Saturday, July 8, 2017

SƠN TRUNG * CANH KHUYA BẾN TẦM DƯƠNG




CANH KHUYA BẾN TẦM DƯƠNG
SƠN TRUNG

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
.



Hai câu trên là hai câu mở đầu bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị (白居易; 772 - 846), một thi sĩ đời Đường đuọc Phan Huy Huy Vịnh dịch nôm. Bạch Cư Dị có viết  lời tựa như sau:
Năm Nguyên Hoà thứ 10, ta về giữ chức Tư Mã ở quận Cửu Giang. Qua mùa thu năm sau, đêm ra tiễn khách bên bến sông Bồn, chợt nghe thuyền ai có tiếng đàn tỳ bà vọng lại. Nghe trong tiến đàn thánh thót, âm vang điệu nhạc ở kinh đô. Bèn hỏi gốc gác. Người đàn bà trả lời rằng "Tôi vốn là con hát, quê ở Trường An, học đàn tỳ bà với hai danh sư Mục và Tào. Nay tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, lấy chồng làm con buôn (thường theo thuyền buôn đi đây đi đó)". Nghe vậy, cho dọn rượu ra đãi, xin nàng đàn lại cho nghe. Đàn xong cảm xúc vô vàn, nàng bèn kể lại cuộc đời mình từ lúc còn trẻ, vui sướng, cho tới lúc lưu lạc giang hồ khổ nhọc. Ta về đây làm quan đã được hai năm thanh thản yên ổn. Hôm nay nghe nàng nầy nói chuyện, cảm thương cho số phận lưu đầy! Bèn làm một bài thơ dài tặng nàng ta, gồm 616 lời, gọi là "Tỳ bà hành".

Trong văn chương có nhiều danh từ chỉ người đàn bà, con gái theo nghiệp cầm ca: con hát, ả đào, đào nương,ca kỹ, kỹ nữ...Nguyễn Du gọi là Cầm giả (Long Thành cầm giả ca), Xuân Diệu gọi là Kỹ nữ (Lời kỹ nữ).Cô đầu (chữ Nôm: 姑姚), cũng gọi là Ả Đào (妸陶), Đào nương (陶娘) hay Ca nương (歌娘) là thuật ngữ ở Việt Nam thường dùng để gọi một dạng kỹ nữ trong thời đại cổ ...
Về chữ Kỹ có nhiều định nghĩa:
(7n)
-ThiềuChửu  : Con nữ phường chèo, con đĩ nhà thổ.
-Khai Trí Tiến Đưc : con đĩ, nhà thổ, kỹ viện.
-Hán Việt Từ điển Trich Dẫn:
(Danh) Phụ nữ làm nghề hát múa (thời xưa). ◎Như: ca kĩ phụ nữ làm nghề ca hát. ◇Lạc Dương già lam kí : Kĩ nữ tam bách nhân, tận giai quốc sắc , (Pháp Vân tự ) Kĩ nữ ba trăm người, đều là quốc sắc.
(Danh) Gái điếm, gái mại dâm. ◎Như: xướng kĩ gái đĩ, kĩ nữ hộ nhà chứa.

 Từ kỹ nữ vốn được hiểu là những cô gái có trò tạp kỹ như ca hát, nhảy múa,... phục vụ các khách quan chủ yếu là nam giới trong các không gian kín đáo, hình thức rất giống Geisha của Nhật Bản. Tuy nhiên, từ kỹ nữ ngày nay bị đánh đồng với một dạng gái bán dâm, mà ngày xưa người ta gọi là Hoa nương. Ngày nay dân Bắc gọi gái giang hồ là ca-ve nhưng ca ve tiếng Pháp là   gái nhảy.

 Hát ả đào  bắt đầu được gọi thành hát cô đầu. Thực tế cách gọi “Đào” (桃) thành “Đầu” (頭) đã có từ cuối thời Lê, có thể do một cách hèm húy trong nhà nghề. Phạm Đình Hổ khi soạn sách Nhật dụng thường đàm đã dùng từ “Ả đầu” (婀頭) để chú nghĩa từ “Đào nương” (桃娘). Cách dùng từ cô đầu (姑頭) để gọi ả đào (婀桃) cũng đã thấy xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX trong các bài hát nói của Dương Khuê. Song có lẽ đến thời kỳ ca quán, Hát cô đầu mới bắt đầu được dùng phổ biến để gọi lối hát ả đào, và ca trù ca quán cũng được gọi thành Nhà hát cô đầu.

 Về kỹ nữ nói chung, loại hình phục vụ cho nam giới này đã có từ thời rất xa xưa tại Trung Quốc cũng như Việt Nam. Vào thời nhà Lý, có ca kỹ họ Đào, rất vừa ý Lý Thái Tổ nên thường ban thưởng, từ đó các con hát hay được gọi là Đào nương.
Tuy nhiên theo Công dư tiệp kí, "Cuối đời nhà Hồ (1400 – 1407), có người con hát họ Đào quê ở làng Đào Xá, tỉnh Hưng Yên, lập mưu giết được giặc Minh. Khi nàng chết, dân nhớ ơn lập đền thờ, gọi thôn nàng ở là thôn Ả Đào. Từ đấy những người đi hát được gọi là ả đào".
Sang thời nhà Lê, nghề con hát trở thành một dạng nghề hèn mạt, đánh đồng với nô lệ, ai xuất thân từ nhà con hát đều không thể làm quan (như Đào Duy Từ). Cứ theo Việt sử tiêu án, khi ấy các con hát ngoài gọi là Ả đào, còn được gọi là Náo nương (鬧娘) hay Cô Náo (姑鬧), Náo Hát (鬧歌)... các danh xưng. Các con hát không biểu diễn ở cung đình vì thân phận thấp hèn, họ chỉ quanh quẩn ở các đình làng hay ca quán tại địa phương.

Tiếng Bắc Kỳ gọi gái trẻ là cô, còn Trung kỳ gọi là ả. Đào có thể biến âm thành đầu có lẽ do kiêng tên.Cô đào , thành  cô đầu, ả đào.Ngày xưa, Hát cửa đền ngày xưa có lệ hát thẻ. Hát thẻ dùng để chỉ một hình thức ban thưởng cho những ả đào hát hay. Đoạn nào ả đào hát hay thì các khách nghe hát (gọi là quan viên) thưởng một thẻ. Mỗi thẻ qui định tương ứng với một số tiền, đến hết buổi hát, ả đào tổng cộng được bao nhiêu thẻ thì nhân lên mà nhận tiền thưởng. "Hát" tiếng Hán là "ca", thẻ là "trù", hát thẻ = ca trù. Hát ả đào được gọi là ca trù từ đó.

Trong các định nghĩa, dịnh nghĩa của Hán Việt Từ Điển Trich Dẫn là chính xác và rõ ràng nhất. Ban đầu, đào nưong là những  đàn bà, con gái theo nghề  ca hát cũng như  các nữ ca sĩ ngày nay.
Muốn trở thành ca kỹ, họ phải theo học thầy và gia nhập giáo phường. Nói chung đó là một ngành nghề, có trường lớp và được nhà nước đặt quy chế hẳn hoi.Giáo phường là nơi sống và luyện tập của các nhạc sĩ và ca sĩ. Ngày xưa ả đào và kép ở chung phường chung xóm để luyện tập múa hát cho tiện. Chỗ ả đào ở gọi là Giáo phường, nghĩa là phường xóm dạy những người đi hát.Đời nhà Đường (618 - 906) đặt chức quan Tả, Hữu Giáo phường chuyên trông coi việc ca xướng, lại đặt chức Trung quan để cai trị các Giáo phường ( theo Sách Đường Thư).Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông đặt quan Ty chính để trông coi các Giáo phường .(1)

Theo ghi chép của các văn bia thì Ty giáo phường là một tổ chức quản lý hoạt động ca xướng tương đương cấp huyện. Giáo phường các xã thuộc về Ty giáo phường của huyện. Ty giáo phường huyện quản lý hoạt động của giáo phường các xã trong huyện. Mỗi huyện thường có một Ty giáo phường. Người đứng đầu Ty giáo phường là một ông trùm, chia việc giữ các cửa đình trong huyện cho các giáo phường. Việc giữ này được truyền từ đời này sang đời khác. Các giáo phường này được phép toàn quyền biểu diễn tại đình làng này, hoặc được phép tuỳ ý mời giáo phường khác đến hát giúp trong một dịp nào đó. Ngược lại, giáo phường cũng phải có một số trách nhiệm đóng góp vào các nghi thức hát xướng tế lễ của làng, theo mức độ quy định giữa làng xã sở tại với giáo phường.

Xã có thể có một hoặc nhiều giáo phường. Mỗi giáo phường là một họ riêng. Giáo phường ca trù còn vượt ra khỏi địa phương để tham gia vào các nghi thức tiếp khách của nhà nước. Các giáo phường trong huyện đã họp nhau để chia nhau việc giữ cửa đình các đình làng trong địa phương mình. Quyền giữ cửa đình mà thực chất là các quyền lợi và trách nhiệm của giáo phường được duy trì đời này qua đời khác. Giáo phường nào được chia giữ cửa đình nào thì có đặc quyền được ca hát ở đình đó trong những ngày tiệc của làng và hưởng quyền lợi, đặc biệt là giáo phường sẽ được hát trong lễ xông đình trong dịp hoàn thành công việc tu tạo sửa chữa đình làng.

Hát “Ca Trù” cũng được giải thích là hát lấy “Thẻ” (theo chữ Hán, Trù là thẻ), một thanh tre nhỏ trên có ghi số tiền, dùng để thay tiền thưởng. Sau khi hát sẽ đổi thẻ ra tiền vì các quan viên không thưởng trực tiếp bằng tiền mặt.

Từ đời Lê, Hà Nội đã là cái nôi văn nghệ, nhiều giáo phường đã phát triển tại đây.Thăng Long thời Lê, Bắc thành thời Nguyễn có nhiều giáo phường ca trù nổi tiếng trong đó phải kể đến giáo phường Hòe Nhai. Cuối đời Lê, Hòe Nhai đã là dãy phố hát ả đào làm say mê bao nhiêu vương tôn công tử. Ninh Tốn (1743-1795) tiến sỹ đời vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786) có bài thơ ca ngợi phường hát này:


Bờ liễu đường hoa ai cũng đẹp
Phong lưu vành chiếm một Hòe Nhai
Nõn nà trăm vẻ khoe xuân sắc
Uyển chuyển lời ca ghẹo khách hoài
Hoa rụng bên đền ghen má phấn
Oanh hào tiếng phách rộn bên ngoài.
Kẻ thường đâu dám chi nghìn lạng
Phải đợi Vương tôn quảy rượu sài.


Phường Hòe Nhai thời Lê bao gồm Hàng Than, Hàng Giấy và cả Hàng Đậu. Ngành  ca trù ở  Hàng Giấy đầu thế kỷ XX, vẫn là kép đánh đàn đáy, vẫn đào hát răng đen, yếm đào gõ phách còn người nghe sành thì cầm trống chầu. Tuy nhiên hoạt động của giáo phường cuối thế kỷ XIX đã dịch chuyển sang về hình thức tồn tại: không chỉ hát ở hội hè, hát theo lời mời của nhà quan, danh sỹ, người có tiền thích thú vui tao nhã này mà họ lập ra ca quán và có lẽ phố Hàng Giấy là nơi ra đời các ca quán đầu tiên.  Hàng Giấy từng được gọi là phố Ả Đào.

Chắc ở đây phải có rất nhiều ca quán nên người ta mới gọi như thế. Việc xuất hiện ca quán ở Hàng Giấy đã mở đầu cho thời kỳ "ca trù thương mại" phục vụ cho nhiều đối tượng trong xã hội hơn.  Bởi thế có ca quán còn hát cả chèo. Tuy nhiên nhiều ca quán vẫn giữ được nếp hát truyền thống. Trong dân gian có câu:
Trải qua Hàng Giấy dần dần
Cung đàn nhịp phách nên xuân bốn mùa.


Nhà văn Nguyễn Tuân viết rằng khi còn nhỏ ông từng được cha cho đến đây. Theo nhà văn Vũ Bằng, các danh sỹ như: Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Đỗ Mục, Sơn Phong từng đến Hàng Giấy thưởng thức cung đàn nhịp phách.

Gánh hát ca trù (ả đào) đất Kinh kỳ

Việc ca quán hoạt động nhộn nhịp, xe tay đưa đón khách khuya khoắt lại xảy ra cả chuyện ghen tuông nên chính quyền thành phố đã ra quy định và đặt cảnh sát trông nom an ninh, trật tự ( Hàng Giấy lại có bốt Hàng Đậu ) . Rồi nhà đất ở Hàng Giấy ngày càng đắt hơn vì thế mà kéo giá thuê cũng cao hơn khiến nhiều ca quán tìm đến chỗ rộng hơn, xa trung tâm và không bị cảnh sát làm khó dễ tiếng đàn phách trong đêm. Và Thái Hà là địa điểm được lựa chọn, thời đó ấp Thái Hà là ngoại ô, nhà cửa còn xen lẫn với ruộng.

Hoàng Đạo Thúy viết về Hà Nội như sau:
"Dạo một chút qua Hồ Tây, nơi xưa kia là rừng lim dày đặc, quán Trấn Võ được dựng lên để trấn yểm tinh cáo 9 đuôi. Rẽ xuống Bưởi có rừng bàng, nuôi người làng Trích Sài - tức là Hái Củi. Để từ đó mà đi hết 13 trại, 61 phường của đất Thăng Long. Hình dung một chút để thấy tháp Báo Thiên 12 tầng bên Hồ Gươm. Cái náo nhiệt của phố Hàng Đàn, Hàng Hòm, Hàng Trống, Hàng Kèn phía Đông Nam, nhưng phía bờ Đông hồ Gươm lại toàn là ruộng dâu hiu quạnh. Lịch sử từng làng nghề, phố nghề được thong thả kể: Phố Hàng Gai không bán gai, thừng mà bán sách. Song cũng có những phố hàng hóa gắn liền với cái tên như phố Hàng Nón, Hàng Điếu, Hàng Hòm”.[...].

“Làm nên những phố thị náo nhiệt là những người Thăng Long nho nhã, khéo léo, cần cù. Những ông đồ, những bác thợ gò, những chị gánh sách. Có ai đi qua phố Hàng Đào, để mà thấy biểu tượng của người Hà Thành thanh lịch. Hàng Đào gốc là nơi nhuộm màu đỏ, cho đủ thứ vải vóc, lụa là. Con người Hàng Đào tiếng là hào nhoáng, kiểu cách. Các cô Hàng Đào được nhiều thanh niên để ý, vì cô nào cũng ăn mặc đẹp đẽ cả. Bởi các cô con nhà buôn rất giàu, quan rất to. Nhưng đi sâu vào một tí, khách xa sẽ được chỉ dẫn, lại có một số lớn bà và cô làm thuê. Có những gia đình rất đạm bạc, ông dạy học, bà mở cửa hàng nhỏ. Không nói thách, không nói dối khách hàng, vì vậy mà được bà con tin cậy”.(2)

Trước 1915 phố Khâm Thiên vẫn chưa hình thành, đường đi vẫn là đất đá lổn nhổn và chiều ngang chỉ đủ rộng cho một chiếc xe tay đi qua. Hai bên còn là hồ ao, bãi tha ma, ruộng rau muống và ao bèo. Làng lui sâu vào bên trong. Đầu đường (chỗ chắn tàu hiện nay) giáp với đường Thiên Lý (Lê Duẩn ngày nay) không có nhà cửa, chỉ có mấy quán bán xôi, cháo cho công nhân hỏa xa. Đầu những năm 1920, do đất trong phố đắt dần, người ta mới mua ở đây làm nơi sản xuất, trong đó có bà Long nấu xà phòng hiệu Con Dê, tiếp đó là Trịnh Đình Kính chủ hiệu thủy tinh Thanh Đức Hàng Bồ đặt xưởng.

Sự phồn thịnh của phố Khâm Thiên từ năm 1930-1940 là nhờ nhà hát cô đầu và tiệm nhảy. Trong một cuốn sách viết năm 1938, Đốc lý Hà Nội Virgitti viết: "Khâm Thiên là một xóm ăn chơi nhất, hiện đại nhất và đắt khách nhất. Đó là một xóm giàu có nhất trong khu vực này. Nhà hát ở Khâm Thiên có từ trước song người ta đua nhau đến đây mấy năm gần đây thôi. Trên một đoạn phố không đầy 800m mà có tới 40 nhà hát với trên 200 con hát, thêm 5 tiệm khiêu vũ với khoảng dăm chục gái nhảy và có hai nhà săm cho thuê buồng. 

Các chủ xuất thân từ cô đầu, nhân tình của các quan lại An Nam cao cấp". Việc làm ăn phát đạt đến mức hễ có ngôi nhà nào mới xây sạch đẹp là lập tức có người đến thuê với giá cao. Những chủ ít vốn không chịu nổi tiền nhà phải đi xa hơn, xuống Ngã Tư Sở, đường Tàu Bay, Vạn Thái (phố Bạch Mai), Chùa Mới (ngã tư chợ Mơ). Đầu những năm 1930, khách hát ở Khâm Thiên còn là tổng lý, lái buôn, lái xe các tỉnh về thì đến năm 1935 chỉ còn khách sang, đám khách ít tiền mê hát phải tìm đến nhà hát ở Vạn Thái, Ngã Tư Sở, Chùa Mới...

Tuy nhiên số 40 nhà hát lại tập trung chủ yếu từ ngõ Tương Thuận đến ngõ Liên Hoa, Cống Trắng. Các nhà hát thường bài trí theo hai kiểu, theo lối Tàu có ghế gụ, sập tủ chè, còn theo lối mới có sa lông nhưng cũng có sập để nằm hút thuốc phiện. Ban ngày các nhà hát bình thường như các nhà hàng phố khác nhưng tối xuống là nhà nào cũng sáng trưng, nhà chưa có khách thì mở rộng cửa và mấy ả ăn mặc chải chuốt đi lại ngóng khách. Thời kỳ đầu, người ta còn chuộng con hát hay, thạo tay phách, nhưng sau nhiều nhà thay đổi cần cô đầu biết chiều khách, biết hầu rượu. Nếu gặp khách cần cô đầu hát hay thì họ đi mượn quán khác. Khâm Thiên có hai nhà Kỳ Văn và Trường Bẩy có đào hát lành nghề và hai nhà này cũng dạy cho nhiều trò cách hát ca trù lối cổ.

 Song số nhà hát theo lối truyền thống rất ít và trong số này có nhà bà Năm, nhà hát được cho là tụ hội cô đầu có giọng hát hay và đây cũng là chỗ mà Nguyễn Tuân hay đến. Trong từng ấy nhà hát thì nhà hát của cô Đốc Sao là sang nhất. Cô Đốc sinh năm 1900 quê ở Hưng Yên, chồng là bác sỹ người Hoa tên là Lưu Nam Sao (Lầu Màn Sầu) vì thế người ta gọi là cô Đốc Sao. Nhà hát này chuyên chọn gái 15-16 tuổi con nhà nghèo ở nông thôn có dáng xinh và thông minh rồi thuê người dạy tí ti ca trù, dăm ba câu tiếng Pháp, Đốc Sao cũng huấn luyện các cô biết uốn éo, cợt nhả với khách. Lại cho dùng hàng phấn sáp của Pháp, tơ lụa tốt. Vì thế trông cô đầu của Đốc Sao mơn mởn. Con hát nhà Đốc Sao có kỷ luật, cấm không nói chuyện riêng và cười với nhau trước mặt khách. Ra phố ban ngày có xe tay của nhà chủ đưa đi, vừa để kiểm soát vừa làm sang. Đốc Sao có nhiều cô đầu đẹp và khéo như: Uyên, Xuyến, Phượng...

Phố Khâm Thiên

Báo Trung Bắc chủ nhật số 129, năm 1942 cho biết, năm 1938, ngoại ô Hà Nội có 216 nhà hát và gần 2000 cô đầu tập trung trước thì ở Hàng Giấy, ấp Thái Hà, sau đến Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, Vạn Thái, Chùa Mới, Cầu Giấy, Kim Mã, Văn Điển, Gia Quất.Nhà hát ở xóm Khâm Thiên và Ngã Tư Sở là những địa chỉ nổi tiếng vì sự gắn bó với các nhà văn nhà thơ có tên tuổi như: Tản Đà, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Hoài Điệp Thứ Lang, Vũ Hoàng Chương. Nhà văn Vũ Bằng gọi xóm Khâm Thiên là “cái nôi văn nghệ của Hà Nội”.

Giá một chầu ở những nhà hát sang ở Khâm Thiên từ năm 1936-1940 khoảng 20 đồng, thêm chi phí ngoài như rượu Tây, thuốc phiện hộp, gọi ăn đêm nên tốn bạc trăm trong khi lương một viên tri huyện tập sự là 80 đồng. Còn những bình dân như Gia Quất (quận Long Biên ngày nay) chỉ từ
2-3 đồng, có nơi cao hơn một chút nhưng cũng chỉ 5-10 đồng. Cô đầu Khâm Thiên một thời nổi tiếng có Hải, Xuyến, Sâm, Tóc quăn, Sâm già... riêng cô đầu Hồ nổi tiếng vì đẹp như Liêu trai.

Nhưng thực chất thì quan viên là những ai? Đa phần trong số họ là những nhà Nho tài tử . Họ có thể là những bậc đại khoa. Họ có thể là những trọng thần cỡ Tổng đốc, Khâm sai, mà cũng có thể là những hàn nho. Nhưng họ giống nhau ở hai phẩm chất: thị tài và đa tình.


Có 2 dạng cô đầu:
  • Cô đầu thực thụ: họ mua vui cho đàn ông bằng đàn hát, nghệ thuật lành mạnh (giống như ca sĩ phòng trà ngày nay). Họ không bán dâm như nhiều người vẫn tưởng.
  • Cô đầu trá hình: là một dạng gái mại dâm núp bóng cô đầu, đàn hát chỉ là để ngụy trang. Họ không biết ca hát mà chỉ hay rót rượu, thậm chí phục vụ tình dục, vì vậy họ còn được gọi là cô đầu rượu. Vì bộ phận trá hình này mà hát cô đầu mới bị nhiều người nghĩ oan, đánh đồng với mại dâm
 Tô Hoài  cho biết: “Đầu thế kỷ, ở Hà Nội phố Hàng Giấy có nhà hát ả đào. Các cụ nhà Nho đến phố Hàng Giấy nghe hát đánh trống cầm chầu. Bài hát hay, bài hát thù tạc các cụ làm rồi đưa cho ả đào hát có thưởng tiền. Nguyễn Tuân kể thời ông khoảng 10 tuổi (1920), đôi khi được theo thân sinh là cụ tú Hải Văn đến nhà hát ả đào phố Hàng Giấy. Người phong lưu, thú chơi tao nhã, với bao tâm tư gửi vào đấy”[3]. Vậy là sinh hoạt ca quán Hà Nội được bắt đầu với ca quán Hàng Giấy và ca quán thời kỳ này (khoảng trước năm 20) có lẽ phần nào vẫn còn giữ được nền nếp xưa, và chắc hẳn cô đào Hà Nội bấy giờ có hình ảnh như miêu tả trong bài viết về hát ả đào của Nguyễn Xuân Khoát là: “Một người đàn bà rất Việt Nam, nền nã, đuôi gà, răng đen, không đánh phấn bôi son, và có thể là một người đàn bà rất đoan trang nhu mỳ, nên thỉnh thoảng đôi mắt đưa đẩy đầy ý tứ….


Nàng ngồi xếp bằng bên góc phản phía ngoài, nhẹ nhàng đặt cỗ phách trước mặt, vừa thử gõ mấy tiếng, vừa xoay đi xoay lại bàn phách mấy lần, đoạn kín đáo liếc nhìn về phia ông kép đàn ngồi ở góc trong cỗ phản mà ung dung gieo những khổ phách mở đầu, thoạt tiên trang trọng dứt khoát, sau như khẩn trương dồn lên, đoạn rồi như bay lên một cách thoải mái để trước khi cất lên tiếng hát thì như ghìm phách lại nhẹ nhàng thảnh thơi hơn bao giờ hết (4). Sang đầu thế kỉ XX, khi công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Bắc Kỳ đã đi vào ổn định, thì cũng là lúc mà các đô thị "kiểu phương Đông" dần phát triển theo mô hình "kinh doanh thân xác " của Tây phương.

 Nạn mại dâm cũng được thực dân Pháp hợp thức công khai và trở nên phổ biến ở các thành phố lớn. Vào những năm 1930, vấn đề mại dâm ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề nhức nhối trong xã hội. Các báo đã mô tả tình trạng "lúc nhúc xóm bình khang, đầy rẫy phường bán phấn" trong các đô thị Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Một biến tướng khác của mại dâm là "hát cô đầu" đã trở thành "một cái ung nhọt" của xã hội. Báo Công luận viết "Nếu đi qua các ngõ Sầm Công ở Hà Nội, phố Hạ lý Hải Phòng, phố Bến Củi Nam Định... ta sẽ thấy một cảnh tượng đau lòng, một sự dâm ô đê tiện hơn hết trong sự mãi dâm, chắc không có nước nào mà mãi dâm lại đê tiện hơn mãi dâm ở nước ta:

 Họ ra tận đường phố lôi kéo khách hàng, họ nói những câu, hát những giọng khiêu dâm tục tằn...". Nguyễn Doãn Vượng đã nhận xét "hầu hết những kẻ đi hát đều là thanh niên... do đó sự kém sút về sức khoẻ, sự truỵ lạc về tinh thần, những bệnh hoa liễu cũng từ đó mà về thăm gia đình và vợ con những thanh niên đó; lại còn bao nhiêu kẻ trong cơn mê muội đớn hèn lỗi đạo vì đi hát, ăn trộm, ăn cắp vì mê hát và khuynh gia bại sản vì những cô đầu hát"(Báo Trung văn chủ nhật, 27-9-1942- Wikipedia)

Sinh hoạt ca trù cũng một hai biến tướng. Đào nương, ngoài đào hát còn có thêm đào rượu, hoặc một người kiêm cả hai chức năng.Quan viên đến với sinh hoạt ca trù, ngoài kẻ sĩ đã có mặt phường tục tử. Mối quan hệ của họ với đào nương đã trở nên nhạt phần văn nghệ mà thêm "gay gắt vị làng chơi" (chữ của Xuân Diệu trong bài "Lời kỹ nữ").


Dần dần do thấy lối kinh doanh nhà hát cô đầu thu được lợi nhuận nên trên các phố và một số vùng ngoại vi Hà Nội hàng loạt nhà hát cô đầu ra đời như Thái Hà ấp, Khâm Thiên, Vạn Thái, Ngã Tư Sở, Chùa Mới, Cầu Giấy, Kim Mã, Văn Điển, Gia Quất, Ba La Bông Đỏ, Sơn Tây. Ca quán Hàng Giấy cũng chuyển về Khâm Thiên. Nguyễn Xuân Khoát cho biết về thực trạng nhà hát cô đầu thời kỳ này là “số nhà hát cô đầu lên tới hàng trăm và khoảng 2000 đào rượu ở rải rác khắp các cửa ô Hà Nội. Một nhà hát không khác gì một nhà ở của dân thường, chỉ có khác là ban ngày thời đóng cửa mà tối đến thời mở cửa rộng, đèn sáng trưng, trong nhà ra vào một số cô mặt hoa da phấn, quần áo lòe loẹt. Cửa chỉ khép khi có khách tới nghe hát. Khách đến nghe hát thường là một nhóm từ hai đến ba bốn người. Mỗi nhà thường có một cô đầu hát và một số cô đầu rượu, Cô đầu rượu thường không biết hát mà chỉ sử dụng vào việc tiếp khách, pha trà, mời rượu, tiêm thuốc phiện…”[5)

Theo khảo cứu của Trần Văn Khê trong bài viết Hát ả đào đăng trên Tạp chí Bách khoa số 80 – 81 -82 cho biết: cuối thế kỷ XIX, Gustave Dumoutier sang khảo cứu phong tục ở Việt Nam thì đào nương đã quen thói trên bộc trong dâu. (6). Làm nghề ả đào thì không được lập gia đình. Lấy chồng thì ả đào phải bỏ nghề hát. Ả đào hát trong các đám hội đám khao và trong lúc người ta ăn uống. Đào nương hát phải ngồi dưới sàn nhà và khi tiệc tan, thì quan khách gọi đào nương đến ngồi gần và lúc ấy mới cho đào nương ăn uống.

Mỗi đào nương thường lĩnh được ba quan tiền một đêm. Đến thế kỷ XX, thì nghề ả đào càng ngày càng đi gần đến nghề buôn phấn bán hương.Thuở đó ả đào tại thành thị không còn những gì trong sạch thanh cao như ả đào ngày xưa. Sau này tại xóm Phú Nhuận (ngoại ô Sài Sòn) cũng có một ít ả đào, nhưng đâu còn giữ được phong thái thời xưa.

Đầu thế kỷ XX, hát ả đào bị coi là lối ăn chơi, suy đồi và các cô đầu cũng bị xem giống như các kỹ nữ bán thân không có đạo đức. Dư luận xã hội phản ứng gay gắt và mạnh mẽ đến mức, năm 1923 Phạm Quỳnh trước khi diễn thuyết về văn chương trong lối hát ả đào ở Hội Khai Trí Tiến Đức, đã phải rào trước đón sau rất kỹ: “Ta có thể yên tâm mà bàn chuyện hát ả đào, không sợ lời chê của khách phong lưu, cũng không ngại búa rìu của nhà đạo đức. Duy xin nói trước rằng lời bàn đây là bàn về lối hát ả đào hai ba mươi năm về trước, không phải bàn về lối hát ả đào hiện bây giờ, vì không cần phải nói ai cũng biết rằng cách ăn chơi của nước ta bây giờ cũng như hết thảy các cách khác, đều là đương lúc suy đồi cả.” [.....]..“Lối văn chương này là lối văn chương không bó buộc, nhẹ nhàng thanh thoát, như nước suối chảy, như gió thoảng qua, có thế mới diễn được những cái tư tưởng cao xa man mác như thế. 


Tôi tưởng không có nước nào văn chương du hí mà cũng có nghĩa lý thâm trầm như thế. Mà các cụ soạn ra những bài này có phải là nghiền ngẫm nghĩ ngợi gì đâu, nhi khi tức tịch ứng khẩu mà đặt ra cho ả đào hát, như thế lại càng đủ tỏ cái chí khí tự nhiên”.[7]  Phạm Quỳnh phải thừa nhận một thực tế nghề ả đào ở thành thị hồi đó “cũng có nhiễm nhiều thói trăng hoa”. [8].

Tác giả Nguyễn Mạnh Hồng trong bài viết đăng trên Nam phong tạp chí cũng cho rằng: “ Hiện nay ngoài cái thú đi nghe hát ở xóm Bình Khang ra, chưa biết tìm cái thú gì hơn mà tiêu khiển. Nhưng tiếc thay trong bọn cô đầu bây giờ, ít được người tài hoa phong nhã, chẳng qua là nhà trò giữ nhịp, họ giả danh ca xướng để tiện đường buôn phấn bán hương. Còn quan viên cũng ít người chơi vẻ phong lưu, chỉ mượn vẻ hào hoa để dễ bề vật chất”. [9].

Tô Hoài vẽ lại bức tranh toàn cảnh về nhà hát cô đầu thời những năm 30 – 45 như sau: “Nhà hát sang nhất ở phố Khâm thiên. Nổi tiếng nhà Đàm Mộng Hoàn, nhà Chu Thị Năm…Đến đấy người giàu, tay buôn, tay chơi, mật thám, trùm bạc, chúa tể đầu trộm đuôi cướp, tiêu tiền ném qua cửa sổ. Cô đầu Ngã Tư Sở, chỉ có nhà hát ở dãy nhà bên đường Tàu Bay, đường Láng và cô đầu Vĩnh hồ, Thái Hà, Vạn Thái, Hăm bốn gian cuối phố Huế, khách đông và tạp nham. Mấy thầy ký sở tư, ông nhà văn, nhà báo đi che tàn, ông buôn nước bọt, ông giáo. Bên Cầu Giấy, ô Kim Mã, ở phủ Hoài, ở Ba La Bông Đỏ, ở Gia Quất, Thượng Cát, nhà hát đón vét khách bên Hà Nội và khách quê, các ông chánh lý, các ông giáo hồ lơ có việc quan, việc thi cử phải về phủ huyện, các thợ mũ, thợ khảm, thợ cửi, các cậu bồi bếp, khách lái gỗ lái dó đường ngược xuôi bè về, lên hát ở bến Chèm.”[10] .

Ông còn cho biết thêm về hoạt động trong nhà hát cô đầu bấy giờ: “Khi tôi vào tuổi thanh niên thì thú chơi này vẫn còn câu hát tiếng đàn có thể như xưa, nhưng rồi sau thêm món đào rượu…Các nhà hát mà thêm đào rượu cũng là do người đi chơi. Khi đó đi chơi nhiều và tạp, không còn thú thanh tao. Trước kia chỉ có khách thạo chơi, bây giờ khách đông mà đủ loại, nhiều người không biết đánh trống chầu. Tôi cũng chưa cầm roi chầu bao giờ, chỉ đi theo hát che tàn. Nhà hát có khách, khép cửa lại, quan viên chẳng trống phách gì, đợi thức nhắm về đánh chén, rượu quay thìa vừa ngả ngốn với đào rượu vừa nghe cô đầu ngâm mấy câu Kiều lẩy, bài sa mạc rồi sai mắc màn đi ngủ”[11].

Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục viết về ả đào như sau: “ ả đào là "bọn ca nhi vũ nữ" được tập nghề ca vũ từ nhỏ, họ sống tại các làng quê, khi đình làng nào có hội hè họp đám thì các ả đào kéo đến cả đám chừng hai mươi đến ba mươi cô để hát phục vụ. Khi hết hội hè thì các cô ả đào về quê cày bừa làm ăn. Ả nào có nhan sắc hoặc hát hay thì ra các phố mở nhà hát chiêu khách. [...].

Các bậc hào hoa văn nhã, lấy cách chơi ả đào làm cách chơi thanh lịch.Hoặc gọi dăm ba ả về nhà hát chơi, hoặc dắt 7, 8 cô dạo thuyền chơi cảnh, hoặc đến chơi tại nhà ả đào. Trong cách chơi cốt nhất là được người tiếng tốt, hát giỏi,, ca đủ giọng, câu thổng, câu miễu, nói, hát xẩm, ngâm thơ, đọc phú , kể chuyện, gửi thư, ca lý,   ru, hãm, hễ điệu nào cũng hát được mà êm tiếng ngọt giọng là hay.

[...] .Trong khi hát, quan viên ai thích nghe hát thì nghe, ai muốn tổ tôm tài bàn thì ả đào ngồi chia bài, ai muốn thuốc phiện thì bắt ả đào ngồi tiêm thuốc […] Hát hỏng chơi bời xong thì đến cuộc rượu […].Quan viên, ả đào mời lẫn nhau. [...]. Có khi quàng vai bá cổ nhau mà mời, hoặc hôn nhau để tỏ lòng yêu mến.Rượu ngà ngà say mới giở đến hát lý hoặc hát xẩm, hoặc bộ, ai muốn nghe điệu nào thì bắt hát điệu ấy. Cuối cùng mỗi ả hãm một vài câu, quan viên ăn cháo là mãn tiệc”.[...]


Trong cách chơi này, có nhiều bậc.Có người bởi tính hào hoa phong nhã mà chơi. Bọn ấy thì lấy tiếng đàn, tiếng hát, câu văn chương, tiếng trống chầu làm vui thú{...} Ngoài giả hang ấy, có kẻ vì đam mê săc dục mà chơi, có kẻ vì đua đả anh em mà chơi, có kẻ vì dởm của mà chơi..[..] Hạng này thì it hiểu được cái thú thanh nhã, chẳng qua vì ưa bề má phấn son môi, lấy cách quàng vai bá cổ,kề đùi kề vế làm vui, lấy lời ong bướm kà lơi, giăng hoa bỡn cợt mà thich [...] . Đó là cách chơi hoang đảng chẳng có lý thú gì chỉ tổ hại của mà thôi. Còn về phần ả đào là bọn đem thanh sắc mà bán cuộc vui cười cho người, cái thói đưa đà, cái giọng ỏn ẻn, cái tình khi mặn khi nhạt, chẳng qua đều vì đồng tiền. Đó là một cái lối riêng của nhà nghề, chẳng nên trách làm chi bọn ấy" [12]


Vậy là cùng với sự xuất hiện của đào rượu, ca quán lúc này đã biến tướng thành nửa ca lâu nửa kỹ viện, khiến cho những cuộc hát không còn là thú chơi thanh tao như xưa, đồng thời chất lượng đào hát cũng như tư cách quan viên đã kém xưa. Nguyễn Đôn Phục nhận xét: “Các cô đào ngày nay cũng có một điều liệt điểm là ít cô biết chữ, càng làm kỹ nữ càng phải giao thiệp nhiều, càng phải tính tình nhiều, càng phải tìm hiểu những chuyện xa gần khóc cười để lấy tài liệu mà tiếp khách, nếu không biết chữ thì lấy gì mà làm câu chuỵên tài hoa, câu chuỵên tình tứ, câu chuyện tri kỷ, câu chuyện non nước, câu chuyện đón gió chờ trăng. Nhưng cũng là tại quan viên ưa câu chuyện tầm thường, không biết ưa câu chuyện lý thú, không biết quý người có tài có tình có học, trọng vật chất không biết trọng tinh thần, đó cũng là một liệt điểm của quan viên trong làng chơi ngày nay”

Chúng ta bỏ qua các đào nương hầu rượu mà nói đến các đào nương tài hoa. Họ đã được các văn nhân, thi sĩ yêu quý vì tài vì sắc. Có các vị danh thần, khoa bảng đã lấy đào nương làm thê thiếp như Nguyễn Công Trứ,  Nguyễn Danh Kế, Nguyễn Hàm Ninh...Và lắm thi sĩ đã si tình các đào nương và làm thơ ca tụng.

Là tri âm tri kỉ của nhau trong thú xướng ca, họ tiềm tàng khả năng phát sinh những "rung động tự nhiên", những "đầu mày cuối mắt", những "gió giăng dan díu" với nhau trong đời thực.
Mà quả thật thì điều đó đã xảy ra không ít lần. Trong cuốn "Đào nương ca" xuất bản ở Hà Nội năm 1932, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc xác nhận: "Không phải gỗ đá gì, các cụ xưa cũng tình chán. Gia dĩ, các cụ lại tự nhận là phong lưu công tử, là văn nhân thi sĩ, đem cái sắc đọ với cái tài, nên các cụ lại càng nồng nàn về tình lắm.


Các cụ cũng gặp gỡ cô đầu, tự tình cùng cô đầu, dan díu với cô đầu, chung tình với cô đầu, gắn bó keo sơn, nặng nhời thề thốt...". Đem những lời trên gắn vào tên tuổi của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ có lẽ là thích hợp hơn cả.


Bản thân Nguyễn Công Trứ cũng chẳng hề che giấu chuyện ấy, ông cho nó là một cái thú: "Thú tiêu sầu rượu rót thơ đề/ Có yến yến hường hường thì mới thú/ Khi đắc ý mày đi mắt lại/ Đủ thiên thiên tập tập thêm nồng/ Nọ phong lưu ai nỡ chối không/ Duyên tri ngộ nên đeo đẳng mãi" (Tài tình).

 Ông còn say sưa luận về chữ tình trong tiếng chát tom tom chát: "Đa tình là dở/ Đã mắc vào đố gỡ cho ra/ Khéo quấy người một cái tinh ma/ Trói buộc kẻ hào hoa biết mấy/ Đã gọi người nằm thiên cổ dậy/ Lại đưa hồn đứng ngũ canh đi/ Nực cười thay lúc phân kì/ Trong chẳng nói xiết bao nhiêu biệt lệ/ Tình huống ấy dẫu bút thần khôn vẽ/ Càng tài tình càng ngốc càng si" (Chữ tình).

Cao Bá Quát cũng vốn đã quen chân tới chốn bình khang và thực tế thì ông là một trong những tác giả quan trọng của thể loại hát nói. Bài "Tự tình" của ông là sự phô lộ công khai nỗi sầu nhớ trong xa cách của kẻ đang yêu, và hẳn là nó được viết ra từ sự nồng nàn gắn kết giữa "thánh Quát" với một đào nương nào đó: "Giai nhân nan tái đắc/ Trót yêu hoa nên dan díu với tình/ Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh/ Rầu rĩ bấy xuân về oanh nhớ/ Phong lưu tài tử đa xuân tứ/ Tràng đoạn Tiêu lang nhất chỉ thư/ Nước sông Tương một dải nông sờ/ Cho kẻ đấy người đây mong mỏi/ Bứt rứt nhẽ trăm đường nghìn nỗi/ Chữ chung tình biết nói cùng ai/ Trót vì gắn bó một hai".

Tuy nhiên, nếu cần tới những địa chỉ thật rõ ràng của mối quan hệ quan viên - đào nương thì chúng ta phải chờ đến Dương Khuê - tác giả mà bấy lâu nay vẫn bị các sách giáo khoa văn học xếp vào dòng "thoát li tiêu cực". Chỉ cần nhìn vào tên các bài hát nói của ông là đủ thấy: "Tặng cô đào Phẩm", "Tặng cô đào Cúc", "Tặng cô đào Ngọ", "Tặng cô đào Cần", "Tặng cô đào goá", "Thăm cô đào ốm"... tất cả đều được viết bằng những lời lẽ rất lơi lả, phong tình.


Ngay ở bài "Gặp đào Hồng đào Tuyết" nổi tiếng của ông, dù tác giả đã trình ra trước thiên hạ cái tình huống trớ trêu: "Ngã lãng du thời quân thượng thiếu/ Quân kim hứa giá ngã thành ông" (nghĩa là: khi ta đang thời phóng túng thì nàng còn nhỏ, nay nàng đến tuổi lấy chồng thì ta đã già), nhưng rồi bậc tài tử nọ vẫn cứ không bớt si mê: "Riêng một thú Thanh sơn đi lại/ Khéo ngây ngây dại dại với tình/ Đàn ai một tiếng dương tranh"!-

Với sự thu hẹp của giáo phường dân gian, lối hát cửa đình dần bị tuồng chèo lấn át, đồng thời do ảnh hưởng lối sống Âu hóa khiến thị hiếu của người Hà Nội đã ít nhiều thay đổi nên sự say mê lối hát ả đào ở Hà nội không còn như trước, và sau cùng là sự phát triển tràn lan của ca trù ca quán với mô hình nửa nhà hát nửa kỹ viện đã là những bước lùi khiến ca trù trượt dần đến chỗ tàn lụi. Nhiều bài hát cổ không còn được hát, những lối hát thời thượng hơn được thêm vào, hát cửa đình chỉ còn là lấy lệ.

Trần Văn Khê trong một bài viết về hát Ả đào cho biết: Những điệu hát phong phú có truyền thống đã lần lần mất đi. Cô đầu ngày nay chỉ biết hát Mưỡu, Hát nói, ngâm Sa mạc, Bồng mạc hay kể chuyện Kiều, hay hát Tỳ bà hành hoặc những loại hát ngang, hát vặt, chớ những điệu xưa như Kiều dương, Bát đoạn cẩm, Hoàng chung, Đại thực thì có mấy người còn nhớ!...”. Sau này lúc chúng tôi ở Bắc Việt, đi nghe hát ả đào ở Khâm Thiên, Vạn Thái thì chỉ được nghe ngâm Sa mạc, Bồng mạc, Hát mưỡu, Hát nói và Hát lý, tức là những điệu ca Huế như Hành vân, Lưu thủy…

 Có người cho rằng chữ Kỹ biến thành Đĩ. Tôi nghĩ rằng không đúng.Ngôn ngữ  có nhiều biến thái. Chẳng hạn:
-Lường gạt: là hai động tác trong việc cân đo ngày xưa nhưng vì nhiều kẻ cân đo gian dối, lường gạt biến nghĩa thành dối trá, gian manh.
-Điếm đàng: Theo Khai Trí Tiến Đưc Điếm là xấu (Điếm nhục)-Điếm là nơi canh gác(Điếm tuần, phu điếm)-Lều, Quán hàng (Tửu điếm) Tiếng gà điếm nguyệt, tiếng chày cầu sương.
Đàng là con đường. Những kẻ lưu manh,  rong chơi la cà đầu đường, quán xá bị gọi là bọn đàng điếm.

ĐĨ là danh từ chỉ con gái như "con đĩ đánh bồng". Nhưng vì nhiều người con gái làm nghề mại dâm (mãi mua, mại bán- nhiều người dùng sai viết là mãi dâm) cho nên từ này chuyển nghĩa "làm gái "là làm điếm. Ở đây chữ "điếm' cũng áp dụng cho hàng gái đứng ở hàng quán, mà nay ta gọi là gái đứng đường, gái gọi (Taxi girl), gái khu đèn đỏ...

Theo Từ Điển Khai Trí Tiến Đưc, Đĩ là danh từ chỉ con gái nhỏ còn cu là chỉ con trai nhỏ (Thằng cu, con đĩ). Nghĩa thứ hai là hàng đàn bà rươc khách làng chơi (Làm đĩ chín phương để một phương lấy chồng- Con sâu bỏ rầu nồi canh, Một người làm đĩ xấu danh đàn bà).
Ở miền Trung (Quảng Bình), người ta đặt tên con mà đứng đầu là loại tự chỉ đực, cái. Trong tập truyện Nụ Hôn Đầu của Nguyễn Quang Lập, ta thấy các nhân vật như Thằng Cu Bọp, Anh cu Bịp.
Còn con gái miền Trung thì mang tên Thị  Mẹt như Mẹt Mầu, Mẹt Chắt...

Theo KTTD, CÁI có nhiều nghĩa:
-Chỉ việc hay vật gì (Cái khó bó cái khôn)
-Chỉ mẹ (Con dại cái mang)
-Chỉ giống cái, đối với đực (Lang lảng như chó cái trốn con)
-Chỉ con gái trẻ (Cái Nụ, Cái Đào)
-Chỉ vật to lớn (Sông cái, cột cái, rễ cái)
 Ở miền Bắc, con gái thì gọi là CÁI.
Trong Đèn Cù của Trần Đĩnh  có Cái Ng học ở Đưc về  (Ch.38)

Tới đây, người viết muốn nói đến các đào nương hầu rượu và các gái lầu xanh. Có ba hạng người phải làm việc "Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh."Hạng thứ nhất là vì hoàn cảnh đau thương, và hạng thứ hai  là kinh doanh, hạng thứ ba là nguồn vui săn đàn ông.
Hạng thứ nhất là Thúy Kiều vì cha bị tên bán tơ vu oan, và quan lại đòi 300 lạng vàng mà nàng phải bán thân. Và người bạn cũ của nhạc sĩ Nguyễn Hiền con nhà quyền quý mà phải lạc bước giang hồ(Giọt lệ đài trang. Ngày xưa ai lá ngọc cành vàng). Sau 1975, biết bao bà, bao cô quyền quý đã tiêu tan sự nghiệp, họ đi về đâu?


Hạng này được các văn nhân,thi sĩ nhìn bằng cặp mắt xót thương.  Kiều được Nguyễn Du  biện hộ:“Như nàng lấy hiếu làm trinh    /  Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”
Xuân Diệu xót xa cho thân phận cô đơn của người kỹ nữ. Ông đã nói đúng tâm trạng  của nàng trong đêm trăng sáng:
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời;
Khách không ở, lòng em cô độc quá.... 

Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo,
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da..(Lời kỹ nữ)



Còn Tản Đà có mẹ và em gái trong chốn Bình Khang, với cái nhìn từ bi của Đức Phật,ông thương xót tất cả chúng sinh  không phân biệt quý tiện, thiện ác :
Người ông lớn, đứa cu ly,
Nhọc mình, nhọc xác cũng vì cái ăn.
Cuộc đời kinh tế khó khăn,
.   ...   ......
Người khiêu vũ, kẻ xướng ca,
Cùng là nghề nghiệp con nhà làm ăn.(
Đời lắm việc.TDVV I,137)

Khắp nhân thế là nơi khổ ải,
Kiếp phù sinh nghĩ lại cũng như ai.
(
GMC, 35.) 
Châu Nam Hải, thuyền chìm sông Thúy Ái,  
Sông Tiền Đường có áy, bến Ô Giang.  
Gẫm nghìn xưa, ai tài hoa, ai tiết liệt, ai đài trang? 
 Cùng một giấc mơ màng trong vũ trụ. (Cánh bèo.TDVV 1, 51.) )
 

Hạng thứ hai là hạng  tự kinh doanh trong kỹ nghệ tình dục. Trong Ký Ưc Vụn, truyện Nhúm lông, Nguyễn Quang Lâp có kể truyện một nữ sinh Quảng Bình lúc học trung học đã biết kinh doanh thân xác.Sau lớn lên, công tác Hà Nội và trở thành tư sản đỏ, giao du đủ thứ cán bộ cao cấp. Đó cũng là trường hơp của Nguyễn Thị Hằng mà  Dương Thu Hương  viết :"Nguyễn Thị Hằng, người nhờ nhan sắc, nhờ ôm ấp kỹ ông Quang, chỉ huy quân khu tả ngạn, được đưa lên thủ đô. Ở thủ đô, sau khi trở thành bồ non của ông Lê Đức Thọ, cô lại được ông Lê khả Phiêu tổng bí thư đảng bổ nhiệm vào chức Bộ trưởng bộ thương binh xã hội. Dân Thanh hoá có câu: “Cô Tuyển vác đạn, con đĩ Hằng lên ngôi ” (Dưong Thu Hương.Giải ảo là thứ quả chín muộn)

Hạng ba là giang hồ không chuyên nghịệp. Hạng này không cần tiền nuôi cha mẹ bệnh, con thơ mà phải bán mình. Họ là thợ săn tài tử đi tìm con mồi làm nguồn lạc thú.Các bà hooàng hậu Trung Quốc mỗi đêm cần một chàng trai mạnh khoẻ phục vụ.


-Thái hậu Triệu Cơ - tư thông với chồng cũ, qua lại với thái giám giả.Triệu Cơ được biết đến với tư cách là một kỹ nữ xinh đẹp tại thành Hàm Đan, nước Triệu được Lã Bất Vi chuộc về làm thiếp. Thời kỳ đó, Từ Sở đang làm con tin tại nước Triệu được Lã Bất Vi cứu giúp và trở thành người thừa tự của An Quốc Quân. Từ Sở có cơ hội gặp Triệu Cơ và mê mẩn vẻ đẹp của Triệu Cơ. Lã Bất Vi đã nhanh chóng "cống" thiếp của mình cho Tử Sở. Sau đó ít lâu, Triệu Cơ sinh hạ Doanh Chính. Nhiều người nghi ngờ rằng Doanh Chính mà sau này là vị Hoàng đế nổi tiếng Tần Thủy Hoàng. Sau này khi Tử Sở lên ngôi vua nước Tần, Triệu Cơ nghiễm nhiên trở thành hoàng hậu.


Sau 3 năm lên ngôi vua, Tử Sở vì bạo bệnh mà chết, Doanh Chính kế nghiệp cha khi mới 13 tuổi, vì thế việc triều chính chủ yếu nhờ vào Lã Bất Vi. Chồng chết trong khi vẫn còn son trẻ, để thỏa mãn cho nhu cầu của mình, Triệu Cơ đã qua lại với Lã Bất Vi.Không thể mãi giấu diếm Doanh Chính khi vị vua trẻ ngày càng trở nên uy quyền cũng như độ tuổi không còn sung sức nên Lã Bất Vi đã nghĩ tới tìm kẻ thế chân cho mình. Hắn đã tìm Lao Ái, một người đàn ông tinh lực dồi dào để cống cho Triệu Cơ với tư cách là một thái giám. Từ đó trở đi, Triệu Cơ và Lao Ái sa vào cuộc tình cuồng loạn và sau đó Thái Hậu nước Tần sinh 2 cậu con trai với tên thái giảm giả này..

-Võ Tắc Thiên - Bà hoàng quyền lực và "sung mãn".Nổi bật nhất trong số đó có cuộc tình của Võ Tắc Thiên với một tiểu hòa thượng khi mới 14 tuổi. Theo nhiều tài liệu ghi chép lại 14 tuổi, Võ Tắc Thiên được đưa vào cung và khiến vua háo sắc Đường Thái Tông ở tuổi ngoại tứ tuần cũng phải mê mẩn. Sau khi vị vua này băng hà, theo lệ thì những phi tần cung nữ cũng phải chết theo. Nhưng với trí thông minh của mình, Võ Tắc Thiên đã xin cắt tóc đi tu để tránh lệ này. Khi đi tu tại một ngôi chùa, Võ Tắc Thiên đã bắt đầu qua lại với 1 chú tiểu hòa thượng tên là Phùng Tiểu Bảo.

Cuộc tình này ít ai biết đến do ngôi chùa ở vị trí khuất lấp nhưng rất nhiều tài liệu cũng ghi lại về chú tiểu đam mê trần tục này. Sau khi hết tang cha, Thái Tử Lý Trị lúc này đã lên ngôi vua đã tới chùa Võ Tắc Thiên tu để gặp lại người đẹp. Những lần gặp gỡ đã khiến Võ Tắc Thiên mang thai con của Lý Trị. Ngay sau đó, Võ Tắc Thiên được triệu hồi vào cung và trở thành Chiêu Nghi. Theo một số tài liệu cho biết, dù sau khi hoàn tục vào cung vua nhưng Võ Tắc Thiên vẫn thường xuyên qua lại với vị hòa thượng này.


Đến khi Võ Tắc Thiên lên ngôi vua, vị hòa thượng đã hoàn tục và đưa vào cung với danh nghĩa là chú họ của bà hoàng "dâm đãng" này. Tuy nhiên, Phùng Tiểu Bảo sau khi đổi tên thành Hứa Hoài Nghĩa lại không chịu yên phận với Võ Tắc Thiên mà còn dây dưa với Thái Bình (con gái của Võ Tắc Thiên với Hoàng đế Lý Trị. Sau khi phát hiện ra vụ việc, Võ Tắc Thiên quyết định giết chết Hứa Hoài Nghĩa và vùi xác đã bị đốt thành tro xuống bùn sâu.

Ngoài họ Phùng, Võ Tắc Thiên còn dâm loạn ăn nằm với quan ngự y Thẩm Nam Liêu, người thường đến cung "massage" cho Hoàng hậu. Ngoài ra còn có vị đạo sĩ tên Minh Sùng Nghiễm, luôn luôn có mặt để thỏa mãn dâm tính của bà. Sau đấy, Võ Tắc Thiên lại dây dưa với "mỹ nam" Thái Bình công chúa cống tiến. Ở độ tuổi không mấy làm trẻ trung, Võ Tắc Thiên vẫn rất sung mãn "mây mưa" cùng chàng trai trẻ Trương Sướng Tôn, vốn là em trai của chồng Thái Bình công chúa.

Trong Thiên Long Bát bộ có chuyện  Trấn Nam Vương Phi Đao Bạch Phượng (vợ của Đoàn Chính Thuần). Đao Bạch Phượng đang đau khổ vì bị Đoàn Chính Thuần phụ bạc bèn trả thù bằng cách qua đêm với  một tên ăn mày mà tên này là Đoàn Diên Khánh, em họ của Đoàn Chính Thuần mà sau là bố của Đoàn Dự.


Đoàn Diên Khánh dù biết đó là một người phụ nữ bị chồng phụ bạc nhưng vẫn tự an ủi mình rằng đấy là Bạch Y Quan Âm hiện ra, sau này mình sẽ có phúc làm vua. Thiết nghĩ cung vua canh gác chặt chẽ, sao bà này đi ra dễ dàng. Có lẽ bà là một cao thủ và đã từng lẻn ra ngoài tìn nguồn vui bất chợt.

Tại Việt Nam cũng có chuyện lạ về  nữ danh ca Ph.H. trong khoảng 1945-1965. Ông Vương Hồng Sển kể rằng bà này có máu văn nghệ cao độ. Trước khi trình diễn trên sân khấu bà phải làm một "phùa" cực mạnh để có hứng mà diễn xuất. Ông là khách quen của bà. Một đêm ông bà đang giường loan chiếu phượng mà ông thì cứ lục đục, bà bèn hỏi:"Ông làm gì mà cứ lục đục không cho tôi ngủ?"
Ông đáp tôi tìm đồng xu rớt đâu đây. Bà bực mình ngồi dậy, rút tờ bạc xăng bật diêm đốt sáng để tìm  mấy đồng bạc cắc cho Vương tiên sinh!

Ngày nay, xã hội Việt Nam trở thành xã hội tư bản cuồng nhiệt và đua nhau hưởng thụ. Một số quý cô, quý bà rất tự do, rất thoải mái. Sẵn tiền trên trời rơi xuống, hoặc tiền cướp nhà cướp đất của dân, hoặc tiền ngoại quốc gửi về, họ ăn chơi thong thả. Cứ tối tối hay thứ bảy chủ nhật, diện quần áo đi karaoké hay đi khiêu vũ. Họ gặp những người đàn ông, rồi đưa ngau vào khách sạn. Vừa thỏa mãn tì vị, vừa có tiền để dành. Nhất cử lưỡng tiện.

Lẽ dĩ nhiên, cuộc đời không có thiên đàng tại thế nhưMarx nghĩ. Hàng ngàn, hàng vạn phụ nữ Việt đã bị đảng Cộng sản  đưa ra nước ngoài trong chính sách buôn người. Một số phải đi trồng cỏ,  một số hành nghề trộm cắp , và một số làm gái điếm tại Đại Hàn, Singapore, Thái Lan...Phần Lớn bọn họ đã đóng tiền cho cộng sản và khi ra nước ngoài, họ bị cảnh sát các quốc gia bắt giam.
_______

CHÚ THÍCH

1] .Đại Việt Sử ký toàn thư: Mùa thu, [10a] tháng 8, định binh làm giáp, mỗi giáp 15 người, dùng một người quản giáp. Lại định các cấp bậc quản giáp (khi ấy có con hát là Đào thị, giỏi nghề hát, thường được ban thưởng. Người thời bấy giờ hâm mộ tiếng hát của Đào thị, phàm các con hát đều gọi là Đào nương).
[2]. Hoàng Đạo Thúy: Phố phường Hà nội xưa. Nxb Văn hóa Thông tin. Hà nội 2000, tr34
[3] Tô Hoài: Chuyện cũ Hà NộiTập II . Sđd, Hát ả đào, tr55 - 56
[4] Nguyễn Xuân Khoát: Vài nét về nền nhạc cổ truyền. Bài viết in trong Hát cửa đình Lỗ Khê. Sở Văn hóa Thông tin –Hội Văn nghệ Hà Nội xuất bản năm 1980, tr12 - 13
[5] Nguyễn Xuân Khoát: Vài nét về nền ca nhạc cổ truyền. Hát cửa đình Lỗ Khê, Sđd, tr11
[6]. Tạp chí Bách khoa số 80 – 81 -82,(Từ ngày 1-5-1960-1-6-1960)
[7].Văn chương trong lối hát ả đào, Ca trù nhìn từ nhiều phía, tr. 80].
[8].Phạm Quỳnh. Như trên
[9]. Nguyễn Mạnh Hồng,Cuộc thưởng ca ở làng hữu Thanh Oai, Nam Phong 8, 125.
[10]. Tô Hoài. Chuyện cũ Hà Nội Tập I. Sđd, Đào hát đào rượu tr 295
[11]. Tô Hoài. Chuyện cũ Hà Nội Tập II, Sđd, Hát ả đào tr55.
[12] Phan Kế Bính. Việt Nam phong tục. Nxb Phong trào văn hóa.Saigon, 1974. 569-572)

No comments: