Saturday, July 29, 2017

NGUYỄN THIÊN-THỤ * THẾ LỮ TÀI HOA




THẾ LỮ TÀI HOA
 NGUYỄN THIÊN-THỤ



Thế Lữ ( 1907 – 1989) tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, là nhà thơ và tiểu thuyết gia viên của nhóm Tự Lực văn đoàn kể từ khi mới thành lập (1934) đồng thời cũng đảm nhận vai trò một nhà báo, nhà phê bình, biên tập viên mẫn cán của các tờ báo Phong hóa và Ngày nay.

Bài thơ Nhớ rừng của ông tặng Nhất Linh là biểu dương lòng yêu nước của Nhất Linh , của ông, và của nhân dân Việt Nam những con hổ bị giam hãm trong cũi sắt. Sau Hiệp định Genève, ông tiếp tục hoạt động sân khấu, trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam (1957-1977).

Lưu Trọng Lư và Thế Lữ là hai nhà thơ đi tiên phong trong phong trào thơ mới. Tác phẩm đưa Thế Lữ lên đài danh vọng là thi phẩm Mấy Vần Thơ của ông. Ông làm thơ rất hay nhưng sau Mấy Vần Thơ thì không thấy ông có tác phẩm nào nữa. Ông chuyển nghề sang nghệ thuật sân khấu. Xin giới thiệu đôi bài thơ nổ tiếng của Thế Lữ.

Nhớ rừng
Tặng Nguyễn Tường Tam
(Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm-thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể muôn của loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi, 
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
(1936 )


Giây phút chạnh lòng là một bài Cảm đề Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, ca tụng những thành niên ra đi với hoài bão cứu nước.

Giây phút chạnh lòng
Tặng tác giả Đoạn tuyệt

“Anh đi đường anh, tôi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi
Đã quyết không mong sum họp mãi
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi?

“Non nước đang chờ gót lãng du
Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu
Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc
Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ 

“Anh đi vui cảnh lạ đường xa
Đem chi bình sinh dãi nắng mưa
Thân đã hiến cho đời gió bụi
Đâu còn lưu luyến chút duyên tơ

“Rồi có khi nào ngắm bóng mây
Chiều thu đưa lạnh gió heo may
Dừng chân trên bến sông xa vắng
Chạnh nhớ tình tôi trong phút giây

Xin anh cứ tưởng bạn anh tuy
Giam hãm thân trong cảnh nặng nề
Vẫn để hồn theo người lận đận
Vẫn hằng trông đếm bước anh đi

Lấy câu khảng khái tiễn đưa nhau
Em muốn cho ta chẳng thảm sầu
Nhưng chính lòng em còn thổn thức
Buồn kia em giấu được ta đâu?

Em đứng nương mình dưới gốc mai
Vịn cành sương đọng, lệ hoa rơi
Cười nâng tà áo đưa lên gió
Em bảo: hoa kia khóc hộ người.

Rồi bỗng ngưng vui cùng lẳng lặng
Nhìn nhau bình thản lúc ra đi
Nhưng trong khoảnh khắc ơ thờ ấy
Thấy cả muôn đời hận biệt li

Năm năm theo tiếng gọi lên đường
Tóc lộng tơi bời, gió bốn phương
Mấy lúc thẫn thờ trông trở lại
Để hồn mơ tới bạn quê hương

Ta muốn lòng ta cứ lạnh lùng
Gác tình duyên cũ thẳng đường trong
Song le hương khói yêu đương vẫn
Phảng phất còn vương vấn cạnh lòng


Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan
Trong lúc gần xa pháo nổ ran
Rũ áo phong sương trên gác trọ
Lặng nhìn thiên hạ đón Xuân sang.

Ta thấy xuân nồng thắm khắp nơi
Trên đường rộn rã tiếng đua cười
Động lòng nhớ bạn xuân năm ấy
Cùng ngắm xuân về trên khóm mai


Lòng ta tha thiết đượm tình yêu
Như cảnh trời xuân luyến nắng chiều
Mắt lệ đắm trông miền cách biệt
Phút giây chừng mỏi gối phiêu lưu…

Cát bụi tung trời, đường vất vả,
Còn dài – nhưng hãy tạm dừng chân
Tưởng người trong chốn xa xăm ấy
Chẳng biết vui buồn đón gió xuân
(Mấy vần thơ)



Cái đặc sắc của Thế Lữ là thi ca trầm hùng, réo rắt, không bi ai sầu não như Xuân Diệu, Huy Cận và Lưu Trọng Lư.


Ngoài tài thơ và kịch, Thế Lữ còn có tài chính trị. Ông là con người hai mặt, một mặt thân thiết với Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn nhưng một mặt ông theo Cộng sản. Theo Trẩn Đĩnh, Thế Lữ là cộng sản , bậc sư của Nguyễn Văn Linh:













Nguyễn Đình Nghi,

 Nguyễn Đình Nghi  cho tôi nói tới ngọn cờ đỏ đặc biệt của bố anh: Nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà soạn kịch, nhà đạo diễn Thế Lữ, một trong số 29 hội viên đầu tiên và cuối cùng của Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, tiền thân đảng cộng sản. Thế Lữ đã gieo mầm lớn: Kết nạp Nguyễn Văn Linh và cái mầm đã hoá thành đại thụ. […].Nhưng ông sớm từ bỏ cờ đỏ.

Một hôm tôi hỏi Nghi, cùng học ở Bắc Kinh, anh coi tôi là một trong vài ba bạn bè tin cậy:
- Ông cụ ông có kể chuyện ngày ông cụ được vỡ lòng cộng sản như thế nào không?
- Không!
- Có nói chuyện ông cụ vào đảng rồi hoạt động như thế nào, nhất là chuyện ông cụ kết nạp Nguyễn Văn Linh không?[…].Thế cụ có nói tới Quốc Dân Đảng và các đồng chí bè bạn trong đảng, trong Phong Hoá, Ngày Nay, Tự lực Văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ… không?


- Nói luôn, nói nhiều! Họ thân ái, yêu thương, kính trọng nhau lắm, việc ấy hầu như ai cũng biết.
- Chuyện ông cụ ông bỏ cộng sản đi với Quốc Dân Đảng thật tiêu biểu. Ngược với cụ Trần Huy Liệu bỏ Quốc Dân Đảng đi với cộng sản.[...].
Trong bữa ăn, Nghi kể: ông cụ tôi, như tôi đã nói, không hề hé ra một lời nào về hoạt động cộng sản của cụ. Không bao giờ. Cả khi ông Linh Tổng bí thư bảo với tôi “ngày anh còn bé tôi hay đến nhà ta ở Ngõ Nghè lắm”, ông cụ nghe tôi kể lại cũng im. Một vài anh em thỉnh thoảng nói cụ Thế Lữ dịp này mà gặp cụ Linh thì phải biết, công kết nạp vào đảng cơ mà, thì tôi càng lấy làm lạ thấy cụ cứ một mực lắng lặng. Cụ không khoe, không kể gì hết về đoạn đời đỏ của cụ, tóm lại như vậy, nhưng… nhưng, cụ có nói chuyện này: lúc Tổng khởi nghĩa, đoàn kịch Anh Vũ của cụ đang diễn ở Huế thì Việt Minh đã lùng bắt cụ để thủ tiêu vì là Việt Quốc Quy Dét (từ chữ QD - chỉ Quốc Dân Đảng; tương tự kiểu nói “lộ bem” tức lộ bí mật, từ chữ tắt BM - BT). Mình đã nhờ người hỏi Hoàng Yến từng phụ trách công an Huế đạo đó, Yến bảo có, huy động lực lượng rất ghê bao vây, lùng bắt rất dữ. Dạo ấy hai ông Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu phụ trách xứ uỷ Trung Kỳ triệt để trừ gian ghê lắm. Chính dạo ấy đã truy sát những Phạm Quỳnh và các trí thức thân sĩ khác suốt cả dẻo Trung bộ. Nghi nói tiếp: May ông cụ tôi trốn được. Ra tới Thanh Hoá, vào nhà Đỗ Văn cơ sở đầu tiên của Quốc dân đảng Quy Dét cụ náu lại mấy hôm rồi mặc áo the, đeo râu giả, nón dứa, toàn đạo cụ đoàn kịch, cụ cải trang trốn về Hà Nội.

 
.Cái gì khiến phủ nhận lý lịch cộng sản, không báo công, tranh công nhưng khủng bố đỏ thì ghi lại và nói cho con trai cả? Thế Lữ không cho hay. Từ cộng sản sang Quốc Dân Đảng, từ “tiên phong” rớt về “phản động”, Thế Lữ đi hết quỹ đạo long đong, điên đảo của thân phận trí thức một nước nghèo, lạc hậu dấn theo chủ nghĩa cộng sản nguyện “đứng ở bên lề tiến hoá của loài người”, gạt bỏ trí thức. Lần đầu phát Giải thưởng Hồ Chí Minh, Nghi bảo tôi: Người ta lờ ông cụ tôi.

- Ông cụ có là đảng viên đâu chứ, tôi nói. Ở ta mẻ vinh hoa đầu bao giờ cũng giành cho cộng sản, người chiến sĩ tiên phong. Đã thành nguyên tắc.
.(Đèn Cù II, Ch. 41)


Wikipedia cũng nói giống Trần Đĩnh:


"Năm 1928, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, cùng hoạt động với Nguyễn Văn Linh ở Hải Phòng. Theo Nguyễn Đình Thi, thì đến năm 1930, khi Hội Thanh niên chuyển thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Thế Lữ dù tán thành đường lối của Đảng, nhưng do gia đình theo Công giáo nên không thể gia nhập. “


Không biết Thế Lữ hay Nguyễn Đình Nghi viết truyện kinh dị vì năm 1929, Nguyễn Văn Linh tham gia học sinh đoàn do Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên lãnh đạo.Ngày 1 tháng 5 năm 1930, Nguyễn Văn Linh bị thực dân Pháp bắt, do tuyên truyền chống lại Pháp. Ông bị kết án tù chung thân và đày đi Côn Đảo. Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp lên nắm quyền ông được trả tự do.Năm 1936, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, hoạt động ở Hải Phòng. (Wikipedia)



Theo Wikipedia, Nguyễn Văn Linh sinh năm 1915, như vậy năm 1928, ông mới 13 tuổi là thành viên của Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội ư? Lúc đó Thế Lữ 21 tuổi mà Cộng sản đã tín nhiệm ư?Thế LỮ hay Nguyễn Đình Nghi nói trạng, coi như Thế Lữ theo đạo mà bỏ Cộng Đảng! Oai thế ư?
Việt Cộng là một đảng sắt máu và bí mật, sao dễ dàng thu nhận chàng trai mới lớn và đứa trẻ 13? Khó mà tin nổi!

Theo báo Việt cộng , 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc, sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ.
- Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ.
- Ngày l-l-1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ. http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/lich-su-dang/books-110620153463956/index-4106201534538562.html

Nói tóm lại những điều Thế Lữ và Nguyễn Đình Nghi nói ra  làm cho ta bán tín bán nghi. Đó là nỗi khổ của chúng ta vì cái gì có dính líu đến Cộng sản thì 99% là giả đối!
Việc ông theo Cộng sản có nhiều chỗ mù mờ. Nếu ông theo Cộng sản sao năm 1945 khi Thế Lữ lãnh đao đoan kich Anh Vũ suýt nữa bị Tố Hữu và Nguyễn Chí Thanh thủ tiêu như nhà văn hóa Phạm Quỳnh ở miền Trung. Thực tế, cộng sản thủ tiêu đồng chí là chuyện hằng bữa vì nghi họ là Quốc Dân, Đại Việt, là tay sai thực dân...

Trần Đĩnh viết theo lời kể của Nguyễn Đình Nghi con trai Thế Lữ:
Dạo ấy hai ông Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu phụ trách xứ uỷ Trung Kỳ triệt để trừ gian ghê lắm. Chính dạo ấy đã truy sát những Phạm Quỳnh và các trí thức thân sĩ khác suốt cả dẻo Trung bộ. Nghi nói tiếp: May ông cụ tôi trốn được. Ra tới Thanh Hoá, vào nhà Đỗ Văn cơ sở đầu tiên của Quốc dân đảng Quy Dét cụ náu lại mấy hôm rồi mặc áo the, đeo râu giả, nón dứa, toàn đạo cụ đoàn kịch, cụ cải trang trốn về Hà Nội.

Theo Hoàng Yến phụ trách công an Huế thì Việt Minh, dưới sự huy động hết mình của Tố Hữu và Nguyễn Chí Thanh, xứ ủy Trung kỳ, đã lùng bắt hung bạo trí thức, nhơn sĩ suốt dải đất xứ Trung kỳ. Phạm Quỳnh, Khái Hưng bị giết trong chiến dịch này. Nhất Linh may mà chạy thoát.Và rất có thể Tạ Thu Thâu bị sát hại ở Quảng Ngãi cũng do chiến dịch khủng bố của hai tên Tố Hữu và Nguyễn Chí Thanh.(ĐCII, 41)

Thế Lữ và Quang Dũng bị nhiều thư tố cáo về tội Quốc Dân Đảng. Tô Hoài phụ trach xét án và kể lại như sau:
 Năm 1946, Thế Lữ với đoàn kịch Anh Vũ ở Hà Nội biểu diễn qua các tỉnh vào tới Quảng Nam rồi trở ra. Đến Quảng Nam giữa khi Chính phủ ta ký tạm ước 6/3 với Chính phủ Pháp, trong nhân dân có người không đồng tình, nói nặng là " Việt Minh ký giấy bán nước cho Pháp ". Quảng Nam là nơi Quốc dân đảng công khai chống đối. Đoàn kịch nói Anh Vũ trở ra đến Thanh Hoá, đêm biểu diễn ở thị xã có một tiểu phẩm về tạm ước 6/3 mà dư luận nói là vở kịch phản động. Công an Thanh Hoá định bắt đoàn kịch. Nhưng cả đoàn đã thoát được lên tàu hoả. Thế Lữ chạy vào trụ sở Việt Nam Quốc dân đảng ở thị xã mà thủ lĩnh bấy giờ là nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn. ở đấy, Thế Lữ viết thư về Hà Nội cho anh Hoàng Hữu Nam thứ trưởng bộ Nội vụ. Anh Hoàng Hữu Nam đã can thiệp. Thế Lữ trở ra được Hà Nội. Thư tố cáo cũng không có gì khác hơn những điều trong lí lịch Thế Lữ.  Tôi báo cáo anh Hà Huy Giáp rồi xếp hồ sơ lại. Tô Hoài. Chiều chiều, Ch.X]

Tô Hoài cũng bí mật. Chuyện Quang Dũng thì ông nòi rõ Quang Dũng theo Nhất Linh sang Trung Quốc hoạt động trong Việt Nam Quốc Dân đảng, còn chuyện Thế Lữ thì không nói rõ về vụ Quốc Dân đảng.. Nếu ông theo Quốc Dân đảng sao năm 1945 ông ra chiến khu hoạt động cho cộng sản?Nếu ông theo Cộng sản sao chẳng thấy Cộng sản ngó ngàng đến ông?

Phạm Xuân Đài đã tham dư buổi diễn kịch của Ban Anh Vũ, và viết như sau:

Mùa đông năm 1945 một biến cố quan trọng đến với tôi, ấy là tôi được đi coi một đêm trình diễn của đoàn kịch Anh Vũ. Đoàn kịch này do nhà văn Thế Lữ đứng đầu, khởi đi lưu diễn từ Hà Nội, sau khi đến diễn ở Hội An thì được mời về diễn tại làng Bảo An, Gò Nổi. Từ Đông Bàn, chị Ba tôi dẫn mấy đứa em lên nhà cô Hường tôi ở Xuân Đài, để tối đi xem kịch ở Bảo An, chỉ đi một quãng ngắn là tới. Trời mùa đông, đường rất lầy lội. “Rạp hát” lợp tranh thô sơ, nhưng đặc biệt có treo lủng lẳng mấy bóng đèn điện, chắc chắn đây là lần đầu tiên vùng đất Gò Nổi chúng tôi được ánh sáng điện chiếu tới. Buổi diễn bắt đầu bằng màn chào cờ, có một toán diễn viên cầm cờ đỏ sao vàng ra sân khấu hát quốc ca, và ấn tượng lạ lùng nhất của tôi là lần đầu tiên nghe chữ “kíu quốc”: Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng kíu quốc… Lúc đó tôi chưa phải ở tuổi thưởng thức một vở kịch của đoàn Anh Vũ với các diễn viên Giáng Hương, Thế Lữ, Song Kim, Bùi Công Kỳ… tôi chỉ cảm thấy đó là thế giới nghệ thuật sang trọng, về giọng nói, về phông cảnh, về diễn xuất… tất cả diễn ra dưới ánh đèn điện sáng trưng. Tôi nhớ đó là một vở kịch gián điệp, kêu gọi lòng yêu nước, Thế Lữ đóng vai chính. Tôi cũng nhớ (và hy vọng là tôi nhớ đúng) một màn đơn ca của Bùi Công Kỳ với giọng trầm hùng:
“Hồn thiêng Việt Nam,
Anh dũng vô ngần…
Đứng lên giơ tay dưới cờ,
nghiêng mình cho nước…
… Dấu Trưng Vương còn ghi,
Kiếm Lam Sơn còn uy
Hòa xương máu dành quyền tự do…”
Dân tộc vừa ra khỏi ách đô hộ, những lời hát như thế cất lên lúc đó thật là có sức nặng ngàn cân, nó làm giạt giào, say sưa bao nhiêu lòng người, kể cả một cậu bé bảy tuổi là tôi. Và tôi cũng biết sở dĩ bây giờ tôi mạnh dạn nói tôi nhớ điều này điều kia về đêm diễn ấy chính là do những lời bàn tán của anh chị tôi và những người lớn sau đó: “Thế Lữ sau khi bị lột mặt nạ là gián điệp quả nhiên trông giống y như một Tây lai… Giáng Hương đẹp quá… Bùi Công Kỳ hát thật hay…”
Ngày nay ngoài các anh chị trong gia đình, không ai chia sẻ với tôi về đêm kịch Anh Vũ ấy, như là nó không hề có, hoặc chỉ là một tưởng tượng huyễn hoặc của tuổi thơ (ngay cả chính tôi có khi cũng ngờ như vậy!). Khi nghe tôi kể lại, nhiều người có thể còn không tin cái sự kiện một thằng bé bảy tuổi ở riệt nơi làng quê mà lại được coi một đêm kịch của ban Anh Vũ từ Hà Nội vào. Nhưng may quá, gần đây tôi có một người làm chứng cho tôi, đó là chị Phan Thị Mỹ Khanh, con gái của ông Phan Khôi, người làng Bảo An. Tôi đọc thấy trong tác phẩm “Nhớ cha tôi – Phan Khôi” của chị đoạn sau đây, và tôi thấy phải trích nguyên để được chia sẻ ký ức của một người coi như đã trưởng thành vào thời ấy:
“Cuối năm 1944 hay đầu năm 1945, tôi không nhớ chính xác (về điểm này chắc chắn tôi nhớ chính xác hơn, cuối 1945 – PXĐ), đoàn kịch nói Anh Vũ ở Hà Nội đi lưu diễn vào phía Nam. Đoàn diễn tại Đà Nẵng, Hội An mỗi nơi một tuần. Đúng vào thời điểm đó, thanh niên làng tôi tổ chức ‘Kermesse’ (hình thức như hội chợ) gây quỹ cho hội Truyền bá quốc ngữ xã, liền phái người đi Hội An mời đoàn về diễn ở làng. Cha tôi nghe nói có ông Thế Lữ làm đạo diễn của đoàn, bèn cho anh tôi ra mời ông về nhà. Ông Thế Lữ không ngờ cha tôi ở làng nầy, theo chân anh tôi đến ngay. Hai bên tay bắt mặt mừng vì đã lâu không gặp nhau. Cha tôi nói: ‘Nếu anh em trong đoàn chưa có chỗ ở thì cứ tạm về đây. Nhà tôi rộng rãi, chỉ có thiếu giường chõng tử tế, còn việc ăn uống thì không lo, ông đừng ngại.’ Ông Thế Lữ báo tin cho đoàn, và họ đều vui vẻ vào cả. Cha tôi bắt tay thăm hỏi từng người và đưa khách xem các gian nhà. Tôi nhớ trong đoàn kịch lúc ấy có ông Thế Lữ và vợ là bà Song Kim, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, vợ chồng nhạc sĩ Bùi Công Kỳ, cô diễn viên trẻ đẹp Giáng Hương, và mấy người nữa, tôi không biết hết tên. Ban ngày, lúc giờ nghỉ, ông Thế Lữ thường chuyện vãn với cha tôi ở nhà trên, các nhạc sĩ thì đàn, hát ở nhà ngang, vui nhưng không ồn ào, cô diễn viên trẻ thì quanh quẩn bên mẹ tôi trong nhà bếp, cùng tham gia lo cơm nước với chúng tôi.
Chiều hôm sau, đoàn quay ra Đà Nẵng. Chỉ trong non hai ngày mà nhà tôi đông vui hẳn, cha tôi lấy làm hể hả, nom ông khác hẳn mọi hôm.” (Nhớ Cha Tôi – Phan Khôi, trang 80, 81; nhà xuất bản Đà Nẵng 2001). [Phạm Xuân Đài - Năm Đinh Hợi trước. http://damau.org/archives/14177]

Hai vợ chồng Thế Lữ là đôi tài tử kịch trường. Trong khi Thế Lữ ở lại chiến khu, bà Song Kim  bỏ về thành. Sau năm 1975, Thế Lữ vào Saigon găp vợ. Rồi ông đi Vũng Tàu, bị công an bắt giam. Ông bị giam cùng với giáo sư Lê Hữu Mục về tội vượt biên. Thế Lữ khai rằng ông đi lạc, ông được cơ quan bảo lãnh và được  trả tự do. Không biết ông đi lạc hay đi đúng đường?
Trần Đĩnh kể:
Năm 1975 lần đầu vào thăm mẹ anh ở Sài gòn ra, Nguyễn Đình Nghi, bạn của Trần Đĩnh, kể lại một chuyện làm cho ông rất buồn. Khi gặp mẹ, bà quắc mắt hỏi ông: “Sao anh bỏ Chúa mà theo ma quỉ? Đứa nào nó xui anh?”. Nhưng ông đã nghĩ trước tới thái độ ứng xử của mẹ nên ông đã bỏ đảng khi sắp đi gặp mẹ. Tránh phải phân giải với mẹ (trg 429_436).

Có thật Nguyễn Đình Nghi yêu mẹ mà bỏ đảng ư? Thế ông có yêu cha không?
Thế Lữ chạy lui chạy tới, phải chăng ông không kiên định lập trường hay ông là một gián điệp nhị trùng? Tri nhân tri diện bất tri tâm! Nhất Linh, Khái Hưng nằm ngồi cùng Thế Lữ mà có biết Thế Lữ là một tay Cộng sản không? Tội nghiệp cho Thế Lữ, ông chạy theo Cộng sản mà chẳng được xơ múi gì!


No comments: