Saturday, August 12, 2017

VÕ SƯ PHAN QUỲNH * CUNG NỎ ĐẠI VIỆT



Văn Hoá Thượng Võ Việt Nam – Bài 4


Cung Nỏ Đại Việt
Phép Chế Tạo Các Loại Cung Nỏ Với Tên Tẩm Độc Và Nghi Lễ Về Cung Nỏ Tại Việt Nam Xưa


Phan Quỳnh




Ngoài búa rìu và thương , lao, giáo, vũ khí chủ yếu của người Việt xưa, khi chưa có hỏa khí, là nỏ hay ná và cung với mũi tên tẩm thuốc độc.



Tư liệu khảo cổ về mũi tên đồng đào được hàng chục ngàn mũi rất sắc sảo có kiểu dáng khác nhau tại chân thành Cổ Lao (gần Hà Nội) của nhà nước Âu Lạc triều đại An Dương Vương Thục Phán (nửa sau thế kỷ thứ 3 trước tây lịch) cũng khớp với những ghi chép của sử Bắc bên Trung quốc.




Mũi tên đồng tại Cổ Loa của An Dương Vương Thục Phán



Vũ khí đặc trưng phương Nam.



Nỏ hay Ná là vũ khí đặc trưng của các nhóm dân tộc Đông Nam Á nhất là cư dân ở dọc Trường Sơn với những từ như Na của Mường , của Chức , nả của La-ha [Mường-la] , Hna của Bà Na , của Ê-dê, Mnaá của Sơ Đăng, Sa-Na của Kơ-ho, S-Na của Miên, Snao của Raglai, Na của Mạ, Hnaá của Gia Rai , Sơ-Na của Srê, Sna của Chăm Phan Rang, Phan Rí, Nả của Thái hay Pnả của Mã Lai .



Có nhiều cơ sở để có thể khẳng định chính từ tên gọi này được nhập vào vốn từ vựng của người Trung Quốc , sản sinh ra tiếng Hán có cách đọc Hán Việt cổ là Nõ hay Hán Việt hiện nay là Nỗ [] tổng hợp của thanh phù Nô [ như nô bộc] đứng trên chữ Cung tượng hình []) rồi lại quay trở về Việt Nam được đọc theo Nôm là Nỏ. Nỏ là một phát minh của người phương Nam . 

 Nỏ          cung

Nỏ cung trên trống đồng


Khảo cổ cũng tìm thấy ở Cổ Loa mũi tên đồng có xuyên lỗ để buộc bùi nhùi, hỏa khí làm tên lửa đánh hỏa công.

Sách Giao Châu Ngoại Vực Ký dẫn ở sách Thủy Kinh Chú (quyển 27 tờ 5b) cho biết ban đầu Triệu Đà xâm lược Âu Lạc không thắng lợi “ Sau Nam Việt Vương là Úy Đà đem quân đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân là Cao Thông xuống giúp An Dương Vương chế tạo Nỏ Thần , bắn một phát chết ba trăm người , Nam Việt Vương (Triệu Đà) biết là không thể đánh được, bèn lui quân về đóng ở huyện Vũ Ninh (thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay)” . Thủy Kinh Chú còn ghi chép lời Mã Viện tâu lên vua Hán “. . . hơn mười ngàn người Lạc Việt, có hơn ba ngàn người tập quen chiến đấu, cung có tên độc , bắn một lần mấy phát , tên bắn như mưa, trúng ai nấy chết” . Theo sách Việt Kiệu Thư thì :“ Man động xưa ở nước Nam Việt (chỉ Âu Lạc) thời Tần rất mạnh, về phép dùng nỏ thì lại càng giỏi lắm, mỗi phát tên bằng đồng xuyên qua hơn chục người. Triệu Đà sợ” (1)


Tư liệu trong Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quy Đôn cho biết các dân tộc phương nam dùng nỏ hang ngày và bắn nỏ rất điêu luyện chính xác :

“Các dân tộc Man rất tài bắn nỏ. Đầu tên nỏ có thuốc độc, bắn trúng thú dữ, chỉ ngứa gãi mà chết. Người Man cách núi gặp nhau, người nọ hết tên gọi xin người kia, người kia đáp gửi sang cho, tức thì truyền tên bắn cắm vào búi tóc nhau.” (2)


Suốt quá trình lịch sử đấu tranh của dân tôc Việt, cung nỏ đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi và cứu nước.

Ngoài công dụng làm vũ khí chống giặc, cung, nỏ cũng thường được người Việt dùng để săn bắn chim muông hay dã thú các loại, cũng như giải trí, vui chơi, thi bắn cung, thi bắn nỏ hào hứng trong các buổi hội hè đình đám tại nông thôn cũng như tại thành thị. Người Việt xưa còn dùng nỏ, dùng cung tên trong những lễ nghi có tính cách tôn giáo, như bắn cung, bắn nỏ cầu mưa trong những năm nắng hạn, v.v. . .


Ngay khi giành được độc lập, sau ngàn năm sống dưới màn đêm đô hộ, các triều đại từ Đinh, Lê, Lý, Trần, và tiếp theo, đều chú trọng tổ chức binh lực với những đoàn quân chủ yếu chuyên sử dụng nỏ, cung tiễn .
Cung nỏ đã được trang bị như loại vũ khí chính cho những binh đội chủ lực, tinh nhuệ , ví dụ như đoàn Thiên Tử Quân thời nhà Đinh và nhà Tiền Lê , đoàn Cung Tiễn Phủ thời nhà Lý, hay đoàn Du Nỗ thời Lê Sơ, vân vân.

Tác giả Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng trong trong sách Lược Khảo Binh Chế Việt Nam Qua Các Thời Đại trích dẫn bài sớ của chánh sứ Tống Cảo sang sứ nước ta năm Canh Dần (990) dâng cho vua Tống, nói về đoàn Thiên Tử Quân của vua Lê Đại Hành, in trong Văn Hiến Thông Khảo quyển 330 tờ 19b như sau :



“ Sĩ tốt độ ba nghìn người, đều viết chữ vào trán là”Thiên Tử Quân” ngày lương cấp thóc lúa cho, sai tự giã lấy mà ăn. Đồ binh khí có cung, nỏ, mộc bài, dáo . . .” (3)



Tổ chức đoàn quân Cung Tiễn Phủ thời nhà Lý đã được vua quan nhà Tống rút kinh nghiệm, học hỏi : “Tống sử chép :

Thái Duyên Khanh, là tri châu ở đất Hoạt (Trung quốc) thường học được phép tổ chức quân đội của An-nam, xin bắt chước qui chế chia ra từng bộ phận. Chia chính binh, Cung Tiễn phủ, Nhân Mã đoàn làm 9 phủ. Hợp trăm đội, chia ra làm tả, hữu, tiền, hậu, bốn bộ. Mỗi đội có trú chiến (đóng quân để đánh), thác chiến (đi đánh), khác nhau. Tướng nào cũng có lịnh bộ , quân kỷ, khí giới; chỉ lấy nhân, mã phiên vinh mà phân biệt. . . . Vua Thần Tông nhà Tống khen mãi. Ấy Binh Pháp của nhà Lý nước ta được triều Tống bên Trung-quốc bắt chước như thế.

Nước ta, về triều Lý, phía Bắc phá châu Ung, châu Liêm, phía Nam đánh nước Chiêm, nước Lào; đánh đâu được nấy, là bởi lý do đó “ (4)
Đến cuối thế kỷ 18, vũ khí bắn dùng cho cá nhân chủ yếu vẫn là cung và nỏ. Tuy nhiên vào giai đoạn này, cung nỏ đã có nhiều cải tiến và sáng tạo.

Theo sách Binh Thư Yếu Lược, cung nỏ thời Trần (1225-1400) đã chia ra nhiều loại. Cung có loại lớn, cánh cung làm bằng gỗ dâu vàng, dài tới 1 trượng 2 thước ta (chừng 4 mét); tên dài tới 5 thước ta (2 mét) Tên bay rít trên không trung tựa “sấm vang” .

Kỹ thuật bắn dưới thời Trần cũng đã đạt tới trình độ cao. và có lý thuyết trong tư thế bắn cung khác với tư thế đứng bắn nỏ.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép vễ Lý thuyết bắn của Trần Cụ :
Người đời bắn nỏ, chân đứng cũng như bắn cung, tức là kiểu chữ “ ĐINH [] ” không thành, chữ “ BÁT [ ]” không ngay. Trần Cụ thì đứng ngay ngắn mà bắn và bảo mọi người : “Phàm bắn cung thì tay trái giơ ra phía trước nắm lấy thân cung, tay phải kéo day về phía sau, mình đã nghiêng thì chân cũng phải lệch, còn bắn nỏ thì đưa cân bằng ra phía trước, cho nên khi cầm nỏ mà bắn, thân mình ngay ngắn, thì cớ gì chân lại phải đứng lệch ?” (5)


Sử cũ kể chuyện một viên quan kiêm toàn văn võ thế kỷ 14 thời Trần có tài bắn cung nỏ :
Trương Đỗ là người thanh liêm, thẳng thắn, không bè đảng, phóng khoáng, có chí lớn. Khi còn nhỏ, có lần ông đi chơi Hồ Tây, xem tướng quân tập bắn, nói đùa rằng ; “ Nghề này thì có khó gì ?”. Tướng quân ngạc nhiên hỏi : “Mày có bắn trúng được không ?”. Ông trả lời :”Xin thử xem”. Rồi ông bắn ba phát trúng cả ba. Tướng quân rất kinh ngạc, muốn nuôi làm con, nhưng Đỗ coi khinh không theo. Sau ông bỏ nhà đi du học, thi đỗ Tiến sĩ, rất nổi danh. (6)

Khi xung trận, cung, nỏ các loại đã tạo thành những trận mưa tên mù mịt bàu trời, khiến quân giặc vô cùng khiếp đảm.

Năm 1288, quân Nguyên lần thứ ba sang xâm lược Đại Việt. Sau nhiều lần bị quân ta đánh cho thất bại thảm hại, bọn tướng giặc buộc phải tính chuyện rút chạy tháo thân. Song, cả thủy lẫn bộ, đường nào cũng bị quân Trần chặn đánh tan tác. Về đường thủy, thuyền giặc lọt vào trận địa phục kích ở sông Bạch Đằng. Những trận mưa tên của quân Trần , từ trên bờ giáng xuống, làm giặc hoảng hốt, thuyền bơi tan tác, lao phải cọc do quân Trần đặt sẵn, chìm nằm chồng chất lên nhau. Thủy quân giặc Nguyên tan tành, tướng giặc Ô-mã-nhi, Phàn Tiếp, Tích-Lệ-Cơ Ngọc bị bắt sống.

Còn trên bộ, số phận giặc Nguyên Mông chẳng hơn gì. Nghe tin thua to ở Bạch Đằng, Thoát Hoan càng thêm lo sợ. Y liền xua quân chạy vội về phía bắc. Tới Nội Bàng (vùng Chũ phía bắc tỉnh lỵ Bắc Giang ngày nay) quân bộ của giặc cũng lọt vào trận địa phục của quân Đại Việt do Phạm Ngũ Lão chỉ huy.


Từ trên núi cao, mưa tên trút xuống, giặc chết rất nhiều. Quân Nguyên đã rối loạn lại bị quân Trần dùng búa rìu, mã tấu, chém giết tại trận địa.
Các tướng giặc, A-bát-xích thì bị 3 mũi tên độc bắn theo, tên trúng vào đầu, cổ và gối, làm y chết trên đường tháo chạy; Trương Ngọc cũng bị tử thương.
Ra khỏi biên giới Ải Nam Quan, quân Thoát Hoan mười phần chỉ còn ba.

Về phương diện sử dụng, so sánh giữa hai loại vũ khí, nỏ và cung khác nhau, có những điểm mạnh và điểm yếu. Cung bắn nhanh và nhiều hơn nỏ. Nỏ cần nhiều thao tác trước khi bắn nên chậm hơn cung, nhưng nỏ có lợi thế bắn xa, mạnh và dễ chính xác hơn cung. Với khoảng 100 mét, mũi tên nỏ mạnh có thể xuyên thủng aó giáp hoặc xuyên qua da voi.

Có những loại nỏ lớn, cứng, phải dùng toàn thân, đạp chân lên cánh nỏ và hai tay cùng cầm dây kéo, giương nỏ lên, còn cung một tay cầm cánh cung, một tay giương dây, do đó sức tên bắn đi nhiều khi không mạnh bằng tên nỏ.

Nỏ có lợi thế trong công tác phục kích, giương dây sẵn, trước, để không gây tiếng động, sẵn sàng tác xạ khi “con mồi” hay “địch thủ” chợt đến đúng mục tiêu ấn định.

Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam xưa, nỏ luôn luôn được ông cha ta sử dụng trong chiến thuật mai phục, hoặc trang bị cho thủy quân, và phòng thủ thành quách, cạm bẫy, . . . ; cung được dùng trong các công tác tấn công ào ạt và trang bị nhiều cho bộ binh, kỵ binh, tượng binh, v.v. . .

Đầu thế kỷ 15, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mới bắt dầu, lực lượng nghĩa quân còn non yếu, Lê Lợi đã hết sức chú ý phát huy chức năng và hiệu quả của cây nỏ bắn với tên độc.


Năm Mậu Tuất ( 1418) theo sách Đại Việt Thông Sử của Lê Quý Đôn :” Vua (Lê Lợi) biết là quân sĩ có thể dùng được, bèn đặt phục binh ở Mường Một, rồi sai đội khinh binh ra khiêu chiến, quân địch tiến tới chỗ hiểm, phục binh liền dùng nỏ bắn tên tẩm thuốc độc ra như mưa, quân địch thua chạyï tán loạn. Vua lại tiến quân tới Mường Nanh, ngày đêm tiến đánh, quân địch bị tổn hại, phải lui về giữ một xã Nga Lộc hạ (7) .

Đây là trận thứ hai của nghĩa quân Lam Sơn và cả hai đều thắng giòn giã. Trong trận này, theo chính sử, quân giặc chết và bị thương quá nửa.
Khi đất nước đã sạch bóng quân Minh xâm lược, chúng luôn luôn dòm ngó với mưu đồ thôn tính, Hán hóa dân Việt, triều đình nhà Lê đã không ngưng nghỉ cảnh giác, mài sắc tinh thần tự lực tự cường, gìn giữ bờ cõi và nền độc lập cho dân tộc, đất nước. Quân và dân là một, toàn dân sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc lâm nguy.

Tiếp nối truyền thống xưa, sách lược “Ngụ binh ư nông” được triệt để thi hành. Dân, quân khi có chiến tranh thì “tựu ngũ”, khi yên bình thì đa phần được luân phiên cho về nhà làm ăn, canh tác, thực hiện đúng câu “toàn quốc vi binh”.
Triều Lê cũng luôn luôn nâng cao kỹ thuật tác chiến cho toàn quân, toàn dân. Những đoàn quân binh chuyên sử dụng cung nỏ “Du nỗ” phải luyện tập thường xuyên.

Riêng phép bắn nỏ cũng đã được nghiên cứu kỹ càng , cải tiến sao cho có hiệu năng tối đa, áp dụng cho từng xạ thủ. Binh lính có sức lực mạnh thì tập bắn nỏ theo lối “huyền nhũ” , nghĩa là lối bắn kê báng nỏ vào vú, vào ngực, ai yếu sức hơn thì tập bắn nỏ theo lối “huyền kiểm” , kê báng nỏ vào má.

Quan quân binh đội cung nỏ được khuyến khích thi đua, trau dồi tác xạ, ai bắn giỏi thì được trọng thưởng, ai bắn không đủ điểm ấn định sẽ bị phạt hoặc giảm phần lương bổng. Do đó mọi người đều cố gắng và tích cực tập luyện. Sử cũ đã ghi nhiều sinh hoạt bắn cung nỏ của quân binh thời Lê.

Tại các làng xã địa phương, nhân dân cũng có những cuộc thi với các cách bắn cung bắn nỏ rất phong phú trong những ngày hội hè đình đám dân gian thời Lê sơ.
Phép thi bắn cung nỏ trong quân đội thời Lê được ghi rõ ràng trong Binh Chế Chí của Phan Huy Chú :
“Phàm thi cung nỏ, chuẩn định 3 năm một kỳ, cứ đến mùa thu các năm tý, ngọ, mão, dậu, thì sai một viên qua võ, một viên thiêm tri thị nội, một viên câu kê, để thi nghề bắn cung cho bộ binh. Mùa thu các năm dần, thân, tỵ, hợi, thì sai hai viên quan võ, bốn viên quan thị nội, hai viên câu kê, thi nghề bắn nỏ của thủy binh. Đều chiếu suất tổng kỳ, cứ mỗi 100 suất thì 20 nắm, mỗi nắm 5 hợp, mỗ hợp 5 cái tên. Lại định thưởng phạt theo thứ bực. Nghề bắn cung, ai được 45 tiếng (tiếng điêu, tiếng kẻng để tính điểm bắn trúng đích hồng tâm) trở lên là hạng ưu, thưởng mỗi nắm 5 quan tiền gián; 35 tiếng trở lên là hạng thứ, thưởng mỗi nắm 3 quan tiền gián; 20 tiếng trở lên là hạng bình, 19 tiếng trở xuốâng thì bị phạt. Nghề bắn nỏ, ai được 50 tiếng trở lên là hạng ưu, thưởng mỗi nắm 5 quan tiền gián; 40 tiếng trở lên là hạng thứ, thưởng mỗi nắm 3 quan tiền gián; còn thì cũng giống như thi bắn cung” (8)


Tác giả Phan Huy Chú ghi thêm :

“ Năm Thiệu Bình thứ 1 (1434) vua Lê Thái Tông cho thi võ nghệ của tướng hiệu. Phép thi thì bắn cung là một nghề, bắn nỏ là một nghề, dùng mộc (khiên, lá chắn) là một nghề, ba nghề đều đỗ thì được cấp toàn bổng. Ai không đỗ thì bị giảm bổng theo bực. . . .(9)

Lê Quý Đôn chép trong Kiến Văn Tiểu Lục :
“năm Thiệu Bình thứ 4 (1437) đời Thái Tông, thi khảo võ nghệ các tướng hiệu, phép thi như thế này : một là bắn cung, hai là phóng lao tay, ba là lăn khiên, để so đọ được thua, ba vũ nghệ ấy được trúng cả, sẽ được cấp cho toàn bổng; người nào không trúng sẽ phải giảm dần. Việc này sau định làm lệ thường”.(10)

Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) (triều Lê Thánh Tông ) “sắc chỉ cho các vệ ty Thần vũ, Du nỗ, Thần tý, Vũ lâm, Thiên uy, mỗi kỳ đến phiên túc trực đều phải thay ban để chuyên tập võ nghệ của mình. Còn vệ Vũ uy và các sở cung nỏ của các vệ ngoài thì đều được tha tạp dịch, liệu định để một số binh đi canh giữ các xứ, còn thì phải chuyên tập nghệ của mình. Luyện tập xong, khảo sát lại sẽ thưởng phạt theo lệ. . .(11).


Vĩnh-Khánh đế, năm thứ 3 (1731, thời Lê Trung Hưng) chỉ truyền rằng các quản quan, thuộc viên và binh lính ai có sức khỏe thì tập lối “huyền nhũ”, ai kém sức thì tập lối “huyền kiểm”. Năm ấy lại sai thủy quân tập bắn nỏ” (11)


CHẾ TẠO CUNG NỎ VÀ TÊN :

Việc chế tạo, sản xuất cung, nỏ và tên thường hay tên tẩm độc cung cấp cho quan quân binh đội xưa ở nước ta được giao cho các cơ xưởng công binh, các đội quân cụ phụ trách, mà đội ngũ nhân sự phần lớn được tuyển chọn từ những tay thợ lành nghề trong dân gian, thợ rèn, thợ đúc đồng, thợ mộc, v.v. . .Trong thời bình, những người thợ này được cho về nhà làm ăn, sản xuất cuốc xẻng, cày bừa, nồi đồng, lư đồng, làm bàn ghế, giường tủ, chế tạo các vật dụng hàng ngày, nhà cửa, đình chùa, v.v. . .

Khi đất nước có biến, những người thợ giỏi tay nghề được trưng binh vào đội ngũ chuyên sản xuất quân trang , quân dụng, vũ khí cho binh lính.

Tại mỗi huyện, mỗi địa phương xưa đều có thợ rèn, thợ đúc đồng, thợ mộc, . . . nổi tiếng trong vùng.
Có nơi cả dân làng đều làm thợ cùng nghề, nổi tiếng như thợ rèn làng Đa Hội (Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh), làng Đa Mỹ (Hà Đông), làng rèn Nho Lâm (Nghệ An), hay Văn Chàng (Hà Nam), thợ đúc đồng Cồn Cát (Nghệ An), thợ đúc Đại Bái (tên nôm là làng Bưởi, huyện Gia Lương Bắc Ninh), ca dao địa phương có câu:

Muốn ăn cơm trắng cá trôi
Thì về làng Bưởi đánh nồi với anh
Muốn ăn cơm trắng canh cần
Thì về làng Bưởi cầm cân buôn đồng

Làng thợ mộc, chạm gỗ nổi tiếng trong nước có Cầu Mắm (Phủ Lạng Thương, Bắc Giang), làng mộc Kim Bồng (Hội An Quảng Nam), Mỹ Giặc (Thái Bình). Ở Từ Sơn Bắc Ninh, có các xã nghề mộc như Kim Thiều ( tên nôm là Mấc), Kim Sơn và Phù Khê, v.v. . .

Nghĩa Lập bánh đúc,cháo kê
Tấn Bào nung ngói, Phù Khê chạm rồng.


Phù Khê, Cầu Mắm hoặc Kim Thiều, Kim Sơn, . . . chạm rồng , khảm xà cừ làm đồ dùng hay chế tạo nỏ và cung thời xưa rất đẹp, gọn nhẹ và bền chắc, xẻ rãnh tên nỏ trên báng độc đáo để bắn chính xác. Mỗi người thợ là một nghệ nhân, một vốn quý, được cha truyền con nối.

Mỗi cây nỏ mỗi cây cung là một tác phẩm nghệ thuật. Cánh thon gọn nhưng cứng khỏe, tên bắn đi rất xa. Riêng về báng nỏ được chạm khắc tinh xảo với những hoa văn trang trí hoa lá hoặc rồng phượng, chim muông, . . . , điêu luyện đầy tính sáng tạo.


BÁNG NỎ :

Báng nỏ làm bằng những loại gỗ bền chắc, những danh mộc, có sẵn tại nhiều nơi ở nước ta như gỗ Lim, Táu, Sao, Gụ, Sến, gỗ nghiến . . . , nhất là cây gỗ đồng, vừa nhẹ vừa bền dẻo dai, vân gỗ đẹp.
Sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn ghi: “Từ xưa tới nay, các thợ mộc đóng các thứ đồ, bất cứ lớn nhỏ, đều đòi dùng các thứ gỗ quí. Ấy là các thứ gỗ : ô kề, bạch dương, tử, tất, trà, khuê, môn, sơn, đào, bạch thạch, đão lật, biền, nam, tùng, ý, phi, nhưng còn có khi bị mọt, mục, nứt, giòn, khô héo. Còn như đồng thì khác hẳn , . . . không gỗ nào bền bằng. Bạch hoa đồng , thớ to dùng làm đồ ; tử hoa đồng, thớ nhỏ như gỗ tử, càng tốt hơn” (12 ) .


Để làm một cái báng nỏ, người thợ giỏi cần thực hiện nhiều công đoạn tỉ mỉ khác nhau như pha gỗ, đục phác thảo, khoét rãnh cho tên, khoét ổ cho lẫy, gọt nạo, đôi khi chạm khắc hoa văn trang trí, và sau cùng là đánh bóng.

Riêng khâu pha gỗ, phải pha thế nào vừa tiết kiệm gỗ, vừa lựa thớ gỗ cho thẩm mỹ, nhất là cho dễ các khâu sau. Khâu gọt cũng tỉ mỉ, phải gọt bằng đục, bằng những dụng cụ đặc biệt, muốn gọt dễ và nhanh thì khâu đục phác thảo phải khéo phải giỏi.


LẪY NỎ :

Lẫy nỏ là một thứ bộ máy cò như súng ngày nay, một bộ phận cơ khí kích thích bật dây bắn tên.
Ngoài các loại gỗ quý, lẫy nỏ còn được làm bằng tre già hay sừng trâu, sừng thú vật, ngà voi, đồi mồi, xương thú hoặc kim loại. Cũng ghi thêm là khảo cổ đã phát hiện 2 lẫy nỏ bằng đồng thau thời Văn Lang Âu Lạc tại Việt Nam.

   Lẫy nỏ bằng đồng thau thời Văn Lang Âu Lạc

 
 Lẫy nỏ phải được chế tạo hết sức tinh vi, cẩn thận, đạt tiêu chuẩn cao về cân đối và thăng bằng để cho “tiễn đạo”, đường tên bay, chính xác ngay ngắn, mũi tên bay không bị uốn lượn, lạc mục tiêu.


Có lẽ sử cũ chép truyện Triệu Đà phương Bắc đánh cắp nỏ thần của An Dương Vương phương Nam là đánh cắp kỹ thuật chế tạo lẫy nỏ bằng đồng, bằng đồi mồi, móng rùa tinh xảo đẹp đẽ, khéo léo và chính xác này.

Các học giả như Henri Maspéro trong Études d’Histoire d’Annam-Le Royaume de Van Lang (Bulletin de l’École Francaise d’Extrême-Orient , t. XVIII, No 3, 1918, p. 1-36), Louis Bezacier trong Manuel d’archéologie d’Extrême-Orient (Paris, 1972, p. 128) hay Jerry Norman và Tsu-lin Mei trong The Austroasiatics in Ancient South China (Monumenta Serica 32, 1970, p. 293) hoặc Keith Weller Taylor trong The Birth of Vietnam , v.v. . . cũng cùng có những nhận xét tương tự :


The crossbow, along with the word for it, seems to have been introduced into China from Austroasiatic peoples in the south during the third or fourth century B.C. This weapon quickly became part of the Chinese arsenal; its trigger mechanism was capable of withstanding high pressure and of releasing an arrow with more force than any other type of bow. Two bronze trigger mechanisms have been excavated in Vietnam; most mechanisms were propably made of bamboo. The turtle claw used as a trigger mechanism indicates the military nature of King An Duong’s conquest and suggests that his rule was based on force or the threat of force (13)


CÁNH NỎ - CÁNH CUNG :

Cánh cung, cánh nỏ là những bộ phận chính của cung nỏ, được chế tạo bởi những vật liệu lựa chọn đặc biệt, tránh độ vênh, mo, v.v. . . và đòi hỏi có tính dai, dẻo, tính đàn hồi cao, sức bật mạnh để khi giương cung hay nỏ lên thì cánh vòng cong và dây căng cho đến khi tên bay đi thì cánh và dây trở ngược lại thẳng như tình trạng cũ. Cánh cung hay cánh nỏ thường được làm bằng tre già hay bằng các loại gỗ có thớ thẳng dọc không có mấu mắt, các loại gỗ dai, dẻo như gỗ dâu vàng, gỗ trác, gỗ lý, cam mộc, gỗ đồng, v.v. . ., và được gọt đẽo tỉ mỉ, chỗ dầy chỗ mỏng được tính toán kỹ lưỡng sao cho cân bằng hai bên cánh, tạo sức tên bay ngay ngắn và mạnh.

Vua quan và giới quý tộc Trung Quốc rất thích dùng cung nỏ của Đại Việt vì đẹp, vì bền chắc, nhẹ nhàng, lại bắn chính xác, chế tạo mỹ thuật, tinh xảo.

Nói chung, cung nỏ Đại Việt được quí trọng, nhất là cung nỏ làm bằng gỗ đồng và được coi như bảo vật của các triều đình Tung Quốc phương Bắc.

Tư liệu trong Vân Đài Loại Ngữ đã chép : “Sách Uyên Giám nói : Vua Cao Đế, nhà Minh, mời các ông Từ Đạt, Lý Văn Trung, Phùng Thắng, ăn yến, thi bắn, rồi ban cho 50 cái cung của Giao Chỉ, 100 cái đồng cung (14)


Dương cung bắn




Cánh cung đơn     Cánh cung kép

Cánh cung cá nhân có 2 loại nặng nhẹ khác nhau : “cung dùng thứ sức cứng bằng 55 cân hoặc 45 cân, phải dương đẫy sức” (15).

Đo sức nặng nhẹ của cung, nỏ bằng cách treo quả cân vào dây cung hay nỏ căng cho đến đúng mức như lúc dương cung, nỏ để bắn.

Trong một bài viết bằng Pháp ngữ ở tạp chí Revue Indochine (Hebdomadaire Illustré) phát hành tại Hanoi đầu thập niên 40 của thế kỷ 20, tác giả La Giang cho rằng cánh cung của người Việt xưa là cánh cung đơn, khác với cánh cung kép của người Tàu phương Bắc.


Độ dài của cánh cung phương Nam được ghi trong Vân Đài Loại Ngữ : “Sách Bác Vật Chí nói : ... ở Giao Châu, Quảng Châu, gọi là Lý-từ, cung của họ dùng dài mấy thước, tên dài hơn một thước, đúc đồng làm mũi tên, đầu tên bôi thuốc độc, tên trúng vào người nào, người ấy tất chết. Ngày nay họ vẫn dùng thứ cung ấy, hổ báo cũng sợ trốn. (16)



DÂY NỎ - DÂY CUNG :


Dây cung dây nỏ cũng làm bằng những vật liệu thuộc động vật hay thực vật có tính dai dẻo và đàn hồi cao như tơ tằm, ruột mèo, ruột sơn dương, v.v. . .được biến chế, phơi khô, bện lại thành sợi tròn lớn và thoa vuốt nhẵn bằng sáp ong, bằng hạt thầu dầu, nhân hạt dầu trẩu hoặc hạt lai hay một vài thứ nhựa cây cho trơn bóng để tạo độ bền, dẻo dai, giữ được độ ẩm thích hợp, tránh khô giòn, tránh ẩm ướt mục nát.


Dây cung dây nỏ còn được ông cha ta làm bằng những loại thảo mộc, giây leo như mây, giành giành sợi, hoặc tre nứa và cũng được thoa vuốt nhẵn bóng bằng sáp ong , v.v. . ..


Sách Vân Đài Loại Ngữ ghi một loại dây cung nỏ làm bằng tre non tại Việt Nam : Sách ấy (Trúc Phả của Đái Khải Chi) lại chua rằng :”Ba trúc sản xuất ở các quận ở Giao Châu, cây to lớn đến hai chét tay, thịt dầy đặc đốt có gai, người ta dùng làm thành lũy không công phá được .“ Lại nói :”Cây trúc dùng làm sào, . . . , nó cũng gọi là Lật trúc (lặc trúc hay tre hóp), dài độ hai trượng, chu vi mấy tấc, rất rắn, sắc, người Nam ta dùng làm sào (mâu). Khi măng chưa thành tre có thể vót làm giây nỏ được (17)


TÊN :


Tên cung hay tên nỏ gồm 3 phần : mũi tên, thân (cán) tên và đuôi tên

Thân tên cung hay nỏ ở nước ta thường được chế tạo bằng lau, sậy, nứa tép, hoặc gỗ, tre được vót chuốt kỹ càng.

Các loại mũi tên




Đầu mũi tên được làm bằng kim khí, hoặc bằng xương, đá, bằng gỗ hay nứa tép. Đuôi tên làm bằng tre , các loại gỗ vông nhẹ, vót mỏng hay bằng lông vũ : lông gà, vịt, ngan ngỗng, chim muông.



Đầu mũi và đuôi tên được tra gắn vào thân tên phải có tỷ lệ thăng bằng, cân đối, sao cho trọng tâm tòan bộ tên ở khoảng vị trí một phần ba chiều dài mũi tên.

Khảo cổ tìm thấy ở Bắc Việt nhiều loại mũi tên đồng lớn nhỏ khác nhau, có lẽ mỗi loại được dùng trong những mục tiêu tác xạ riêng biệt.

Theo tác giả Cao Thế Dung : “Tên đồng là một khí giới tân tiến của người Việt Văn Lang so với Trung Hoa cùng thời. Khi người Hán còn sử dụng mũi tên gỗ, dân Văn Lang đã dùng mũi tên đồng.” (18).

Nỏ Liên Châu, Nỏ phòng thủ

Trong tư liệu thư tịch cũ thường nói đến những loại nỏ Liên châu của phương Nam, những loại nỏ một lần bắn ra nhiều mũi tên , có tính sát thương cao .

Sách Lĩnh Nam Dật Sử của Ma Văn Cao viết bằng chữ Mường ở Thanh Hóa thời Lý, được danh tướng Trần Nhật Duật chuyển ngữ sang chữ Hán năm Đinh Dậu 1297, rồi được Bùi Đàn dịch sang Quốc ngữ xuất bản tại Saigon năm 1968 cũng đã đề cập về loại nỏ Liên châu này.

Ngoài việc vũ trang cho cá nhân khi xung trận, cung nỏ còn được người Việt chế tạo rất to lớn và tự động để tấn công, để canh giữ binh trại hay để làm cạm bẫy, đề phòng gian tế.

Đào Duy Từ trong tác phẩm binh thư Hổ Trướng Khu Cơ đã ghi cách thực hiện các loại nỏ tự động này và được gọi là Phép Nỏ Thần Giữ Trại và Phép Nỏ Khỏe Phòng Gian :


Phép Nỏ Thần Giữ Trại

….Dùng một cái nỏ lớn, xoi rãnh đặt ba tên, dưới nỏ ở chính giữa lại làm một lỗ tròn to hơn một tấc. Lại dựng một cột gỗ ở cửa trại, gần chỗ hổ môn (19), đầu cột dùng một cột sắt tròn đóng vào 5 phân, cao hơn đầu cột 2 tấc. Rồi đem lỗ tròn dưới nỏ lồng vào cột sắt ấy, để tiện xoay chuyển. Đầu nỏ làm một cái vòng thau. Lại lấy hai sợi dây tơ nhỏ, một sợi giằng buộc vòng thau vào cái bạo cửa bên tả, một sợi giằng buộc vào bạo cửa bên hữu tạm thắt lại như cách thắt giải áo. Lại dùi đằng sau nỏ một lỗ chếch, lấy gỗ nho ûcắm vào, nửa ở dưới nỏ nửa ở trên nỏ, để làm máy nỏ. Lại lấy một miếng gỗ đỡ ở đầu dưới máy nỏ ấy tạm cài vào bean cột máy. Rồi sau giương day nỏ đặt vào trên máy, bên trên đặt ba tên để đợi dùng. Nếu kẻ gian vô ý xông vào, động phải giây tơ, nỏ tự xoay chuyển, rơi cái gỗ đỡ, dây nỏ bật lên, tên nỏ bắn ra.(20)

Phép Nỏ Khỏe Phòng Gian :

Phàm trí tướng lập dinh đóng trại tất phải chuẩn bị trước để phòng kẻ gian tế. Như trong cửa dinh nên làm một cái nỏ khỏe, sai thợ soi ba lòng bắn được ba tên. Rồi sau dựng giá gỗ cao ba thước, đặt nỏ lên trên, buộc lại cho chặt. Đằng sau lại dựng một cái cột cao 2 thước 5 tấc, đầu cột làm bánh xe như ròng rọc. Lại ở trước cái giá gỗ cách hơn mười bước đào một lỗ sâu 1 thước hơn, trên nhỏ dưới to, mặt lỗ ấy làm máy đặt một tấm ván tròn ở trên, rải đất cát cho bằng, không để lộ ra. Làm như thế xong rồi, bèn giương dây nỏ lên máy, đặt ba tên nỏ thần, mũi tên tẩm thuốc độc. Lại lấy một sợi dây gai nhỏ buộc ở máy nỏ, đem dây ấy gác lên bánh xe, rồi kéo ra trước nỏ, buộc vào tấm ván tròn. Nếu trong đêm tối thích khách của giặc lẻn đến, chân xéo lầm vào tấm ván tròn ở trên miệng lỗ, ván ấy rớt vào trong lỗ thì sợi dây động, tên đều bắn ra, trúng là chết.(20 )


Bắn nỏ tên lớn : Dùng gỗ dâu vàng làm dài 1 trượng 2 thước, dường kính 7 tấc, hai đầu cánh cung 3 tấc, chống vào xe vặn mà giương cung, tên lớn bắn một phát, tiếng như sấm vang (20) .

THUỐC ĐỘC TẨM ĐẦU MŨI TÊN

Thuốc độc để ngâm tẩm mũi tên cung nỏ được pha chế tổng hợp nhiều chất liệu độc dược thuộc động vật, thực vật và khoáng chất khác nhau được hoàn toàn pha chế có tính cách bí truyền mà một số chất liệu được biết như thạch tín, thủy ngân, nọc rắn rết, nhện độc, nước tiểu hay phân một số động vật, nhựa cây, củ hoặc hoa, quả thực vật, v.v. . .

Sự pha chế độc dược ngâm tẩm tên cung nỏ xưa mỗi nơi, mỗi địa phương có những phương cách riêng, được giữ bí mật cha truyền con nối hay trong dòng tộc, ít được phổ biến rộng rãi.

Một số chất độc thuộc thực vật, theo Vân Đài Loại Ngữ, ở các địa phương như Tuyên Quang và Hưng Hóa có cây xui, cao đến 100 thước, lớn đến vài mươi quảng, lá như lá sung mà có ba khía. Người địa phương lấy nhựa cây ấy tẩm vào mũi tên, để bắn các thú dữ như cọp, gấu, voi. Ở Lạng Sơn cũng có loài cây nhỏ, gọi là gè cong, nhựa dùng để tẩm tên độc. Lại có thứ củ nâu trắng. nhựa rất độc, căm tên tẩm thuốc độc vào củ ấy, rồi đem bắn, dù con thú có mạnh cũng chết ngay.


Sách Binh Thư Yếu Lược ghi Bài Thuốc Độc Tẩm Tên :

Nhựa cây thấu cốt (tục gọi là nhựa cây cộng), ban miêu, từ thạch (đá nam châm), điền cơ (tục gọi là khoai dại). Các vị trên giã riêng ra trữ cả vào trong ống tre, rồi đem tên nỏ bỏ vào ống tre ngâm 3 tháng 10 ngày. (21)


Tác giả Sơn Nam có đoạn nói về thuốc độc tổng hợp giữa động vật và thực vật :
Lông cọp, râu cọp được đem về cắm trong măng tre đang mọc. Vài hôm sau thì ô hô, mỗi sợi là một con sâu. Tục truyền rằng loại sâu ấy lớn bằng cườm tay, mặt đỏ hói, mình mảy vằn vện, có đuôi dài ngoe nguẩy. Nhiều người nuôi nó trong một cái hũ kín mít để giữ nhà. Khi có khách đến sâu cọp nhảy dựng trong hũ nghe rổn rảng rồi la hét! Ngoài ra, cứt của loại sâu này rất quý giá vì nó là vị thuốc độc, giết người trong nháy mắt. v.v...(22)

Bắn Lựu đạn và hỏa tiễn bằng cung nỏ :

Phép cung bắn lựu đạn “tên quả lựu“ và phép chế tạo tên lửa “Hai Hổ Đuổi Dê”, một loại hỏa tiễn thời xưa, trong sách Binh Thư Yếu Lược ghi :

“Lấy thuốc súng dùng hai ba tờ bông và giấy gói lại, ở giữa cắm tên, dùng dược bàng căn bọc thành hình quả lựu, ngoài thêm vải gai bọc kỹ, lấy nhựa thông chảy sơn kín lại, dùng giấy tẩm dầu quấn lấy ngòi thuốc; thẳng trước mắt đặt mũi tên sắt . Nên phong mũi nhọn đảo ngược móc câu, khi đốùt ngòi thuốc để phát hỏa thì mới mở cung bắn đi. Hễ đụng vào người ngựa hay mui buồm của thuyền thì cháy không tắt được”.(23)

Về Tên Lửa “Hai Hổ Đuổi Dê” binh thư chép : “ cán dài 5 thước, một cán ba mũi; hai ống chứa thuốc súng tốt quay về vè tên, một ống thuốc súng kém quay về mũi tên, cộng ba ống, đường kính 7 phân, dài 4 tấc 5 phân, buộc vào một cái can. Bắn xa 500 thước. Hai ống thuốc súng tốt ra lửa hết thì đến ống thuốc xấu ra lửa, có thể đốt cháy cả sàn trại, cháy cả thuyền địch và phá hủy nhà ở của địch. Một người dùng thì trăm người sợ hãi, rất là huyền diệu”.(23)

Cung nỏ trong sinh hoạt dân gian

Ngoài cung nỏ được xử dụng như những binh khí chính trang bị trong quân đội xưa, sử sách cũ cũng như sinh hoạt văn nghệ diễn xướng dân gian cung cấp cho chúng ta nhiều tư liệu về cung và nỏ gắn liền trong đời sống tinh thần và vật chất hàng ngày của người Việt xưa. Ví dụ trong những ngày Hội hè đình đám ở Bắc Ninh, ở Thanh Hóa có hát và điệu múa Ải Lao, hoặc trò Văn Vương hay trò Hùm trong ngày Hội Gióng , Trò Mường, trò Bắt cọp, trò Chụt, . . . , trong những ngày Hội hè đình đám, mà đạo cụ dùng để múa hát, để diễn xướng, thường có nỏ hay cung tên (24) .

Trong tác phẩm Le Théâtre Annamite Classique của tác giả G. Coulet xuất bản tại Toulon năm 1926, có đoạn viết về cung tên được dùng làm đạo cụ trong một vở tuồng chèo trình diễn trên sân khấu cổ truyền Việt Nam :

Bắn cung Bắn nỏ

Một võ sĩ ra mắt hai viên quan giám khảo cuộc thi võ. Anh ta phải trổ tài cưỡi ngựa. Một người hầu, tay trái trao cung tên, tay phải làm bộ kính can đứng xa mà trao roi cho anh ta. Roi tượng trưng cho con ngựa, nên người hầu phải làm bộ kính can đứng xa mà trao (25).


Sử cũ chép việc vua Lê Thái Tông có thú vui thích đi bắn chim : Quan giữ việc can ngăn là Phan Thiên Tước đã cùng Lương Thiên Phúc và Nguyễn Chiêu Phủ dâng sớ , tâu : “… .Trong đám bệ vệ quản lãnh (chức quan võ gần vua ở) thấy bệ hạ không đọc sách, lại cầm cung đi bắn chim, có người đứng ra can ngăn, nhưng bệ hạ không nghe, lại giơ cung để bắn người ta ! Đó là điều không nên”. (26)

Cung nỏ trong lễ nghi tôn giáo tại vùng đất tổ Hùng Vương Phong Châu:
Vào đêm mồng 6 tháng giêng hằng năm, trai gái làng Phú Lộc (phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú) mang cung nỏ, tên tre cùng ông từ và chủ tế lên miếu thờ ở Rừng Trám làm lễ cúng cung tên và lễ mở cửa rừng để cầu may một năm cho dân làng . . .

Cung tên đặt trên bàn thờ. Sau tuần hương và khẩn cầu của chủ tế, con trai được nhận cung tên, vái lạy thần linh rồi lui ra. Lúc này cung nỏ và tên đã thành vũ khí thiêng liêng bắn “bách phát bách trúng”, trai làng dùng chính cung nỏ ấy bắn ngay vào cặp gà trống mái trói sẵn để cạnh miếu. Máu của đôi gà hòa vào nhau thành lễ vật dâng thần linh. Tiếp theo, người ta mổ đôi gà làm vật tế, rồi tất cả ăn uống, trò chuyện, nhẩy múa bên đống lửa cho đến sáng mới kéo nhau về đình lễ tạ ơn thần.

Đồng bào Mường đất Mường Kiệt cũ, nay thuộc các xã Tân Sơn, Tân Phú, huyện Thanh Sơn (Vĩnh Phú) mở hội đầu xuân bằng cuộc đi săn tập thể của cả bản và bắt buộc phải săn cho được con mồi (hươu hoặc nai) để cầu may, cầu thịnh cho cả bản trong năm đó.


Dân làng Thịnh Mỹ và làng Tứ Mỹ (Tam Thanh, Vĩnh Phú) cứ vào khoảng tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch, tùy từng năm lại vào rừng thuộc phạm vi làng mình để săn nai làm lễ cầu tế. Nếu không được nai thì phải thả một con bê nhỏ hoặc con lợn đen vào rừng rồi đoàn người đi săn bắn về làm lễ vật (27)

Tắt lại, nỏ là một phát minh của người phương Nam. Chả thế mà miền Tứ-xuyên, Hà-nam Trung –quốc cũng chế tạo nỏ sớm hơn vùng trung nguyên(Hoàng-hà) (28) .

Cung nỏ đã được người Việt sử dụng từ thời thượng cổ và là thứ binh khí chiến đấu sở trường của dân Việt, thứ vũ khí đã đánh bại nhiều lần và làm khiếp sợ các đoàn quân viễn chinh xâm lược Trung quốc ngay từ thời nhà Tần (Ch’in) (221-206 trước Tây lịch) trở về sau, cũng như làm tiêu tan tham vọng bá quyền của Tần Thủy Hoàng mà năm 1923 học giả Leonard Aurousseau của trường Viễn Đông Bác Cổ đã viết trong Le Premier Conquête chinoise des pays annamites (Bulletin de l’École Francaise d’Êxtreme-Orient 23, page 186) được tiến sĩ Keith Weller Taylor dẫn trong The Birth of Vietnam như sau:

. . . Soldiers were stationed at worthless locations; having advanced, they were unable to retreat. During more than ten years, the men carried the sword while the women să to prvisions. Along the routes could be seen those who were unable to endure their suffering and hanged themselves from the trees. Then, it happened that the Emperor of Ch’in died and the empire fell prey to great rebellions (29).

Lại nữa,tiếng dây cung, dây nỏ khi bắn tên đã phát ra những âm thanh đặc biệt trầm trầm pha lẫn sắc bén có khả năng kích động kỳ lạ, nghe qua nhớ mãi khó quên. Âm thanh đó khi phát ra như xoáy vào tâm thức và cung nỏ được dùng trong những nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo phương đông không phải là điều xa lạ. Triết gia Đức Eugen Herrigel, giáo sư trường đại học Nhật Bản đã viết trong sách Zen In The Art Of Archery như sau : Xưa nay người ta nói rằng cung có sức trừ tà (30). /.


PQ


Chú thích :

(1) Dẫn theo Trần Quốc Vượng-Hà Văn Tấn , Lịch Sử Chế Độ Phong Kiến Việt Nam , tập I , sách dùng trong các trường Đại học Việt Nam. - Hà Nội : nhà xuất bản (nxb) Giáo Dục 1960, trang(trg) 26.

(2) Quế Đường Lê Quí Đôn, Vân Đài Loại Ngữ , Việt Nam Bách Khoa Toàn Thư, Phạm Vũ & Lê Hiền dịch và chú giải. – Saigon : nxb Miền Nam, 1973, trg 240.

(3) Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng, Lược Khảo Binh Chế Việt Nam Qua Các Thời Đại. - Hanoi :Imprimerie Lê Văn Phúc, 1946, trg 20

(4) Quế Đường Lê Quí Đôn, Vân Đài Loại Ngữ ,sách đã dẫn (sđd), trg 241.

(5)Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), tập II. - Hà Nội : nxb KHXH, 1993, trg 89- 90.

(6)Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sđd, trg 162.

(7) Lê Quý Đôn Toàn Tập, tập III Đại Việt Thông Sử. - Hà Nội : nxb KHXH, 1978, trg 37.

(8) Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, tập IV, Binh chế chí, Văn tịch chí, Bang giao chí, Bảng sách dẫn, Viện Sử Học Việt Nam phiên dịch và chú giải. - Hà Nội : nxb Sử Học, 1961, trg 33.

(9) Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, sđd, trg 26.

(10) LÊ QUÝ ĐÔN TOÀN TẬP, tập II, Kiến Văn Tiểu Lục. - Hà Nội : nxb Khoa Học Xã Hội, 1977, trg 104.

(11) Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, sđd, trg 26.

(12 ) Quế Đường Lê Quí Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, sđd, trg 512-513.

(13)Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam. - California : University of California Press, Berkely and Los Angeles, 1983, p. 21.

(14) Quế Đường Lê Quí Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, sđd, trg 438.

(15) Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, sđd, trg 32.

(16) Quế Đường Lê Quí Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, sđd, trg 438

(17) Quế Đường Lê Quí Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, sđd, trg 516.

(18) Cao Thế Dung, Việt Nam Binh Sử Võ Đạo, quyển I,. - Phoenix USA : Tiếng Mẹ, 1993, trg 146.

(19) Hổ môn : chỗ cửa đêm đi lại vẽ hình con hổ để tỏ uy mãnh.

(20) Binh Thư Yếu Lược – Hổ Trướng Khu Cơ, in lần thứ hai có sửa chữa, Nguyễn Ngọc Tỉnh - Đỗ Mộng Khương phiên dịch, Đào Duy Anh hiệu đính. - Hà Nội : nxb KHXH, 1977, trg 443-445 và 367.

(21) Binh Thư Yếu Lược – Hổ Trướng Khu Cơ, sđd, trg 446

(22) Sơn Nam, Hai Mươi SáuTruyện Ngắn. - Los Alamitos CA : nxb Xuân Thu, 1989, trg 12.

(23) Binh Thư Yếu Lược – Hổ Trướng Khu Cơ, sđd, trg 308-309.

(24)Vũ Ngọc Khánh-Pham Minh Thảo, Kho Tàng Diễn Xướng Dân Gian Việt Nam. – Hà Nội : nxb Văn Hóa Thông Tin, 1997, trg 242,257,397, 398, . . .

(25) Dẫn theo Lê Ngọc Cầu, Phan Ngọc, Nội Dung Xã Hội Và Mỹ Học Tuồng Đồ. – Hà Nội : nxb Khoa Học Xã Hội, 1984, trg 249.

(26) Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, KHÂM ĐỊNH VIỆT SỬ THÔNG GIÁM CƯƠNG MỤC, tập một, Hoa Bằng, Phạm Trọng Điềm và Trần Văn Giáp biên dịch. - Hà Nội: nxb Giáo Dục,1998, trang 895.

(27) Địa Chí Vĩnh Phú, Văn Hóa Dân Gian Vùng Đất Tổ ,- Vĩnh Phú VN : Sở Văn Hóa Và Thông Tin Vĩnh Phú xb, 1986, trg 258, 259.

(28) Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Lịch Sử Việt Nam, tập I . - Hà Nội : nxb KHXH, 1971, trg 70.

(29)Dẫn theo Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam, sđd , p.19.

(30) Thiền trong Nghệ Thuật Bắn Cung, Thích Viên Lý dịch. – California USA : Viện Triết Lý Việt Nam & Triết Học Thế Giới xuất bản, 2001, trg 46. 


No comments: