Sunday, November 26, 2017

DIỄM KIỀU *BỎ NƯỚC RA ĐI

BỎ NƯỚC RA ĐI  

Diễm Kiều

hanhtrinh_tua 

BỎ NƯỚC RA ĐI-Diễm Kiều-
Bỏ nước ra đi lòng buồn làm chết cả hồn tôi. Xa mái ấm gia đình. Xa giống nòi, tiếng cười bạn bè thân thiết. Những hình ảnh gần gũi nhất trong những ngày qua. Quê hương ơi ! Việt Nam nước tôi, tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm êm đềm từ thủa thơ ấu, cũng như lúc trưởng thành . Người Việt Nam chúng ta vốn đã sẵn giầu tình cảm, lìa xa quê hương có mấy ai không đau buồn, nhớ thương, mong đợi và hy vọng có ngày trở về cố hương. Làm sao tôi quên được cuộc hành trình vượt biển đông năm xưa. Thấm thoát đã hơn 20 năm, mà tôi cứ tưởng chừng vừa xảy ra hôm qua…
Ngồi trên chiếc xích lô máy, nhìn qua những xóm nhỏ và con đường quen thuộc, tôi thấy những trụ đèn như chạy theo sau. Hành trang của ba mẹ con tôi chỉ vỏn vẹn có một túi vải nhỏ gồm có thuốc ngừa thai, một ít thuốc cảm, một hũ đường, chanh khô, hai hộp sữa bò và bảy trăm đồng tiền mới. Đêm đó chúng tôi đến ngã tư Bảy Hiền để ngủ qua đêm với gia đình ông Sáu. Rồi gặp thêm ba gia đình nữa ở Long Xuyên trong một căn biệt thự sang trọng.
Trời vừa rạng đông, thứ tự kẻ trước người sau, gặp nhau trên chuyến xe Rạch Giá. Những ánh mắt nhìn nhau như kẻ xa lạ. Mọi chặng đường công an xét rất gắt gao. Dừng tại Rạch Giá, tôi giữ khoảng cách xa ông Sáu đủ để nghe và thấy. Một cô gái mặc chiếc áo bà ba trắng, quần đen vừa bước xuống xe lôi, đến hỏi ông. Gia đình ông Sáu lên xe, tôi cũng theo ngồi ghế phía sau. Mặt trời vừa rựng ở chân mây. Nhìn những con chim bay mà tưởng chừng chúng bay về Sài Gòn.
Xe ngừng lại, cô gái bước xuống xe trả tiền. Cô đưa chúng tôi qua những cánh đồng ruộng, rạ khô vàng cháy, như sắp bốc lửa dưới ánh nắng tháng tư. Vào môt căn nhà lá vách đất. Cô gái gọi hai ông bà độ tuổi tứ tuần bằng ba má. Người đàn bà đưa chúng tôi vào căn buồng chật hẹp chỉ đủ ngồi chen chúc, che bên ngoài bằng tấm màn vải. Tôi nghe nhột nhạt trong bụng như kiến bò . 

Mâm cơm tối được đưa vào, mấy bát cơm gạo đỏ và đĩa khô sặc nướng. Lúc đang ăn, tai tôi nghe rõ từng tiếng nói của mấy người hàng xóm tới chơi. Tôi run. Tim đập mạnh, sợ người ta khám phá mình. Càng lo sợ, tôi càng muốn “pi pi”. Tiếng chó sủa đêm xen lẫn tiếng chó tru, tạo thành một âm thanh nghe ớn lạnh tóc gáy. Tôi cố gắng bò ra sau hè, tè cho nhẹ cái bụng. Những hạt sương rơi lành lạnh làm tôi nổi da gà.
Gà gáy hiệp nhất, chúng tôi bắt đầu đi xuống ghe. Dẫn đường là ông gánh dầu . Tôi phải băng qua ven rạch, bò qua lộ, lội qua mương. Chân tôi sụp xuống lỗ chân trâu đầy bùn nước. Kinh tâm, táng đởm, làm tim tôi muốn ngừng đập. Như có phép lạ nào giúp đỡ hai con tôi. Chúng chạy nhanh hơn mẹ, để bắt kịp những người đi trước .
Dân quê đêm đêm thường đi cắm câu, đặt bẫy. Mỗi lần nhìn thấy ánh đèn dầu thấp thoáng xa xa là tôi chui nhanh vào bụi rậm. Bất kể kiến bu nhột hay rắn hổ mang cắn đưa tôi về chầu Diêm Vương . Có lúc phải ráng căn răng chịu đau vì gặp gai nhọn đâm xuyên qua da thịt. Cũng có lần chui nằm vào đống rơm khô, thò đầu ra, nhìn trên trời có muôn ngàn vì sao và thấy rõ chị Hằng.
Có một đứa bé sáu tháng cứ khóc hoài. Mồi lần khóc là có người phát hiện. Chủ ghe phải lo lót vàng để được yên. Tội nghiệp biết mấy ! Đứa bé nhiều lần tưởng đã chết ngộp vì cha mẹ nó dùng khăn để bịt chặt miệng nó không cho phát ra tiếng khóc. Trọn một ngày chúng tôi phải nằm dưới mương sâu. 


Không sao chịu nổi cái nắmg quái ác, thấy rát đau trên mặt. Tôi chịu đói, chịu khát, chịu đau đớn, nhức nhối với mấy ổ kiến vàng. Chúng tôi không dám ở trên bờ nữa, lội ven rạch, chạy dài những hàng dừa nước xanh để lẩn trốn, thỉnh thoảng hàng dừa bị gió lay làm tôi muốn nín thở. Trời chưa tối nhưng bóng cây hai bên bờ đổ ập xuống dòng sông, nên có vẻ như tối. Bỗng một bầy chim li ti đen, như bị động xao xác bay qua đầu tôi.
Xa xa những chiếc thúng đen đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Sông Hậu Giang như một giòng nước chết. Ngồi trên thúng chèo ra đến ghe. Mọi người lên được trên ghe, gian nan cũng lắm mà đoạn trường cũng nhiều. 


Chiếc ghe một máy bị trở quá nhiều nên chạy ì ạch. Bình minh không nắng ở xứ nhiệt đới cho tôi cảm giác buồn vu vơ chợt len lén vào hồn của kẻ ra đi. Bỗng nghe tiếng súng đùng đùng đâu đây…Gặp tàu đánh cá quốc doanh bắt lại, khám xét tứ tung. Tịch thâu hải bàn và ống nhòm. Rồi họ bỏ ra một cái thùng nhựa, bảo chúng tôi tự nguyện ai còn gì dấu cất nên bỏ hết vào thì được tha cho đi.
Sau đó mưa bão đánh dồn dập hai thân ghe. Có những nhát như chém vào khoảng không, làm cho ghe lắc lư, trồi lên ngụp xuống như nhảy sóng. Thuyền nhân như hạt bụi trong cuồng phong. Tiếng nguyện cầu, kinh Chúa cũng như kinh Phật liên tục vang lên từ đó.
Mới có hai ngày đường mà lương thực khô gần hết. Nước uống chỉ đủ nhỏ giọt từng muỗng cà phê. Đến được hải phận quốc tế, thấy tàu qua lại chúng tôi dùng áo trắng hay đốt đuốc sáng lên làm hiệu. Cùng la to S.O.S, nhưng họ đành lòng ngoảnh mặt làm ngơ bỏ chạy luôn ! Trên nét mặt những thuyền nhân đầy vẻ ưu tư lần nét buồn vẩn vơ theo chiếc ghe định mệnh qua sóng nọ biển kia, tưởng chừng như vô tận.
Tổng cộng tám lần ghe bị hải tặc tấn công. Mỗi lần gặp là mỗi lần phải leo trèo qua tàu chúng để bị khám xét. Mấy ai còn lành lặn, bầm chân, trầy da, rướm máu…là chuyện không đáng kể. Chân một cậu bị ép chặt giữa hai vành tàu, gãy xương, phải xé vạt áo lại băng bó lại vết thương, vẫn không được tha. Dễ mấy ai mà không sống đi chết lại với những bộ mặt ác quỷ, người cầm búa, kẻ cầm súng, tên cầm dao to tiếng vào chiếc ghe nhỏ bé mong manh của đoàn người đói khát đi tìm tự do.
Có lần gặp tên hai tên hải tặc xé toạc áo của hai chị em gái tưởi khoảng 18, đôi mươi. Hai tay của mỗi tên xục xạo thân thể các cô một cách thô bỉ, chúng cười nhe răng trông giã man, ghê tởm làm sao. Rồi kéo lôi xềnh xệnh hai chị em với những dòng nước mắt lả chả. Đàn bà, con gái trên ghe đều chắp tay cúi lạy. Mạng sống con người chỉ còn biết buông trôi theo dòng . Ra đi âm thầm. Mà chết cũng lặng lẽ. Đã có hàng trăn ngàn người việt Nam chấp nhận cái chết, vùi chôn vực sâu. Biển Đông là nghĩa địa, nơi an nghỉ cuối cùng của thuyền nhân kém may mắn.
Có một lần hải tặc xách bổng con trai tôi lên, chân cháu chỏi lia lịa mà khóc không ra tiếng, hắn định quăng cháu xuống biển. Tôi chạy tới ôm chầm lấy hắn khóc rống lên, la thật to: “ Con tôi! Con tôi !” Hắn quăng trở lại sàn nghe cái bịch. Tôi ôm chầm lấy con mà khóc như chưa bao giờ được khóc. Dù bị hành hạ nhưng nếu ở lại Việt Nam, con sẽ trách mẹ suốt đời. Nghĩ vậy tôi tự tìm lấy sự yên ổn trong tâm hồn.
Lần cướp biển thứ tám, không còn gì nữa để chúng vơ vét. Chúng bèn đục gỡ máy tàu. Mạng sống con người như chỉ là mành treo chuông . Chiếc ghe chỉ còn trôi dạt theo chiều gió biển đẩy đưa. Bỗng tôi nghe có tiếng con gọi: “Mẹ ơi ! Có ông già râu dài kéo chiếc ghe đi”. Tiếp theo là một tiếng “rầm!”. Chiếc ghe tròng trành suýt lật ngang. Mọi người nhốn nháo. Nhìn thấy trước mũi ghe là một hòn đảo nhỏ. Mọi người dìu nhau lên tảng đá lớn. Suốt đêm ai nấy đều run lập cập, nhìn lại chiếc ghe từ từ chìm xuống, như biết mình đã làm tròn phận sự.
Bình minh vừa ló dạng, có người khám phá bên trên là đất liền. Chúng tôi may mắn gặp được đôi vợ chống trẻ người Thái Lan đang hưởng tuần trăng mật. Họ nấu cho một nồi cháo lớn với một chai nước mắm hiệu con mực. Nhờ chút cháo, hai con tôi từ từ tỉnh lại. Cậu người Thái đưa chúng tôi đến chính quyền địa phương làm nhiều chuyến bằng chiếc ca nô. Chính quyền địa phương lấy những chiếc xe dùng chở heo đưa chúng tôi đến trại tị nạn Cong –Sa Mui. 


Chung quanh trại này được rào bằng dây kẽm gai. Cảnh sát Thái rất ác độc, đánh đập thuyền nhân đến u đầu, chảy máu… mỗi khi khám xét, bắt bẻ là làm vệ sinh trại không sạch. Chúng tôi ăn cơm gạo sâu mọt, hôi mốc với khô mục. Mỗi khi tắm giặt chờ mọi người đi ngủ hết mới dám thoát y . Trại này có rất nhiều muỗi. Đêm ngủ mà để tay chân lộ ra vành mùng, muỗi đeo đến cắn cổ tay như đeo xâu chuỗi đen.
Rồi một ngày xe bus chuyển thuyền nhân đến trại tị nạn Songkla. Đến nơi nhưng chưa được vào ngay. Chúng tôi phải ngủ qua đêm trên sạp gỗ chợ Thái ngay bờ biển. Nhìn biển gần, tôi nhớ biển xa. Chiều tàn trên bờ biển lờ trôi. Chim bay về chân núi xa với mà cứ tưởng bay về quê hương tôi . Nghe những làn sóng vỗ vào bờ rì rào âm vang như điệu nhạc buồn ! “ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ !” . Sau khi làm xong tất cả mọi thủ tục giấy tờ, chúng tôi được gọi lên nhập trại.
Tôi tình nguyện làm trong nhà bếp của “Children Center”do cha Joe đảm trách. Trung tâm này gồm có một trăm bốn mươi ba trẻ em. Đa số là mồ côi, cha mẹ chết trên đường vượt biển. Tôi nấu cơm bằng bếp than cho từng ấy cháu ăn, món ăn thay đổi mỗi ngày. Rồi rửa chén, dọn dẹp linh tinh. Làm vệ sinh sạch sẽ trong nhà bếp. Tình yêu trẻ trong hoàn cảnh đau thương này giúp tôi làm việc không biết mệt mỏi mà vui.
Sau bốn tháng được chuyển trại đi Bangkok để khám sức khoẻ. Tôi không phải là người sanh ở đảo, cuộc đời lại trôi nổi từ đảo này sang đảo khác. Songkla, Panat Nikhom, Ga Lang II (Indonesia)…Những dãy ba-rắc cất thứ tự bên nhau, phần trên để ngủ, phía dưới làm nhà bếp, bàn ăn, họp bàn chuyện trò cho đỡ nhớ nhà. Ngoài giờ học tiếng Anh tôi tình nguyện làm ở bệnh xá, giúp đỡ bệnh nhân. 

Cuối tuần thướng rủ nhau hai ba gia đình đi cắm trại ven bờ biển. Tuy không có món ngon vật lạ, tôi cũng biết chế biến những đồ hộp được lãnh thành món ăn hợp khẩu. Đó là niềm hạnh phúc của tôi.
Tình đồng hương biết yêu thương lẫn nhau, chia xẻ từng bó rau muống chính tay cuốc đất trồng. Trống trọt tưới nước. Biếu nhau những con cá tươi bé nhỏ vừa mới bắt được. Tổ chức tiệc nhỏ để tiễn đưa những ai có tên định cư ở các nước tự do. Tại sân tầu để chuyển người sang phi trường Singapore, tiễn người đi chưa bao giò buồn thế, kẻ ở người đi lưu luyến, vui buồn lẫn lộn.
Mỗi kỷ niệm là một bức ảnh, làm thành một quyển “Album”, lưu lại tất cả sinh hoạt của tôi trên khắp nẻo đướng tị nạn. Mà ngày nay bạn Việt cũng như bạn Mỹ được xem qua, ai cũng đều nói giống như người “tourist”, không giống dân tị nạn tí nào.
Vận nước tôi rủi mất tự do, những cũng may cho nước tôi trong thế kỷ thứ hai mươi mốt này có thêm biết bao nhân tài làm vẻ vang dân tộc. Nhờ trời thương ba đứa con tôi cũng đã tốt nghiệp, với một mảnh bằng MD,PhD, và hai cháu đã có bằng MD, đều tốt nghiệp Đại Học Harvard.
Tôi tin tưởng hầu hết nhân tài sẽ trở về cố hương, góp phần xây dựng lại một nước Việt Nam tự do, dân chủ, và phú cường.
Cuối thu 2002
Diễm Kiều

THÀNH LACEY * ANH HÙNG TRẠI CẢI TẠO

Anh Hùng Trại Cải Tạo

24 Tháng Mười 20176:59 SA(Xem: 309)
Anh Hùng Trại Cải Tạo
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
(Để nhớ những ai đồng cảnh tù ở trại Z30A)

TraiZ30DHamTanTrong trại cải tạo không thiếu gì những người anh hùng chống lại sự áp bức và lạm quyền của cán bộ trại.  Có người đã dũng cảm vượt trại để, một là sống hai là chết tìm Tư Do.  Có người công khai chống đối, mát sát bọn cán bộ cai tù rồi bị biệt giam hay bị đánh đập tới chết.  Có người dám cho đám cai tù thấy thế nào là cái chí khí dũng cảm của người chiến sĩ Cộng Hoà.  Đó là trường hợp của anh Thuấn, người bạn cùng đội cải tạo với tôi ở Z30A, Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Anh Thuấn người miền Trung, vóc dáng thấp, thân mình chắc nịt, đặc biệt là có nụ cười thật tươi và nói năng thật là nhỏ nhẹ và lịch sự.  Nhìn bề ngoài không ai có thể tửng tượng anh là một người có lòng dũng cảm và ý chí bằng thép.  Tên quản giáo đội rất ghét anh và hắn thường dùng tiếng “lì lợm” để nói về anh Thuấn.  Mỗi lần hắn thấy anh cuốc đất một cách “khoan thai chậm rải” không đạt chỉ tiêu là hắn lại sôi máu.  Tôi nhớ có lần hắn lôi anh vào cái lều cỏ ngoài đồng để thoi đánh anh vì anh “lì” đến mức hắn không chịu nổi.  Tôi nghe tiếng anh cố tình la lớn làm tên quản giáo đâm sợ và phải ngưng tay.  Vậy mà sau đó anh cứ tiếp tục “lì” tỉnh bơ!

Có lần sau khi cả đội cuốc xong chỉ tiêu mà anh còn mãi tít đằng sau, cứ lâu cỡ chừng năm phút mới cuốc một nhát!  Lúc đó đã xế trưa và nắng ngoài đồng nóng như thiêu.   Tên quản giáo ra lệnh cho anh cuốc chừng nào xong chỉ tiêu mới đựơc vào ăn cơm.  Anh cứ đứng sửng chống cuốc đứng ngoài trời nắng chan chan mà chẳng hề nao núng.  Cái hình ảnh anh đứng chống cuốc đứng ngoài đồng nắng bốc lửa còn in mãi trong ký ức khâm phục của tôi cho đến ngay giờ phút này.  Nếu tôi có tài điêu khắc tôi sẽ tạc bức tượng anh đang đứng vững như đồng trước sự thử thách của bạo lực.  Tôi nghỉ bức tượng đó đáng được đặt nơi công viên của cộng đồng chúng ta để mọi người đều có dịp bày tỏ lòng cảm phục trước những con người dũng cảm như anh.

Tôi có lần trốn trại và bị bắt lại nên không biết ngày nào được tha ra, còn anh vì thuộc lọai “lì lợm” nên anh cũng không biết chừng nào về.  Tôi với anh chơi nhau thân và lúc nào tôi cũng mến phục anh.  Còn anh thì lúc nào cũng dành cho tôi lòng cảm mến vì biết tôi đã có lần vượt trại.  Anh không có thăm nuôi nên sống thiếu thốn, tôi thì gia đình và hoàn cảnh cũng không gì hơn anh.  Chúng tôi thường chia nhau đọt rau, miếng bí hay khúc bầu.

Một sáng nọ, khi tập họp trại đi lao động thì cán bộ ngoài vào đọc danh sách người được tha.  Tôi chẳng có hy vọng nào nên lơ đãng không để ý cho đến khi nghe có tên anh rồi lại có tên tôi!  Thật là một phép lạ.  Tối đó anh và tôi cùng những người may mắn khác được tách ra ở một khu trại riêng để làm thủ tục ra trại.  Tối đêm đó, tôi và anh cùng quỳ ở một góc phòng để cảm tạ Ơn Trên đã cho chúng tôi có cơ hội được tiếp tục tìm cách thoát khỏi chốn ngục tù vĩ đại đang chờ đợi ở bên ngoài.  Sau khi ra trại, tôi phải bôn ba khắp nơi để tìm đường vượt biển.  Trong một lần tôi tạm trú ở nhà ông chú ở Phú Nhuận thì bất ngờ anh và vợ anh có đến thăm tôi.  Rồi từ đó đến nay tôi không được biết anh ở phương trời nào.

Giờ đây có dịp ngồi nhớ lại anh, con người dũng cảm, người hùng trong trại cải tạo của tôi , mà thấy lòng mình vẫn bồi hồi xúc động và cảm phục con người đó như ngày nào mình còn bị giam cầm trong chốn lao tù khổ sai.  Anh Thuấn ơi, mong rằng anh hiện giờ cũng được hưởng mọi đều tốt đẹp nơi một phương trời đầy Tự Do và Nhân Vị.

Có gian nan thử thách mới biết anh hùng

Không cong lưng qụy gối, để làm người, ta đứng vững.

T Thành Lacey
Nguồn Việt Báo

HUY PHƯƠNG * QUÂN TỬ VÀ KẺ TIỂU NHÂN

Quân tử và kẻ tiểu nhân


Bìa sách Bên Thắng Cuộc, tác giả Huy Đức.

Trong “Bên Thắng Cuộc,” tác giả Huy Đức ghi lại lời thân phụ ông, di cư vào Nam từ năm 1954: “Chưa có thời nào mà bắt người thua trận bị tù hàng chục vạn như thời Cộng Sản. Các tay này không biết lòng dân là thế nào sao?…
Thêm vào đó, cái ngỡ ngàng khó chịu nhất là dân miền Nam, thấy mình không phải là người “được giải phóng,” mà là “người thua trận,” bị khinh miệt, bị làm tình làm tội, đối xử không ra con người.
Sau đây là nguyên văn lời thân phụ Trần Đĩnh, nói về sự tùy tiện đối xử của một “anh bộ đội” đối với một người dân bình thường, trong vùng mới được “giải phóng:”

-“Bố đi bộ về đến đầu phố thì bị một anh bộ đội cầm súng gác giữ lại hỏi đi đâu mà nhanh thế. Bố nói tôi già nên muốn mau về nhà nằm.
- Không được, đứng nghiêm năm phút!

Bố lại ngỡ như thuở bé đi học đứng nghiêm là quay mặt vào tường nên quay vào tường thì anh ấy lại vặn sao quay mặt đi? Trốn giáo dục à? Lại quay lại nhìn thiên hạ qua lại nhìn mình. Đứng đã ngán lại phải nghe loa ca ngợi chiến thắng, phân tích chiến thắng…”
Người lính của phe thắng trận có thể hành xử như thế với một người dân vô danh hay sao, còn đâu là chuyện thu phục nhân tâm? Suốt 42 năm nay, rõ ràng miền Bắc chiếm được đất đai, xóm làng, thành phố nhưng không hề chiếm được lòng người. Ngay trong những ngày đầu trong trại tập trung mà Cộng Sản đặt tên là trại “học tập cải tạo,” những người thất trận đã cảm thấy bị đối xử bởi một lũ mọi rợ, thất học. 

Từ sĩ quan cho đến một vị tướng lãnh miền Nam khi gặp bọn cai tù (tên gọi là cán bộ vệ binh hay quản giáo,) đều phải đứng nghiêm, chào kính, nếu cần nói, phải dùng tiếng “thưa cán bộ!” Khi ra trại tù đi làm lao động, hay lúc trở về, đoàn tù miền Nam, khi qua cổng, có tên vệ binh mặt búng ra sữa, đang ngồi trên chòi gác, đều phải dở nón mũ ra, có khi cao hứng, những tên lính gác này còn bắt tù bỏ cả kính ra, dù là kính cận thị.

Ngày mới đi trình diện để tập trung lên xe đi vào trại tù, vì ác cảm với giới trí thức, một người bạn tôi đã bị một Việt Cộng lột cặp kính cận thị của anh, vứt xuống đất và đạp nát. Uất hận tận cùng, nhưng trong thế “chim lồng cá chậu,” ngườisĩ quan miền Nam đành nuốt hận vào lòng.
Theo cuốn hồi ký của một tác giả cựu sĩ quan miền Nam, tại trại Đá Bàn, Khánh Hòa, một vệ binh oắt con có sở thích bệnh hoạn là vặt râu một ông già tù binh. Người tù khốn khổ này chỉ biết khóc!

Không biết ai đã dạy dỗ những người “lính cụ Hồ” có thái độ như vậy và vì sao cấp trên của họ lại nhắm mắt làm ngơ trước những thái độ mất nhân tính như thế?

Chuyện trả thù cũng rất dễ hiểu, như nhà văn miền Bắc, Tạ Duy Anh, đã viết: “Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình... Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế!” (Đi Tìm Nhân Vật, tiểu thuyết, NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2002.) Thì ra mình giết nó, hành hạ nó, vì nó hạnh phúc, giàu có, sung sướng hơn mình. Điều này có thể rất dễ hiểu khi Cộng Sản miền Bắc đánh tư sản miền Nam, bỏ tù người miền Nam, lấy nhà cửa, tài sản, đổi tiền của người miền Nam không tiếc tay. Tất cả những việc này đều nằm trong một hệ thống trả thù có quy mô.

Sự thật đã ghi lại như một toàn Biệt Kích Dù 81 đã buông súng đầu hàng vẫn bị bắn và chôn trong một cái giếng sâu hiện nay chưa tìm ra dấu vết. Tại Hậu Nghĩa nhiều sĩ quan chỉ huy đã bị xử bắn, nhân viên cảnh sát bị nấu bước sôi dội lên đầu. Trong “Hồi Ký Dang Dở,” Ông Dương Hiếu Nghĩa cho biết: “Ngay tại tỉnh Vĩnh Long, các ông cai tổng Nguyễn Văn Dần, Nguyễn Văn Xôm, Nguyễn văn Thêm đều bị họ kết án là “có tội với nhân dân” mà không thông qua một tòa án nào, và bị hành quyết ngay khi bị bắt, bằng vũ khí thô sơ như búa, mã tấu…

Không nói lời gian dối, chúng tôi xin ghi lại đây danh sách của những viên chức tình báo cao cấp của VNCH, sau tháng 4-1975 bị đưa ra Bắc và bị bức tử. Sau khi được đưa đến trại tù Hoả Lò làm việc, được “bồi dưỡng” một tô phở, về đến trại, ói máu ra mà chết trên tay anh em:

- Chuẩn Tướng Bùi Văn Nhu, Tư Lệnh Cảnh sát Quốc Gia (nguyên Tư Lệnh Phó) người thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình.
- Đốc Sự Nguyễn Phát Lộc, Đặc Uỷ Trưởng Phủ Đặc Uỷ Trung Ương Tình Báo (thay TT. Nguyễn Khắc Bình.)
-Ông Nguyễn Kim Thúy, Giám Đốc Nha Nghiên Cứu Phủ Đặc Uỷ Trung Ương Tình Báo.
- Đại Tá Dương Quang Tiếp, Phụ Tá An Ninh Tình Báo Phái Đoàn Liên Hợp Quân Sự 2 Bên.
- Đại tá Nguyễn Văn Học, Đặc Trách Tình báo và Phản tình Báo Nha An Ninh Quân Đội VNCH.
Riêng trường hợp Đại Tá Lê Khắc Duyệt, Sĩ Quan Tình Báo Cao Cấp phục vụ tại Tổng Nha Cảnh Sát, được bà con bên kia mách nước là phải lo lót để khỏi ra Bắc, may ra còn có xác mà đem về chôn. Hai năm sau, ông qua đời tại tại Sài Gòn, cũng bị ngón đòn “trả thù” như các chiến hữu của ông bị đưa ra Bắc!

Tại các bộ Chỉ huy CSQG tỉnh, các trưởng F. (tức Phụ tá Cảnh sát Đặc Biệt, đặc trách Tình Báo), phần lớn là cấp Uý, đều bị tập trung 17 năm, nếu không có sự can thiệp của Hoa Kỳ qua chương trình định cư cho những người bị tù “cải tạo,” sẽ chết mòn trong các trại tù miền Bắc!
Đó là chuyện trả thù người sống, với người chết chúng cũng chẳng buông tha.
Ngay khi Cộng Sản vào Sài Gòn, ngày 3 tháng 5, Nghĩa Trang Quân Ðội Hạnh Thông Tây, Gò Vấp đã bị Cộng Sản Bắc Việt dùng xe ủi đất san bằng hết ngay chiều ngày hôm đó. Tại Vĩnh Long, riêng ngôi mộ của Trung Úy Dù Nguyễn Văn Ngọc, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào lên, đưa cả quan tài ra giữa chợ Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn (Hồi ký Dang Dở.)
Sau khi chiếm miền Nam, CSBV phá tượng “Tiếc Thương” mang đi, xem nghĩa trang này như một nhà tù, bị canh gác, rào kẽm gai, và không ai được thăm viếng, di dời phần mộ ra khỏi đây. Trong gần 30 năm, nghĩa trang thành nơi hoang phế, quạnh hiu.

Chúng ta dược biết rằng, năm 2015, Ukraine đã tháo dỡ gần 140 tượng đài của Liên Xô và chính phủ Ba Lan có kế hoạch hạ bỏ khoảng 500 tượng đài Liên Xô, kẻ thù ngày trước, nhưng không đụng đến tượng đài ở các nghĩa trang, nơi an nghỉ của những người lính Xô Viết.
Vẫn theo nhà báo Huy Đức, thời Đỗ Mười vào Nam đánh tư sản mại bản, trong một cuộc họp mật, đích thị Đỗ Mười đã hò hét: “... Chúng ta phải róc thịt chúng ra!”
Theo tài liệu, kế hoạch trả thù X.1 do Đỗ Mười đề xuất theo kiểu Khmer Đỏ, thì sĩ quan “nguỵ” từ Trung Úy trở lên, công chức miền Nam từ cấp Chánh Sự Vụ phải bị tử hình.
Người ta đã có lần so sánh tháng Tư lịch sử của nước Mỹ (4-1865) và tháng Tư định mệnh của Việt Nam (4-1975.) Binh sĩ miền Bắc kính cẩn chào khi tướng Robert E. Lee cỡi ngựa đến nơi ký hiệp ước đầu hàng. Không có tiếng reo hò, nổ súng vui mừng của người thắng trận. Binh sĩ miền Nam không bị coi là quân đội phản quốc. Sĩ quan miền Nam không ai bị đi tù. Bên thắng trận không đụng tới hoặc làm phiền hà đến họ. Kỵ binh thất trận được quyền mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình cày cấy làm ăn.
Nhưng đó là Hiệp Ước của Những Người Quân Tử (Gentleman's Agreement) của hơn 100 năm trước, nó không có thể có trên đời này với những kẻ tiểu nhân hôm nay.
  • 16x9 Image

    Huy Phương - VOA

     https://www.voatiengviet.com/a/ben-thangBáo.

    - Đại Tá Dương Quang Tiếp, Phụ Tá An Ninh Tình Báo Phái Đoàn Liên Hợp Quân Sự 2 Bên.
    - Đại tá Nguyễn Văn Học, Đặc Trách Tình báo và Phản tình Báo Nha An Ninh Quân Đội VNCH.
    Riêng trường hợp Đại Tá Lê Khắc Duyệt, Sĩ Quan Tình Báo Cao Cấp phục vụ tại Tổng Nha Cảnh Sát, được bà con bên kia mách nước là phải lo lót để khỏi ra Bắc, may ra còn có xác mà đem về chôn. Hai năm sau, ông qua đời tại tại Sài Gòn, cũng bị ngón đòn “trả thù” như các chiến hữu của ông bị đưa ra Bắc!

    Tại các bộ Chỉ huy CSQG tỉnh, các trưởng F. (tức Phụ tá Cảnh sát Đặc Biệt, đặc trách Tình Báo), phần lớn là cấp Uý, đều bị tập trung 17 năm, nếu không có sự can thiệp của Hoa Kỳ qua chương trình định cư cho những người bị tù “cải tạo,” sẽ chết mòn trong các trại tù miền Bắc!
    Đó là chuyện trả thù người sống, với người chết chúng cũng chẳng buông tha.
    Ngay khi Cộng Sản vào Sài Gòn, ngày 3 tháng 5, Nghĩa Trang Quân Ðội Hạnh Thông Tây, Gò Vấp đã bị Cộng Sản Bắc Việt dùng xe ủi đất san bằng hết ngay chiều ngày hôm đó. Tại Vĩnh Long, riêng ngôi mộ của Trung Úy Dù Nguyễn Văn Ngọc, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào lên, đưa cả quan tài ra giữa chợ Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn (Hồi ký Dang Dở.)
    Sau khi chiếm miền Nam, CSBV phá tượng “Tiếc Thương” mang đi, xem nghĩa trang này như một nhà tù, bị canh gác, rào kẽm gai, và không ai được thăm viếng, di dời phần mộ ra khỏi đây. Trong gần 30 năm, nghĩa trang thành nơi hoang phế, quạnh hiu.

    -cuoc-30-thang-4/3819846.html

      Nhà báo Huy Phương nguyên là một Sĩ Quan Thông Tin & Báo Chí VNCH, một người tù trong các trại tập trung của CS bảy năm sau 1975, lưu vong tại Mỹ từ năm 1990. Tại Hoa Kỳ, ông là tác giả 12 tác phẩm văn thơ, hiện cộng tác với Người Việt, Hệ Thống Saigon Nhỏ và Báo Trẻ, Thời Báo (Canada), đài Phát thanh Việt Nam (Oklahoma) và đài truyền hình SBTN tại Hoa Kỳ, sở trường với thể loại tạp ghi, viết về sinh hoạt và tâm tình của người Việt trên đất Mỹ.

Saturday, November 25, 2017

VĂN THƠ * MỘT CHUYẾN ĐI

 M ỘT CHUIY ẾN ĐI
 VĂN THƠ


Chuyến đi của tôi là chuyến cuối cùng tại cửa biển Qui Nhơn. Rất nhiều người ra đi trước đây tại bờ biển khu một hay khu hai này đều trót lọt. Có lẽ tại vì nhờ có Ông phù trợ, vì ở tại khu hai có một lăng Ông (cá voi), dân đánh cá ở đây đã lập lên lăng này đã lâu, thờ cúng rất sùng bái và thường xuyên nên được ông phù hộ. 

Người ta nói thế, tôi cũng tin tưởng cho nên tôi đã được tới bến bờ. Chiếc ghe chở chúng tôi ra đi trong một đêm tối trời, đã khuya, không có ai chú ý gì cả. Đi ra khỏi vùng kiểm soát của cửa biển Qui Nhơn cũng rất êm thắm. Có lẽ công an biên phòng không ngờ ngày giờ ấy lại còn có kẻ tìm đường ra đi. 


Ngày 14-3-1989 Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã quyết định đóng cửa các trại tị nạn rồi, mà năm 1990 chúng tôi còn dám ra đi thì kể cũng gan thật. Đúng là điếc không sợ súng. Mặc kệ ai suy nghĩ sao cũng được, riêng tôi nghĩ mình chẳng có gan góc gì đâu, chẳng qua tại vì hôm đó có chút hơn men gặp dịp cũng quá giang đại thôi, chứ trước đó tôi và người bạn cũng đều xác định không thể đi được. Chiếc ghe có tí xíu. 

Ra khơi giống như chiếc lá giữa dòng. Trời yên mát, thuyền cứ lướt sóng băng băng, nhắm hướng đông thẳng tiến. Ba anh em tài công là con của dân đánh cá chuyên nghiệp nên rất thành thạo. Tối đó vì hơi men còn nhiều nên tôi ngủ không còn biêt trời trăng gì cả. Đến sáng mặt trời lên rõ, mọi người xôn xao tôi mới thức dậy. Cảm giác đầu tiên của tôi là thầy biển rộng bao la quá! Nhìn quanh chỉ toàn thấy một mầu xanh biếc, xa xa là muôn ngàn đợt sóng nhấp nhô, đường chân trời thì mù tít xa. Suốt ngày dài quanh tôi lúc nào cũng là trời mây nước.


 Đến chiều, mặt trời lặn sau chân trời xa, màu nước loang loáng ánh vàng của mặt trời đã dịu cũng như phản chiếu từ những đám mây cao tạo cho trời mây nước thành một cảnh sắc rất đẹp. Xa nhà mới chưa được một ngày nên tôi chưa thấy gì buồn nhớ, tâm hồn vẫn còn thưởng Thức bóng hoàng hôn chung quanh thật tuyệt diệu. Bỗng trước mặt tôi xuất hiện từng đàn cá chuồn từ biển vụt lên bay là là trên mặt nước một khoảng dài. Từng đám hàng trăm con cứ bay về một hướng nào đó một khoảng cách nhất định rồi lại rơi xuống biển, rồi đám khác lại bay là đà trên mặt nước, cách xa một chút, hay chung quanh chiếc thuyền làm thành âm thanh nghe rào rào vui tai. 


Đến lúc trời tối mịt chúng vẫn còn bay lẻ tẻ. Chúng tôi ăn uống đại khái rồi nằm xuống sàn để ngủ. Giấc ngủ trong đêm không nhiều mộng mị nhưng cũng không êm thắm, cứ chập chờn như những đợt sóng nhỏ xô vào mạn thuyền, cũng bay bổng lãng đãng như những đàn cá chuồn. Ngày thứ hai cũng đến bình thường, chân trời vẫn xa xăm, sóng nước êm, con tầu vẫn lướt nhanh từ sáng đến chiều tối làm tôi hơi lo, thầm nghĩ con tàu cứ đi về một nơi vô định nào đó. Ban ngày chúng tôi gặp nhiều tàu lớn đi qua, có lẽ là tàu buôn của các nước. 


Chúng tôi đã nhiều lần vẫy tay, phất cờ trắng làm hiệu, nhưng chẳng có chiếc tàu nào chịu ngừng cả. Tất cả vẫn hững hờ lướt qua, như hàng trăm ngàn lần trước đây đối với những người ra đi trước kia. Tôi nghĩ tất cả đã lạnh lùng hờ hững để biểu hiện sự mệt mỏi, chán ngán vì quá nhiều cưu mang đến những người khốn khổ này rồi. Chiều lại xuống, từng đàn cá chuồn vẫn bay, hoàng hôn trên sóng nước vẫn đẹp, nhưng tôi không còn thưởng thức nổi như chiều hôm qua. Rồi những cơn gió Nam thổi đến, ban đầu còn dịu mát nhưng đến nửa đêm về sáng thì thành gió lớn, người ta gọi là “gió nam cồ”. Gió thổi mạnh bên hông thuyền nhỏ thấp của chúng tôi. Sóng lớn quá tạt nước lên chỗ tôi nằm ướt lạnh vì tôi mặc chiếc áo mỏng, tôi lấy tấm vải bạt che đỡ và không thể nào ngủ được. 


Cầm cự cho đến trời sáng, tôi thầm nghĩ đây mới chỉ là Gió Nam Cồ mà đã như thế này, rủi mưa bão ập đến thì sao. Nhưng rất may cho chúng tôi là không có mưa bão xẩy ra trong tháng này. Trời dần dần sáng rõ, tôi ngồi dậy, nói với tài công nên cho máy ngừng để nghỉ vì sợ máy nóng, và một phần nữa gió nhiều thuyền chạy không được nhanh. Tài công tắt máy, chiếc thuyền trôi trên sóng nước. Bỗng tôi thấy từ hướng đông đằng xa một chiếc tàu lớn chạy đến. Tôi đánh thức mọi người dậy, đàn bà trẻ em nằm la liệt trên sàn ghe, các thanh niên vẫy tay và phất sào ngắn có cột áo trắng. 

Nhưng chiếc tàu như không trông thấy, vẫn cứ chạy qua luôn. Chúng tôi chán nản đành ngồi xuống sàn để nghỉ và nhìn theo chiếc tàu. . Đột ngột chiếc tàu chuyển về hướng Nam cua một vòng rộng xa tít. Một lúc sau nó trở lại từ hướng đông đàng xa, nơi mà chúng tôi thấy nó xuất hiện lúc ban đầu. Sau này nói chuyện với viên hoa tiêu, tôi được biết lúc ấy thuyền chúng tôi, anh ta đánh thức thuyền trưởng dậy để xin lệnh, và viên thuyền trưởng đã ra lệnh cho chiếc tàu quay lại. Chiếc tàu từ từ đến, to dần, lúc còn cách chúng tôi khoảng 50 mét thì ngừng hẳn lại. Mọi người trên tàu đó đều ra bao lơn đứng nhìn về chúng tôi rất lâu mà không nói gì, cũng không tỏ dấu hiệu gì là sẽ cứu giúp cả. 


Tôi nghĩ chắc là họ chờ đợi mình phải nói lời cầu cứu thì họ mới giúp, chứ mình cứ yên lặng họ không biết mình đi đâu, làm gì, muốn gì...Nghĩ như thế tôi bèn ôn lại thật nhanh vốn liếng chữ nghĩa của mình đã quá lâu không dùng tới. Tôi bèn la to một câu ngắn gọn vì không biết nói gì hơn để nói: “Help me please!” Tôi lập đi lập lại câu này đến lần thứ ba thì thấy họ quăng dây xuống. Mấy anh em tài công lập tức bơi đến lấy hai đầu sợi dây về thuyền cột thật chặt vào hai đầu và đuôi thuyền xong thì họ kéo chiếc thuyền của chúng tôi đến sát bên hông tàu lớn. Rồi từ trên tàu ấy, một người thò đầu xuống nói vài câu, tôi hiểu đại khái họ hỏi lên tàu một người biết nói tiếng Anh mà thôi, và họ thòng thang dây xuống. 


Mọi người phái tôi lên tàu, tôi ái ngại một phần vì tiếng Anh ít ỏi và một phần vì leo lên thang dây một khoảng cách cao quá, ước chừng leo lên một nhà lầu năm tầng vì tàu quá lớn. Sau này tôi được biết chiều dài chiếc tàu là hơn 280 m và chiều ngang là 80 m. Nhưng vì sinh mạng những người đồng hành nên tôi leo lên, tôi phải nghỉ vài ba lần vì hơi mệt. Lúc tôi bước xuống sàn tầu lớn vừa vững thì đích thân viên thuyền trưởng đến hỏi tôi ngay: “What are you looking for?” (Anh muốn đi đâu?). 


Tôi trả lời ngắn gọn: “We are looking for the freedom” (Chúng tôi đi tìm tự do) Sau khi vài người bàn bạc với nhau, thuyền trưởng ra lệnh cho hạ những cầu thang lớn bậc tam cấp xuống, các thủy thủy xuống dìu từng người bước lên tàu. Thuyền trưởng bảo tôi nói với tất cả mọi người đứng quay mặt vô bao lơn tàu để họ lục soát xem có vũ khí gì không... Tôi thực sự vui mừng không thể nói hết trong giây phút ấy. Sau đó chúng tôi được tắm rửa, ăn uống...


Tối đến những anh thủy thủ người Phi rất dễ thương đem đến phòng chúng tôi nào là bia, rượu, bánh ngọt, nước ngọt, thuốc lá, nào là đàn guitar. Họ và những người trẻ tuổi trong bọn chúng tôi ăn uống la hét đàn ca đến nửa đêm mới dứt, vì theo họ đây là dịp hi hữu để ăn mừng cùng với chúng tôi – những người đi tìm tự do – ít khi nào có được. Tiếp theo là những ngày lo lắng ít nhất cũng cho riêng tôi, những người khác thì hình như rất vô tư không lo nghĩ gì mấy, muốn ra sao thì ra. 


Ngày nào thuyền trưởng cũng gặp tôi vài lần, nói chuyện sơ sơ. Chiếc tàu cứ chạy, khi đi qua những nước Đông Nam Á từ Philippine, Mã Lai Á, rồi đến Singappore, Nam Dương. Thuyền trưởng đều gọi điện thoại xin cho tàu ghé lại để bỏ bọn của nợ này xuống, nhưng không một nơi nào chịu nhận. Ngày nào thuyền trưởng cũng nói với tôi “No News!”.


 Ông cũng liên lạc được với Cao Ủy Tị Nạn gần Vịnh Ấn Độ cũng không giải quyết gì được. Rồi tầu lại cứ ra đi, theo lộ trình sẽ đi vòng Đại Tây Dương, ghé vài ba nước ở Châu Âu rồi đến Hoa Kỳ. Nhưng thuyền trưởng có nói với tôi rằng không chắc gì các nước ghé qua sẽ nhận, nhất là khi đến Hoa Kỳ sẽ bị trục xuất về Việt Nam vì nhập cảnh bất hợp pháp. Mọi thủ tục đều phải qua Phủ Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc giải quyết. Chúng tôi đã lên tầu lớn thời gian được mười ngày và thật là thất vọng, không biết số phận sẽ đi về đâu... Có một lần thuyền trưởng và các sĩ quan nói chuyện với nhau, tôi tình cờ đứng gần đó nghe lõm bõm.


 Không biết buồn phiền gì mà vị thuyền trưởng khả kính ấy lại dùng chữ “Okies” để ám chỉ chúng tôi. Trước kia tôi có dịp đọc bộ truyện “Chùm Nho Phẫn Nộ” (The Grapees of Wrasth) Của Jonh Steinbeck nên biết được chữ “Okies” để chỉ những người bỏ xứ ra đi, những người tha phương cầu thực, đi đâu cũng bị coi khinh và bạc đãi. Thế là đêm đó tôi nằm gác tay lên trán suy nghĩ vẩn vơ, không biết chúng tôi sau này có giống như hình ảnh những người Okies kia không...Hình ảnh của những người ra đi vì miếng ăn mấy thập niên về trước. Tôi cho rằng chúng tôi khác với họ. Hành trình của chúng tôi gian khổ hơn họ rất nhiều.

 Bao nhiêu là người đã chết trên rừng sâu hay dưới biển đông, bao nhiêu là người đã bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp, giết chết. Chúng tôi vẫn cứ lao vào chỗ chết, có lẽ vì một nhu cầu bức thiết hơn là vì miếng cơm manh áo nhiều lắm. Một buổi sáng đẹp trời, thuyền trưởng và một phụ tá đến gặp tôi đem theo một tấm bản đồ. Ông ta nói rằng có tin vui cho chúng tôi. Nhân viên truyền tin của tầu có liên lạc được với hội Hồng Thập Tự của Pháp, chi nhánh đặt tại đảo Réunion, họ đã chấp nhận chúng tôi vì họ có ngân khoản, vừa nói, viên thuyền trưởng vừa chỉ vào một điểm nhỏ trên bản đồ. 

Tôi thấy hòn đảo nhỏ nằm gần Mã Đảo (Madagasca), tôi vẫn còn mơ hồ lắm về vị trí này, nhưng chúng tôi thật sự vui mừng vi ít nhất có một bến bờ nào đó để cho chúng tôi dừng chân rồi sau đó hẳn hay. Chúng tôi cám ơn thuyền trưởng và vị phụ tá. Thế là con tàu chuyển hướng, trực chỉ đảo Réunion, trong tâm trí tôi bỗng hiện ra những bài học sử ký hồi còn tiểu học và trung học. Tôi nhớ ra rằng chính tại đảo này, thực dân Pháp đã đầy an trí hai vị Hoàng Đế của ta là Vua Thành Thái và Duy Tân cho đến cuối đời.


 Khi tôi nói cho mọi người biết ai cũng vui mừng vì ít nhất mình cũng có được một chút liên hệ nào đó tại nơi xứ lạ kia. Mất bảy ngày đêm tàu mới đến ngoài khơi của đảo, vì cảng nhỏ, sóng lớn tàu không vào được, nên Hội Hồng Thập Tự đã mướn tầu nhỏ và mấy chiếc ca nô ra để đón chúng tôi vào. Nếu tôi là người lên chiêc tàu này đầu tiên thì bây giờ họ bảo tôi phải xuống sau cùng, tôi không hiểu điều đó có ý nghĩa gì, nhưng không sao, và tôi vừa bước xuống tàu nhỏ thì bị ngay một nhóm 4 ký giả của đảo phỏng vấn. 

Họ hỏi nhiều chuyện nhưng vì không chuẩn bị trước nên tôi chỉ trả lời cầm chừng. Họ vừa nói chuyện với tôi xong thì con tầu cũng vào tới bờ, nhân viên hội Hồng Thập Tự đưa chúng tôi lên xe bus đi đến một khách sạn sang trọng nhất của đảo. Đầu tiên họ đưa chúng tôi đến hội trường của khách sạn trước, vì họ mở cuộc họp báo ở đó. Có rất nhiều người Pháp đón tiếp chúng tôi, nhưng tôi cũng thấy có khoảng vài chục người Việt Nam cũng có mặt ở đó. Đầu tiên là vị đại diện của Việt Kiều ở đảo cám ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ và dành nhiều cảm tình với các đồng hương của ông, rồi ông ta chào mừng chúng tôi và nói sơ qua tình hình của đảo. Phải có người thông dịch cho chúng tôi hiểu vì ông ta mặc dù là Chủ Tịch Hội Việt Kiều ở đó, nhưng là người Việt lai Ấn Độ, và không nói được tiếng Việt nhiều. 

Tiếp đến, Hội Hồng Thập Tự chào mừng chúng tôi và vị đại diện trao ngay cho tôi 22 chiếc vé máy bay để ngày hôm sau bay đến Paris gặp Phủ Cao Ủy Tị Nạn ở đó. Chúng tôi đã được cảnh sát làm thủ tục quá cảnh (Sauf –conduit) để vào nước Pháp. Sau đó chúng tôi được tiếp đãi ở nhà hàng khách sạn. Trong lúc ăn uống chuyện trò với người Việt ở đó – phần nhiều các vị đã lớn tuổi, được biết họ là những thân nhân của những gia đình làm việc hoặc đi lính cho Pháp trước kia rồi sang Pháp sau hiệp định Genever 1954. 

Hầu hết đã thành đạt cơ nghiệp. Họ nói chuyện thân mật với chúng tôi, coi chúng tôi như con cháu, anh em, họ rớm nước mắt nghe chúng tôi kể sơ về hoàn cảnh của mỗi người và những khó khăn ở quê nhà, họ an ủi khi biết tôi ra đi có một mình. Các vị đã biểu lộ những tình cảm dạt dào nồng hậu nhất vì tôi đã đọc được những cái nhìn ưu ái trong đôi mắt của họ. Tôi cảm thấy thật nhiều an ủi pha lẫn đôi chút tủi thân. Tôi thật sự cảm động khi biết có những người lái xe nhiều tiếng đồng hồ về đây để gặp chúng tôi. Tất cả đều bồi hồi thương cảm, vì trong đầu óc họ những người ra đi như chúng tôi mang ít nhiều hiểm nguy, nhìn thấy trên gương mặt chúng tôi những dấu ấn hãi hùng của biết bao số phận không may, mà cả thế giới đã thu thập được qua truyền thông. ::: Văn Thơ:::

TS.PHAN VAN SONG* DÂN HUNG VÀ VIỆT NAM CÙNG MƠ TỰ DO

2017-11-23 : Tháng 11 2017 nhớ về tháng 11 năm 1956 :



Budapest dân Hung, Quỳnh Lưu, dân Việt cùng mơ tự do!Mơ người đã toại, mơ mình vẫn mong...

Phan Văn Song


Tháng 11 năm nay 2017, tháng của những hoài vọng, nhớ thướng, cảm nghĩ, tháng của cả các xứ Âu Mỹ cảm xúc, thương về những chiến binh cha ông mình, đã bỏ mình cho cuộc Đại chiến lần thứ nhứt : một cuộc Đại chiến vô nghĩa, tối tân lần đầu tiên trong lịch sử của thời đại mới của loài người, Trên 80 quốc gia tham dự, với một số thương vong tử sĩ khổng lồ – ở Pháp, ở Đức không một làng nào không có bản tử sĩ của làng ấy - Ngày nay tháng 11 đến, dân văn hóa Anh Mỹ đều gài cánh hoa poppies đỏ trên vai áo, dân thuộc văn hóa Pháp gài hoa cánh hoa muguet xanh. Những cánh hoa biểu tượng kỷ niệm và thương nhớ của thời Đại chiến ấy nói lên cái vô lý của một cuộc chiến vô nghĩa : sự đụng chạm giữa hai khối biểu tượng cahai quyền lực.


Trái lại, 61 năm về trước, năm 1956, cũng trong tháng 11, tại hai quốc gia hạng nhì, hai dân tộc, một bên âu, một bên á, cùng thuộc khối cộng sản, cùng bị che khuất bởi một bức màn sắt kín đáo, cùng bị cả một hệ thống chế độ độc tài, với một chủ nghĩa khát máu, với một chánh sách bàn tay sắt, kềm kẹp, cùng nổi dậy, cùng đòi dân chủ, cùng đòi quyền tự quyết, tự do… cả hai đều bị đàn áp trong biển máu, và cả hai đều bị thế giới tự do bỏ rơi, và ngày nay quên lững. Hôm nay, xin nhắc lại, gọi là đốt nén hương tưởng niệm các anh hùng đã bỏ mình vì chánh nghĩa, vì tự do, vì dân chủ.

1/ Cuộc nổi dậy Budapest, Hung gia Lợi :

1956, chỉ trong 6 ngày của đầu tháng 11, từ 4 đến 10, 61 năm trước, hàng trăm xe tăng T-54 và nhiều sư đoàn Liên Sô tấn công vào Hungary để tiêu diệt cuộc cách mạng vì tự do dân chủ của nhơn dân Hung.

Trong 6 ngày, máu của hàng ngàn người dân của thành phố Budapest, của nhơn dân Hungary đã nhuộm đỏ đường phố thủ đô Budapest. Imre Nagy, người  được toàn dân Hung dân chủ lựa chọn bầu lên làm thủ tướng và tuyên bố thành lập chánh phủ đa đảng, bị bắt và hai năm sau, bị xử bắn.


János Kádár, một lãnh tụ Đảng Cộng Sản Hung gia Lợi, được chỉ thị Đảng Cộng Sản Sô Viết lên nắm quyền và tái lập chế độ Cộng Sản – giữ quyền lực, trong đàn áp và độc tài, cho đến ngày cả khối Cộng Sản Đông Âu cùng nhau sụp đổ  năm 1989.

Cuộc chiến không cân bằng giữa những người kháng chiến, gồm chánh quyền cách mạng của các nhà dân chủ tranh đấu chống chế độ Cộng Sản, những thanh niên, trai gái, yêu dân chủ, yêu Độc lập quốc gia mình, yêu tự do, tình nguyện, dù vũ trang sơ sài với súng săn, với súng đạn, quân trang do quân đội nhơn dân Hungary cung cấp, dám đối mặt với hằng trăm xe tăng T-54, cùng 17 sư đoàn thiện chiến Liên Xô. Kết quả là cuộc khởi nghĩa bị dập tắt trong máu lửa. 

Đây là một thiên hùng ca của dân tộc Hungary, là một gương sáng cho dân Việt Nam ngày nay nếu muốn đi tìm độc lập tự do ! Một bài học đầu tiên, cho các đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, cùng các nhơn viên Công an Việt Nam và Quân đội Nhơn dân Việt Nam, nếu ngày mai, nếu phải đối mặt với Tàu Cộng và các tay sai Việt Nam, là năm 1956, tại Hungary, ngoại trừ một số rất ít sĩ quan đầy tớ quan thầy Liên Sô, đa số các đơn vị Công an, và Quân đội Nhơn dân Hung đều đứng về phía chánh phủ cách mạng. Không có đơn vị nào của Công an và Quân đội Nhơn dân Hung đã đàn áp nhơn dân họ. Họ bị quân Liên Sô bao vây và giải giới. Lực lượng không quân của Hung cũng bị vô hiệu hóa sớm.

Cái dại dột của Quân đội và Công an Hungary lúc bấy giờ là lưởng lự, thiếu ý chí, thiếu tình dân tộc, trung thành với Đảng. Và Bất Hiếu với Nước ! Họ quá chần chờ, không ủng hộ hẳn, họ là không theo Thủ tướng Imre Nagy.
Nếu biết ủng hộ Imre Nagy, là phải tuyên chiến hẳn với Liên Sô. Nếu chiến tranh, thế giới sẽ cứu bồ vì là đất nước Hungary, nhỏ, bị  cưởng chiếm. Chớ không phải là Đảng Cộng Sản anh em Liên Sô giúp Đảng Cộng Sản đàn em Hungary dẹp loạn !

Một dịp may đã mất ! Tiếc thật. Và đây cũng là một bài học cho Việt Nam tương lai. Phải khai chiến thực sự với Trng Cộng. Nếu không, sẽ tạo cớ cho Tàu Cộng kéo quân qua giúp đở đàn em dẹp loạn.

Một Bài học phải thuộc lòng để nhớ đời : Là cũng như bài học Việt Nam Cộng Hòa đã học : không tin tưởng vào Âu Mỹ, Liên Hiệp Quốc, ai ai cả… ! Lúc bấy giờ, trước và trong khi Liên Xô tấn công Hungary, chánh phủ Imre Nagy đã liên tục cầu cứu Liên Hiệp Quốc và yêu cầu các chánh phủ tự do Âu Mỹ can thiệp. Ngoài các bản tin qua đài phát thanh Châu Âu Tự Do, vài tuyên bố, vài tuyên cáo đòi hỏi Liên Sô rút quân, các nước Mỹ, Anh, Pháp và Châu Âu dân chủ không có một phản ứng nào !

Tổng Thống Eisenhower, Huê Kỳ, theo tài liệu trong Văn khố Quốc Gia - National Security Archive Electronic Briefing Book, còn nói thêm là nhứt định không can thiệp, với lý do – xen vào nội bộ quốc gia độc lập – và còn giả dối, đạo đức giả hơn nữa, đưa ra giả thuyết rằng, e sợ, sẽ đưa thế giới vào một  cuộc thế chiến, có khả năng nguyên tử.

Ôi thế giới chánh trị Mỹ ! Toàn Đạo đức giả ! Thế mà người nay vẫn còn người tin tưởng bám vào !

Số thương vong : Số người Hungary bị quân Liên Sô giết ước lượng khoảng 2,500 người và 20,000 người khác bị thương. Khoảng một nửa số người bị thương là thanh niên dưới 30 tuổi và hơn một nửa số người bị giết là công nhơn. Nhiều ngàn người đã bị chế độ Cộng Sản do Liên Sô dựng lên bắt giam và trong số đó 229 người bị xử bắn. Ngoài một số lớn dân Hungary cũng vượt biên tỵ nạn ở các quốc gia Tây Âu và Huê kỳ Canada.

Một kỷ niệm, Sài gòn, sau ngày 30 tháng tư năm 1975. Một cặp vợ chồng trẻ người Pháp bạn với chúng tôi. Anh chồng còn trẻ trong tuổi quân dịch Pháp, đi phục vụ tại Việt Nam trong chương trình xã hội và văn hóa, làm việc ở Alliance française Sài gòn. Chị vợ, cùng tuổi, đang tập sự ở Sứ quán, chị là người Pháp gốc Hungary, sanh ở Pháp, trong một gia đình trốn bỏ Budapest sau tháng 11/ 1956, để tỵ nạn Pháp. Chị được nuôi dưỡng, dạy dổ trong không khí và tinh thần chống Cộng, biết rõ hiểu rõ thế nào là Cộng Sản. Chính chị đã khuyên với vợ chồng tôi là hãy giao cho vợ chồng anh chị thằng Cu lớn của chúng tôi để anh chị đem về Pháp. 

Và may quá, chúng tôi nghe lời chị. La nhơn viên ở Toà Lãnh sự, vợ tôi dễ dàng dán cái hình thằng Cu vào passeport-thông hành chị, và thế thằng bé di tản theo mẹ (giả) hồi hương Pháp. Chúng tôi, lúc ấy, vẫn còn dại dột tin tưởng vào những cái lỉnh kỉnh đàng hoàng, như luật lệ, như ngoại giao,… nhưng sao lúc ấy dám ăn gian ? Sợ quá đâm bất thiện !
Và dù phải trãi qua phong ba bảo tố 4 năm tù tội cho cá nhơn tôi, và bà xã, 4 năm phục vụ ở Tòa Lãnh Sự Pháp đầy chông gai… Chúng tôi vẫn cám ơn Ơn Trên – và vợ chồng người bạn - đã cho chúng tôi gặp cô bạn gốc Hungary, hiểu rõ thế nào là Cộng Sản đã làm một hành động « ngoài luật lệ » để cứu thằng Con trai của chúng tôi. Xin cám ơn quý bạn đã chia sẻ câu chuyện nầy !



2. Cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu, Nghệ An, Việt Nam :
Bối cảnh : 1956, 61 năm trước, sau cái gọi là Nghị quyết sửa sai của đảng CSVN về những đợt cải cách ruộng đất đẫm máu, các nạn nhơn đã tìm những cán bộ thanh toán món nợ truyền kiếp. Các đảng viên Cộng Sản Việt Nam trung kiên được thả về từ nhà tù, được khôi phục quyền hành, khôi phục đảng tịch, liền tìm ngay các đồng chí đã tố sai để trả thù. 

Do đó, tình trạng xung đột, giết chóc giữa đảng viên cũ và đảng viên mới lan rộng khắp mọi nơi. Uy tín của đảng bị sụp đổ, cán bộ hoang mang, lo sợ tột độ. Ở nông thôn, các đảng viên đi họp phải mang búa theo để thảo luận với nhau. Những địa chủ được tha về, thấy tình trạng làng xóm bất ổn như vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia đình tiểu tư sản hồi kháng chiến đã trú ngụ ở nhà mình. Các bần cố nông trót nghe lời đảng tố điêu nay bị sợ rạch mồm, cắt lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp xích lô và đi ở thuê. Một không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, ảnh hưởng đến giới công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức, dùng báo chí lên tiếng chống đảng. 

Do đó, cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu đã làm đảng Cộng Sản Việt Nam rất lo sợ. Số là, toàn thể nhơn dân tỉnh Nghệ An, gồm đủ mọi thành phần giai cấp đã mở một đại hội để tố cáo những chánh sách cai trị do đấu tố tàn ác của chế độ. Ban tổ chức đại hội còn mời luôn cả cán bộ Việt Cộng thuộc cấp tỉnh và huyện đến tham dự để chứng minh tinh thần đấu tranh cho tự do của nhơn dân và yêu cầu trả danh dự và tài sản lại cho những gia đình nạn nhơn.


Giữa lúc tình hình nóng bỏng đó, được tin chiều ngày 9/11/1956, Ủy Ban Kiểm Soát Ðình Chiến sẽ đi qua Cầu Giấy để lên Hà Nội. Hàng ngàn người đã kéo ra đường số một chờ đợị. Ðồng bào đã góp đơn lại giao cho 6 thanh niên đại diện đưa thơ và kiến nghị. Mấy ngàn đồng bào đã nằm ngay trên đường để chận xe phái đoàn lại, 6 thanh niên đã đưa cho viên sĩ quan Ấn Ðộ trong Ủy Ban mấy vạn lá thư đựng trong bao bố. Viên sĩ quan này cho biết sẽ trình lại cấp trên và trả lời vào ngày thứ Bảy trong tuần.

Sau đó, ngày 10/11/1956, khoảng 10,000 nông dân đã mở đại hội lần thứ hai, để bàn thảo về ngày thứ bảỵ Mọi người đều tỏ ra hân hoan khi biết sắp sửa từ bỏ địa ngục trần gian. Nhưng ngay lúc đó, CSVN đã điều động 2 đại đội chủ lực và một đại đội công an võ trang để giải tán. Bạo động : Súng và lựu đạn nổ vang trờị Mặc dù tay không nhưng khí thế quần chúng quá mạnh. Những người phía sau tràn lên thay cho những người gục ngã phía trước. Cuối cùng, dân chúng đã bao vây bộ đội, công an vào giữa. Ðêm hôm đó, Cộng Sản đưa thêm 2 trung đoàn về giải vây đồng bọn. 



Sáng này 11/11/56, trống, mõ kêu gọi dân chúng quanh vùng đến tiếp cứu. Cuộc nổi dậy bộc phát quá lớn, ngoài sự tiên liệu. Hồ Chí Minh điên tiết : Nghê An là quê hắn, phải giải quyết để gỡ thể diện cho mình và đảng. Dân chúng cũng bắt đầu có một số lượng vũ khí đáng kể, tịch thu được từ bộ đội. Cuộc nổi dậy có đủ cả tất cả thành phần dân chúng, kể cả các đảng viên Đảng Cộng Sản. 



Đêm 12/11/1956, một số nghĩa quân lén trở về Quỳnh Lưu yểm trợ. Cũng cùng đêm ấy, 3000 thanh niên các xã ven tỉnh Thanh Hóa, kéo vào tiếp viện nghĩa quân. 4g sáng cùng ngày, một Ủy Ban Biểu Dương Lực Lượng Nông Dân Quỳnh Lưu và Ủy Ban Tiếp Tế Nghĩa Quân được thành lập. Phụ nữ, trẻ em mang gạo, thực phẩm đến tiếp tế. Cuộc đấu tranh đã bước vào ngày thứ 3.


Rạng ngày 13/11/1956, một cuộc biểu tình vĩ đại với sự tham gia của gần 100.000 đồng bào tỉnh NghệAn.
Cuộc biểu tình đã tuần hành tiến về Ty công an Nghệ An, hô thật to những khẩu hiệu.
Trước tình hình này, Hồ Chí Minh ra lệnh cho Văn Tiến Dũng điều động Sư đoàn 304 từ Thanh Hóa, về bao vây nghĩa quân. Sư đoàn này quy tụ nhiều bộ đội miền Nam tập kết. Hồ Chí Minh cho sử dụng Sư đoàn nầy, thay vì dùng bộ đội miền Bắc, để có dịp trút tội cho Sư đoàn người miền Nam. Buổi chiều cùng ngày, nghe tin dân quân bị Sư đoàn 304 vây, gần hàng chục ngàn người đã tiến về  tiếp cứu. đầy đủ lương thực, quyết tử trường kỳ đấu tranh. 



Ngày 14/11/1956, Văn Tiến Dũng huy động thêm Sư đoàn 312 vào trận địa quyết tiêu diệt nhơn dân Quỳnh Lưu. Hồ Chí Minh quyết tâm ra lịnh phải dẹp cuộc nổi dậy nầy. Trước sức mạnh của bạo lực đó, nông dân vẫn cứ quyết tâm tử chiến ... Nhưng vì vũ khí quá thô sơ, nghĩa quân phải rút vào rừng. Sau khi trận chiến kết thúc, quân đội Việt Cộng đã xông vào các làng xã, bắt tất cả già trẻ lớn bé giải đi. Họ tra khảo từng người để tìm ra ban chỉ đạo đấu tranh nhưng vô hiệu. 



Dù nhà cầm quyền Cộng Sản Hà nội, ngày nay vẫn tiếp tục cố tình che dấu, xuyên tạc cuộc nổi dậy của nhân dân Quỳnh Lưu. Dù họ đã đàn áp, giết hại và đày ải hơn 10,000 nông dân trong biến cố Quỳnh Lưu, nhưng tinh thần yêu nước, can trường của người dân các tỉnh miền Trung nói chung, và ở tỉnh Nghệ An nói riêng, đã và vẫn còn là gương sáng cho các thế hệ  tiếp nối.
Phải đòi cho được tự do, công bằng và tất cả những quyền căn bản của con người. Tiếng trống, tiếng mõ, oai hùng của đồng bào Quỳnh Lưu 61 năm về trước, nay, vẫn còn vọng về thúc dục người có lòng ái quốc, tiếp tục nhắn nhủ, kêu gọi người can trường đi tìm chơn lý của cuộc sống !




 Thay Lời Kết
Lịch sử cho thấy, dù trong một điều kiện vô cùng khó khăn, tinh thần tranh đấu của người dân Budapest, Hungary, của người nông dân Quỳnh Lưu, Nghệ An, Việt Nam, không chết, không tàn rụi trong cô đơn và không ngồi đó chờ đợi bàn tay Anh, Mỹ hay thế giới !


Riêng dân Hungary, ngọn lửa tự do vẫn cháy âm ỉ, để rồi 31 năm sau bộc phát thành cuộc cách mạng dân chủ đầu tiên giải phóng toàn thể các quốc gia Đông Âu, năm 1989.
Khác với dân Việt Nam,


Người dân Hungary không đợi ông tổng thống Mỹ nào đến để khuyên họ phải biết yêu nước, phải biết đấu tranh.
Người dân Hungary đã không đợi một Bill Clinton đến Budapest như ông đã đến Hà Nội ngày 17 tháng 11, 2000 để nhắc nhở “Tương lai của các bạn nên nằm trong đôi bàn tay của mình, đôi bàn tay của nhơn dân Việt Nam.”


Họ cũng không chờ một Barack Obama đến Hà nội, vừa làm bộ ăn phở, vừa để dạy khéo cho dân Việt rằng “Vận mệnh Việt Nam nằm trong tay người Việt” hay một Donald Trump, ma mãnh, chưởi khéo - dân Việt Nam – bằng bài học lịch sử với Hai Bà Trưng hùng cường – chống Tàu đuổi Hán và nhắc dân Việt ta bài học yêu nước khi kết luận rằng “Cuối cùng, đừng bao giờ quên rằng thế giới có nhiều nơi, nhiều ước mơ, và nhiều con đường. Nhưng trên khắp thế giới, không có nơi nào như nhà mình.” - Đau quá !



Tóm lại, các tổng thống Mỹ mỗi người một vẻ nhưng cùng nhắc toàn dân Việt Nam rằng : “Con người (tự trọng, và yêu nước ) phải biết đứng trên đôi chân của mình.”
Như Thánh Kinh Bible đã dạy : « Aide-toi, Dieu t’aidera - Hãy tự lo đi, Chúa sẽ lo cho bạn ! Mỹ ngày nay nói « Aide toi, les USA t’aideront – Hãy tự lo, Mỹ sẽ lo cho bạn ! »

Có thế thôi ! Khỏi phải lo nữa !
Hồi Nhơn Sơn, tháng 11, đầy thương nhớ !
Phan Văn song

TẠ QUANG KHÔI * ĐOẠN KẾT MỘT CHUYỆN TÌNH -


Thứ Năm, 16 tháng 11, 2017

ĐOẠN KẾT MỘT CHUYỆN TÌNH

 TẠ QUANG KHÔI


Cận nhìn qua cửa sổ. Bên ngoài tuyết mỗi lúc một dày. Về chiều, gió thổi mạnh, làm những bông tuyết như những cánh mai trắng bay tơi tả. Những ngày đầu tiên vừa đặt chân lên đất Mỹ, Cận rất thích ngắm cảnh tuyết rơi. Tất cả chỉ một màu trắng xóa ! Thật đẹp ! Mùa đông đầu tiên khi mới lưu lạc sang xứ người, chàng náo nức chờ tuyết rơi. Bây giờ thì tuyết không còn hấp dẫn nữa. Tuyết rơi thì đẹp, nhưng lúc tuyết tan thật dơ bẩn !<!>           Cận buồn bã nhìn đồng hồ. Đã gần năm giờ ! Tuyết vẫn rơi, mỗi lúc một dày hơn. Nhìn nhịp độ tuyết rơi, chàng biết chàng sẽ phải về trễ. Chàng rất sợ lái xe trên đường đầy tuyết. Thật ra, về trễ đối với chàng không phải là một chuyện bất thường. Nhiều hôm, vì mải làm việc, chàng rời tòa báo vào lúc sáu giờ tối. Về đến nhà chàng cũng chỉ ngồi xem tivi một mình vì các con thường đi làm về muộn. Căn nhà trống rỗng lạnh lẽo càng làm chàng nhớ đến Hằng, người vợ thân yêu đã qua đời. Bảy năm rồi, chàng vẫn không nguôi thương nhớ. Hằng ra đi vào dịp Tết năm Mão. Ba tháng sau, chàng phải lếch thếch dắt các con chạy trốn khỏi Việt Nam. Chàng và các con làm cái giỗ đầu tiên của Hằng trên đất Mỹ. Thời gian qua mau, nhưng vết thương lòng của chàng vẫn còn nguyên vẹn. Chàng yêu Hằng khi nàng mới mười lăm, tóc còn kết bím sau lưng và còn đánh truyền, đánh chắt với bạn trên hè phố. Hồi đó, chàng tương đối trải đời, từng theo kháng chiến chống Pháp, hơn nàng đúng mười tuổi. Vì nàng, chàng đã bỏ hết, cắt đứt mọi liên lạc với dĩ vãng để chiều theo ý gia đình nàng. Chàng đi học lại để tạo dựng một tương lai tốt đẹp. Bốn năm sau, hai người làm đám cưới khi nàng vừa mười chín. Sau ngày cưới ít lâu, hai vợ chồng trẻ đã phải dắt díu nhau vào Nam. Cuộc sống của họ thật hạnh phúc, nhưng chỉ được có hai chục năm trời ! Kỷ niệm nàng để lại cho chàng là hai đứa con, một gái một trai. Đứa con gái giống mẹ như đúc, từ đôi mắt, miệng cười đến tiếng nói, dáng dấp. Vì thế, chàng có ý thiên vị, chiều chuộng nó hơn thằng em. Con bé cũng biết thế, nên rất thương cha. Đã hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi mà vẫn chưa chịu lấy chồng, dù có nhiều bạn trai. Nó thường nói :
          "Con đi lấy chồng, rồi ai lo cho ba ?  Khi đã có chồng, con phải lo tròn bổn phận một người vợ, rồi bổn phận làm mẹ khi có con."
           Chàng cảm động, mỉm cười hỏi lại :
          "Bộ con định ở giá luôn sao ?  Rồi khi ba già, ba chết, ai săn sóc con ?"
           Nó lắc đầu :
           "Con chẳng cần ai lo hết. Ở cái đất Mỹ này, sống độc thân là sướng nhất."
           Chàng đùa :
           "Khi Chương nó lấy vợ, ba sẽ có con dâu lo cho ba."
           Nó trề môi :
           "Ba ở Mỹ lâu mà còn nghĩ như vậy là ba không thực tế. Ba có thấy con dâu nào ở Mỹ, dù là người Việt Nam, lo cho bố chồng chưa ?"
           "Con đừng bi quan quá. Việt Nam cũng có nhiều người giữ được lề thói cũ hay đẹp. Với lại con cũng phải nghĩ tới tương lai của con. Ba tự lo lấy được hết."
           Cảnh gia đình của ba cha con Cận thật ấm cúng. Điều mà chàng mừng nhất là hai con chàng chưa bị Mỹ hóa.
           Bên ngoài, tuyết vẫn rơi. Nhìn những bông tuyết rơi rào rạt, Cận biết gió thổi mỗi lúc một mạnh hơn. Đinh ninh mình sẽ phải về muộn, chàng chán nản ngó chồng bài cao ngất trước mặt. Đó là những bài do độc giả khắp nơi gửi về và được xếp theo thứ tự ngày tháng nhận. Chàng hờ hững nhón lấy xấp trên cùng. Chàng liếc qua tên truyện và tên tác giả :"Người chiến sĩ không tên của Trần Lữ". Truyện viết tay, tuồng chữ đàn bà. Chàng hơi ngạc nhiên về tuồng chữ vì tên tác giả rõ ràng là tên đàn ông. Chàng chợt có một ý nghĩ ngộ nghĩnh cho rằng tác giả là một anh chàng lại cái nên mới có tuồng chữ đàn bà. Chàng tò mò thử đọc xem "anh chàng lại cái" viết gì. Nhưng chỉ mới đọc hết đoạn đầu, chàng ngạc nhiên và có vẻ chú ý hơn. Chàng không khỏi thắc mắc về sự trùng hợp kỳ lạ. Truyện "Người chiến sĩ không tên" là truyện chàng viết gần bốn chục năm về trước. Trần Lữ cũng chính là bút hiệu của chàng hồi đó. Chàng vội vàng xem tên thật người gửi : Nguyễn thị Nam Ngọc. Cái tên hoàn toàn xa lạ. Tìm đến địa chỉ, chàng càng ngạc nhiên hơn, vì không quen ai ở tiểu bang Connecticut. West Hartford, Connecticut ! Lần đầu tiên chàng biết đến địa danh này.
           Cận đọc lại một lần nữa truyện "Người chiến sĩ không tên". Vẫn những non nớt, vụng về của một người mới chập chững bước chân vào nghề cầm bút. Nó là truyện ngắn đầu tay của chính chàng cách đây khoảng ba mươi lăm, ba mươi sáu năm, khi chàng tham gia kháng chiến chống Pháp. Những ngày xa xưa đó bỗng trở về với chàng...
           Sau một thời gian đánh nhau với lính Tây trong thành phố Hà Nội, trung đoàn Thủ đô rút ra hậu phương. Cận được chuyển về công tác trong ban tình báo của bộ tham mưu liên khu 3. Tại đây, người ta giao cho chàng và một họa sĩ trẻ phụ trách xuất bản một tờ nội san viết tay :"Chiến sĩ vô danh". Trong số đầu tiên, chàng đã viết truyện "Người chiến sĩ không tên" để ca tụng các tình báo viên hoạt động âm thầm trong bóng tối. Đó là truyện đầu tay của chàng nên ý tưởng còn thô sơ, lời văn còn vụng về, non nớt. Thế mà "Người chiến sĩ không tên" cũng được nhiều người trong cơ quan ưa thích.
           Đã ngót bốn chục năm trôi qua, biết bao nhiêu lần "bãi bể biến thành nương dâu", Cận cũng đã quên truyện đó. Nay bỗng thấy nó xuất hiện, chàng không ngạc nhiên sao được. Cái tên Nguyễn thị Nam Ngọc cũng hoàn toàn xa lạ với chàng. Càng nghĩ chàng càng thắc mắc. Trước khi xếp truyện "Người chiến sĩ không tên" sang một bên, Cận lấy bút đỏ ghi đậm hai chữ "Không đăng".
           Nửa tháng đã trôi qua mà Cận cũng không sao giải đáp được thắc mắc đó. Lúc nào nó cũng canh cánh bên lòng. Rồi chàng lại nhận được bản chụp của truyện "Người chiến sĩ không tên". Chàng ngạc nhiên và tự hỏi :"Thế này là làm sao ?  Người gửi có dụng ý gì ?" Vẫn Nguyễn thị Nam Ngọc ! Vẫn địa chỉ ở West Hartford, tiểu bang Connecticut ! Sau khi suy nghĩ  kỹ,  chàng quyết định viết cho người đàn bà mang tên Nguyễn thị Nam-Ngọc một bức thư riêng. Chàng vắn tắt cho biết đã nhận được truyện và đã trả lời trên báo là không đăng được, xin đừng gửi thêm nữa. Một tuần sau, chàng nhận được thư trả lời :
           "Anh Cận,
          "Anh còn nhớ cố nhân không ?  Nếu anh chưa quên, hoặc anh lên gặp em hoặc cho phép em xuống thăm anh. Rất mong thư anh. 
           Em,
           Lê thị Bích Anh"
           Lần này, Cận bị xúc động mạnh, ngẩn ngơ nhìn lá thư ngắn ngủi, không biết đáng tin hay đáng ngờ. Thật hay mơ ?  Chuyện xảy ra ngoài trí tưởng tượng của chàng. Lê Thị Bích Anh đúng là một cố nhân. Nàng là mối tình đầu của chàng và đã hơn ba chục năm không gặp lại.
Khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội, những người được chuyển công tác về bộ tham mưu liên khu 3 có cả Bích Anh, một nữ cứu thương xinh xắn, duyên dáng. Nàng vốn là một nữ sinh trường Đồng Khánh, Hà Nội. Cận yêu nàng ngay lúc mới gặp và mối tình đầu của chàng đã được nàng đáp lại. Hai người quấn quít bên nhau được một thời gian ngắn, cho đến ngày Cận được gửi vào Hà Nội để hoạt động, sau một khóa huấn luyện cấp tốc về tình báo. Chàng đi và không bao giờ trở lại vì chàng đã gặp Hằng và yêu Hằng. Chàng rũ bỏ hết dĩ vãng và bỏ giở công tác được giao phó để được sống vĩnh viễn bên cạnh Hằng. Đôi khi chàng cũng chợt nhớ tới Bích Anh, nhưng chỉ coi đó là một mối tình bồng bột của tuổi trẻ. Trước khi cưới Hằng, chàng cũng nghe tin Bích Anh đã lấy người chỉ huy trực tiếp của nàng.
           Nay Bích Anh bỗng xuất hiện, sau ngót bốn chục năm không liên lạc. Tại sao nàng lại ở Mỹ ? 
Cận đọc lại bức thư ngắn nhiều lần nữa mà cũng không tìm ra lý do Bích Anh muốn gặp chàng. Vì thế, chàng phân vân không biết có nên gặp lại người xưa không. Cả một tuần suy nghĩ chàng cũng không quyết định được. Chàng không thể lên thăm nàng, một phần vì công việc bề bộn, phần khác chàng sợ cái lạnh của miền Bắc về mùa đông.  Mà để nàng xuống thăm thì cũng có nhiều bất tiện. Cho đến nay, dù đã ngót bốn chục năm trôi qua, chàng vẫn chưa dứt bỏ được cái mặc cảm bạc tình đối với nàng.
           Vào một buổi sáng của tuần lễ thứ hai, kể từ ngày nhận được thư Bích Anh, một người đàn bà bỗng gọi điện thoại cho Cận. Câu đầu tiên, bà ta hỏi ngay :
           "Anh có nhận ra tiếng em không ?"
           Dù đã mấy chục năm không gặp, Cận vẫn chưa quên giọng nói của người yêu cũ, rụt rè hỏi lại :
"Thưa...có phải là....Bích Anh không ?"
           Tiếng cười dòn vang trong điện thoại làm Cận bàng hoàng. Vẫn là tiếng cười trong trẻo của người nữ cứu thương ngót bốn chục năm về trước.
           "Anh có biết bây giờ em đang ở đâu không ?"
           "Ở trên Connecticut", chàng đoán.
           "Không đâu !  Em chỉ cách anh có năm phút lái xe thôi."
           Cận ngạc nhiên :
           "Bích Anh xuống đây hồi nào ?"
           Lại có tiếng cười dòn :
           "Hình như anh không muốn gặp em nên không vui khi biết em đang ở gần anh."
           Cận ngập ngừng :
           "Đã ngót bốn chục năm không có tin tức của nhau nên tôi... không hiểu ý định của Bích Anh khi tìm gặp tôi ?"    
           "Anh sẽ biết ý định của em khi mình gặp nhau tối nay."
           Cận lúng túng :
           "Nhưng...Nhưng..."
           Bích Anh ngắt :
           "Không nhưng gì hết. Mình sẽ gặp nhau tối nay. Em sẽ đến thăm anh và các cháu nếu anh cho em biết địa chỉ nhà anh...Hay anh muốn em đến tòa báo cũng được, em sẽ đến ngay bây giờ."
           "Vậy...tôi xin mời Bích Anh đến nhà..."
           Rồi chàng đành cho nàng biết địa chỉ của chàng. Ngừng một chút, chàng tiếp :
           "Nhưng...hôm nay có thể tôi sẽ về hơi trễ..."
           Bích Anh đáp ngay :
           "Em sẽ ngồi nói chuyện với các cháu chờ anh."
           "Chúng nó còn về trễ hơn tôi."
           Bích Anh nói dỗi :
           "Thì em cứ đứng ở ngoài cửa."
           Rồi bỗng nàng đổi giọng, nửa đùa nửa thật :
           "Anh Cận, em báo trước cho anh hay là lần này anh đừng hòng chạy thoát. Đã ngót bốn chục năm đuổi bắt anh, em không thể để mất anh lần nữa."
           Cận nghe lòng xao xuyến. Dù sao Bích Anh cũng là người yêu đầu tiên của chàng. Sau này, chàng yêu Hằng trong tình nghĩa vợ chồng, nhưng bóng hình Bích Anh không hoàn toàn phai nhòa trong tâm tưởng chàng, thỉnh thoảng vẫn còn phảng phất hiện ra mờ mờ nhạt nhạt.
           Lại có tiếng Bích Anh :
           "Chị bạn em cho biết từ nhà chị đến nhà anh rất gần, đi bộ chỉ vài phút thôi. Vậy chiều nay mình gặp nhau nhé...Đừng trốn tránh em lần nữa, tội nghiệp !"
           Câu cuối cùng nàng nói bằng một giọng năn nỉ, ngọt ngào khiến Cận không khỏi cảm động. Từ phút đó chàng bâng khuâng, suy nghĩ vẩn vơ, trở về với dĩ vãng xa xưa. Suốt ngày chàng không làm được việc gì nên hồn. Chàng cứ thắc mắc tự hỏi Bích Anh sang Mỹ làm gì ?  Chồng con ra sao ?  Cuộc sống hiện tại của nàng thế nào ? ...Và cả trăm câu hỏi khác nữa mà không sao giải đáp nổi.
           Buổi chiều, Cận về sớm hơn thường lệ nửa giờ.
 
                                                              X X
                                                                 X
 
Cận đứng lặng yên ngắm người đàn bà trước mặt. Đúng là Bích Anh của chàng ngót bốn chục năm xưa, một Bích Anh già nua tuy vẫn còn những nét quen thuộc cũ. Nếu tình cờ gặp nàng ở ngoài đường chàng không chắc đã nhận ra. Nàng cũng im lặng ngắm chàng, rồi lên tiếng trước :
           "Trông anh già hơn tuổi."
           Cận gật đầu :
           "Vâng, tôi cũng biết như vậy. Khi buồn và vất vả người ta chóng già."
Bích Anh bỗng vui vẻ hỏi :
"Nhưng mà sao anh không cho khách vào nhà  ?"
Nói xong, nàng bước luôn vào, không chờ đợi mời mọc, rồi suýt xoa :
"Đứng ngoài lâu lạnh quá."
Cận ngượng ngùng xin lỗi về sự vô ý của mình. 
Khi hai người đã ngồi đối diện trong phòng khách, Bích Anh hỏi :
"Sao anh không nhuộm tóc đi cho đỡ già ?  Để đầu bạc phơ như thế thì có lợi gì ?"
Cận nhún vai :
"Chẳng lợi mà cũng chẳng hại. Tôi không cần phải giấu diếm ai hết. Tóc Bích Anh chắc có nhuộm ?"
"Vâng. Nhưng tóc em chưa bạc như tóc anh đâu, chỉ mới có ít sợi trắng thôi. Em lại nghĩ rằng việc gì mình phải khoe cái già của mình cho nó...ảm đạm cuộc đời, có ảnh hưởng đến tinh thần. Nhuộm tóc đi mình sẽ thấy mình trẻ lại và yêu đời hơn..."
"Mà Bích Anh có yêu đời thật không ?"
"Đời người ta có lúc nổi lúc chìm, nổi thì yêu đời, chìm thì chán đời. Đã có lúc em chán đời vô cùng, chỉ muốn chết cho xong...Nhưng bây giờ thì em đang yêu đời."
Cận giữ im lặng, chỉ nhìn nàng đăm đăm. Nàng bỗng hỏi sang chuyện khác :
"Các cháu thường về lúc mấy giờ ?"
"Con Hương, con gái lớn của tôi, bao giờ cũng về khoảng bảy giờ, còn thằng Chương, em nó, thì không chừng."
Sau khi hỏi qua loa về những chuyện lặt vặt vẩn vơ, Bích Anh nhìn thẳng mặt chàng nói :
"Em biết anh đang có nhiều thắc mắc về em. Nào, bây giờ anh muốn hỏi gì em xin trả lời."
Cận ngập ngừng rồi im lặng. Bích Anh lại nói :
"Nhìn vẻ rụt rè, e ngại của anh là em biết anh có nhiều thắc mắc lắm. Ngót bốn chục năm không có tin tức của nhau mà khi gặp lại em, anh cũng không mừng... Dù chỉ là hai người bạn không thân lắm, xa nhau lâu, tình cờ gặp lại nơi xứ lạ quê người, cũng mừng mừng tủi tủi, vì 'tha hương ngộ cố tri' mà. Trong khi đó, anh với em chả gì trước kia...trước kia..."
Nàng bỗng nghẹn ngào không sao nói tiếp. Cận cúi mặt im lặng. Nhưng chỉ vài phút sau, nàng đã lấy lại bình tĩnh :
"Tính cho đến ngày hôm nay chúng ta xa nhau...băm nhăm năm, tám tháng và mười bảy ngày."
Cận thốt kêu :
"Khiếp ! Làm gì mà tính kỹ quá vậy ?"
Nàng đáp :
"Em đếm từng ngày, từng giờ, anh ạ.""
"Thế còn chồng con Bích Anh bây giờ ra sao ?"
Im lặng một lát, nàng khẽ thở dài :
"Bây giờ em xin kể từ đầu...Hơi dài dòng một chút, nhưng có thế anh mới hiểu hết được."
Cận im lặng chờ đợi. Nhưng nàng không kể ngay, lại hỏi :
"Hình như anh quên không mời khách uống nước thì phải?"
Cận giật mình, vội tìm cách tự bào chữa :
"Gặp lại Bích Anh, tôi quên hết ! Nào Bích Anh uống gì ?  Nhà có nước ngọt, nước cam..."
Nàng gạt đi :
"Xin anh cho em một cốc nước lạnh, em không quen uống nước ngọt. Thôi, anh cứ ngồi đi, để em vào tìm nước lấy."
"Nhưng Bích Anh có biết ly để đâu mà lấy."
"Thì em cứ lục tung lên là phải thấy chứ gì."
Nàng vẫn có giọng tinh nghịch hồi trẻ. Chính cái tinh nghịch duyên dáng đó mà Cận mê nàng. Thoáng trong một giây, chàng cảm thấy vui được gặp lại nàng.
Bích Anh vào bếp không đầy nửa phút đã trở ra với ly nước lạnh. Sau khi đặt ly nước lên bàn, nàng nhìn chàng,vui vẻ :
"Nào, bây giờ mình bắt đầu phiêu lưu trở về dĩ vãng."
Rồi nàng cười lớn :
"Nói chuyện với nhà văn, nhà báo thì cũng phải văn chương chữ nghĩa chứ. Đừng cười em nhé."
Cận chỉ im lặng nhìn nàng, nhưng lòng rộn lên một niềm vui khác thường. Nàng hỏi :
"Theo anh, mình nên bắt đầu từ đâu?"
"Tùy Bích Anh, vì tôi đâu có biết Bích Anh định nói những gì."
Nàng ngập ngừng :
"Hay là... anh hỏi để em trả lời...như "làm việc" với công an. Có khi như vậy lại chóng giải đáp được những thắc mắc của anh."
Cận phì cười :
"Bích Anh vẫn lém lỉnh, đùa nghịch như ngày xưa. Tôi không tin là Bích
Anh đã ngoài năm chục, có thể có cháu nội, cháu ngoại rồi."
Bích Anh công nhận :
"Vâng, em đã có cả cháu nội lẫn cháu ngoại.  Cảm ơn Anh đã...tưởng em còn trẻ. Thế mới biết nhà văn các anh khéo nói thật. Mà em xin thú thật với anh là em chỉ mới trẻ lại khi...nắm được áo anh thôi. Lần này thì em nắm thật chắc. Trước đó, em cũng héo hắt, sầu muộn lắm. Tìm anh còn khó hơn tìm chim đấy. Nửa vòng trái đất, chứ có gần gì cho cam. Một phần cũng tại anh không lấy lại bút hiệu cũ ở Việt Nam, phần khác anh lại ít giao du, nên chẳng biết đâu mà hỏi nữa. Nhưng rồi cũng tìm ra. Hết chạy trốn rồi nhé."
"Bích Anh tìm tôi để làm gì ?"
Nàng ngó chàng đăm đăm, ngạc nhiên :
"Anh hỏi thật hay đùa thế ?  Để làm gì ? Ô hay, em tìm anh suốt cuộc đời em để làm gì nhỉ ? Anh là nhà văn mà cũng có thể hỏi một câu...ngớ ngẩn như thế sao ?  Tuy nhiên, em cũng xin trả lời một cách nghiêm chỉnh rằng em tìm anh để...đòi nợ !"
Cận có vẻ hơi ngượng, ngồi chết lặng. Bích Anh tiếp :
"Nợ tình chưa trả mà anh."
Chợt nàng trầm hẳn giọng :
"Anh cũng thừa biết rằng lúc nào em cũng chỉ yêu có anh."
Cận ngó đi chỗ khác như muốn trốn tránh một sự thật.
"Vâng, nàng tiếp, em chỉ yêu có anh trong suốt cuộc đời em...dù em vẫn biết anh không còn mảy may thương yêu em."
Cận lúng túng, ngập ngừng :
"Tôi...tôi không ngờ...”
"Anh không ngờ cái gì ? Phải chăng anh không ngờ em vẫn yêu anh, yêu như hồi chúng mình còn ở trong rừng Lương Sơn tỉnh Hòa Bình ?  Hay anh không ngờ em có thể sang đến tận Mỹ để tìm anh ?"
Cận lại bị Bích Anh dồn vào cái thế không biết nói năng làm sao. Ngay khi còn ở Việt Nam, chàng cũng chưa bao giờ nghĩ tới chuyện nàng tìm gặp chàng, huống chi nay đã ở Mỹ.
Bích Anh buồn buồn tiếp :
"Nhắc đến rừng Lương Sơn em lại...lại giận anh. Em không ngờ anh lại chóng quên lời thề như vậy. Em biết chắc hồi đó anh cũng yêu em...không thua gì em yêu anh..."
Cận thầm công nhận chàng đã yêu Bích Anh tha thiết và đã từng thề thốt với nàng.
"Ngày đó, anh biết không ?  Khi nghe tin anh say mê một cô gái Hà Nội, bỏ cả hoạt động, cắt đứt liên lạc với tổ chức, em lồng lộn muốn vào thành tìm anh ngay. Nhưng  anh Kim đã tìm cách ngăn cản, cho người canh chừng em từng bước, vì anh ấy yêu em, biết rằng nếu để em đi, chắc chắn là mất luôn cả em."
Cận chỉ ngó Bích Anh và vẫn im lặng. Bích Anh có giọng tha thiết :
"Sau khi mất liên lạc với anh, em bị bệnh nặng, vừa suy nhược tinh thần vừa sốt rét ngã nước, tưởng đã chết mất xác ở trong rừng. Nhờ anh Kim hết lòng săn sóc và lo lắng cho em nên em mới qua khỏi. Khi anh ấy ngỏ lời xin cưới em thì em bằng lòng ngay.  Hồi đó, em nghĩ rằng mất anh rồi thì...lấy ai cũng thế thôi...Người ta lấy em là lấy một cái xác, còn hồn em lúc nào cũng ở bên anh, dù bị anh hắt hủi."
Ngừng một chút, Bích Anh lại nói :
"Kim hơn em những mười lăm tuổi, lại là người Tày ở vùng Cao Bằng, làm sao em có thể yêu được. Nhưng lúc đó, em không còn một chút hy vọng nào được gặp lại anh, nên cũng liều..."
Mỗi lời nói của nàng như một nhát dao chém vào tim Cận. Nỗi đau khổ của nàng càng lớn bao nhiêu thì niềm hối hận của chàng càng ray rứt bấy nhiêu.
"Anh Kim cũng biết như thế, nhưng anh ấy nghĩ rằng sự chiều chuộng, sự săn sóc tận tình của anh ấy sẽ có thể làm em quên được anh. Rồi khi nghe tin anh cưới vợ, bỏ đi Nam, em hoàn toàn tuyệt vọng. Của đáng tội, những năm sống với anh ấy cũng là những năm sung sướng."
Cận nói :
"Thế cũng là có hạnh phúc rồi."
Bích Anh gật đầu :
"Vâng, nếu chỉ cần chồng yêu, chồng chiều là hạnh phúc thì em có hạnh phúc với anh Kim."
Ngừng một chút, nàng lại nói :
"Em không phải là gỗ đá, cũng không phải người vô tình. Người ta đối với mình như bát nước đầy, mình cũng phải đáp lại phần nào. Em đã tròn nghĩa vợ chồng với anh ấy."
"Bích Anh có mấy con ?"
"Ba, nhưng anh ấy chỉ nhận có hai thôi."
Cận trố mắt nhìn nàng :
"Thế là thế nào, tôi không hiểu."      
"Vì...vì...đứa thứ ba anh ấy không nhận."
Cận lắc đầu :
"Quả thật tôi vẫn không hiểu. Tại sao lại không nhận ?  Hay..."
Bích Anh bỗng phì cười :
"Anh lại nghi xấu cho em rồi. Em không phải là hạng người như vậy đâu. Với lại, người có thể đưa em vào con đường...tội lỗi thì đã bỏ em mà đi mất tăm mất tích lâu rồi."
Ngừng một chút, Bích Anh giải thích :
"Sở dĩ anh Kim không nhận đứa thứ ba là vì anh ấy nghi là con... của anh."
Cận dẫy nẩy :
"Con tôi ? Sao lại kỳ cục như vậy được ?"
"Đứa thứ ba em đẻ vào năm 1976, sau ngày giải phóng miền Nam. Năm nay cháu mới 7 tuổi và đang ở với em...Ngay giữa tháng 5 năm 75, dựa vào thế lực của chồng, em xin giấy vào Nam thăm họ hàng. Thật ra, em chẳng có họ hàng, thân thích nào ở trong Nam. Em chỉ vào để tìm anh thôi. Trước khi đi, em đã hỏi được địa chỉ của anh. Vào đến nơi em mới biết anh đã kịp chạy thoát ra nước ngoài và chị cũng mới qua đời...Tình cờ em gặp một người bạn học cũ từ thời thơ ấu, trước ở cùng phố với em, nên lắng đắng trong Saigon hơn một tháng mới về Bắc. Thấy em ở trong Nam lâu, anh Kim nghi em đã gặp anh.."
"Sao Bích Anh không nói cho anh ấy biết là tôi đã chạy ra nước ngoài ?"
"Sao lại không ! Nhưng anh ấy không tin. Rồi khi em sinh con bé Nam Ngọc, anh ấy không nhận nó là con. Có điều rất lạ là...cháu có nét giống...anh. Chính em cũng không hiểu tại sao."
Cận lắc đầu :
"Tôi không tin là Kim nghi Bích Anh có con với tôi. Việc kiểm chứng có khó khăn gì đâu mà phải nghi bậy nghi bạ như vậy. Có thể còn có chuyện gì bí ẩn bên trong."
Bích Anh công nhận :
"Vâng, bí ẩn đó là chính anh ấy ngoại tình. Từ lâu anh ấy lén lút đi lại với một cô cán bộ trẻ dưới quyền. Bây giờ kiếm cớ muốn bỏ em để chính thức lấy cô ta. Mới đầu em còn muốn gỡ lại danh dự bằng cách không chịu ly dị. Sau em nghĩ rằng danh dự cũng chả làm cái quái gì, tốt nhất là làm sao tìm được anh. Em hỏi dò biết anh đang ở Mỹ, em tính chuyện vượt biên. Thế là em bán đồ bán đạc, vay cào vay cấu được ít tiền, em ôm con vào Nam...Rồi bây giờ em đã mãn nguyện vì được gặp lại anh sau mấy chục năm trời xa cách. Và còn điều này đáng mừng nữa...Cả anh lẫn em đều tự do...Em muốn cho anh biết một chuyện, nhưng anh không được giận em, em mới dám nói."
Cận dè dặt :
"Điều đó có hại gì cho tôi không ?"
"Không, chắc chắn là không hại gì đến ai, kể cả anh."
"Vậy thì Bích Anh cứ nói."
"Chính...chính cái tin chị đã qua đời thúc đẩy em tìm lại anh. Nếu chị còn sống, em cũng chả dại gì mà ôm con nhỏ lao đầu ra bể đâu. Anh không vượt biên nên anh không biết cái nguy hiểm của bể cả, mười phần thì chắc chết đến chín."
Cận chợt khẽ thở dài. Chàng không ngờ Bích Anh lại liều lĩnh như vậy.
"Nhưng anh biết không ?  Lúc đó, nếu hai mẹ con em có phải làm mồi cho cá, em cũng bằng lòng vì em đã chết cho tình yêu...May là em đã tới bờ được bình an. Bây giờ nghĩ lại, em vẫn thấy sợ."
Nói xong, nàng khẽ rùng mình. Cận gật đầu :
"Kể Bích Anh cũng liều thật. Bích Anh chết cho tình yêu đã đành, còn cháu bé chết vì sự liều lĩnh của mẹ. Bích Anh có nghĩ tới điều đó không ?"
"Em cũng có nghĩ, cháu còn nhỏ, bắt buộc em phải mang cháu theo. Nhưng Trời Phật đã thương em, không những hai mẹ con sống sót mà em còn tìm ra anh. Thế là em mãn nguyện rồi. Đó không phải là lý do em trẻ lại và yêu đời sao ?"
Câu chuyện liều lĩnh của nàng đã khiến Cận rất cảm động. Để che giấu sự cảm động đó, chàng hỏi lảng :
"Còn hai cháu lớn thì sao ?"
"Chúng nó có vợ, có chồng và con cái cả rồi."
"Thế là Bích Anh đã lên chức bà nội, bà ngoại."
Nàng cười :
"Thì cũng phải thôi. Tuổi anh và tuổi em nếu có cháu cũng chả sớm sủa gì."
Cận cố lấy giọng vui đùa :
"Thì ra mình già cả rồi...Thế mà mình vẫn còn lãng mạn quá. Nghe chuyện Bích Anh, tôi cứ ngỡ tôi đang đọc một truyện tình rất lâm ly."
Bích Anh cười :
"Truyện giữa anh và em còn lãng mạn và hấp dẫn hơn bất cứ  một tiểu thuyết tình nào khác."
Cận nói tiếp :
"Và đang đi đến hồi kết cục."
"Chắc là vui lắm nhỉ. Có phải người Mỹ gọi thế là 'happy ending' không, anh ?"
Cận gật đầu, cười :
"Chúng ta thì gọi là chuyện có...hậu."
Bích Anh vui vẻ  nói ngay :
"Thế là anh hứa rồi nhé. Dù đã trễ, quá trễ, mà vẫn có hậu thì cũng là chuyện hay, anh nhỉ."
Cận biết Bích Anh khéo léo buộc chàng vào, nhưng cũng không biết nên nói gì. Thật ra, trong thâm tâm, chàng cũng không khỏi cảm động trước mối chân tình của nàng. Chàng nhớ lại ngày hai người mới gặp nhau.
Hồi đó, vào đầu năm 1947, Pháp đã mở rộng vùng tạm chiếm và bộ tham mưu liên khu 3 phải rút vào một khu rừng già thuộc châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Chàng yêu Bích Anh ngay khi mới gặp. Nàng có vẻ đẹp Tây phương. Đôi mắt to và nâu, lông mi dài và cong. Mũi cao dọc dừa. Miệng cười duyên dáng, quyến rũ vì một chiếc răng khểnh. Vào những buổi chiều tà, hai người thường sánh vai đi dạo trên con đường mòn ven suối. Có đêm trời sáng trăng vằng vặc họ ngồi bên nhau trên một khối thạch bàn bên bờ suối. Chàng đàn, nàng hát nho nhỏ bài "Suối mơ" của Văn Cao, chỉ đủ để hai người nghe. Mối tình của họ càng ngày càng thắm thiết và ai cũng tin rằng thế nào họ cũng sẽ tiến tới hôn nhân. Cả Cận lẫn Bích Anh cũng tin như vậy. Rồi Cận được lệnh tham dự một khóa đặc biệt về tình báo ở một bản cách xa cơ quan chính khoảng bốn chục cây số đường rừng. Khóa học kéo dài ba tháng, nhưng đến giữa tháng thứ hai chàng bị bệnh. Cơn sốt làm chàng mê man, không ăn không uống gì được. Thuốc men thiếu thốn, bác sĩ không có, các cô nữ cứu thương của bệnh xá đều bó tay. Ai cũng nghĩ rằng chàng không thể qua khỏi, thậm chí người ta đã tìm cây nhờ người Mường khoét thành một cái áo quan dành cho chàng. Bỗng, vào một đêm đã khuya, Bích Anh cưỡi ngựa băng rừng đến thăm chàng. Thấy nàng xuất hiện bất ngờ, mọi người đều ngạc nhiên. Khu rừng chung quanh lớp huấn luyện, về đêm, vẫn nổi tiếng có nhiều hổ. Thế mà Bích-Anh dám một mình một ngựa, tay không, đi trong đêm tối. Vừa thấy chàng trên giường bệnh, nàng bật khóc. Nàng không ngờ hai người mới chỉ xa nhau có ít ngày mà chàng trông đã thảm thương, tiều tụy đến như thế.. Nàng lấy trong túi dết ra một gói nhỏ, trao cho cô nữ cứu thương trực, dặn dò :
"Đây là thuốc sốt rét loại tốt nhất bây giờ. Gia đình tôi vừa từ Hà Nội gửi ra cho tôi. Xin cho anh ấy uống ngay, mỗi ngày ba viên."
Rồi nàng tự tay cho Cận uống viên thuốc đầu tiên. Đến sáng, chàng đã hơi tỉnh, nhưng đôi mắt còn lờ đờ mất thần nên không nhận ra nàng. Không thể ở lại săn sóc người yêu, nàng phải trở về cơ quan lúc gần trưa. Nhờ thuốc của Bích Anh, bệnh Cận thuyên giảm nhanh chóng, dần dần chỉ còn là những cơn sốt cách nhật và ngắn. Khi khóa huấn luyện chấm dứt, chàng trở về cơ quan và nghỉ ngơi được một tuần. Trong thời gian nghỉ ngơi này, Cận và Bích Anh càng hiểu nhau càng yêu nhau hơn. Rồi ngày lên đường nhận công tác cũng tới. Trong giây phút chia tay, họ không ngờ mãi ngót bốn chục năm sau mới lại gặp nhau.
Cận khẽ thở dài, nói :
"Tôi vẫn đinh ninh chả bao giờ mình còn được gặp nhau nữa...Ai ngờ..."
"Em cũng nghĩ như anh...Hiệp định đình chiến mới ký kết, em đã hấp tấp vào ngay Hà Nội với hy vọng được gặp anh.  Nhưng nghe tin anh chị đã bỏ đi Nam."
Cận hỏi đùa :
"Lúc đó, Bích Anh còn giận tôi không ?"
Bích Anh thành thật đáp :
"Giận anh thì lúc nào cũng giận...cho mãi đến lúc này...Mà yêu thì không bao giờ hết yêu...Vì thế, hồi đó, nếu có được gặp anh, em sẽ khuyên anh nên đi Nam. Anh mà ở lại thì rất nguy hiểm. Không chừng em cũng theo anh chị vào Nam luôn."
           "Lúc đó, Bích Anh đã có con chưa ?"
           "Chưa. Ở ngoài hậu phương khổ lắm, không dám có con. Mãi năm 56, em mới có con đầu lòng, lúc đó em đã là giáo viên cấp 2."
           "Thì ra Bích Anh là cô giáo."
           "Mỗi lần dạy học trò tới đoạn Kiều "Tái sinh chưa dứt hương thề, Làm thân trâu, ngựa đền nghì trúc mai" là em nhớ tới anh...Nhưng anh ơi, em chả có lỗi gì để phải làm thân trâu, ngựa..."
           Cận phì cười, nói ngay :
           "Kiếp sau mới phải làm trâu, ngựa, vậy kiếp này tôi làm gì ?"
           Bích Anh nhìn chàng bằng đôi mắt trìu mến :
           "Làm gì thì anh tự biết lấy. Nhưng em cũng xin cảnh cáo là lần này em không để anh...chạy thoát đâu. Hết đường trốn rồi, anh ạ."
           Trầm ngâm một lát, Cận nói :
           "Hoàn cảnh bây giờ đã đổi khác. Chúng ta đều có con lớn..."
           Bích Anh gạt đi ngay :
           "Con cái không phải là trở ngại. Các cháu ở Mỹ lâu rồi, tinh thần cởi mở phóng khoáng chứ không hẹp hòi như còn ở Việt Nam."
           "Thế còn con của Bích Anh thì sao ?"
           "Hai đứa nhớn ở Việt Nam không kể làm gì., con nhỏ đang ở với em, mới bảy tuổi. Cháu tên là Nam Ngọc."
           "Nam Ngọc !  Không phải tên con trai cũng không ra tên con gái."
           "Hồi cuối bảy nhăm, em đi Nam về thì có thai cháu. Em coi cháu như viên ngọc của miền Nam nên mới đặt cháu là Nam Ngọc."
           Cận cười :
           "Mấy thầy cô giáo hay bày vẽ thật.  Con gái tôi là Hương vì mẹ nó là Hằng, con trai là Chương vì tôi là Cận. Chẳng cầu kỳ gì hết."
           "Ấy vì cái tên Nam Ngọc và vì cháu hao hao giống anh..."
Cận cắt ngang :
           "Giống tôi ?  Bích Anh nói gì mà lạ vậy ?  Làm sao mà giống tôi được !"
           "Em cũng chả biết giải thích làm sao...Có lẽ hồi có thai cháu, em nghĩ nhiều đến anh.  Bố cháu ghen ầm ĩ và không nhận cháu..."
           "Càng vô lý nữa ! Bây giờ cháu ở đâu ?  Cháu có theo Bích Anh xuống đây không ?"
           "Có ạ. Chỉ có hai mẹ con, đi đâu em cũng tha cháu theo."
           "Bắt cháu phải nghỉ học ?"
           "Không, cháu đang nghỉ mùa đông."
           Bỗng Bích Anh nhìn đồng hồ, rồi nói :
           "Gần bảy giờ rồi, em phải về để đưa cháu đi ăn."
Cận nhìn nàng đăm đăm, dịu dàng :
           "Bích Anh vẫn như ngày xưa."
           "Sao lại vẫn như ngày xưa được. Em thay đổi nhiều lắm. Hồi đó, khi gặp anh, em là một cô gái mới lớn. Bây giờ em là một bà già, có cháu nội, cháu ngoại rồi."
           "Nhưng dáng dấp, cách ăn nói của Bích Anh vẫn như ngày xưa...Vẫn duyên dáng, quyến rũ..."
           Bích Anh tủm tỉm cười, nhìn người yêu bằng đôi mắt tinh nghịch hỏi :
           "Anh học thói... nịnh đầm từ bao giờ thế ?"
           Cận đáp một cách thản nhiên :
           "Từ lúc gặp lại... em."
           Tiếng “em” chàng buông nhẹ và rất trìu mến khiến Bích Anh đỏ ửng mặt vì sung sướng, không thốt nên lời.          
           Hai người im lặng nhìn nhau một lúc khá lâu, rồi Bích Anh lên tiếng trước :
           "Thôi, em phải về kẻo cháu mong....”
           Cận ngập ngừng :
           “Em đợi anh viết cho các cháu mấy chữ, rồi anh đi với em...Anh muốn dành cả buổi tối nay cho em và cháu...”
           Bích Anh hỏi lại ngay :
           “Chỉ buổi tối nay thôi sao ?”
           Cận nắm chặt tay nàng, tha thiết :
           "Tất cả quãng đời còn lại của anh sẽ dành hết cho em..."
           Bích Anh nghẹn ngào không nói nên lời, đôi mắt rưng rưng...
                                                                                                 TQK