầu dã chiến, các phóng viên khác đến sau chúng tôi không phải bò qua cầu sắt, nhưng họ lỡ dịp may ghi vào ống kính tình trạng nguyên vẹn của cảnh tượng mà tôi đặt tên là “đại lộ kinh hoàng” trong cú điện thoại gọi về tòa soạn Sóng Thần từ bưu điện Huế trong đêm 1 tháng 7, 1972.
Nhưng Tường và tôi vẫn là những kẻ đến muộn những 2 tháng sau khi xảy ra cảnh tượng kinh hoàng. Người biết về cảnh tượng rùng rợn này trước chúng tôi chính là vị sĩ quan chỉ huy Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 38 Pháo Binh Bông Lau của miền Bắc, người ra lệnh từ đài quan sát ở cao điểm 132, và chịu trách nhiệm trên từng viên đạn pháo tầm xa, trong cuộc chiến nhằm “giải phóng nhân dân khỏi sự kềm kẹp của Mỹ Ngụy.”
***
Trong cuốn Mùa Hè Cháy, tác giả Quý Hải, bây giờ mang quân hàm đại tá, đã chỉ viết đúng một câu ngắn: “Dọc đường số 1 hàng trăm xe ngổn ngang, địch bỏ chạy. Máy bay địch thâm độc thả bom vào những đoàn xe để phi tang, bất kể lính của chúng bị thương còn ngổn ngang. Xe cháy nghi ngút.”
Là một trong hai nhà báo đầu tiên đặt chân đến và đặt cho địa ngục trần gian ấy cái tên “đại lộ kinh hoàng,” tôi thấy cái vòng tròn bao quanh cánh đồng chết giữa 2 cây cầu Bến Đá và Trường Phước nay đã có thể khép kín, nếu người đặt tên là tôi, và cha đẻ của tác phẩm vấy máu chấp nhận ngồi đối diện nhau, cũng như đối diện với các oan hồn đã bị thảm sát.
Khi ngồi trước mặt nhau, tôi, một quân nhân mang cấp bậc Binh Nhất của miền Nam, chỉ xin phép thưa với Thiếu Tá Pháo Binh Nguyễn Quý Hải vài điều thật giản dị.
Thứ nhất, hố bom do máy bay thả xuống và hố đạn pháo binh sau khi bị kích hỏa, tôi nghĩ là không thể trộn lẫn với nhau. Nhưng kiến thức của một Binh Nhất miền Nam có thể rất hạn hẹp, hay lầm lẫn; đề nghị thiếu tá hỏi lại thủ trưởng của mình, trung đoàn trưởng Cao Sơn. Là người đi suốt chiều dài tử lộ từ sông Bến Đá đến sông Nhung, tôi khẳng định với người anh hùng Bông Lau [dám tấn phong liệt sĩ cho khẩu đội trưởng Nhúng, Trọng và đồng đội đã hy sinh tại trận địa ngày 22 tháng 4, 1972 mà không cần chờ chính phủ ban hành nghị định số 31/2013/NĐ-CP, ngày 1 tháng 6, 2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp Lệnh Ưu Đãi người có công với cách mạng] – rằng, trên mặt đường nhựa ấy, chỉ có xác chết và xác xe, không có một hố bom, dù là loại bom nhỏ nhất.
Thứ nhì, cây kim trong đống rơm còn có lúc phải thò ra ánh sáng, nữa là đoạn từ lộ dài trên 5km, xác xe đan vào nhau từ vệ đường bên nầy sang bên kia, bề ngang còn lớn hơn cả đoạn Bát Đạt Lĩnh của Vạn Lý Trường Thành, hà tất từ quỹ đạo địa cầu cũng có thể thấy đại lộ kinh hoàng. Hay là ông đại tá Bắc Việt chưa có đủ thông tin, hoặc giả thông tin chưa chuẩn xác về những nạn nhân của Bông Lau, chủ yếu là dân thường?
Đại Lộ Kinh Hoàng - do NgyThanh đặt tên - trên màn ảnh định vị của điện thoại thông minh ngày nay. (Hình: Tác giả cung cấp)
 
Đại Lộ Kinh Hoàng – do NgyThanh đặt tên – trên màn ảnh định vị của điện thoại thông minh ngày nay. (Hình: Tác giả cung cấp)
Tôi xin kể một mẩu tin ngắn để mua vui cho người hùng Bông Lau: mới đây thôi ngày 31 tháng 5, 2016, tại giao lộ Briardale và Brook Canyon trong thành phố Charlotte, bang Bắc Carolina, một chị tài xế, để tránh khỏi cán một con mèo trên đường, đã làm chiếc xe buýt chở học sinh của chị lạc tay lái, húc văng một xe hơi đang đổ bên đường, rồi lao vào một căn nhà, gây thương tích cho 14 học sinh và bản thân chị. Chuyện này nhỏ như chuyện xe cán chó chó cán xe bên mình, chẳng ai buồn nhớ lại sau khi đọc cái tin, vì tránh không sát hại thú vật đã trở thành nếp sống văn minh của con người.
Thành thử, đoạn văn mà nhà văn đại tá dùng để kết án “Mỹ ngụy thâm độc” dùng máy bay thả bom vào những đoàn xe để phi tang, tôi không nghĩ là có cơ sở, sẽ có ai tin, mà tự nó vạch trần cho người đọc thấy được một nỗ lực lấp liếm, tráo trở kém trình độ. Muốn có người tin, e rằng trước tiến cần thu hồi toàn bộ sách Mùa Hè Cháy đã in, để hiệu đính vô số lỗi văn phạm, lỗi cú pháp và cách hành văn tối nghĩa như mõm chó, cũng như phải sửa lại đoạn vừa trích dẫn, vì chỉ vỏn vẹn có 40 từ, mà nhà văn lớn đã vấp phải lỗi điệp ngữ vĩ đại.
Thưa Đại Tá Quý Hải:
Chiến tranh lùi lại sau lưng chúng ta đã 41 năm. Chuyện chết chóc và đau thương đã trở thành quá khứ. Nay người dân đang cần những tác phẩm mang tính chính sử, chứ không là ngụy sử. Nếu những trách nhiệm mà Tướng Thân Trọng Một gây cho người dân Huế có thân nhân bị chôn sống hồi Mậu Thân đến nay vẫn trong diện ưu tiên cần né tránh, thì chắc chắn việc đại tá ra lệnh và xử bắn, làm chết ít ra 1,841 người mà chính tay chúng tôi lượm được xác ba tháng sau đó – cũng chưa cần phải đưa đại tá ra trước vành móng ngựa của Tòa An Hình Sự Quốc Tế ở Hà Lan, để trả lời về tội ác chiến tranh, hay tội ác chống lại loài người. Mặc dù Thiếu Tá Robert Sheridan viết: “Tất cả sự kính trọng tôi vẫn dành cho bộ đội Bắc Việt đã đánh mất từ hôm ấy,” nhưng là người Việt Nam với nhau, tôi sẽ sẵn sàng bày tỏ lòng kính trọng của mình dành cho tập thể Quân Đội Nhân Dân, trong đó có đại tá – với điều kiện đại tá nhận lời mời gọi kính cẩn của tôi, để mang vòng hoa trắng, đến thăm đài tưởng niệm các nạn nhân đã bị giết oan, và cầu cho oan hồn họ tiêu diêu cõi vĩnh hằng. Nếu dám đến, với sự hối tiếc chân thành, và với tư cách là người gây ra biến cố “Đại Lộ Kinh Hoàng,” tôi cho rằng Đại Tá Nguyễn Quý Hải xứng đáng được tha bổng.
NgyThanh
1 tháng 7, 2016

ĐẠI LỘ KINH HOÀNG

 ĐẠI LỘ KINH HOÀNG

Đại lộ Kinh Hoàng là tên không chính thức cho một đoạn đường dài khoảng 9 km tại tỉnh Quảng Trị, nơi mà theo Việt Nam Cộng hòa thì đoàn quân Việt Nam Cộng hòa đang rút chạy về phía Nam trong Chiến dịch Xuân-Hè 1972 thời kỳ Chiến tranh Việt Nam đã bị trúng pháo kích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam[1]. Hiện nay chưa có nguồn thứ 3 xác nhận sự kiện này có thật hay không. Theo báo Nhân dân thì đây là một sự vu khống của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.[2]

Hoàn cảnh lịch sử

 

Giữa trưa ngày 30 tháng 3 năm 1972, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở một cuộc tiến công mạnh mẽ. Tất cả đồng loạt vượt sông Bến Hải, tràn qua khu phi quân sự, pháo tập và tấn công [cần dẫn nguồn] vào lực lượng quân đội của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đóng tại tỉnh Quảng Trị.
Để mở đường qua sông, pháo binh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với các loại 130 ly cũng như hỏa tiễn 122 ly, từ Vĩnh Linh bên kia cầu Hiền Lương, đồng loạt bắn phá tất cả các căn cứ hỏa lực của Việt Nam Cộng hòa, với mức độ tàn phá kinh khủng chưa từng có làm hai trung đoàn 2 và 56/SD3BB bị tổn thất nặng nề về nhân mạng, đồng thời làm cho tinh thần binh sĩ Trung đoàn 56 dao động mạnh và hoảng sợ, đầu hàng nhanh chóng[cần dẫn nguồn].

Cuộc rút lui trên Đại lộ Kinh Hoàng 

Ngày 31 tháng 3, căn cứ hỏa lực của TD4 TQLC tại núi Ba Hô và Sarge bị tràn ngập, phải di tản vào lúc 9 giờ 40 tối sau khi tổn thất nặng. Ngày 1 tháng 4, các căn cứ Đông Hà, Cam Lộ, Ái Tử bị pháo kích nặng nề nhưng nhờ hải pháo của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ nên QGPMNVN vẫn chưa chiếm được. Tuy nhiên trước sức tấn công mạnh mẽ của QGPMNVN, lần lượt các căn cứ hỏa lực A-1, A-2, A-3, A-4 do SD3BB trấn giữ, bị tấn chiếm, còn căn cứ Fuller và Khe Gió thì phải "di tản chiến thuật". Căn cứ Holcomb của TQLC cũng bị tràn ngập lúc 12 giờ 30 khuya đêm 2 tháng 4[cần dẫn nguồn].
Ngày 30 tháng 4, tư lệnh chiến trường kiêm tư lệnh SĐ3 Bộ Binh Việt Nam Cộng hòa là Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, triệu tập phiên họp đặc biệt và quan trọng để bàn kế hoạch giữ thành phố Quảng Trị và bỏ căn cứ hỏa lực Ái Tử. Do đó, trong cuộc lui quân, trên 2.000 quân Việt Nam Cộng hòa khi qua cầu Thạch Hãn thì cầu bị sập, khiến cho một số lớn chiến xa, xe cộ, đại bác và quân trang quân dụng... phải bị bỏ lại phía bên kia cầu cho quân Giải phóng. Cùng với dòng lính đang rút chạy cũng nhập lại thành một đoàn dài lẫn lộn cả các loại lính. Lúc đó Quốc lộ 1, đoạn từ Hải Lăng về Mỹ Chánh, đang bị QGPMNVN chiếm và đóng chốt, nhất là cầu sông Nhung, nằm giữa Quốc lộ. Đoàn người xuôi Nam hỗn loạn, lớp lớp quân lính trộn vào với lính, bằng đủ loại phương tiện, từ chạy bộ quang gánh đến quân xa, thiết giáp, xe đò, xe lam, xe máy. Một số quân nhân còn khả năng tác chiến cá nhân hay ở cấp đơn vị nhỏ, mạnh ai nấy đánh và mạnh ai nấy chạy nhưng không còn khả năng hành quân nhổ chốt mở đường. Tình trạng này đã làm gián đoạn giao thông, đoàn xe di tản của binh lính, dài hơn ba cây số.[cần dẫn nguồn].
Đài RFA khi đưa tin về việc tỉnh Quảng Trị khánh thành tháp chuông tưởng niệm bộ đội hy sinh trong chiến tranh cho rằng: "Vào lúc đó. bộ đội cộng sản đã bắn trực diện vào dòng người chạy loạn trên quốc lộ 1 đoạn từ thị xã Quảng Trị cũ qua Hải Lăng tới Huyện Phong Điền. Theo RFA thì "hàng chục ngàn thường dân đã chết trên đoạn đường này, và cái tên Đại lộ Kinh Hoàng được nhắc tới từ ngày đó"[3]. Tuy nhiên, chưa có nguồn độc lập xác nhận tin của RFA. Bên cạnh đó, báo Nhân dân cũng cho rằng không có bằng chứng để chứng minh sự tồn tại vụ thảm sát này.[2]
Ngày 23 tháng 7 năm 2005 Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm lễ cầu siêu cho các liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn. Tại đây, sau khi dâng hương cúng tại đài liệt sĩ, Hòa thượng Thích Chánh Liêm, Trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Trị, cho biết: "năm 1972, trận chiến ở Quảng Trị đã làm hàng chục nghìn người chết, con đường quốc lộ đoạn qua Hải Lăng bấy giờ được gọi là 'đại lộ kinh hoàng', người chết la liệt[cần dẫn nguồn]. Tháng 8/1973 đã diễn ra một lễ đại cầu siêu kéo dài 7 ngày 7 đêm. Hơn 3.000 tăng ni và hàng nghìn Phật tử đã về đó tìm xác, chôn cất người chết. Tất cả đều được chôn cất đàng hoàng và được làm lễ cầu an sinh linh. Bây giờ đi trên quốc lộ 1A, qua đó vẫn thấy Đài Địa Tạng lưu giữ dấu ấn về đại lễ cầu siêu năm đó"[cần dẫn nguồn].

