Tuesday, February 28, 2017

TRẦN THỊ ĐÔNG PHƯƠNG * LÊN NÚI TÌM CHỒNG



Nhớ lại những ngày gian lao: lên núi tìm chồng
Trần Thị Ðông Phương


Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam.
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.
(Chinh phụ ngâm khúc)

Sáu năm dài thật dài, ngày này qua tháng khác, tôi mong ngóng tin tức của chồng, biệt mù, không một ai trong tất cả những người đàn bà có chồng đang ở trại tập trung “cải tạo”, biết được chồng mình sống ra sao, khỏe yếu thế nào – mù tịt. Họa hoằn, tôi mới nhận được một mảnh giấy, với vài dòng như công thức định sẵn. Bao giờ cũng là… anh học tập tốt… lao động tốt… Em yên tâm, cách mạng rồi sẽ khoan hồng cho anh về với gia đình và trở thành người công dân tốt… Tôi thấy thật là mỉa mai và trơ trẽn, Tôi đang giữ trong túi 4 miếng giấy. Cũng chỉ có bấy nhiêu chữ, đến nỗi con trai út của tôi, cháu mới biết đọc mà cũng thuộc lòng tất cả thư bố gởi về.

Tôi thu xếp hàng, đem gởi nhà người quen, để về sớm hơn thường lệ. Trong nỗi khốn cùng, tôi gặp được điều may – Chị Liệu, vợ anh Lượng, họ là bạn của gia đình tôi. Anh chị Lượng trước ngày 30 tháng 4, 1975, có tiệm buôn bán xe gắn máy, xe đạp và phụ tùng, thuộc loại lớn ở Ngã Bảy, ngay đầu đường Minh Mạng. Từ lúc 9 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975, anh Lượng cũng là quân nhân, chạy ra bến Bạch Ðằng và biệt tích đến bây giờ. Thoát hay chết, chưa ai biết.

Chị Liệu cũng là bạn học của tôi. Chị ở lại với 6 đứa con, tiếp tục bán đồ xe đạp, nhưng chỉ có phụ tùng xe đạp thôi vì kho hàng bị niêm phong. Liệu thương tình đã gọi tôi lên nhà chị ta, nhường lại cho một số phụ tùng để bán lẻ nơi lề đường, Hai chị em, mỗi buổi sáng trải chiếc poncho của chồng để lại, bày phụ tùng lên đó. Trời cũng còn thương kẻ khốn cùng, nên những chú Bắc Kỳ vào Saigon vẫn thích tìm mua, nhờ vậy mẹ con tôi vẫn còn có được ngày hai bữa cơm, chưa đến nỗi bị đói.

Tôi về sớm vì con gái tôi lên chỗ bán hàng cho tôi hay. “Mẹ, có thư của bố, kèm theo phiếu thăm nuôi. Bố dặn cách đi thăm, mẹ về coi thì mới biết được.”

Sáu năm xa xách, tuy chẳng được nhìn mặt một giây, nhưng dù vài chữ tôi cũng thấy ấm lòng, nhìn nét chữ của anh, tôi hình dung ra khuôn mặt yêu dấu của chồng, nhất là lúc nghe thằng con út đọc oang oang thư bố, tôi cũng vui được đôi chút và cầu xin ơn trên che chở cho chồng, cho đồng đội của anh sống sót trở về. Lần này thì đúng là thư vì được viết dài hơn một trang giấy. Tuy không được kể lể tâm tình, thương nhớ. Bù lại, anh đã hướng dẫn tôi phải làm gì để được chấp thuận cho đi thăm.

Việc đầu tiên là tôi phải mang thư, giấy thăm nuôi của trại cải tạo gởi về, kèm theo hộ khẩu, đến phường để được xác nhận là tất cả những thứ mang theo là đúng, tình trạng cư trú của gia đình đúng, là vợ chính thức của anh ấy. Phường chứng thực xong, viết cho mấy chữ giới thiệu lên quận, để được chấp thuận cấp giấy đi đường, cho phép đến trại cải tạo thăm chồng, đang ở đó. Tôi lên tới quận, lại được thêm một lần may mắn, trong lúc ngồi chờ duyệt xét giấy tờ, tôi gặp được các chị cũng đi xin phép đi thăm nuôi chồng, hỏi ra thì được biết, các chị ấy là vợ anh Tâm (KQ), vợ anh Bình (BÐQ), chị Ðỗ Văn Nhĩ (SÐ18BB) và cô Tuyết, đi thăm hai người anh ruột, anh Lê Hằng Nghi, cùng trại Lam Sơn, Thanh Hóa, sau đó Tuyết đi tiếp ra trại Ba Sao thăm anh hai là Tướng Lê Minh Ðảo. Chúng tôi thấy cảm thương dành cho Tuyết, lặn lội, cơ cực đi thăm hai người anh cùng ở trong tù cộng sản, cùng cảnh ngộ, nên chúng tôi thân nhau nhanh chóng và hẹn nhau mua vé xe lửa để được đi cùng chuyến, cùng toa xe, để nương dựa nhau, hàn huyên, hy vọng quên những vất vả dọc đường.

Có giấy phép cho đi Thanh Hóa thăm nuôi chồng rồi, tôi bắt đầu lo tiền để để mua sắm thức ăn, chẳng còn gì ngoài mấy lon gạo, vài ký khoai mì hợp tác xã bán theo hộ khẩu. Vật dụng trong nhà thì chỉ còn cái tủ lạnh biết bán cho ai bây giờ? Nhìn quanh, tôi đang trơ trọi một mình, gia đình chồng thì chưa liên lạc được, suy nghĩ đau cả óc, cuối cùng, tôi phải cầu cứu mẹ:

“Mợ ơi! tuần sau con đi thăm chồng ở Thanh Hóa, con chỉ còn đúng 30 đồng và mấy lon gạo, phải làm gì bây giờ hả mợ!”

Mẹ tôi im lặng, suy nghĩ giây lát rồi nói:

“Con xem có còn cái gì bán được thì bán đi, mợ sẽ nói các em mày, chúng nó phụ cho mỗi đứa một chút. Cố gắng đi con ạ!

Bố tôi nghe được, ông thở dài, quyết định thật nhanh:

“Ðừng lo, cậu còn cái máy chụp hình Canon, bây giờ cũng chẳng cần đến nữa, cậu cho con, đem lên nhờ cô Liệu quen biết nhiều, bán giúp, lấy tiền mà thăm nó.”

Tủi thân thế đấy! Lấy chồng làm quan, bao nhiêu năm giờ đây lại phải dựa trong vòng tay cha mẹ để nương nhờ. Bán chiếc máy ảnh, tôi bán luôn chiếc nhẫn cưới một chỉ vàng đang đeo trên tay. Tạm đủ để mua vé xe lửa và it đồ khô, theo ấn định cho phép của “cách mạng.” Các em tôi, được mẹ hô hào, đã xúm nhau mỗi đứa cho it đồ khô và chút tiền.

Tôi tưởng tượng thật nhiều về chuyến đi tìm chồng lần đầu, bao nhiêu ngày đêm mỏi mòn thương nhớ, lo âu và cả hận thù, oán ghét kẻ đã giam cầm chồng mình. Tôi suy đoán, gặp nhau chắc anh mừng lắm. Tôi được sờ lên mặt, cầm tay chồng, dù chỉ chốc lát, cũng đã cho tôi nhiều an ủi và yên tâm tần tảo nuôi con chờ ngày anh về. Ðã 6 năm, cả hai chúng tôi đang bắt đầu vào tuổi già. Chúng tôi cùng ngoài bốn mươi.

Ðúng 5 giờ sáng Chủ Nhật, tôi và thằng con thứ ba, sau hai chị nó, mang đồ đạc lên ga xe lửa, đồ thăm nuôi cũng chỉ có trong hai cái giỏ đệm (bao bì cói) và một túi nhỏ đựng vật dụng riêng của hai mẹ con, cháu đeo sau lưng. Tới ga, tôi gặp đủ những chị đã gặp ở quận lúc đi xin giấy, ngoài ra cũng còn có các chị đi thăm chồng nhưng khác trại như Thanh Cẩm, Thanh Lâm, Kỳ Anh (Nghệ Tĩnh), v.v…

Có lẽ đây là lần đầu, nên số người đi ra Bắc thăm chồng khá đông. Chúng tôi không đủ tiền mua vé tầu suốt, nghĩa là tầu không ngừng các ga nhỏ, chạy thẳng từ Saigon. Chúng tôi mua vé tầu chợ, thời gian sẽ kéo dài hơn vì tầu ngưng nhiều ga, để khách buôn lên xuống. Chúng tôi chen chúc nhau lên tầu, quả thực là vất vả. Trong toa kẻ nằm người ngồi ngổn ngang, đủ các loại hàng, thú vật như gà vịt, còn có cả hai chú heo con cũng được bỏ rọ mang đi. Mùi phân thú, mùi mắm, mùi người, nồng nặc cả toa, mỗi lần bị đụng chạm hay xô lấn, gà,vịt kêu oang oác, hai con heo con cũng phụ họa eng éc. Tù thuở bé, tôi chưa được đi xe lửa lần nào, nay là lần đầu, cảm thấy hơi khó chịu nhưng tự an ủi: “Có chỗ cho mình đi là may rồi.”

Vợ anh Nhĩ thật nhanh nhẹn và mau mắn, chị vượt lên trước, loay hoay cách nào mà chị đã kiếm được một chỗ trong góc toa. Chị gọi chúng tôi mang đồ để chung một nơi, dễ canh chừng. Chị Nhĩ dặn: “Chị em mình có ngủ thì chia làm hai một nửa thức giữ đồ, lơ đễnh chúng nó lấy mất.” Tiếp theo chị ghé tai từng người nói nhỏ: “Nếu có tiền hay vàng thì giữ kỹ, coi chừng bị cắt túi, mấy thằng móc túi lẹ và ma mãnh lắm.”

Chúng tôi cố thu xếp cho nhau để mỗi người có một chỗ ngồi, lúc ngủ thì dựa người trên mấy cái giỏ đồ hoặc tự gục trên hai gối của mình, nhưng có lẽ không ai ngủ được đúng nghĩa, mà chỉ thiếp đi trong cơn mệt, phần háo hức muốn gặp chồng, phần lo lắng nên chỉ chập chờn theo tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray. Con trai tôi thì quên cả chật chội, chẳng quan tâm đến mùi hôi trên tầu, cháu chen ra chỗ hai toa nối nhau, có chỗ cho người đứng, cháu đứng giữa hai người đàn ông được an toàn và dõi mắt nhìn say mê cảnh vật dọc đường, lúc đã mỏi mệt, cháu mới trở vào với mẹ, thật tội nghiệp, nó sợ tôi đói mệt nên nhắc chừng: “Mẹ ăn gì chưa, mẹ có khát nước không? Con lấy cho mẹ nhé.”

Hành trình từ ga Hòa Hưng Saigon đến ga Thanh Hóa vừa đúng ba ngày, ba đêm. Tầu vào ga Thanh Hóa lúc 9 giờ sáng. Chúng tôi vội vàng phụ nhau khiêng vác đồ thăm nuôi xuống, đặt cạnh đường ray. Tất cả đều ngơ ngác, chốn lạ xứ người. Chúng tôi lấy thư của chồng ra coi lại những chỉ dẫn trên đó. Chúng tôi đi về cuối ga, gặp hai người tù hình sự và một công an có súng, đã đợi sẵn. Một trong hai anh tù hỏi “Các chị có phải nà người đi thăm các anh đang trong trại Lăm Nam Sơn (5 Lam Sơn) không?” Chúng tôi trả lời đúng, lúc đó người công an mới lên tiếng:

“Bọn tôi đợi ở đây để giúp các chị chở tiếp phẩm vào trại. Hai thằng này sẽ đánh xe trâu dến để các chị xếp đồ lên, chỉ chở đồ đạc thôi nhé, người đi bộ theo sau. Ðường khá xa và còn phải qua phà nữa đấy. Ðể tranh thủ, bây giờ là 10 giờ, đúng 10 giờ 30 ta sẽ về trại. Các chị vào trong lều gần xe trâu nghỉ đi.”

Khoảng đường từ Thanh Hóa vào đến trại 5 Lam Sơn, thăm thẳm, qua đồng, qua ruộng đến núi, lại rừng. Nàng chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm, má hồng truân chuyên như thế nào, chỉ đọc, chỉ nghe mà không thấy. Bây giờ, chúng tôi, những người vợ lính VNCH đi lên núi, vào rừng tìm chồng, có lẽ cơ khổ và truân chuyên hơn vợ chàng hào kiệt của Chinh Phụ Ngâm Khúc gấp mấy lần. Dọc đường đi, ai cũng phải ngồi xuống xoa bóp chân mình nhiều lần, chị Nhĩ khóc mếu máo “Cha mẹ ơi! Sao lúc nhỏ không tập cho con đi bộ, để bây giờ cực quá thế này”… Cũng may là chúng tôi ai cũng đi giầy vải (bata). Nếu đi giầy khác thì chết chắc. Ai cũng lặc lè, sắp quỵ, duy có con trai tôi vì tuổi nhỏ, mong chóng được gặp bố và được đi xa lần đầu, lạ cảnh, hơn nữa thỉnh thoảng cháu liều lĩnh đu lên sau xe trâu ngồi đỡ vài phút, cũng không bị quở trách, nhờ đó cháu có vẻ chưa cảm thấy bị đau chân và thấm mệt.

Cố gắng cách mấy, chúng tôi cũng không thể nào đến trại Lam Sơn kịp trong ngày, đường đi còn khá xa, có lẽ cũng cả chục cây số; mặt trời đã tụt sau dãy núi phía Tây. Hàng cây hai bên đường bắt đầu nhòa bóng, thỉnh thoảng chúng tôi mới gặp hai ba người đi thồ hàng, đạp xe vội vã vượt qua chúng tôi hoặc ngược đường ra Thanh Hóa.

Chúng tôi cố sức đi thêm được chừng hai cây số, đến một khu phố buôn bán, có ngôi chợ nhỏ đã họp xong buổi sáng. Người công an áp tải cho lệnh hai tài xế xe trâu dừng lại nghỉ, nếu có đi tiếp cũng sẽ không kịp. Họ chỉ cho chúng tôi khu nhà trọ, dặn dò: “Các chị thuê chỗ ngủ trọ, sáng mai tập trung tại quán nước chè, ta sẽ đi tiếp.”

Mẹ con tôi đã trải qua một đêm chưa bao giờ khiếp hãi như vậy. Bộ ván, chiếc chiếu chắc cũng khá lâu không được làm vệ sinh, giặt giũ. Thật mệt, nhưng giấc ngủ vẫn không đến với chúng tôi vì nhiều lý do. Nỗi sợ ám ảnh, phải lo đối phó với hàng trăm, hàng ngàn con rệp. Chị em đành thức, ngồi kể chuyện cho nhau nghe, từ dĩ vãng đến hiện tại và lung tung nhiều thứ để chờ sáng.

Ước chừng độ 12 giờ trưa hôm sau thì chúng tôi đến trại 5 Lam Sơn. Con đường vào trại ngoằn ngoèo, vòng qua dãy núi đá không cao lắm, xuyên qua một khu đất rộng có nhiều người đang canh tác, nhìn từ xa, không ai biết, tới gần, chúng tôi mới nhận ra những người này toàn là tù, tất cả là nữ, chia thành nhiều tốp, trồng đậu phọng, cấy lúa. Ðám người này khá đông nhưng dường như họ là những bộ máy, lạnh lùng làm công việc của mình, âm thầm như những chiếc bóng, đầu phủ kín bằng những miếng vải để chống nắng. Người cuốc đất người nhổ cỏ, hoàn toàn lặng lẽ, đến cả hai giám thị công an, một nam một nữ, cũng như hai pho tượng ngồi kế nhau bên lề đường. Trên áo vải thô của mỗi người tù đều có hàng chữ Lam Sơn 5, ngoài ra chúng tôi còn gặp thêm hai toán người đang đập đá để nung vôi. Nhận ra chúng tôi, một vài anh đã lên tiếng hỏi: “Các chị đi thăm ai đấy?”, nhưng chỉ có thế, vì các anh đã bị buộc phải im tiếng.

Sau khi làm những thủ tục của trại tù xong, đã vào buổi chiều. Hết giờ thăm nuôi, chúng tôi phải chờ qua ngày hôm sau. Người cán bộ phụ trách về thăm nuôi, dẫn chúng tôi vòng ra sau căn “nhà việc” (văn phòng) để đến nhà vãng lai. Sáu người chúng tôi ở chung một gian, nhà vách ván, mái ngói, kê ba cái giường tre, trong trại tương đối sạch bơn, chiếu còn mới. Họ cho mượn mùng nếu ai không có. Nhận các thứ xong, chúng tôi rủ nhau xuống bếp, ngay đầu nhà, có sẵn củi, nhưng phải mua, mỗi người 5$, nồi và các thứ khác cho mượn, vợ Bình BÐQ đem lon mắm ruốc xào thịt ra xào lại để tiếp tế cho chồng, tôi cũng xào lại lon gà kho gừng cho khô thêm.

Thời gian chờ đợi, dằn vặt, xao xuyến trong lòng chúng tôi không ít, cứ đứng lại ngồi. Mỗi lần có anh “cải tạo viên” đến, chúng tôi lại rướn cổ nhìn, nhưng vẫn là chồng người ta. Mấy ông tuy mặc đồ lành lặn, sạch sẽ, nhưng nhìn dáng đi, bộ điệu cố ưỡn ngực cho thẳng lưng, vẫn chẳng dấu được cái tiều tụy, tàn tạ trên thân thể. Ai cũng giống nhau, sự hành hạ qua nhiều năm tháng đã làm họ mất nhiều phong độ, cố giữ cho thẳng mà vẫn xiêu vẹo. Giờ này, qua giờ khác, lại mất một ngày nữa chờ. Chúng tôi an ủi nhau, mình tới trại sau, nên sẽ được gặp chồng sau, chắc chắn ngày mai thì đến lượt mình.

Ngày thứ ba, kể từ ngày chúng tôi bước vào khu thăm nuôi của trại 5, chừng 10 giờ sáng, cán bộ thăm nuôi đến gọi chị Tâm (KQ) và Tuyết, em anh Lê Hằng Nghi lên phòng thăm nuôi. Mọi người vui hẳn lên và hồi hộp. Chừng 15 phút sau, thăm nuôi xong, chị Tâm và Tuyết trở lại, mắt đỏ vì vừa khóc. Tuyết vội thu xếp hành lý, nói: “Em chào các chị, em phải đi ra trại Ba Sao ngay bây giờ. May quá có xe trâu của trại ra Thanh Hóa, người ta cho em quá giang.” Nhìn theo Tuyết quảy đồ ra cửa, chúng tôi không ngăn được nỗi xúc cảm. Tội nghiệp cô bé, lặn lội, tất tả đi thăm hai người anh ở cách nhau hàng mấy trăm cây số.

Cuối cùng rồi cũng đến phiên mình. Sáng ngày thứ tư ở trại (thật ra mới có ba ngày rưỡi), vợ anh Bình, vợ anh Nhĩ và tôi cùng được gọi lên thăm nuôi một lần. Ba người ngồi chung một bàn, con trai tôi ngồi sau lưng mẹ. Khoảng 10 phút sau thì một tên công an bước vào, tên cán bộ thăm nuôi vội đứng dậy chào, nói: “Báo cáo anh, các chị ấy đã tập họp đủ.” Chúng tôi chưng hửng tự hỏi “Sao lại thế này, chồng chúng tôi đâu? Thằng quỷ dịch này, bước vào chẳng chào hỏi, mặt mũi như âm binh, lạnh ngắt. Một phút sau, hắn mới lên tiếng.

“Chào các chị, đi đường chắc vất vả lắm, nhưng nghỉ mấy ngày, nhất định là khỏe rồi. Tôi là Bắc, cán bộ chấp pháp trại, đến đây có mấy điều cần phải quán triệt với các chị.”

Hắn ngừng lại, nhìn thẳng vào mặt chúng tôi thật chậm, vẻ ra oai. Tôi cũng nhìn lại hắn, quan sát và nghĩ: hèn chi nó làm chấp pháp (an ninh) là đúng. Mặt tái xanh, mắt như hai lằn chỉ, môi dầy và đen như hai miếng thịt trâu phơi nắng. Tên Bắc cất giọng:

“Chị nào là vợ cải tạo viên Bình, chị nào là vợ cải tạo viên Ðỉnh?”

Chúng tôi giơ tay. Lại im lặng và hồi hộp.

“Thật là quá đáng. Từng ấy năm học tập cải tạo, uổng công ‘cách mạng’ quan tâm giáo dục, chưa nói tốn cơm, tốn của… Chồng các chị thuộc loại không thể cải tạo, ‘cách mạng sẽ phải xử lý’. Tôi và X. rụng rời, nghẹt họng, há miệng mà không thở được. Giọng tên Bắc chì chiết:

“Một bọn phản động, ngoan cố, cấu kết với nhau, trong đó có chồng của hai chị… Tụ họp nhau bày đặt tuyệt thực, yêu sách cải thiện đòi sống cho nên trại đã tạm thời kỷ luật các tên này. Không tin à? Tôi sẽ đọc lệnh giam những tên phản động, cấm thăm nuôi bốn lần.”

Hắn đọc tên từng người: Nguyễn Xuân, Hồ Văn Phước, Phan Nhật Nam, Hồ Công Bình và chồng tôi. Tất cả trên 10 người, nhưng tới lúc này thì mắt tôi hoa, đầu váng, mọi vật quay như chong chóng. Vẫn giọng tên Bắc:

“Các chị thấy đấy, bọn phản động, nguyên cả một buồng, manh tâm làm loạn. Giờ phút này rồi mà còn đòi vọng động. Các chị phải viết thư hoặc cách này cách khác động viên chồng hối cải, lao động học tập cho tốt để còn về chứ. Lần này trại đã họp và nhất trí để hai chị đi về, lần sau sẽ thăm nuôi.”

Tôi cố chỏi tay, để đầu không gục xuống bàn, đưa tay trái véo nhẹ lên tay vợ Bình. Cần phải can đảm. Lát sau vợ Bình hỏi:

“Trại không cho gặp, vậy xin cho chúng tôi gửi thuốc và chút đồ ăn cho chồng tôi có được không cán bộ?”

“Dứt khoát không được, đã kỷ luật thì phải cấm hết, mang về đi các chị. Trại đã lo đủ cả, thuốc men, ăn uống không thiếu thứ gì đâu.”

Biết mình đang nói với một cái xác ướp, nên chúng tôi im lặng. Tên Bắc lại đãi bôi:

“Các chị yên tâm, động viên chồng học tập cho tốt, biết đâu chừng sau lần kỷ luật này, các anh tiến bộ, lại được tha về sớm.”

Tôi có ý nghĩ muốn trở thành người đàn bà đanh đá chửi vào mặt thằng xác ướp này vài câu, nhưng nghĩ lại, làm như vậy là dại. Thôi! Liếc qua vợ Bình cười nửa miệng, muôn ngàn cơ cực, đến mà không gặp. Niềm đau, nỗi buồn đã đóng băng trong lòng hai chúng tôi.

Tên Bắc hướng qua chị Ðỗ Văn Nhĩ: “Chào chị Nhĩ, hết mệt rồi phải không? Ði đường vất vả quá đấy nhỉ. Chị vui lòng cho tôi xem thư và giấy thăm nuôi từ trại gửi về cho chị nào!” Liếc đọc lá thư, tờ giấy thăm nuôi, Bắc hỏi tiếp: “Chị nhận được thư này lúc nào?”

“Tháng 8, cán bộ. Trong thư đề tháng 3 nhưng tháng 8 tôi mới nhận được, có sao không cán bộ?”Tên Bắc thở dài, cố làm vẻ trang nghiêm:

“Tiếc quá, chị nhận thư anh ấy hơi muộn, sớm hơn thì chị đã gặp chồng, bây giờ thì đã quá trễ mất rồi.”

“Trời! Sao vậy cán bộ, chồng tôi làm sao, anh ấy bị cái gì, anh Nhĩ làm sao rồi?”

“Chị bình tĩnh nghe tôi nói, như chị đã biết, anh ấy có hai ba thứ bệnh từ thời ngụy, vùa suyễn, vừa bị cao máu, trại đã chữa hết cách rồi, các đồng chí y tế đã tận lực, nhưng anh Nhĩ đã chết hồi giữa tháng 6. Anh Nhĩ là người cải tạo tốt, lao động tiên tiến, sắp được tha về.”

“Trời ơi là trời! Chồng tôi sao lại chết? Ba mẹ ơi! Chồng con chết rồi! Anh ơi! Tưởng ra đây gặp anh, bây giờ anh đi mất, bỏ mẹ con em, bỏ ba má sao anh. Chồng tôi năm nay mới có 32 tuổi, làm sao mà cao máu? Anh ơi, anh chết oan rồi!”

Hai chúng tôi cùng chồm qua, ôm lấy vai chị Nhĩ, cố kềm, nhưng rồi cũng khóc theo. Vợ Bình mếu máo khuyên: “Chị nín đi, chị nín để hỏi cán bộ anh ấy chôn ở đâu chớ.”

Chị Nhĩ rũ xuống như tầu lá, toàn thân lạnh và mềm oặt, hơi thở đứt quãng. Chị Nhĩ đã mê đi trong cơn đau mất chồng. Vợ Bình vội lần trong túi áo bà-ba lấy chai dầu gió thoa lên trán, lên thái dương cho chị Nhĩ, miệng vẫn gọi liên hồi:

“Tỉnh dậy đi, dậy mà đi tìm mộ chồng chứ! Tỉnh đi chị Nhĩ!”

Chị thở dài tỉnh dậy. Im lặng giây lát, tên cán bộ Bắc nói với chị Nhĩ: “Thôi, để tranh thủ, trại sẽ giao lại cho chị vật dụng của anh Nhĩ, giấy chứng nhận chồng chị đã chết vì bệnh. Sau đây tôi bận công tác, đồng chí Cận (cán bộ phụ trách thăm nuôi) sẽ đưa chị ra mả anh ấy.”




Hình minh hoạ internet

Tôi và vợ Bình cũng xin đi theo, nhưng không được chấp thuận.

Mấy chị em chúng tôi quay về Saigon lúc mờ sáng ngày hôm sau. Ngày thứ năm ở trại cải tạo của chồng. Nhìn những dãy nhà cũ kỹ, khóa kín cửa, tôi tưởng tượng như là chồng mình và đồng đội đang bị giam nhốt trong những ngôi mộ đó, gần kề ngay bên mà cách biệt muôn trùng. Ngày đi náo nức, mong ngóng, hy vọng bao nhiêu, nay trở về, cõi lòng tan tác. Thất vọng chiếm hết chỗ của suy tư. Chúng tôi đi trong vô thức.

Tội nghiệp chị Ðỗ Văn Nhĩ, nếu không có bạn đồng hành chúng tôi phụ giúp, không hiểu có còn đủ sức, đủ nghị lực để về với các con không? Ðiều an ủi là hôm đó có chuyến xe trâu đi không ra tỉnh, họ cho chúng tôi quá giang, nhưng với giá 10$ một người tới ga Thanh Hóa.

Phải chăng những người đàn bà chúng tôi, những người vợ lính VNCH, là người bị đọa đầy hơn tất cả mọi người của thế gian?…

Nguồn:vantuyen.net/2014/07/10/nho-lai-nhung-ngay-gian-lao-len-nui-tim-chong-tran-thi-dong-phuong/


TRẦN THỊ HUYỀN * VƯỢT BIÊN

  



Vượt Biên

Trần Thị Huyền

Đôi dòng về tác giả:
Tôi đến Hoa Kỳ năm 1986 và định cư ở thành phố Oakland. Hiện nay tôi vẫn đang sống tại thành phố này. Khi tôi đến đất nước Hoa Kỳ này tôi đi làm và ở nhà trông con, nhưng hiện nay con tôi đã lớn, tôi vừa đi làm vừa đi học. Tôi đang theo học ngành y tá có thể giúp đỡ được nhiều người. Năm 1982. Đó là năm mà mọi người xôn xao để đi tìm tự do, bởi vì họ không thể chịu đựng dưới sự đàn áp của Cộng Sản. Gia đình tôi cúng nằm trong hoàn cảnh này, và cha tôi cũng chạy ngược, chạy xuôi để tìm chỗ cho vợ chồng tôi đi. Một hôm cha tôi gọi vợ chồng tôi tới và bảo “ Thầy thấy tình cảnh này không ổn, cho nên thầy muốn gia đình mình có người sống ở một nước tự do để còn có thể giúp ích cho gia đình và các em con sau này. Thầy tin tưởng ở nơi con vì chỉ có con mới có thể đương đầu với những gì xảy ra (Tôi là con lớn và còn năm em nhỏ ). Thầy đã có chỗ để cho vợ chống con đi, và là đi đường bộ, vơí giá là ba cây vàng cho một người. Vậy ngày 23 tháng 9 chúng con phải có mặt tại điểm hẹn, ở đó sẽ có người hướng dẫn chúng con đi.” Tôi rất lo lắng vì tôi phải xa cha mẹ và các em. 
Hơn nữa tôi mới lấy chồng được một tháng và mới có 18 tuổi, nhưng tôi cũng nghe theo lời cha tôi. Đúng hai hôm là ngày 23 tháng 9 năm 1982. Mẹ tôi khăn gói cho vợ chống tôi ra đi, bà bó cho tôi 5 bộ quần áo, hai chỉ vàng vào gấu áo tôi và một ít đồ ăn đi dọc đường. Sáng sớm cùng ngày, cô tôi dẫn vợ chồng tôi đi Biên Hòa (nhà tôi ở Hố Nai), sau đó đi Sài Gòn rồi lên Cần Thơ để không có ai nghi ngờ. Chúng tôi đến Cần Thơ và rồi đi Châu Đốc, đó là lúc sáu giờ chiều cùng ngày. 
Cô tôi giao chúng tôi cho một người đàn ông, rồi cô quay về. Trong nhóm chúng tôi có tất cả năm người. Đúng 7 giờ tối, chúng tôi qua phà Bắc Mỹ Thuận, sau đó đi theo con đường mòn, đi miết tới 11 giờ đêm thì tới cánh đồng nhỏ, ở đó có người chờ sẵn chúng tôi, ông ta cho chúng tôi mỗi người nửa ổ bánh mì rồi đưa chúng tôi qua Campuchia, chúng tôi phải giả dạng là người Campuchia, tôi quấn xà rông đầu đội khăn rồi học nói tiếng campuchia bằng cách tâop. Nói chuyện với người bản xứ. Chúng tôi phải ở đó ít lâu để chờ có đợt rồi người ta dẫn chúng tôi đi tiếp, sau đó ông ta dẫn chúng tôi ra đường bờ ruộng, lội bùn tới đầu gối, với một con đường bùn rất là xa. Tôi mệt quá nên đi được có nửa đường bùn, thì tôi không thể đi được nữa. Chồng tôi làm một cái dây để kéo tôi đi.
 Lúc đó cũng là lúc mà chúng tôi phải bỏ cái giỏ trên vai đi, bởi vì mệt quá không thể đeo nó được. Đi tới một cánh rừng có một người Miên chờ sẵn để đưa chúng tôi đi tiếp. Ông ta cho chúng tôi một nắm xôi và một ít mắm bồ hóc, tôi chưa bao giờ nhìn thấy mắm bồ hóc, cái mùi khó ngửi làm sao, nhưng vì đói quá cũng phải ăn để mà sống, sau đó ông dẫn chúng tôi băng qua rừng già, chúng tôi đi suốt đêm, thân xác rã rời quần áo rách nát, có lúc tôi dẫm lên cả xương người, khi tôi để ý đến dọc đường đi, thì ôi thôi toàn là xương người, xương người lớn xương trẻ con rất nhiều, lẫn cả tiếng thú rừng hú ban đêm nghe sợ hãi, rồi những con muỗi mòng, những con bọ rừng bò lên người mà chích mà cắn, cứ thế tha hồ mà gãi. Đến gần sáng chúng tôi nghỉ trong bụi rậm, mỗi người một bụi, cho tới tối thì chui ra lại đi tiếp, khi chui ra tay chân mặt mũi bị cào xây xát bởi cỏ dại và gai, có những lúc rất nhức nhối bởi vết trầy bị rỉ máu, thuốc thang thì không có. Mỗi ngày chỉ có một nắm xôi và một ít mắm bồ hóc vào buổi tối trước khi đi, còn ban ngày phải nhịn đói chờ đến tối. Chúng tôi đến trại, họ lục xét từng người vì họ biết những người vượt biên có tiền và vàng, khi họ khám đến tôi đã lấy đi hai chỉ vàng. 
Họ tưởng tôi còn dấu ở đâu đó nên căn vặn hỏi, tôi nói không còn nữa họ không tin nên bắt tôi uống nước thuốc của tụi nó để đi tiêu ra xem có vàng không. Trong suốt gần hai năm ở đó chúng tôi đã phải chạy giặc luôn bởi vì cứ đến mùa khô thì chúng đánh (Giặc có nghĩa là bộ đội Việt Nam bởi họ muốn lấn chiếm phần đất Campuchia). Mỗi lần chạy như thế rất là dễ chết bởi vì chúng bắn loạn xạ. Thời gian sống ở Campuchia, tôi luôn luôn hóa trang là một người đàn ông, trên mặt thì lọ nghẹ đen đúa, quần áo dơ dáy, tóc cắt ngắn đi. Ở trong trại người ta phân công đàn ông thì chặt cây hay gánh nước, còn đàn bá thì nấu cơm và làm những việc khác, đến bữa ăn thì mỗi người cầm một cái khay xếp hàng, rồi người ta múc cho mỗi người một phần cứ như nhà tù, mặc dù phần ăn trong trại phát mỗi ngày nhưng không đủ, nên tôi thường xuyên trốn ra ngoài đi làm chui như gánh nước chẻ củi, v v... Mỗi một công việc như thế làm từ sáng đến tối người ta chỉ trả cho nửa chén gạo.
 Quần áo thì chỉ có một bộ trên người mặc sáu tháng trời, mỗi khi tắm phải đứng chỗ nắng cho thật lâu, để chờ khô quần áo. Lương thực bữa đói bữa no. Tôi đói quá, trong lúc đi làm bên ngoài tôi thấy có mấy vỏ dưa hấu dơ bẩn liệng ngoài đường liền lượm về nấu canh ăn. Sau bữa đó tôi lên cơn sốt nặng, không có thuốc để chữa bệnh. Tôi tưởng không qua khỏi, may quá có người chỉ cho tôi biết một thứ lá ở trong rừng có thể chữa khỏi bệnh. Tức thì chống tôi đi tìm lá cho tôi uống, thế là tôi khỏi bệnh. Tại trại tối nào cũng như tối nào, tụi Miên vào từng lều khám, nếu thấy đàn bà con gái là chúng hãm hiếp. Nên tôi lúc nào cũng phải hóa trang là đàn ông kể cả ngày lẫn đêm để tránh tụi nó. Nhiều lúc tôi muốn chết đi được. Khoảng mấy tháng sau tôi có thai đứa con đầu lòng. Thiếu đồ ăn, thịt thà thì không có, nên tôi thường xuyên trốn ra khỏi trại đến những nơi có đám cưới hoặc tiệc tùng xin rửa chén và dọn dẹp, thì họ cho được một miếng thịt bằng bốn đót ngón tay. Tôi mang về trại kho mặn để ăn.
 Ngày qua ngày thân tôi chỉ còn là cái xác không hồn. Một hôm, vào khoảng nửa đêm có tiếng báo động giặc đến. Chúng tôi phải khăn gói chạy. Chồng tôi gánh một gánh những vật dụng cần thiết, còn tôi thì xách hai cái giỏ đồ cần thiết cho tôi và em bé, cộng với cái thai 6 tháng. Tụi Miên bắn súng, mình thì chạy bán sống bán chết. Tôi mệt quá bỏ cả cái giỏ mà chạy, chống tôi cũng thế. Được khá xa tôi không lê nổi nữa, chống tôi lấy dây lá trong rừng bện lại rồi kéo tôi đi. Cứ như thế ban đêm thì chạy, ban ngày thì nghỉ trong rừng. Ăn thì hái lá hái trái trong rừng, uống thì nước suối. Cho đến khi chúng tôi đến Thái Lan và dừng chân ở đó. Trong thới gian sống ở Thái Lan, cuộc sống thì cũng không khác gì ở Campuchia, nhưng người Thái đối xử với mình cũng tạm được, tôi amg bầu đi làm tôi mọi cho người ta từ sáng đến tối cũng được ăn hai bữa cơm thừa, và thêm chút xíu gạo mang về. Sống ở Thái Lan được hai tháng thì tôi sanh cháu, bà mụ người 
Thái lại đỡ đẻ cho tôi tại trại, sau đó bà cho tôi đồ ăn để lấy lại sức. Khi con tôi vừa tròn được 1 tuổi, chúng tôi lại phải qua một trại khác lần nữa. Chống tôi thì xách đồ đạc của con, nhiều lúc tôi tưởng chết dọc đường vì tôi hết hy vọng đến Mỹ, nhưng nghĩ đến chồng con tôi lại phải quên đi ý tưởng đó. Lương thực thì thiếu thốn không có chất dinh dưỡng cho con. Chống tôi kiếm được mấy trái dừa liền chặt ra lấy nước cho con uống và hái trái rừng ăn tạm qua ngày. Khi chúng tôi đến trại mới ở đó mất 5 tháng để chờ nhận định cư. Đó cũng là lúc tôi mang bầu cháu thứ hai, và tôi vẫn trốn trại đi làm chui bên ngoài bởi vì đói quá làm liều, ai mướn gì làm nấy. Có lần con tôi nhìn thấy đứa bé người Thái ăn cây cà rem, cháu ao ước có được cây cà rem ăn. 
Đối với người ta thì cây cà rem không đáng gì nhưng đối với gia đình tôi thì nó rất lớn, bởi vì những gì tôi kiếm được trong ngày đó là củ khoai củ sắn hoặc chén cơm thừa, v v... Còn tiền bạc thì chúng tôi không có đến một đồng từ khi rời mái ấm gia đình tại Việt Nam, hai chỉ vàng mẹ tôi cho thì tụi Miên lấy từ lâu. Tôi thấy con tôi thèm cây cà rem mà lòng đau xót, không biết nói sao cho con hiểu. Tôi chỉ biết ôm con vào lòng mà khóc. Mấy tháng sau thì chúng tôi nhận được giấy gọi phỏng vấn. Chúng tôi vừa mừng vừa run chỉ sợ rớt, khi chúng tôi bồng con lên gặp phái đoàn thì họ có tình cảm với gia đình tôi và hỏi chúng tôi nếu có thân nhân ở Mỹ thì họ sẽ chấp nhận cho gia đình tôi đi. May quá có anh chồng tôi sống ở mỹ đã lâu, nên họ chấp thuận. Tôi cảm thấy cuộc đời tôi chết đi sống lại sau đó gia đình tôi được chuyển tiếp qua Philippine để học tiếng Anh trước khi vào Mỹ. Chúng tôi sống ở Philippine được sáu tháng thì đi Mỹ. Chúng tôi đến Mỹ vào ngày 20 tháng 11 năm 1986 và sống tại thành phố Oakland, bắc Califonia, định cư và lập nghiệp ở đây cho đến nay. Khi gia đình tôi nhận được tin chúng tôi tới Mỹ, cha mẹ tôi rất là vui mừng và khóc hết nước mắt vì tưởng chúng tôi đã chết từ lâu. Tôi luôn luôn cám ơn bề trên đã cứu sống gia đình mình trong thời gia vượt biên. Cuộc sống bây giờ đã ổn định, vợ chồng đều đi làm và hai con đang học đại học. ::: 
Trần Thị Huyền:::

NGUYỄN CHÍ THIỆN * ĐÔI MÔI NỒNG NÀN




Nguyễn Chí Thiện
Đôi môi nồng nàn


Hắn là nhà báo trẻ sung sức, có lợi thế được lãnh đạo nhiều cơ quan cấp bộ quý, nên thường được mời đi đó đây, viết phóng sự dài về những công trình, dự án khu đô thị mới tầm vĩ mô, ngồn ngộn con số tăng trưởng. Hắn lại cao to khá đẹp trai, nhiều bạn gái. Nhưng những người bạn đó chẳng thể trông chờ ở hắn chung xây tổ ấm.
Ngoài ba mươi tuổi, hắn phớt lờ việc mẹ già giục lấy vợ. Mới đây, cô bạn gái chung tình đã lâu, xa nhau gần năm báo tin: "Em lấy chồng. Chồng em yêu em lắm. Đám cưới em anh nhớ đừng trốn đấy". Tin khá dữ, đúng lúc hắn muốn ngỏ lời: "Anh mệt mỏi, lênh đênh mãi, muốn dừng chân nơi bến sông em rồi".Hắn không muốn tin. Nhưng. Nàng và chồng sắp cưới kết kỹ lắm. Cá của đôi đó, trong ao nhà họ đã được hơn hai tháng. Anh bạn già là phóng viên ảnh mắng: "Đồ ngu, đồ không biết yêu!". Hắn buồn buồn, rượu bia chán mấy tuần lại vui như con trẻ, quên chuyện lấy vợ. Chỉ khi mẹ và các chị giục, hắn loanh quanh: "Vâng, con đang cố" hoặc "Từ từ, em đang tìm, đang tán tỉnh đây".

Các chị thương thằng em trai duy nhất, coi hắn như con khủng long cuối cùng sót lại trên trái đất nên săn đón, giới thiệu một cô. Hắn ưng ưng, nhưng bận công tác đành khất. Bà chị trách: "Chị chẳng tin. Cậu sẽ phòng không suốt đời cho xem". Hắn không hờ hững nhưng vì nhóm bạn có chương trình đến vùng sâu, vùng xa tìm hiểu đời sống đồng bào dân tộc thiểu số.Nghe nói vậy, mẹ hắn giãy nảy: "Không đi, đường sá xa xôi phức tạp, vất vả lắm". Rồi bà than thở, rên rỉ kêu ốm, bỏ ăn. Hắn an ủi: "Mẹ sợ con bị bùa ngải chứ gì, mẹ đừng lo, ánh sáng văn minh dẹp hết bóng tối lạc hậu, nhảm nhí rồi".Xưa bố hắn có lần công tác mạn ngược, khi về, ông suốt ngày lục tài liệu, đọc sách, ngân nga mấy câu hát tiếng dân tộc. Tài liệu quý nhất là bà ông không ngó ngàng, còn đòi quay lại vùng cao đó điều nghiên thực địa lần nữa. Bà nghi ông bị cô người Mường người Mán bắt hồn, bí mật tìm thầy giải bùa. Hôm bố hắn ngồi lỳ trong thư viện quốc gia cả ngày, lúc về đói mèm, thấy cỗ bàn bày linh đình, chẳng hỏi han cứ thế ngồi cùng cả nhà ăn uống phủ phê, nào biết đó là cỗ lễ phá giải bùa ngải.Thầy giải xong, mươi ngày sau, bố hắn đến bên vợ nịnh, hôn bà chùn chụt khoe: "Anh sớm hoàn thành bản đồ khoáng sản tỉnh đó, em ạ". Bà: "Vâng! Không bị người ta khoắng đi cả người là may rồi"...

Chuyện tâm linh hư hư thực thực, thật khó hiểu.Ngày đầu nhóm của hắn đến chợ Cò của xứ Mường. Chợ đông người, nhiều loại hàng hóa. Để ý, hắn chẳng thấy ai là người dân tộc, chỉ thấy mua bán chứ không ca hát, trò chuyện giao duyên như trên phim ảnh. Hắn hơi thất vọng, sẵn đói bụng ngồi xuống ăn cái bánh. Bánh bằng bột tẻ xay cối tay ngon, lạ miệng. Sực nhớ, hắn ngẩng đầu, thấy mấy tay phóng viên ảnh tíu tít quanh cô gái trang phục dân tộc Mường.Cô khá đẹp, sành trong các tư thế để nhiếp ảnh gia tác nghiệp. Hắn cũng đến ngắm. Mấy ông Tây ba lô chụp ảnh ăn theo, đối thoại nhiều bằng tiếng Anh, mời cô lúc khác  có thời gian làm mẫu cho họ. Cô: "No! Sorry! I'm very busy" ("Không! Xin lỗi! Tôi bận lắm!")."Cô gái Mường thạo tiếng Anh?" - Hắn ngạc nhiên. Chợt có tiếng khúc khích bên tai. Quay sang, hắn ngỡ ngàng, một cô gái giống cô kia như đúc, chỉ khác mặc bộ đồ hiện đại, mốt. Hắn đến bên hỏi: "Em tên gì?". Cô nhìn hắn chăm chăm, lúc sau chớp chớp mắt nói: "Ủn Bui". Hắn không hiểu nên hỏi lại: "Em tên là nào?". "Tên Vui" - cô đáp. "Em là người dân tộc gì?". "Người Mường".Cứ như lần đầu gặp người Mường, hắn cười tươi, nhìn ngắm tò mò: "Em và cô làm mẫu kia quan hệ thế nào?". "Ủn cái". “Ủn cái là gì?" "Em gái ruột" - cô nhát gừng, môi bậm lại. Thay đổi chiến thuật, hắn xích gần lại khen: "Này, chị em em rất đẹp. Nhưng Vui đẹp hơn, còn xinh nữa".Cô gái tươi hẳn, vẻ sung sướng, dễ bắt chuyện: "Nó là em gái".


 Cô kể, em gái tên Ngân học đại học năm thứ ba, nhà ở thôn Chằm Cun, cách đây mấy xã. Thỉnh thoảng Ngân mới về nghỉ. Hôm nay chơi chợ, chị em đổi quần áo cho nhau. Cả chợ mỗi Ngân mặc bộ đồ Mường, thành tâm điểm cho cánh nhiếp ảnh. Và thảo nào Ngân diễn xuất khéo, nhưng thiếu thiếu cái gì đó.Hắn nhận xét: "Này Vui, em chụp ảnh mặc quần áo dân tộc Mường đẹp hơn Ngân đấy? Em có nét hồn nhiên hơn, đáng yêu hơn". Vui cúi nghiêng đầu cười thẹn. Hắn thật lòng. Đúng, ở Vui còn nét khác đẹp hơn, nhưng khen thành lời thì…

Đó là đôi môi. Làn môi cô nhìn vào đã thấy hấp dẫn, giờ tươi nở như căng hơn, nồng nàn như đóa hoa đón xuân đầu mùa.Thấy cô cầm cuốn sách nhỏ, hắn hỏi: "Em làm gì ở xã". "Không làm gì" - Cô lúng túng giấu. Đó là sách giáo khoa lớp một. "Hay em là cô giáo?” - hỏi vậy, trong hắn đã vang lên nhạc điệu một bài hát "Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi… tính tình tang…". "Chăng, ủn mu chự". "Là gì cơ?" "Em mù chữ". "Em mà mù chữ?" - Hắn ngạc nhiên tròn mắt, khiến cô cũng ngạc nhiên.Đúng lúc đó, cô em như quan sát từ trước bỏ chụp ảnh, đến cầm tay Vui kéo đi nói giọng không dễ chịu: "Chăng maạng, chăng yểng gia".

Vui lật đật bước, mặt ngoảnh lại, mắt chớp chớp chưa tỉnh cơn say. Họ đi rồi, hắn ngẩn ngơ xao xuyến mãi. Nghe hắn kể, nhóm bạn cho rằng Vui bị khuyết tật về não bộ. Có vậy cô ta mới dễ nhận mình mù chữ, em gái vội vã lôi đi.Chấp nhận giả thuyết đó vì thấy Vui hơi thụ động, nhưng hắn cứ bâng khuâng, nao nao thế nào. Tối, nhóm nhà báo giao lưu với thanh niên địa phương. Niềm vui, sự say mê của tuổi trẻ trong hắn bùng lên theo điệu múa, lời ca và ánh lửa trại tưng bừng reo.Hôm sau nhóm du khảo đi tiếp. Đường trải đất đá thô lồi lõm, dốc hẹp, ngoằn ngoèo, nhà sàn thưa thớt, vắng bóng người khiến cảm giác hun hút hoang sơ. Nhóm dừng ở trung tâm xã làm việc. Chị Trưởng ban giáo dục báo Tuổi xanh Thủ đô đặt vấn đề:

 Xã phổ cập lớp mấy, có trường mầm non chưa. Chủ tịch xã vui vẻ trả lời. Nghe đến tên thôn Chằm Cun, cả nhóm như giật mình.Hắn tranh thủ hỏi: "Xã ta có bao nhiêu thanh niên mù chữ". Ông Chủ tịch như bị xúc phạm, nói ngay: "Chăng. Chăng ai mu chự". "Ông nói gì" - Chị Trưởng ban giáo dục hỏi. Ông Chủ tịch cười, xin lỗi vì nói bằng tiếng Mường, mọi người không hiểu. Ý ông, xã không có thanh niên mù chữ. Chuyện đó chỉ có ở đâu đó xa xôi hẻo lánh. Hắn nghe mà nhẹ lòng.Trưởng nhóm phân hắn và anh phóng viên nhiếp ảnh già xuống thôn Chằm Cun. Chỉ cách chợ Cò hơn chục ki lô mét, mọi thứ ở đây khác hẳn. Dân trò chuyện tiếng Kinh với nhà báo, nhưng trao đổi với nhau bằng tiếng dân tộc nhanh líu lo. Hắn và anh bạn được gia chủ niềm nở tiếp. Chưa uống cạn ly nước lá rừng thơm thơm ngọt nhẹ, hắn nghe tiếng cười đầu sàn nhà. Một cô gái bước vào, miệng chưa dứt cười."Ô kìa, Vui!" - Hắn không tự chủ được thốt lên. Đúng là Vui, cô gái hôm qua ở chợ Cò.

Vui cũng sững người rồi chạy vào buồng. Mươi phút sau, hắn nghe tiếng con gái hát líu lo. Đó là Ngân. Thoáng vài giây ngạc nhiên nhìn hắn: "Chào ông nhà báo ạ!", rồi Ngân khẽ lườm, nhẩu môi như muốn đuổi. Hắn cũng ngạc nhiên, chẳng biết mình có lỗi gì.Anh bạn ở cùng rủ cả nhóm đến. Cảnh chiều muộn, sương thu giăng giăng, khói lam chiều vương vấn quanh những nếp nhà sàn. Các nhiếp ảnh gia mê mải sáng tác, đến lúc nghỉ, chào gia chủ để về thì Vui bưng mâm lên. Ông trưởng thôn, chủ nhà lịch sự: "Chẳng mấy khi các đồng chí nhà báo lên xứ Mường, đường xa diệu vợi. Nhà chúng tôi chỉ có mâm cơm rau rừng với chén rượu nhạt để mời. Mong quý khách đừng cười chê!".Chủ nhà đã nói vậy, lại  ngót bụng đã lâu, cánh nhà báo cám ơn lấy lệ rồi vào mâm, đánh chén, uống rượu hun hút. Ông chủ nhà rất vui thấy khách ăn ngon, còn khen món ăn lạ.

Tối, Vui mắc màn cho hắn ngủ. Đêm miền rừng lạnh nhưng tấm chăn của Vui đem hương thơm và hơi ấm giúp hắn ngon giấc.Hôm sau, nhóm hắn đi sưu tầm chuyện và phong tục cổ của người Mường. Anh phóng viên nhiếp ảnh và hắn nhờ Vui dẫn đường, họ thu hoạch được kha khá. Hắn khoe với bố Vui: "Chú ạ, em Vui khéo lắm, nhờ em chúng cháu có nhiều tư liệu quý và ảnh đẹp". Buổi tối, thanh niên xã rủ nhau đến thăm các nhà báo, đem theo hũ rượu cần đãi. Thanh niên trai gái uống rượu, hát đối đáp giao duyên.Vui tham gia nhiệt tình, thỉnh thoảng nhìn sang hắn đắm đuối, đôi má ửng hồng. Rượu cần ngọt êm làm hắn ngấm, ngắm Vui thấy rạo rực. Tối, trước khi ngả đầu xuống gối êm, hắn đến bên Vui: "Vui ơi, ngày mai mình lại đi cùng nhau nhé. Có em anh may mắn đấy".

Vui chỉ cười gật đầu.Từ hôm đó, nhà Vui trở thành điểm tụ tập của nhóm nhà báo bàn chuyện hôm sau và chia sẻ thông tin. Vui nhàn việc, đưa hắn đi các nơi, còn rủ đến thăm người bà con ở các thôn. Hai người quấn quýt trong mắt nhiều người. Ngôi nhà sàn đơn sơ của Vui trở nên ấm áp hơn nhờ tối tối thiếu nhi đến đầy nhà, và cô là tâm điểm vui chơi hồn nhiên cho các em.Hắn ngồi ngắm nhìn Vui say sưa với các em nhỏ, ngẫm nghĩ về cô, về cuộc đời con người, chợt: "Sao màn do Vui mắc mình ngủ ngon thế? Không biết, mình và Vui có hợp với nhau không nhỉ... chắc mẹ chẳng bao giờ..." rồi giật mình vì suy nghĩ ấy.Một chiều, con trâu đực to của nhà trong thôn ngã khe suối què chân.


Cả thôn cùng thịt chia nhau ăn giúp, đến vụ trả bằng thóc. Nhóm nhà báo nộp ngay tiền nhận một phần, nhờ gia chủ làm món, thế là lại có tiệc. Vui ngồi bên chăm chỉ gắp cho hắn, trông hai người thật đẹp đôi. Mọi người ăn và trò chuyện hết sức vui vẻ, tự nhiên.Ông chủ nhà uống khỏe nhưng cũng ngà ngà, chỉ vào Vui: "Con bé Vui nhà này mù chữ đấy, em gái cho mượn điện thoại di động cũng chẳng biết bấm". Hắn ngạc nhiên, miệng há hốc, suýt để rơi miếng thịt gắp dở, hỏi: "Sao chú không cho Vui đi học?".Ai biết được chuyện như thế. Vui tròn tuổi tôi thì có em. Năm sau bố mẹ Vui ly hôn.

 

Ngân với mẹ về quê ngoại. Vui theo bố. Mẹ Vui gặp người thương quý-là ông trưởng thôn bây giờ-cưới về, coi Ngân như con đẻ cho học hành tử tế. Bố Vui lấy vợ, nhưng suốt ngày say xỉn, mặc Vui cho dì ghẻ chăm sóc.Sáu tuổi, Vui phải cùng dì đi lấy măng. Mười tuổi, Vui thui thủi vào rừng một mình.  Bố Vui bỏ vợ hai, lấy vợ nữa. Vui như người đi ở làm thuê, sống cô đơn. Qua mùa gặt, cô làm thuê chỗ này chỗ nọ kiếm miếng cơm qua ngày. Bằng tuổi, nhiều cô gái đã chồng con, Vui vẫn chẳng ai ngó ngàng.

Cô gái Mường khi lấy chồng phải tự lo hai chỉ vàng, tiền mua ba bộ chăn màn mùa đông biếu bố mẹ đẻ, bố mẹ chồng và một bộ cho mình. Theo bản năng con gái, Vui nhịn ăn dành dụm từ bao giờ được hai trăm ngàn đồng, cất kỹ lắm nhưng bị ai lấy mất. Chỗ Vui giấu tiền, chỉ có dì biết. Cô hỏi để đòi liền bị bà đánh thừa sống thiếu chết. Nghe tin, mẹ Vui lật đật lên đón.Mấy tháng đầu, Vui chẳng muốn gần gũi chuyện trò với ai, nhạt cả với mẹ dù bà muốn vỗ về. Khi bố dượng hoặc mẹ giao việc, cô cắm đầu cắm cổ làm như máy. Người Vui gầy, môi lúc nào cũng bậm lại. Một lần, bố dượng có chút hơi men nhắc: "Cả ngày mai, cái Vui lên rừng chặt tỉa gỗ tràm cùng mẹ.

Làm cho xong vạt rừng đó trong ngày".Hôm sau lên rừng, Vui làm cắm cúi, mẹ giục nghỉ cũng không dừng, cố đốn tỉa mãi, đến lúc mệt hoa mắt gục xuống. Mẹ Vui ôm lấy con khóc: "Mệt sao con không nghỉ, cố sức thế làm gì?". Vui nói trong ngắt quãng: "Con sợ bị bỏ đói, sợ bị đuổi đi" rồi gục vào lòng mẹ khóc òa, nước mắt ướt đầm ngực áo mẹ.Tối ấy Vui bị ốm, sốt nặng mấy ngày liền, nhiều lúc nức nở trong cơn mê, hoặc chồm dậy nói sảng những lời lạ tai khó hiểu. Người già nói, Vui bị ma nhập vì vía mòn yếu.

Để lâu ngày vía chết hết, ma bắt hồn thì chết người. Bố mẹ Vui thuê thầy cúng làm lễ. Vui khỏi. Từ đó Vui khỏe mạnh, như lột xác không đen nhẻm mà nước da trắng dần, đôi môi không còn mím chặt hay cười, lộ rõ nét hồng gợi cảm, khiến trai làng nhiều anh tiếc vì chót có vợ. Nhà giao cho thằng em dạy chị học chữ. Biết thân phận nên Vui cố, giờ biết ký tên và trình độ ngang ngang lớp một."Thôi, âu cũng do số phận. Vui bị ế rồi. Chỉ mong sau này, có ai thương thì đem về, đừng hắt hủi nó là chúng tôi mừng"- Ông chủ nhà than. Mẹ Vui thở dài. Riêng Vui nét mặt bình thản, có lúc bậm môi hơi cúi. Hắn nghe lòng cứ rưng rưng.Không khí trầm quá, chị Trưởng ban giáo dục cất tiếng cười động viên: "Lo gì, Vui xinh đẹp thế này, cố học cho hết lớp năm lớp sáu, rồi một hai năm nữa theo chị về Hà Nội, chị tìm việc làm cho. Khi có công ăn việc làm đàng hoàng, em chỉ cần giơ ngang ngón tay ra là khối chàng xin được tặng nhẫn". Mọi người gật gù tán thưởng. Tối ấy hắn trằn trọc mãi, nghĩ chuyện của Vui mà thương quá, không hiểu sao đời bây giờ lại có số phận buồn đến vậy.Nhóm đi Thác Voi, rủ Vui đi cùng. Thác Voi tuôn nước từ độ cao ngàn thước, qua nhiều tầng bậc tỏa hơi mát. Nơi này không khí trong lành, hương phong lan rừng thơm ngát. Hắn thích lắm, rủ mấy cô phóng viên tắm. Mấy cô phóng viên trẻ để nguyên quần áo nhảy ào xuống, vừa bơi vừa trêu: "Người yêu ơi! Em đố anh đuổi bắt được em đấy".Hắn rửng mỡ lặn đuổi theo.

Lên bờ chẳng thấy Vui đâu, cả nhóm hốt hoảng tìm, thấy Vui ngồi buồn bên khe đá. Nhóm bạn về trước, hắn và Vui về sau. Vui hỏi: "Anh muốn đi thăm thung ma không". Hắn muốn đi vì Vui nói, nơi ấy là khu mộ cổ người Mường xưa. Hắn may, ghi chép và chụp được khối ảnh mộ cổ bằng gạch đá ong già, phải đến hàng ngàn năm tuổi, đã lên nước đen bóng như thép tôi.Vượt qua con đèo nhỏ trên đường về, Vui kêu mệt, muốn ngồi nghỉ. Để xe một chỗ, Vui và hắn vào một bãi cỏ mọc cao, dầy êm như tấm đệm. Hai người bên nhau trò chuyện trong ánh hoàng hôn và bầy chim ríu rít về tổ, hắn hỏi: "Vui ơi, sao trước đây em không đi học".Vui kể, cô thèm học lắm, nhiều hôm trên đường qua trường, Vui ngẩn ngơ nhìn mấy đứa chạc tuổi mình được bố dắt tay đi học. Nhìn mãi, mải nhìn mãi, khi cô cậu học sinh cuối cùng vào khuất cổng trường thì đã muộn, Vui tất tả chạy lên rừng. Cảm động số phận bất hạnh, hắn cầm bàn tay Vui nâng lên, muốn hôn.Vuốt nhẹ từng ngón tay, có một ngón cụt nửa móng, hắn hỏi: "Móng tay này của em bị sao thế".

  Lần ấy phải băm  rau lợn buổi tối, bụng đói, mệt và buồn ngủ nên Vui băm phải tay, cụt sâu quá móng không mọc đầy lại được như cũ.Hắn thấy đau, như chính mình bị chặt đứt tay, ôm Vui vào lòng vuốt bờ vai: "Thôi, chuyện qua rồi, có anh bên em, đừng lo, đừng sợ". Vui dụi mắt dụi đầu vào vai áo hắn, im lặng trong vòng tay hắn, người mềm đi. Chỉ có rừng biết, nghe thấy tiếng sột soạt của hai người như hai quả cây vả chín mũm, tươm mật hổn hển rơi rụng vào trong nhau.Hôm sau, trước lúc nhóm nhà báo chia tay trở về, hắn dắt Vui ra một chỗ. Chuyện riêng bịn rịn, mắt đỏ hoe nhưng khi hắn hỏi: "Vui ơi! em yêu anh không?".

Vui lại đáp: "Chăng mắt". "Chăng mắt là gì" - Hắn hỏi. "Là không biết, chẳng quan tâm"- Vui lắc lắc người, mái tóc dài mềm mại tung qua, trùm lấy hắn. Hương tóc, mùi hương con gái thơm quyến rũ.Về đến nhà, hắn cứ như người ngẩn ngơ, nhớ Vui, không hiểu tại sao không yêu mình mà Vui nồng nàn, hiến dâng cho nhau như thế. Chưa được một tuần, hắn quay lại nơi ấy. Lúc đầu Vui mừng rỡ, nhưng sau đối xử nhạt như người lạ mới quen. Xa nơi ấy hắn buồn, chẳng thiết ăn, không chịu làm việc.Quay lại lần nữa, ở vài ngày hắn hiểu ra, Vui biết phận mình hẩm hiu, chẳng dám đặt hy vọng gì ở hắn. Chỉ cần được hắn quan tâm, yêu quý và cảm thông với mình như thế là cô mãn nguyện rồi. Mẹ và các chị nghi ngờ, hỏi thăm người trong nhóm, nghĩ hắn bị bỏ bùa ngải, vứt hết quà cáp hắn đem về, còn định nhờ chị Trưởng ban giáo dục nọ đưa lên tận nơi xem thế nào.Bà tìm thầy cao tay ấn nhờ giải bùa ngải.

Thầy chẳng phá giải được. Hắn vẫn vậy, còn đưa Vui về xuôi gửi nhà chị Trưởng ban giáo dục. Lần nữa bà đi xem tướng số. Thấy phán, thằng con trai của bà yêu rồi, tình yêu thôi. Vụ này không có chuyện bùa ngải đâu, hắn làm người khác khổ vì mình thì có, nên đi xem thử mặt cô gái ấy thế nào. Mẹ hắn cùng chị đến nhà chị Trưởng ban giáo dục chơi. Bà ngồi yên ngắm, lúc sau mới hỏi chuyện, dần dần tỉ tê. "Con ơi! Số phận con khổ đến vậy ư? - Bà xúc động vuốt tóc Vui - Tội nghiệp con".Tôi là bạn học cùng lớp đại học với hắn, nhưng công tác tại Nam Bộ, ở một tòa báo nhỏ. Biết chuyện của hắn, nhiều lần muốn chép lại gửi đăng báo mà ngại.

 Ra thăm nhà hắn, tôi và hắn ngồi uống rượu, nhắm với cá suối muối treo gác bếp lâu ngày của người Mường, ngon như cá Xibêri muối mặn ướp dầu ô liu.Con trai hắn hơn tuổi đang nghịch đồ chơi. Vui chăm chú nghe máy ghi âm, chép ra thành chữ. Hắn đỡ vất vả hẳn, có sẵn bản tư liệu chép tay ra của vợ, mà Vui cũng thạo nhanh cái chữ. Chuyện này không phải ai nghe cũng tin, nhưng cứ kể ra đây. Bởi vì, họ đã biết yêu và dám đi tới như vậy.

Nguyễn Chí Thiện

Monday, February 27, 2017

VĂN QUANG *CÁI MUỖNG

 
Cái muỗng

VĂN QUANG









Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng” chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu “biệt kích” gồm vài căn nhà “xây dựng kiên cố” bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi “được học tập cải tạo” trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được giam” ở đây có vẻ như “cởi mở” hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra mở vào.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ nhắn cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.


II. Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ “an tâm, hồ hởi phấn khởi” mà bất kỳ anh “trại viên” nào cũng cứ phải viết khi phải làm những “bản kiểm điểm”, mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.

Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày lại vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ sộc thẳng vào phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có một ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua”. Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ “quốc cấm” của trại đã quy định.


Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những “trại cải tạo” thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những “tiêu cực”. Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.


Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được một anh nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó hy vọng lòi ra một vài cái “tội”. Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” thì cứ mặc, còn cãi là còn “ngồi đồng”. Đi làm suốt một ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn “phê bình” còn “kiểm thảo” thì chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.

Thời điểm “căng” thì vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm “treo một chân”, thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những chuyện thông đồng, những tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.

Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người “chẳng có gì để mất” thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.


Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “caritas” như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người chẳng có ai thăm nuôi.

Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái “thú đau thương”.


III. Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Đó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống xu hào, đó là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ xu hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống xu hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tôi đã gặp ở phòng trà tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngầm” giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống xu hào còn non chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.


Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng “ăn dè hà tiện” nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng “trăm công ngàn việc” từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.


Đây là thứ “gia bảo” tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một “trại viên”, nhưng trước đây anh ta là cán bộ, “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là “phạm binh phạm cán” tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.


Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng “cậu huyện Nhụ nằm ở đó”.

Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi “cải tạo” cụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.

Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy” một bên là “cán” thì khó mà san lấp được…

Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.

Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:

– Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào nhà đá.

Tôi nằn nì:

– Đấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự điển. Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi.

Dực nhìn tôi nghi ngại:

– Hay là mày giấu tiền trong đó?

Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.

– Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu tiền được?


Dực nửa đùa nửa thật:

– Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?

– Đúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì.

– Vậy sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không chết cả đám. Tao không chơi.

Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.

Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó. Tôi đành kể cho Dực nghe:

– Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày đưa vào túi xách. Đứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc men… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: “con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy”.

Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:

– Thôi được, nếu đã là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân.


Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.


Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…” nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành xinh xắn. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.


Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như “con có ở xa hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường”.

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó “nhí nhảnh” đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi rồi mai bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn! Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách” chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Đó chính là mùa xuân của tôi.

Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải “cứu lấy” cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò. Anh bạn nhảy dù, la lên:

– Bộ ông điên sao?

Tôi điên thật, hy vọng mình mò được. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút và khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi được cái muỗng. Đôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:

– Tôi biết ông mất cái gì rồi.


IV. Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu đã lập gia đình ở Miami Florida.

Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sàigòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sàigòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái tình. Cái tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi lại mạnh mẽ và sâu sắc hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật đó trên đời không gì có thể so sánh được.

Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 nhân dịp cháu lập gia đình. Nhưng tôi ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Đúng là chuyện của người thì nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.










Văn Quang




THÔNG TIN & BÌNH LUẬN QUỐC TẾ




 

Chiến tranh kinh tế : Bắc Kinh sửa soạn vũ khí đối phó với Trump

media 

Ảnh ông Donald Trump trên một sạp báo tại Bắc Kinh, ngày 12/12/2016. Trang bìa tạp chí mang hàng tựa "Doanh nhân Trump sẽ thay đổi thế giới như thế nào?"Ảnh : GREG BAKER / AFP
Báo Pháp Les Echos hôm nay dành tựa trang nhất cho hồ sơ quan hệ kinh tế Trung Quốc – Hoa Kỳ : « Bắc Kinh sửa soạn vũ khí đối phó với Trump ». Nửa năm trước kỳ Đại hội chuyển giao quyền lực, trong bối cảnh « tăng trưởng chựng lại, nợ công tăng vọt, căng thẳng với tân chính quyền Trump », chủ tịch Trung Quốc quyết định « bổ nhiệm người thân cận vào nhiều vị trí chủ chốt » của nền kinh tế.
Việc bổ nhiệm nói trên vừa nhằm chuẩn bị cho cuộc chiến kinh tế với Mỹ trong những tháng trước mắt, vừa là một bước trung gian cho cuộc chiến quyền lực trong nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc, có ý nghĩa quyết định đối với tương lai của lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình, trước thềm Đại hội 19.
Theo chuyên gia về Trung Quốc Jean-Pierre Cabestan, trưởng khoa chính trị học, Đại học Báp-tít Hồng Kông, với các bổ nhiệm mới này, ông Tập Cận Bình muốn « củng cố quyền kiểm soát đối với toàn bộ những đòn bẩy của chính sách kinh tế quốc gia…. Tăng trưởng giảm tốc và Trump trở thành tổng thống đòi hỏi một sự kiểm soát tập trung hóa cao độ ».
Quốc Hội Trung Quốc khai mạc cuối tuần này sẽ phải chấp nhận một tỉ lệ tăng trưởng ở mức 6,5%, thấp hơn năm ngoái và thấp nhất kể từ 26 năm qua. Về mặt tài chính, vấn đề nợ công gia tăng với tốc độ phi mã, đặc biệt là nợ của các cấp chính quyền địa phương, là hết sức nan giải với Bắc Kinh, nhiều định chế quốc tế, như IMF, đang thúc đẩy Trung Quốc phải « hành động kiên quyết ».

Les Echos đặc biệt chú ý đến ba nhân vật mới được bổ nhiệm. Ông Hà Lập Phong (He Lifeng), 72 tuổi, lãnh đạo Ủy Ban Cải Cách và Phát Triển Nhà Nước (NDRC), là người từng làm việc cùng Tập Cận Bình trong những năm 1980, khi ông Tập còn là phó thị trưởng thành phố Hạ Môn (Xiamen). Ủy Ban Cải Cách và Phát Triển Nhà Nước phụ trách các chính sách lớn, như kế hoạch kinh tế năm năm, hay chủ trương « con đường tơ lụa » - một dự án trung tâm trong chiến lược kinh tế và ngoại giao toàn cầu của ông Tập Cận Bình. Tiếng nói của ủy ban này rất quan trọng trong bối cảnh « tính bền vững của mô hình tăng trưởng Trung Quốc » hiện đang bị thách thức.

Tập Cận Bình cũng bổ nhiệm một chiến hữu khác vào cương vị bộ trưởng Thương Mại. Ông Chung Sơn (Zhong Shan), 61 tuổi, từng là người cộng sự lâu năm khi ông Tập còn là bí thư tỉnh Chiết Giang trong những năm 2000. Tân bộ trưởng Thương Mại sẽ phải thương lượng gay go với Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu, trong bối cảnh « chủ nghĩa bảo hộ và dân túy dâng lên tại phương Tây » và « thương mại toàn cầu có chiều hướng chững lại ».

Nhân vật quan trọng thứ ba được Les Echos chú ý là Quách Thụ Thanh (Guo Shuqing), lãnh đạo Uỷ ban Giám sát và Quản lý Ngân hàng Trung Quốc (CBRC), 60 tuổi, người rất có khả năng sẽ trở thành thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc. Ông Quách Thụ Thanh, từng « nổi tiếng là một nhà cải cách kiên cường trong lĩnh vực điều chỉnh các thị trường hối đoái », sẽ phải đối mặt với một lĩnh vực, được coi là hết sức khó cải cách, nơi mà « mức nợ xấu của các ngân hàng rất cao » và « hệ thống tín dụng ngầm » hoành hành.
Nhìn chung trong lĩnh vực kinh tế, theo chuyên gia kinh tế Eric Florence, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Pháp về Trung Quốc đương đại (CEFCC) tại Hồng Kông, Tập Cận Bình « đã thiết lập nhiều nhóm làm việc quy mô nhỏ, do ông trực tiếp chủ trì, để có khả năng tác động trực tiếp đến các quyết định ».

Bắc Kinh « im lặng » trước các cú đá của Trump
Cũng trong hồ sơ quan hệ Trung – Mỹ, Les Echos, có bài « Đối mặt với các cú đá của Trump, Bắc Kinh im lặng ». Theo nhiều chuyên gia về Trung Quốc, để hiểu chiến lược hành động giới chính trị Trung Quốc, cần đọc cuốn « Binh pháp » (hay « Nghệ thuật chiến tranh ») của Tôn Tử, tác giả thời cổ đại Trung Quốc, rất đề cao « thời điểm hành động phù hợp ». Bắc Kinh sẽ « để cho tân tổng thống Mỹ thể hiện hết sự hỗn loạn, rồi mới ra tay ».

Một loạt ví dụ cho thấy điều này : Những lời lẽ đao to búa lớn như tuyên bố xem xét thay đổi chính sách với Đài Loan, sẵn sàng ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận với đảo nhân tạo ở Trường Sa, hay lên án chính sách hạ giá đồng nhân dân tệ để thúc đẩy xuất khẩu đã chỉ nhận được những phản ứng vừa phải, thậm chí là « sự im lặng của Bắc Kinh ».
Les Echos phê phán các quyết định của tổng thống Mỹ, đặc biệt trong việc chấm dứt hiệp định thương mại TPP với các nước châu Á – Thái Bình Dương, hành động chẳng khác nào « tự lấy súng bắn vào chân mình », trong bối cảnh Trung Quốc đang mưu toan áp đặt quyền thống trị.

Tân cố vấn an ninh Mỹ chuẩn bị chiến tranh với Nga
Vẫn về Hoa Kỳ, Le Figaro có chùm bài về tân cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Mỹ, tướng McMaster, người được ví với vị tướng huyền thoại « Patton », tư lệnh lực lượng Mỹ chống quân đội phát xít Đức tại châu Âu trong Thế Chiến Hai. Tướng ba sao Herbet Raymond McMaster, 54 tuổi, từng nổi danh trong hai cuộc chiến tại Irak và Afghanistan, một người được cấp trên trực tiếp là David Petraeus từng là tư lệnh quân đội Mỹ tại hai chiến trường này, đánh giá là « một chỉ huy xuất sắc, một người lính thực thụ và một anh hùng trong chiến đấu ».

Trên thực tế, theo Le Figaro, tân cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Mỹ vốn là người thường đưa đưa ra những sáng kiến trên thực địa, trái ngược với các cấp chỉ huy, đặc biệt nổi tiếng là trận chiến thiết giáp « 73 easting », chống chế độ Hussein tại Irak, đã đi vào lịch sử quân sự Mỹ. Cũng tại Irak, vào năm 2005, tướng McMaster đã « bình định một cuộc nổi dậy », nhờ dựa vào dân chúng địa phương, khi buộc các binh sĩ phải học tiếng địa phương, phong tục tập quán địa phương…
Theo Le Figaro, tại Nhà Trắng, tướng McMaster sẽ phải học cách làm việc với các trung tâm quyền lực khác trong chính quyền Trump, có vị thế hơn, đặc biệt là cố vấn chiến lược của tổng thống Steven Bannon. Theo một chuyên gia quân sự, « các đồng minh tự nhiên » của viên cố vấn an ninh quốc gia này sẽ là bộ trưởng Quốc Phòng Mattis, bộ trưởng Nội Vụ Kelly và ngoại trưởng Tillerson.

Về quan hệ Mỹ - Nga, theo Le Figaro, quan điểm của tướng McMaster cho đến nay là chuẩn bị cho « các cuộc chiến tương lai » quy mô lớn, mà nguy cơ bùng nổ là cao nhất kể từ 70 năm nay, trong đó, « đối thủ hàng đầu sẽ là Nga ». Theo tướng McMaster, nguy cơ chiến tranh với Nga là cao hơn với tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo, với Iran, lực lượng nổi dậy Taliban ở Afghanistan và Pakistan và hay Bắc Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân.
Theo Le Monde, quan điểm của tướng McMaster là không thuận theo chủ trương liên minh với Nga, như tổng thống Donald Trump từng có xu hướng nghĩ đến.

Nga : Phim « Một con người quá tự do »
Về tình hình chính trị Nga, Le Figaro giới thiệu bộ phim tài liệu về nhà đối lập nổi tiếng Boris Nemtsov, bị ám sát cách nay đúng hai năm, ngay sát điện Kremlin.
Chủ nhật vừa qua, tại nhiều thành phố lớn khắp nước Nga đã diễn ra nhiều cuộc tuần hành, với hàng nghìn người tham gia, để tưởng nhớ nhà đối lập, nguyên phó thủ tướng dưới thời Elsin, nhiều cuộc biểu trong số đó đã không được chính quyền cho phép, nhưng được nhắm mắt làm ngơ. Cũng trong dịp này, bộ phim tài liệu về cuộc đời nhà đối lập mang tựa đề « Một con người quá tự do » đã được trình chiếu.

Nữ đạo diễn Vera Krichevskaya, đồng tác giảm bộ phim, nhận xét : « Như điều thường xảy ra ở nước Nga, người ta chỉ nhận ra người anh hùng sau khi họ đã chết ».
Boris Nemtvos từng được coi là người thừa kế của Elsin, nhưng ông đã thất bại trong cuộc chiến chống lại các tập đoàn lợi ích chi phối chính quyền Nga. Từ chỗ là một phó thủ tướng, ông đã trở thành nhà đối lập, tham gia vào các cuộc biểu tình đơn độc trên đường phố, và thậm chí đã phải vào tù. Vụ sát hại Boris Nemtsov là « hồi chuông báo tử cho một thế hệ các nhà tranh đấu ». Vào thời điểm ông qua đời, theo một thăm dò dư luận, có đến 40% người Nga thơ ơ với cái chết của ông. Theo một nhà luật học, thì vụ sát hại Boris Nemtsov đã khiến nhiều người sợ hãi và hậu quả của tình trạng này sẽ có thể còn kéo dài.
Về bộ phim « Một con người quá tự do » vừa được công chiếu tại Nga, Le Figaro nhận xét, « trái ngược với nhiều lo ngại, phim đã được công chiếu, mà không gặp sự cố ». Có một trường hợp phim bị đưa ra khỏi chương trình, nhưng được giải thích không phải là do áp lực của điện Kremlin.

Pháp : Điều tra tiếp hay tạm ngưng, thế khó của thẩm phán
Trở lại với nước Pháp, Libération chú ý đến cuộc tranh luận về việc : Tư pháp có nên tiếp tục phận sự của mình trong các điều tra nhắm vào hai ứng cử viên tổng thống hàng đầu trong thời gian tranh cử hay không ? Tờ báo thiên tả nhận xét : Việc cùng một lúc, có hai ứng cử viên – là Marine Le Pen và François Fillon - đứng trước nguy cơ bị khởi tố là « một điều chưa từng có » trong lịch sử chính trị Pháp, đặt các thẩm phán vào một vị trí khó khăn.

Các thẩm phán đang đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan. Tiếp tục các điều tra, với nguy cơ hành động này gây ảnh hưởng đến cuộc bầu cử, hay tôn trọng thỏa thuận ngầm về việc ngưng điều tra mỗi lần diễn ra tranh cử, nhưng điều này sẽ củng cố một cảm nhận về việc những người có thế lực đứng trên luật pháp, không bị trừng phạt, cho dù có phạm pháp.
Libération lên án hai ứng cử viên. Bà Marine Le Pen có thái độ hai mặt, « một mặt ủng hộ cảnh sát và quyền lực của nhà nước, nhưng mặt khác, không tuân thủ lệnh triệu tập của các thẩm phán » trong nghi án tham nhũng đang được điều tra dính đến đảng của bà. Và về phần mình, ứng cử viên Fillon « kêu gọi dùng thể thức phổ thông đầu phiếu để rửa sạch danh dự bị hoen ố, hơn là cung cấp các bằng chứng cho thấy mình vô tội ».

Chung kết Le Pen – Macron ?
Cũng về bầu cử Pháp, tờ báo thiên hữu Le Figaro quan tâm trước hết đến « tình trạng báo động của cánh hữu », sau kết quả một thăm dò dư luận mới, cho thấy ứng cử viên đối lập cánh hữu François Fillon bị mất hai điểm, chỉ còn 20% người ủng hộ, tụt xa đằng sau ứng viên độc lập Emmanuel Macron, 25%, và Marine Le Pen 27%.
Le Figaro đặt câu hỏi : « Phải chăng sẽ là trận chung kết Le Pen – Macron ? ». Nếu điều này xảy ra thì « lần đầu tiên trong lịch sử, không có ứng viên cánh hữu cộng hòa hay đảng Xã Hội nào lọt được vào vòng hai ».

Nhạc kịch « Uylisse trở về »
Báo La Croix giới thiệu vở nhạc kịch « Uylisse trở về », được công diễn tại Paris, bắt đầu từ ngày mai, tại nhà hát Théâtre des Champs-Élysées. Vở diễn được Claudio Monteverdi sáng tác tại thành Venise, nước Ý, cách nay gần 5 thế kỷ.
Đạo diễn vở nhạc kịch, bà Mariame Clément, người Pháp gốc Iran, cho biết bà rất vui sướng khi hai hình tượng huyền thoại cổ đại Ulysse và người vợ Peneloppe đã được hóa thân bởi hai giọng ca « xuất chúng » của nền nhạc kịch đương đại Pháp, nghệ sĩ Rolando Vilazon với giọng nam cao và Magdalena Kozena với giọng nữ trung ấm áp.
Nữ nhạc trưởng Emmenuelle Hain tâm sự, sáng tác của Monteverdi sẽ chuyển đến công chúng « những xúc cảm nguyên vẹn » về cuộc hành trình huyền thoại hàng nghìn năm về trước, khi người anh hùng Ulysse gặp lại người vợ thân yêu sau 20 năm đằng đẵng, với hết khổ nạn này đến khổ nạn khác. « Mọi thứ đã đổi thay, nhưng không gì thay đổi ! ».



Bắc Kinh cử phái viên cao cấp đến làm việc với chính quyền Trump


mediaÔng Dương Khiết Trì phát biểu tại Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ-Trung, Washington, ngày 24/06/2015.CHRIS KLEPONIS / AFP

Hôm nay, 27/02/2017, Trung Quốc cử phái viên cao cấp nhất đến Hoa Kỳ. Chuyến công du được cho là một hành động của Bắc Kinh muốn sưởi ấm mối quan hệ với Washignton sau hàng loạt công kích của tân tổng thống Mỹ Donald Trump nhắm vào Trung Quốc.
Theo AFP, tối hôm qua, hãng tin Trung Quốc Tân Hoa Xã loan báo, Ủy viên Quốc vụ viện phụ trách đối ngoại Dương Khiết Trì có chuyến công du Mỹ trong hai ngày 27 và 28/02.

Đây là chuyến thăm Mỹ đầu tiên của một quan chức cao cấp nhất chính quyền Bắc Kinh kể từ khi ông Donald Trump bước vào Nhà Trắng hôm 20 tháng Giêng vừa qua.
Chuyến công du diễn ra trong bối cảnh hai cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới đang cố gắng xích lại gần nhau sau các phát biểu của tổng thống Trump về quan hệ làm ăn với Trung Quốc cũng như về quan hệ với Đài Loan.
Tân Hoa Xã dẫn lời một chuyên gia về quan hệ quốc tế của Trung Quốc nhân định, chuyến đi của ông Dương Khiết Trì có thể còn nhằm chuẩn bị cho cuộc gặp giữa chủ tịch Tập Cận Bình và tổng thống Donald Trump.

Tuy nhiên, hãng tin Trung Quốc không đưa chi tiết cụ thể nào về chuyến thăm Mỹ của ông Dương Khiết Trì. Bản tin của Tân Hoa Xã chỉ cho biết chung chung là ông  Dương Khiết Trì sẽ “hội đàm với các quan chức cao cấp của Mỹ về các quan hệ song phương vì lợi ích chung”. Thông tin cũng không cho biết đặc sứ Trung Quốc có được tổng thống Donald Trump tiếp hay không.
Trong chiến dịch vận động tranh cử tổng thống Mỹ, tỷ phú Donald Trump đã không ít lần lên án Trung Quốc cạnh tranh không lành mạnh trong quan hệ làm ăn với Mỹ. Ông Trump còn tố Trung Quốc đã “ đánh cắp” hàng triệu công ăn việc làm của người Mỹ.

Sau khi đắc cử, Donald Trump lại liên tục có những phát biểu và động thái làm ảnh hưởng nghiệm trọng đến quan hệ hai nước, trong đó đặc biệt có cuộc điện đàm với tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn, thách thức chính sách một nước Trung Quốc đã được hai nước tôn trọng từ năm 1979. Tuy nhiên, trong cuộc điện đàm với chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gần đầy, ông Donald Trump đã có thay đổi, với việc cam kết tôn trọng nguyên tắc theo đó Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc.
 http://vi.rfi.fr/chau-a/20170227-bac-kinh-cu-phai-vien-cao-cap-den-lam-viec-voi-chinh-quyen-trump
 Philippines : Biểu tình chống chiến dịch bài trừ ma túy của Duterte





mediaBiểu tình chống tổng thống Rodrigo Duterte tại Manila ngày 25/02/2017.Ảnh: Noel CELIS / AFP

Hơn 1000 người dân Philippines lại xuống đường ở Manila hôm nay, 25/02/2017, để phản đối chiến dịch bài trừ ma túy của tổng thống Rodrigo Duterte, một ngày sau vụ bắt giữ nhà đối lập hàng đầu ở nước này.
Theo AFP, những người biểu tình đã tập trung bên ngoài trụ sở cảnh sát quốc gia Philippines, nơi mà nữ nghị sĩ Leila de Lima bị giam từ hôm qua.
Họ muốn cảnh cáo tổng thống Duterte là chiến dịch bài trừ ma túy giết hại hàng ngàn người bị nghi có dính đến ma túy đang đưa Philippines trở lại thời kỳ nhà độc tài Ferdinand Marcos, người đã bị lật đổ trong phong trào « Quyền lực nhân dân » cách đây đúng 31 năm.

Kể từ khi ông Duterte lên làm tổng thống cuối tháng 6 năm ngoái, hơn 6.500 nghi phạm ma túy đã bị cảnh sát và các « biệt đội tử thần » hạ sát. Ông cũng không loại trừ khả năng ban hành tình trạng khẩn cấp để đẩy mạnh chiến dịch bài trừ ma túy.
Thượng nghị sĩ De Lima, nguyên chủ tịch Ủy Ban Nhân Quyền Philippines, cho rằng vụ bắt giữ này là nhằm bịt miệng bà, đồng thời vị nữ nghị sĩ này bác bỏ cáo buộc về buôn ma túy, lý do mà cảnh sát đưa ra để bắt giữ bà. Tổ chức Amnesty International xem bà De Lima là một tù nhân lương tâm.



Tại Munich, châu Âu ngóng chờ Mỹ làm rõ chính sách đối ngoại mới


mediaTổng thống Mỹ Donald Trump (P) và tân ngoại trưởng Rex Tillerson, Washington, ngày 02/02/2017.REUTERS/Carlos Barria

Chưa bao giờ giới lãnh đạo châu Âu lại ngóng trông những lời giải thích của đồng minh Mỹ như tại Hội Nghị An Ninh Munich (Đức) chính thức mở ra vào ngày 17/02/2017. Lý do rất dễ hiểu : Đây là lần đầu tiên mà những nhân vật đứng đầu ngành ngoại giao và quốc phòng Mỹ tiếp xúc trực tiếp với các đồng nhiệm châu Âu từ ngày tổng thống Donald Trump lên nắm quyền ở Washington, sau khi có nhiều phát biểu không mấy thiện cảm với châu Âu, trong lúc lại liên tiếp tung tín hiệu hòa dịu hướng về Nga, đối thủ của châu Âu.
Ghi nhận đầu tiên là phái đoàn Mỹ đến châu Âu lần này rất hùng hậu, dẫn đầu là phó tổng thống Mike Pence, về cơ chế là người giám sát đường lối đối ngoại của Mỹ. Tháp tùng ông Pence là ba bộ trưởng chủ chốt : Rex Tillerson ở bộ Ngoại Giao, James Mattis ở bộ Quốc Phòng và John Kelly thuộc bộ An Ninh Nội Địa.

Theo chương trình dự kiến, phó tổng thống Mỹ sẽ phát biểu tại Hội Nghị Munich vào ngày 18/02, sau đó sẽ có những cuộc tiếp xúc song phương với thủ tướng Đức Angela Merkel, các lãnh đạo ba nước vùng Baltic là Estonia, Latvia và Litva, tổng thống Ukraina, nước đang bị Nga xâm lược, và thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Binali Yildirim. Ngày 20/02, ông Pence sẽ đến Bruxelles, nơi nhiều cuộc gặp với giới lãnh đạo Liên Hiệp Châu Âu và Liên Minh Bắc Đại Tây Dương đã được dự trù.

Giới lãnh đạo châu Âu hy vọng rằng phát biểu của các nhân vật Mỹ, đặc biệt là của phó tổng thống Pence sẽ cho phép họ nắm bắt rõ hơn về đường lối đối ngoại của Mỹ trong những vấn đề liên quan đến châu Âu đang bị nhiễu do những tuyên bố thiếu thiện ý của ông Trump trong thời gian qua.
Mối quan ngại lớn nhất của châu Âu có lẽ là chính sách của Washington đối với Matxcơva sẽ ra sao trong bối cảnh Ukraina đã bị Nga xâm lược, trong lúc ông Trump lại không che giấu thái độ hâm mộ đồng nhiệm Nga Putin và chủ trương hòa dịu với Nga.

Theo nhận định của hãng tin Mỹ AP, sau vụ cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Trump, tướng Micheal Flynn, một người nổi tiếng thân Nga, phải từ chức, các đồng minh của Mỹ ở châu Âu rất muốn biết thực hư trong chính sách của chính quyền Trump đối với Nga, nhất là khi những lời cáo buộc Matxcơva can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ lại được chính ông Trump giảm nhẹ tầm mức quan trọng.
Châu Âu, đặc biệt là các nước nằm sát biên giới Nga, cụ thể là ba quốc gia vùng Baltic, cùng Ukraina và Ba Lan, lại càng muốn biết chính sách đối phó với Nga của Mỹ sẽ ra sao sau khi chính tổng thống Trump hàm ý cho rằng các biện pháp trừng phạt áp đặt sau khi Nga thôn tính Crimée có thể được nới lỏng để đổi lấy một thỏa thuận về vũ khí hạt nhân.

Châu Âu cũng muốn biết rõ hơn về quan điểm của Washington đối với khối NATO thực sự sẽ ra sao sau khi chính ông Trump, sau ngày đắc cử và trước ngày nhậm chức, đã công khai xem Liên minh này là « lỗi thời ».
Tóm lại, chính sách đối ngoại của tân chính quyền Mỹ đang là một ẩn số gây quan ngại rất lớn cho châu Âu, và giới lãnh đạo đang chờ được phó tổng thống Mỹ làm sáng tỏ.

Như đã nắm bắt được sự lo lắng này, Mỹ tìm cách trấn an, cho biết rằng phó tổng thống Mỹ sẽ tái khẳng định các cam kết đối với châu Âu, một « đối tác không thể thiếu » của Hoa Kỳ.
Vấn đề đặt ra là liệu Donald Trump có chịu nghe lời các « chuyên gia » hay không ? Đây chính là nghi vấn mà nhiều người nêu lên, căn cứ vào tính cách độc đoán của tân chủ nhân Nhà Trắng.

Doanh nghiệp Hoa Kỳ 'sẽ tăng trưởng'

  • 26 tháng 2 2017



warren buffett 
Bản quyền hình ảnh Reuters
Image caption Tỉ phú Warren Buffett- "huyền thoại của Omaha'

Tỉ phú Warren Buffet cho rằng các doanh nghiệp của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục ăn nên làm ra với khối tài sản 'không tưởng'.
Bậc thầy về đầu tư, được biết đến với biệt danh 'Huyền thoại của Omaha', nói 'có thể nhìn thấy được' cổ phiếu của Hoa Kỳ 'chắc chắn sẽ tăng lên rất nhiều trong những năm tới'.
Ông Buffett cũng tránh nhắc đến Tổng thống Trump trong lá thư gửi đến cổ đông trong công ty đầu tư của mình.
Nhưng ông có khen ngợi 'một làn sóng người nhập cư tài năng và nhiều khát vọng' đã giúp cho kinh tế của Hoa Kỳ trở nên phồn thịnh.
Ông Buffett, là ngưởi ủng hộ ứng viên Dân Chủ Hillary Clinton trong cuộc bầu của Tổng thống Hoa Kỳ, cũng không nhắc đến chính sách của ông Donald Trump.
Nhưng ông lại tỏ ra lạc quan về kinh tế Hoa Kỳ, nhắc lại tuyên bố của mình rằng 'trẻ em sinh ra tại Hoa Kỳ vào thời đại này là lứa trẻ em may mắn nhất trong lịch sử'.
Lời nhận định trên được ông Buffett đưa ra trong bối cảnh công ty Berkshire Hathaway của ông, sở hữu một lượng lớn cổ phiếu tại các công ty lớn, trong đó có Apple, Coca-Cola và bốn hãng hàng không khổng lồ của Hoa Kỳ, thông báo lợi nhuận của quí tư tăng 15%, đạt 6,3 tỉ usd.

Thành công trong đầu tư




warren buffett 
ản quyền hình ảnh PA
Image caption Warren Buffett đầu tư lớn vào Apple

Mặc dù vậy, tính toàn năm, lần thứ tư liên tiếp, chỉ số S&P 500 Share Index của công ty của ông Buffett vẫn thấp hơn tiềm năng, tính trong vòng năm năm gần đây.
Sự tăng trưởng của công ty, tính theo sổ sách- được tính bằng cách lấy tổng tài sản trừ đi tổng số nợ, cũng là cách ông Buffett thường dùng để đo lường kết quả hoạt động của Berkshire- là 10,7% trong năm 2016, trong khi chỉ số S&P 500 tăng 12%.
Ông Buffett nói người đầu tư 'chắc chắn sẽ ăn nên làm ra' do tiếp tục đầu tư vào 'những doanh nghiệp lớn, có nguồn tài chính vững vàng của Hoa Kỳ'.
Nhà đầu tư cổ phiếu rất nhạy bén và có tài năng thiên bẩm, cũng là người thắng cược trong năm 2008 khi cho rằng một vụ đầu tư trong S&P 500 sẽ vượt qua năm quĩ đầu tư thanh khoản trong vòng 10 năm, đã đánh bại những nhà quản lý quĩ đầu tư đang tại chức và có mức lương rất cao.
Ông nói '1000 con khỉ cũng có thể trở thành những nhà tiên tri khôn ngoan' như 1000 nhân viên đầu tư có mức thu nhập khủng này.

'Dấu ấn'




warren buffett 
Bản quyền hình ảnh Getty Images
Image caption Ông Buffett dự báo doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ ăn nên làm ra

Tuy nhiên, một nhà quản lý quĩ đầu tư cảm nhận rằng ông Buffett đã dành quá nhiều thời gian cho việc viết thư ca ngợi về hiệu quả của Berkshire mà không nhắc đến chuyện gì đã xảy ra đối với Kraft Heinz khi thất bại trong việc mua lại tập đoàn thực phẩm khổng lồ Unilever của Anh quốc.
Lá thư gần như chỉ nói về 'dấu ấn của ông Buffett, còn hơn cả những bức thư trước', theo lời Cole Smead từ Quĩ đầu tư Smead.

Vào tuần trước, Kraft, là hãng mà Berkshire là nhà đầu tư chính, đã quyết định ngưng thương vụ mua lại Unilever với giá 143 tỉ usd, do phản đối từ ban quản trị của Unilever.
Trước đây, ông Buffett đã từng chống lại việc sát nhập công ty khi mà hội đồng quản trị của công ty bị mua không ủng hộ.

Trung Quốc 'chiếm' Biển Đông, Trump đổ lỗi Obama?


Tổng thống Mỹ Donald Trump và người tiền nhiệm Barack Obama.
Tổng thống Mỹ Donald Trump và người tiền nhiệm Barack Obama.
Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng việc Trung Quốc xây “khu phức hợp quân sự” ở Biển Đông “xảy ra dưới chính quyền của ông Obama”, và “đáng lẽ không được cho phép làm vậy”.
Trong cuộc phỏng vấn độc quyền với hãng tin Reuters hôm 24/2, khi được hỏi về các hoạt động quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông, “ông chủ” Nhà Trắng nói: “Tôi biết chính xác chuyện đang xảy ra giữa Trung Quốc và Bắc Hàn và mọi nước khác. Nhưng tôi không thích nói chuyện chiến lược quân sự trên báo chí… Tôi không thích”.
“Điều này không xảy ra dưới thời kỳ nắm quyền của Trump mà dưới thời của ông Obama. Nhiều chuyện xảy ra mà đáng lẽ không được cho phép. Một trong số đó là việc xây dựng một khu phức hợp quân sự cực lớn, cực lớn ở giữa Biển Đông”, ông Trump nói tiếp.
Đương kim Tổng thống Hoa Kỳ nói thêm: “Và cũng đừng quên là tôi mới nắm quyền được bốn tuần. Đây là điều đã xảy ra và được bắt đầu ba năm trước và ta có vị thế đàm phán tốt hơn ba năm trước. Tôi không vui vì chuyện đó”.
Đây không phải là lần đầu tiên ông Trump chỉ trích Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông. Trên trang Twitter chính thức với gần 17 triệu người theo dõi, ông viết hồi cuối năm ngoái: “Trung Quốc có hỏi chúng ta việc họ phá giá đồng nội tệ (khiến các công ty của Mỹ khó cạnh tranh), đánh thuế nặng các sản phẩm của chúng ta vào nước họ (Mỹ không đánh thuế họ) hay xây dựng một tổ hợp quân sự đồ sộ ở giữa Biển Đông? Tôi không nghĩ vậy”.
Đoạn tweet mà truyền thông quốc tế cho là “thách thức Trung Quốc” của ông Trump đã được hàng chục nghìn người “thích” và “chia sẻ”.

Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có cuộc điện đàm đầu tiên trong tháng này.

Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có cuộc điện đàm đầu tiên trong tháng này.
"Khó đoán định"
Trong khi đó, người được ông Trump chọn làm ngoại trưởng Mỹ, ông Rex Tillerson cũng từng nói cứng rắn về hành động của Bắc Kinh trên vùng biển tranh chấp với nhiều nước, trong đó có Việt Nam.
Trong cuộc điều trần chuẩn thuận vào chức Ngoại trưởng Mỹ cuối năm ngoái, ông Tillerson từng tuyên bố phải chặn Trung Quốc “tiếp cận các đảo nhân tạo” mà Trung Quốc xây dựng ở Biển Đông.
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh hôm 17/2 gặp ông Tillerson, trong cuộc tiếp xúc được coi là cấp cao nhất đầu tiên giữa phía Hà Nội và chính quyền của Tổng thống Donald Trump bên lề Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) diễn ra ở thành phố Bonn của Đức. Tuy nhiên, chưa rõ hai bên có bàn tới vấn đề Biển Đông hay không.
Ông Phạm Bình Minh (đứng thứ ba hàng hai, từ trái sang) chụp ảnh chung với người đồng nhiệm nhiều nước như Trung Quốc và Mỹ ở Bonn, Đức, hôm 16/2.

Ông Phạm Bình Minh (đứng thứ ba hàng hai, từ trái sang) chụp ảnh chung với người đồng nhiệm nhiều nước như Trung Quốc và Mỹ ở Bonn, Đức, hôm 16/2.
Trong một bài phân tích đăng hôm 26/2 có tựa đề, “Lo ngại sự khó đoán định cử ông Trump, Trung Quốc củng cố khả năng hải quân”, hãng tin Reuters viết rằng “giờ với việc Tổng thống Donald Trump cam kết việc cấp tập sản xuất tàu thuyền và gây lo ngại cho Bắc Kinh với cách tiếp cận khó đoán định về các vấn đề nóng như Đài Loan và Biển Đông cũng như Biển Hoa Đông, Trung Quốc đang đẩy mạnh rút ngắn khoảng cách với hải quân Mỹ”.
Mới đây, một hàng không mẫu hạm cùng đội tàu chiến của hải quân Mỹ đã trở lại bắt đầu tuần tra ở Biển Đông giữa bối cảnh có nhiều lo ngại rằng vùng biển tranh chấp này sẽ trở thành một điểm nóng dưới thời kỳ nắm quyền của Tổng thống Donald Trump.
Hải quân Mỹ nói rằng lực lượng của Mỹ, gồm hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson, bắt đầu các hoạt động thường lệ ở Biển Đông hôm 18/2. Đây là lần đầu tiên Hoa Kỳ thực hiện các cuộc tuần tra tự do hàng hải ở vùng biển tranh chấp này kể từ khi ông Trump lên nắm quyền hồi cuối tháng Một.
 

Philippines ‘làm rõ’ quan hệ với Trung Quốc


Bộ trưởng Năng lượng Philippines Alfonso Cusi.
Bộ trưởng Năng lượng Philippines Alfonso Cusi.
Philippines đang chờ làm rõ mối quan hệ với Trung Quốc trước khi dỡ bỏ lệnh đình chỉ thăm dò trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông, Bộ trưởng Năng lượng Philippines cho biết hôm thứ Hai.
Trong một cuộc phỏng vấn với Reuters, Bộ trưởng Năng lượng Philippines Alfonso Cusi cho biết nước này đang nghiên cứu xem liệu đây có phải là lúc để dỡ bỏ lệnh đình chỉ hay không.
Ông Cusi nói bất kỳ hoạt động thăm dò nào cũng phải có sự chuẩn thuận của Bộ Ngoại giao Philippines, là cơ quan này có trách nhiệm tham vấn với phía Trung Quốc.
 http://www.voatiengviet.com/a/philippines-lam-ro-quan-he-voi-tq-truoc-khi-bo-lenh-dung-tham-do-o-bien-dong/3742009.html