Wednesday, June 27, 2018


CA DAO, TỤC NGỮ MIỀN TRUNG

SƠN TRUNG


Là người Việt Nam, người miền Trung nói tiếng Viêt Nam, đờng thời sử dụng tiếng địa phương miền Trung.Thí dụ người miền Trung dặn con
Mạ bảo con này. Con phải theo truyền thống của tổ tiên,của ôông mệ để lại:
-giấy rách phải giữ lấy lề....
-Đói cho sạch rách cho thơm. .
-Ăn cây nào rào cây ấy, Cây nào có trấy ,giữ lấy mà ăn..

Trong chiều hướng đó, bài nghiên cứu này sẽ trình bày cái chung và cái riêng của ca dao, tục ngữ miền Trung .Các nhà nghiên cứu đã bỏ qua miền Trung , mà các nhà văn, nhà nghiên cứu miền Trung cũng theo đó mà bỏ quên, xem như tiếng miền Trung là tiếng ngoại quốc!

Đầu thế kỷ XX, các nhà truyền giáo và các học giả Việt Nam đã làm tự điển và khảo về ngôn ngữ miền Trung rất đầy đủ. Trước đây, bác sĩ Hồ Văn Hiền đã viết và xuất bản quyểnTự Điển Tiếng Huế


Từ điển tiếng Huế
Tác Giả: Bùi Minh Đức
Nhà xuất bản: Văn Học
Số trang: 1052
Kích thước: 18 x 26 cm
Hình thức bìa: Bìa cứng
Ngày sản xuất: 1/1/2004 12:00:00 AM
Trọng lượng:

Ngoài ra còn có ông Trần Ngọc Bảo với quyển Từ Điển Phương Ngữ Huế ( Huế-2017), cũng đóng góp vào việc nghiên cứu ngôn ngữ Huế. Có nhiều ý niệm được giải thích rõ nguồn gốc đính kèm thơ và ca dao. Ví dụ định nghĩa của Hò giã gạo và Hò mái đẩy, và tôi trích :

Hò Giã Gạo: loại hò đi với công việc giã gạo. Đến lúc hết gạo người ta vẫn còn hứng thú hát hò cho nên thường ở lại để qua lời hát trao đổi ân tình hoặc chọc ghẹo nhau. Do đó phát sinh hai hình thức hò giã gạo là hò đâm bắt (trêu chọc) và hò ân tình. Về sau người ta tổ chức thi hò đối đáp. Thường thì một cối giã người ta cho một cặp nam nữ giã và hò. Cũng có thể có hai cặp hay ba cặp.
Sau câu hò chào, hò mời là hò đối đáp, còn gọi là hò vay trả hay hò đâm bắt:
Nữ: Ơ…hơ Cây chi trên rừng không la,
Cá chi dưới biển không xương.
Trai nam nhơn đối đặng, thiếp xin kết nghĩa tào khương với cùng.
Nam: Ơ…hơ Cây xương rồng trên rừng không lá,
Cá sứa dưới biển không xương.
Anh đà đối đặng, em phải kết nghĩa cương thường với anh. Nam: Thùng bánh nhiều răng em kêu thùng bánh ít
Quả trầu đầy răng em bảo quả trầu không?
Ai xui em ăn ở hai lòng,
Nói xuôi cũng được mà nói ngược dòng cũng hay
Nữ: Đá không chưn, răng anh gọi là đá nhảy?
Cát không miệng, răng anh bảo cát gầm? Ở xa không biết nên lầm,
Khoai lang xắt lát em cứ ngỡ sâm bên tàu. (hò đâm bắt)
Sau những câu đố, trêu chọc thử tài, dần dần phát sinh tình cảm nên cuối cùng là hát hò ân tình
Nữ xướng: Hơ hơ hơ khoan mời bạn ta lại hò khoan.
Nam xô : Hơ hơ hơ …hơ
Nữ xướng: Hơ.. hơ Thiếp gặp chàng như rồng mây kia mà gặp hội
Chàng mà gặp thiếp như chim phụng hoàng mà gặp cội ngô với cành ngô.
Nam xô : Hơ hơ hơ …hơ
Nữ xướng: Mấy lâu ni kẻ Hán người Hồ
Bữa ni thiên tri lý ngộ, quyết phân phô cho tận tình.
Nam xô: Hơ hơ hơ …hơ
Cuối cùng buổi hò là hò từ tạ
Nữ: Ơ hơ… Con sao hôm đã lặn,
Con sao mai đã mọc bên tê tề
Anh ơi anh có điều chi phân đi nói lại cho em về kẻo khuya.
Nam:

Mình về răng được mà ve,
Câu thơ chưa gởi, lời thề chưa trao.
Hò Mái Nhì : Loại hò gắn với nhịp điệu chèo đò chậm rãi khi thuyền trôi theo dòng. Lúc này có hai người chèo cho nên có thể vừa chèo vừa hát nhẹ nhàng. Phần ơ hò được kéo dài, và ca từ được lặp lại.

Hơ…hơ …hơ…à…hơ… Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá,
Đò về Vỹ Dạ thẳng ngã ba Sình ơ… ơ…

Hơ…hơ …hơ…à…hơ…Đoái nhìn sông Hương nước chảy xinh xinh
Rứa chừ sông bao nhiêu nước à ơ…ơ..ơ
Hơ…hơ …hơ…à…hơ.. sông bao nhiêu nước dạ em si tình nhiêu với chừ ừ…ư…ơ…ơ… bấy nhiêu ờ…ờ…ờ
(lời khuyết danh)
Biết đâu là cầu Ô Thước,

Mênh mông nguyện ước dưới nước trên trờ.i
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,

Khúc sông quạnh vắng có người sầu riêng.

(lời của Ưng Bình Thúc Giạ)

Loại hò này có thể hát chung, có xướng, có xô hai lần

Hò cái xướng:

Hơ hơ hơ hơ ơ hời Trước bến hơ hơ hơ hơ hơ hơ hơ hơ Văn Lâu chiều hà ha hơ chiều hơ hư
Hò con xô:

Hơ hơ hơ hơ hơ hơ…hơ
Hò cái:
Chiều chiều trước bến Văn Lâu ai ngồi, ai câu, sai sầu, ai thảm,
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông, hơ hơ hơ hơ hơ hơ…
Thuyền ai thấp thoáng bên sông, lại đưa câu thì mái đẩy hà hy
Hơ hơ hơ hơ mái đẩy nên cho chạnh tấm ha hơ lòng
Hò con:
Hơ hơ hơ hơ hơ hơ ơ hơ hơ hơ ơ hơ hơ hơ
Hò cái:
Chạnh lòng non nước là non hơ hơ hà hơ

(lời Ưng Bình Thúc Giạ)

Tiếng Trung Kỳ, tiếng Huế bị xem như tiếng ngoai quốc cho nên các nhà tử điển học đã phải dày công biên khảo, cũngvì tiếng Trung kỳ, và giọng Trung Kỳ, người Bắc và Nam không nghe rõ.Vì muốn khảo cứu, các học giả phải dày công đọc sách và viết lach ngày đêm! Nay chúng tôi cũng viết ra một bài biên khảo ngắn để đồng bào trong nước hiểu rõ ngôn ngữ miền Trung.

Trước tiên, chúng tôi sẽ minh định ý nghĩa của tục ngữ và ca dao .Theo Wikiquote,


A. TỤC NGỮ


Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền.

Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc.
Ă
Ăn cỗ đi trước,lội nước đi sau
Ăn cơm có canh
Ăn cơm không rau
Ăn cơm mới
Ăn cơm nhà
Ăn đầu sóng
Ăn không lo
Ăn kĩ no lâu
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Ăn khoai
Ăn ốc
Ăn theo thuở
Ăn vóc
Ăn chắc
Ao có bờ sông có bến
B
Bạn bè con chấy cắn đôi.
Bạn bè là nghĩa tương tri.
Bán anh em xa, mua láng giềng gần.
Bè ai người ấy chống.
Bè thì bè lon, sào thì sào sậy.
Bé người to con mắt.
Buôn có bạn, bán có phường.
Bụt chùa nhà không thiêng.
Bắt con cá lóc nướng chui.
Ba vạn sáu nghìn ngày.
Bé chẳng vin cả gãy cành.
Bút sa gà chết
C

Có công mài sắt, có ngày nên kim.
Cái răng, cái tóc là góc con người.
Cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra.
Căng da bụng, chùng da mắt
Con trâu là đầu cơ nghiệp.
Cái khó ló cái khôn.
Cần cù bù thông minh.
Con dại cái mang.
Con hơn cha là nhà có phúc.
Cờ bí dí tốt.
Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt.
Có cứng mới đứng đầu gió.
Chuyện bé xé ra to.
Chị ngã em nâng.
Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.
Chó ăn đá, gà ăn sỏi.
Chơi dao có ngày đứt tay.
Của một đồng công một nén.
Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.
Cây ngay không sợ chết đứng.
Chết vinh còn hơn sống nhục.
Chết đứng còn hơn sống quỳ.
Chân cứng đá mềm.
Chân nam đá ch
Chơi diều đứt dây
Chân lấm tay bùn
ân chiêu.
Con giun xéo mãi cũng quằn
Cày sâu cuốc bẫm
Chuột sa chĩnh gạo
Chim sa cá lặn
Cười hở mười cái răng
Chạy như cờ lông công
Cơm cha áo mẹ chữ thầy,nghĩ sao cho bỏ những ngày ước ao
Cáo chết ba năm quay đầu về núi.
Đ

Đánh rắm gãy cành.
Đất lành chim đậu.
Đất lở chim bay.
Đời cha ăn mặn đời con khát nước.
Đói cho sạch, rách cho thơm.
Đa sầu đa mang.
Đâm bị thóc, chọc bị gạo
Đi thưa về gửi.
Đi đến nơi về đến chốn.
Đi một ngày đàng học một sàng khôn.
Đèn nhà ai nhà nấy rạng.
Đèn nhà bên sáng, gà nhà ta thức
Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm.
Đồng tiền đi liền khúc ruột.
Đất có lề, quê có thói.
Đi chơi mất chỗ đi ăn cỗ mất phần
Được mùa cau đau mùa lúa
Đi với phật thì mặc áo cà sa

Đi với ma thì mặc áo giấy.
G
Gieo gió gặt bão
Góp gió thành bão

Giấy rách phải giữ lấy lề.
Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
Giận quá mất khôn.
Gừng càng già càng cay.
Ghét của nào trời trao của nấy.
Gạn đục, khơi trong.
Giỏ nhà ai quai nhà nấy.
Giống rồng lại đẻ ra rồng.
Gà què ăn quẩn cối xay.
Gậy ông đập lưng ông.
Gần chùa gọi bụt bằng anh
K
Khôn ăn cái, dại ăn nước.
Khôn đâu tới trẻ, khỏe đâu tới già.
Khôn không qua lẽ, khỏe chẳng qua lời.
Khôn nhà dại chợ.
Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm.
Không làm sao nên.
Kính già, già để tuổi cho.
Kính lão đắc thọ.
Kính trên nhường dưới.
Không có lửa làm sao có khói.
Kẻ cắp gặp bà già.
Không thầy đố mày làm nên.
Kính thầy yêu bạn.
Khỏi vòng cong đuôi.
Kiến tha lâu cũng đầy tổ.
Khăng khăng quân tử một lời nhất ngôn.
L

Lá rụng về cội
Lá lành đùm lá rách
Lên thác xuống ghềnh
Liệu cơm gắp mắm.
Lùi một bước tiến ngàn dặm
Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén.
Lù đù vác cái lu mà chạy.
Lửa thử vàng gian nan thử sức.
Lựa gió xoay chiều.
Lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét.
Làm khi lành để dành khi đau
Lắm thầy nhiều ma
N

Nam vô tửu như kì vô phong
M
Muôn người như một ăn cột là ngu
Một điều nhịn chín điều lành.
Một giọt máu đào hơn ao nước lả.
Môi hở, lưỡi mềm.
Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.
Một con chim én không làm nên mùa xuân.
Một câu nhịn, chín câu đói.
Mất lòng trước, mất luôn lòng sau.
Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ
Muốn gì được nấy
Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.
Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời.
Một miếng khi đói bằng một gói khi no.
Muốn ăn thì lăn vào bếp.
Môi hở răng lạnh
Muốn lành nghề, chớ nề học hỏi.
Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học.
Một kho vàng không bằng một nang chữ.
Một mặt người bằng mười mặt của.
Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa.
Mềm nắn, rắn buông.
Mềm quá thì yếu, cứng quá thì gãy.
Mèo nhỏ bắt chuột con.
Mía ngọt đánh cả cụm.
Một người lo bằng kho người làm.
Một thằng tính bằng chín thằng làm.
Một lần ngại tốn, bốn lần chẳng xong.
Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.
Một nghề cho chín còn hơn chín nghề.
Mũi dại, lái phải chịu đòn.
Muốn ăn cá cả phải thả câu dài.
Mưu sự tại nhân hành sự tại thiên.
Mẹ hát, con khen hay.
Mưa thuận gió hòa
Một lần bất tín vạn lần bất tin.
N
Năng làm thì nên.
Nước chảy về nguồn, lá rụng về cội.
Nước lã không khuấy nên hồ.
Nước đến chân mới nhảy
Nước chảy đá mòn.
Nói có sách, mách có chứng.
Nói lời phải giữ lấy lời.
No mất ngon, giận mất khôn.
No bụng đói con mắt.
Năng nhặt chặt bị.
Nó lú có chú nó khôn.
Nói thì hay, bắt tay thì dở.
Người không ăn trứng người ngu, gà đẻ làm gì cho phí.
Nước lã mà vã nên hồ, tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.
Nói hay hơn hay nói.
Nói người phải nghĩ đến ta, sờ vào sau gáy xem xa hay gần.
Nói người phải nghĩ đến thân, sờ vào sau gáy xem gần hay xa.
Nam thực như hổ, nữ thực như miêu.
Nôm na là cha mánh khóe.
NH
Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột
Nhất quy nhi ma thu ba hoc tro
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền.
Nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò
Nhân chi sơ tính bổn thiện
Nhìn bụng ta, suy ra bụng người.
Nhất tự vi sư, bán tự vi sư
Nhường cơm sẻ áo.
Nhất cận thị, nhị cận giang,tam cận lộ.
NG
Người sống hơn đống vàng.
Nghèo sinh bệnh, giàu sinh tật.
Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân.
Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.
Ngồi mát ăn bát vàng.
Ngọt như mía lùi.
Người ta là hoa là đất
Ngu đừng phải hỏi
O
Oán không giải được oán
Oan có đầu, nợ có chủ
Oan oan tương báo , dỉ hận liên miên
Oán thù nên giải không nên kết
Ong siêng có mật, người siêng có của
Ô
Ông thò chân giò, bà thò nậm rượu
Ông ăn chả bà ăn nem
Ơ
Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác
Ở nhà nghe Đông Hà lúa héo
Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
Ở xó chuồng heo,hơn là theo phía vợ
Ở chọn nơi, chơi chọn bạn
P
Phép vua thua lệ làng.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí.
Phú quý sinh lễ nghĩa
Q
Quân tử phòng thân; tiểu nhân phòng bị, gậy.
Quân tử nhất ngôn kí xuất, tứ mã nan truy
Quỷ tha, ma bắt
Quả báo nhãn tiền
Quan nhất thời, dân vạn đại
Quýt làm cam chịu
Qua cầu rút ván
Quân tử trả thù mười năm chưa muộn
R
Rao ngọc bán đá
Ráng mỡ gà có nhà thì giữ.
Ráng mỡ gà thì gió , ráng mỡ chó thì mưa.
Rau nào sâu nấy.
Ruộng bề bề chẳng bằng nghề trong tay.
Rừng không hai cọp, nước không hai vua
Rừng nào cọp nấy
Rừng vàng biển bạc
S
Sinh nghề tử nghiệp
Sinh lão bệnh tử
Sông có khúc, người có lúc
Sóng Trường Giang, sóng sau đập sóng trước
Sai một li đi một dặm
Sông sâu sóng cả chớ ngã tay chèo
Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó
T
Tấc đất tấc vàng
Tai vách mạch rừng.
Tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi
Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.
Té nước theo mưa.
Tiên học lễ hậu học văn
Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống.
Tiền vào quan như than vào lò
Tiền nào của đó
Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông.
Tốt danh hơn lành áo.
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
TH
Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt
Tham giàu phụ khó, tham sang phụ phần
Tham giàu phụ ngải
Tham phú phụ bần
Thất bại là mẹ thành công
Thật thà là cha dại.
Thật thà ăn cháo, láo nháo ăn cơm
Thắng làm vua thua làm giặc
Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn.
Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi
Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một li
Thân sâu hồn bướm
Thua keo này bày keo khác
U
Uống nước nhớ nguồn.

Ướt như chuột lội
V
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn cát móng tay
Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm
Việc nước trước việc nhà.
Vụng chèo khéo chống
Vào sinh ra tử
Vắt chanh bỏ vỏ
Vàng thật không sợ lửa
X
Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ
Xôi hỏng bỏng có
Xa thương, gần thường
Xem bói ra ma, quét nhà ra rác
Xởi lởi trời cho, so đo trời lấy lại
Y
Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười
Yêu trẻ, trẻ đến nhà; kính già, già để tuổi cho
Yêu hoa nên phải vì cành . B. CA DAO
Ca dao (歌謠) là thơ cadân gianViệt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc. Ca dao là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.

A - Ă - Â
Ai ơi đừng lấy vợ mập
tối đêm thức giấc
tưởng mình ôm heo

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.
Ai đưa con sáo sang sông,
Để cho con sáo sổ lồng bay ra.
Anh về học lấy chữ nhu (nho),
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ.

Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Anh em nào phải người xa,
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân.
Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.
Anh đi anh nhớ non Côi
Nhớ sông Vị Thủy, nhớ người tình chung
Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

Ai về Hà Tĩnh thì về,
Mặc lụa chợ Hạ, uống chè hương sen.
Ai về Tuy Phước ăn nem,
Ghé qua Hưng Thạnh mà xem Tháp Chàm.

Ai về đến huyện Đông Anh,
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương.
Cổ Loa hình ốc khác thường
Trải qua năm tháng, nẻo đường còn đây
Anh hùng là anh hùng rơm,
Ta cho mồi lửa hết cơn anh hùng.

Ai về tôi gửi buồng cau
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.
Anh đi Bình Định ở lâu,

Chiều chiều em đứng vườn dâu ngó chừng.
Hai hàng nước mắt rưng rưng, Chàng xa thiếp cách, ngang chừng muốn băng.
Phụ mẫu nhà la dức rầm rầm,
Cơm sao ngơ ngáo, làm không muốn làm.
Bởi chưng thiếp bắc chàng nam
Giơ tay không nổi còn làm việc chi
Ai về nhớ Vải Ninh Hòa,
Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê,
Nhớ dừa Quảng Hán, Lựu Khê,
Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào.

Ai về Nhượng Bạn thì về,

Gạo nhiều, cá lắm, dễ bề làm ăn.

Anh oi! Cố chí canh nông
Chín phần ta cũng dự trong tám phần
Hay gì để ruộng mà ngăn
Làm ruộng lấy lúa,chăn tằm lấy tơ.
Dã tràng xe cát biển đông,
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.

Dù ai nói ngả nói nghiêng,
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
Dạy con từ thuở còn thơ,

Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.

Dù ai đi ngược về xuôi,

Cơm nắm lá cọ là người sông Thao.
Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba.
Dao cau rọc lá trầu vàng

Mắt anh anh liếc,mắt nàng nàng đưa.
Ai về đến huyện Sa Pa

Nhớ xem phong cảnh nóc nhà Đông Dương
Đi cho biết đó biết đây,

Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
Con gái nói có là không,
Nói yêu là ghét, nói buồn là vui.
Đàn ông đi biển có đôi,

Đàn bà đi biển mồ côi một mình.
Đời người có một gang tay,

Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang.
Đa tình thì vướng nợ tình,

Trách người đã vậy, trách mình sao đây !
Đã cam quấn quít má đào,

Những mong chim nhạn mai trao chỉ hồng.
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao Mai
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Đôi ta bắt gặp nhau đây
Như con bò gầy gặp bãi cỏ hoang.
Đôi ta như tượng mới tô,
Như chuông mới đúc, như chùa mới xây. Đôi ta như lửa mới nhen,
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.
Đôi ta như rắn liu điu,

Nước chảy mặc nước, ta dìu lấy nhau.
Đôi ta như ruộng năm sào,

Cách bờ ở giữa làm sao cho liền?
Đôi ta như thể đồng tiền,

Đồng sấp, đồng ngửa, đồng nghiêng, đồng nằm
Đôi ta như thể con bài,
Đã quyểt thì đánh, đừng nài thấp ca
Đôi ta như đá với dao,
Năng siếc, năng sắc, năng chào, năng quen.
Đôi ta như thể con dao,

Năng liếc thì sắc, năng chào thì quen.
Đôi ta như ngãi Phan Trần,

Khi xa ngàn dặm, khi gần bên đôi
Đôi ta như rượu với nem,

Đang say ngây ngất, ai dèm chớ xa.

Đôi ta như lúa đòng đòng,
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha
Đôi ta như chỉ xe ba,
Thầy mẹ xe ít, đôi ta xe nhiều.
Đêm nằm lưng chẳng tới giường,
Trông cho mau sáng ra đường gặp em.
Đi ngang thấy ngọn đèn chong chóng,
Thấy em nho nhỏ, muốn bồng mà ru.
Đường dài ngựa chạy biệt tăm,
Người thương có nghĩa trăm năm cũng về
Đầu năm ăn quả thanh yên,
Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng.
Vì cam cho quýt đèo bòng,

Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương.
Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng:
Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?
Trầu vàng nhá lẫn cau xanh,
Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.
Đói lòng ăn nửa trái sim,
Uống lưng bát nước đi tìm người thương
Người thương, ơi hỡi, người thương,
Đi đâu mà để buồng hương lạnh lùng.
Đôi ta cùng bạn chăn trâu,

Cùng mặc áo vá nhuộm nâu một hàng.
Bao giờ cho gạo bén sang,
Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh
Đường xa thì thật là xa
Mượn mình làm mối cho ta một người.
Một người mười tám đôi mươi
Một người vừa đẹp vừa tươi như mình.

Đêm đêm tưởng dải Ngân Hà,
Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.
Đêm qua vật đổi sao dời,

Tiếc công gắn bó nhỡ lời giao đoan.
Đêm qua trời sáng trăng rằm,
Anh đi qua cửa em nằm không yên.
Mê anh chẳng phải mê tiền,
Thấy anh lịch sự có duyên dịu dàng
Thấy anh em những mơ màng,
Tưởng rằng đây đấy phượng hoàng kết đôi.
Thấy anh chưa kịp ngỏ lời,
Ai ngờ anh đã vội dời gót loan.
Thiếp tôi mê mẩn canh tàn,
Chiêm bao như thấy anh chàng ngồi bên
Tỉnh ra lẳng lặng yên nhiên,>
Tương tư bệnh phát liên miên cả ngày.
Nghĩ rằng duyên nợ từ đây,
Xin chàng hãy lại chơi đây chút nào.
Cho thiếp tỏ thiệt thấp cao!
Đợi chờ trúc ở với mai,
Đợi chờ anh ở với ai chưa chồng.
Đi qua nghiêng nón, cúi lưng,

Anh không chào, em không hỏi,
vì chưng đông người.
Đôi ta thương mãi nhớ lâu
Như sông nhớ nước, như nhành dâu nhớ tằm.
Đấy, đây xứng đáng cũng vừa,
Xin đừng kén chọn lọc lừa nơi nao.
Đu đủ tía, giềng giềng cũng tía,
Khoai lang giâm, ngọn mía cũng giâm.
Củi kia chen lẫn với trầm,
Em giữ sao cho khỏi, kẻo lầm, bớ em!
Đi đâu bỏ nhện giăng mùng,

Bỏ đôi chiếu lạnh, bỏ phòng quạnh hiu!
Đại Hoàng phong cảnh hữu tình,
Của nhiều đất rộng gái xinh trai tài
Đố ai lặn xuống vực sâu,

Mà đo miệng cá, uốn câu cho vừa.

Đố ai bắt chạch đằng đuôi,
Bắt chim đầu cánh, bắt người trong trăng.

Đố ai biết đá mấy hòn
Tua rua mấy chiếc, trăng tròn mấy đêm.

Đố ai lượm đá quăng trời,
Đom đóm bay ra, trồng cà tra đỗ,

Tua rua bằng một, cất bát cơm chăm Tháng tư mua nứa đan thuyền,

Tháng năm tháng sáu gặt miền ruộng chiêm Đố ai tát bể Đông Khê,
Tát sông Bồ Đề, trăng tròn mấy đêm.