Nhận định về Đại lộ Kinh Hoàng

Nhắc lại thảm cảnh trên đoạn đường này, Đỗ Kh., Lê Văn Khoa, cựu chiến binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã có mặt và chứng kiến trên đoạn đường này, đã viết rằng không thể có con số chính xác về thương vong cũng như hoàn cảnh của sự việc, theo ông Khoa thì: "Đại lộ kinh hoàng đã là lối xuôi Nam của hai mươi ngàn lính, thì trong đó đã có hàng ngàn người bỏ xác trên đường. Việc này, đúng sai, phóng đại, thêm thắt đến mức nào, cũng đã để lại ấn tượng rất là phù hợp với tên gọi trong dư luận Miền Nam. Còn việc có nên nổ đạn một cách thiếu chính xác (nếu không gọi là bừa bãi) và một cách tuỳ tiện (nếu không gọi là hệ thống) vào một đoàn người lẫn lộn (nếu không gọi là hỗn loạn) để chặn đường lui binh của địch thì để mỗi người chúng ta (cần, hay không cần phải) tự vấn và (cần, hay không cần phải) tự trả lời"[4].

Thông tin thêm

  • Năm 2004, số vụ tai nạn giao thông ngày càng gia tăng trên đoạn quốc lộ 1A qua địa phận huyện Hải Lăng ở Quảng Trị mà theo báo Thanh Niên "đã làm cho đoạn đường này sống lại cái tên 'đại lộ kinh hoàng' mà hồi chiến tranh người ta đã từng gọi nó"[5].
  • Năm 1975, khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hòa chiếm được tỉnh Quảng Trị, xe tăng của họ thậm chí còn bật đèn soi cho binh lính và thường dân chạy trốn. Cuộc tản cư này êm ả đến mức người ta đồn rằng đã có một thỏa ước giữa Quân lực Việt Nam Cộng hòa và những người Cộng sản[6].

Chú thích

Monday, July 30, 2018

NGUYỄN THỊ VĨNH PHƯỚC * NGÀY ẤY NGẬM NGÙI

  NGÀY ẤY NGẬM NGÙI 

 NGUYỄN THỊ VĨNH PHƯỚC

alt

NGÀY ẤY NGẬM NGÙI 

NGUYỄN THỊ VĨNH PHƯỚC


Đăng ngày: 19:09 30-06-2011

Nguyễn Thị Vĩnh Phước,
cựu học sinh Nguyễn Hoàng, Quảng Trị

Tháng 5 năm 1976 - mùa gặt chính. Đây cũng là thời điểm đầu tiên tôi bỏ lại sau lưng tất cả những mộng ước một thuở áo trắng học trò để bước chân vào đời trong vai trò mới. Tôi trở thành lao động chính. Nghề nghiệp: Trồng cây lương thực. Nơi làm việc: Hợp I - tên gọi tắt từ mấy chữ Hợp tác xã Nông Nghiệp số I của đội sản xuất quê nhà Lam Thuỷ - nơi mà mẹ con tôi dắt díu nhau trở về sau ngày 30/4/1975. Ngày đầu tiên tôi tham gia lao động đúng vào mùa gặt. Đó là một ngày mùa hạ đầy nắng gió.

Những cơn gió Lào quăng quật rát bỏng vào mặt, vào những bước chân non nớt của tôi đang cùng đoàn người tay cầm đòn xóc, tay cầm vằng (lưỡi hái) hướng về phía ruộng trũng có tên là Bàu, Đội. Ruộng ở đây sâu nhất làng, quanh năm ngập nước. Bao năm rồi chiến tranh, ruộng đồng bỏ hoang. Nghe đâu thời giao tranh ác liệt đã có không ít xác người nằm lại nơi đây mà chẳng được mai táng. Có lẽ đó là lý do để Bàu là nơi tích tụ nhiều thứ ô nhiễm nên bất cứ ai một lần lội xuống đó đều bị ngứa, gãi trầy da tróc vảy đến tận xương mà chưa “đã” ngứa.
.

Tôi theo mọi người lội bì bõm trong ruộng để gặt lúa, lúc đầu còn lớ ngớ lắm nhưng sau một lúc để ý các thao tác của người bên cạnh, tôi cũng huơ vằng, cũng xoay xoay cho nắm lúa thật chặt tay rồi mới vung chiếc vằng cắt đánh soạt như bao người khác. Đáng sợ nhất là bầy đỉa, con nào con nấy dài thượt, mình trơn tuột đầy vệt ngang dọc rằn ri cứ lượn lờ chực bám vào chân người. Tôi vừa gặt vừa “cảnh giác cao độ” lũ đỉa đói. Vậy mà lâu lâu cũng có một con đeo tòn ten ở bắp chân. May có chị Thương gặt kế bên bảo tôi nhắm mắt lại - đừng nhìn - để chị bốc nó vứt ra xa.




Buổi sáng đầu tham gia lao động sản xuất của tôi trôi qua trót lọt nhờ có mấy người bà con hàng xóm tốt bụng, thương đứa học trò vừa tập lội ruộng nên đã tận tình giúp đỡ, coi như tập sự xong. Đến trưa gánh lúa về mới là điều nan giải; coi mọi người xóc lúa, gánh lúa nhịp nhàng thế chứ không dễ gì đâu. Xóc lúa không đúng cách khi đưa lên vai chạy một quãng là lúa sẽ rơi khỏi đòn xóc ngay; không biết đi theo nhịp, lúa cũng sẽ bị “trơi”; mà việc xóc lại gánh lúa đã bị trơi thì càng khó hơn… Ôi thôi! Từ một đứa học trò chỉ biết sách vở, giờ bắt tay vào những công việc đồng áng mới thấy khổ làm sao! Tôi còn nhớ như in lúc đi qua con mương Thiên Trung, gánh lúa trên vai quá nặng so với vóc dáng bé nhỏ của tôi.


Nhìn xuống dưới mương nước đang chảy tôi thấy một con đỉa trâu - loại đỉa rất lớn hay bám hút máu trâu bò - to đùng nổi lềnh bềnh trên mặt nước làm tôi bủn rủn cả tay chân. Thế là“uỵch”, tôi té nhào xuống bờ mương. Chưa hết, cho dù bị té đau điếng, cái đòn xóc mang nặng hai bó lúa đè ngang cổ đến nghẹt thở, tôi cứ vẫn co cao hai chân, quyết không để chân đụng mặt nước dưới mương vì sợ con đỉa đánh hơi bám vào. Tôi cất giọng khàn khàn kêu cứu “Quốc … Quốc …ơi…!” Quốc là cháu họ của tôi, một thanh niên hơn tôi chừng vài tuổi. Quốc có làn da ngăm đen, mạnh khỏe và rất vui tính. Hắn luôn đi sát bên tôi trong những ngày đầu tập sự công việc đồng áng, hầu kịp thời giúp đỡ cho o học trò vừa chân ướt chân ráo vào nghề.



Nghe tiếng kêu, Quốc quay lại. Thấy cảnh ấy hắn trách liền “ Đã nói rồi, để cháu đi sau o mà không chịu. Lỡ o có bị té thì cháu đỡ cho mà không nghe. Cứ kêu cháu về trước uống nước kẻo khát, may mà cháu đi chầm chậm chơ không thì o làm răng đây?” Dứt bài ca cẩm, Quốc nhẹ nhàng đặt gánh lúa trên vai xuống bờ ruộng rồi bước lại chỗ tôi. Bỗng dưng hắn ngó tôi đăm đăm rồi ôm bụng cười lăn lộn. Trời ơi! Tôi vừa sợ chân mỏi sẽ rớt xuống nước vừa mệt vì ngạt thở, hắn chưa chịu cứu tôi mà cứ đứng đó ôm bụng cười còn chỉ chỉ vào chân tôi nữa là sao? Tôi tức đến chảy nước mắt. Thấy thế, hắn hoảng hốt “O… o răng rứa?

Thôi đừng khóc... đừng khóc, để cháu đỡ cho”. Nói xong hắn đỡ gánh lúa đang đè trên cổ tôi rồi vội vàng nắm chặt tay cho tôi bước qua bờ mương đất mềm nhão nhoẹt đầy cỏ lác. Quốc đặt gánh lúa của hắn lên vai tôi nói “O gánh gánh ni, để cháu bó lại gánh lúa tê rồi cùng về kẻo trưa rồi”. Nghĩ lại thấy tội hắn ghê nhưng cũng tức nữa, hắn đã cứu tôi nhưng từ đó hắn có một đề tài ưa thích để chọc ghẹo tôi. Cứ mỗi lần cùng đoàn người ra ruộng, ngang bất cứ con mương nào, hắn lại diễn cái màn tôi té bên bờ mương rồi cất tiếng vịt mái kêu Quốc … Quốc ơi! làm tôi mắc cỡ muốn chết còn mọi người thì được dịp cười đau cả ruột.

Xong mùa gặt, chúng tôi lại tiếp tục làm đất ruộng, nào cày, nào cuốc… rồi gieo hạt, nhổ mạ và cấy lúa cho vụ trái. Cuốc đất ruộng được gọi là cuốc đất ải. Mấy ngày đầu, da tay tôi bong lên, sưng mọng nước rồi dập ra đau thấu xương. Thế nhưng cũng phải ráng cho kịp người ta. Cứ một hàng ngang đưa cuốc lên phặp… phặp, mình dừng lại xoa tay là bị tụt hậu liền, chuyện công điểm bình bầu cuối ngày có thể không cần thiết nhưng sợ cuối ngày lại nghe “phê bình” rằng ...thì là... là... là... là… là…thanh niên 17 bẻ gãy sừng trâu mà mà… mà… mà…cuốc đất giống... giống ông thầy phùy thủy hươ cây làm phép thì nhục lắm.

Cũng may Quốc luôn cố ý đứng gần để “vớt “ cho tôi. Qua một vụ mùa đã quen với công việc đồng áng, hai bàn tay đã đầy vết chai, tôi tự tin hơn, không còn sợ sệt và lớ ngớ như trước nữa. Vừa làm việc, tôi cũng vừa hò vè đối đáp với mấy o, mấy chị lớn tuổi những câu hò mái nhì dặt dìu hoặc hò khoan hò hụi … để quên đi phần nào sự vất vả trên cánh đồng một nắng hai sương. Một lần, đội sản xuất của tôi xuống cấy ở ruộng Bàu. Nhìn qua đám ruộng bên cạnh, tôi thấy Hùng đang dắt trâu. Cũng như mấy anh chàng học trò vừa làm quen với ruộng đồng, Hùng chưa biết cày nên cầm sợi dây xỏ mũi con trâu to bự chảng đi trước để người đi sau cày hoặc bừa làm đất cho ruộng cấy, việc làm đó có tên là “dắt trâu”.

Dắt trâu coi vậy chứ không dễ đâu, gặp con trâu chứng, hay lồng lên không chịu đi là người dắt trâu bị thợ cày nạt nộ cho tối tăm mặt mũi. Hùng là thằng bạn học lớp vỡ lòng với tôi ngày trước. Hồi đó chúng tôi học vừa xong lớp Một thì trường làng bị pháo kích đổ nát, nhà tôi cũng tan tành trong một trận đánh. Thế là tôi theo gia đình ra tỉnh học còn Hùng là con nhà lính nên theo cha vào tận Sài Gòn, mãi đến cuối hè năm 1975 hai đứa tôi mới gặp lại. Một ngày, anh Lam - con ông bác họ đồng thời là bạn học cùng lớp với tôi - đã đưa Hùng đến gặp tôi. Lam nheo nheo mắt hỏi tôi “Nhớ ai đây không?”


Tôi thấy Hùng rất quen nhưng nhìn cái bảng tên trường thì lạ hoắc nên chỉ cười không nói. Hùng nhắc “Hồi đó hai đứa mình cùng ngồi chung bàn đầu ở lớp Một trường làng Lam Thuỷ đó”. À thì ra là hắn, đứa con trai ở xóm Sông ngồi bên cạnh tôi suốt năm học lớp Một của ngày xưa ấy. Trong lũ học trò nhà quê hắn nổi bật nhất lớp nhờ làn da trắng trẻo và áo quần sạch sẽ tươm tất.

Gặp lại bạn tôi vui lắm, hỏi thăm nhau về gia đình và việc học hành mới biết ba Hùng đã tử trận nên mẹ hắn đưa con cái về quê. Để rồi bây giờ chúng tôi cùng dứt áo thư sinh để bước vào đời nông dân. Một thoáng nghèn nghẹn bất chợt kéo đến khiến tôi cay cay mắt. Hùng cũng thấy tôi, hắn hơi ngẫn người ra một chút rồi cười cười vội vã bước đi trong đám bùn ộp oạp. Tôi cũng chăm chú cùng mọi người cật lực cấy cho xong đám ruộng vì sợ chiều nước dâng khó cấy, dù đôi chân ngâm trong ruộng nước dơ ngứa ơi là ngứa.

Dĩa trâu.jpg



Buổi trưa vừa về đến nhà là tôi vội rửa sạch hai ống chân, lau thật khô rồi xát cả cối gừng tươi trộn muối hột mạ tôi vừa giã nát chờ sẵn. Sáng nay, biết tôi đi làm ở Bàu nên mạ tôi đã làm sẵn món thuốc tự chế ấy trước khi con trở về. Nhờ thoa “bửu bối” của mạ vừa rát, vừa nóng nên chỉ làm chân tôi sưng tấy lên và đau nhức nhưng cũng bớt ngứa, không phải cào lòi cả da non như mọi người. Chiều đó, khi tập trung trên đường xóm để chuẩn bị xuống cấy ruộng Thiên Tả, nhìn chân của những người khác mới kinh khiếp làm sao!...





Trời ạ! Đôi chân của họ không những bị trầy vi tróc vảy mà còn đủ màu sắc: chỗ thì xanh lè, chỗ thì tím ngắt, chỗ thì vàng vàng... Hỏi ra mới biết vì ngứa quá không chịu nổi nên ai cũng cào rách da rồi lấy khế chua hoặc ớt trái xát vô cho bớt ngứa. Khi da ngấm khế và ớt rồi lội xuống bùn thì chân họ biến thành màu sắc thập cẩm vậy đó. Mọi người tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy chân tôi không như họ, tôi liền truyền “bí kíp” của mạ tôi và ai cũng làm theo, nhờ thế lần sau dù vẫn ngứa nhưng chân cẳng mọi người cũng dễ coi hơn.



Hôm sau vào giờ nghỉ trưa Hùng đến thăm tôi, hai đứa vừa ngồi nói chuyện trên trời dưới đất vừa thi nhau đàn tơ-rưng vì ngày qua lội Bàu. Ai xuống Bàu về mà không thành "nhạc sĩ" thì chắc chắn không phải là người trần thế! Lúc về hắn ra trước hàng rào nhà tôi xách vô một nón ổi, từng chùm hai trái chín trắng bóc thơm lừng dúi vô tay tôi nói “Có người ở xóm Sông tặng bạn…” rồi đi thật nhanh ra cổng. Tôi ngơ ngác chưa kịp hỏi gì thì hắn đã biến mất tăm sau luỹ tre làm tôi cứ thắc mắc Ai rứa hè? Ai dấu ổi chín vào hàng dâm bụt nhà tôi rứa hè?



Lạ thiệt! Tháng ngày qua mau, mùa gặt vụ trái đến rất nhanh. Ở quê tôi để gặt hái kịp thời người ta thường có câu Mười bốn hơi xanh, rằm quá chín. Đó là câu nói lo sợ việc thu hoạch không sớm thì bị trễ vì thời tiết khắc nghiệt. Về mùa gặt tháng mười, nông dân ra thăm ruộng vào ngày mười bốn thấy lúa chín chưa đều lắm, tính toán chừng vài hôm nữa thu hoạch để khi xay giã hạt gạo không nát. Nào ngờ vào đêm đó trời mưa lớn, những trận mưa kéo dài ngày nầy qua ngày nọ không dứt, nước dâng mênh mông rồi thành lụt, cả đồng lúa chìm ngập trong biển nước. Thế là lúa chín trên cây lớp bị thối, lớp lên mộng, thôi thì vớt được chừng nào hay chừng đó chứ biết làm sao được? Rằm quá chín là vậy.



 

Từ đó nhà nông quê tôi lưu truyền câu nhắc nhở xanh trong nhà còn hơn tra ngoài đồng, vì thế nên mùa trái mọi người thường lo gặt sớm, đề phòng mưa lụt dù lúa mới chín vang vang. Con đường xuống ruộng Bàu mùa nầy nước lênh láng không đi được, chúng tôi phải ngồi trên ghe lấy đòn xóc chống xuống nước để lần vào ruộng
.

gat-lua-3-080915.jpg

Chuyện nông dân ăn cắp lúa là chuyện dài nhiều tập, nói như mạ tôi là Bần cùng sinh đạo tặc. Thật là tội nghiệp cho người nông dân thuở đó, vì mỗi công lao động xuất sắc đến mùa chỉ được chia 3 lạng lúa ướt (lúa tươi, chưa phơi khén), còn công lao động học trò như tôi thì may ra còn một nửa. Được mùa. Lúa vàng cả đồng, vàng cả sân đội nhưng phơi khô xong là đóng bao chờ "trên" về chở đi. Ngày mùa mà người nông dân vẫn phải ăn độn. Đói.





Thế là sinh ra ăn cắp. Họ ăn cắp chính cái họ làm ra. Một lần tôi có đọc đâu đó người ta viết mỗi buổi tối họp ở sân đội xong là đống lúa vơi đi, vì bà con ngồi họp bốc lúa cho vào túi. Sao mà nơi đó dễ dãi thế nhỉ? Ở Hợp I của tôi làm gì có chuyện đó. Ngồi họp: lúa một nơi, người một nơi; vô phận sự miễn đến gần. Làm sao mà bốc lúa bỏ túi được? Và thế là có ngàn lẻ một cách ăn cắp khác, cái khó ló cái khôn mà. Tôi nhớ lần gặt lúa ở ruộng Thiên Tả.

Ngày hè ruộng khô ráo, những chẽn lúa no tròn nặng trĩu dập dềnh theo gió tạo thành một tấm thảm vàng thơm ngát mênh mông đến tận chân trời, chỉ nhìn thôi cũng đã thấy no. Nhưng lúa tốt mặc lúa, công lao động của xã viên hợp tác xã đã được ấn định rồi, không phải vì được mùa là chia nhiều lúa hơn đâu dù ai cũng thấm nhuần câu Làm tùy sức, hưởng theo lao động (!). Sau một ngày làm việc vất vả, tối về người nông dân còn ngồi nghe cán bộ thuyết giáo để mơ về một xã hội Làm tùy sức hưởng theo nhu cầu.
Trong khi chờ ngày được hưởng theo nhu cầu một cách quang minh chính đại, họ cần đáp ứng một nhu cầu cấp thiết trước mắt là ăn. Có lẽ vì thế nên không ai hẹn ai mà họ vừa gặt, vừa suốt lúa cho vào túi. Và sau từng chuyến đưa lúa về sân đội những chị, những thím … vội vội vàng vàng đặt gánh lúa xuống là nhanh chân về nhà uống miếng nước, phơi lại nắm rơm hoặc cho heo ăn,… để trút nắm lúa chắc mẫm từ túi áo ra. Thu hoạch một ngày như thế gấp mấy lần lúa được chia từ ngày công lao động chứ chẳng chơi.

Tôi thì không thể học tập điều ấy vì... chẳng có gan..., bởi thế tôi chẳng tranh thủ được gì. Anh Thanh thấy vậy nhìn tôi cười cười “Eng tam miềng có cách khác, mần rứa chi cho mệt!". (Bây giờ nhớ lại, tôi vừa thương vừa buồn cười chuyện lấy trộm lúa của mình thời ấy). Chiều đó anh Thanh bảo “Vĩnh Phước từ từ rồi về với eng, đừng chạy tót về trước như mọi ngày đó. Mà phải theo bén gót eng nghe chưa?”.



Vào thời điểm đó tôi đã biết xóc lúa cho mình và còn xóc lúa dùm cho chị Dàn, chị Vân, … nữa. Tôi hay chạy về trước thật nhanh để nghỉ ngơi, mặc ai làm gì thì làm, không thèm bận tâm. Chiều xuống. Chờ mọi người rời ruộng hết, anh Thanh mới nháy mắt ra hiệu cho tôi và chị Dàn thủng thẳng xóc lúa gánh về. Anh Thanh đi trước, tôi và chị Dàn theo sau. Lạ chưa! Anh không đi đường ngoài xóm như mọi lần mà băng qua hàng tre để rẽ vào vườn nhà tôi. Dù thắc mắc nhưng tôi vẫn lặng lẽ gánh lúa chạy theo. Đến nơi, anh bảo tôi và chị Dàn đặt lúa xuống để xóc lại. Không nhìn hai chị em, anh vừa xóc lúa vừa cười cười nói “Chừ anh xóc 4 bó lúa thành 3 gánh, còn phần em 1 bó, Dàn 1 bó nghe chưa?”.


Tôi hoảng hồn “Rứa làm răng mà gánh?”, Thanh cười “Yên tâm!” Nói xong, anh chỉ cách để ba anh em nối nhau gánh 3 gánh lúa chỉ có 4 bó về sân đội - nghĩa là gánh lúa đi trước và gánh lúa đi sau của anh Thanh và chị Dàn; tôi đi giữa: cái đòn xóc chỉ ké vào bó sau và bó trước của hai người kia thôi. Trong bóng hoàng hôn, người ngoài nhìn vào cứ tưởng ba người gánh lúa chạy lóc xóc nối đuôi nhau - chúng tôi phải chạy thật nhanh mới đánh lừa mắt thiên hạ được - về đến sân đội, cả ba anh em cùng quăng cái ào một lượt xuống đống lúa nên chẳng ai nhận ra.


Thế là xong. Thật siêu đẳng! Chuyến làm ăn trót lọt nhưng tôi sợ muốn đứng tim. Sợ nhất là lỡ bị phát hiện thì các buổi tối họp thanh niên, tôi sẽ bị bêu danh dài dài từ làng nầy đến xã nọ. Mà tôi đang là thanh niên rộng rãi, tiêu cực như thế thì làm sao “phấn đấu” vào thanh niên tiền phong được nhỉ? * Tối đó, khi đem chuyện khoe với mạ tôi, tưởng bà bất ngờ lắm, ai dè mạ tôi cười: "Hồi trước, đến mùa gặt nhà ông nội con đã bị đám thợ gặt ăn cắp lúa bằng cách ấy đấy". Trời! Thì ra chuyện ăn cắp nầy đã có từ xưa, vậy mà tôi cứ tưởng đó là sáng kiến của anh Thanh nên phục lăn. Chuyện ăn cắp lúa ở ruộng Bàu mới là bi hài.

Ngày mưa, những bông lúa vàng óng nặng trĩu ngã rạp mình trên mặt nước. Mọi người gặt lúa tuy hăng hái nhưng vẫn nghe đâu đây tiếng thở dài não nuột vì những “giã” lúa tốt như thế nầy thường đem đi nộp hết. Lần đó, mấy người có nhiệm vụ chuyển lúa từ ruộng về sân đội bằng ghe, thấy bà con gặt hái quá vất vả mà công cán chẳng được bao lăm, họ đã lén ông đội trưởng vùi mấy ghe lúa xuống cống Đạc Nhứt để chia nhau.

Tối đó đi gặt về muộn, theo mật lệnh truyền tai, tôi cùng mấy người trong xóm dò dẫm ra cống lấy lúa. Khi ngang qua ngõ nhà bác Cối, trong bóng tối dày đặc tôi loáng thoáng thấy dáng người cao lỏng khỏng của đội trưởng, hình như đang rình rập gì đó. Thôi kệ! Tôi nín thở rão bước ra cánh đồng trước mặt, vì quen đường nên tôi tránh được những chỗ lầy lội trên đường xóm. Nghe bước chân, chú Sinh lên tiếng bảo tôi lại gần rồi chất một bó lúa ướt, nước còn chảy ròng ròng vừa vớt từ dưới cống lên cho tôi mang về. Đêm đó tôi mang về nhà đâu chừng ba bốn bó lúa ướt như thế. Mạ tôi mừng vì được “chia lúa” nhưng thương con đứt ruột, mạ xót tôi là đứa rất sợ đỉa mà phải đội những bó lúa như thế



Hồi ấy Hội thanh niên chia làm 2 thành phần: Thanh niên tiền phong là những thanh niên tiên tiến, gương mẫu - có cơ may được kết nạp vào đoàn thanh niên CS.HCM - nên họ làm lãnh đạo trong Hội thanh niên địa phương. Số còn lại gọi là thanh niên rộng rãi, ai phấn đấu tốt mới được kết nạp vào Thanh niên tiền phong. Khi tôi về làng, tất cả những thanh niên như tôi đều thuộc thành phần thanh niên rộng rãi, còn số thanh niên "kẹt cầu dài" đa số là thanh niên tiền phong. Mỗi lần Hội thanh niên họp xong, những thanh niên tiền phong đều ở lại để họp riêng, oai lắm! về nhà sau cả buổi chiều lội bùn chưa kịp ăn uống gì.


Tôi nghĩ chịu cực một chút mà có thêm thúng lúa là tốt rồi, sức thanh niên mà, cái gì người ta làm được thì tôi cũng làm được, thế thôi. Mà trời thương hay sao nên bọn đỉa lúc nhúc dưới cống Đạc Nhứt bữa đó lại chê tôi, tôi đội lúa ướt mấy chuyến thế mà không dính con nào chứ thiên hạ không ai tránh khỏi. Đặc biệt có một người… thật là cười ra nước mắt! Hôm sau đi làm, một chị hạ giọng kể cho lũ đàn bà con gái nghe rằng tối qua đội lúa về xong, chồng của chị ra sân múc nước tắm, vừa tắm vừa kêu “Mạ mi ơi! Lạ thiệt! Răng mà tau có đến hai con chim ri?”. Chị vợ mắng “Làm mệt gần chết mà còn đùa dai?”. Anh chồng nhăn nhó “Tau nói thiệt! Không tin thì mạ mi bưng đèn ra đây soi thử coi”. Và khi chị vợ bưng đèn ra soi thì…

Trời ạ! Một con đỉa to tổ chảng đang đeo lủng lẳng song song với … Nó hút máu no lắc lư nên phồng to như thế mà cũng chưa chịu buông. Ha ha ha… Đám phụ nữ cười lăn lộn nhưng vừa cười vừa xót xa. Thường sau tết là mùa nông nhàn. Thế là “trên” lên kế hoạch đi khai hoang trồng khoai, trồng sắn. Câu ca dao "Tháng giêng là tháng ăn chơi" của nhà nông lưu truyền bao đời đến đây xem như... bế mạc. Tôi nhớ lần đi khai hoang ở núi Trâu Trằn (eo ơi nghe cái tên đã thấy khủng khiếp!) để mừng hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong hợp thành huyện Triệu Hải. Nghe nói vùng đất ấy ngày xưa là nơi lũ trâu rừng chọn làm chiến trường. Ngày ngày, có hàng đàn trâu rừng kéo đến để chọi nhau tranh ngôi bá chủ (?) làm cho cây cối ngã rạp cả vùng đồi núi.


Vì thế khi ngang qua vùng nầy, những người đi rừng đã gọi là núi Trâu Trằn - gọi riết thành địa danh luôn. Trời vừa mờ sáng, tiếng kẻng đã vang lên khắp xóm đánh thức người đi khai hoang. Những người có trong danh sách đi Trâu Trằn vội tập trung đầy đủ trước cổng chào của xóm. Ai nấy cơm đùm gạo bới, chăn mền, áo quần được xếp gọn vào chiếc balô và một cái cuốc “lưỡi gà” sắc bén vác trên vai. Từ xóm Bắc Tả, chúng tôi đi bộ vào xóm Sông, sang sông Vĩnh Định trên chiếc đò ngang của làng Lam Thuỷ khi sương còn giăng kín mặt nước.

Con đường làng lên xóm Rú lầy lội qua đám ruộng Thượng Điền nhung nhúc đỉa, những bước chân vẫn lầm lũi đi tiếp. Trời sáng dần trên lối mòn đất cát quanh co, những bia mộ thấp thoáng trong lùm cây đã hiện rõ. Đâu đây mùi hoa dẻ thơm ngát ẩn khuất sau những ngôi mộ cổ. Đoàn người vẫn lặng lẽ hướng về phía phía chợ Diên Sanh.







Qua chợ, chúng tôi lại tiếp tục đi lên ngã ba Hải Lăng rồi theo con đường đất đỏ, như một đoàn quân ra trận mọi người nối nhau cùng thẳng tiến Trâu Trằn. Rời nhà từ sáng sớm, lại phải vượt qua quãng đường dài nên bụng đứa nào đứa nấy thi nhau réo ùng ục... biểu tình. May sao khi nhóm chúng tôi đang cố vượt qua một con dốc cheo leo bên vách núi, bỗng nhiên cả mấy đứa đều hướng mắt nhìn về một cái gì trăng trắng nổi bật bên lề đường đất bazan đỏ quạch.


A! thì ra là một khúc sắn chín khá lớn ai đó đi trước (hay hôm qua cũng không chừng) đã làm rơi. Thế là không thể bỏ qua, mấy đứa đều dừng lại. Anh Mỹ nhặt khúc sắn, lột hết lớp vỏ chang bên ngoài - cũng may nhờ lớp vỏ chang bao bọc mà lõi sắn bên trong vẫn trắng tinh, thơm phức. Lột chang xong, Mỹ bẻ chia cho mỗi đứa một khúc ngắn, chúng tôi ăn thật ngon lành. Tôi vô tư phát biểu Sắn chang mà ngon dữ hè? làm anh Mỹ thở dài tiếp lời Bụng đói thì ăn gì mà không ngon? Lần đầu tiên lên núi, tôi thấy gì cũng lạ, con đường chênh vênh men theo triền núi đầy lau sậy, bên dưới là những thung lũng mù sương.

Thỉnh thoảng một con chim rừng lẻ loi chao cánh cất tiếng hót lảnh hót rồi bay vút lên tận tầng không, để lại âm vang rung động cả núi rừng. Hai bên đường từng cụm hoa dại cánh nhỏ li ti đủ màu sắc chen lẫn với những cọng dương xỉ vươn ra từ vách núi trông như những bức tranh thêu sống động. Đến lưng chừng núi thì đã quá trưa, tôi cùng chị Dàn, Thuỷ, Hoa, Thạnh, … tìm một bóng mát bên đường để nghỉ chân và mở gói cơm mang theo ra dùng bữa.


Xong, chúng tôi hối hả đi tiếp cho kịp mọi người dù đôi chân đã rã rời khi vượt qua mấy chục cây số đường bộ. Cũng may, lần nào đi Trâu Trằn tôi cũng không phải mang vác gì cả. Cây cuốc thì có anh Mỹ hoặc Văn vác dùm; còn Lành - cô bé cùng xóm kém tôi chừng hai tuổi - cứ đòi gánh ba lô của tôi cho bằng được. Lành nói “Chị cho em gánh luôn chơ em gánh một cái ba lô của em không cân, khó đi lắm”. Thấy Lành dùng cán cuốc gánh hai chiếc ba lô chạy băng băng, miệng cười toe toét vì đã giúp được chị, tôi thương làm sao! Trong chuyến đi đó có một chuyện tuy nhỏ nhưng tôi không thể nào quên được, mỗi lần nhớ lại tôi lại nghĩ thầm "Phải chi mình nán lại dăm phút...".


Sự đời mấy ai ngờ được, nay còn mai mất cứ như là giấc mộng vậy. Lần ấy trên đường đi, khi đội xóm Tả của tôi đang leo lên con dốc thật cao thì thấy Phúc - đội xóm Rú - ngồi dưới gốc cây bên vách núi cùng mấy đứa bạn. Thấy chúng tôi, Phúc vừa ngoắc vừa gọi “Phước ơi! Mỹ ơi! Phúc có chuyện bí mật muốn nói với hai bạn nì. Dừng lại đây chút đi”. Tôi thấy trời chiều rồi, sợ không theo kịp đội nên vừa đi vừa ngoái đầu nói “Chiều rồi...
Thôi, để lên trại Phúc qua gặp bọn mình hi!”. Nghe thế anh Mỹ cũng bước theo. Phúc đứng lên nói vói theo câu gì đó tôi không nghe rõ vì đang vội. Ai ngờ chưa kịp gặp lại nhau thì đêm đó vì đói, Phúc cùng mấy người bạn bên đội hắn rủ nhau đi nhổ mấy bụi sắn của xã Hải Trường thì bị bắn chết tại chỗ. Buổi sáng nghe tin Phúc chết, chúng tôi bàng hoàng thương tiếc một đứa con trai tuổi xuân còn phơi phới, một mạng người chết oan uổng chỉ vì mấy củ sắn non. Nhưng rồi mọi chuyện trôi êm, không ai truy cứu và chuyện bí mật mà hắn định nói với hai đứa tôi cũng theo hắn mãi mãi nằm yên trong lòng đất lạnh.…

Vượt qua bao đèo dốc, cuối cùng chúng tôi cũng dừng lại giữa một vùng núi đồi bao la khi bóng cây trong nắng chiều đã ngã dài bên vách núi. Mệt thế mà chẳng ai dám nghỉ ngơi. Mọi người phải nhanh chóng túa vô rừng tìm vật liệu để dựng trại liền, nếu không khi đêm xuống đành ngồi giữa núi rừng hoang vu giá buốt nầy thôi.

Đám đàn ông, con trai thì đi chặt cây: cây nào to dùng để làm cột làm kèo; cây nào nhỏ thì róc vỏ và gai góc sơ sơ rồi làm vạc giường để ngủ. Bọn đàn bà, con gái mỗi đứa một cái liềm, từng nhóm đi tìm và cắt cỏ tranh tươi về đan thành tấm, lợp mái nhà cho kịp trước khi trời tối. Xen lẫn trong đám cỏ tranh là những bụi cỏ lác bén như dao, khi đưa tay nắm lọn tranh để cắt, bọn tôi đứa nào cũng bị lá cây lác cắt đứt tay, máu chảy ròng ròng mà không dám than. Nghe nói ở rừng mọi thứ đều thiêng nên phải kiêng, bị đứt tay mà la đứt tay là cứ bị đứt liên tục nên đành cắn răng chịu đau.


Những người lớn có kinh nghiệm mách nước rằng muốn cầm máu thì quơ đại vài cọng lá cây mắc cỡ non hoặc vài lá rừng, nhai nhai rồi đắp lên vết thương là cầm liền. Tôi làm theo và đúng như thế. Hay thiệt! Khi hoàng hôn lan tím cả núi đồi thì lán trại cũng vừa dựng xong. Chúng tôi vội vàng kiếm củi nấu cơm, khói bếp hoà với sương núi ôm trọn mái nhà tạm thơm mùi lá rừng ngai ngái. Giấc ngủ ở rừng chập chờn bởi những tiếng chân, tiếng hú của thú hoang cùng những đợt gió rừng thét gào trên ngàn cây vi vút.


Trong màn sương đêm dày đặc, những ánh lân tinh lập loè khắp đồi núi. Người ta nói mấy năm trước nơi đây người chết vô số, có lẽ vì thế mà oan khí của họ đêm về lại chấp chới qua ánh lân tinh. Buổi sáng, sau khi ăn vội vàng vài miếng, tôi cùng mọi người rời trại để đi khai hoang. Trên đường đi, chúng tôi gặp những đồi sim bát ngát, hoa tím đẹp đến não nùng. Có ai đó không cầm lòng đã cất tiếng hát Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt. Vào chuyện ngày xưa…Câu hát bỗng đứt nửa chừng, có lẻ vì ai đó thúc cùi chỏ nhắc nhở hoặc tay ca sĩ ngẫu hứng chợt nhớ ra.


Trời! Dám hát nhạc vàng sao? Dù là nơi núi rừng hoang vắng. Nghe nói thời chiến tranh, vùng đất có tên Trâu Trằn này từng là nơi diễn ra giao tranh ác liệt của đôi bên. Những đồi núi trập trùng hiểm trở mang tên Động Ông Đô có hàng rào điện tử McNamara đã trở thành vùng đất chết trong hàng chục năm. Chính vì thế nên khi đến đây khai hoang và tháo gỡ bom mìn, chúng tôi không còn thấy bóng dáng một con trâu nào mà lại nghe mọi người kháo nhau về ông cọp ba móng.


Đó là một con hổ hung tợn đã bị lính đóng ở Động Ông Đô bắn què một cẳng vào đầu thập niên 70. Núi rừng bom đạn trải thảm thế nhưng chẳng diệt được cọp ba móng mà khiến nó ngày càng hung dữ và khôn lanh hơn. Nghe đâu khi đêm về, con cọp thành tinh ấy thường lởn vởn quanh trại những người đi rừng. Một lần có ông “thợ cội” * ghé trại tôi ngủ nhờ qua đêm, ông ta kêu mọi người đốt một đống lửa thật to giữa trại để ngăn cọp rình mồi vì nó rất sợ lửa?

Mọi người lại kháo nhau rằng hình như con cọp ấy theo rình để bắt người thợ cội, vì lúc ông ta rời khỏi trại thì không còn nghe những tiếng kêu bép! bép!... vang vọng trong đêm khuya nữa. Tuy vậy chúng tôi vẫn nơm nớp sợ, vì không biết ông ba mươi ghé lại lúc nào và sẽ lượm ai đi. Suốt 45 ngày trên núi đồi đầy bom đạn, Mỗi lần tập trung khai hoang là các cán bộ xã vác loa rao thật to Cách xa ra, cách xa ra mỗi người 2 mét. Không được đứng sát nhau! Cách xa ra, cách xa ra mỗi người 2 mét. Không được đứng sát nhau!...

Đó là vì họ sợ trúng đạn nổ sẽ chết hoặc bị thương nhiều người. Tôi, Như Ý, Châu và chị Dàn cứ đứng sát sạt nhau mà cuốc. Chúng tôi thường nói hễ cuốc trúng thì mấy đứa cùng chết luôn chứ sống mà tàn tật khổ lắm. Thấy bọn tôi cứ xáp vô nhau, xã đội trưởng Khuynh chạy tới nạt “ Mấy o ni có nghe chi không? Xức ra, xức ra mà cuốc chơ, lỡ bị trúng đạn chết hết răng?”. Bọn tôi cười cười đứng dang ra nhưng khi xã đội trưởng quay lưng đi là lại xáp vô như cũ.
.




Hồi đó đâu có nhiều lễ hội như bây giờ nên mỗi lần đi khai hoang, đi phá gỡ bom mìn hoặc đi thuỷ lợi, … bọn tôi xem như đi hội vậy. Hội khai hoang ở Trâu Trằn “hoành tráng” lắm. Bên đồi ni cuốc và hát hò, đồi bên tê cũng hát hò và cuốc. Đang hăng say cuốc, bỗng bên đồi xã Câu Nhi đang khai hoang nghe một tiếng nổ long trời, tiếng khóc la vang dậy, cáng võng chạy rầm rập… Ngay lúc đó, loa phóng thanh xã tôi cũng vang to không kém Tiến lên! Tiến lên! Tiếng hát át tiếng bom. Biến đau thương thành hành động. Tiến lên! Tiến lên! Chúng tôi cứ cuốc và cuốc, cứ vài nhát cuốc lại gặp mấy quả đạn mắc trong vỏ lon đồ hộp treo lủng lẳng trên vòng thép gai hoặc đạn 105 li, bom bi thì vô số.



Tôi cuốc trúng một quả gì màu vàng sáng, to bằng nắm tay rất đẹp, hồi đó tôi vừa rời ghế nhà trường nên khờ lắm, đến nỗi hình thù các loại đạn và sức công phá của chúng ra sao cũng chẳng hề biết. Mấy đứa con gái tranh nhau cầm lên xem, trầm trồ khen đẹp rồi tôi kêu Quốc “Quốc ới ời ơi …! O tặng cháu nè…!” Quả vàng đẹp đó xoay xoay trên cao bay về phía Quốc. Hắn dòm lên rồi vất cuốc phóng như điên, vừa chạy vừa la “Ui o ơi! Quả đạn 79 đó, hắn nổ là chết a”. Tôi sợ hết cả hồn, may sao nó chưa nổ. Mấy người du kích đến cắm cạnh nó một nhánh cây báo hiệu để mọi người đừng đến gần. Tới trưa thì nó nổ, cát bụi bay mù mịt.


Tôi tiếp tục cùng bà con vỡ đất khai hoang trong sự thiếu thốn mọi mặt về những sinh hoạt hàng ngày. Cái chết luôn rình rập dù người ta bảo đất nầy đã được tháo gỡ bom mìn song thực tế thì bom mìn vẫn thỉnh thoảng cười để dậy trời tiếng kêu khóc. Mỗi ngày chúng tôi cuốc đất rừng, chặt sát gốc những cây gỗ cứng ơi là cứng. Có khi cuốc trúng vào gốc cây làm quăn cả lưỡi cuốc bằng thép. Để khai phá xong một vạt đất rừng chúng tôi phải đổ không biết bao nhiêu là mồ hôi và nước mắt, có khi đánh đổi cả sinh mệnh con người.

Những làn da xạm nắng, những bàn tay cầm cuốc rướm máu đau buốt và những cơn sốt rét rừng nghiệt ngã cũng không tha cả những thanh niên trai tráng, lực lưỡng. Những người đi khai hoang Trâu Trằn thường đi theo đội - nghĩa là dân ở cùng xóm nên thường là bà con thân thích cả. Đội nào cũng có người lớn tuổi đi theo, họ không chỉ là tay nhiều kinh nghiệm, dày dạn trong lao động mà còn là bậc phụ huynh vừa bảo vệ, vừa quản lý bọn trẻ chặt _




Thợ cội: Là người đi rừng chuyên nghiệp nên họ thuộc hết mọi ngõ ngách của rừng. Họ vào rừng sâu để săn lùng những cây gỗ quý. Họ thường kín đáo, lầm lì và ít nói. Trông họ rất bí hiểm. Theo truyền thuyết, thợ cội thường đi rừng một mình và hầu như suốt đời họ sống với rừng già. Đêm về, ông ta đốt một đống lửa to, dùng một khúc cây khoét rỗng ruột úp xuống đất để ngủ và khi nào bên cạnh cũng có một khúc cây để tự vệ. Rừng đêm lạnh, cọp thường đến hơ lửa cho ấm. Có khi con nầy đến rồi con khác đến, ông thợ cội từ trong chiếc giường ngủ đặc biệt lén thò tay ra cầm khúc cây hất nhẹ một cục than hồng vào một con cọp.


Con cọp bị than nóng gầm lên tấn công con kia, chúng kéo nhau ra rừng để thanh toán nhau. Thế là ông thợ cội ngủ ngon. chặt chẽ trong thời gian sống xa nhà. Chúng tôi rất đoàn kết và lo lắng cho nhau, đám phụ nữ luân phiên lo việc bếp núc ăn uống cho mọi người. Mỗi lần đến phiên mình làm chị nuôi, tôi về chợ Diên Sanh mua thức ăn cho cả đội, một mình tôi phải vượt qua hết núi nầy tới đồi kia với gánh thực phẩm kĩu kịt trên vai, có khi cả đi lẫn về cũng gần hết một ngày trời. Có lẽ những gian khổ đó đã ghi sâu vào ký ức tôi không thể phai mờ nên cho đến nay, thỉnh thoảng trong giấc mơ, tôi lại thấy mình đi trên con đường đồi núi chênh vênh đó.


Thức ăn mua về chỉ dùng được trong vòng hai ngày nên muối và rau rừng là thức ăn chính của đội. Có hôm mãi lần theo những cọng rau rừng xanh mướt, tôi đi lạc lúc nào không hay. Chỉ biết khi ngẫng đầu lên thì thấy chung quanh lạ hoắc. Tay chân run lẩy bẩy nhưng tôi vẫn khu khư ôm chặt chiếc nón đựng đầy rau rừng. Tìm bóng râm, tôi ngồi phệt xuống, định thần lại cho tâm bình tĩnh để tìm lối ra. Tôi nhớ những người lớn tuổi có dặn rằng nếu lạc ở rừng thì cứ tìm suối hoặc sông, rồi men theo bờ mà đi thì sẽ tìm được đường về.



Cảnh đẹp của thiên nhiên vừa thơ mộng vừa hùng vĩ nhưng tôi không dám nán lại để thưởng thức mà nhanh chóng men theo bờ sông. Sau một hồi quanh co, tôi tìm lối về trại không mấy khó khăn. Hôm đó ai cũng vui vì được ăn một nồi canh rau tươi thơm ngon nhưng họ đâu biết rằng vì ham hái rau mà tôi suýt lạc mất lối về. Khi đã quen nơi quen chốn, vào giờ nghỉ trưa chị Thương thường hẹn tôi lội dọc theo con suối nhỏ lên tận đầu nguồn, đến chỗ có một vòm cây che kín và mấy tảng đá nhỏ nằm ven suối tròn trịa rất đẹp. Hai chị em nghĩ nơi đây có lẽ chưa ai biết đến nên đã cùng nhau tắm giặt thật vô tư, chúng tôi còn cất tiếng ca những bài hát mình yêu thích giữa núi rừng hoang vắng mà không sợ bị ai nghe nữa chứ.


Những khoảnh khắc ấy mới tuyệt vời làm sao! Sau khi khai hoang xong, mọi người lại tiếp tục làm đất. Trong công việc chúng tôi cũng có những trò ma giáo, ăn gian vui đáo để. Đó là khi ban đo đạc của xã đến kiểm tra số đất khai hoang của từng đội để tính điểm. Đội của tôi do cậu Lộc - đội phó sản xuất - chỉ huy. Lần nào cũng thế, khi có “ông đo đạc” tới là cậu Lộc kêu tôi cùng làm việc. Tôi cầm cây sào dài 5 mét trên tay, cứ thế vừa gợi chuyện vừa đo đất. Biết đôi mắt “ông đo đạc” không nhìn xuống cây sào trên đất mà cứ mãi nhìn mặt tôi để kịp góp chuyện nên cậu Lộc cứ nháy nháy mắt ra dấu. Tôi hiểu ý nên cứ đo được một cây sào tôi lại lùi chừng nửa mét.


Nhờ thế đội tôi lời quá trời luôn, đúng là làm chơi ăn thiệt! Người của đội tôi đa số là con gái yếu đuối, làm việc cành khơi vậy mà một ngày có khi tới ba, bốn chục điểm, gấp mấy lần công điểm lao động ở làng. (10 điểm/ngày là công điểm cao nhất ở làng). Thấy đội chúng tôi khi nào điểm cũng cao, các đội kia ức lắm mà không hiểu được lý do, họ cũng không dám nói ông đo đạc của xã thiên vị. Thấy họ tức, thím Thẩm xỏ tay vô túi áo, đứng ưỡn ngực khoe đội ta phần lớn là dân chiêu chang mà lao động giỏi hơn đội họ toàn cá trê (cứng cựa, mạnh).



Nói xong thím còn cười cười ra vẻ đắc thắng làm thiên hạ tức lộn ruột. Khi đất đã lên vồng, chúng tôi bắt đầu trồng khoai và sắn trên đất mới. “Trồng khoai bén tay, trồng sắn bay bụi”, đó là những kinh nghiệm của nhà nông: những ngày mưa chúng tôi trồng khoai và ngày nắng thì trồng sắn. Buồn cười nhất là Trà, hắn cao lớn lênh khênh mà lại lười biếng. Cuốc chừng vài nhát là hắn mang cuốc đi “tra” lại, vì cán đi đường cán, lưỡi văng đường lưỡi.


Cậu Lộc bực lắm nên cứ la hắn bằng những câu nói thật nhanh “ Tau... tau là cái thằng hay la mà mi răng cứ nhác nhớn dữ rứa? Rứa chơ khi bình bầu thì cứ đòi xếp loại A vì to con đó”. Còn tội nhất là chú Học, thấy Hoa và Thạnh nhỏ con lại ốm yếu cuốc không kịp, chú thường chạy lui cuốc dùm cho mấy đứa mà không tính toán gì cả. Khi vạt đất của đội đã phủ đầy thì chúng tôi nghỉ tay.. .




ay mà số sắn trời cho ấy xắt nhằm mấy ngày nắng lớn nên khi phơi khô lát sắn trắng bóc, thơm tho. Còn những lần sau gặp ngày mưa, chúng tôi đành ngâm cả bao sắn xuống suối cho khỏi bị hư, đợi có nắng mới đem phơi để gánh về cho nhẹ. Mà sắn xắt nhằm ngày mưa dù phơi có khô nó cũng không ngon, lát sắn bị thâm xỉn. Nhờ mấy bao sắn mót từ rừng đem về nhà, bà con trong đội đã chống đói được một thời gian đáng kể.
Tuy việc làm vất vả, nhưng ngày tháng sống ở rừng đôi khi cũng thú vị. Vào những trưa nắng gắt mặt trời như rọi sát trên đầu, thừa lúc người lớn nghỉ trưa, bọn trẻ lại hẹn nhau phơi nắng rảo khắp đồi núi rồi lội dọc con suối nhỏ tìm kiếm những điều mới lạ.

Có khi bắt gặp cả một khu rừng đầy hoa sim, hoa mua tím ngát hay lạc vào những vùng đất hoang sơ đầy cây cao bóng cả như chưa từng có dấu chân người. Tôi nghe người ta kể xưa những người đi rừng có khi ngang qua một khu rừng đầy chuối, đầy mít hay đầy cam trái chín vàng ửng. Họ đánh dấu định ngày về sẽ ghé hái một ít nhưng khi trở về thì không bao giờ gặp nữa, hầu như họ đã đi lạc qua một vùng đất khác. Người ta bảo đấy chính là của rừng, hái ăn tại chỗ thì được chứ đừng hòng mang về. Chúng tôi muốn đi sâu vào rừng già để tìm những khu rừng trong chuyện kể đó nhưng làm gì có thì giờ, đành phải trở về thôi vì tiếng kẻng báo ca chiều đã vang lên.


Chiều ở rừng thường đến sớm, mới thấy mặt trời hoe hoét đó mà chỉ một lúc là sương mờ đã giăng bủa khắp nơi. Những ngày mưa chiều xuống càng nhanh hơn. Trời sầm sập tối, nhìn ra ngoài bìa rừng chỉ thấy một không gian mịt mờ ảm đạm. Những lúc như thế, tôi lại nhớ đến những ngày còn ở nhà, mỗi chiều đi làm đồng về muộn, khi ánh hoàng hôn đang nhuộm màu bóng tối trên con đường đất quanh co phủ bóng tre xanh dẫn lối vào nhà, tôi thích nhìn bóng mình in trên con đường thân thuộc dưới ánh trăng non đầu tháng. Vào mùa trăng, khi bước đi trên con đường đầy trăng lấp loáng sau những bóng tre, tôi vu vơ nhẩm lại bài tập đọc từ hồi còn nhỏ Ngày chưa tắt hẳn trăng đã lên rồi. Mặt trăng tròn, to và đỏ…

Khi đêm xuống, rừng bao phủ trong một màn đêm huyền bí đầy đe dọa, đâu đây tiếng thú hoang gầm gừ từ xa vọng về; tiếng vạc kêu sương nghe khắc khoải và cả tiếng vượn hú càng tăng vẻ thê lương. Nhưng đến mùa trăng thì lại khác, trăng ở rừng như gần gũi với chúng tôi hơn. Rừng núi trong đêm trăng không còn dễ sợ, những cây lá, cảnh vật lấp loáng dưới ánh trăng trông thật thơ mộng, huyền ảo. Trăng tỏa bóng mát êm dịu xuống cả một vùng đồi núi bao la. Mấy đứa tuổi thanh niên như tôi thường cùng nhau thả bộ ngắm trăng.

Chúng tôi đi từ con dốc nầy qua con dốc khác, vừa đi vừa ca hát, chuyện trò. Khi dừng lại ở một đỉnh dốc cao nhất, cả bọn bày trò chơi. Đề tài: Bạn thích nhất đêm trăng nào trong tháng. Tại sao? Trò chơi nầy lúc nào cũng mới mẻ và đầy hấp dẫn, nhất là với mấy đứa mới nhập hội “chơi trăng”. Những lúc như thế, chúng tôi gần như quên hết mọi gian lao, vất vả; chỉ còn người và trăng bàng bạc cả núi rừng và bàng bạc cả những tâm hồn non trẻ. Có lúc mãi chơi quên cả thời gian, khi chúng tôi chia tay nhau về trại nghỉ thì tóc tai, áo quần đứa nào cũng ướt đẫm sương đêm.



Ngày ngày công việc cứ đuổi theo chúng tôi không ngơi nghỉ, vừa thu hoạch khoai, sắn ở rừng xong là lúa ở làng đã vàng rực cả đồng. Vụ mùa năm sau vui hơn vì có bà con ở Trung Du về giúp sức. Tôi còn nhớ có chú Tùng, trước khi đi xây dựng vùng kinh tế mới Trung Du có nhà ở bên kia sông. Chú thường lấy đòn xóc của tôi làm điểm tựa để bó lúa. Khi thấy lúa đã đủ chuyến, chú xóc cho tôi một gánh lúa thật gọn và chắc đặt trên bờ ruộng rồi hô to V…ề …ề ….



Thế là mọi người ùa nhau chạy đi tìm những bó lúa vừa ý để xóc và gánh về, trong khi đó tôi đã được chú đặt lên vai gánh lúa sau khi gọi “Bé con, lại đây…” Với gánh lúa vừa ý trên vai, con đường về sân đội đối với tôi dường như ngắn lại, vừa thả hai bó lúa thơm tho xuống là tôi quày quả về nhà ngay. Ở nhà, mạ tôi lúc nào cũng nấu một nồi chè hoặc cháo đậu múc sẵn từng chén đặt trên bàn cho con gái. Cháo mạ nấu thật ngon, hạt gạo chín mềm quyện với đậu đỏ bùi bùi thơm phức. Khi ăn, tôi thường đồ cháo ra lòng bàn tay, chén cháo đông lại gọn gàng trông thật thích mắt, cắn một miếng cháo rồi lại cắn một miếng đường đen. Tuyệt! Có ai đã từng ăn cháo kiểu như tôi không nhỉ? Hãy thử một lần để cảm nhận nhé!



Với tôi trong miếng ăn giản dị ấy sao mà ăm ắp tình mẹ bao la quyện lẫn với hương vị quê nhà thật là đậm đà, tha thiết. Cũng có khi là mấy khúc mía cơm rượu ngọt lừ - loại mía da tím, mềm và dòn - đã róc vỏ sạch sẽ hoặc chùm ổi chín thơm phức; đó là những thứ mạ tôi trồng lại trong vườn nhà sau ngày hồi hương. Tôi là chúa lười ăn nên mạ phải nấu đủ thứ để trên bàn như thế, mỗi chuyến lúa về nghỉ giải lao, tôi thường rủ chị Dàn và mấy đứa trong xóm ghé nhà ăn bữa lỡ của mạ để dành cho tôi. Những trưa hè nắng gắt đi làm đồng về, tôi thường dừng lại một lát trước cổng nhà mình để nghỉ ngơi; để tận hưởng cái mát mẻ từ bóng tre tỏa xuống.

Cổng nhà tôi là một mái vòm mát rượi được uốn chụm đầu nhau từ hai bụi bông kiểng thật to, hàng rào trên lối vào cổng luôn được cắt xén thẳng tắp. Ngày nào cũng thế, từ những cành xanh vòng cung thành cái cổng xinh xinh ấy đong đưa những đoá hoa cánh mỏng đỏ tươi mới nở như những chiếc lồng đèn rực rỡ. Ngày hè hoa càng nở nhiều hơn, có khi những chiếc lồng đèn bằng hoa ấy thi nhau nở, xúm xít từ cổng đến mặt đất.

Hai bên đường vào sân là hai hàng huệ tây nở đầy hoa hồng tím, những đoá hoa có màu sắc thật ngọt pha lẫn mùi hương nồng nàn của các loại hoa khác trước sân nhà tạo cho tôi một cảm giác thật dễ chịu. Có khi tôi chưa vội vào nhà mà dừng lại ở bậc thềm chái nhà đầu hè để ngắm những chùm hoa lựu lập lòe, lòng lại mơ hồ về một câu thơ của cụ Tiên Điền ngày trước. Những lúc rảnh rỗi, tôi thường chăm chút cho từng gốc cây, bụi hoa và việc làm đó đối với tôi thật là thú vị!



Thời đi học tiếp sau ngày 30/4/75, tôi nhớ có học một bài thơ ca ngợi lao động ở miền Bắc gì đó mà có câu "Không cho đất nghỉ, không ngừng tay ta". Câu đó thật đúng với cuộc sống của người dân ở quê tôi ngày ấy. Việc làm luôn tay, kể cả ngày mồng một tết cũng tiếng kẻng vang xóm kêu gọi bà con tập trung để "ra quân" trồng cây đầu năm.


Làm cực thế mà có đủ ăn đâu, những lúc đi làm đồng xa phải đem bữa trưa theo, tôi nhìn bà con nhai khoai sắn thay cơm mà lòng xót xa quá đổi. Tôi thì khá hơn vì mạ tôi không còn tuổi lao động nên bà có quyền làm ăn cá thể. Những tưởng con gái đang tuổi lao động chính đi làm nuôi mẹ già, đằng này nhờ mẹ già chắt chiu nuôi con gà, trồng cây rau, cây cải mà con mới có bữa ăn đầy đủ; còn những gia đình như “chị Dậu” thì không thiếu đâu, dù họ làm quần quật quanh năm suốt tháng không nghỉ ngày nào như nhà văn hiện thực phê phán Ngô Tất Tố đã viết.



Vừa xong việc trên đồng cạn, tôi lại cùng mọi người tham gia khai hoang đồng sâu ở Đồng Dương. Hình như bất cứ lúc nào có chuyến đi dài thì đêm trước ngày xuất phát, chúng tôi cũng phải họp nghe triển khai kế hoạch để mọi người quán triệt vấn đề rất khuya, dù cán bộ phổ biến gì bà con cũng nhất trí cao hết. Gà gáy eo oóc mới họp xong, mỗi người về nhà lục đục lo sửa soạn gạo muối, vật dụng xếp vào ba lô chuẩn bị cho chuyến đi ngày mai.


Xong xuôi, lên giường nằm chưa nóng chiếu thì kẻng báo thức đã vang lên. Tôi mắt nhắm mắt mở vừa thức dậy thì mạ đã nấu cơm chín từ lúc nào. Trong khói bếp thơm mùi rơm mới, mạ vừa giục tôi gắng ăn để có sức mà đi, vừa hơ mấy ngọn lá chuối non trên lửa cho mểm để gói cơm cho tôi mang theo.


Đường vào ruộng sâu rất xa, có khi chúng tôi đi bằng thuyền, có khi đi bộ phải lội qua không biết bao nhiêu là con mương rộng và sâu, nước ngang ngực. Tôi thích đi bằng thuyền hơn vì vừa đỡ mỏi chân, vừa khỏi sợ bị đỉa đeo khi băng qua đồng; lại được nhìn cảnh vật lạ mắt hai bên bờ sông. Thuyền trôi qua những bến nước vang vang tiếng cười đùa của đám con nít tập bơi. Cánh đàn ông, con trai cứ nhắm vào mấy o đang chao thùng múc nước hay mấy chị giặt giũ đưa bàn tay đập vải thành tiếng bồm bộp lan xa trên mặt nước, để cất tiếng hò trêu ghẹo.


Lắm khi mấy o, mấy chị cũng hò trả treo đáo để không kém. Thích nhất là khi thuyền qua vùng Lương Chánh - Thượng An, nhìn những bãi bắp xanh mướt trên đất bồi ven sông bạt ngàn thật là trù phú. Từ con sông Vĩnh Định, thuyền rẽ vào một nhánh khác về phía Vân Trình để vào ruộng sâu.
Đoạn sông này vừa nông vừa hẹp nên có những khúc sông không cần dùng mái chèo mà chỉ dùng sào để chống. Khi đến ruộng thì mặt trời đã đứng bóng, tôi cùng bà con rời thuyền, bờ sông ở đây nhỏ như bờ đê ở làng tôi vậy. Trên bờ sông, chúng tôi ăn vội bữa trưa mang theo, vừa ăn xong là phải xuống ruộng ngay kẻo chiều nước dâng không làm được lại mất một ngày.

Vì suốt ngày lội ruộng nên chúng tôi chả cần dựng lán trại, đêm về chỉ cần vác cái mui thuyền lên úp trên đê để làm chỗ ngủ. Vì đông người nên mấy đứa con gái như tôi, Hoa, và các chị Dàn, Ba, Vân, Thương, … nhường cái mui ghe cho cánh đàn ông. Phía nữ chúng tôi lấy cuốc của mình cuốc mạnh xuống đất cho lưỡi cuốc dính cứng vào đất rồi cứ hai đầu cán cuốc bắt chéo lại với nhau thành điểm tựa. Từ các điểm tựa ấy, chúng tôi lấy nilong treo lên làm mái che, thế là có ngay cái trại tạm thời để ngủ. Khi trời sáng thì "dỡ trại": nilong mang vào người; cuốc vác trên vai. Thế là xong! Có khi ngủ nửa đêm nước sông dâng cao tràn lên bờ, chúng tôi ai nấy ướt lói ngói, rơm và củi đem theo để nấu ăn cũng vắt ra nước, những cái bếp Hoàng Cầm ướt nhẹp nên cơm sống và khê là chuyện bình thường.

Buổi sáng mùa đông rét buốt, gió lạnh thấu xương. Tôi cùng mọi người chuẩn bị đi làm. Từ trên bờ sông nhìn đoạn đường phải lội qua thấy mà ngao ngán. Xa xa, trên những mô đất nhô lên giữa mặt nước mênh mông có những con chim to xù cất tiếng kêu nghe sao mà thảm thiết. Tôi hỏi chú Học "Loài chim chi kêu mà nghe thảm rứa chú hè?”. Chú Học mím mím môi, nhìn trời nhìn nước một lúc rồi tỉnh bơ trả lời “Chim nớ có tên là Ui chao ôi! Ui chao ôi!…”. Tôi và mọi người cười chảy nước mắt, nhưng lắng nghe thì tiếng chim kêu như thế thật! Có lẽ nơi đây đồng không mông quạnh, quanh năm nước ngập, ruộng đồng bao la vắng vẻ quá nên những con chim đó mới cất tiếng kêu buồn da diết vậy. Trời mưa, mưa không ngớt.



Chúng tôi rét cóng tay; môi tím tái; răng va vào nhau lập cập. Lạnh thế nhưng ai nấy đều phải vác cuốc trên vai rồi cùng ào xuống ruộng, lội vào tận chỗ khai hoang của đội mình để làm việc. Đến nơi, mấy đứa con gái có nhiệm vụ lội trước, dùng liềm cắt dọn cỏ để cho nhóm đàn ông theo sau cuốc ruộng. Từng nhát cuốc vung lên, phập xuống. Đất đâu chẳng thấy mà chỉ thấy vấy lên từng mảng bùn phèn tan vào nước hoặc quánh lại trôi lềnh bềnh cùng đám cỏ lác. Chúng tôi nhìn nhau, đứa nào đứa nấy mặt mũi lấm bùn. Thỉnh thoảng, Hoa hét lên một tiếng kinh hoàng và vọt chạy té sấp té ngữa khi quơ phải một con rắn trong đám cỏ lác. Còn đỉa ở đây thì nhiều vô kể, những con đỉa to chi mà to lạ! Có con bằng con lươn chứ chẳng chơi, con thì cuộn tròn như con ốc, con thì lượn tới lượn lui dài lằng ngoằng thấy mà nổi gai ốc cùng mình.


Nghe đau và khó chịu ở chân, tôi kéo chân lên và quay lại nhìn thì ôi thôi: một con đỉa dài thượt đã "đo" hết ống chân tôi. Vừa sợ vừa ghê, tôi bặm môi nghĩ Một là mi chết, hai là tau chết rồi cố hết sức dùng cái cuốc lưỡi gà sắc bén gạt một phát từ trên xuống, không biết chết hay không chứ tôi thì bị nhát cuốc kéo rách một mảng da máu chảy ròng ròng. Dù đau lắm nhưng vì quá kinh hãi nên tôi không dám nhìn lui nữa. May mà rớt đằng nào không biết.


A! đây rồi,
ai cũng quay sang nhìn thì... Trời ạ! Chú lại đưa lên một c
on cá to bằng điếu thuốc, những tràng cười hi, ha… lại vang vang trên mặt nước. Mới qua buổi trưa mà mọi người đã bắt được gần đầy thùng cá.Chiều đó lúc trở về, tôi cùng chị Dàn, Hách, Sinh, Học, Quốc chèo thuyền qua chợ Vân Trình mua gia vị về kho cá.



Chú Hách hồi đó để ý chị Dàn nên cứ nằn nì o bán hàng thêm cho một khoanh đường táng để tặng chị Dàn (Ôi! Một mối tình đơn phương chỉ dám nhìn và trao… táng đường…). Đến bữa cơm tối, mọi người ăn cá nhiều hơn cơm. Còn tôi có một nồi cá đặc biệt do ông bác cùng xóm - mà sau nầy là ba chồng tôi - kho riêng trong cái nắp cà-mèn. Bác biết tôi không ăn cá trê, cá lóc nên đã lựa mấy con cá rô, cá trắng nhỏ xíu để kho riêng cho tôi. Thật là cảm động!






Hết chuyện ăn đến chuyện ngủ. Buồn cười nhất là lúc bắt đầu đi ngủ, thấy chú Trụ bước ra đổ hết nước uống trong nồi rồi úp luôn cái nồi xuống đất, ai nấy nhao nhao “Chú đổ hết nước, đến khuya khát lấy chi mà uống?” Chú Trụ cười đáp tỉnh queo “Chơ lúc tối ai cũng ăn mặn cá mần răng không khát? Mà khát thì phải uống nước,mà uống vô thì mắc tè, mà mắc thì phải đi chơ nín răng được? Rứa có phải tau tra, bây cho nằm ngoài làm ranh giới mà cứ hết đứa ni lại đến đứa tê đi vô đi ra, bước qua bước lại trên người tau cả đêm. Rứa thì mần răng tau ngủ? Đổ nước đi là thượng sách!”. Nghe chú nói, dù bị khát khô cổ nhưng ai nấy cũng không nín được cười.

Sau mấy ngày, ruộng làm xong đã đến lúc cấy lúa.




Mạ non ở làng được chất đầy từng thuyền đưa vào ruộng, tất cả mọi người đều cắm cúi cấy thật nhanh vì cứ khoảng ba giờ chiều là nước dâng mênh mông, không thể cấy được. Mang thân đàn bà con gái luôn khổ hơn đám đàn ông. Khi xuống ruộng, mấy ông chỉ đánh một cái quần cộc, tối về tắm chỉ cần nhúng nước rồi vắt cái vèo phơi lên là xong. Còn phụ nữ thì khác, những chiếc quần chéo đen từ miền Bắc đưa vào phân phối cho giới nữ lao động rất chi là đặc biệt.

Cái thứ vải chi mà chỉ cần giặt một nước là phai màu, khi lội ruộng, nước phèn ngấm vào trở nên mốc thếch. Thứ vải chéo* đó, chỉ cần ngấm nước là nặng chịch, trời nắng phơi cả ngày chưa chắc khô chứ nói chi là trời mưa? Bởi thế, khi đi làm chúng tôi thường mặc những chiếc quần còn ỉn ỉn - chưa khô; lại thiếu xà bông giặt nên chuyện bốc mùi là chuyện bình thường. Thiệt khổ hết biết!
Rồi cũng đến lúc thu hoạch, việc gặt lúa ruộng sâu vất vả hơn ruộng cạn nhiều. Cũng may ruộng ở đây mỗi năm chỉ làm được một vụ. Mỗi lúc gặt hái xong là chúng tôi thở phào, mừng trút bớt một gánh nặng của năm nay.

Mùa gặt vừa xong cũng là lúc thanh niên đi làm thuỷ lợi Đồng Dương. Trên sông Vĩnh Định, từng đoàn thuyền chở thanh niên các xã của huyện Hải Lăng cờ xí rợp trời, phèng la đánh inh ỏi đổ về Đồng Dương. Vì tôi thuộc loại sợ đỉa ác chiến nên được đội phân công lo hậu cần. Với cái bếp là một hố đất nhỏ vừa đặt được cái soong nấu khoảng 20 long gạo và một đống rơm luôn bị ướt vì trời mưa. Mỗi ngày đêm tôi phải nhóm lửa, nước mắt chảy tèm lem để nấu khoảng năm bữa ăn cho mấy chục người trong đội. Này nhé: Suất cơm đầu tiên trong ngày lúc nấu lúc ba giờ sáng


Vải chéo đen: Loại vải thô nhuộm đen bán phân phối cho người lao động tay chân. Còn người lao động trí óc thì được bán “quần xi áo lon”(những thứ vải nhẹ và tốt hơn do Trung Quốc sản xuất). Hồi đó mỗi người lao động được bán phân phối vải mỗi năm đủ may một bộ áo quần. Khi nào hợp tác xã nộp lúa nghĩa vụ vượt mới được bán thưởng cho cả đội một khúc vải đủ may một cái quần chéo. Vì thế bà con thường nói đùa chia nhau mỗi người mặc một ngày. Nhưng thường chúng tôi nhường cho người nào nhà đông người lao động.cho số thanh niên đi tát nước về ăn khuya. Nấu cơm xong, hôm nào tôi cũng cầm đèn ra sau bếp soi cho mấy đứa mới về nhìn cho rõ mà bắt đỉa bu vô người vì phải dầm chân dưới ruộng để tát nước. Sau đó tôi nấu tiếp suất cơm thứ hai vào lúc sáu giờ sáng.

Mười một giờ nấu bữa trưa xong là lên thuyền để đưa cơm ra tận công trường. Khoảng bốn giờ chiều lo cơm tối rồi tám giờ tối nấu bữa cuối ngày cho số người đi trực đê ban đêm ăn. Có hôm nước lên mạnh quá khiến kè đê bị vỡ, mọi người phải nhảy xuống dòng nước đang chảy xiết như thác đổ để giữ đê. Hàng chục người cả nam lẫn nữ đứng sát vào nhau, tay siết chặt tay làm thành một bức tường người mặc cho con nước hung hăng cuồn cuộn chảy. Trên bờ, những người còn lại ra sức cuốc, gánh và đổ từng thúng đất xuống để ngăn dòng nước. Trên khúc đê vừa được đắp cao, tiếng đờn, tiếng hát của đám văn nghệ tuyên truyền thuộc phòng Văn hoá thông tin huyện cũng thi nhau hét Đôi bồ câu đang bay về hướng.



Anh cùng em đi ra nơi công trường. Gió lộng trời mây chim hót hoa đưa hương... vang trời. Lâu lâu chiếc loa phóng thanh lại hô hào Hải Vĩnh đang là con chim đầu đàn của huyện Hải Lăng ta, đã đắp được .... mét đê thuỷ lợi…, các xã khác cố lên! cố lên!... Một lát, tiếng loa lại vang lên nhưng lần này là xã khác… Kiểu "bắc loa" đó được gọi là động viên tinh thần để mọi người hồ hởi, phấn khởi ra sức lập công trong lao động. Mà quả thật! Tự dưng nghe tiếng loa thúc giục, tôi cũng thấy tim mình đập rầm rầm. Tiếng loa cũng làm cho không khí công trường thuỷ lợi thêm phần rộn ràng, nhộn nhịp. Nhóm cuốc cho đất vào trạc sắt; nhóm gánh đất lên đổ trên đê; nhóm đứng trên đê ngước đất để nện xuống cho chặt, nhóm nầy toàn là nam giới. Đây là dịp để các anh chàng ga-lăng ra tay, các chàng thấy cô nào ưng ý là luôn ngước sớm - nghĩa là cô gái gánh đất chưa tới nơi chàng đã chạy vội đến ngước dùm một quãng. Các cô dù đôi khi bụng chẳng có tình ý gì nhưng cũng chớp mắt cưòi duyên để hắn mở lòng bao tạ làm dùm cho đỡ mệt.

Ngoài việc lo bếp núc, có lúc tôi cũng đi theo nhóm lấy đất cỏ về trồng cho những khúc đê mới để giữ đất. Việc trồng cỏ nầy đỡ tốn công chăm sóc và cỏ cũng dễ sống hơn. Hai ba người cùng chèo thuyền đi thật xa để tìm những thảm cỏ đan kín trên mặt đất, người muốn lấy đất cỏ phải cuốc thật khéo để làm sao mảng đất khi được dỡ lên vẫn còn nguyên cỏ.

Chúng tôi nhẹ nhàng xếp chúng lên thuyền, khi đã đầy thì chèo thuyền về trồng lên đê rồi lại đi tiếp. Công đoạn này không đơn giản đâu nhé! Trồng cỏ phải có kỹ thuật và mang tính thẩm mỹ cao mới được ghi điểm ngày công lao động cho từng mét đê thuỷ lợi đấy.

Ngoài thủy lợi Đồng Dương, tôi đã từng cùng mọi người đi làm thuỷ lợi nhiều nơi như ở Hội Yên, Hải Ba, Lam Thuỷ, Thi Ông, Triệu Sơn, … mà chẳng nơi nào dễ, dù rằng những cái khó ấy không hề giống nhau, nhưng nhờ sức trẻ nên chúng tôi đã vượt qua tất cả. Và vào một ngày tôi tham gia công trình thuỷ lợi Nam sông Thạch Hãn (đắp Trấm).

Thực hiện chủ trương Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước trên con đường tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, khi hơi xuân năm 1978 chưa tàn thì công trình thủy lợi có tên là Trấm ở phía Nam sông Thạch Hãn khởi công. Thế là thanh niên nam nữ của 3 tỉnh Thừa Thiên - Quảng Trị - Quảng Bình được điều động về Trấm để xây dựng công trình. Trước tình hình đó, người già thì lo lắng đủ thứ - nhất là con gái chưa chồng xa nhà trong điều kiện như thế; nhưng đám trẻ thì vô tư khi nghe tên mình trong danh sách đi làm thủy lợi đắp Trấm, mãi đến khi rời làng mới nghe lòng nao nao.
Mấy ngày trước khi lên Trấm, tôi và Liễu - nhỏ em cùng xóm kém tôi hai tuổi - đã hì hục chặt một vác tre, ngồi chẻ và vót đến chảy máu tay. Hai đứa định làm một cái giường đem theo lên Trấm để ngủ. Nhưng đến ngày đi thì giường vẫn chưa làm xong mà nếu có xong thì làm sao hai đứa tôi vác đi bộ từ nhà lên Trấm - một chặng đường trên hai chục cây số? Vậy là hai đứa đành cõng hai chiếc ba lô trên lưng.

Chúng tôi ra đi, bỏ lại sau lưng ruộng vườn xanh ngát với những bông lúa vừa trổ đòng đòng; bỏ lại cả nỗi nhớ thương và lo lắng của mẹ già cùng những thanh tre làm giường ngỗn ngang sau hè nhà. Lên Trấm làm xong mọi thủ tục trời đã tối thui, tôi đem cất những dụng cụ làm việc vào phía sau lán trại. Lạ quá! Sao cứ một bước thấp lại một bước cao hụt chân suýt té thế nầy? Tôi nhủ thầm Ở đây họ trồng khoai mà răng lại lên vôồng tròn tròn ri hè?

Đêm đầu tiên ở Trấm nhớ nhà quá tôi không sao ngủ được dù chỗ nằm cũng khá êm: đó là một chiếc giường đơn nhỏ của anh Mỹ - ông xã của tôi bây giờ. Thấy tôi lên, Mỹ nhường lại cái giường tre tự tay anh trau chuốt rất đẹp cho tôi dùng riêng. Liễu vì không có giường nên phải ngủ chung với mấy đứa khác, hắn buồn thiu.

Sáng sớm hôm sau, khi sương mù còn giăng kín tiếng kẻng đã vang rền khắp các trại. Tôi thức dậy cùng mọi người ra sân của Đại đội Hải Vĩnh để tập thể dục. Nhìn quanh, thấy có mấy người trùm kín mền từ đầu đến chân. Nếu không biết mà bất ngờ gặp những cái mền phết đất ấy ngọ nguậy theo động tác thể dục trong sương mờ, có lẽ tôi sẽ chết khiếp vì chúng cứ y như là hình ma vẽ trong truyện tranh vậy. Có người vừa tập vừa ngoác mồm ngáp dài không dứt, hai mắt thì nhắm trít lại trông thật buồn cười.

Trời ơi! Tập thể dục cho có sức khoẻ mà như thế nầy thì hại sức khoẻ thêm thôi. Trời sáng dần, tôi đi vòng quanh lán trại để xem mình đang ở chỗ nào vì từ nhỏ đến giờ tôi chưa hề đến nơi này. Thì ra đây là bãi tha ma của vùng Như Lệ.


Những nấm mộ trong rừng hoang

Ngoài các con vật thân mềm tôi cũng sợ ma không kém, vậy mà tối qua tôi đã bước lên bước xuống trên các ngôi mộ quanh trại, còn nghĩ đó là vồng khoai nữa chứ! Tôi sợ đến bủn rủn cả tay chân. Nơi đây là một nghĩa địa lớn của vùng đất Quảng Trị gần La Vang. Phần đất lán trại chúng tôi ở được dựng trên các ngôi mộ vừa được xe ủi đất san bằng, còn chung quanh vẫn đầy những nấm mộ tròn tròn sát nhau chen lẫn với lau lách hoang vu. Thật là khiếp! Ngày nào cũng thế, chúng tôi ăn sáng bằng một loại hạt có tên là bobo. Bobo có sức đàn hồi như cao su vậy, ngâm từ đầu hôm để sáng đun nấu hết củi mà khi ăn vẫn nhai trệu trạo vì nó không chịu mềm. Sau này nhiều đứa đau bao tử chắc cũng bởi di chứng bobo. Bữa trưa có món đặc biệt hơn: A trưởng Lành xuống nhận phần ăn cho 10 đứa là hai thau sắn với một nhúm muối sống nguyên hột nằm bên góc thau. Nhìn phần ăn sau một buổi sáng gánh đá “thuỷ quân lục chiến” bọn tôi chỉ biết thở dài đánh sượt.

(À! Chúng tôi đặt tên loại đá xanh, rất rắn, cục nào cục nấy to tổ chảng là đá thủy quân lục chiến đấy. Những người lính từng theo binh chủng nầy chắc cũng hãnh diện (!)). Thuỷ lấy chân đá thau sắn lăn tròn xuống gầm giường rồi cả bọn lên giường đắp chăn nằm khóc, trong nước mắt chỉ nghe bập bệu mỗi hai tiếng Mạ ơi! Khóc và ngủ cho quên cơn đói, khi nghe tiếng kẻng báo đã đến giờ làm mấy đứa lại hè nhau lôi thau sắn dính cứng dưới giường ra, phủi phủi đất cát, mỗi đứa cạy một miếng nhăn nhăn với hột muối cho có rồi đi làm ca chiều. Bữa cơm tối thịnh soạn gồm một thau nhỏ lưng lửng cơm cho mỗi phần năm người ăn với thau canh gì không biết, chỉ thấy trong nước đùng đục dài ngoằng một miếng dưa chua.

Nghe nói là canh nấu với cá lóc nên tôi nhịn luôn dù không thấy miếng cá nào cả. Đặc biệt trên mỗi thau cơm có thêm năm lát mì nhỏ được làm từ bột mì trắng, nhưng chúng tôi chưa hề được nếm vị ngon của lát mì đó bao giờ. Lý do: bọn con trai cứ đi làm về là chạy qua bên lán nữ bốc hết những lát mì nằm hớ hênh trên mỗi thau cơm xơi hết, chúng nó không cần điệu đàng kỳ cọ rửa ráy tay chân như lũ con gái đâu.

Trong lán nam có mấy đứa con trai "trời đánh". Không hiểu sao mà chúng ác ơi là ác! Có lẽ vì cuộc sống lúc đó quá cực khổ nên chúng cần xả stress? Hay tại nghịch ngợm và phá phách là bản chất? Bọn chúng cứ như là dân đại ca vậy. Có sáng thức dậy bọn con gái bị mất hết quai nón nhung, có đứa mất tấm nilong, … Thủ phạm là mấy cái bụng đói meo của bọn con trai, đêm qua chúng lén lấy rồi đem đi đổi bánh bột lọc và bánh bèo hết rồi. Nhiều đêm đói mà chẳng kiếm chác được gì, bụng rỗng khó ngủ bọn chúng lại bày trò. Mấy đứa Hoàng, Bưởi, Thúc, Minh, Lãng, … diễn lại Mùa hè đỏ lửa trên Đại lộ kinh hoàng.

Tụi nó phân vai: đứa nào nhỏ làm con đeo cứng trên lưng mẹ, giả giọng con nít kêu mạ ơi mạ ơi… nheo nhéo. Đứa nào mập mạp thì làm mẹ vừa cõng con chạy vừa luôn miệng trả lời mạ đay, mạ đay…Mạ đang tìm coi cha con rớt chỗ mô rồi… Mấy đứa khác lại giả bộ tật nguyền chống nạng; còng lưng làm người già và cả làm con nít níu nhau chạy, khóc la inh ỏi. Chúng còn chia làm hai phe đánh nhau rất hăng: đứa làm lính bắn đạn chíu chíu; đứa lái xe tăng ầm ì bắn pháo ùng oàng; đứa dang tay làm máy bay liệng tới liệng lui thả bom miệng ầm ầm; đứa đội nón tai bèo hô tấn công khản hơi; đứa vờ trúng đạn bị thương bò la bò lết kêu van hay bị chết nằm vắt vẻo... Thôi thì chẳng thiếu cảnh nào.

Những âm thanh khốc liệt một thời được tái hiện thật sống động nhưng cách diễn lại cố ý chọc cười. Diễn bên lán con trai riết ít khán giả cũng chán, thế là chúng kéo qua luôn lán bên nữ để diễn tuồng khiến bọn con gái cũng mất ngủ theo.

Có một buổi chiều vừa đi làm về, Hoàng liền chạy qua nói với tôi “Đêm ni có chi xảy ra thì VP cũng đừng sợ nghe chưa? Cứ ngủ đi, đừng mở mắt ra dòm làm chi” Hắn còn nói thêm “Tụi tau bàn với nhau phải nói cho mi biết, vì nếu mi sợ mà chết thiệt thì không ai đẻ kịp mà đền cho mụ Khoá mô”. (Khóa không phải là tên mà là cách bà con trong làng gọi tránh tên tục, vì ngày trước ba tôi có theo học chữ Nho). Nghe hắn nói, tôi không yên tâm chút nào nên vặn vẹo hỏi mãi, cuối cùng Hoàng phải nói ra điều bí mật.
Thì ra, bọn hắn kiếm đâu được mấy khúc xương và chiếc đầu lâu nên định bày trò. Kế hoạch của tụi hắn là tối nay sẽ bắt đom đóm lén thả vào mùng của mấy đứa con gái sợ ma, chắc chắn mấy o ni sẽ tốc mùng mà chạy ra ngoài và khi chạy sẽ đụng phải xương và đầu lâu chúng treo sẵn ở cửa ra vào.

Ôi thôi! Con gái sợ ma mà gặp thế thì chắc chắn là la hét, kêu khóc rền trời. Khi đó các yêng hùng mới xuất hiện cứu mỹ nhơn trong tiếng cười thỏa thích. Nghe kế hoạch thất đức của tụi hắn tôi tá hỏa tam tinh nhưng cũng chẳng dám ho he, vì tụi hắn mà thù là khó sống. Tuy đã biết trước tối nay lũ ác nhơn sẽ hù ma, nhưng khi liên tưởng tới xương và đầu lâu cùng đom đóm lập lòe tôi vẫn nghe rờn rợn.


Tôi không dám bật mí mà tối đó chỉ khuyên mấy đứa con gái nên túm lại ngủ chung với nhau một đêm dù chật chội, còn mấy cái giường trống vẫn cứ giăng mùng rồi đặt mền gối như có người đang ngủ. Mấy đứa trong lán không biết chuyện gì nhưng vẫn làm theo răm rắp, vì chúng rất tin tôi. Khoảng 9 giờ đêm, Lãng với chức vụ trưởng ban bảo vệ (người có quyền đi kiểm tra đột xuất các lán) chạy vô lán nữ kêu “Có một cái bóng áo quần trắng xóa, tóc dài phết đất vừa vô trại nữ, ai mô ở đó để ban bảo vệ kiểm tra!” Rùng rùng sau Lãng là bọn con trai quái ác vừa chạy vừa la Bắt con ma. Bắt con ma.

Đứa hô đứa "tranh thủ" thả đom đóm vào mùng, đứa treo vội các vật hiếm lên cửa ra vào rồi dông tuốt ra ngoài, hí hửng ngồi chờ kết quả. Bọn tôi ngó qua thấy bên giường của Huệ, Liễu và Niềm, Thuỷ đom đóm lập loè bay đầy trong mùng, có con to đỏ lòm đến khiếp. Trên các cửa ra vào, ở khoảng lưng chừng một cái đầu lâu trắng hếu đu đưa với mấy khúc xương dài ngắn đang tòn ten trước gió thật dễ sợ. Bọn tôi rụt cổ và kéo chăn trùm kín mít. Một lúc thấy không có động tĩnh gì, tụi nó quay lại để xem thử thì thấy cả lán nữ im re nên đành thu dọn hiện vật rồi ra về tiu nghỉu như mèo bị cắt tai. Tuy thất vọng vì kế hoạch phá hoại đã chuẩn bị chu đáo bất thành nhưng bọn chúng cũng chẳng có lý do gì để trách tôi được.

Công việc nặng nhọc lại thiếu đói nên bất cứ lúc nào trêu chọc được bọn con gái là bọn con trai ra tay liền. Hình như đó là liệu pháp kích thích lòng vui sống của chúng vậy. Có lần thằng Minh bắt một con rết to bự chảng, thằng Một thì quấn một con rắn đen thùi lùi còn ngo ngoe quanh cổ, lâu lâu hắn thè lưỡi liếm vô mình con rắn một phát rối nuốt ực trông phát khiếp. Hai thằng phát-xít cứ làm như vô tình lang thang qua lán nữ, đi tới đi lui, xáp vô đứa ni xáp vô đứa tê làm bọn con gái chạy tơi tả còn hơn chạy giặc.
Tôi cũng rất sợ nhưng cố bình tĩnh nhẹ nhàng kéo Cúc lảng dần ra ngoài cổng trại của đại đội rồi núp sau một chiếc xe Jeep bị hỏng. Tưởng được yên thân, không ngờ mới được một lát thì Võ Công Diên và Hồng Lam cũng vác đờn ra đó ngồi đờn hát. Hai đứa tôi ngó trốn không yên nên lò dò đứng dậy định đi chỗ khác, ai dè Lam cười nói “Hai o tưởng trốn ở đây là khỏi sợ à? Có ba người bị chết cháy trên xe đó!” Trời ơi! Đúng là tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa.
Một hôm vào giờ giải lao trên công trường, chúng tôi đang ngồi nghỉ thì Bưởi tới hỏi “Trong mấy đứa, đứa mô sợ rắn thì giơ tay lên!” Tôi thiệt thà giơ tay lên liền. Huệ, Chủng, Lành ngó tôi nói “ Mi nói sợ là hắn chọc đó, phải nói không sợ”. Lam bước tới hỏi dồn “Còn đứa mô sợ nữa không?”. Ba đứa còn lại đều nói không sợ, không sợ... Nghe thế Lam chỉ tay ra lệnh “VP qua bên tê ngồi, để mấy đứa không sợ ngồi đây coi có sợ không cho biết”.
Tôi ngoan ngoãn làm theo, bò lên mặt đê thay vì ngồi ở triền đê với mấy đứa bạn. Tôi sợ lắm, đụng vô con rắn chắc tôi chết ngất. Chờ tôi đi rồi, Bưởi huýt sáo miệng một tiếng nghe thật du côn, Thúc ở đâu liền xuất hiện với một con rắn rất to toàn thân vằn vện thấy ớn. Hắn đung đưa con rắn rồi thình lình tung vào ba đứa con gái. Cả Chủng, Huệ, Lành cùng thét lên rồi lăn tròn xuống lòng đê thuỷ lợi lởm chởm những đá nhọn hoắt.
Tôi hoãng hồn nhìn theo, dưới lòng đê cả ba đứa nằm sóng soài, ba cái nón bài thơ mới tinh gãy gọng, con rắn cuộn chặt vào Chủng làm nó hét váng trời. Thật là hãi hùng! Sau lần đó, đêm nào cũng nghe tiếng hét của Chủng trong giấc ngủ. Có lẽ ám ảnh hôm đó đã trở thành những cơn ác mộng hành hạ nó. Thật là tội nghiệp!
Mấy đứa con trai ác nhơn cứ tiếp tục hành lũ con gái chúng tôi để giải khuây - dù chúng chẳng thù hằn hay ghét bỏ gì. Đến giờ tôi cũng không hiểu sao chúng ác như thế? Sáng nào cũng vậy, bọn con trai quỷ quái làm vệ sinh xong là đổ hết nước trong thùng. Số nước mà bọn con gái chúng tôi phải vượt quãng đường xa lởm chởm đá mới gánh về được. Có khi nước gánh về gần đến lán chợt bị vướng chân té nhào, thế là công cốc.
Trò chơi ác khiến ai cũng phải dậy sớm, nếu dậy trễ một chút là không có nước để rửa mặt. Trong nhóm nữ, có 2 cô dành nhiều cảm tình cho chàng Mỹ nên sáng nào cũng thi nhau dậy thật sớm lấy nước để dành trong lon sữa guigô cho chàng rửa mặt. Mỹ biết ý mấy đứa mà cứ giả lơ và đem chia cho tôi một lon nước. Thiếu ăn đã khổ, thiếu nước càng khổ hơn nên nước ở đây quý lắm. Ai tình nghĩa lắm mới để dành một ít nước tặng nhau đấy.


Công việc đắp Trấm hàng ngày vẫn thế, từng tảng đá xanh nổ tung lên cao ầm ầm bởi công suất của bộc phá; rồi cuốc, xúc, gánh và đổ. Chúng tôi chạy đi chạy lại từ dưới lòng đê qua triền đê đầy đá sắc nhọn để lên tới mặt đê thuỷ lợi. Tiếng hát “Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua. Chỉ có nắng mùa hè nóng bỏng. Mồ hôi muối lưng áo em bạc trắng...” xuyên suốt một vùng đồi núi mênh mông như mang nỗi buồn tuổi mới lớn của chúng tôi.
Một buổi sáng trong lúc chuẩn bị đi làm, Mỹ qua lán nữ nói với tôi “Sáng ni tui đi tháo gỡ bom mìn theo phân công của ban chỉ huy…”. Câu nói ngưng lại nửa chừng nhưng tôi đọc được nỗi buồn và sự lo âu trong mắt anh. Tôi không nói gì được, chỉ lặng lẽ gói cho anh một cái bánh mì và vài táng đường. Khi anh quay đi, tôi nhìn theo mà lòng phấp phỏng vì việc làm ấy lành ít dữ nhiều. Cũng may lần đó Mỹ trở về an toàn làm tôi mừng muốn khóc dù lúc ấy chúng tôi chưa là gì của nhau cả. Có lẽ những chăm sóc nho nhỏ trong cuộc sống gian khổ đó đã kéo chúng tôi lại với nhau.
Hồi đó, tuy khó khăn vậy nhưng riêng tôi vẫn dồi dào thức ăn. Cứ mỗi lần có người lên Trấm là mạ tôi gởi cho tôi rất nhiều thức ăn như khoai luộc, đường, bánh kẹo, …
Mạ còn gởi cả gạo để tôi đổi gạo lấy bánh mì, cứ một long gạo là đổi được hai ổ mì để chống đói. Hồi đó bánh mì thuộc loại thực phẩm cao cấp đó nghe. Nhưng số thực phẩm dự trữ của tôi thỉnh thoảng cũng bị ... chia phần. Chia cho các bạn đồng cảnh ngộ thì do tôi tự nguyện rồi nhưng… tôi bị chia phần mới tức chứ. Không phải người đâu nghe, mà là các loại động vật nho nhỏ quanh đây, có lẽ chúng cũng đói nên lặn lội tìm kiếm.
Chuột, gián thì chạy hà rầm khỏi nói rồi, tối nào nằm ngủ tôi cũng chùm kín mền dù trời nóng hay lạnh vì cứ sợ chúng xơi nhằm chân mình. Một lần đi làm về tối, tôi mò mẫm tìm cục đường đưa lên miệng cắn cho đỡ mệt.
Chưa kịp nhai thì sao tóc đâu mà vướng vào miệng mình quá chừng vậy nè? Tôi đưa tay phủi phủi mới phát hiện ra. Trời ạ! Không phải tóc mà là lũ kiến đen - còn gọi là kiến hôi - chúng đang tranh nhau ăn vụng cục đường tôi để dành, bây giờ tôi ăn chúng. Thế là tôi nôn thốc nôn tháo. Sau lần đó rút kinh nghiệm xương máu, muốn ăn gì tôi phải vỗ vỗ kiểm tra trước khi đưa vào miệng.
Song, tuổi thanh xuân thường biết tìm vui trong gian khó, có như thế chúng tôi mới sống được chứ? Có những đêm khó ngủ chúng tôi lại cùng nhau hò đối đáp, những câu hò đâm bắt tuỳ hứng đôi khi cũng vui đáo để và khiến cho các đội khác có phần kiêng nể cái lán toàn con gái của Hợp I vốn nỗi danh với câu hò “Ai về Hợp I mà coi. Con gái Hợp I cầm roi dọi chồng”. Hi hi… chúng tôi còn chua thêm là … nếu chồng cùng Hợp I thì không thèm sắm roi (!). Điều đó làm mấy anh chàng Hợp I nở mũi nhưng cũng thắc mắc Tụi hắn nói không thèm sắm roi thì sắm cái chi hè???
Chuyện dài của ngày ấy càng nhớ lại càng ngậm ngùi. Thương cho mình một thời mới lớn đã phải chịu quá nhiều thiệt thòi, gian khổ. Hai năm sau, gia đình tổ chức đám cưới cho anh Mỹ và tôi. Rồi tôi cùng gia đình chồng dắt díu nhau đi tìm miền đất mới, bỏ lại sau lưng một miền quê đầy nhớ thương và gian khổ. Đất phương Nam mênh mông đãi người khách lạ. Cũng như bao người dân Quảng Trị bỏ xứ mà đi thuở ấy, gia đình tôi đã chọn được đất lành để an cư lạc nghiệp.
Dù cũng phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có cái ăn, cái để nhưng đời sống của chúng tôi dễ thở hơn. Gia đình tôi sống bằng nghề nương rẫy nên tôi thoát khỏi nạn sợ đỉa. Ngày làm việc vất vả thì ban đêm chúng tôi ngủ thẳng giấc, không phải dự những buổi họp hành dài lê thê đến khi gà gáy nữa. Còn khi trời mưa hay nghe người thấm mệt là chúng tôi ngủ ngon.