Monday, April 30, 2018



Tháng Tư nghe lại “Nối vòng tay lớn”



 

Hát cho thuyền nhân Việt Nam ở Half Moon Bay, tháng 2/1980: Sinh viên Phạm Thị Mộng Trinh (bìa trái), Phạm Hiền Diệu Thúy và Bùi Văn Phú (Ảnh từ lưu bút của Bùi Văn Phú)

Mặt đất bao la anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng
Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…
Khúc ca đó tôi đã thuộc lòng từ thời còn ở trung học đệ nhị cấp tại trường Nguyễn Bá Tòng và thường cất tiếng đồng ca cùng các bạn trong các sinh hoạt sinh viên.

Ngày 30/4/75 tôi đang lênh đênh trên biển, nghe ca từ thân quen qua sóng phát thanh mà nước mắt tuôn trào, vì trước đó Tổng thống Dương Văn Minh đã ra lệnh cho chính quyền Sài Gòn đầu hàng.
Khi đó tôi đã khóc vì không biết có còn gặp lại bố mẹ và các em. Tương lai rồi biết ra sao, trôi dạt về đâu. Tôi buồn và nhớ đến những bạn học, mới còn đàn ca bên nhau, chia sẻ mơ ước về tương lai cuộc đời, mong đất nước hết chiến tranh, mà giờ đây hoà bình đã đến sao tôi lại ra đi, bỏ lại ước mơ:
Dù hôm nay tôi chưa nhìn Hà Nội
Dù hôm nay em chưa thấy Sài Gòn
Nhưng trong lòng tôi vẫn chưa mất niềm tin
Vì quê hương sẽ có ngày hoà bình
Cố nuôi vững bền những tình thương lớn…

Khi đến được trại tị nạn Camp Pendleton ở miền Nam California, trong các lều trại lại văng vẳng tiếng nhạc quê hương.

Nhiều hôm, sau vài giờ học tiếng Anh, về lều nằm nghỉ, tôi và các bạn nghe nhạc từ băng cát-sét và lấy bút ghi lại những lời ca, như sợ mai đây sẽ chẳng còn tìm lại được nữa: Nối vòng tay lớn, Huế Sài Gòn Hà Nội, Gia tài của Mẹ, Tôi sẽ đi thăm của Trịnh Công Sơn, cùng với Thà như giọt mưa, Con đường tình ta đi, Trả lại em yêu, Thuyền viễn xứ của Phạm Duy.
nhạc Trịnh Công Sơn, tình ca cũng như ca khúc da vàng. Nhạc Trịnh đến với tôi lần đầu qua hai giọng hát từ trường trung học đệ nhất cấp Thánh Tâm, ở Ngã ba Ông Tạ. Mỗi tuần đều có thuyết trình văn nghệ theo đội trong giờ hiệu đoàn với thày Nguyễn Văn Khải. Tôi thích viết bài thuyết trình, nhiều bạn như Trần Bá Nam, Trọng Nghĩa thích hát. Nguyễn Đức Bảo biết chơi đàn ghi-ta và cất giọng “Diễm xưa”.

Thày dạy văn Trần Văn Thuận cũng có máu văn nghệ, đem đàn vào lớp hát “Người già và em bé” cho học trò nghe. Thày còn kể chuyện về buổi văn nghệ cuối năm 1967 tại thính đường Đại học Văn khoa, hôm đó có Trịnh Công Sơn và Khánh Ly. Khi cán bộ thành đoàn lợi dụng cơ hội lên sân khấu tuyên bố mừng ngày thành lập Mặt trận Giải phóng miền Nam thì bị sinh viên quốc gia giựt lại mi-crô. Mấy sinh viên nằm vùng đã nổ súng gây trọng thương cho một lãnh đạo sinh viên quốc gia là Ngô Vương Toại.


Rồi chiến tranh ùa vào thành phố trong Tổng Công kích Tết Mậu Thân. Đại tá Lưu Kim Cương bị trúng đạn B-40 tử trận trên con đường gần nhà mà tôi thường đi qua, để từ đó ông trở thành bất tử qua ca từ nhạc Trịnh:
Anh nằm xuống cho hận thù vào viễn du
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
Đất ôm anh đưa về cội nguồn…

Khi tôi lên trung học đệ nhị cấp thì nhạc Trịnh văng vẳng khắp khu xóm qua máy Akai hay cát-sét có trong nhiều gia đình lúc bấy giờ.
Những ca từ trong “Hát cho quê hương Việt Nam” cuốn số 1 – Chờ nhìn quê hương sáng chói, Gia tài của Mẹ, Nối vòng tay lớn, Tôi sẽ đi thăm, Huế Sài Gòn Hà Nội, Ca dao Mẹ, Đại bác ru đêm, Đồng dao hoà bình, Ngụ ngôn mùa đông, Dựng lại người dựng lại nhà – qua giọng hát Khánh Ly, như thấm vào lòng và từ đó tôi quyết tâm tự học đàn ghi-ta để có thể ngân nga những lời ca chuyên chở tâm tình và ước mơ của mình thời bấy giờ: mong quê hương hết chiến tranh, dân sống trong hoà bình, thanh niên góp tay xây dựng đất nước.

Ở tuổi trung học, nam sinh chúng tôi bắt đầu lo cho tương lai. Ra đường trong bóp phải có căn cước, giấy lược giải cá nhân nếu chưa đến tuổi 17, hay giấy hoãn dịch khi đã 18, vì nếu bị cảnh sát hỏi, thiếu những giấy tờ này thì sẽ bị đưa vào quân vụ thị trấn làm thủ tục nhập ngũ.
Cuối năm lớp 11 tôi thi đậu Tú tài I. Đó cũng là năm 1972 với Tổng tấn công Mùa hè đỏ lửa. Có lệnh đôn quân của bộ quốc phòng vì thế nhiều bạn dù đậu hay rớt cũng phải vào quân trường. Đậu thì vào Thủ Đức, rớt đi Đồng Đế Nha Trang.

Tôi thi đậu mỗi cuối niên học nên tiếp tục được hoãn dịch. Bạn học nhiều đứa vào quân đội, có dịp nghỉ phép về Sài Gòn lại rủ nhau đi ăn phở, bánh cuốn, uống cà-phê ở những quán trên đường Nguyễn Du không xa khung trời đại học. Ngồi nghe nhạc Trịnh và trầm tư trong khói thuốc.

Rồi thỉnh thoảng lại nghe tin bạn học tử trận. Nguyễn Đức Tuyển, Phạm Văn Thông, Trần Văn Doanh, Nguyễn Văn Nam, Lê Minh Châu. Có bạn là lính, có bạn là sĩ quan mới tốt nghiệp quân trường, đi vào cuộc chiến và không bao giờ trở lại.

Với chiến tranh, chia lìa và quá nhiều mất mát đau thương nên ai cũng mong hòa bình, thống nhất.

30/4/75 “Nối vòng tay lớn” được Trịnh Công Sơn cất lên với niềm hân hoan chào mừng ngày vui của dân tộc.

Rời nước ra đi. Đến Mỹ tôi định cư ở thành phố đại học Berkeley và hai năm sau được nhận vào đại học này rồi cùng các bạn lập ra hội sinh viên vào năm 1979.

Lúc đó có chừng 100 sinh viên gốc Việt. Tôi phụ trách văn nghệ báo chí cho hội, chọn tên nội san là “Nối vòng tay” và trong các sinh hoạt luôn cất lên lời ca quen thuộc của những ngày còn ở quê hương.
Rừng núi dang tay nối lại biển xa.
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà.
Mặt đất bao la, anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng..
Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam..
Cờ nối gió đêm vui nối ngày.
Giòng máu nối con tim đồng loại
Thành phố nối thôn xa vời vợi
Người chết nối linh thiêng vào đời.
Và nụ cười nối trên môi …

 

Nội san Nối Vòng Tay của sinh viên Đại học Berkeley (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Nhưng sinh viên chúng tôi giờ hát trong khung cảnh khác, cảm xúc khác. Không còn là tinh thần của những trại hè mang tên “Nối vòng tay lớn” vào những năm 1973 và 1974 giữa sinh viên quốc nội cùng hát với sinh viên nước ngoài về thăm để tận mắt nhìn thấy quê hương đang cố gắng vươn lên.


Không còn mơ ước về quê hương thanh bình, người người chung tay xây dựng mà trong tinh thần người con xứ Việt tha hương tìm đến với nhau nơi đất khách quê người để nhớ về quê nhà, nơi sau năm 1975 tưởng đã hết chiến tranh nhưng hoà bình lại biến mất, thay vào bằng nhà tù học tập cải tạo, trí thức và văn nghệ sĩ bị đàn áp, sách vở bị đốt, dân bị đày đi kinh tế mới và thanh niên Việt tiếp tục bị đưa vào chiến tranh.


 

Sinh viên Việt Nam biểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân Việt Nam, Sproul Plaza, UC Berkeley tháng 11/1979 (Ảnh: Bùi Văn Phú)


Nhiều câu chuyện được thuyền nhân kể lại. Bạn học ngày xưa ở lại tưởng có thể góp tay xây dựng quê hương nhưng không tham gia đoàn, đảng nên chẳng làm được gì, đành đối mặt với sóng dữ xuống tàu vượt biển.


Quanh vùng Vịnh San Francisco, nơi nổi tiếng với phong trào phản chiến mấy năm trước, những sinh viên từng hoạt động chống chiến tranh trước đây, ngay cả hội viên của Hội Việt kiều Yêu nước muốn về đóng góp xây dựng đất nước cũng không được, về thăm nhà cũng gặp khó khăn giấy tờ, bị công an theo dõi, canh giữ.


Năm 2011 tôi thực hiện loạt bài phỏng vấn về Trịnh Công Sơn cho mạng văn chương damau.org. Tham gia có cựu Đại tá Bùi Tín của Quân đội Nhân dân, có cựu Trung tá Bùi Đức Lạc của Quân lực Việt Nam Cộng hoà, có Nguyễn Vi Túy năm 1975 đang ở tuổi đôi mươi, có ca sĩ sinh viên Giang Trang sinh sau 1975 và thích hát nhạc Trịnh, có Trịnh Vĩnh Trinh là cô em út của nhạc sĩ, có Tiêu Dao Bảo Cự người từng là sinh viên tranh đấu, có nhà thơ Hoàng Xuân Sơn là một trong những người khai sinh ra quán Văn.


Trước đó mấy năm tôi cũng đã phỏng vấn Khánh Ly. Nhiều cái nhìn qua những góc cạnh khác nhau về Trịnh Công Sơn được xét soi, khen chê có cả.

Thời gian đó tôi cũng nhận được từ trong nước đoạn băng lịch sử ghi âm phát biểu của Trịnh Công Sơn trên đài Sài Gòn sau khi có lệnh đầu hàng. Ông gọi những người bỏ nước ra đi là thành phần phản bội tổ quốc.

 

Lời ca Nối Vòng Tay Lớn được tác giả ghi lại trong những ngày ở trại tị nạn, 11 tháng 7 năm 1975 (Ảnh: Bùi Văn Phú
Ở lại Trịnh Công Sơn cũng chẳng còn được tự do sáng tác, phải đi công trường lao động. Những ca khúc da vàng bị cấm.

Hôm đầu tháng Ba vừa qua có hàng không mẫu hạm Mỹ ghé bến Đà Nẵng. Xuống bến giao lưu với dân, nữ thủy thủ Emily Kershaw của ban nhạc Hạm đội 7 đã cất tiếng hát “Nối vòng tay lớn” bên cầu Rồng.
Tôi ngạc nhiên khi nghe cô hát được tiếng Việt và ban nhạc đã chơi hoà âm như nguyên thủy trong băng “Hát cho quê hương Việt Nam” đầu tiên phát hành năm 1969, không như phiên bản rock của một vài ban nhạc trẻ sau này.