Đông Thành là mẹ là cha,
Đói cơm rách áo thì ra Đông Thành.
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Ai vô xứ Nghệ thì vô!
Đường lên Mường Lễ bao xa?
Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh.

Đường lên xứ Lạng bao la?
Cách một trái núi với ba quãng đồng.
Ai ơi, đứng lại mà trông,
Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ…<

Đường về Kiếp Bạc bao xa?
Đường về Kiếp Bạc có cây đa Bồ Đề.
Có yêu anh cắp nón ra về,
Giàu ăn, khó chịu chớ hề thở than.
Đất ta bể bạc, non vàng,
Bể bạc Nam Hải, non vàng Bồng Miêu
Đố ai biết lúa mấy cây,

Biết sông mấy khúc, biết cây mấy tầng
Đi bộ thì khiếp Hải Vân,

Đi thuyền thì khiếp sóng Thần, hang Dơi. Yêu nhau cho thịt cho xôi
Ghét nhau đưa đến Kim Bôi , Hạ Bì.
Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá,
Đò từ Vĩ Dạ thẳng ngả Ba Sình.
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh,
Tiếng hò xa vọng, nặng tình nước non.
Đức Thọ gạo trắng nước trong,
Ai về Đức Thọ thong dong con người.

Đầm Đại Từ hoa sen thơm ngát
Giếng Đại Từ nước mát nước trong
Dòng Tô uốn khúc lượn quanh<
Đất nuôi trẻ nhỏ lừng danh trong ngoài.

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm.
Đố anh con rết mấy chân?

Núi Đầu Mâu mấy thước, chợ Hôm mấy người?
Đất Châu Thành anh ở
Xứ Cần Thơ nọ em về
Bấy lâu sông cận biển kề
Phân tay mai trúc dầm dề hột châu.
Đống Đa ghi để lại đây,


Đồng Nai có bốn rồng vàng,
Lộc họa Lễ phú San đàn Nghĩa thi
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông,
Con bế con bồng, con dắt, con mang.
Bò đen húc lẫn bò vàng,
Hai con húc chắc, đâm quàng xuống sông. Thằng bé chạy về bảo ông”<
Bò đen ta ngã xuống sông mất rồi”.
Đàn ông miệng rộng thì tài,
Đàn bà miệng rộng điếc tai láng giềng.
Đàn ông nông nổi giếng khơi,
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Đói thì đầu gối phải bò,

Cái chân hay chạy cái giò hay đi.
Đồng tiền không phấn không hồ,

Sao mà khéo điểm khéo tô mặt người!
Đem chuông đi đấm nước người,

Chẳng kêu cũng đấm ba hồi lấy danh.
Đi đâu mà bỏ mẹ già,

Gối nghiêng ai sửa, tách trà ai dâng.

Đói lòng ăn hột chà là,

Để cơm nuôi mẹ , mẹ già yếu răng.
Đẻ con chẳng dạy chẳng răn,

Thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng.
Đã sinh ra kiếp ở đời,

Trai thời trung hiếu đôi vai cho tròn.
GSớm hôm gìn giữ kẻo còn chút sai.
Trai lành gái tốt ra người,

Khuyên con trong bấy nhiêu lời cho chuyên.
Đã rằng là nghĩa vợ chồng,
Dầu cho nghiêng núi, cạn sông chẳng rời.
Đắng cay cũng thể ruột rà,

Ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng.
Em chồng ở với chị dâu,
Coi chừng kẻo nó giết nhau có ngày.
Con cô, con cậu thì xa,

Con chú, con bác thật là anh em.
Đói thì ăn ngô, ăn khoai,

Đừng ở với dượng, điếc tai láng giềng.

Đường đi những lách cùng lau,
Cha mẹ t
Duyên sao cắc cớ, hỡi duyên!

Cầm gương, gương tối, cầm vàng, vàng phai.
Đừng nài lương giáo khác dòng,
Vốn đều con Lạc cháu Hồng khi xưa.
Đôi ta như cái đòng đòng,

Đẹp duyên, nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha.
Đứng bên ni đồng,
ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng,
bát ngát mênh mông.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng,
Phất phơ giữa ngọn nắng hồng ban mai.
Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm,

Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say.
Đồn rằng quan tướng có danh,
Cưỡi ngựa một mình, chẳng phải vịn ai.
Ban khen rằng:"Ấy mới tài",
Ban cho cái áo với hai đồng tiền.
Đánh giặc thì chạy trước tiên
Xông vào trận tiền cởi khố giặc ra!
Giặc sợ, giặc chạy về nhà Trở về gọi mẹ mổ gà khao quân! Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.
Ai lên xừ Lạng cùng anh
Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.
Tay cầm bầu rượu nắm nem, Mãng vui quên hết lời em dặn dò.
Gánh vàng đi đổ sông Ngô,
Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương!
Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ Nhu (nho)
Chín trăng em đợi mười thu em chờ.
Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc,
Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân,
Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần,
Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run.
Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh,
Nước Đồng Mười lóng lánh cá tôm,
Muốn ăn bôn súng mắm kho,
Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm.

E - Ê
Em như hoa gạo trên cây
Anh như một đám cỏ may bên đường.
Lạy trời cho cả gió sương,
Hoa gạo rụng xuống, lại luồn cỏ may.
Em liều một cái bánh bò
Còn nào chót chét,cặp giò chặt hai.

Gió đưa cây cải về trời,

Rau răm ở lại, chịu lời đắng cay.
Gió đưa cành trúc la đà,

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương <
Mịt mù khói tỏa ngàn sương<
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.
Gánh cực mà đổ lên non,
Cong lưng mà chạy, cực còn theo sau.
Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân? Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa,
Trai Thủ Thừa cưỡi ngựa xuống mua.
Gái Thái Bình lòng ngay dạ thẳng,

Trai bạc tình một cẳng về quê.

Gắng công kén hộ cốm Vòng

Kén chồng Bạch Hạc cho lòng ai vui
> Gà khôn gà chẳng đá lang

Gái khôn gái chẳng bỏ làng gái đi.

Hoa thơm ai chẳng muốn đeo,

Người khôn ai nỡ cứ theo nặng lời.

Hoa thơm ai chẳng nâng niu,
Người khôn ai chẳng mến yêu mọi bề Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin,

Hay là em (còn) để làm tin trong nhà.
Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy,
Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa.
Em với anh cũng muốn kết nghĩa giao hòa,
Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời.
Em với anh cũng muốn kết tóc ở đời,
Sợ rằng mây bạc giữa trời mau tan.
Học trò xứ Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô tát ánh trăng vàng đổ đi?
Ích nước lợi nhà
Làm trai cho đáng nên trai,

Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng.
Lời nói chẳng mất tiền mua,

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Làm trai lấy được vợ hiền,

Như cầm đồng tiền mua được của ngon.
Làm trai quyết chí tu thân,

Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo.
Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.
Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên,
Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày.
Mậu Thìn vốn thiệt năm nay,
Một ngàn hai tám, tiếng rày nổi vang.
Phong Thạnh vốn thiệt tên làng,
Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung.
Anh em Mười Chức công khùng
Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan..
Lênh đênh ba mũi thuyền kề,
Thuyền ra Kẻ Chợ, thuyền về sông Dâu.
Lênh đênh ba bốn thuyền kề,
Chiếc ra Hà Nội, chiếc về sông Dâu.
Vì tằm em phải hái dâu
Vì người lịch sự em ngồi rầu bên nong.
Lênh đênh chiếc bách giữa dòng,
Thương thân góa bụa phòng không lỡ thì. Gió đưa cây trúc ngã quỳ
Ba năm trực tiết còn gì là xuân?
Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
Làng tôi có lũy tre xanh,

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng.

Bên bờ vải nhãn hai hàng,

Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.
Muốn sang thì bắc Cầu KiềuMuốn con hay chữ phải yêu lấy thầy.
Một cây làm chẳng nên non,Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Mười năm lưu lạc giang hồ,Một ngày tu tỉnh, cơ đồ lại nên.
Mấy đời bánh đúc có xương,Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng
Mẹ già như chuối chín cây,Gió lay mẹ rụng, con phải mồ côi.
Mình về có nhớ ta chăng,Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
Một năm chia mười hai kỳ,Thiếp ngồi, thiếp tính khó gì chẳng ra. Tháng giêng ăn tết ở nhà,Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm. Tháng ba đi bán vải thâm,Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về. Tháng sáu em đi buôn bè,Tháng bảy, tháng tám trở về đong ngô. Chín mười cắt rạ đồng mùa,Một, chạp vớ được anh đồ dài lưng. Anh ăn rồi anh lại nằm,Làm cho thiếp phải quanh năm lo phiền. Chẳng thà lấy chú lực điền,Gạo bồ, thóc giống còn phiền nỗi chi
N[sửa]
Nhà Bè nước chảy chia hai,Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,Như đứng đống lửa như ngồi đống than.
Người đâu gặp gỡ làm chi,Trăm năm biết có duyên đường hay không
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Nực cười châu chấu đá xe,Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.
Ngoài miệng thì nói Nam mô,Trong lòng thì chứa ba bồ dao găm.

Nghèo nhân nghèo nghĩa thì lo,Nghèo tiền nghèo bạc chả lo là nghèo.

Ngó lên nuộc lạt mái nhà,Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu
Nam Kì sáu tỉnh em ơiCửu Long chín ngọn cùng khơi một nguồn, Sông Hương nước chảy trong luôn,Núi Ngự danh tiếng cả muôn dặm ngoài.
Nước non lận đận một mình,Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Ai làm cho bể kia đầy,Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?
Ngang lưng thì thắt bao vàng,Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài. Một tay thì cắp hỏa mai,Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền. Tùng tùng trống đánh ngũ liên,Chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa.
Người ta rượu sớm trà trưa,Thân em đi sớm về trưa cả đời. Lạy trời ứng nghiệm một lời,Cho em gặp được một người em thương.

Người ta bán vạn mua ngàn,Thân em buôn bán cơ hàn vẫn vui
Người ta đi đôi về đôi,Thân em đi lẻ về côi một mình.
Người ta đi cấy lấy công,Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề. Trông trời, trông đất, trông mây,Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm. Trông cho chân cứng đá mềm,Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.
Núi cao chi lắm núi ơi,Núi che mặt trời chẳng thấy người thương
Nói chín thì nên làm mườiNói mười làm chín kẻ cười người chê. *Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề :Trong trời trông đất trông mây
Trong mưa trông nắng trông ngày trông đêm :Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng

O - Ô - Ơ[sửa]
Ở đời muôn sự của chung,Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi.

Ớt nào mà ớt chẳng cay,Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng Vôi nào là vôi chẳng nồng,Gái nào là gái có chồng chẳng ghen.
Ở sao vừa được lòng người,Ở rộng người cười, ở hẹp người chê
P[sửa</
Phượng hoàng ở chốn cheo leo,Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà. Bao giờ gió thuận mưa hòa,Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng.
Phải duyên phải kiếp thì theo,Cám còn ăn được, nữa bèo như anh
Phấn son tô điểm sơn hà,Làm cho rỡ mặt đàn bà nước Nam.
Phong lưu là cạm ở đời,Hồng nhan là bẫy những người tài hoa.
Phượng hoàng đậu nhánh vông nem,Phải dè năm ngoái cưới em cho rồi. Ngã tư Chợ Gạo nước hồi,Tui chồng mình vợ còn chờ đợi ai Q[
sửa] Qua cầu ngả nón trông cầu,Cầu bao nhiêu nhịp, ngả sầu bấy nhiêu.
Qua đình ngả nón trông đình,Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu
Quảng Nam có núi ngũ hành,Có sông Chợ Củi, có thành Đồng Dương.

Quan văn mất một đồng tiền,Xem bằng quan võ mất quyền quận công
Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân,Nay anh học gần, mai anh học xa. Lấy anh từ thuở mười ba,Đến năm mười tám thiếp đà năm con. Ra đường thiếp hãy còn son,Về nhà thiếp đã năm con với chàng.
Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân,Nay anh học gần, mai anh học xa.
Tiền gạo thì của mẹ cha,Cái nghiên, cái bút thật là của em.
Quân tử là quân tử Tàu,Ăn cơm thì ít, ăn rau thì nhiều.

R[sửa
Ra đi là sự đã liều,Nắng mai phố lạ, mưa chiều thôn xưa.
Rồng vàng tắm nước ao tù,Người khôn ở với người ngu bực mình. Rượu nhạt uống lắm cũng say,Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.
Rủ nhau đi cấy đi cày,Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu. Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa.
Rủ nhau xuống bể mò cua,Đem về nấu quả me chua trên rừng. Em ơi chua, ngọt đã từng,Non xanh, nước bạc ta đừng quên nhau.

Rừng có mạch, vách có tai,Người trong chưa tỏ, người ngoài đã hay.
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ,Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn, Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn,Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Ra đi ngó trước ngó sau,Ngó nhà thấy cột, ngó nhau thấy buồn
Ra đường bà nọ bà kia,Về nhà không khỏi cái nia cái sàng. Ra đường võng lộng nghêng ngang,Về nhà hỏi vợ cơm rang đâu rồi
Ra sông mới biết cạn sâu,Ở trong lạch hói, biết đâu mà dò.
Ra về bụng nhớ người thương,Tay vỗ thanh giường chép miệng thở than!
Ra về ruột nọ quặn đauNhơn sâm sắc uống mấy tàu cho nguôi.Rau muống bắt cuống rau răm, Làm chi đến nỗi chàng cầm cổ tay.
Rau răm đất cứng dễ bứng khó trồng,Dù thương cho lắm cũng chồng người ta.
Rau răm hái ngọn còn tươi,Lạng nghe anh nói mấy lời mà cay. Kể chi những chuyện trước đây,Lòng em tưởng những núi này, non kia.
Rèm xưa ba bức mành manh,Mắt cô thế ấy tu hành được đâu.

Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai,Nước sông trong chảy lộn sông ngoài,Thương người quân tử lạc loài tới đây.
Rồng nằm bể cạn phơi râu,Mấy lời anh nói giấu đầu hở đuôi
Ru con con ngủ cho rồi,Mẹ ra chỗ vắng, mẹ ngồi than thân.
Ruộng ai thì nấy đắp bờ,Duyên ai nấy gặp, đừng chờ uổng công.
Rủ nhau đi cấy đi cày,Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu. Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa.

Rượu lạt uống lắm cũng say,

Người khôn nói lắm, dẫu hay cũng nhàm.

Rượu nằm trong nhạo chờ nem,Qua nằm thuyền vắng chờ em một mình.
Rừng như biển thánh khôn dò,Nhỏ mà không học, lớn mò sao ra.
S[sửa] Số giàu đem đến dửng dưng,Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
Số giàu tay trắng cũng giàu,Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Sông sâu có thể bắc cầu,Lòng người nham hiểm biết đâu mà mò.
Sông sâu còn có kẻ dò,Lòng người nham hiểm ai đo cho tường.
Sông dài cá lội biệt tăm,Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ. Ruộng ai thì nấy đắp bờ,Duyên ai nấy gặp đừng chờ uổng công.
Số cô chẳng giàu thì nghèoNgày ba mươi Tết thịt treo trong nhà. Số cô có mẹ có chaMẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông. Số cô có vợ có chồng,Sinh con đầu lòng, chẳng gái thì trai.
Sông Vàm Cỏ nước trong thấy đáy,Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng, Ai về Mỹ Thuận, Tiền Giang,Có thương nhớ gã đánh đàn năm xưa?
Sài Gòn có bến Chương Dương,Có dinh Độc Lập có đường Tự Do.
T[sửa]
Thời giờ ngựa chạy, tên bay,Hết trưa lại tối, hết ngày lại đêm. Đông qua Xuân lại đến liền,Hè về rực rỡ, êm đềm Thu sang. Giờ con chăm học, chăm làm,Thì mai sau sẽ giỏi dang giúp đời. Nước nhà mong đợi con ơi,Hãy luôn ghi nhớ những lời thầy khuyên
Trăm năm đành lỗi hẹn hò,Cây đa bến cũ, con đò khác đưa.
Trăm năm bia đá thì mòn,Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,Xấu người đẹp nết, còn hơn đẹp người
Trong đầm gì đẹp bằng sen,Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá xanh,Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Ta về ta tắm ao ta,Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.
Trứng rồng lại nở ra rồng,Liu điu lại nở ra dòng liu điu.
Tay bưng dĩa muối chấm gừng,Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.
Thân em như hạt mưa rào,Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa. Thân em như hạt mưa sa,Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày. Thân em như hạt mưa sa,Hạt xuống giếng ngọc, hạt ra ruộng cày.
Thôi thà đừng biết cho xong,Biết bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu. Tròng trành như nón không quay,Như thuyền không lái như ai không chồng. Gái có chồng như gông đeo cổ,Gái không chồng như mảnh gỗ long đinh. Gỗ long đinh anh còn chữa được,Chớ không chồng chạy ngược chạy xuôi,Không chồng khổ lắm chị em ơi!
Thuyền ơi có nhớ bến chăngBến thì một dạ khăng khăng nhớ thuyền. (khăng khăng đợi thuyền.
Tiếc thay hột gạo trắng ngần,Đã vo nước đục, lại vần than rơm
Tiếc thay hạt gạo tám xoan,Thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà.
Tóc mai sợi vắn sợi dài,Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm.
Trách ai tính chuyện đa đoan,Đã hái được mận lại toan bẻ đào
Trách người quân tử vô danh,Chơi hoa xong lại bẻ cành bán rao
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Thân tui thui thủi một mình,Đêm đêm lạnh lẽo buồn tình lang thang. Nếu ai nghĩ chuyện đá vàng,Tôi xin được dạo cung đàn tình chung.
Thức khuya mới biết đêm dài,Ở lâu mới biết lòng người có nhân.
Trèo lên cây bưởi hái hoa,Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay.Ba đồng một mớ trầu cay,Sao anh không hỏi những ngày còn không.Bây giờ em đã có chồng,Như chim vào lồng, như cá cắn câu.Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,Chim vào lồng biết thuở nào ra.
Thương thay thân phận con tằm,Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti,Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây,Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời,Dầu kêu ra máu co người nào nghe.
Thân em như trái bần trôi,Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu
Thân em như củ ấu gai,Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen. Ai ơi, nếm thử mà xemNếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi.
Thân em như tấm lụa đào,Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
Thân em như cá giữa rào,Kẻ chài, người lưới biết vào tay ai
Thân em như cam quýt bưởi bòngNgoài tuy cay đắng trong lòng ngọt ngon
Thân em như con hạc đầu đình,Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay.
Thân em như ớt chín cây,Càng tươi ngoài vỏ càng cay trong lòng.
Thân em như giếng giữa đàng,Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân
Thân em như miếng cau khô,Người thanh tham mỏng, kẻ thô tham dày.
Thân em như chiếc chổi đầu hè,Để anh khuya sớm đi về chùi chân.
Thân em như cái cọc rào,Mọt thì anh đổi, cớ sao anh phiền.
Thân em như cái sập vàng,Anh như manh chiếu rách giữa đàng bỏ quên. Lạy trời cho gió cả lên,Cho manh chiếu rách trải trên sập vàng.
Thân em như trái xoài trên cây,Gió đông, gió tây, gió nam, gió bắc, Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành,Một mai rơi xuống biết đành vào tay ai?
Thân em như rau muống dưới hồ,Nay chìm mai nổi biết ngày mô cho thành?
Thân em như đóa hoa rơi,Phải chăng chàng thật là người yêu hoa?
Thân em như cánh hoa hồng,Lấy phải thằng chồng như đống cỏ khô.
Thân em như cá trong lờ,Hết phương vùng vẫy biết nhờ nơi đâu.
Thân em đi lấy chồng chung,Khác nào như cái bung xung chui đầu.
Thân em như quả dưa tây,Lâu lâu anh bóp cho lây nỗi buồn
Thân em như thể cánh bèo,Ngược xuôi xuôi ngược theo chiều nước trôi.
Thân em vất vả trăm bề,Sớm đi ruộng lúa, tối về ruộng dâu. Có lược chẳng kịp chải đầu,Có cau chẳng kịp têm trầu mà ăn. Thân em như cột đình trung,Tay dơ cũng quẹt, tay phung cũng chùi.
Thân em như cúc mọc bờ rào,Kẻ qua ngắt nhụy, người vào bẻ bông.
Thân em như miếng bánh xèo,Nằm trong chạn bếp... biết mèo nào tha.
Thân em như tấm lụa điều,Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương.
Thân em như cá trong bồn,Không ăn có chịu, tiếng đồn oan chưa!

Thân em như cái chuông vàng,Để trong thành nội có ngàn quân canh. Thân anh như thể cái chày,Bỏ lăn bỏ lóc chờ ngày dộng chuông.
Thân em chẳng đáng mấy tiền,Vì tình em nặng, mấy nghìn cũng mua.
Thân em như mấy củ khoai,Sáng sáng anh đói, anh nhai đỡ lòng.
Thân em như cỏ ngoài đồng,Buồn thì anh nhổ, anh trồng rau răm.
Thân em như cánh chuồn chuồn,Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay.
Thân em như giọt nắng xuân,Mơ vào cửa phủ thấm vần thơ anh.

Thanh Trì có bánh cuốn ngon,Có gò Ngũ Nhạc có con sông Hồng. Thanh Trì cảnh đẹp người đông,Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh.
Trầu Bà Điểm xé ra nửa lá,Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi, Buồn tình gá nghĩa mà chơi,Hay là anh quyết ở đời với em?
Thương thay thân phận con rùa,Lên đình đội hạc xuống chùa đội bia.
Thương thay cây quê giữa rừng,Cay nồng ai biết, ngát lừng ai hay.
Thương thay thân phận đàn bà,Hơn hai, ba tuổi vẫn là đàn em.
Trầu Đồng Nai trầu ăn nhả bã,Thuốc Đồng Môn thuốc hút phà hơi. Trầu nồng thuốc thắm ai ơi,Gá duyên chồng vợ ở đời trăm năm
Tháng chạp là tháng trồng khoai,Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà. Tháng ba cày vỡ ruộng ra,Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng. Ai ai cùng vợ cùng chồng,Chồng cày vợ cấy trong lòng vui thay. Tháng năm gặt hái đã xong,Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy. Năm nong đầy em xay em giã,Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo. Sang năm lúa tốt tiền nhiều,Em đem đóng thuế, đóng sưu cho chồng. Đói no có thiếp có chàng,Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình.
Tháng giêng là tháng ăn chơi,Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà. Tháng ba thì đậu đã già,Ta đi, ta hái về nhà phơi khô. Tháng tư đi tậu trâu bò,Để ta sắp sửa làm mùa tháng năm. Sớm ngày đem lúa ra ngâm,Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra. Gánh đi, ta ném ruộng ta,Đến khi nên mạ, thì ta nhổ về. Lấy tiền mượn kẻ cấy thuê,Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi. Cỏ lúa dọn đã sạch rồi,Nước ruộng vơi mười, còn độ một hai. Ruộng thấp đóng một gàu giai,Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng. Chờ cho lúa có đòng đòng,Bây giờ ta sẽ trả công cho người. Bao giờ cho đến tháng mười,Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta. Gặt hái ta đem về nhà,Phơi khô quạt sạch ấy là xong công
Tháng giêng chân bước đi cày,Tháng hai vãi lúa ngày ngày siêng năng. Thuận mưa lúa tốt đằng đằng,Tháng mười gặt lúa ta ăn đầy nhà.G
Tháng giêng ăn tết ở nhà,Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè. Tháng tư đong đậu nấu chè,Ăn tết đoan ngọ trở về tháng năm. Tháng sáu buôn nhãn bán trăm,Tháng bảy hôm rằm, xá tội vong nhân. Tháng tám chơi đèn kéo quân,Trở về tháng chín chung chân buôn hồng. Tháng mười buôn thóc, bán bông,Tháng một tháng chạp nên công hoàn thành.

Trời cho cày cấy đầy đồng,Xứ nào xứ nấy trong lòng vui ghê. Một mai gặt lúa đem về,Thờ cha kính mẹ nhiều bề hiếu trung.
> Trâu ơi ta bảo trâu này,Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta. Cấy cày vốn nghiệp nông gia,Ta đây trâu đấy ai mà quản công. Thằng Sang nói chuyện lung tungThằng Trung nói chuyện mọi người dễ nghe thằng Sang như con chó đẻNó ngu hơn cả thằng điên giữa đường
U[sửa]

cây từ thuở còn non
Dạy con từ thuở con còn ngây thơ Ước gì sông rộng một gang,Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.
Ước gì anh hóa ra gương,Để cho em cứ ngày thường em soi. Ước gì anh hóa ra cơi,Để cho em đựng cau tươi trầu vàng. Uốn tre uốn thuở còn măng,Dạy vợ dạy thuở băn khoăn mới về. Ước gì sông hẹp một gang,Bắc cầu trải gấm cho chàng sang chơi
V[sửa
Về ăn bánh đúc lá đa,Người ơi người hỡi công cha ngày ngày
Văn chương đựng không đầy lá mít,Võ thì đá không bể nổi mảnh sành,Nghe vua treo bảng cũng xòng xành ra thi.Bảng đề không biết chữ chi,Mài nghiên, mút bút có khi hết ngày.

Ví dầu dượng cháu người dưng,Cháu cho dượng lấy dượng cưng suốt đời.
Văn chương phú lục chẳng hay,Trở về làng cũ, học cày cho xong. Sớm ngày vác cuốc thăm đồng,Hết nước thì lấy gàu sòng tát lên. Hết mạ ta lại quảy thêm,Hết lúa ta lại mang tiền đi đong. Nữa mai lúa chín đầy đồng,Gặp về đập sảy bõ công cấy cày.
X[sửa]
Xa xôi em chớ ngại ngùng,Xa người, xa tiếng nhưng lòng không xa.
Xấu xa cũng thế chồng ta,Dù cho tốt đẹp cũng ra chồng người
Y[sửa]
Yêu nhau yêu cả đường đi,Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng.
Yêu nhau củ ấu cũng tròn,Ghét nhau thì củ bồ hòn cũng vuông.
Yêu nhau cau bảy bổ ba,Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
Những bài ca dao khác[sửa]
Tiền trao cháo múcKhông tiền cháo trút trở raTin nhau buôn bán cùng phịch nhauThiệt hơn, hơn thiệt, trước sau như lờiThay gì lừa đảo kiếm lờiMột nhà ăn uống, tội trời riêng mangTheo chi những thói gian thamPha phôi thực giả tìm đường dối nhauCủa phi nghĩa có giàu đâuỞ cho ngay thật giàu sau mới bền

Mẹ già như chuối ba hương,Như cơm nếp mật, như đường mía lau.Đường mía lau càng lâu càng ngát,Cơm nếp mật ngào ngạt hương say. Ba hương lây lất tháng ngày,Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi.Mẹ già như áng mây trôi,Như sương trên cỏ, như lời hát ru.Lời hát ru vi vu trong gió,Sương trên cỏ khó vỡ dễ tan. Mây trôi lãng đãng trên ngàn,Gió đưa tan, hợp, hợp, tan, nao lòng.
Sau đây là những câu tục ngữ, ca dao miền Trung
- Của mình thì gác lên tra (cái gác lửng)

Của ngưởi ta thì tha cho mòn.
-Siêng thì uống nác ( nướv) nhác thì đi ẻ (ià)
Những người lười biếng, trốn việc , lấy cớ đi uống nươc, còn những người lười quá nữa, trốn việc bằng cách đi iả (đại tiện).
-Nhà giàu trồng lau ra ló (lúa)
Nhà kẻ khó,trồng ló ra lau!
-Qua sông nên phai lụy đò,
Tối trời nên phải lụy o ( cô) bán dầu.
-Sinh con so thì đẻ nhà mạ (mẹ)<
Sinh con rạ thì đẻ nhà chồng.

Tục này cũng có ở Ấn Độ. Khi gần ngày sinh thái tử Tất Đạt Đa, hoàng hậu Ma Da phải về đẻ ở nhà mẹ. Nhưng trên đường trở về, khi đi ngang qua vườn Lâm Tỳ Ni, bà ghé vào nghỉ ngơi, thấy một đóa hoa vô ưu đang xoè nở trên cành, bà đưa tay phải với hái, ngay lúc ấy thái tử chào đời.

-Ra đường hỏi mụ tra ( bà già),
Về nhà hỏi con trẻ.
-Con cá đối nằm trong cối đá,
Trái cau tươi rụng giữa cươi (sân) tau (tao)
May mô (1) may,( Sao mà may mắn như thế!)
Khéo mô khéo
Như cơn (cây) cỏ héo, gặp trộ (trận) mưa đông,
Ajnh đay (đây) chưa vợ,
Em đó chưa chồng.
Hai ta gặp lại như rồng gặp mây!
- Đi mô cho thiếp theo cùng,
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng có đôi!
“Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngắt mênh mông.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng,

Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai
< Huế là trung tâm văn hòa của miền Trung nên được chú ý nhất.
“Đường vô xứ Huế quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”
-Đi mô cũng nhớ quê mình

Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh" _____
(1)Mô: đi mô: đi đâu, ở mô: ỡ chỗ nào, nơi nào.
Gió đưa cành trúc la đà
Tiêng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương

- Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch,
Non xanh nước biếc, điện ngọc đền rồng.

Tháp bảy tầng, Thánh miếu, Chùa Ông,<
Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam tòa.
Cầu Trường Tiền mười hai nhịp bắc qua,
Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, đợi khách âu ca thái bình (Hò Huế).
<
Đến Kim Long thì có câu:
"Thuyền về Đại Lược
Duyên ngược Kim Long
Đến nơi đây là ngả rẽ của lòng
Biết nơi mô bến đục, bến trong cho em nhờ?"
Rồi Phú Văn Lâu, rồi Cầu Trường Tiền, rồi Chợ Đông Ba, tất cả đều có một giòng chảy của ca dao. Và, có nhiều nhà thơ, nhà nho, cũng đã làm cho nền ca dao phong phú lên. Cụ thể như những câu hò mái nhì, những câu ca dao của Ưng Bình Thúc Giạ Thị cũng đã làm cho nền văn học dân gian trở nên sinh động, và nó đi vào trong tâm thức của con người. Cụ thể như câu hò mái nhì:

"Chiều chiều, trước Bến Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm<
Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông<
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non"

-"Cầu Tràng Tiền 6 vài, 12 nhịp<
Anh qua không kịp, tội lắm, em ơi
Nghĩa tào khang ai mà vội dứt
Đêm nằm tâm tức, lụy nhỏ tuôn rơi
Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời
Dẫu có xa nhau đi nữa ...
Dẫu có xa nhau đi nữa ...
Cũng bởi ông trời mà xa.
“Ngọ Môn năm cửa, chín lầu

Cột Cờ ba bậc, Phú Văn Lâu hai tầng”

“Gió đưa cành trúc la đà

Tiêng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”



Bến chợ Đông Ba, tiếng gà eo óc,
Bên chùa Thọ Lộc, tiếng trống sang canh.
Giữa sông Hương, rợn sóng khuynh thành (44)
Đêm khuya, một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng. (45
Thuyền từ Đông Ba, thuyền qua Đập Đá,
Thuyền về Vỹ Dạ, thẳng ngã ba Sình.
Lờ đờ bóng ngã trăng chênh,
Giọng hò xa vắng, nhắn tình nước non.
- Núi Ngự Bình, mơ màng trăng gió,<
Niếm tâm sự, ai thấu rõ cho mình,
Đoái nhìn sông Hương, nước chảy thinh thinh.<
Sông bao nhiêu nước, em lại sầu tình bấy nhiêu
Hát dặm, Hò: đ thuyền, dệt vải, giã gạo, đối đáp, chèoưa con, nện nền nhà …)
Gặp nhau đây phân giải cho rồi,
Kẻo mai kia em có chồng anh có vợ,
ai khá dễ đứng ngồi mà phân.

Em gặp anh đây, cho em hỏi thử đôi lời
Ới anh ơi ! Chữ chi anh chôn xuống đất, (1
Chữ chi anh cất lên tran, (thờ)
Chữ chi anh mang không nồi,
Chữ chi gió thổi không bay
Trai nam nhi mà anh đối đặng, em thương cái nón bài thơ đội liền.
Ới em ơi ! Chữ Triệu anh chôn xuống đất, (1)
Chữ Tiên sư anh cất lên
Chữ Trung chữ Hiếu anh mang không nồi,
Bia tạc đá vàng, gió thổi không bay,

Trai nam nhi, anh đã đối đặng, em thương cái nón bài thơ đâu rồi.
Chú thích:


1- Chữ viết trên gia triệu, chông theo quan tài.

Những vùng lân cậu Huế cũng được nói đến:


“Hồ Tịnh Tâm nhiều sen Bách Hợp

Đất Hương Cần ngọt quýt thơm cam”
"Ai về cầu ngói Thanh Toàn

Cho em về với một đoàn cho vui"

“Thuyền về Đại Lược

Duyên ngược Kim Long

Đến nơi đây là ngả rẽ của lòng

Biết nơi mô bến đục, bến trong cho em nhờ?”
-Nước đầu cầu,khúc sâu khúc cạn,

Chèo qua Ngọc Trản, đến mạn Kim Long. (51)

Sương sa gió thổi lạnh lùng,

Sóng xao trăng lặn, gợi lòng nhớ thương.
Đường vô xứ Huế quanh co,

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ .
Thương em anh cũng muốn vô ,

Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang.
“Chiều chiều mây phủ Hải Vân
Chim kêu ghành đá, tủi thân thêm buồn”

Đèo Hải Vân nằm giữa hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, từng được gọi là Đệ Nhất Hùng Quan. Đường bộ là thế, còn đường biển thì có Hang Dơi
“Đi bộ thì khiếp Hải Vân

Đi thuyền thì sợ sóng thần Hang Dơi”
Qua ca dao, không những làm ta liên tưởng đến lịch sử, thắng tích của Huế, mà còn biết đến những địa danh với những đặc sản riêng của từng vùng.
"Ru em cho thét, cho muồi

Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau M
Chợ Dinh bán áo con trai
Triệu Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim"

Ca dao Huế cũng đề cập đến những người ở tỉnh lân cận:

Học trò xứ Quảng ra thi ,
Thấy cô gái Huế chân đi không đành .
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi !
( Quảng Nam )

Cây đa nào cao bằng cây đa Bàng Lảnh ,
Đất nào thắng cảnh bằng đất Bảo An,
Chỗ nào vui cho bằng chỗ Phố chỗ Hàn .
( Quảng Nam - Đà Nẵng )

- Quảng Nam hay cãi,
Quảng Ngãi hay lo ,
Bình Định nằm co ,
Thừa Thiên ních hết ! Anh về sắm bộ sào tương
Cho em chung vốn ngược Lường với anh.
Sào: cây gậy dài bằng tre để chống đỡ thuyền bè và cũng để bắc nối cái nọ với cái kia (sào phơi). Ở đây có ý chỉ phương tiện chắp nối duyên tình.
Tương: liên quan qua lại đôi bên, cũng có nghĩa là cái mái chèo. Ở đây chỉ về mối liên quan giữa hai người cùng nhau chung sống làm ăn buôn bán.
Sắm bộ sào tương: (hai cái sào, hai cái chèo) ý nói xếp đặt bắc nối cho thành đôi cùng nhau chèo chống việc đời tức là kết duyên vợ chồng.
Ngọc Lường: đi thuyền ngược giòng sông Lam lên miền núi tới thị trấn Đô Lương, thuộc Nghệ An để buôn bán. Địa danh Lường nguyên là tiếng Việt thường dùng, đặt theo tiếng Hán là Đô Lương. Cũng như làng Đáy được đặt là làng Phương Để (Để là đáy), làng Mơ được đặt là làng Phương Mai (mai là mơ).

Ca dao cũng giới thiệu đặc sản các vùng:
Ở Thanh Hóa có:
Hà Trung mạch phạn
Ngự lĩnh kê thang (Huế)
(Cơm nếp Hà Trung
Cháo gà núi Ngự)
Hoặc ở Nghệ An xưa nay nổi tiếng với:
Cam xã Đoài
Xoài Bình Định
Ra đi anh nhớ Nghệ An,
Nhớ Thanh Chương ngon nhút,
nhớ Nam đàn thơm tương.
“Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn”
Ở vùng đầu nguồn Lam Giang, còn có những đặc sản như :
Tiếng đồn cá mát sông Găng,
Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.
Vô đến Quảng Bình thì có các loại sơn hào hải vị, là những món “thượng thừa” trong khoa ẩm thực.
Yến sào Vinh Sơn
Cửu khổng cửa Ròn
Nam sâm Bố Trạch
Cua gạch Quảng Khê
Sò nghêu quán Hàn…
Rượu dâu Thuận Lý…
Đến Thừa Thiên – Huế, sẽ được dịp thưởng thức các loại trái cây ngọt ngào, thơm ngon:
Quýt giấy Hương Cần
Cam đường Mỹ Lợi
Vải trắng cung diên
Nhãn lồng phụng tiêu
Đào tiên Thế miếu
Thanh trà Nguyệt biếu
Dâu da làng truồi
Hạt sen hồ Trịnh…
Khi táo xứ Quảng thì được dịp thưởng thức tiếp các món:
Nem chả Hóa Vang
Bánh tổ Hội An
Khoai lang Trà Kiệu
Thơm rượu Tam kỳ…
ở thượng nguồn Quảng Nam – Đà Nẵng còn có:
Quế sơn cam mít mấy từng
Thương bòn bon Đại lộc, nhớ rượu cần Trà mi
Trái bòn bon hay còn gọi là trái Nam trân rất quý hiếm, ngày xưa thuộc loại “tiến kinh”, nay thì được nhắc nhở qua câu hò tâm tình mà ý nhị:
Trái bòn bon trong tròn ngoài méo
Trái sầu đâu trong héo ngoài tươi
Em thương anh ít nói ít cười
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng…
Đất Quảng Ngãi nổi tiếng với món “don”, ngon nhất là “don Vạn Tượng”
Cô gái làng Son, Không bằng tô don Vạn tượng!
Và, một đặc sản của vùng sông nước không thể bỏ qua, đó là “cá bống” sông Trà Khúc.
Em đi em nhớ quê nhà, Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu
Còn món ngọt nổi tiếng thời có:
Mứt gừng Đức Phổ
Bánh nổ Nghĩa Hành
Đậu xanh Sơn Tịnh.
Nói chung, xứ Quảng nổi tiếng là đất mía đường, các bạn sẽ được người đẹp ở đây mới đón hết sức ngọt ngào như mật Ai về Quảng Ngãi quê ta,
Mía ngon đường ngọt trắng ngà dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền Đến Bình Định, quê hương miền đất võ, thì có:
Gỏi chính Châu Trúc
Bánh tráng Tam quan
Nón lá Gò Găng
Nem chua chợ huyện
Và thêm món chả cá Đề gi được mọi người ca tụng:
Ai về qua cửa Đề gi,
Nghe mùi chả cá chân đi không đành
Bình Định còn là quê hương của xứ dừa Dừa Tam quan mọc như rừng, với câu ca truyền tụng từ bao đời naỵ
Công đêm công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam quan


Từ xưa, Bình Định là xứ lắm cá mắm. Nước mắm ngon thì không đâu bằng:
Gò Bồi có nước mắm thơm
Ai đi cũng nhớ cá tôm Gò Bồi
Nhiều nhất là cá chuồn, phải nhắn nhủ người vùng cao Tây Nguyên – nơi có nhiều măng le ngon – đem về miền biển để trao đổi, mua bán:
Ai về nhắn với nẫu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gửi lên

Từ Bình Định vượt đèo Cù Mông vào đất Phú Yên – nơi nổi tiếng có xoài ngon Đá Trắng – được nhắc nhở qua câu:
oài Đá Trắng
Sắn Phương lụa
Phú Yên cũng là xứ mía đường, nhiều chẳng thua gì Quảng Ngãi – nhất là vùng La Hai, Đồng Bò.
Tiếng đồn chợ Xẩm nhiều khoai,
Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường
Nổi tiếng nhất phải kể đến sò huyết ở đầm Ô Loan, huyện Tuy An và cước cá Phú Câu ở thị xã Tuy Hòa, đã được thi sĩ Tản Đà ca tụng:
“Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hàn”

Vô Khánh Hòa, nơi có nhiều di tích danh lam, phảng phất những nét kiến trúc của nền văn minh Chămpa, có thành phố Nha Trang thơ mộng …. cũng có lắm hải vị sơn hào, như:
Yến sào hòn Nội
Vịt lội Ninh Hòa
Tôm hùm Bình ba (Cam Ranh)
Nai khô Thiên Khánh
Cá tràu Võ Cạnh
Sò huyết Thủy triều (Cam Ranh)
Vào đến Phan Rí, Phan Thiết là quê hương của cá mắm ngon được cả nước truyền tụng. Nhờ cà mắm nhiều mà có lắm cuộc tình duyên mặn mà và dí dỏm:
ô kia bới tóc cánh tiên
Ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi
Chẳng tin giở thử ra coi
Rau răm ở dưới cá mòi ở trên…

No comments: