Tuesday, March 21, 2017

PHẠM HỒNG THÚY * HỌA DIỆT CHỦNG

Phạm Hồng Thuý BBT: Đề tài này đã được Ba Cây Trúc đăng ngày 20 tháng 5, 2016. Tuy nhiên bài dưới đây đã được tac giả hiệu đính với nhiều chi tiết rõ ràng hơn nên chúng tôi cho tái đăng vì nội dung vẫn đáp ứng cho nhu cầu cảnh báo cấp bách của thời điểm hiện tại.
 
HỌA DIỆT CHỦNG
Author: Phạm Hồng Thuý Posted on:2017-03-15

Chinese Invsion


Từ lâu, Trung Quốc đã thực hiện cuôc diệt chủng đối với các dân tộc nhỏ để giành đất cho người Hán. Từ tháng 04.1975 tới cuối năm 1978, trên ba triệu người Campuchia đã bị hành quyết bằng cách đập vỡ sọ thông qua bàn tay Khơ me đỏ. Từ đấy loài người đã biết đến chính sách diệt chủng của Trung Quốc ở Campuchia, nhưng ít người biết rằng Trung Quốc đã thực hiên chính sách này đối với tất cả các dân tộc không phải người Hán. Ở Việt Nam cuộc diệt chủng đang bước vào giai đoạn khốc liệt.


Lá cờ Trung Quốc có 5 ngôi sao, ngôi lớn nhất thuộc về người Hán, 4 ngôi sao nhỏ giành cho các dân tộc Mãn, Hồi, Mông, Tạng, là 4 sắc tộc lớn nhất trong số hơn 100 sắc tộc không phải người Hán sống ở Trung Quốc. Chúng ta cùng nhau điểm lại, sau 67 năm dưới chế độ CHND Trung Hoa, trong tổng số 1400 triệu người, Trung Quốc còn lại bao nhiêu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng?


1. Người Mãn đã từng lập ra triều Mãn Thanh, cai trị nước Trung Hoa gần 3 thế kỷ (từ 1644 - 1912). Theo công bố của nhà nước Trung Quốc hiện nay còn 10,68 triệu người Mãn, nhưng thực tế con số thấp hơn nhiều, hầu như không còn ai nói tiếng Mãn hay có biểu hiện gì của sắc tộc này nữa.


2. Người „Hồi“ bao gồm 18 dân tộc ở Tân Cương, khu tự trị lớn nhất của Trung Quốc với diện tích 1,6 triệu km², dân số 21,8 triệu người, trong đó một nửa là người Hán. Người Duy Ngô Nhĩ là sắc dân chính tại đây chỉ còn lại 8,3 triệu người. (xem Tân Cương - Wikipedia)


3. Nội Mông là khu tự trị dành cho người gốc Mông cổ, từng lập ra triều đại Nguyên Mông cai trị nước Trung hoa hai thế kỷ 13 và 14, có diện tích 1,183 triệu km² và dân số 24,7 triệu người. Tuy nhiên người gốc Mông Cổ chỉ còn lại 3,6 triệu, chiếm 14,7% dân số toàn Khu tự trị (xem Nội Mông – Wikipedia).


4. Người Tạng với nền văn hóa rực rỡ, sống ở Khu tự trị Tây Tạng có diện tích 1,25 triệu km², nhưng dân số chỉ còn 3,18 triệu người, trong đó một phần đáng kể đã là người Hán (xem Tây Tạng – Wikipedia).


Tại các khu tự trị, thành phần dân tộc chính lại là người Hán. Hàng trăm triệu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng đã bị hủy diệt bằng mọi cách. Ở Việt Nam thảm họa diệt chủng đang đến nhưng rất ít người nhận ra điều này. Các thủ đoạn hủy diêt của Trung Quôc đã và đang diễn ra trên toàn cõi Việt Nam:


1/ TQ hủy diệt châu thổ sông Cửu Long, nguồn lương thực và thực phẩm chính của cả nước. Việc này chúng thực hiên bằng cách xây nhiều đập thủy điện ngăn sông Mê Kông, gây hạn hán và ngập mặn trầm trọng tại Đồng Bằng sông Cửu Long, đồng thời dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như dựng nhiều nhà máy, thải hóa chất độc, thả ốc bươu vàng, … nhằm phá hoại lúa, hoa màu và thủy sản trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (xem Google: Hạn hán và ngập mặn tại Đồng bằng Sông Cửu long).


2/ TQ ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ, phá hủy hàng ngàn tàu đánh cá của ngư dân Việt. Đổ khối lượng rất lớn chất độc dọc bờ Biển Đông để hủy diệt các hải sản ở biển và các vùng nuôi hải sản ven biển, đầu độc toàn bộ nguồn muối ăn của người Việt. Các chất độc đã hủy diệt sự sống trên vùng biển hàng ngàn km2. Với hàm lượng độc tố thấp hơn sẽ gây các bệnh rất nguy hiểm cho hệ thần kinh và thiểu năng trí tuệ cho nhiều thế hệ về sau (xem „Bệnh Minamata – Wikipedia và xem Google: Cá chết hàng loạt ở Việt Nam)


3/ TQ hủy diệt các sông ngòi trên toàn bộ miền Trung thông qua hàng trăm đập thủy điện, khai thác bauxite, thương lái TQ bày trò mua chanh leo giá cao để nông dân Việt Nam phá hàng ngàn hecta cà phê, điều, hồ tiêu; Cung cấp máy xung điện và hóa chất để bắt giun đất và mua giun với giá cao để phá hủy đất trông trọt; Mua vét rong biển để triệt hạ vùng sinh thái của cá…nhằm phá hoại kinh tế người Việt (xem Google : thương lái Trung Quốc phá hoại kinh tế Việt Nam)


4/ TQ xây nhiều đập phía thượng nguồn sông Hồng và sông Đà, làm suy kiệt sông Hồng từ nhiều năm. Chuẩn bị đại dự án sông Hồng với 6 đập thủy điện mới, hủy diệt hoàn toàn hệ sinh thái Châu thổ sông Hồng (xem Google: Đại dự án Sông Hồng).


5/ TQ xây dựng hàng ngàn nhà máy, hãng, xưởng trấn giữ các vị trí quân sự quan trọng, đồng thời thải hàng trăm ngàn tấn chất độc, hủy diệt khí quyển và các nguồn nước. Trong khí thải các nhà máy ở Việt Nam với thiết bị Trung Quốc, hàm lượng các khí thải độc hại như CO, SO2, H2S, Hg … đều cao hơn từ 19 lần tới 125 lần hàm lượng cho phép. Chất thải đổ xuống nước đã làm chết rất nhiều sông ngòi như Thị Nại, La Ngà, Bưởi, Nhiêu Lộc… và hàng ngàn km bờ biển (xem Google “Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam“)


6/ TQ tung thực phẩm, dược phẩm và hàng hóa độc hại cùng các hóa chất chế biến thực phẩm độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam, đồng thời thương lái Trung Quốc mua vét các loại thực phẩm sạch để người Việt chỉ có thể sống bằng thực phẩm độc hại, suy yếu, ngu đần và chết dần vì bệnh tật. Hiện nay số người Việt bị ung thư, nhũn não, đột quỵ và nhiều bệnh hiểm nghèo khác đã ở mức cao nhất thế giới (xem Google: Thực phẩm độc hại tràn lan tại Việt Nam).


Từ năm 2017, nếu không kịp thời ngăn chặn, nạn đói, bệnh tật và nạn trôm cướp sẽ lan tràn khắp Việt Nam, xã hội sẽ trở nên hoàn toàn hỗn loạn. Với danh nghĩa „cứu trợ“ và „vãn hồi trật tự“ hàng triệu „ chí quân nguyện Trung quốc “ sẽ tràn ngập Việt Nam. Sau khi chính thức bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020 (xem Google „Hội nghị Thành Đô“), dân tộc Việt Nam như cá nằm trên thớt, mức độ hủy diệt sẽ tàn bạo hơn nhiều.


Sau khi sát nhập, bộ đội và công an VN cùng hàng chục triệu đàn ông ở tuổi lao động và con trai sẽ bị cưỡng bức tới những vùng biên cương xa xôi phía bắc Trung Quốc, để vợ và con gái ở lại. Điều này đã từng xẩy ra ở Tây Tạng từ năm 1959. Hàng chục triệu đàn ông TQ sẽ sang thế chỗ, lấy vợ và định cư ở VN. Sau 20 năm nữa con số 90 triệu người Việt liệu có còn tới 10 triệu như người Mãn hay tới 3 triệu như người Tạng không? Trong số người sống sót có bao nhiêu triệu thanh thiếu niên tật nguyền do cha mẹ ăn phải chất độc của Trung Quốc?


Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, nếu 90 triệu người Việt không đứng dậy cứu mình trước. Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới mọi người, mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên ngăn chặn thảm họa diệt chủng đã đến ngay trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng hỗ trợ chúng ta.


TUYÊN TRUYỀN RỘNG RÃI VỀ THẢM HỌA DIỆT CHỦNG LÀ VIỆC TRỌNG YẾU VÀ HẾT SỨC CẤP BÁCH !


Trong số 93 triệu người Việt, mới chỉ rất ít người nhìn thấy thảm họa diệt chủng. HÃY CÙNG NHAU TUYÊN TRUYỀN THẬT RỘNG RÃI ĐỂ MỌI NGƯỜI CÙNG BIẾT và LÀM THÀNH SỨC MẠNH CẢ DÂN TỘC.


Với những người chưa biết, đặc biệt trong công an, quân đội và đảng viên cộng sản, cần tuyên truyền cho họ biết. Với những người đã biết nhưng chưa tin, nhiều người kiên trì giải thích họ sẽ tin.


Có những người vì quá sợ hãi, đành chấp nhận MẤT NƯỚC, khi nhận ra THẢM HỌA DIỆT CHỦNG sẽ phải thức tỉnh. Những kẻ cố ý bán rẻ đất nước và quyền lợi dân tộc chỉ là số ít, sẽ bị dẫm nát dưới sức mạnh cả dân tộc.


Mong mỗi Quý Vị hãy chuyển tiếp bài này tới nhiều người khác. Nếu mỗi người chuyển thông tin tới 10 người, từ 10 người tới 100 người, tiếp tục 5 bước như vậy sẽ có hàng chục triệu người nhận ra sự thật và thảm họa diệt chủng sẽ bị ngăn chặn. Dân tộc Việt Nam sẽ đời đời nhớ ơn tất cả các bạn đã góp phần truyền bá thông tin để ngăn chặn thảm họa khủng khiếp này, góp phần cho tổ quốc và dân tộc mãi mãi trường tồn. Nếu bạn chờ đợi một người lãnh đạo phất cờ để bạn cùng đứng lên, xin nghĩ rằng chính bạn là người ấy và mọi người đang chờ đợi bạn phất cờ!


Không thể hy vọng Nhà nước VN bảo vệ đất nước và chống TQ. Tại Hội nghị Thành Đô 1990, chính lãnh đạo CSVN đã ký kết dâng Việt Nam cho Trung Quốc để bảo vệ cho Đảng CSVN (xem Google „Hội nghị Thành Đô“), sau khi nhân dân các nước cộng sản Đông Âu đồng loạt nổi dậy lật đổ chế độ CS cuối năm 1989 (xem “Sự sụp đổ Liên xô và Đông Âu – Wikipedia“).


Hiện nay công an và quân đội chỉ còn là công cụ đàn áp nhân dân và dọn đường cho quân xâm lược. Thời Bắc thuộc tuy mất nước nhưng còn dân tộc nên nhân dân ta đã giành lại đất nước năm 905. Hiện nay TQ vừa chiếm đất vừa diệt chủng, nếu không giữ được đất nước, dân tộc Việt Nam sẽ bị diệt vong. Nạn nhân tiếp theo sẽ là các dân tộc Lào, Campuchia, Thái Lan cùng toàn vùng Đông Nam Á.


THỜI GIAN KHÔNG CÒN NHIỀU NỮA. Theo hiệp định bán nước Thành Đô 1990, Việt Nam sẽ bị sát nhập vào Trung Quốc năm 2020. Khi nạn đói, bệnh tật hoành hành và quân Trung Quốc tràn ngập lãnh thổ, mọi việc sẽ trở nên vô cùng khó khăn. CẦN HÀNH ĐÔNG NGAY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN.


TUYÊN TRUYỀN SỰ THẬT để NGĂN CHĂN NẠN DIÊT CHỦNG LÀ NGHĨA VỤ CỦA MỖI NGƯỜI ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC ! VẬN MỆNH CẢ DÂN TỘC NẰM TRONG TAY MỖI NGƯỜI CHÚNG TA !


Kính nhờ Quý Vị chuyển tiếp bài này lên các cơ quan truyền thông, đài phát thanh và truyền, hình, các báo chí trong nước và ngoài nước… để Thế giới cùng biết và lên tiếng ủng hộ chúng ta.


Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các cơ quan truyền thông trên toàn thế giới loan báo tin dữ này để chính phủ và nhân dân các nước cùng góp sức với nhân dân Việt Nam và toàn vùng Đông Nam Á ngăn chặn thảm họa diệt chủng lớn nhất trong lịch sử, đồng thời bảo vệ an ninh cho toàn nhân loại. Để góp phần ngăn chặn thảm họa diệt chủng, các bạn hãy chia sẻ tin này và gắn thẻ cho các bạn bè để mọi người cùng đọc. Việc làm của bạn sẽ là giọt nước làm tràn ly, chặn đứng thảm họa cho cả dân tộc. Dân tộc Việt Nam ghi nhớ công ơn các bạn muôn đời !


Nhiều bạn cho biết hiện không vào được Facebook Hong Thuy Pham nữa. Bạn nào còn vào được xin copy lại các bài viết, đưa vào „dòng thời gian“ trên facebook của bạn và găn thẻ cho các bạn khác để mọi người cùng đọc.


Khi có điều kiện, mong các bạn dịch giúp các bài này sang các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga, Hoa, Nhật, Italy, Tây ban nha... và gửi đăng trên các báo chí, gửi các đài truyền hình và phát thanh nước ngoài để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới và kiều bào ở nước ngoài đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta.

Phạm Hồng Thuý

---------

HÒANG HẢI THỦY * BA BÓ, TÁM BÓ




Hoàng Hải Thủy
BA BÓ, TÁM BÓ

Buổi sáng đầu năm ở quê người, trước khung hình computer, tôi buồn vời vợi. Buồn và tuyệt vọng. Cuộc sống không còn có gì cho tôi vui. Mùa đông Virginia, tuyết làm duyên, vườn đất Virginia mùa đông cũng có tuyết, nhưng tuyết làm cảnh, tuyết thoáng qua, như không lẽ Virginia Mùa Đông lại không có tuyết.


Trong phòng ấm, ly cà phê nóng, màn ảnh TiVi trình diễn những khuôn mặt phụ nữ Mỹ trẻ, duyên, hấp dẫn, những chuyên viên xướng ngôn TiVi tiếng Mỹ được gọi là những anchor; người đàn bà sống với tôi trong 60 năm ngồi với ly cà phê bên tôi.


Lúc 5 giờ sáng, trong căn phòng Housing for Seniors Low Income – tôi trở dậy. Tôi pha ly cà phê cho tôi, tôi làm sẵn ly cà phê đợi vợ tôi dậy là pha nước sôi. Chúng tôi bắt đầu một ngày sống bên nhau. Có nàng sống chung, tim tôi vẫn nặng. Tim tôi nặng vì tôi biết tôi không còn được sống với nàng bao lâu nữa. Chúng tôi có thể vĩnh biệt nhau bất cứ lúc nào. Một sáng nào đó trong căn phòng người lưu vong già đầy ắp kỷ niệm, nàng không dậy nữa.


Nàng không dậy nữa…!


Thế là xong. Tôi biết cảnh đó sẽ đến, sắp đến, nó có thể đến với tôi trong bất kỳ buổi sáng nào, nhưng tôi không thể tưởng khi nàng không trở dậy, đứng bên giường nàng tôi sẽ nghĩ gì, tôi sẽ làm gì. Tôi sợ tôi phải sống không có nàng. Tôi không thể sống không có nàng.


Tôi nhớ lại những buổi sáng năm xưa tôi trở dậy trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, xương cốt mỏi rừ vì nằm co quắp trên bệ xi-măng. Tôi bị bắt giam hai lần. Lần thứ nhất tù trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, hai năm, lần thứ hai tù sáu năm, trong số có 4 năm tù trong Nhà Tù Chí Hòa.


Tôi nhớ những buổi sáng tôi ngồi trong vùng sáng mờ từ bên ngoài lọt vào qua ô cửa gió – ô cửa gió trên cửa sắt sà-lim nhỏ bằng quyển sách – ca nước lạnh để trước mặt, thèm ly cà-phê nóng, thèm khói thuốc lá, tù không biết ngày nào được trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền, nhưng những buổi sáng trong sà-lim ấy tôi không buồn, không tuyệt vọng… như những buổi sáng năm nay tôi sống an ninh ở xứ Mỹ.


Buổi sáng hôm nay, tôi vào kho Ký Ức, tìm lại hình ảnh những người bạn tôi đã từ bỏ cõi đời này kể từ Ngày 30 Tháng Tư 1975. Tháng tận, năm cùng, Tết đến. Viết về những Người Bạn Đã Chết – theo tôi – là đúng Sách Vở. Tôi núp sau câu “Sinh Dữ, Tử Lành.” Ông cha tôi nói theo kinh nghiệm:





Di ảnh Nhà Văn Nguyễn Đức Quỳnh.


“Nói chuyện Sinh Đẻ là không nên, nói chuyện Chết là tốt.”

Tại sao ông cha tôi lại quả quyết như thế? Tôi không biết.

Người bạn nào của tôi ra đi trước nhất sau Tháng Tư 1975? Tôi nhớ có thể không đúng. Đành nhớ ai viết về người ấy, đành nhớ chuyện gì viết về chuyện ấy.

“Tuổi phong sương anh vẫn gắng quay về..”

Anh Già Tám Bó vất vả gượng nhớ, gượng kể những chuyện xẩy ra từ 40, 50 năm xưa. Những chuyện xưa quá rồi, làm sao anh kề đúng chăm phần chăm? Nếu có kể sai, xin bỏ qua. Cám ơn.
Trước năm 1975 tôi đưa tiễn hai người đến nơi an nghỉ cuối cùng: anh Nguyễn Đức Quỳnh, và anh Từ Chung. Nhà Văn Nguyễn Đức Quỳnh là đàn anh tôi. Tôi không được thân với anh. Nên khi đưa anh đến nơi anh an nghỉ ngàn đời, tôi không có gì đáng gọi là xúc động, Đám tang anh có đông văn nghệ sĩ đi đưa.

Những năm 1968, 1969 – Tết Mậu Thân – tôi sống trong căn nhà nhỏ cạnh nhà Duy Sinh – Nhà Số 19 hay nhà Số 21 đường Hồ Biểu Chánh – có lần anh Quỳnh đến ở chơi nhà Duy Sinh, con anh. Duy Sinh thường gọi tôi sang ăn cơm với anh. Một lần anh Quỳnh bảo tôi:
“Tôi nghe tiếng máy đánh chữ của anh; biết anh đang viết, tôi rất thích.”

Tôi bằng tuổi Duy Sinh, tôi mày tao với Duy Sinh. Lẽ ra tôi phải gọi anh Quỳnh là bác, nhưng anh vẫn cho tôi gọi anh là anh. Ngôn ngữ trong giới văn nghệ là như thế. Mày tao với anh con, anh tôi với ông bố bạn.
Duy Sinh kẹt lại ở Sài Gòn, anh và gia đình vượt biên sang Mỹ khoảng năm 1978. Nghe nói những năm đầu Duy Sinh nổi tiếng với danh vị chủ báo. Năm 1995 tôi đến Cali, gặp lại nhiều anh em, nhưng tôi không gặp lại Duy Sinh. Từ mấy năm nay tôi nghe nói Duy Sinh yếu, lãng trí, hay mặc áo thun, quần cụt đi ra đường.

Qua Duy Sinh tôi được quen với Lê Trọng Nguyễn. Từ năm 1980 đến năm 1984 là năm Lê Trọng Nguyễn và vợ con anh sang Mỹ. Nguyễn và tôi rất thân nhau. Gần như chiều nào chúng tôi cũng gặp nhau. Chúng tôi thường trên hai xe đạp, đến ngồi uống rượu ở quán rượu nghèo ven đường xe lửa Cổng Số 6. Quán rượu này có thể được gọi là quán rượu nghèo nhất thế giới. Rựơu đế 1 đồng một ly, nhâm nhi với lạc rang 1 đồng một gói. Mỗi chiếu-tối ngồi quán nghèo như thế chúng tôi chi khoảng 10 đồng: 4 ly rượu, 4 gói lạc rang.

Tôi có mấy câu thơ tặng Nguyễn:

Xót mày dạ trúc, lòng tơ
Họa cung đàn mọi bây giờ hẳn đau.
Tóc chia hai thứ trên đầu.
Thương thì đã muộn mà sầu lại dư.
Này Lê, này Nguyễn đều hư.
Nắng Chiều mà gặp trời mưa thì phèo. “



Vợ Nguyễn được gia đình bảo lãnh sang Mỹ, Nguyễn đi theo vợ con. Năm 1995 khi vợ chồng tôi đến Cali, Nguyễn chỉ phone nói chuyện với tôi, tôi không được gặp lại Nguyễn ở Mỹ.

Từ Chung từng là bạn mày tao với tôi từ thời nhật báo Ngôn Luận. Ngôn Luận bị đóng cửa, Nhật báo Chính Luận ra đời, Từ Chung và tôi xa nhau. Đời anh lên hương, lên dốc, đời tôi xuống dốc không phanh. Từ Chung có Chính Luận, tôi mấtSa2igoonmoi. Trong đám người đưa tiễn Từ Chung, tôi thấy tôi là người xa lạ, người khách không được trọng, người bạn bị bỏ quên.
Chính Luận là tờ báo duy nhất kể từ ngày Việt Nam có nhật báo cung cấp dịch vụ y tế cho nhân viên. Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm được mời làm y sĩ điều trị cho nhân viên báo Chính Luận. Nhân viên Chính Luận đau ốm được đến phòng mạch của BS Phiếm, khám chữa bệnh miễn phí. Nhà báo đài thọ chi phí thuốc men cho nhân viên. Nhà báo vẫn tháng tháng trả lương Cố Thư Ký Tòa Soạn Từ Chung cho bà vợ của Từ Chung. Trả lương đều cho đến ngày bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn. Trong lịch sủ nhật báo Việt Nam chỉ có nhật báo Chính Luận trả lương tháng cho vị Thư Ký Sáng Lập đã chết.


Cảm giác bị đời bỏ quên năm xưa ấy trở lại với tôi trong buổi ký giả Phạm Trần tổ chức buổi gặp lại anh Huyền Vũ. Trước ngày Nhật báo Sàigonmới bị bóp cổ chết – Tháng Tư 1964 – ký giả Huyền Vũ là biệp tập viên mục Thể Thao Nhật báo Sàigònmới. Mỗi tuần ít nhất là hai, ba buổi sáng tôi được gặp anh Huyền Vũ ở tòa soạn báo. Anh đến tòa báo viết tin. Anh đi khỏi Sài Gòn trước Ngày 30 Tháng Tư 1975. Sang Mỹ anh sống ở Ocean City, một thị trấn ven biển cách Washington DC khoảng ba giờ chạy xe. Ngày tôi mới đến anh gọi điện thoại hỏi thăm tôi.


Ngày tháng qua mau. Trong buổi gặp lại anh, tôi tưởng trong số người được ban tổ chức mời kể vài kỷ niệm xưa với anh Huyền Vũ thể nào cũng có tôi. Tôi là người duy nhất trong số người đến gập anh lần cuối ấy từng làm việc với anh trong một tòa báo. Nphamnhưng tôi đã bị bỏ quên. Người ta mời nhiều người kể kỷ niệm với anh Huyền Vũ, người ta không mời tôi. Hôm ấy tôi đến gần anh Huyền Vũ, cúi xuống bên anh, nói nhỏ:


“Anh Huyền Vũ, tôi là Hoàng Hải Thủy. Anh nhớ tôi không?”
Anh nói bốn tiếng:
“Làm sao quên được.”
Anh ra đi vài tháng sau đó.
 
Dương Hà, tác giả Bên Dòng Sông Trẹm, Thủ Đức năm 2005. Dương Hà nay sống bình yên ở Thủ Đức.
Dương Hà, tác giả Bên Dòng Sông Trẹm, Thủ Đức năm 2005. Dương Hà nay sống bình yên ở Thủ Đức.


Một trong những người bạn đồng nghiệp của tôi ra đi sớm nhất sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 là Trọng Nguyên. Anh cùng làm việc với tôi nhiều năm trong tòa soạn nhật báo Sàigònmới. chúng tôi trạc tuổi nhau. Khoảng năm 1976 gặp lại nhau, Trọng Nguyên cho tôi biết anh bị ung thư phổi. Tôi đến Bệnh Viện Hồng Bàng thăm anh. Rồi tôi đến Bệnh Viện Bình Dân thăm anh khi anh đến đấy chờ giải phẫu. Lần thứ nhất tôi vào Khu Ung Thư Bệnh Viện Bình Dân thăm Trọng Nguyên. Khi ấy tôi đã sống 24 tháng trong phòng giam Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu. tôi thấy Khu Ung Thư, ở trên lầu Bệnh Viện Bình Dân, không khí ghê rợn hơn ở những phòng giam Số 4 Phan Đăng Lưu. Ở phòng giam tù có mùi hơi người, mùi lông tóc, mùi mồ hôi, mùi cống, ở phòng Ung Thư Bệnh Viện có đủ những thứ mùi vừa kể, thêm mùi máu, mùi mủ, những người bệnh đàn ông ở trần, khoác cái khăn trước bụng.

Buổi tối, tôi đến Tang Nghi Quán Quảng Đông chào vĩnh biệt Trọng Nguyên. Linh cữu Trong Nguyên quàn ở đấy. chị Trọng Nguyên kể:
“Buổi sáng nhà tôi bảo tôi mở tủ, lấy ra cái máy chữ và mấy quyển tiểu thuyết của anh, anh ngồi yên nhìn ngắm. Anh đi lúc bẩy giờ tối.”
Năm 1980 ở tù hai năm trở về, tôi được tin Minh Đăng Khánh bị liệt. Nghe kể anh hút điếu thuốc lào, bị sốc, ngã xuống, tỉnh lại, bị liệt nửa người bên trái. Anh ngã xuống là không tự đứng lên được, anh vẫn lết chân trái đi lại được, nhưng đi rất chậm và vất vả. Anh vẫn dậy vẽ ở nhà. Anh nói ngọng nhưng còn nói được:

“Tao vào tiệm phở, người ta cho tiền tao. Tao nói: “Cám ơn.. Tôi không phải là ăn mày.”
Đưa đám Minh Đăng Khánh, tôi đứng bên anh Thiếu Lang. Anh hỏi tôi:
“Cậu có biết Hoàng Hải Thủy bây giờ ra sao không?”
Biết anh tưởng lầm, tôi hỏi lại anh:
“Anh thấy tôi là ai?”
Anh trả lời:
“Cậu là Hoàng Anh Tuấn chứ ai!”

Mạc Tử, kém Trọng Nguyên và tôi hai, ba tuổi, làm phóng viên báo Sàigònmới cùng thời với chúng tôi. Tháng Tư 1964 Sàigònmới bị Nguyễn Khánh, Đỗ Mâu đóng cửa. Anh em chúng tôi tản lạc. Mạc Tử đi quân dịch. Tôi nghe kể trong một cuộc hành quân, người lính Mạc Tử bị tên VC bắn sẻ bắn trúng tim. Mạc Tử chết ngay. Mạc Tử không vợ, không con
Anh bạn bị bại liệt thứ hai của tôi là Văn Minh, chủ nhiệm Tuần Báo Con Ong. Xước danh của anh là Minh Vồ, dù cả đời anh chẳng vồ cái gì của ai. Minh bị nằm liệt khoảng ba năm trước khi hết nợ đời.

Trong đám tang Văn Minh, chị Minh bảo tôi nói lời vĩnh biệt anh. Đứng bên quan tài Minh, tôi nói:
“Minh ơi.. Khi người ta đi ra khỏi cõi đời này, người ta đi lên, hay người ta đi xuống. Khi chúng ta đi ra khỏi cõi đời này, chúng ta đi ngang. Minh sang bên ấy trước, chúng tôi sang sau.”

o O o


Chú Tư Cầu Lê Xuyên bị bại liệt khoảng năm 2000. Chú là người viết tiểu thuyết duy nhất kiếm được tiền đủ sống cho riêng chú trong kìm kẹp cộng sản. Sau 30 Tháng Tư 1975 chú bị bắt tù cùng một số ký giả Sài Gòn. Được thả ra khoảng một năm sau, chú bắt tay ngày vào việc đi xe đạp sáng sớm lấy bánh tiêu, bánh bò trong lò bánh của người Tầu ở Chợ Lớn, đạp xe đem đi giao khắp thành phố, buổi chiếu chú đạp xe đi thu tiền. Rồi chú làm chủ tủ bán thuốc lá lẻ vỉa hè. Chú ngồi sau tủ thuốc từ 5 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Chú kiếm tiền tuy không nuôi được vọ con chú nhưng nuôi được thân chú.
Khoảng năm 1981, hay 1982, vợ tôi không ăn được cơm. Khoảng 8 giờ tối, tôi thường xách cái gà-men ra xe hủ tíu ở vỉa hè Ngã Ba Ông Tạ mua cho vợ tôi 10 đồng hủ tíu. Một tối trời mưa lất phất, đang đứng chờ lấy hủ tíu, tôi nghe tiếng người:

“Có tiền cho tôi..”

Tôi nhận ra ngay người xin tiền tôi là Bình Đô. Anh là một trong những người sống bằng việc viết truyện ngắn bán cho tuần bào Phụ Nữ Ngày Mai trong những năm tuần báo này bán chạy nhất. Bình Đô trạc tuổi tôi. Kể từ ngày nhật báo SGM bị đóng cửa Tháng Tư năm 1964 đến tối nay tôi mới gặp lại Bình Đô. Tôi hỏi anh:






Hoàng Hải Thủy, phóng viên nhật báo Saigonmới, ở phi trường Qui Nhơn năm 1960.

“Ở đâu?”

Anh trả lời:
“Ở vỉa.”
“Ở vỉa” là đêm ngủ trên vỉa hè.

Phụ Nữ Ngày Mai là tuần báo của anh Sáu Khiết, anh con thứ sáu của bà Bút Trà. Sáu Khiết có cái tốt – tôi thấy anh là người chủ báo tốt nhất trong đời viết, bán truyện tiểu thuyết của tôi: anh mua truyện ngắn, ký bông trả tiền ngay nhưng không đăng ngay, mua để dành. Truyện ngắn mua xong anh đưa cho Dương Hà giữ. Mỗi truyện ngắn được trả 500 đồng.
Nhiều lần ký bông trả tiền xong, Sáu Khiết bảo tôi:
“Anh đưa truyện cho Dương Hà dùm tôi.”
Dương Hà là người được giao việc nhận và sắp xếp những truyện đăng trên tuần báo Phụ Nữ Ngày Mai.

Tôi giữ truyện, đổi tên truyện, khoảng hai, ba tuầu sau tôi lại đem truyện ấy, với tên truyện mới, bán cho Sáu Khiết, anh dễ dàng ký bông trả tiền.
Dương Hà giữ truyện của chúng tôi nhiều đến nỗi nhiều lần anh bảo:
“Truyên của chúng mày tao giữ nhiều quá. Chúng mày đến tao, tao đưa lại cho.”

Dương Hà sống nhiều năm trong một phòng cho mướn trên lầu một tòa nhà nhiều phòng ở đầu đường Hàm Nghi. Từ nhà này anh chỉ đi trăm bước là tới tòa báo SàiGònMới. Dương Hà sống với vợ ở nhà ấy trong nhiều năm. Rồi chắc nhờ công thu vén của vợ anh là Kim Lệ, vợ chồng anh có căn nhà mặt tiền đường Cao Thắng, trước cửa rạp xi-nê Cao Đồng Hưng. Khoảng năm 1980 Kim Lệ sang sống bên Pháp. Dương Hà và các con sống trong căn nhà Cao Thắng này. Tôi nghe nói khoảng năm 1995 Dương Hà bán căn nhà này, chia tiền cho các con, anh gửi số tiền của anh vào ngân hàng, tháng tháng lấy tiền lời để sống. Anh sống yên bình ở vùng Thủ Đức, sáng, trưa, chiều, tối anh ngồi quán, quanh năm anh uống bia, ăn hột vịt lộn, tôm chiên, không ăn cơm.


Dưng Hà thành công, nổi tiếng ngay với tiểu thuyết Bên Dòng Sông Trẹm, tiểu thuyết phơi-ơ-tông đầu tay của anh. Bên Dòng Sông Trẹm đăng khoảng năm 1950 trên báo Sàigònmới. Từ đó anh viết truyện đều cho SGM đến khi báo bị đóng cửa.


Tôi gặp, quen Văn Quang khoảng năm 1955, 1956, khi anh là Trung Úy. Ngày chúng tôi mất nước, Văn Quang là Trung Tá. Anh – có thể – là vị sĩ quan Quân Đội VNCH duy nhất không đi Hát Ô sang Mỹ. Ở lại Sài Gòn, vào khoảng năm 2000 Văn Quang viết loạt bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự” gửi sang đăng ở những tờ báo Việt ngữ hải ngoại. Nhờ Internet, anh dễ dang gửi bài viết ra nước ngoài, rõ hơn là sang Mỹ, Canada, Úc. Văn Quang là văn sĩ Sài Gòn trước 1975 thứ nhất viết và gửi tác phẩm ra nước ngoài. Văn Quang sống được với công việc ấy. Anh là nhà văn Việt Nam Cộng Hòa kiếm được nhiều đô-la Mỹ nhất với việc Viết ở Sài Gòn Cờ Đỏ.

Tạ Quang Khôi cùng viết với tôi trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Số 1, tuần báo ra đời năm 1956. Trên Văn Nghệ Tiền Phong Tạ Quang Khôi viết tiểu thuyết “Mưa Gió Miền Nam,” tôi viết “Vũ Nữ Sài Gòn.”
Nửa thế kỷ trôi qua, nay Tạ Quang Khôi tuổi đời Tám Bó Tám Que. 88 tuổi. Dòng đời đưa đẩy, nay Khôi và tôi cùng sống trong một nhà dành cho người già thu nhập thấp. Anh ở Lầu Ba, tôi ở Lầu Hai. Một mình trong phòng vắng, từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, Tạ Quang Khôi ngồi trước computer, moi móc tìm, rị mọ viết, gửi và nhận e-mail.

Nghe tôi nói tôi sợ tôi không sống được nếu cuộc đời này không còn vơ tôi, TQ Khôi nói:
“Mày tưởng chỉ có mình mày yêu vợ ư? Sau ngày mất nước, vợ tao chết, tao quyết định chết theo. Đêm khuya tao sắp uống thuốc để sáng mai không dậy nữa, tao nghe tiếng con tao:

“Bố ơi… Con khát nước..”
Tiếng thằng con út của tao Năm đó nó mới bẩy, tám tuổi. Tỉnh lại, tao vứt thuốc. Sáu tháng sau tao đưa các con tao vượt biên đi thoát.”

Đây là bài Thơ Cuối Đời của Tạ Quang Khôi:

Buổi tối vào giường chỉ ước mong
Sáng mai không dậy nữa là xong.
Cuộc đời lắm nỗi buồn tê tái,
Tha thiết chi cho nát cõi lòng.


Bao giờ tôi chết, xin đừng khóc
Để níu chân tôi vướng cõi trần.
Xin hãy cười vui giờ vĩnh biệt,
Mừng tôi đã thoát nợ gian truân.


Cảm khái cách gì.

Những ngày như lá, tháng như mây…! Sài Gòn 1960, Sài Gòn Ðẹp Lắm Sài Gòn ơi.., Virginia is for American Lovers, Xứ Tình Nhân Mỹ, Kỳ Hoa Ðất Trích.. Chiều 5 giờ trời đã tối… Thấm thoắt dzậy mà đã 50 muà lá rụng đi qua đời tôi kể từ ngày tôi bước chân ra khỏi tòa soạn Nhật báo Sàigònmới lần cuối cùng trong đời tôi.


Chiều nay, trong 234 sát-na tôi trở về đứng trên hành lang trên lầu toà soạn nhật báo Sàigònmới, nhìn trời Sài Gòn chiều chuyển mưa xanh sám trên chợ Bến Thành, tôi nghĩ:
– Trong một chiều trời đất buồn như thế này, Từ Hải dừng bước giang hồ để trở về với Kiều!
Tôi trở lại là tôi năm tôi ba mươi tuổi.

Năm nay tuổi đời qua giới hạn Bát Thập – nôm na là Tám Bó Lẻ Bốn Que – ở xứ người, một xứ cách nước tôi hai biển lớn, trong vài sát-na, tôi trở lại là tôi năm tuổi đời tôi Ba Bó.
Trong trí nhớ của tôi nay vẫn còn nguyên hình ảnh chàng phóng viên lãng tử nhật báo Sàigònmới năm xưa – năm 1960 – chàng phóng viên ăn dziện đúng mode Italie: sơ-mi hai túi ngực, hai cây bút Bi Parker cắm ở hai túi áo, một bút mực đen, một bút mực đỏ, đồng hồ tay Internamatic, mặt đen, mua ở Bangkok, quần sanspli, giầy mocassin Trinh’s Shoes Tự Do 500 đồng một đôi – 500 đồng năm ấy là giá tiền một chỉ vàng – trong túi áo ngực có bao thuốc điếu Lucky Strike, hay bao Philip Morris Vàng, quẹt máy Dupont Trắng dắt ở túi đựng bật lửa nơi lưng quần. Chàng phóng viên mới ba mươi tuổi mà tóc đã “không bạc, tóc chàng là tóc argenté.”


Tôi già đi nhưng chàng phóng viên ấy cứ ba mươi tuổi mãi.
Cảm khái cách gì!
Hoàng Hải Thủy



DAO LE * DU TỬ LÊ - NGƯỜI BỘI PHẢN - KẺ TRỞ CỜ


DU TỬ LÊ - 
NGƯỜI BỘI PHẢN -
KẺ TRỞ CỜ 
          Xem để biết rõ mặt thật của DU TỬ LÊ mà từ lâu ai ngờ?
 
 
   Dao Le

DU TỬ LÊ (bút hiệu của Dê Tử Lu, một con dê xồm chết đã lâu trong lu mà không ai biết, bây giờ tự nó khui cái lu ra, mọi người mới bật ngửa vì nghe mùi thây ma mục rữa, ai cũng muốn ói !!!)

Dê tử Lu đã muối mặt nâng bi 30 tháng Tư/ 1975 như sau:
 
Ai nhớ ngàn năm một nỗi mừng 

Tháng tư đã đến rừng chưa thức 
Mưa vẫn chờ tôi ở cuối đường 
Có môi, không nói lời ly biệt 
Và mắt chưa buồn như mộ bia
 
Tháng tư nao nức chiều quên tắt 
Chim bảo cây cành hãy lắng nghe 
Bước chân giải phóng từng khu phố 
Và tiếng chân người như suối reo
 
Tháng tư khao khát, ngày vô tận 
Tôi với người riêng một góc trời 
Làm sao ngưòi biết trời đang sáng 
Và cánh chim nào sẽ bỏ tôi
 
Tháng tư sum họp người đâu biết 
Cảnh tượng hồn tôi: một bóng cờ 
Với bao chiêng, trống, bao cờ xí 
Tôi đón anh về tự mỗi nơi
 
Tháng tư binh mã về ngang phố 
Đôi mắt nhìn theo một nỗi mừng 
Đêm ai tóc phủ mềm da lụa 
Tôi với người chung một bóng cờ
 
Tháng tư nắng ngọt hoa công chúa 
Riêng đoá hoàng lan trong mắt tôi 
Làm sao anh biết khi xa bạn 
Tôi cũng như người: Một nỗi vui
 
Tháng tư chăn gối nồng son, phấn 
Đêm với ngày trong một tấm gương 
Thịt, xương đã trả hờn sông, núi 
Tôi với người, ai mang vết thương?
 
Tháng tư rồi sẽ ngàn năm nhớ 
Rừng sẽ vì tôi nức nở hoài 
Mắt ai ngu sẽ như bia mộ 
Ngựa có về qua cũng thiếu đôi
 
Tháng tư nhắc nhở ngàn năm nữa! 
Cảnh tượng hồn tôi những miếu đền
Trống, chiêng, cờ, xí như cơn mộng 
Mưa đã chờ tôi. Mưa... đã... mưa
 
Mai kia sống với vầng sao ấy 
người có còn thương một bóng ai 
Góc phố còn treo ngời lãnh tụ 
Ai nhớ ngàn năm một bóng ai?


Posted by: Mkhach <mktr707@yahoo.com>


TRỞ CỜ

Bôi mặt trở cờ chẳng có ta
Hỏi phường sâu bọ thẹn thân già
Sá chi một chút, ham danh lợi
Mà phải lòn trôn, nhục tộc gia
Đất nước ngã nghiêng dân khốn khổ
Sao đành cúi mặt giả mù lòa
Cùng loài khác giống, quân hèn mọn
Uốn bút cầu vinh, hổ Mẹ Cha !

Quả thật không ngờ trong chúng ta
Lại có một tên khốn nạn già
Mặt trơ, trán bóng,nhơ giòng tộc
Miệng chó, răng lừa, nhục thế gia
Chính nó một thời lâm khốn khổ
Toàn dân khắp chốn bị phong ba
Bây giờ lộ diện là xác chết
Hôi thối tông đường hổ Ông Cha.
NTT.

VIỆT NAM HÔM NAY

  Mưu sinh bên hè phố



Một hộp xi, một chiếc bàn chải lông ngựa, một cái áo thun cũ, một chiếc hộp gỗ đựng các lọ keo dán giày và vài chiếc ghế nhựa dành cho khách ngồi. Chọn một gốc cây hoặc một góc phố. Vậy là ngày làm việc mới bắt đầu, một ngày giản đơn đi qua.
Anh Vinh, làm nghề đánh giày ở thành phố Hải Phòng chia sẻ với VOA: “Một ngày thì kiếm được một trăm rưỡi ngàn đồng đến hai trăm ngàn đồng, chưa trừ chi phí, chưa ăn uống gì cả.”
Mức thu nhập mà anh Vinh cho VOA biết cũng là khá cao đối với nghề đánh giày. Không phải ai cũng có thu nhập trung bình mỗi ngày hai trăm ngàn đồng vào mùa nắng như anh Vinh. Không có địa điểm làm việc cố định, rày đây mai đó, mưa nắng thất thường thì thu nhập cũng thất thường.
Cụ Tứ, 83 tuổi, bơm bong bóng ở thành phố Nam Định cho biết: “Được vài ba chục ngàn, năm chục, hôm nào đắt hàng thì được một trăm ngàn. Già rồi, hết sức rồi, làm được đồng nào ăn đồng đó. Tôi đi từ sớm, tầm 5 giờ chiều, đến 8 giờ, đến 9 giờ tối về.”
Được vài ba chục ngàn, năm chục, hôm nào đắt hàng thì được một trăm ngàn. Già rồi, hết sức rồi, làm được đồng nào ăn đồng đó.
Tại Việt Nam hiện nay, những người già chưa đủ 85 tuổi, nếu không có người thân, phải tự bươn bả kiếm sống qua ngày. Từ 85 tuổi trở lên, mỗi tháng được trợ cấp 180 ngàn đồng, tương đương 8 đô la. Và họ cũng phải bươn bả kiếm sống như thường, nhưng bớt sợ đói hơn một chút vì có thể mua gói mì tôm, ký gạo để cầm hơi.
Một góc ngã tư đường trước công viên nhà thờ Nam Định là nơi kiếm cơm mỗi ngày của cụ Tứ. Gian hàng bóng hơi xanh, tím, đỏ, vàng nuôi sống đôi vợ chồng già trên tám mươi tuổi.
“Tôi thì ăn cơm với ít lạc, vừng thôi, trộn vào là ăn, không cần chan nước gì cả. Nhưng nhà tôi thì phải làm ít nước chan, ông ấy không còn răng, không thể nhai,” cụ Tứ nói.
Làm việc tùy vào thời tiết, đó là tất cả những gì đặc trưng của những nghề như đánh giày hay bơm bong bóng. Thường thì mùa mưa, thu nhập từ việc đánh giày và bơm bong bóng xuống đến mức thấp nhất, không đủ để mua hai dĩa cơm bình dân mỗi ngày.
Anh Vinh cho biết: “Trung bình mỗi ngày được đánh được hai mươi đôi. Có ngày nhiều ngày ít, tùy vào đầu năm hay cuối năm. Mùa hè thì ít, mùa đông thì nhiều. Vì mùa hè người ta ít đi giày, mùa hè người ta đi dép nhiều.”
Công việc đánh giày, bán vé số, bơm bong bóng, bán chổi, lượm ve chai, bán hàng rong các loại có mặt ở hầu hết các tỉnh thành Việt Nam.
Thành phố càng lớn thì lực lượng lao động này càng lớn. Mỗi thành phố lớn như một chiếc xe buýt chật kín, người người chen chúc với nỗi lòng ‘thị dân hạng hai’ kiếm cơm qua ngày. Và ranh giới giàu-nghèo trong xã hội ngày càng cách biệt rõ rệt. 
http://www.voatiengviet.com/a/muu-sinh-ben-he-pho/3774404.html

Làng hoa Hạ Lũng nằm ở ngoại ô thành phố Hải Phòng, trải qua hơn một trăm năm tồn tại và định danh trên đất Bắc bởi sắc hoa tươi, cành cứng cáp, đẹp và giữ độ bền. Dường như hoa của làng Hạ Lũng đi khắp đất Bắc và đến đâu cũng được ưa chuộng. Nhưng đó là chuyện của nhiều năm trước. Hiện tại, làng hoa Hạ Lũng có nguy cơ mất dấu vì nhiều lý do. Trong đó, nhà nước thu hồi đất để quy hoạch xây dựng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quỹ đất trồng trọt ngày càng eo hẹp, người nông dân không còn đất để canh tác.
Ông Hai, nông dân trồng hoa làng Hạ Lũng, Hải Phòng, chia sẻ với VOA: “Trước đây gọi là làng hoa Hạ Lũng, Lũng Đông thuộc xã Đằng Hải, trồng hoa. Chứ bây giờ không còn gì nữa đâu. Đất thu hẹp lại, người ta tiếc những phần đất còn lại mà trồng vậy thôi chứ không thấm vào đâu. Vì năm nay sinh ra chuyện tái định cư, không có diện tích để trồng. Giờ chỉ nói là người Đằng Hải trồng hoa trên đất tái định cư thôi. Không còn như xưa nữa. Bây giờ trồng manh mún, chủ yếu trồng cúc vậy thôi!”
Hoa thược dược, hoa cẩm chướng, hoa cúc, hoa lay ơn và hoa li là những dòng hoa đặc trưng của làng hoa Hạ Lũng. Trước đây, làng hoa Hạ Lũng có thể cung cấp hoa cho các tỉnh lân cận Hải Phòng, thậm chí một số tư thương ở Hà Nội cũng vào làng Hạ Lũng để đặt hoa giá sỉ. Tuy nhiên hiện tại, do quỹ đất bất ổn, eo hẹp, nhà cửa xây dựng ngày càng nhiều và không có chỗ thoát nước, không có nguồn nước để tưới, nghề trồng hoa rơi vào khủng hoảng và manh mún.
Anh Hiếu, kĩ sư hàng hải, chủ vườn hoa ở Hạ Lũng, Hải Phòng, cho biết: “Làng hoa của chúng tôi đã có từ rất lâu đời rồi. Và cách đây chừng chục năm thì phía bên dưới (khu dân cư) này trồng hoa hết. Lên đến vài chục hecta. Còn bây giờ, nhà dân mọc lên nhiều rồi. Dưới kia thì có dự án của quân đội, họ lấy bớt đất của dân và lấy đất làm sân bay. Diện tích giờ thu hẹp chỉ còn dưới mười hecta thôi. Nhưng đã có chủ trương bảo tồn làng nghề. Rất tiếc là tuổi trẻ người ta không mấy ai trồng hoa, chủ yếu là người già giữ nghề thôi.”
Mặc dù nhà nước đang có chủ trương phục hồi và phát triển những làng nghề, trong đó làng hoa Hạ Lũng cũng đươc nhắm đến. Tuy nhiên, có một tình trạng chung ở hầu hết các làng nghề là một khi nhà nước đã công nhận làng nghề và kèm theo đó là những gói kinh phí điều chỉnh không hợp lý, thì hệ quả là làng nghề chết dần chết mòn sau khi được công nhận, người nông dân hay thợ thầy làng nghề chịu thiệt thòi nhiều thứ. Mối nguy này không ngoại trừ Hạ Lũng. Bởi hiện tại, những gia đình nông dân bỏ nghề trồng hoa ngày càng nhiều.
Bên cạnh đó, việc mở rộng sân bay Cát Bi, Hải Phòng, cũng ảnh hưởng đến phần lớn diện tích làng hoa Hạ Lũng. Rất tiếc, vấn đề đền bù giải tỏa vẫn không có gì là thỏa đáng đối với người nông dân. Bởi cầm một ít tiền theo giá đền bù đất nông nghiệp để rồi không còn đất canh tác và sử dụng nó theo định mức thành phố thì chẳng bao lâu, người nông dân sẽ chẳng còn gì để sống. Và câu hỏi ‘nếu không trồng hoa, người nông dân sẽ làm gì’ hầu như không có câu trả lời, rơi vào ngõ cụt.
Tranh thủ bán đất để đi tìm về vùng quê mua lại đất canh tác; tranh thủ trồng những luống dưa, luống cà trên đất đã đền bù giải tỏa nhưng chưa thi công; tranh thủ nguồn nước cống xả của thành phố để tưới những gốc hoa đang vào mùa khô hạn; tranh thủ được ngày nào mừng ngày đó. Dường như mọi kiểu tranh thủ, nấn ná giữ lại vườn hoa, khóm hoa hay luống hoa chỉ có tính chất tạm bợ. Và rồi đây, không biết vườn hoa Hạ Lũng sẽ còn lại bao nhiêu người trồng hoa, bao nhiêu luống hoa? Câu hỏi này nghe ra có vẻ đã muộn màng! 
http://www.voatiengviet.com/a/ha-lung-1-lang-hoa-sap-mat/3771639.html


Nông dân điêu đứng vì cây chuối

RFA
2017-03-17
Buồng chuối Việt Nam.
Buồng chuối Việt Nam.
RFA photo
Giá chuối đột ngột giảm mạnh sau Tết vì thương lái Trung Quốc không mua đã khiến cho nhiều nhà nông trồng chuối ở Đồng Nai lâm vào cảnh khó khăn vô cùng.
Phụ thuộc vào thương lái Trung Quốc
Xã Bàu Hằm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cũng là nơi có nhiều hộ nông dân trồng chuối tiêu hồng. Chúng tôi tìm đến gia đình anh Nguyễn Duy Thành và Trần Nhịt Vằn và được anh Thành cho biết:
Chuối phải thật đẹp người ta mới mua thôi, còn những cái chuối bị sâu vẽ bùa, xấu xấu là họ không mua, hay là để mập quá họ cũng không mua. Họ chỉ lấy tầm 6 tuổi đến 7 tuổi thôi. Chuối hơi to hơn một tí, mập là không mua. Nó dạt, mình bán người ta cũng được nhưng mà nó dạt nó vứt hết, vứt quá trời luôn.
Những khắt khe mà thương lái Trung Quốc đưa ra đã làm cho một số lượng chuối không đạt tiêu chuẩn phải bán lẻ, đổ bỏ, hoặc…cho động vật ăn. Anh Thành nói với chúng tôi trong vườn gần nhà:
Chứ giờ mình làm chuối ra mà mình không biết đầu ra lúc nào nó lấy hay không lấy, nó đắt hay rẻ mình cũng hoảng!”
Thì thời điểm lúc đấy giá nó rẻ, nói thẳng ra là mua thì vẫn mua nhưng mà họ mua ép mình giá lúc đấy có 2 ngàn mấy”.
Ngoài yêu cầu về độ tuổi, trái chuối còn phải mượt mà, nếu có vết sâu vẽ bùa thì coi như không đạt.
“Nó bị cái đốm đốm này này”
Nhưng theo ghi nhận của chúng tôi, hiện tượng sâu vẽ bùa chỉ chiếm một phần nhỏ mà thôi.  Qua trò chuyện ở vườn nhà anh Vằn, hai anh cho biết thêm.
Thương lái TQ nó đổ thừa nhiều cái vấn đề gọi là khí hậu bên đó ổn định hơn, chuối bên TQ nhiều hơn, …nói tóm lại TQ nó không mua là dân chết.
- Trần Nhịt Vằn
Không biết lý do sao mà năm nay nó nhập ít lắm. Thương lái Trung Quốc nó đổ thừa nhiều cái vấn đề gọi là khí hậu bên đó ổn định hơn, chuối bên Trung Quốc nhiều hơn, …nói tóm lại Trung Quốc nó không mua là dân chết”.
Nhưng trước đó, các thương lái Trung Quốc đã có nhiều hứa hẹn.
“Trung Quốc vô đây mua nè, bữa hôm bán nè. Nó nói cứ trồng đi, chuối mô này cứ trồng đi, hai năm ba vụ cỡ nào nó cũng thu hết. Nhưng đến lúc thu hoạch quan trọng giá cả nó như thế nào? Mua thì vẫn mua mà giá cả quá bèo! Nó nói trồng đi sau này giá cao. Nhưng mà thực chất mình sản xuất ra cái cây chuối lúc thu hoạch giá cả như năm nay nè, có hai ngàn mấy à! Thậm chí hai ngàn ba mà nó còn không đóng nữa. …những vườn đẹp may ra hai ngàn tư mà nó kén chuối, một chấm tí xíu nó cũng dạt ra. Đó, nó không lấy như năm kia năm ngoái.”
Nói chung là dân thương gia quen biết bên Trung Quốc, trước Tết giá nó là năm ngàn rưỡi, mà ăn Tết xong nó còn hai ngàn mấy luôn. Em nghi chắc con buôn bắt tay nhau ép…”
Thương lái ép nhà vườn, chuối mình đẹp cỡ nào thí dụ mình bán được giá thị trường là 33 mà nó ép còn 25 à”.
Trong khi chưa tìm được nguồn để bán thì nhà vườn vẫn phải gồng mình chăm sóc, tưới tiêu.
“Mấy ngày nữa là chín rồi đó. Như quầy này thêm 3 ngày nữa là chín…Nếu mà mình xịt nước tưới liên tục á, với giá thành như vậy thì mình cũng lỗ. Mà mình bỏ nước một cái một là nó chín cực kì nhanh. Nếu mà giờ mình bỏ nước một lần cái này cỡ hai ngày chín… giờ mình bỏ nước một tuần nó chín ào ạt luôn”.
Như vậy vì nghe theo lời hứa hẹn của thương lái Trung Quốc nhiều nông dân đã mang nợ, nhiều vườn chuối lỡ trồng bị bị bỏ không chăm sóc.
Hồi nãy mẫu rưỡi đầu tư hết hai trăm triệu, thu vô mới được có hơn trăm triệu lại à.
http://www.rfa.org/vietnamese/reportfromvn/ina-stop-buy-banana-vns-farmer-get-hard-rfa-03102017134200.html
 

Vừa chèo thuyền vừa vớt rác: Giải pháp môi trường?

  • 21 tháng 3 2017

Paul Lasenby 
Bản quyền hình ảnh Paul Lasenby
Image caption Paul Lasenby tham gia một trong những tour kayak du lịch khi đến Hội An lần đầu tiên vào tháng 5/2016 và quay lại sau khi thấy tour River Clean Up được tổ chức
Từng là cựu vận động viên đua xe đạp leo núi nổi tiếng, Paul Lasenby, bắt đầu chuyến đi chinh phục dải đất Đông Dương từ tháng 3/2016. Và Việt Nam là một trong những điểm đến của ông.
Tay xe đạp leo núi người Anh đã từng đi rất nhiều nơi, nhưng "Hội An là nơi yêu thích nhất của tôi," ông Lasenby nói sau khi đặt chân đến Hội An tháng 5/2016.
Duy chỉ có một vấn đề.
"Có quá nhiều rác," ông nói, "tôi rất thất vọng."
Chính vì vậy Lasenby quay lại Hội An lần thứ hai để tham gia tour River Clean Up (Tour Làm Sạch Sông).

Rất ngại vì nghe khách Tây phàn nàn

Anh Nguyễn Thành Long, giám đốc Hoian Kayak Tours, cho BBC biết, công ty anh chỉ mới tổ chức tour River Clean Up từ giữa tháng 2/2017 nhưng đã nhận được sự hưởng ứng và chú ý từ khách du lịch và người dân địa phương.

Long Hoian Kayak tours 
Bản quyền hình ảnh Hoian Kayak Tours
Image caption Gần 10 năm làm về mảng du lịch cộng đồng, anh Long (áo đen) luôn luôn nhắc nhở người dân bảo vệ môi trường để phát triển du lịch Việt Nam
Với hơn 10 năm kinh nghiệm làm du lịch, anh chàng gốc Hà Nội chuyển đến Hội An định cư năm 2014 và ý tưởng về du lịch xanh nhe nhóm ở đây.
"Tôi làm hướng dẫn viên ở Hội An trong một thời gian ngắn nhưng nghe khách phàn nàn về rác trên sông thì thấy rất ngại, cho nên đã có ý định từ lúc đó," anh Long nói.
Anh Long cho biết tour được tổ chức thứ 7 hàng tuần từ 8:30 đến 12:00 trưa, chèo thuyền từ rừng dừa Cẩm Thanh dọc sông Hoài đến phố cổ Hội An.
Mỗi đợt gồm 20 người do anh Long và một nhân viên hướng dẫn. Khách sẽ chèo tản ra dọc bờ sông thu gom rác rồi đổ lên một thuyền gỗ chèo cùng đoàn.
Theo anh Long, thường mỗi lượt tour thu về 3-5 tạ rác, đủ các loại.

tour 
Bản quyền hình ảnh Hoian Kayak Tours
Image caption Khách tham gia tour River Clean Up ở Hội An hôm 18/3. Rác thu được sẽ được gom lên thuyền gỗ chèo theo đoàn
Anh thu phí $10 cho khách nước ngoài, nhưng miễn phí cho người dân địa phương và sinh viên.
Anh nói phí thu này là để chi trả cho tiền mua túi đựng rác, vật dụng chèo thuyền và thuê nhân công.
"Có rất nhiều đoàn sinh viên nước ngoài thích tham gia vào tour này vì nó vừa là công việc dã ngoại thú vị, chi phí thấp và còn rất ý‎ nghĩa," anh Long nói thêm.
Chị Lê Thị Mỹ Dung, 22 tuổi, sinh viên ngành du lịch vừa tham gia vào đợt tour hôm 18/3 nói ban đầu chị tham gia để học hỏi và giao tiếp với khách nước ngoài, nhưng sau khi tham gia vớt rác thì cảm thấy vừa làm một việc "rất ý nghĩa".
Anh Phan Công Đạt, 23 tuổi, một thành viên của Đoàn Thanh Niên phường, nói chuyến tour "rất vui" và anh có giới thiệu thêm cho bạn bè và gia đình.

Ý thức người dân

Về phản ứng của người dân địa phương, anh Long nói, một số người sau khi thấy khách nước ngoài vớt rác thì họ cũng chủ động vớt rác cùng.
"Nguồn rác thải trên sông chủ yếu bắt nguồn từ chợ Hội An và một số người dân địa phương sống bên sông xả khác không đúng chỗ," anh Long nói.

Người dân Hội An 
Bản quyền hình ảnh Paul Lasenby
Image caption Người dân tham gia dọn rác khi thấy khách vớt rác trên sông
"Thành phố có một bộ phận chuyên đi gom rác, nhưng không xuể với người dân," anh nói thêm.
Ông Lasenby cũng nói, khi ông trở lại khách sạn sau chuyến tour, dòng sông đã sạch hơn nhưng hai ngày sau, rác lại đầy.
Trao đổi với BBC, Chánh văn phòng Ủy ban Nhân Dân thành phố Hội An, ông Nguyễn Minh Lý cho biết, "Thành phố rất ủng hộ việc làm của người dân địa phương cũng như khách du lịch trong việc dọn dẹp rác."
Ông Lý nói thành phố có một bộ phận chuyên đi thu gom rác nhưng do kinh phí thấp nên chỉ có thể làm hai lần một tuần. Thành phố chưa đề nghị xin thêm kinh phí.
Ông Lý nói thêm rằng rác thải trên sông chủ yếu do thượng nguồn sông Thu Bồn đổ về, "nhưng khi đến Hội An thì chúng tôi cũng dọn thôi."
"Chúng tôi tổ chức rất nhiều công tác tuyên truyền, như thứ sáu hàng tuần, chúng tôi tổ chức một cuộc tổng vệ sinh toàn thành phố," ông nói, "nhưng chưa triệt để."

Paul Lasenby 
Bản quyền hình ảnh Hoian Kayak Tours
Image caption Ông Paul Lasenby tham gia tour River Clean Up hôm 11/3. Ông nói Hội An là một nơi tuyệt vời, và sẽ tốt hơn nếu nhiều người tham gia dọn rác.
"Hiện tại các chương trình bảo vệ môi trường ở Việt Nam có rất nhiều, nhưng tôi mong các hoạt động này sẽ được nhân rộng trong tương lai để nâng cao‎ ý thức người dân," anh Long cũng nói.
Khi trò chuyện với BBC, ông Lasenby cũng đang chuẩn bị rời Hội An, ông nói "Việt Nam là một đất nước xinh đẹp," ông nói, "nhưng có quá nhiều rác."
"Tất nhiên việc thu dọn rác không phải là một công việc sạch sẽ," ông Lasenby nói, "nhưng tôi ước sẽ có nhiều người tham gia hơn, không chỉ tham gia tour, mà chủ động nhặt rác trên sông
 http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-39336167


 
CẢNH ĐẸP BẾN TRE
 
Ba Tri, nước trời trong xanh...

L’image contient peut-être : ciel, arbre, nuage, plante, montagne, plein air, nature et eau
L’image contient peut-être : ciel, arbre, nuage, plante, montagne, plein air, nature et eau
Con đường quê ngoại...

Thấy cãnh quê thích quá,ước gì mình có người quen ỡ đây
 
L’image contient peut-être : arbre, ciel, plante, plein air et nature
Dòng sông quê hương
 
L’image contient peut-être : ciel, plein air, eau et nature
 
Đò ơi bến vắng ngày xưa đó
Lỡ hẹn người thương nay vắng rồi
Lạnh lòng chiều quê nơi bến cũ
Chút nhớ chút thương cố nhân tình.

L’image contient peut-être : plante, arbre, plein air et eau
L’image contient peut-être : plein air, eau et nature
L’image contient peut-être : arbre, plein air, nature et eau

Cầu dây quê em...
Vĩnh Hòa, Chợ Lách

L’image contient peut-être : ciel, arbre, plante, plein air et eau
Dãy bán hàng trái cây ở f3 mé sông cầu BT 1.
 
L’image contient peut-être : 4 personnes, plein air
Bến đợi...

L’image contient peut-être : arbre, ciel, plein air, eau et nature
Đợi dừa lên xe...
 
L’image contient peut-être : plante, arbre et plein air
Bàn trà trước nhà người dân ở Ba Tri, moi người thong thả uống trà nghỉ ngơi sau những ngày vất vả thu hoạch lúa
 
L’image contient peut-être : 1 personne, arbre et plein air