Sự kiện này mang ý nghĩa gì? Tôi không lạc quan tin rằng nó sẽ đem lại những thay đổi cho Việt Nam, vì 43 năm qua, từ khi ca khúc này được chính tác giả cất tiếng trên đài để chào mừng ngày đất nước thống nhất, hoà bình đến nay những ca khúc da vàng vẫn không được phép phổ biến.
Tôi xem lại tờ nhật ký biển của mình, với mấy hàng chữ ngắn gọn ghi dấu lịch sử trên giấy pơ-luya mong manh tôi có trong bóp, cùng với giấy tờ tùy thân khi rời Việt Nam:
29-4 16 g 30 Depart, thứ 3

30 9 g 30’ đầu hàng, 11 g 30 CS vô.


Giờ phút lịch sử của dân tộc trôi qua đã 43 năm. Trịnh Công Sơn mất 17 năm trước. Khánh Ly đã trở về hát trên quê hương, nhưng không được hát cho quê hương vì “Gia tài của Mẹ” vẫn chưa được phổ biến:

Gia Tài Của Mẹ

Trịnh Công Sơn
Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
một trăm năm đô hộ giặc tây
hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, để lại cho con
gia tài của mẹ, là nước Việt buồn

Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
một trăm năm đô hộ giặc tây
hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, một rừng xương khô
gia tài của mẹ, một núi đầy mồ

Dạy cho con tiếng nói thật thà
mẹ mong con chớ quên màu da
con chớ quên màu da, nước Việt xưa
mẹ mong trông con mau bước về nhà
mẹ mong con lũ con đường xa
ôi lũ con cùng cha, quên hận thù

Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
một trăm năm đô hộ giặc tây
hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, ruộng đồng khô khan
gia tài của mẹ, nhà cháy từng hàng

Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
một trăm năm đô hộ giặc tây
hai mươi năm nội chiến từng ngày
gia tài của mẹ, một bọn lai căng
gia tài của mẹ, một lũ bội tình.

English version

A thousand years of Chinese reign.
A hundred years of French domain.
Twenty years fighting brothers each day,
A mother's fate, left for her child,
A mother's fate, a land defiled.

A thousand years of Chinese reign.
A hundred years of French domain.
Twenty years fighting brothers each day,
A mother's fate, bones left to dry,
And graves that fill a mountain high.

Refrain:
Teach your children to speak their minds.
Don't let them forget their kind--
Never forget their kind, from old Viet land.
Mother wait for your kids to come home,
Kids who now so far away roam.
Children of one father, be reconciled.

A thousand years of Chinese reign.
A hundred years of French domain.
Twenty years fighting brothers each day.
A mother's fate, our fields so dead,
And rows of homes in flames so red.

A thousand years of Chinese reign.
A hundred years of French domain.
Twenty years fighting brothers each day.
A mother's fate, her kids half-breeds,
Her kids filled with disloyalty.
Bùi Văn Phú





  • Tác giả là một trong những sáng lập viên của Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học Berkeley năm 1979. Ông hiện dạy đại học cộng đồng và là một cây bút tự do.

 http://www.danchimviet.info/thang-tu-nghe-lai-noi-vong-tay-lon/04/2018/9721/

Hãy để con cái sống cuộc đời của chúng!


Song Chi.
Một trong những lý do khiến các quốc gia Bắc Âu như Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan, Iceland…luôn luôn nằm trong top những quốc gia hạnh phúc nhất, hay người dân cảm thấy hạnh phúc nhất, là vì đời sống tại các quốc gia này không quá căng thẳng, con người không phải chịu nhiều sức ép bất kể là từ đâu-gia đình, nhà trường, nơi làm việc hay dư luận xã hội. Chẳng hạn, học sinh tại các quốc gia này không phải chịu sức ép về điểm số, kết quả học tập, học sinh đi học đến lớp 8 mới bắt đầu tính điểm nhưng điểm số cũng chỉ học sinh đó và mỗi giáo viên cho điểm biết, không công khai trước lớp hay toàn trường! Các em có thể học giỏi hay bình thường hay kém cũng chả sao, thầy cô, nhà trường và ngay cả bố mẹ không bao giờ thúc ép hay la mắng, làm khổ con em vì những chuyện như vậy.


Lớn lên một chút, nếu muốn học tiếp lên đại học, cao học, Tiến sĩ thì học, nếu muốn đi học trường nghề hay thậm chí đi làm những nghề bình thường trong xã hội như lau chùi, phục vụ trong nhà hàng, làm việc trong siêu thị, lái xe bus…cũng chả sao. Tại các quốc gia này mọi người đều bình đẳng, con người không bị đánh giá bởi bằng cấp, địa vị, và khoảng cảch giàu nghèo cũng không quá cách biệt, thậm chí học càng nhiều, lương càng cao thì càng bị đánh thuế nặng!


Và dù làm bất cứ công việc gì thì con người ta cũng đủ sống (chưa kể những việc lao động nặng nhọc lương lại nhiều), được hưởng mọi chế độ an sinh xã hội, giáo dục y tế miễn phí, về già có tiền giả, lương hưu…nên con người cứ thế mà thanh thản sống, không quá âu lo. Giàu có, thành đạt, xinh đẹp…càng tốt mà không giàu có, không thành đạt, không xinh đẹp, thậm chí bị tàn tật, khiếm khuyết về sức khỏe…cũng vẫn sống bình thường, không có gì phải mặc cảm! Không việc gì phải đua chen cho bằng với người khác vì như đã nói, xã hội không đánh giá con người bởi bằng cấp hay những cái bên ngoài!


Chính vì thế mà người dân tại các quốc gia này thường cảm thấy hài lòng về cuộc sống, ít căng thẳng, ít lo âu, và do đó, họ hạnh phúc!
Việt Nam, trái lại, con người có quá nhiều nỗi lo từ khi còn ở tuổi mẫu giáo cho tới khi nhắm mắt lìa đời! Sức ép đến từ xã hội, một xã hội quá chuộng bằng cấp, chuộng địa vị, chỗ đứng, cái danh cho tới những cái bên ngoài như phải có nhà lầu xe hơi, phải ăn mặc tiêu xài chưng diện cho bằng với người ta…Con người phải lao vào học, kiếm cái bằng, cái ghế, cái danh, và trên hết là kiếm tiền, vì nhà nước chỉ biết bóc lột, tận thu đủ loại thuế từ người dân mà chả lo cho dân cái gì, nên phải kiếm tiền phòng khi đau ốm, lúc thất nghiệp, khi gặp tai nạn rủi ro, khi về già, đám ma đám cưới, kiếm tiền cho con đi du học ở nước ngoài (cũng lại cho bằng với con người ta)!


Nhưng sức ép còn đến từ trong gia đình, từ trong suy nghĩ, quan niệm sống của đa số người Việt Nam. Bài viết này chỉ tập trung một khía cạnh: tâm lý kỳ vọng vào chuyện học hành từ các bậc phụ huynh người Việt đối với con em.

Ở trong nước, trẻ em VN khổ từ khi mới vào mẫu giáo cho tới suốt những năm đi học cấp một, cấp hai, cấp ba, rồi đại học, vì sự kỳ vọng này của cha mẹ. Học phải giỏi (hơn con nhà hàng xóm), phải điểm cao, phải vô được trường chuyên lớp chuyên, phải đậu đại học, phải học những ngành được xã hội đánh giá cao, trọng vọng như bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, kinh tế…Hết học ở trường lại phải đi học thêm, hết học chữ lại học 1, 2 ngoại ngữ, học nhạc, học hát, học khiêu vũ, bơi, các loại môn thể thao v.v…quanh năm suốt tháng học, không có thời gian nghỉ, không có mùa hè, không có tuổi thơ, chỉ vì cha mẹ muốn con mình trở thành một con người hoàn hảo, cái gì cũng biết, cái gì cũng giỏi!


Đã trở thành quá bình thường hình ảnh những ông bố bà mẹ chở con từ trường qua lớp học thêm này rồi lớp học khác, đứa nhỏ ngồi sau tranh thủ ăn lấy sức hoặc gà gật ngù vì buồn ngủ quá sức! Đã trở thành quá bình thường hình ảnh các ông bố bà mẹ đi thi cùng con, con ngồi trong thi thì bên ngoài bố mẹ vật vạ nằm ngồi chờ đợi; vì muốn con phải vào bằng được đại học mà nhiều người sẵn sàng bán ruộng bán vườn, làm đủ thứ nghề nặng nhọc nuôi con, dù những năm sau này số lượng Cử nhân, Thạc sĩ ra trường rồi thất nghiệp đầy rẫy, nhưng cha mẹ vẫn tự an ủi con mình thất nghiệp nhưng mà có học, chứ không phải do thất học nên không kiếm được việc làm!
Cũng đã trở thành bình thường những câu chuyện bố mẹ chọn ngành học cho con, bất chấp con có thích, có phù hợp hay không. Có nhiều bậc cha mẹ thất bại trong cuộc đời, không làm được một công việc nào đó mà họ ao ước, thế là họ muốn con mình cũng theo nghề đó, nối tiếp ước mơ dang dở của họ!
Cũng đã dần dần trở thành bình thường những câu chuyện có những em học sinh bị trầm cảm vì sức ép trong học hành, thậm chí tự tử! Mới đây nhất cái chết của một học sinh lớp 10 trường Nguyễn Khuyến (TP Hồ Chí Minh) bằng việc gieo mình từ tầng cao, để lại những lá thư tuyệt mệnh nói lý do tự tử vì không học giỏi, không đáp ứng được kỳ vọng của bố mẹ khiến cả xã hội bàng hoàng! Nhưng đó không phải là lần đầu tiên cũng không phải là lần cuối cùng, một câu chuyện kiểu như vậy xảy ra! (Đọc thêm bài “Học sinh tự tử vì áp lực học: Chết trong kỳ vọng”, báo Tiền Phong). 


Nhưng không phải chỉ do sống trong một môi trường xã hội như ở VN, nhiều bậc phụ huynh mới thúc ép con em học hành, mà ngay cả khi đã ra bên ngoài, sống trong một xã hội tự do, dân chủ như Mỹ, như các nước phương Tây, các bậc phụ huynh người Việt nói riêng và các nước Đông Á nói chung cũng nổi tiếng là hy sinh tất cả cho con, đặt kỳ vọng lên con, vì vậy mà học sinh các nước Đông Á như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…thường đạt thứ hạng cao hơn học sinh nhiều quốc gia khác ở bậc trung học, và thường học lên đại học! Nhưng mặt trái là các em phải chịu áp lực từ gia đình, cho dù đã ra sống ở nước ngoài!

Câu chuyện một sinh viên người Mỹ gốc Việt giết mẹ vì bị ép trở thành bác sĩ cách đây đã mười năm ("Thảm kịch giết mẹ trong gia đình gốc Việt vì bị ép trở thành bác sĩ”, VietnamNet, “Con giết mẹ vì bị ép học làm bác sĩ? Báo Người Việt)…đã cho thấy phần nào cái mặt trái ấy.
Là bởi vì, tuy đã ra sống ở nước ngoài, nhưng không phải bậc phụ huynh nào cũng thay đổi, tiến bộ về nhận thức, quan điểm cho phù hợp với một xã hội tự do, dân chủ, văn minh. Trong khi đối với phụ huynh các nước Âu Mỹ, họ đã quen với việc coi trọng con từ khi còn bé, cho con tự lập, tự quyết định hầu hết mọi vấn đề trong cuộc sống, cha mẹ chỉ lắng nghe, góp ý, ủng hộ hoặc khuyên nhủ thêm, thì đa số các bậc phụ huynh VN, dù còn sống trong nước hay đã ra bên ngoài, vẫn xem con cái như trẻ nhỏ, thậm chí, như “tài sản”, “vật sở hữu” của mình.


Con cái là phải nghe lời, phải tuân theo ý muốn của bố mẹ, phải học ngành này, chọn lấy người kia v.v…Và đối với đa số người Việt ở trong nước hay thuộc thế hệ thứ nhất, thứ hai ở nước người, bác sĩ vẫn là một nghề được trọng vọng, ước ao. Thành đạt với đa số những người Việt này sau nhiều năm sống ở nước ngoài là có một cái nhà, cái xe và có con học bác sĩ, cùng lắm thì dược sĩ, kỹ sư, luật sư! Còn bao nhiêu cái nghề khác trong lĩnh vực media, điện ảnh, nghệ thuật…họ không biết tới hoặc cho là…tào lao!
Đến bao giờ thì nhiều bậc cha mẹ VN hiểu được một điều đơn giản: Hãy để con cái sống cuộc đời của chúng, chứ đừng sống thay chúng hoặc bắt chúng sống thay cho những giấc mơ, những kỳ vọng của chính mình?

Vệt đen 30 tháng 4

Có những vết thương liền sẹo và trở nên hiền lành, người ta nhìn vết thương như một kỉ niệm buồn (mà có thể đẹp!). Có những vết thương cứ sưng tấy theo thời gian và càng cố xoa dịu, thời tiết, khí độc lại càng làm cho nó mưng đau. Tôi gọi 30 tháng 4 là một vết thương mưng đau. Bởi lẽ…!
Nếu nhìn suốt chiều dài đất nước hình chữ S này, mốc thời gian 30 tháng 4 là một mốc lịch sử vừa đáng nhớ vừa kinh hoàng. Đáng nhớ bởi từ giây phút ấy, người Nam kẻ Bắc được gặp nhau, cho dù gặp nhau trong hận thù hay gặp nhau trong nước mắt đoàn tụ thì một cuộc gặp như vậy cũng giải quyết được hàng hàng lớp lớp mọi ẩn ức của một dân tộc đã sống và chết trong phân ly Nam – Bắc.
Nhưng đằng sau sự gặp nhau ấy là gì? Là sự mất mát quá lớn mà lẽ ra nó không xảy ra đối với người miền Nam cũng như sự vui mừng, hãnh tiến quá đà của người phía Bắc mà lẽ ra nó cũng không nên có. Sự mất mát quá lớn ấy nhanh chóng làm sụp đổ một nền văn minh, văn hóa non trẻ mà người miền Nam đã cố gắng xây dựng được trong khói lửa chiến tranh. Sự hãnh tiến, reo hò và có phần chụp giật, manh động, đẩy đến tầng suất cướp bóc của người miền Bắc đã nhanh chóng lấy đi toàn bộ cái ý nghĩa ban đầu của hàng triệu người là “cứu người miền Nam khỏi ách đô hộ…”, đẩy họ đến cánh rừng tâm thức tập thể bầy đàn.


Và cái vệt bầy đàn kể từ sau 30 tháng 4 năm 1975 với cướp bóc, giết tróc, trả thù, reo hò chiến thắng, đẩy người khác ra đường, xuống biển, vào trại cải tạo hay lên vùng kinh tế mới… không hề ngừng, nó vẫn kéo dài cho đến bây giờ, phát triển mức độ tàn bạo của nó với màu sắc, hình hài khác. Điều này chẳng khác nào vết thương không những được chăm chuốt cho lành lặn mà còn bị tác động gây đau liên tục cho đến ngày sưng tấy và hoại tử của dân tộc.
Hiện trạng đất nước, nếu nhìn từ bề ngoài thì nhà cửa xây càng ngày càng nhiều, càng cao, đường sá mở ra ngày càng nhiều, bê tông hóa liên tục, đô thị hóa liên tục… Nhưng, giả sử như Việt Nam cố gắng để trở thành một đô thị lớn trong khu vực, thì du khách, nhà kinh doanh từ các nước văn minh, thậm chí cả những du khách vốn ồn ào, hành xử thô lỗ như Trung Quốc sẽ tìm gì ở cái thành thị của khu vực này?


Đương nhiên, tiêu chuẩn của một đô thị hay vùng quê nào cũng là chiều sâu văn hóa, cung cách ứng xử thương mại và mức độ văn minh của con người bản địa. Người ta không chỉ tìm đến Việt Nam để ăn hải sản, để tìm gái, để thả sức vung tiền vào những tửu quán hay các hộp đêm giả cầy chuyên chặt chém. Thứ mà người ta cần tìm là con người và văn hóa bản địa. Đi du lịch hay đi kinh doanh không có nghĩa là tìm những căn nhà, những khách sạn, những khu giải trí tiêu chuẩn 5 sao, 5 sao + về mặt xây dựng, kiến trúc để rồi gặp những con người trống rỗng, vô cảm, chỉ biết tiền, tiền và tiền…!
Hiện trạng Việt Nam là hiện trạng của tiền, tiền và tiền. Nếu muốn có danh dự, muốn có sức nặng của tiếng nói, bạn không cần phải có nhiều tri thức hoặc bạn không cần phải là người tỉnh thức. Bạn có thể nói năng lớ mớ, bổ bả, vô hồn những điều hết sức nhảm nhí nhưng tiền của bạn chi ra thật nhiều thì mọi thứ lớ mớ, nhảm nhí và bổ bả của bạn sẽ thành chân lý của một đám đông khổng lồ, bởi những con người hưởng “mưa móc” từ tiền của bạn.


Và trên đất nước này, qui luật cá lớn nuốt cá bé đang là qui luật chung, có tính phổ quát. Một người nghèo, không có danh phận trong xã hội, cho dù chỉ ăn cắp một ổ bánh mì và biết ăn năn, hối lỗi thì vẫn bị phạt tù ba năm, năm năm… Một kẻ có quyền thế, địa vị, thì y/thị có thể ăn cắp cả một cánh rừng gỗ quí, thậm chí ăn cắp bí mật quốc gia hay ăn cắp sinh mệnh, tương lai của người khác… Y/thị vẫn nhơn nhơn sống trong “danh dự, uy tín và quyền lực”. Đó là sự thật!
Và đất nước cứ dần thay đổi màu sắc một cách lạnh lùng, xơ cứng, giả tạo, bê tông hóa. Tâm hồn con người cũng dần bị xơ cứng, bê tông hóa, trí tuệ của con người bị mụ mị trong công cuộc đánh tráo khái niệm. Giá trị tri thức và danh dự được hoán đổi bằng giá trị tiền bạc… Ngay cả tôi, người viết bài này, khi gặp cha mẹ vợ, anh em vợ, thay vì tôi ngồi tâm tình với họ những gì sâu thẳm của tôi, của con người với con người, tội buộc lòng phải chọn kể cho họ nghe tôi đã sắm được những gì, giàu có cỡ nào… Bởi họ thích nghe câu chuyện đó hơn là ngồi tâm tình, bình luận hay bàn thảo về xã hội, nghệ thuật… Bởi những thứ đó đối với họ quá xa lạ, họ chỉ cần nhìn cái nhà, cái xe, bộ áo quần tôi mặc. Đó là sự thật đau lòng, nhưng tôi cũng đành bó tay!

Và tuổi trẻ, phần đông, phải nói là rất đông tuổi trẻ Việt Nam đều có mối quan tâm về tiền bạc, gia tài của cha mẹ để lại lớn cỡ nào chứ chẳng mấy ai quan tâm về đạo đức, văn chương, nghệ thuật hay triết học… Bởi những thứ ấy xa xỉ và vô bổ đối với họ. Đối với những đứa em vợ của tôi, chúng trẻ, học hành có bằng này bằng nọ, và cả bạn của chúng cũng như thế hệ của chúng, khi nói ra, tôi chỉ nghe tiền, nhà cửa, xe cộ, ngồi ăn nhà hàng nào, uống quán nào, giá bao nhiêu… Tất cả là danh dự, đẳng cấp và vị thế, giá trị làm con người của chúng. Chấm hết!

Đất nước trở nên khốn đốn, khốn nạn và đồi bại như này hôm nay là do đâu? Hãy nhìn lại những tháng ngày xếp hàng, giành giật từng miếng ăn như bầy đàn của các thế hệ trước trong thời kinh tế tập trung bao cấp! Hãy nhìn vào công cuộc thao túng quyền lực bằng lợi ích nhóm của gần đây và hiện tại! Hãy nhìn vào chương trình giáo dục, đào tạo con người xã hội chủ nghĩa cũng như những thanh âm cuồng nộ của nó sau mỗi dư chấn giáo dục tỉ như Sầm Đức Xương, cải cách giáo dục, thầy giáo yêu râu xanh, dạy thêm, học thêm, tham nhũng, hối lộ (kể cả hối lộ tình dục) trong ngành giáo dục!
Và hãy nhìn cung cách hành xử của người Trung Quốc ngay trên đất nước Việt Nam cũng như những gì gọi là “biện pháp đối phó” của nhà cầm quyền đảng Cộng sản Việt Nam đối với họ! Hãy nhìn tương lai tự do cho người dân Việt Nam! Hãy nhìn vào thẳng lòng yêu thương đã bị tổn thương bởi tiếng reo hò của kẻ thắng cuộc và giọt nước mắt của nhiều thế hệ đã nhỏ xuống mặt trái của trang lịch sử! Hãy nhìn và hãy nhìn…!
Mọi thứ bạn và tôi nhìn được sẽ không giải quyết được bất kì thứ gì ngoài việc làm cho chúng ta nguôi ngoai nỗi đau, nỗi cô đơn khi bạn tìm một tiếng nói hay một hơi thở tâm hồn đồng điệu, đồng cảm. Và cái điều đáng sợ nhất là hiện nay, khi mà đất nước đã trở nên rối ren và tao loạn, thì việc triệt hạ cường quyền ác bá cho dù có thực hiện được cũng không làm thay đổi thực trạng một cách nhanh chóng hay rốt rào mà cái vệt đen này còn kéo dài qua nhiều thế hệ! Tôi xin gọi đây là cái vệt 30 tháng 4, kể từ khi đất nước nối liền Nam – Bắc và chịu chung một luật chơi mới đầy manh động, máu lạnh cho đến bây giờ và không biết mãi cho đến bao giờ!

Chính phủ Việt Nam nói về hòa giải nhân ngày 30/4

RFA
2018-04-30
 
Người Việt tại Dallas, Texas, Hoa Kỳ, tưởng niệm Ngày Quốc Hận hôm 30/4/2018.
Người Việt tại Dallas, Texas, Hoa Kỳ, tưởng niệm Ngày Quốc Hận hôm 30/4/2018.
Photo courtesy of facebook Luan Dang
Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chính sách về hòa hợp và hòa giải dân tộc trong suốt 43 năm qua.

Đó là lời ông Lương Thanh Nghị, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, được báo Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh dẫn lời, trong số ra ngày 30/4/2018, tròn 43 năm ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc.
Ông Lương Thanh Nghị liệt kê những hoạt động mà Nhà nước Việt Nam tổ chức hướng tới cộng đồng người Việt tại hải ngoại, như là tổ chức hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới, tổ chức trại hè tại Việt Nam cho thế hệ trẻ người Việt ở hải ngoại, tổ chức đưa người Việt sống tại nước ngoài thăm quân đảo Trường Sa nơi đang có tranh chấp căng thẳng với Trung Quốc.

Theo ông Lương Thanh Nghị, nhiều kiều bào có định kiến với nhà nước Việt Nam đã thay đổi nhận thức và chính kiến sau khi tham gia những chương trình như vậy.
Tuy nhiên ông Lương Thanh Nghị cũng nói rằng dù có những cố gắng hòa hợp hòa giải nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn. Ông không nói rõ thêm là những điều chưa đạt được là gì.
Sau khi quân đội cộng sản tiến vào Sài Gòn, thống nhất nước Việt Nam, hơn hai triệu người tại Miền Nam Việt Nam đã bỏ nước ra đi, đa số đi bằng đường biển. Họ đã đến định cư tại nhiều quốc gia phương Tây, quan trọng nhất là các cộng đồng tại Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada.

Hàng năm cứ đến ngày 30/4 thì những cộng đồng này lại tổ chức lễ tưởng niệm ngày được gọi là tháng tư đen, và tổ chức những cuộc biểu tình phản đối trước các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại những quốc gia mà họ đang sống.

Tại sao vụ Hội Thánh Đức Chúa Trời được làm rầm rộ?

Phi Cảnh
2018-04-30
Hình chụp màn hình trang web của Hội thánh của Đức Chúa Trời
Hình chụp màn hình trang web của Hội thánh của Đức Chúa Trời
vn.watv.org
Truyền thông Việt Nam đang ầm ầm đưa tin về một loại “tà đạo” mang tên Hội Thánh Đức Chúa Trời. Cách thức đưa tin kiểu này có cái gì đó không bình thường.

Đưa tin một chiều

Trước tiên khẳng định một điều: Nếu có một loại “tà đạo” dẫn dắt con người đến con đường không đúng đắn thì việc cảnh báo người dân là cần thiết. Nhưng vấn đề là thế này: truyền thông Việt Nam có bao giờ đưa tin về những điều tích cực mà tôn giáo mang lại?
Chẳng bao giờ! Chính vì thế mà khi có một vụ việc không hay liên quan đến tôn giáo là đăng tin ồ ạt trên tất cả các phương tiện truyền thông thì rõ ràng nó mang dụng ý không tốt. Với những người Việt Nam phần lớn chỉ đọc tin lề phải, họ dễ dàng bị dẫn dắt theo hướng xa lánh tôn giáo, nhất là khi một “tà đạo” có cái tên chỉ đích danh Thiên chúa giáo như thế này.

Tầm quan trọng của tôn giáo

Chỉ ở những nước Cộng sản vô thần như Việt Nam, Triều Tiên, Cuba, Trung Quốc mới xem nhẹ vai trò của tôn giáo.
Hiếm có người Việt Nam nào chưa nhìn thấy tờ Đô la, nhưng chắc họ chẳng bao giờ thắc mắc một đất nước của khoa học kỹ thuật như Hoa Kỳ mà trên đồng tiền lại in chữ “In God We Trust” (Chúng tôi tin vào Chúa).
Nước Mỹ - “Một quốc gia dưới Chúa” (One Nation, Under God), nơi “người ta không tôn kính Chính phủ, mà người ta tôn kính Chúa” - lời của Tổng thống Donald Trump.
Will Gervais từ Đại học Kentucky nói với báo The Times rằng nói: “Mọi người dường như cho rằng tôn giáo là yếu tố tất yếu của đạo đức. Và không có tôn giáo, mọi người sẽ hành xử hoang dã vì không có ai yêu cầu họ phải trung thực. Tại sao họ không nên nói dối, ăn cắp và hãm hiếp?”. Vì thế người Mỹ không bỏ phiếu cho một tổng thống vô thần.
Các nước giàu có văn minh đều là các nước tự do tôn giáo cả, đông nhất là các nước Tin lành và Công giáo. Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel nắm quyền 12 năm nay thuộc Đảng Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo, có ai nghĩ đảng phái hàng đầu nước Đức lại có cái tên “cổ lỗ sĩ” như thế.
Tự do tôn giáo tất nhiên thỉnh thoảng có mang đến những vấn đề, nhưng lợi ích của nó mang lại vẫn rất lớn, vì vấn đề gặp phải chẳng thấm vào đâu so với đàn áp tôn giáo. Ở những nước không được tự do tôn giáo, tình trạng đạo đức đều xuống cấp. Cựu Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln từng nói: “Nếu không có “Kinh Thánh”, chúng ta không thể phân biệt được thế nào là thiện ác”.
Ở Việt Nam, tình trạng lừa đảo phổ biến đến mức người dân cho đó là chuyện bình thường, cho là vì “ngốc nên mới bị lừa” chứ không nghĩ rằng do vấn đề đạo đức xã hội mà ra. Ngay cả lúc có việc đến các cơ quan công quyền (vốn để bảo vệ người dân) mà còn bị lừa kia mà!

Thời điểm đưa tin có vấn đề

Chính quyền Việt Nam vốn rất nhanh nhẹn trong việc đàn áp tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo dù tôn giáo này làm những việc tốt. Hay kể cả Phật giáo, ví dụ như Pháp Luân Công – bộ môn tu luyện thật sự tốt cho sức khỏe và làm người ta sống tốt lên thì lại đi ngăn cấm “vì Trung Quốc cũng cấm”.
Vậy mà “Hội Thánh Đức Chúa Trời” đã xuất hiện ở Việt Nam nhiều năm nay, được cho là làm toàn việc xấu mà tại sao bây giờ mới đưa tin rầm rộ - đây là một câu hỏi lớn.
Thật “tình cờ”, hoạt động của hội này được tung ra vào đúng dịp Ủy Hội Hoa Kỳ về Tôn giáo Quốc tế đề nghị Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo. Liệu đây có phải là một sự ngẫu nhiên?
Một báo mạng Việt Nam có ngay một bài với cái tít: “Truyền bá tà đạo “Đức chúa trời mẹ" qua SIM rác”. Nội dung là “khó giải quyết tận gốc do thiếu thông tin chính xác về kẻ truyền giáo. Nguyên nhân là bởi kẻ xấu đã sử dụng SIM không chính chủ nên rất khó lần ra dấu vết”, chính vì thế “Quy định đăng ký lại thông tin thuê bao giúp xử lý dứt điểm tình trạng SIM rác, tin nhắn rác.”
Bài báo này vừa lên án hội “tà đạo", vừa bào chữa cho công an lý do vì sao không dứt điểm được vụ việc, vừa bảo vệ Nghị định 49 bắt chụp ảnh chân dung, vừa không nhắc gì tới tình trạng sim rác là do chính nhà mạng gây nên. Đúng là 1 mũi tên trúng đến 3, 4 mục tiêu.
Chưa kể hội thánh này được đưa tin là xuất phát từ Hàn Quốc, cũng thật đúng thời điểm 30/4 khi mà các “thế lực thù địch” đang tuyên truyền rằng miền Bắc nghèo đói thì giải phóng miền Nam nỗi gì?
Đấy thấy chưa, tự do nhưng bất ổn như Hàn Quốc có hay ho gì không? Chúng tôi không đàn áp tôn giáo, chúng tôi chỉ ngăn cấm tà giáo và những người lợi dụng tự do tôn giáo. - Ý của Đảng là vậy.
Chính vì thế, việc Hội Thánh này có thật sự xấu như báo Đảng nói hay không, hoặc nếu nó có xấu thật thì người đứng sau nó là ai là những điều đáng phải suy ngẫm.
* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

 

Chuyện một chiếc cầu đã gãy” của Việt Nam và chiếc cầu màu xanh ở Bàn Môn Điếm

Cát Linh, RFA
2018-04-30
Chiếc cầu gãy ở Huế, trận Mậu Thân 16/4/1968
Chiếc cầu gãy ở Huế, trận Mậu Thân 16/4/1968
AP

Hy vọng và nghi ngờ

Cuộc hoà giải liên Triều lịch sử đã diễn ra tại làng đình chiến Bàn Môn Điếm vào những ngày cuối cùng của tháng 4/2018. Thông điệp hoà bình, chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh kéo dài suốt 65 năm được thể hiện qua những bước chân song hành của hai vị lãnh đạo của Nam và Bắc Hàn làm nức lòng truyền thông thế giới.
Và rất vô tình, sự kiện này diễn ra gần kề với ngày tưởng tiệm 30/4/1975, tức 43 năm Việt Nam thống nhất 2 miền Nam Bắc. Nụ cười rạng rỡ của lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong Un và Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in vô hình trung làm chạnh lòng những người Việt Nam trong và ngoài nước. Rất nhiều cảm xúc khác nhau được bày tỏ. Họ chúc mừng người dân Triều Tiên. Họ ca ngợi nỗ lực của hai “chế độ”. Họ đặt niềm tin vào cuộc sống hoà bình của người dân Triều Tiên bắt đầu từ đây. Họ đặt câu hỏi về tương lai của những bước chân bước qua lằn ranh biên giới hai miền đất. Dòng nước được hai vị lãnh đạo tưới lên cây cổ thụ có từ năm 1953 không thể làm cho họ tin vào luồng không khí trong lành sẽ đến với người dân Nam Hàn. Họ thẳng thừng buông câu “không tin vào Cộng sản”.
Một trong rất nhiều những người có suy nghĩ ấy là nhạc sĩ, người lính không quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày trước, Trần Duy Đức. Sau 43 năm, sau thời gian bị giam giữ gọi là ‘tù cải tạo” theo cách gọi của chế độ mới lúc đó, thì niềm tin của ông vào hai từ “Cộng Sản” hoàn toàn sụp đổ.
“Tôi nghĩ đến thân phận đất nước mình ngày xưa bị mắc lừa Cộng sản rồi. Tôi nghĩ thế nên tôi ái ngại cho đất nước Đại Hàn khi người Cộng sản Bắc Hàn có mưu kế chuyện đó. Họ đều có ý định hết. Những ý định đen tối. Người Cộng sản xưa nay là như thế, mình không ngạc nhiên đâu.”
Tôi nghĩ đến thân phận đất nước mình ngày xưa bị mắc lừa Cộng sản rồi. Tôi nghĩ thế nên tôi ái ngại cho đất nước Đại Hàn khi người Cộng sản Bắc Hàn có mưu kế chuyện đó. Họ đều có ý định hết. Những ý định đen tối. Người Cộng sản xưa nay là như thế, mình không ngạc nhiên đâu. - Trần Duy Đức
Tương đồng với ý kiến này, là lời khẳng định của 1 vị bác sĩ (ẩn danh) trải qua vỏn vẹn 12 năm học dưới môi trường giáo dục của VNCH:
“Đừng đánh tráo khái niệm ngày 30.4 với hoà giải liên Triều. Quá sớm để lạc quan. Và quá ngây thơ để tin vào sự ngay thật của tà quyền. Cứ nhìn lại hiệp định ngừng bắn năm Mậu Thân thì rõ. Cứ nhớ lời cố Tổng thống  Nguyễn văn Thiệu và Boris Yeltsin thì biết cần phải làm gì.”
Ngày 19-10-1967, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố miền Bắc Việt Nam ngưng bắn từ 27/01 đến 03/2/1968. Thế nhưng đêm 29 rạng ngày 30/1/1968, đúng thời điểm Giao thừa âm lịch, nhiều đơn vị quân đội và du kích Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lẫn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam từ Quảng Nam đến Khánh Hoà đồng loạt nổ súng, mở đầu cuộc “Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968”, ghi vào lịch sử Cuộc thảm sát Mậu Thân 1968 và “Dải khăn sô cho Huế”.
Cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nổi tiếng với câu nói đi vào lịch sử: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn những gì Cộng sản làm.”
Ở một nơi rất xa, cách nửa vòng trái đất, có một nhận định khác, mang tính lạc quan và hàm chứa thiên hướng tự do được nhà thơ nổi tiếng Du Tử Lê bày tỏ:
“Tôi nghiêng về phía nó hơi lạc quan 1 tí. Căn cứ vào những dữ kiện 2 bên đạt được, tôi nghĩ nhiều phần nó sẽ đi đến kết quả cụ thể.
Ngay cả khi nếu nó không đi đến kết quả cụ thể tôi cũng muốn nói rằng nhân loại mà còn tồn tại đến ngày hôm nay là người ta sống bằng hy vọng. Con người ngoài nhu cầu vật chất, tức bản năng sinh tồn thì người ta còn có nhu cầu tinh thần. Và nếu người ta không có tinh thần lạc quan 1 chút, hay là hy vọng 1 chút thì nhân loại không còn tồn tại đến ngày hôm nay.
Cảm nhận của tôi có thể sai, nhưng nó là 1 thứ bản năng về tinh thần.”
Tôi nghiêng về phía nó hơi lạc quan 1 tí. Căn cứ vào những dữ kiện 2 bên đạt được, tôi nghĩ nhiều phần nó sẽ đi đến kết quả cụ thể. Cảm nhận của tôi có thể sai, nhưng nó là 1 thứ bản năng về tinh thần - Nhà thơ Du Tử Lê
Nói theo 1 cách khác, “hãy hy vọng”, đó là bộc bạch của kỹ sư Đỗ Thái Bình, thành viên Hội Khoa Học Biển thành phố Hồ Chí Minh, người di tản vào miền Nam từ năm 1954. Đối với ông, cần có 1 quyết tâm rất cao về vấn đề nhìn thẳng vào sự thật, và nhìn thấy gương của tất cả các nước, ở Đức và bây giờ là Triều Tiên.
“Nhìn quá khứ để dự kiến được tương lai thì tôi cho rằng cũng 1 phương pháp đúng nhưng chúng ta cũng phải hy vọng là thế giới biến chuyển rất nhiều, và cuộc cách mạng công nghệ, dân chủ hoá qua Facebook thì chúng ta có quyền hy vọng.”

Hoà hợp hoà giải

Tại Bàn Môn Điếm, Nam và Bắc Hàn thoả thuận theo đuổi một hòa bình vĩnh viễn và tiến tới phi hạt nhân hóa toàn bộ bán đảo Triều Tiên, như thế phải chăng người dân Triều Tiên từ nay có quyền hy vọng về sự hoà hợp về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, tất cả những gì hình thành nên đất nước và dân tộc hay không?
Nhìn lại Việt Nam, đây cũng chính là điều làm cho rất nhiều người Việt Nam trăn trở trong mấy mươi năm qua., về bốn chữ “Hoà hợp hoà giải”.
Nhạc sĩ Trần Duy Đức, dù yêu quê hương, yêu con người Việt Nam, yêu những đồng đội của ông đã vĩnh viễn nằm xuống đến bao nhiêu đi nữa cũng không thể hy vọng vào 1 ngày hoà hợp.
“Tôi khó hy vọng được chuyện đó. Đối với Cộng sản thì không thể hoà giải được với họ. Đừng trông mong. Theo tôi nghĩ thì đó là 1 điều hoang tưởng. Đừng bao giờ nghĩ mình hoà hợp hoà giải được với người Cộng sản. Kinh nghiệm tôi từng tù tội với Cộng sản. Tôi từng sống lại đó 4 năm sau ngày mình mất nước. Ít nhiều tôi hiểu người Cộng sản thế nào.”
Tôi khó hy vọng được chuyện đó. Đối với Cộng sản thì không thể hoà giải được với họ. Đừng trông mong. Theo tôi nghĩ thì đó là 1 điều hoang tưởng. Đừng bao giờ nghĩ mình hoà hợp hoà giải được với người Cộng sản. Kinh nghiệm tôi từng tù tội với Cộng sản. Tôi từng sống lại đó 4 năm sau ngày mình mất nước. Ít nhiều tôi hiểu người Cộng sản thế nào. - Nhạc sĩ Trần Duy Đức
Theo số liệu thống kê của Cao Uỷ Tị nạn Liên Hiệp Quốc, từ sau ngày 30/4/1975 cho đến cuối năm 1995, gần 1 triệu người Việt bỏ nước ra đi. Khoảng nửa số ấy đã thiệt mạng trên đường ra đi.
Quan điểm của kỹ sư Đỗ Thái Bình là “không thể sửa lại được quá khứ, vấn đề là nhìn về tương lai”. Và ông khẳng định: “Hiện nay chưa có hoà hợp dân tộc.”
Tuy, ông khách quan nhìn nhận rằng “lỗi là do cả hai bên”, nhưng nếu để nói có một bên cần phải tích cực hơn, thì ông gọi đó là bên “thắng cuộc”.
“Theo tôi bên thắng cuộc cần phải có cái nhìn sâu sắc, ít ra cũng phải làm được như Võ Văn Kiệt. Tức là phải tiếp tục có suy nghĩ như Võ Văn Kiệt. Tôi cho rằng những người cầm quyền phải nhìn thẳng vào sự thật để quyết tâm chứ không phải chỉ có vài nghị quyết, hình thức thì vẫn chưa thấy thực tâm.”
Nhìn nhận về vấn đề này, riêng đối với lĩnh vực văn học nghệ thuật, nhà thơ Du Tử Lê cho rằng Việt Nam hiện nay bắt đầu có những cái đổi mới đáng kể. Đó là có 1 số tác phẩm hải ngoại, thuộc về miền Nam đã được in lại.
“Chẳng hạn như trước đây họ lên án cuốn Tự lực văn đoàn nhưng cách đây nhiều năm họ in lại 1 cách trân trọng. Trong cái nhìn của tôi, đời sống, dù là gì đi nữa, chính trị, văn học hay cá nhân thì nó như 1 dòng nước chảy tới, không thể đứng lại hoài.”
Ngoài tác phẩm Tự lực văn đoàn, nhà thơ Du Tử Lê còn nhắc đến những tác phẩm của nhà văn Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và dòng nhạc bolero vốn có nguồn gốc từ  Sài Gòn, trước 1975.
Hiện nay chưa có hoà hợp dân tộc. - Kỹ sư Đỗ Thái Bình
Nhà thơ Du Tử Lê đặt hai chữ “định mệnh” của đất nước Việt Nam vào câu trả lời cho sự hoà hợp hoà giải. Trong cái định mệnh đó, có cuộc chiến 43 năm trước:
“Mỗi một đất nước như 1 con người, có định mệnh riêng của nó. Tác phẩm, cuốn sách, bản nhạc còn có định mệnh huống chi là đất nước. Đất nước Việt Nam của mình nó nhiều bi kịch quá.”
Để từ đó, ông nói rằng có thể thế hệ của những người như ông sẽ không được nhìn thấy những đổi mới cụ thể ở Việt Nam
“Có thể nó chỉ xảy ra khi tôi đã mất rồi. Nhưng tôi vẫn lạc quan, cho dù sự lạc quan ấy rất dè dặt.”
Những ngày cuối tháng 4/2018, khi người dân Nam Bắc Hàn vui mừng với cái bắt tay thoả thuận cùng hướng đến một hòa bình vĩnh viễn, thì với người Việt Nam, 43 năm qua, vẫn còn đâu đó “triệu người vui triệu người buồn” như câu nói của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt năm nào. Nhạc sĩ Lê Minh Bằng đã từng ao ước “Tôi có thân nhân ở bên đầy. Tôi có anh em ở bên kia. Dù Nam Bắc, tôi vẫn mong nước Việt thanh bình”, thì “Chuyện 1 chiếc cầu đã gãy” 43 năm qua của người dân Việt Nam liệu có được nối lại như chiếc cầu màu xanh nối liền Nam Bắc Hàn ngày nay hay không? Câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ.

TAP CHÍ VĂN HÓA VIỆT NAM 622

 
SƠN TRUNG
Chủ biên

Tranh khỏa thân 10

S 622
Ngày 30  tháng 4 năm 2018
 

Viết cho tháng Tư

Song Chi
2018-04-30


Một gia đình Việt Nam chạy khỏi Suối Cát phía Đông Sài Gòn hôm 2/4/1975 khi chiến sự bùng nổ.

Một gia đình Việt Nam chạy khỏi Suối Cát phía Đông Sài Gòn hôm 2/4/1975 khi chiến sự bùng nổ.
AP
Như rất nhiều người Việt Nam nói chung và người miền Nam nói riêng, cứ vào tháng Tư tôi thường có tâm trạng khá nặng nề khi nghĩ lại biến cố lịch sử năm 1975, và vận nước kể từ đó.
Tháng Tư năm nay càng đau hơn khi nhìn thấy cái bắt tay lịch sử của hai nhân vật đứng đầu Bắc Hàn, Nam Hàn, khi thấy một chế độ độc tài phi nhân, bị cả thế giới coi là man rợ hóa ra vẫn còn hơn đảng cộng sản VN mấy cái đầu; đó là biết tự lực xây dựng quân đội, vũ khí hạt nhân cho mạnh để láng giềng dẫu có to xác, hung hăng hiếu chiến cũng không dám bắt nạt và không quyết thống nhất đất nước đến cùng bằng xương máu của nhân dân.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, thế giới có 3 quốc gia bị chia đôi là Đông Đức-Tây Đức, Bắc Hàn-Nam Hàn, Bắc Việt-Nam Việt, ngoài ra còn có Đài Loan cũng tự tách mình khỏi Trung Hoa đại lục để thành lập quốc gia riêng. Người Đức thông minh chọn con đường thống nhất đất nước trong hòa bình đã đành, Bắc Hàn và Nam Hàn cũng chỉ chiến tranh dữ dội trong 3 năm (1950-1953), nhờ thế mà Nam Hàn mới có thể phát triển thịnh vượng như ngày hôm nay, và ngày 27.4 vừa qua thì Chủ tịch Kim Jong-un của Bắc Hàn đã chính thức gặp gỡ Tổng thống Nam Hàn Moon Jae-in để đàm phán hòa bình lâu dài (tương lai của bán đảo Triều Tiên như thế nào vẫn còn là câu hỏi để ngỏ, nhưng thế giới có thể thấy rằng cả hai bên đều mong muốn giảm thiểu tối đa nguy cơ chiến tranh). Hay ngay cả Trung Cộng, xúi dân khác đánh nhau, cướp đảo cướp biển của dân khác thì được chứ cũng chưa dùng vũ lực để đánh chiếm Đài Loan vì “người Hoa không đánh người Hoa”.

Chỉ có đảng cộng sản Việt Nam là nhất quyết thống nhất đất nước bằng chiến tranh, bằng máu, máu của chính người VN, quyết đánh Mỹ từ khi Mỹ chưa có mặt ở VN và đánh Mỹ khi Mỹ đã đi rồi, đánh đến cùng kể cả khi Hiệp định Hòa bình vừa được ký chưa ráo mực. Tất cả chỉ nhằm giành độc quyền lãnh đạo đất nước mà thôi.

Rốt cuộc sau 43 năm VN bây giờ như thế nào?
Đứng về phía đảng cộng sản, họ đã thắng một cuộc chiến. Để rồi đại bại trong hòa bình.
Có người sẽ bảo sao gọi là thất bại khi mà hai mục đích tối thượng đối với đảng cộng sản họ đã làm được: giành toàn quyền lãnh đạo đất nước bằng mọi giá, và giữ được quyền lãnh đạo đó, cũng bằng mọi giá. Sau 43 năm, họ vẫn giữ được chế độ, và đất nước bây giờ là tài sản riêng của đảng, muốn sử dụng, khai thác, cầm cố, cho vay…thế nào tùy ý. Hơn 90 triệu nhân dân thì trở thành đàn cừu ngoan ngoãn, muốn bóc lột, trừng phạt thế nào cũng được.

Song, thắng một cuộc chiến để rồi đi ngược lại toàn bộ lý tưởng, lý thuyết, lý luận, mục tiêu chiến đấu ngày xưa cho tới mô hình xây dựng đất nước tương lai mà họ tự vẽ ra trước kia, là thất bại.
Thắng một cuộc chiến, thống nhất được giang sơn nhưng không thống nhất được lòng người, hay nói cách khác, không thu phục được nhân tâm đại đa số nhân dân, ngược lại, thời gian càng lùi xa thì lòng dân càng chia rẽ, oán hận, là thất bại.

Thắng một cuộc chiến nhưng không làm cho đất nước giàu mạnh, người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, thậm chí, ngay sau khi cuộc chiến vừa kết thúc chưa bao lâu, người Việt đã ồ ạt bỏ nước ra đi và suốt hơn 40 năm, dòng người ra đi chưa bao giờ dừng lại, là thất bại.
Không những thế, đảng cộng sản đã thực sự trở thành một đảng cầm quyền phản bội. Phản bội lý tưởng, phản bội nhân dân, phản bội đất nước. Làm mất thêm một phần lãnh thổ lãnh hải và để đất nước lún sâu vào vòng lệ thuộc với Trung Cộng.

Đứng về phía người dân VN, dù ở bên thắng cuộc hay bên thua cuộc, cũng đều đại bại. Nhưng sau 43 năm, chúng ta càng là một dân tộc thất bại vì vẫn để cho một đảng cầm quyền độc tài tham nhũng tiếp tục tồn tại, tàn phá đất nước.
Cái giá máu xương phải trả cho cuộc chiến 20 năm đã quá đắt. Lại càng đắt gấp bội, tính cả vốn lẫn lãi, sau 43 năm.

Cả một cuộc chiến tranh dài, máu người Việt từng chảy thành sông, xương phơi thành núi, đất nước tan hoang, mọi giá trị vỡ nát... Bên nào cũng thua, từ người Mỹ, người Việt cho tới đảng cộng sản. Rốt cuộc ai thắng? Trung Cộng. Từ chỗ không một mảnh đất cắm dùi trên biển Đông, khởi đầu là đánh chiếm Hoàng Sa rồi một phần Trường Sa và bây giờ thì toàn bộ khu vực biển Đông này gần như đã trở thành ao nhà của Trung Cộng, với Hoàng Sa, Trường Sa và cảc đảo nhân tạo trở thành những căn cứ quân sự, hải quân vô cùng vững chắc; đáng nói hơn, Bắc Kinh chưa cần đánh mà từ lâu nay đã có thể khống chế VN từ ngoài khơi cho tới trên bờ, từ Nam chí Bắc cho tới toàn bộ Bộ Chính trị của Hà Nội!

Khóc lên đi hỡi quê hương yêu dấu…(tựa tiếng Việt cuốn tiểu thuyết "Cry, the Beloved Country" của nhà văn Nam Phi Alan Stewart Paton (1903 –1988)
* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do
Cựu nhà báo thời chiến: “Tôi không nghĩ chiến tranh VN là chống Mỹ cứu nước”

Ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo RFA với bút danh Nam Nguyên, trò chuyện cùng RFA nhân sự kiện 30/4.

Thưa quý vị, như vậy chỉ còn ít ngày nữa là đến ngày 30/4, ngày kỷ niệm chiến tranh Việt Nam chính thức kết thúc. Sự kiện này được nhắc đến với rất nhiều tên gọi khác nhau, tuy nhiên theo nhận định của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng chính phủ Hà Nội thì đây là ngày triệu người vui nhưng cũng triệu người buồn.


Mời quý vị cùng theo dõi buổi trò chuyện giữa RFA và ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo của RFA với bút danh Nam Nguyên, đồng thời ông cũng là một trong những phóng viên thời chiến tranh Việt Nam.


Xin chào nhà báo Nguyễn Mạnh Tiến, ông có thể chia sẻ những kỷ niệm đáng nhớ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975?


Nhà báo Nam Nguyên: Trong tuần lễ cuối cùng, những sự kiện quan trọng gồm có Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, rồi phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay nhưng cũng chỉ được 5 ngày thì trao nhiệm cho Đại tướng Dương Văn Minh với hy vọng Đại tướng Minh có thể hòa giải với phía bên kia để ngăn tình trạng sụp đổ của miền Nam và có thể là thành lập một chính phủ liên hiệp chẳng hạn.


Ngày 28/4/1975, tôi làm truyền thanh trực tiếp (live) từ dinh Độc Lập lễ trao nhiệm cho Đại tướng Dương Văn Minh để lãnh nhiệm vụ Tổng thống. Các bạn chắc cũng lấy làm lạ lùng vì sao có thể trao nhiệm tại vì thường nếu Tổng thống xuống thì Phó Tổng thống lên, Phó Tổng thống xuống nữa thì người Phó của ông này sẽ lên, không có người đó thì Chủ tịch Thượng viện phải lên. Nhưng đây lại là trao nhiệm, có nghĩa là Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa rất minh bạch, rành rọt nhưng nó đã không được thi hành kể từ ngày 28/4.


Khoảng 5 giờ chiều hôm đó diễn ra lễ trao nhiệm, có vẻ như chính phủ của Đại tướng Dương Văn Minh coi chuyện này là nghiêm túc, không phải nhận công việc này để đầu hàng. Có thể Đại tướng Dương Văn Minh là một nhà quân sự nên ông ấy biết tình hình như thế nào. Phòng tuyến Xuân Lịch mất rồi, sư đoàn 18 vỡ, ông tướng Lê Minh Đảo đã giữ được 10 ngày rồi mà ông ấy rất anh hùng, báo chí thế giới cũng ca tụng ông ấy.


Cái nghề báo là không được xúc động. Phải nói là tôi đã rất cố gắng để dặn mình không được xúc động nhưng cuối cùng trong khi tường thuật live tôi đã bình luận một câu. Nhưng câu đó thành ra lại được nhiều người biết đến. Họ nhắc lại câu tôi nói: “Vào lúc này trời âm u đổ mưa, cũng giống như tình hình của đất nước vậy!”


Khi tôi về đến đài sau buổi chiều hôm đó là đã thấy lộn xộn lắm rồi. Máy bay đã bay vô oanh kích ở Tân Sơn Nhất. Ngay ở đài tôi nhìn ra, có những máy bay đi ngang đó thì ở dưới người ta bắn lên. Có thể bắn cả những máy bay tôi thấy không phải của bên kia. Tình hình lúc đó rất khó khăn.


Đó là dấu ấn ngày 28/4. Ông Tổng thống Dương Văn Minh thực tế chỉ tại chức 36 tiếng đồng hồ.


Tới ngày 30/4, trong đài tôi được ông Tổng trưởng Thông tin mới gọi điện yêu cầu cử người qua để thu thanh một bản hiệu triệu của Tổng thống Dương Văn Minh. Thu xong phải phát vào lúc 10 giờ, nếu không phát đúng giờ thì Sài Gòn sẽ biến thành một biển máu. Hôm đó tôi không ở trong đài, nhưng sau này tôi hỏi thì họ nói là ông Lê Phú Bổn, phóng viên trẻ tốt nghiệp trường báo chí Vạn Hạnh là người được cử đi thu thanh. Và người kỹ thuật viên đi cùng là ông Hồ Ổn. Hai người đi qua Phủ Thủ tướng ở đầu đường Thống Nhất thu và mang về phát. Những ngôn từ rất chững chạc, cũng với nội dung đầu hàng thôi, Đại tướng Dương Văn Minh nói rằng mọi người buông súng, quân đội ở đâu thì giữ nguyên ở đó để chờ người đại diện phía bên kia đến và bàn giao trong trật tự. Tôi thấy cách ông ấy đầu hàng như vậy cũng rất hợp lý. Khi bản thu thanh loan ra được một thời gian ngắn thì quân đội Bắc Việt mới tiến vào dinh Độc Lập. Câu chuyện đến đoạn này thì có nhiều điểm không rõ trong lịch sử, mỗi người nói một kiểu. Ông Bùi Tín thì nói rằng lúc đó vào trong dinh chỉ có cấp cao nhất là đại úy xe tăng, còn lại là nhỏ hơn, chưa có ông Chính ủy của đoàn đó. Bây giờ báo chí người ta cũng nói ông Chính ủy này có thể đến lúc kéo cờ lên rồi ông ấy mới tới.


Họ nói không chấp nhận lời đầu hàng ban đầu, đòi rằng bây giờ ông phải nói ông đầu hàng vô điều kiện bởi vì chính quyền của ông tan rã rồi, không có gì để bàn giao. Tôi thấy điều này cũng hơi cay đắng, bởi vì không nhất thiết phải như vậy vì người ta đã chấp nhận đầu hàng rồi, bây giờ làm mọi việc có thể để tránh đổ máu thôi. Những người cán binh Cộng sản lúc đó đã rút súng và nói ông phải đọc lại bản mới và đi thu. Thế rồi họ chở ông ấy tới đài phát thanh để thu bản đầu hàng mới.


Trước khi ông Minh tới đài thì ông Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đã tới rồi. Người hoàng viên (tên gọi người thu thanh lúc bây giờ) là một phụ nữ, đã quá sợ hãi, có lẽ vì lần đầu tiên trông thấy bộ đội nón cối, súng ống, trong khi ông Tổng thống gần như bị áp đảo. Cô ấy sợ hãi quá, chân tay run lẩy bẩy không thu được. Có một nhà báo ngoại quốc ở đó, đã dùng cát-sét để thu. Một lúc sau ở phòng thu phụ người ta trấn tĩnh lại và thu được bằng băng lớn.


Đó là lời đầu hàng vô điều kiện và có lời chấp nhận lời đầu hàng đó của phía bên kia. Sở dĩ tôi phải kể dài dòng như vậy là vì có hai bản tuyên bố đầu hàng. Lần thứ nhất do ông Dương Văn Minh soạn thảo và đi thu. Lần thứ hai ông ấy bị áp giải đi thu. Nhiều người thắc mắc tại sao phải kể những chi tiết đó làm gì, nhưng tôi nghĩ rằng đối với lịch sử, sự thật quan trọng hơn sự kiện. Trong cuốn sách “Đại Thắng Mùa Xuân” của ông Văn Tiến Dũng, ông ấy nói đài Sài Gòn bỏ trống không còn một ai nữa. Quân ta (tức là quân Bắc Việt) đã vô thoải mái. Nhưng điều đó không đúng! Chính phủ không phải đã tan rã. Quân đội có thể mất phòng tuyến này hay phòng tuyến kia, nhưng đài tiếng nói quốc gia lúc đó vẫn còn.


Trong tháng 4 tôi còn có một kỷ niệm nữa không quên được. Khi Đà Nẵng mất, chắc khoảng 28/3, hôm đó tôi đang trực sở thời sự, thì ở dưới phòng kỹ thuật họ nói tôi xuống nói chuyện với đài Đà Nẵng. Ông quản đốc của đài Đà Nẵng, anh Huỳnh Quy, có vẻ mất bình tĩnh và giọng xúc động lắm. Anh ấy hỏi “Tiến ơi mày có thể cứu được tao và các nhân viên của tao không?” Tôi cũng biết mình không thể giúp được gì, nên chỉ trấn an anh ấy thôi. Anh ấy bảo đang bị kẹt ở trong đài không thể ra được. Chúng tôi đang tìm cách giúp anh ấy, thì khoảng 15 phút sau anh ấy gọi lại bảo rằng “Tiến ơi không còn hi vọng gì nữa rồi, đã trông thấy họ ở ngoài hàng rồi.” Anh ấy chào vĩnh biệt, rồi về sau tôi không biết anh ấy như thế nào nữa. Đó là câu chuyện ám ảnh tôi hoài.


Họ muốn mở rộng chủ nghĩa Cộng sản ra toàn thế giới, đâu phải đánh Mỹ để cứu nước hay giải phóng miền Nam.

- Nhà báo Nam Nguyên


RFA: Qua những cảnh tượng ông được chứng kiến khi làm những phóng sự chiến trường, ông suy nghĩ như thế nào về cuộc chiến tranh Việt Nam?


Nhà báo Nam Nguyên: Đây là một câu hỏi lớn, tôi chỉ nêu ra suy nghĩ của một người phóng viên đã trải qua cuộc chiến thôi.


Tôi thấy rằng giá không có cuộc chiến này thì tốt hơn. Khi kết thúc cuộc chiến vào ngày 30/4, đã có tổng cộng khoảng 2 triệu người miền Bắc và miền Nam chết, hàng trăm ngàn người bị thương, không đếm xuể những người còn sống nhưng cụt tay, cụt chân của cả hai bên. Và cuộc chiến tranh đó mục đích là gì, giữa cùng là người Việt Nam với nhau? Bản thân tôi cũng có một phần gia đình ở miền Bắc. Tôi cũng sinh ra ở Hà Nội.


Nói không có thì tốt hơn là vì giả dụ ngay cả khi chưa có Điện Biên Phủ, cứ để nguyên thì chậm nhất đến thập niên 60, tất cả những nước có thuộc địa đều phải trả lại cho người ta hết, bang giao tốt đẹp, buôn bán làm ăn với nhau mà không bị chết người.


Trận chiến Điện Biên Phủ giành độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi như đã thành công, đưa đến Hiệp định Geneva chia hai miền đất nước. Giá mà dừng ở đó thì vẫn còn tạm ổn. Nhưng đằng này, chỉ vài năm sau, miền Bắc bắt đầu mang quân gây chiến, rồi chuyển vũ khí vào trong miền Nam với lý do Tổng tuyển cử đã không diễn ra như Hiệp định Geneva nên phải đánh. Miền Bắc đã chuẩn bị chiến tranh ngay từ lúc đó rồi.


Trên chiến trường khốc liệt quá! Những gì tôi được chứng kiến, nhận xét về quân sự cả hai bên, binh sĩ binh lính của cả hai bên rất can trường, anh hùng và sẵn sàng chết để phục tùng lệnh từ trên. Khi tôi và đồng nghiệp vào mặt trận An Lộc bằng máy bay, chưa kịp nhảy xuống thì khói đã bốc lên trên máy bay rồi. Trông thấy bãi đáp Khánh Ly rồi mà bị đánh bom phải lượn ra luôn. Tôi thấy bay được có một khúc là may bay bị rớt rồi, và ngay lập tức họ bắn hủy máy bay đó. Thế là chúng tôi vẫn chưa vào được An Lộc. Nhưng cuối cùng kiên trì tôi và một người phóng viên tên Dương Phục cũng đã vào được.


Đi đến đó thì thấy thành phố An Lộc không còn một căn nhà nào nguyên vẹn hết. Toàn bộ là gạch vụ và một vài bức tường. Chúng tôi đến bộ chỉ huy của ông tướng Lê Văn Hưng, là vị tướng tử thủ ở đó để phỏng vấn, và coi như thành công.


Khi về lại không về được, cứ đi ra bãi đáp, máy bay cứ đáp xuống là phía bên kia họ pháo kích máy bay không xuống được. Chúng tôi không có cách gì để lên được, cứ đi ra đi vô mấy lần rồi lại phải quay lại. May mắn cuối cùng đài truyền hình họ đi trực thăng vào quay. Ông sĩ quan báo chí của ông Lê Văn Hưng, là ông đại úy Qúy, nói ông ấy sẽ đưa bọn tôi ra ngay khi máy bay truyền hình tới, chờ sẵn ở đó, máy bay hạ cánh là nhảy lên liền. Tôi cũng làm như vậy, và đội truyền hình đã cứu mạng tôi. Nếu không, tôi sẽ phải ở lại trong đó không biết đến bao giờ.


Đến ngày 6/7 tôi được lệnh chuẩn bị kỹ càng để đi công tác đặc biệt, nhưng không nói đi đâu. Đến ngày hôm sau họ chở tôi vào dinh Độc Lập, và chỉ tôi lên một chiếc máy bay. Trên đó chỉ có tôi, một người bên truyền hình, còn lại toàn các ông lớn. Tôi nghĩ chắc phải đi đâu ghê gớm lắm. Có một chiếc máy bay có ông Tổng thống và cả ông Hoàng Đức Nhã. Máy bay bên bọn tôi có ông đại tướng Cao Văn Viên là Tổng tham mưu trưởng. Tới nơi, tôi thấy rừng cao su và đất đỏ, tôi linh cảm là vào An Lộc. Tôi nghĩ ông Tổng thống này gan thiệt, vì An Lộc tới lúc này chưa có giải phóng. Đằng xa mình nhìn thấy bom đạn nổ dữ lắm, phi cơ oanh tạc các vùng cao điểm để hộ tống máy bay này. Câu chuyện này cũng để lại nhiều dấu ấn, và ông Tổng thống Thiệu cũng thành công trong việc thực hiện chuyến đi này.


RFA: Với nhiều người trẻ sinh sau năm 1975, thậm chí sau đến 20 năm, đã được mái trường Xã hội Chủ nghĩa dạy là cuộc chiến tranh Việt Nam này là để chống Mỹ cứu nước. Không biết nhà báo suy nghĩ như thế nào về quan điểm này của Chính phủ Việt Nam?


Nhà báo Nam Nguyên: Tôi nghĩ là trong lúc học các bạn tin vào những câu chuyện như vậy. Tôi không nghĩ là chống Mỹ cứu nước, Việt Nam Cộng Hòa khi đó được thành lập và được viện trợ từ Hoa Kỳ để xây dựng lại đất nước. Khi chưa có chiến tranh, miền Nam trù phú, sung túc lắm, xuất cảng rất là khá, đời sống rất cao, được ví là hòn ngọc Viễn Đông. Đến ông Lý Quang Diệu cũng từng nói thời đó chúng tôi cũng chỉ mong được như miền Nam Việt Nam thôi. Đời sống rất sung túc mà không hề có quân Mỹ ở đó. Sở dĩ người ta giúp Việt Nam Cộng Hòa là vì theo chủ thuyết Domino, nếu cứ để Cộng sản tràn dần thì sẽ mất hết, tất cả sẽ là Cộng sản hết nên họ muốn chặn lại theo ý nghĩa Việt Nam Cộng Hòa sẽ là tiền đồ của thế giới tự do. Chiến tranh bên kia quá lớn thì người Mỹ mới đem quân vào vì họ sợ mất.


Bên kia từ thời trước đã tuyên truyền nhiều, đặc biệt những năm xưa không phải giống như giới trẻ được biết về miền Bắc sau này, thời trước miền Bắc khép kín không khác gì Bắc Hàn bây giờ. Người trong Nam chúng tôi không bao giờ được biết ngoài Bắc có cái gì, cũng không có hình ảnh luôn vì họ không cho người ngoài vào thăm, chỉ số ít những người thân chế độ mới được vào. Hình ảnh mà tôi biết được là khi ông Phạm Huấn ra Hà Nội công tác một ngày với một số phóng viên, họ có chụp một số hình ảnh và viết bài Một ngày tại Hà Nội. Hình ảnh rất nhiều và tôi cũng được xem. Khi xem, cảm giác Hà Nội y nguyên như hồi gia đình tôi di cư năm 1954. Không có thay đổi, không cất nhà thêm, trông nghèo nàn lắm. Ngoài đường phố ô tô không có, toàn xe đạp không à, và rất nghèo khổ rách rưới. Tôi hiểu miền Bắc họ dồn hết viện trợ vào chiến tranh và đời sống của người dân với họ không quan trọng. Một bên quan trọng đời sống của người dân, một bên làm sao thắng chiến tranh và tất cả dồn cho chiến tranh. Giáo dục từ nhi đồng, đều là tinh thần yêu tổ quốc, chiến đấu theo gương Bác Hồ vĩ đại. Đối với những người miền Nam nghe rất sáo rỗng và buồn cười, nhưng tôi hiểu người miền Bắc lúc đó tinh thần họ như một và họ tin cái đó. Và nhờ những cái dối trá đó đã đưa đến chiến thắng. Mục đích của họ là muốn đánh chiếm miền Nam thì tiền vào súng đạn hết. Dân đói, ăn độn, dùng tem phiếu một tháng được mua mấy lạng thịt hay một năm được mua mấy mét vải. Trong khi miền Nam là một thế giới khác. Bây giờ lại nói đi giải phóng miền Nam, cả những gia đình không phải Cộng sản và Cộng sản, đều có lấn cấn trong đầu bởi vì trong Nam họ sống quá sung sướng, đời sống cao. Phương tiện có rất nhiều, tất cả những tân tiến đã có rất sớm ngay trong thập niên 60.


Nói chống Mỹ cứu nước thì họ phải nói vậy vì họ rất nhất quán. Nghe mới đầu có thể không tin còn ngờ vực nhưng nghe hoài rồi cũng tin. Ông Hồ Chí Minh còn nói đại khái là nếu đánh thắng sẽ giàu mạnh gấp 10 lần năm xưa nên họ càng muốn đi đánh. Nhưng tôi không thể tin được họ có thể nói ra những điều như đi giải phóng miền Nam vì 20 năm người dân miền Nam sống dưới ách nô lệ của thực dân mới Hoa Kỳ, rồi chế độ ngụy,…mà toàn dân vẫn tin. Nên tôi phải bái phục người Cộng sản họ có những lý thuyết như vậy, nhưng trình độ người dân lúc đó không thoát ra được vì họ phải sống khép kín.


Nói đánh Mỹ cứu nước, nhưng ông Hồ Chí Minh là Cộng sản quốc tế từ thời ông qua bên Nga, bên Pháp. Và ông Lê Duẩn thì nói chúng ta đánh Mỹ là đánh luôn cho cả Trung Quốc và Liên Xô. Tức là họ muốn mở rộng chủ nghĩa Cộng sản ra toàn thế giới, đâu phải đánh Mỹ để cứu nước hay giải phóng miền Nam.


RFA: Sau năm 1975, có một khoảng thời gian nhà báo vẫn sống ở Sài Gòn dưới sự điều hành của Chính phủ Hà Nội. Vậy ông nhận thấy điểm khác biệt gì nổi bật ở thời kỳ đó so với trước năm 1975?


Nhà báo Nam Nguyên: Chúng tôi thấy mình ở dưới địa ngục. Những người giàu, kha khá thì ở tầng đầu địa ngục, còn những người nghèo thì ở tầng giữa, hay tầng đáy. Tôi khổ lắm. Khi giải phóng là tôi mất hết nghề nghiệp, rồi bị bóc lột lấy luôn tiền bạc bằng các trận đổi tiền giới hạn số tiền đổi. Nhiều người mất nhà mất cửa, và nền kinh tế suy sụp hoàn toàn vì áp dụng chính sách xã hội chủ nghĩa. Lúc đó ông Đỗ Mười bảo rằng kinh tế quốc doanh theo đúng xã hội chủ nghĩa là tốt nhất, ngăn sông cấm chợ. Lý thuyết của ông ấy là quốc doanh hết, tỉnh này xài không hết thì trung ương sẽ lấy mang đi tỉnh khác chia. Đại khái là kinh tế không có sự lưu thông. Thành ra miền Nam trong 10 năm đầu tiên tan hoang luôn. Nếu họ áp dụng kinh tế thị trường của miền Nam có kiểm soát ngay từ đầu, và đừng có đánh tư sản hay cướp giật của người ta để giải phóng, thì có lẽ không đến nỗi tệ. Về sau ông Võ Văn Kiệt nói rằng có sự tự kiêu của Cộng sản và đã bỏ phí những cơ hội mà để cho mãi đến khi đổi mới 1986 nhưng thực tế phải đến 1990 thì đời sống mới khá lên. Nhưng nó sẽ đến một ngưỡng nào đó thôi, bởi vì vẫn còn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì nó nửa nạc nửa mỡ giống như độc tài chuyên chế nhưng do tổ chức của Đảng Cộng sản làm.


Những câu chuyện này xảy ra sau giải phóng thật đáng tiếc. Tôi muốn nêu thêm một ví dụ nữa, ở miền Nam năm 1965 dưới thời ông Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tức là Thủ tướng. Ông ấy có Chính phủ vì người nghèo, ông ấy đã làm một điều mà tôi thấy đến bây giờ Nhà nước Cộng sản vẫn chưa làm được. Ông ấy đã mở Tổng cục Tiếp tế và ở đó bán những thứ mà những người công chức quân đội có thể đến mua với giá rẻ, không có quota hay tem phiếu gì hết. Đặc biệt nữa là hữu sản hóa xe lam cho những người chạy xe lam, bán trả góp. Ông ấy đã thành công điều đó. Đối với cá nhân gia đình quân đội hay công chức, họ được mua trả góp hoặc trả hết. Chính phủ bây giờ còn chưa làm được điều đó cho quân đội hay công chức của mình. Và hữu sản hóa những cái như xe lam tôi thấy lại càng khó. Bây giờ thì họ đã thay đổi, nhưng lại nhiều vấn nạn sinh ra theo kiểu tư bản hoang dã, như lợi ích nhóm,…Cho nên tôi vẫn còn thương người Việt Nam mình lắm!


RFA: Xin chân thành cám ơn những chia sẻ của nhà báo!
40 NĂM NHÌN LẠI NHỮNG KHUÔN MẶT PHẢN CHIẾN MIỀN NAM.

trong danh bộ trí thức miền nam bấy giờ còn có sư Thích Nhất Hạnh người đã được Đệ Nhất Cộng Hòa gửi ra ngoại quốc học về sau quay mũi dùi đâm lại chế độ miền nam VN. Thích Nhất Hạnh đã tham gia những cuộc biểu tình chống chiến tranh ở miền nam tại Hoa Kỳ sau khi bị Đệ Nhất Cộng Hòa miền nam tống cổ khỏi đất nước... Còn sư Thích Trí Quang không phải là người khoa bảng như Thích Nhất Hạnh nên không được nhắc tới...trong bài ni...

Cho đến nay tôi vẫn thắc mắc rằng các sư sãi ni cô khuấy động chống chiến tranh tại miền nam lấy danh nghĩa là Diệm Nhu đàn áp Phật giáo, sau 1975 đi mô hết rồi sao không biểu tình chống đàn áp tôn giáo nữa...

Khi dân chủ và tự do được lợi dụng để khuấy động đất nước thì đó chính là những hành động ngu xuẩn. Không bao giờ có một chính phủ hoàn hảo mà chỉ có một chính phủ bị chà đạp vì sự ngu dốt và dân trí kém cõi.

“…Những tên tuổi trí thức khoa bảng như Trịnh Đình Thảo, Phùng Văn Cung, Hồ Thu, Nguyễn Hữu Thọ, Lâm Văn Tết, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị… đi theo Việt cộng cuối cùng gia đình tan nát…”

Bên sau núi là núi và vẫn còn trùng điệp núi non, hòn đá mang từ mặt trăng về và xa hơn nữa với bao thiên thạch từ những vụ nổ không ngừng trong vũ trụ, không thiếu những hạt bụi va lại chính nơi xuất phát.
Một cách ví von, người ta cho rằng cuộc di cư sau Hiệp định Geneve, 1954, đó là những cuộc bỏ phiếu bằng chân dành cho chế độ Cộng sản, mà nếu được tự do, đến cây trụ đèn cũng ra đi. Những người trí thức miền Nam hơn ai hết hiểu biết biến cố này nhưng một thiểu số, không nhiều họ đã hành động khác người, họ vẫn luôn trong ý nghĩ mình yêu nước, cho đến khi lương tâm bừng thức tỉnh cho dù quá muộn.
Một trong những trí thức trẻ theo Cộng sản vào thời điểm ấy, lãnh tụ sinh viên phản chiến Đoàn Văn Toại đã phát biểu như sau:


Đoàn Văn Toại
Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam. Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Nga Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng.” (ĐVT, Quần đảo ngục tù Việt Nam – The Vietnamese Gulag).

Con người luôn mơ ước đi tìm sự thật và tin rằng mình sẽ chộ sự thật. Huyền thoại rất gần với ước mơ và một bước rất gần đến hoang tưởng, huyễn hoặc rồi ngụy tín, vong thân.
Toại nguyên là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Sai Gòn từng biểu tình đòi Quốc Hội hủy bỏ cuộc bầu cử Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đốt xe Mỹ, viết điện tín gởi TT. Richard Nixon. Nhưng rồi cũng bị tù ngay trong những ngày đầu Cộng sản chiếm miền Nam. Thoát được ra nước ngoài, Đoàn Văn Toại viết sách so sánh hai chế độ lao tù trong quyển “Quần đảo ngục tù của người Việt Nam” (The Vietnamese Gulag).

Toại viết trong hồi ký, nhớ những ngày tù thời Việt Nam tự do, thức ăn không hết, còn làm khó chính phủ “cơm tù không đủ tiêu chuẩn” nên trả lại! Quần áo thay đổi liền liền; phòng giam Sài Gòn rộng rãi bằng 40 lần nhà tù mang tên HCM. Vào nhà tù cộng sản nghẹt thở, “nhà tù Thiệu rộng quá!”
Cuối cùng Đoàn Văn Toại đã thành thật sám hối, nhận tội trước lịch sử và nhân dân miền Nam: “Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi…”


Lê Hiếu Đằng

Người thứ hai là Lê Hiếu Đằng, quê Quảng Nam, theo học tại đại học Luật Khoa Sài Gòn, nguyên là phó Tổng Thư Ký Ủy ban Trung Ương Liên Minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (1968-1977), nguyên Tổng thư ký Uỷ Ban nhân dân Cách mạng khu Sài Gòn Gia Định (1969-1975), nguyên phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM (từ 1989-2009), là Đại biểu HĐND Thành phố khóa 4, khóa 5.
Từ 1975 đến 1983 Đằng là giảng viên Triết học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thuộc Khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Chức vụ sau cùng là Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đúng bảy tuần lễ trước khi nhắm mắt, người đảng viên hơn 40 tuổi đảng này đã ra tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản, mang theo nỗi ân hận tiếp tay cho “các tập đoàn lợi ích phản bội nông dân, phản bội dân tộc Việt Nam” (Lời của LHĐ nói với đài RFI). Và đây là nguyên văn bản tuyên bố viết tay của Lê Hiếu Đằng:
Tôi tên LÊ HIẾU ĐẰNG là ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VN, hơn 40 tuổi đảng. Nay tôi tuyên bố công khai ra khỏi đảng CSVN vì:
ĐCSVN bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân.
Tôi xin xác định đây là quyết định của tôi.
Ngày 04.12.2013
Lê Hiếu Đằng
(chữ ký)


Huỳnh Tấn Mẫm
Một tên tuổi khác, Huỳnh Tấn Mẫm, tên khai sinh là Trần Văn Thật, sinh tại Tân Sơn Hòa, tỉnh Gia Định học sinh Trung học Petrus Ký. Năm 1963, Mẫm đậu Tú tài toàn phần và trúng tuyển kỳ thi vào Đại học Y khoa Sài Gòn, vì học khá cho nên được Bộ Y tế chính phủ VNCH cấp học bổng. Mẫm tốt nghiệp BS Y khoa sau 1975.
Năm 1958, lên 15 tuổi, đang học lớp Đệ ngũ (lớp 8) trường Pétrus Ký, Mẫm được kết nạp vào tổ chức bí mật do Nguyễn Văn Chí (Sáu Chí) cầm đầu. Tại đây, Mẫm từng được giao công tác rải truyền đơn chống chính quyền Sài Gòn và năm 1960 được kết nạp vào Hội Liên hiệp Thanh niên Giải phóng Sài Gòn-Gia Định.

Năm 1963 Mẫm được kết nạp vào tổ chức của Cộng Sản vào thời kỳ Phong trào Phật Giáo.
Năm 1965, được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng.
Là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn – Gia Định nhiệm kỳ 1969-1970.
Từng là Đại biểu Quốc hội CS khóa 6, từng là Tổng biên tập đầu tiên của báo Thanh Niên.
Hiện là chủ tịch của cái gọi là “Hội Bảo Trợ Bệnh Nhân Nghèo Thiện Tâm”, thuộc Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Thành phố, Ủy viên Ủy Ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố HCM.
Tại Sài Gòn, ngày 4 tháng 7 năm 2014 Huỳnh Tấn Mẫm phổ biến một thư ngỏ gởi tuổi trẻ Việt Nam, kêu gọi những thế hệ Thanh niên – Sinh viên – Học sinh hôm nay thức tỉnh toàn diện trước một giai đoạn lịch sử. Trong thư có đoạn:

Sức mạnh có ưu thế nhất đang lớn lên từ trong tim và trong trí tuệ của các bạn, là niềm hy vọng của dân tộc – những thế hệ Thanh niên – Sinh viên – Học sinh hôm nay …
Mẫm kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam phải cương quyết làm người công dân tự do, dù xã hội chưa có luật pháp thừa nhận tự do đúng nghĩa. Phải cương quyết làm con người có quyền con người, dù quyền con người chưa được thừa nhận đầy đủ. Phải có quyền và có nghĩa vụ – quyền sống tự do và nghĩa vụ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ…”


Đào Hiếu

Một người khác, Đào Hiếu sinh năm 1946 tại Bình Định, gia nhập các phong trào học sinh hoạt động cho CS tại Quy Nhơn. Năm 1968 gia nhập đảng CS. Năm 1970 bị bắt quân dịch, sau đó đào ngũ vào Sài Gòn hoạt động với tổng hội sinh viên phản chiến cho tới 30-4-1975.
Hiếu tốt nghiệp Cử nhân văn chương trước 75, sau khi đất nước thống nhất, cộng tác với báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ. Năm 2009, sau nhiều lần bị công an gọi làm việc, Đào Hiếu bị buộc phải xóa hết bài trên trang web http://daohieu.com để đổi lấy an toàn bản thân, khỏi bị bắt giam. (*)
Sau 25 năm từ ngày 30-4 Đào Hiếu thức tỉnh và lên tiếng, vào năm 2000 Ông đã xuất bản tác phẩm Nổi Loạn gây được tiếng vang trong dư luận. như một tiếng nói lương tâm giữa bao suy thoái trong thời hòa bình.

Đào Hiếu đã phổ biến trên mạng bài viết HUYỀN THOẠI ĐU DÂY – Cho rằng hành động của Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và các Ủy viên bộ Chính trị năm 1990 tại hội nghị Thành Đô là một việc làm mà bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gọi là: “Bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm”. Bài viết khẳng định: Rõ ràng là ngay từ những ngày đầu thành lập chế độ, thì Việt Nam đã hành xử như một tỉnh lẻ của Trung Quốc. Từ trước 1945 đến nay, nhà cầm quyền CSVN đã một lòng theo Trung Quốc, đã chọn Trung Quốc làm ông chủ, đã nguyện nâng khăn sửa túi cho Trung Quốc, đã khép nép làm “con nuôi” của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và ngày nay là Tập Cận Bình.
Chỉ riêng về thời kỳ lịch sử miền Nam Việt Nam 1954-1975, những trí thức khoa bảng, tu sĩ và tuổi trẻ trong giới sinh viên nổi lên thành những tên tuổi trong các phong trào phản chiến, chống đối chế độ, tiếp tay hoặc đi theo hoạt động cho Cộng sản. Chúng ta còn nhớ những tên tuổi như Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, Trần Ngọc Liễng, (bà) Ngô Bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên…. Những tu sĩ như Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, và một số những tu sĩ Ấn Quang… cùng với nhóm SV Dương Văn Đầy, Trịnh Đình Ban, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Trần Thị Lan, Nguyễn Hữu Thái…. sau 30-4 trở thành những kẻ lạ giữa xã hội CS độc quyền chính trị.

Bi thảm thay, ở Huế, những đồ tể như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Thị Đoan Trinh… cũng chỉ là những miếng vỏ chanh để CS vắt tiếp trước khi vứt vào thùng rác.
Những tên tuổi trí thức khoa bảng như Trịnh Đình Thảo, Phùng Văn Cung, Hồ Thu, Nguyễn Hữu Thọ, Lâm Văn Tết, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị… đi theo Việt cộng cuối cùng gia đình tan nát. Khi tỉnh ngộ, bao nhiêu biệt thự, phố xá, đồn điền, gia sản, ruộng đất, cơ xưởng, cửa hàng, nhà thuốc tây… trở thành tài sản của nhà nước. Bản thân bị thất sủng, và chết trong âm thầm oán hận cộng sản.
Thật là nhục trước suy thoái đến tột cùng về kinh tế, đạo đức và ngày càng lệ thuộc Hán hóa, nhưng không có người nào mở lởi phản kháng, nói lời sám hối như Đoàn Văn Toại, hay mạnh dạn như Ông Bà Bác sĩ Đỗ Trung Hiếu, Ông Lê Hiếu Đằng, BS. Huỳnh Tấn Mẫm, Nhà văn Đào Hiếu…Lm. Chân Tín.

Nguyễn Quang Hồng Nhân




Nang Van Le

nangvanl@aol.com