Sunday, July 16, 2017

NHIỀU TÁC GIẢ * CÁC TỶ PHÚ VIỆT NAM I


 CÁC TỶ PHÚ VIỆT NAM

 A. CÁC TỶ PHÚ  NAM KỲ

Sài Gòn chất chứa trong lòng  biết bao điều kỳ thú. Mỗi địa danh tên đất, tên người có thật nhưng lại được khoác lên đó những huyền thoại hấp dẫn du khách mỗi khi đặt chân lên thành phố này. Từ số báo này, Du lịch lần lượt đăng những điều kỳ thú đó để giúp bạn đọc thêm hiểu về Sài Gòn, xứ sở nắng vàng quanh năm.

Bài 1: Chú Hỏa - người giàu nhất Sài Gòn

Bất cứ người nào từng sống ở Sài Gòn xưa đều ít nhiều biết đến một người Hoa có cái tên ngắn gọn: chú Hỏa. Ông là một cự phú và cũng là người mang nhiều huyền thoại. Theo dân gian vào đầu thế kỷ 20 thì Sài Gòn có 4 người được coi là “đại phú” xếp thứ tự như sau: Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xương, tứ Hỏa. Chú Hỏa được xếp thứ 4. Nhưng cũng theo không ít người Sài Gòn cho rằng chú Hỏa phải xếp thứ nhất mới đúng vì: Những người kia có quyền thế, uy danh như Huyện Sĩ người bỏ tiền xây dựng “Nhà thờ Huyện Sĩ” ở đường Tôn Thất Tùng ngày nay. Còn Nhì Phương là Tổng đốc Đỗ Hữu Phương lừng lẫy với cái danh Việt gian tay sai cho Pháp. Còn tam Xương là ông Bá hộ Xương, ông trùm lúa gạo, công nghệ thời đó.

Chú Hỏa gốc ở Phúc Kiến – Trung Quốc, tổ tiên ông vào miền Nam Việt Nam sau khi người Mãn Châu đánh bại nhà Minh. Tên thật của ông là Hứa Bổn Hòa, về sau ông đổi tên thành Jean Baptisete Hui Bon Hoa là lúc đã giàu có. Ông thành lập công ty bất động sản lớn, sở hữu trên 20.000 căn nhà ở Sài Gòn và nhiều khu nhà lớn ở Sài Gòn – Gia Định còn tồn tại đến ngày nay, đó là: Bảo tàng Mỹ thuật thành phố, Khách sạn Majestic, Bệnh viện Từ Dũ, Trung tâm cấp cứu Sài Gòn, nhiều ngân hàng, trụ sở mua bán ở quận 5 và nhiều công trình khác, góp phần tạo nên diện mạo Sài Gòn nửa đầu thế kỷ 20.


Xung quanh chuyện làm giàu của chú Hỏa có nhiều giai thoại: như do chú Hỏa may mắn mua được gánh đồng nát có lẫn gói vàng lớn; do an táng mộ người cha ngay tại “long mạch”; do bí mật mang được vàng từ Trung Quốc qua,... Tất cả vẫn chỉ là giai thoại, nhưng có một chi tiết mà người đời bỏ quên, đó là sự cần mẫn để làm giàu của chú Hỏa.


Chú Hỏa xuất thân nghèo khó, theo gia đình lưu lạc từ Trung Quốc qua miền Nam Việt Nam từ cuối thế kỷ 19. Lúc trẻ ông làm nghề buôn bán “ve chai”. Với đôi gánh trên vai, ông đi bộ hầu như khắp Sài Gòn lúc bấy giờ để mua bán phế liệu và chỉ sau một thời gian ông đã tích lũy được một số vốn kha khá liền rủ một vài người bạn đứng ra kinh doanh nhà, đất. Do nắm bắt đúng thời cơ nên chỉ trong khoảng 10 năm, ông đã có sổ vốn khá lớn. Vào thời điểm trước thế chiến thế giới thứ nhất, ông đã có ngót nghét 20.000 căn nhà phố ở khắp Sài Gòn – Chợ Lớn - Gia Định và ông đã thành lập công ty “Hui Bon Hoa và các con”.


Nhiều người gần gũi với ông đều ghi nhận: dù giàu có bậc nhất nhì Sài Gòn nhưng chú Hỏa có cách giáo dục con cái, cũng như tổ chức quản lý tài sản có thể nói là khoa học và tiến bộ. Ông có nhiều con, nghe nói tới 10 người, nhưng ai nấy đều được học hành chu đáo, không có ai hư hỏng, bết bát về công danh. Một người từng làm việc trong gia đình chú Hỏa sau này kể rằng: Ngay từ lúc chú Hỏa còn đương thời ông đã cho lập di chúc trong đó phân chia tài sản một cách công bằng và tiến bộ như sau: Tài sản chung dành cho con cháu thừa hưởng ngang nhau, song không ai được tự ý rút số tiền được chia ra để tiêu pha hoang phí, tất cả muốn tiêu xài phải qua một hội đồng ủy thác do chính chú Hỏa ủy nhiệm cho Notaire (chưởng khế) sở tại. Con cái của chú mỗi tháng được hưởng một số tiền nhất định, đủ cho ăn uống và học hành cho tới khi thành thân, lập gia đình. Lúc đó muốn kinh doanh gì thì phải thông qua hội đồng ủy thác, để hội đồng cố vấn và theo dõi việc làm ăn của các thành viên.


Có lẽ do cách quản lý chặt chẽ như vậy nên mãi về sau này trong những năm Sài Gòn còn bị tạm chiếm, các con cháu của Hui Bon Hoa vẫn còn quản lý một khối tài sản khổng lồ. Dấu tích còn lại dễ thấy nhất ở Sài Gòn bây giờ là tòa dinh thự đồ sộ của chú Hỏa nằm ở khu tứ giác Phó Đức Chính – Lê Thị Hồng Gấm, Calmette - Nguyễn Thái Bình. Và mỗi khi đi qua Trung tâm cấp cứu TP. Hồ Chí Minh ở đường Lê Lợi, chắc chắn sẽ nhận ra công trình do chú Hỏa dựng lên để tặng thành phố Sài Gòn ngày ấy.

Bài 2: Chú Quách và “Chợ Lớn Mới”
 - Mặc dù dân gian chưa liệt ông vào một trong tứ đại cự phú những năm đầu thế kỷ 20, nhưng chú Quách (Quách Đàm) cũng có thành tích đáng nể trong giới máu mặt Sài Gòn ngày đó, thành tích khiêm tốn là chú đã để lại ngôi chợ Bình Tây (dân gian vẫn gọi là Chợ Lớn Mới) hoành tráng của Sài Gòn – Chợ Lớn xưa và nay.


Quách Đàm là người Hoa lưu lạc vào Việt Nam cũng vào giai đoạn của chú Hỏa, chú Hỷ và cũng rất nghèo. Khởi thủy chú Quách cũng toòng teng đôi quang gánh đi khắp hang cùng ngõ hẻm khu vực Chợ Lớn để mua bán “ve chai”. Chú không nhà không cửa, người thân thích, cứ đi mua bán cả ngày, tối về lại kiếm mái hiên trong khu phố Chợ Lớn cũ (khu vực bưu điện Chợ Lớn, đầu đường Châu Văn Liêm hiện nay) để ngủ. Tuy nghèo khổ cơ cực như vậy nhưng chú Quách không bỏ ý định làm giàu. Và cũng chỉ một thời gian buôn bán ve chai, người dân Chợ Lớn đã thấy chú Quách có chút vốn liếng, nhưng vẫn chưa có nhà cửa. Có ít tiền chú bỏ nghề buôn bán ve chai, tập trung đi mua da trâu, vi cá bán lại, mặt hàng này khi đó chủ yếu bán cho nước ngoài.


Sinh kế vất vả như vậy, nhưng chú Quách còn luôn bị bọn đạo chích rình rập chôm chỉa, nhiều khi cụt cả vốn, song chú Quách không hề nhụt chí làm giàu và chỉ một thời gian sau chú lại tích cóp được một số vốn kha khá, có được số tiền tương đối chú Quách đã mướn được một căn nhà phố ở khu vực chợ Kim Biên ngày nay (thời đó toàn bộ khu vực này còn là một con rạch chảy ra kênh Tàu hủ). Lợi dụng địa thế ngôi nhà ở ngay bờ kênh, chú Quách chuyển qua kinh doanh nông sản, thực phẩm, chủ yếu là thu mua lúa gạo từ các tỉnh miền Tây mang lên.

Ban đầu buôn nhỏ, sau dần phát triển ngày một bề thế trở thành nhà thầu cung cấp lúa gạo lớn nhất nhì Sài Gòn - Chợ Lớn. Hầu như những chành lúa gạo lớn dọc bến Bình Đông, Lê Quang Liêm là của Quách Đàm. Trong kinh doanh chú Quách khôn khéo tránh va chạm quyền lợi trực tiếp, hoặc đối đầu với các thế lực khác, nhưng luôn làm chủ tình hình vượt lên chính các đối thủ nên chẳng mấy chốc nhờ tài ngoại giao chú đã được “nhà nước bảo hộ” dành cho đặc quyền mua, xuất khẩu lúa gạo.

 Khi đã có đặc quyền rồi, chú Quách phát huy lợi thế và trở thành một trùm buôn bán lúa gạo giàu có. Có tiền chú Quách tính đến việc làm cái gì đó cho xôm trò, rồi chú cũng thực hiện được ý đó. Đó là vào khoảng năm 1920 chính quyền thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn nhận thấy ngôi Chợ Lớn cũ nằm ở chân cầu Chà Và quá cũ và chật chội, không đủ sức đáp ứng phát triển thương mại của cả một vùng nên muốn dời địa điểm. Chớp thời cơ đó Quách Đàm xin được hiến tặng một mảnh đất đủ để xây chợ lớn bề thế và còn hứa xây tặng luôn thành phố ngôi chợ này nhưng với điều kiện: Thành phố phải cho ông được cất hai dãy phố lầu cặp theo hai hông chợ và đặt ngay cửa chợ một bức tượng đồng đúc hình Quách Đàm. Điều kiện đó của chú Quách được chính quyền chấp nhận và ngôi chợ, cũng như dãy phố chỉ xây trong 2 năm là khánh thành và được đặt tên là chợ Bình Tây nhưng dân gian vẫn quen gọi là Chợ Lớn Mới.


              

                            Chợ Lớn Mới ngày xưa

Từ lúc xây xong chợ, công việc làm ăn của Quách Đàm ngày càng khấm khá, cùng với những xảo thuật kinh doanh chẳng mấy lúc đã đưa chú Quách nghèo hèn trở thành cự phú đất Sài thành. Có chuyện kể rằng: có thời kỳ trong nước, lúa gạo được mùa ê hề bán không ai mua, thế nhưng họ Quách đã biết biến cái không hên của nông dân thành cái hên cho mình. Quách Đàm tung tiền ra mua hết số lúa gạo ứ đọng đem về chất vào kho, rồi nhờ một người quen ở Singapore liên tục điện tín về Sài Gòn đặt mua lúa gạo với giá cao không thể ngờ. Tin đó được truyền ra ngoài, lập tức nhiều người đổ xô đi mua lúa gạo, dĩ nhiên là cao chưa từng thấy. Mua và đội giá gạo lên, cho tới lúc mọi người nhận ra bị lừa thì họ Quách đã ẵm gọn một số tiền kha khá từ buôn lúa gạo.

Chợ Bình Tây ngày nay

.

              

                         Chợ Bình Tây ngày nay


Buôn bán có nhiều mánh lới và biết tận dụng thời cơ, nên Quách Đàm phất lên nhanh chóng, ông ta thường nói với bạn bè rằng: Nhờ tôi mượn thầy địa lý coi hướng dựng nhà trên long mạch và đặt tên công ty là THÔNG HIỆP nên tôi đã giàu nhanh là vậy. Có người hỏi THÔNG HIỆP là gì? Quách Đàm giải thích: THÔNG là thông thương sơn hải (bán buôn khắp chốn), còn HIỆP là Hiệp quán càn khôn (thu tóm cả đất trời). Lối giải thích có ý chủ quan của Quách Đàm nhưng thực tế thì ông là người đi lên từ đôi tay trắng bằng sức lao động cần mẫn, kiên trì mà trở nên giàu có, ông hơn thiên hạ có chăng chỉ là một chút xảo thuật kinh doanh, còn nhìn ra ông cũng như mọi người bình thường không có gì khác biệt bí hiểm cả...


Chú Quách hôm nay không còn nữa, chợ Bình Tây do chú xây dựng vẫn còn, khuôn viên nhỏ trong lòng chợ vẫn còn tượng đồng của chú và thường ngày nơi đây vẫn nghi ngút khói hương của thương nhân mỗi sáng đến để cầu xin chú Quách phù hộ cho họ trong ngày buôn may bán đắt.
Thượng Hồng

BÀI III. TRƯƠNG VĂN BỀN VÀ XÀ PHÒNG CÔ BA


Cách đây ngót một thế kỷ, người dân Sài Gòn cũng như trên cả nước, đều biết đến xà bông hiệu Cô Ba (loại xà bông thơm, dựng để tắm) hay xà bông 72 phần dầu (loại xà bông giặt).
Thời đó chưa có bột giặt, cho nên mọi người đều chỉ dùng xà bông giặt dạng cục (còn gọi là xà bông đá) cho nên hễ nói đến xà bông, thì ai cũng nhớ đến thứ xà bông có ghi dòng chữ 72 phần dầu. Xà bông thơm thì hầu như chưa có các hiệu nước ngoài phong phú như sau này, do đó ai cũng biết loại xà bông hiệu Cô Ba. Tất cả những nhãn hiệu này đều cùng một xuất xứ, của một người chủ, đó là Trương Văn Bền, một kỹ nghệ gia Việt Nam đầu tiên sản xuất hàng tiêu dùng theo công nghệ mới. Thời ấy, nền kỹ nghệ nước nhà còn ở dạng phôi phai, vậy mà ông Trương Văn Bền đã dám đứng ra thành lập một công ty chuyên sản xuất chất tẩy rửa đầu tiên ở Việt Nam, đặt tên là Công ty “Trương Văn Bền và các con”. Xà bông được sản xuất từ dầu dừa, soude và một vài phụ gia khác, bởi vùng lục tỉnh (đồng bằng sông Cửu Long) có nhiều dừa, thừa sức cung cấp nguyên liệu cho việc nấu xà bông. Có lẽ ông Bền đã nghĩ đến điều đó trước khi dựng lên nhà máy sản xuất chất tẩy rửa.

Buổi đầu có nhiều người hoài nghi về sự thành công của công ty Trương Văn Bền, bởi họ nghĩ rằng, với trình độ kỹ thuật học lỏm, máy móc thô sơ, thì làm sao một người Việt Nam có thể cạnh tranh nổi với người Pháp hoặc người Hoa nhiều thế lực, nhiều tiền của? Ngay những thân nhân của ông Bên lúc ấy cũng khuyên ông không nên phiêu lưu vào ngành đó, họ sợ ông tiêu phí hết những đồng vốn ít ỏi lúc ban đầu. Nhưng mọi lời can ngăn hầu như không làm nao núng con người có đầu óc cấp tiến, thích tự lập và đương đầu với nền công nghệ mạnh gấp nhiều lần của ngoại bang lúc ấy.
Ông Trương Văn Bền đã từng sống ở PhnomPenh (Campuchia), từng đi đây đó một số nơi ở ngoại quốc, nhìn thấy sự phát triển công nghiệp ở các nước, nên hơn ai hết, ông hiểu rằng, nếu quyết tâm thì không một trở lực nào có thể ngăn cản được con đường phát triển công nghệ. Ông Bền đã biết bắt đúng mạch, đánh đúng thị hiếu người tiêu dùng bằng một mặt hàng thiết yếu đó là chất giặt, tẩy. Cho tới lúc ấy (các thập niên đầu thế kỷ 20), thị trường chất tẩy rửa hầu như mở ngỏ cho các mặt hàng của nước ngoài, chủ yếu là Pháp, vừa ít vừa đắt, cung chưa đáp ứng được cầu.

Công ty “Trương Văn Bền và các con ” đã đáp ứng yêu cầu đó một cách đúng đắn. Chỉ một năm sau ngày ra đời, mặt hàng xà bông 72 phần dầu của ông Trương Văn Bền đã gần như hạ gục các sản phẩm cùng loại của nước ngoài, do giá rẻ, hợp thị hiếu người tiêu dùng và chất lượng cao.

Ngay lúc thành lập cho đến mãi sau này (gần ngót một thế kỷ), trụ sở của Công ty Trương Văn Bền vẫn ở tại đường Kim Biên (bên hông chợ Kim Biên ngày nay). Sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, cung cấp cho toàn quốc, có thời xuất đi toàn Đông Dương. Nơi nào xà bông Trương Văn Bền xuất hiện cũng được hoan nghênh.

Thành công với mặt hàng xà bông đá (xà bông giặt) rồi, ông Trương Văn Bền nghĩ tới bước thứ hai, mặt hàng cao cấp hơn – xà bông thơm. Và sản phẩm xà bông Cô Ba ra đời. Những người lớn tuổi vẫn còn nhớ ảnh bán thân của một cô gái Việt Nam (trang phục phụ nữ Nam Bộ) với áo dài, đầu chải rẽ ngôi, tóc búi, đeo kiềnh vàng. Chân dung đó gọi là Cô Ba và mặc nhiên sản phẩm được gọi là xà bông Cô Ba, nhập tâm từ người bình dân cho tới giới thượng lưu. Lại một lần nữa, ông Trương Văn Bền đã thành công lớn. Xà bông Cô Ba là sản phẩm duy nhất đã đương đầu ngang ngửa với nhãn hiệu xà bông Cadeau danh tiếng của Pháp.

Không phải ngẫu nhiên mà ông Trương Văn Bền chọn biểu tượng hình cô gái gọi là Cô Ba đó, cô gái đoạt danh hiệu hoa khôi của cuộc thi hoa hậu đầu tiên ở Sài Gòn vào thập niên 30. Cô vốn là con một ông thông phán người Sài Gòn, nghe nói có sắc đẹp thuần túy Việt Nam, đã vượt qua được hàng trăm cô gái khác đến từ nhiều nơi, để đăng quang tại vườn Ông Thượng (Công viên Văn hóa TP. Hồ Chí Minh ngày nay). Sắc đẹp của cô đã làm cho những người Pháp phải trầm trồ. Họ ngỏ lời mời cô sang Pháp mặc đồ đầm (âu phục) và dự thi hoa hậu thế giới. Nhưng cô hoa hậu từ chối, tuyên bố chỉ thích quốc phục (áo dài) và chỉ muốn là hoa hậu của Sài Gòn mà thôi!

Ông Trương Văn Bền cách đây hơn nửa thế kỷ đã chứng minh rằng, hàng nội địa không hề thua kém hàng ngoại!

Thượng Hồng
 

Bài 4: Trở thành tỷ phú từ người rửa chén

Sinh ra và lớn lên ở một tỉnh miền Trung, vào những năm trước chiến tranh thế giới thứ 2, NĐQ đã không chịu sống hẩm hiu cùng quê nghèo của mình, đã âm thầm leo lên tàu hỏa xuôi vào Sài Gòn, nơi cậu ta lần đầu tiên đặt chân đến. >Không tiền, không thân nhân, vừa xuống xe lửa ở ga Sài Gòn, NĐQ đã vội làm một cuộc cuốc bộ ra khu vực trung tâm thành phố, nơi có các phố Catinat, Chanrner và Bonard (Đồng Khởi, Nguyễn Huệ và Lê Lợi ngày nay). Đi một lượt qua các phố phường hoa lệ, cuối cùng cậu ta dừng lại trước một nhà hàng – khách sạn sang trọng nhất thời ấy, đó là Hotel Continental.
Ngang nhiên bước vào một nhà hàng cực kỳ sang trọng, mà ngay như dân có tiền ở Sài Gòn cũng chưa chắc đã dám mạnh dạn như vậy, kéo ghế ngồi xuống một cách đường hoàng, NĐQ không thèm nhìn ai, cậu chờ... Bồi nhà hàng loại quý tộc này xưa nay chỉ quen tiếp những khách sang trọng, nay thấy có một cậu ăn mặc tuy sạch sẽ, nhưng quá đơn giản, đượm nét tỉnh lẻ nên trịch thượng hỏi:


- Anh cần gì?

Q. nhìn vào bảng thực đơn bằng tiếng Pháp, cậu gọi một món ăn kèm theo chai rượu khai vị, rất đúng giọng Pháp, lại chững chạc, trước sự ngỡ ngàng của các phục vụ viên. Họ ngần ngừ, nhưng cuối cùng cũng phải bán hàng. Q. ăn uống xong, đòi gặp chef d’hotel (người quản lý khách sạn). Một tay người Pháp tới, anh ta tỏ vẻ hoài nghi, hơi coi thường và lại càng bực dọc hơn khi nghe Q. yêu cầu cho gặp monsieur directeur (giám đốc). Hỏi chuyện gì, Q. đáp thẳng:
- Không giấu ông, tôi thật không có tiền trả bữa ăn này. Bây giờ đã lỡ ăn, tôi muốn gặp ngài giám đốc để xin thương lượng. Tôi nói rõ, tôi chỉ tạm thời thiếu, chứ không ăn quịt.
Chef d’hotel và cả ê – kíp phục vụ đều không ngớt lời thóa mạ, đòi báo cảnh sát, nhưng Q. vẫn bình tĩnh, xin được gặp chủ nhà hàng. Cũng may, vừa lúc ấy lão chủ người Pháp trờ tới, ông ta nghe được những câu đối đáp bằng tiếp Pháp của Q. nên hơi tò mò, cho mời Q. vào phòng gặp riêng. Q. thưa chuyện:
- Thú thật với ông, tôi là một người ở tỉnh xa tới, hết tiền, lại đang đói, bởi chưa tìm ra việc làm, cho nên tôi đánh bạo ăn một bữa cơm của nhà hàng ông, nhưng không ăn quịt. Tôi xin được làm bất cứ công việc gì ở đây, từ quét dọn, bưng bê, chà, rửa toilette cho đến rửa chén bát, miễn là giúp tôi có thể trả lại tiền bữa cơm hôm nay.
Người chủ Tây không hài lòng lắm, nhưng trước thái độ khá thành khẩn và lễ độ, cộng với những câu cú tiếng Pháp khá chuẩn của Q., cuối cùng ông ta cũng bằng lòng bố trí cho Q. chỗ làm còn đang thiếu là rửa chén ở nhà bếp. Cậu ta chăm chỉ làm việc và hiệu suất cao. Đúng một tuần lễ, khi được gọi lên để lĩnh lương, NĐQ đã lễ phép thưa với chủ xin nghỉ việc.

- Tiền công tôi làm so với tiền bữa ăn hôm trước đã đủ chưa?
- Tất nhiên là còn thừa tiền.
Lão chủ Tây cố giữ cách nào Q. cũng từ chối, anh ta nói:
- Xin cảm ơn ông về lòng hào hiệp của ông đã dành cho tôi. Tuy nhiên, tôi có cái mộng riêng của mình, nên không thể tiếp tục ở đây giúp việc được.
Trước khi chia tay, người chủ Tây còn hỏi:
Anh có thể cho biết giấc mộng mà anh đang ấp ủ là gì không?
Q. úp mở đáp:
- Làm chủ. Làm một nhà đại doanh nghiệp.
Câu trả lời của Q. lúc đó có thể đã làm trò cười cho người chủ Tây.
Bẵng đi một thời gian rất lâu, trong lúc ở nhà hàng Contiental hầu như chẳng ai còn nhớ gì đến cậu trai ăn nợ ngày nào thì thật bất ngờ, vào một ngày cuối năm 1949, tức là 15 năm sau, có một “ông chủ” đi xe Traction bóng loáng, bước vào khách sạn. Ông ta đặt một bàn sang trọng nhất trong nhà hàng và được gặp chủ nhân.
gười Pháp năm xưa vẫn còn đó. Khách lên tiếng:
- Ông chủ chắc không còn nhớ tôi, người năm xưa ăn thiếu ông một bữa cơm, phải rửa chén để trừ?

- Tôi đã nhớ ra ông. Rất hân hạnh.
Cũng nhờ có bằng tiểu học, lại nói lưu loát tiếp Pháp, Q. đã xin làm thư ký một đồn điền cao su, sau dần dần được cất nhắc lên làm cai thợ. Và cái đích cuối cùng Q. đã đạt được: Làm chủ. Do suốt trong thời gian dài làm việc, Q. không nhận hết tiền lương, chỉ lấy đủ tiền vặt, còn bao nhiêu cậu gởi lại chủ: tích luỹ dần, đến lúc đủ tiền mua một ít cổ phần của công ty, rồi sau đó một cơ may đến, khi chủ Tây cần bán bớt một phần công ty, Q. đã được mua trả góp.
Công ty nhỏ, lại đang hồi cây cao su bị thoái hóa, nhưng về tay Q. thì chỉ một thời gian ngắn đã phát triển trở lại. Trong vòng 5 năm, công ty cao su do Q. làm chủ có thể sánh ngang với một số công ty bậc trung. Khi về thăm lại ông chủ nhà hàng Contiental là lúc Q. đã trở thành “triệu phú”, địa vị trên thương trường đã được nhiều người nể nang.
NĐQ tậu một ngôi nhà lớn ở đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng ngày nay), lọt vào danh sách 20 người giàu nhất Sài Gòn thời ấy.
Vào giữa thập niên 60, tỷ phú NĐQ đã chính thức bị xem là phá sản. Ngôi nhà ở đường Hai Bà Trưng về tay chủ khác. Q. lặn mất vào bóng tối.

Thượng Hồng
   

Bài 5: Nguyễn Tấn Đời và vụ sụp đổ Thần Tài Tín Nghĩa 

- Những năm đầu của thập niên 70, khi cường độ cuộc chiến tranh đã đến hồi khốc liệt thì cũng là thời điểm cực thịnh của hệ thống ngân hàng tư nhân ở Sài Gòn, đứng đầu là Tín Nghĩa ngân hàng (TNNH), dân gian gọi là ngân hàng Ông Thần Tài của Nguyễn Tấn Đời.

TNNH có hàng trăm chi nhánh trên toàn miền Nam, hầu như chiếm lĩnh toàn bộ các dịch vụ tiền gửi và cho vay và những công trình lớn được đầu tư bởi TNNH cũng mọc lên dày đặc như khách sạn Président (Trần Hưng Đạo, Q.5), bệnh viện tư loại lớn nhất nhì thành phố (đường Trần Hưng Đạo, Q.5), một hãng gạch bông có uy tín, một ngôi nhà thủy tạ (gần cầu Bình Lợi) thường được gọi là “nhà mát ” của Nguyễn Tấn Đời và một số công trình khác nữa.


Từ giữa thập niên 60 về trước, ở Sài Gòn chỉ những người trong giới ngân hàng là biết đến tên ông, còn người dân thì hoàn toàn xa lạ. Tuy nhiên từ năm 67, hầu như ai cũng nghe nhắc đến tên con người có gốc gác từ Rạch Giá và Long Xuyên (Kiên Giang, An Giang ngày nay) này. Ông Nguyễn Tấn Đời vốn là một nhân viên của Ngân hàng Việt Nam thương tín (Ngân hàng nhà nước thời đó), leo lên được chức trưởng phòng. Sự nghiệp công danh đang hồi hanh thông, bởi ban lãnh đạo ngân hàng đang có ý tin dùng và cất nhắc ông lên cao nữa... Bỗng một hôm, vào giữa năm 1966, ông Đời đột ngột xin nghỉ việc. Tại sao? đó là câu hỏi đầy ngạc nhiên của nhiều người, và chỉ được trả lời sau 6 tháng, khi có tin chính thức về việc ông Nguyễn Tấn Đời thành lập ngân hàng Tín Nghĩa.


Chỉ bốn năm sau, vào năm 1971, TNNH hầu như trùm thiên hạ, lấn lướt hẳn các ngân hàng khác, kể cả Ngân hàng Việt Nam Thương Tín. Biểu tượng ông thần tài với xâu tiền trong tay, hầu như quen thuộc với mọi người khắp nơi nhất là dân nghèo sở hữu một món tiền nho nhỏ đều có thể có cuốn sổ tiết kiệm “Thần tài”. Nhưng, đùng một cái, tỷ phú Nguyễn Tấn Đời bị bắt! TNNH bị sụp đổ.


Chuyện gì đã xảy ra cho nhà tỷ phú tiếng tăm này? Nếu theo tin tức đăng tải công khai trên các báo xuất bản tại Sài Gòn vào thời điểm đó, Nguyễn Tấn Đời đã phạm vào các tội làm TNNH mất cân đối thu chi và không còn khả năng chi trả cho khách hàng; cá nhân ông Đời đã vi phạm việc huy động vốn và đầu tư, kinh doanh... Nhưng theo dư luận bên ngoài, kể cả của những người am tường nghiệp vụ ngân hàng, thì ông Nguyễn Tấn Đời đã bị các đối thủ “chơi” một vố thẳng, hết đường chống đỡ. Đó là các tập đoàn tài phiệt đang cạnh tranh với ông, họ thấy cái thế của ông trong hệ thống ngân hàng quá lớn (theo con số được báo chí công bố lúc đó, thì tổng số tiền của TNNH lên đến 22 tỷ đồng – số tiền này lúc đó rất lớn – gần bằng tổng số tiền của tất cả các ngân hàng tư nhân gộp lại) và có khả năng ông ta sẽ bỏ sang địa hạt chính trị. Một câu hỏi khác đã từng được dư luận nêu lên: phải chăng ông Nguyễn Tấn Đời đã bị thế lực của các tướng lĩnh trong quân đội Sài Gòn ra tay triệt hạ? Bởi cạnh tranh với TNNH còn có Kỹ Thương Ngân Hàng – một ngân hàng quân đội – mà đa số vốn là của các tướng lĩnh chóp bu trong quân đội Sài Gòn, trong đó có Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm...

48 giờ đồng hồ sau khi chính quyền Sài Gòn ra lệnh phong tỏa tất cả các TNNH, ông Nguyễn Tấn Đời đã bị bắt tại nhà một người cháu ở đường Phan Liêm. Cuộc thẩm vấn ông Đời diễn ra choáng váng, gần như đã nói ở trên. Ông Nguyễn Tấn Đời bị tống giam và giam  ở khám Chí Hòa, như một tội nhân đặc biệt.
Thượng Hồng
 

Bài 7: Thợ sửa xe trở thành chủ rạp hát
- Ngày nay, khi đi ngang qua đường Trần Hưng Đạo, Q.1, Saigon, người ta dễ dàng nhìn thấy một rạp hát bề thế, mang tên Hưng Đạo, nhưng có lẽ ít người biết rõ quá trình hình thành của nó. Vào khoảng thời gian bắt đầu nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2, Sài Gòn vẫn còn khá lạc hậu, với phương tiện giao thông cá nhân chủ yếu là xe đạp. Tại góc giao thông lộ Générsle Marchand và Galliéni (Nguyễn Cư Trinh và Trần Hưng Đạo ngày nay) thường ngày vẫn có một cậu con trai khoảng 18 - 20 tuổi ngồi cặm cụi sửa vá xe đạp bên vệ đường. Thời đó người dân chính gốc thành phố còn thất nghiệp dài dài, nói chi đến những dân nhập cư từ tỉnh thành xa, do đó người ta xem việc một thanh niên sửa xe như vậy là chuyện bình thường. hững người lui tới con đường đó, đặc biệt là những khách hàng từng đôi ba lần xe đến sửa xe ấy là một chàng trai hiền hậu, dễ thương, lại chăm chỉ, cẩn thận. Xe hư đâu sửa đó, đảm bảo chất lượng, tiền công vừa phải, đôi khi với những khách hàng già cậu ta còn tự nguyện sửa miễn phí “để làm quen”. Lâu dần, khách hàng càng lúc càng đông, thậm chí có người bị hư xe ở xa cũng ráng dẫn bộ tới, để cậu sửa. Chàng trai ấy tên là Niệm. 


Một năm sau ngày ra nghề, người ta thấy chỗ bức tường phía sau lưng anh thợ sửa xe ngồi, có treo lủng lẳng vài chiếc vỏ, ruột xe đạp, cùng với một ít những phụ tùng khác. Anh giải thích “Để khi nào khách có cần thì mình thay cho tiện”. Thời đó không có chợ phụ tùng hoặc các loại phụ tùng xe được bày bán khắp nơi như ngày nay, cho nên việc phục vụ linh hoạt của cậu Niệm được bà con ủng hộ. Hai năm sau, khách hàng nhìn thấy có thêm một hai chiếc xe đạp lắp ráp hoàn chỉnh dựng ở đó. Cậu Niệm lại giới thiệu “Nhân tiện ráp sẵn, nếu bà con nào có cần thì mình nhường lại, giá phải chăng”. Tất nhiên, bởi sẵn có uy tín hàng của cậu ta ráp đến đâu bán được đến đó.


Sau khi Nhật đảo chính Pháp, trong lúc Sài Gòn đang hoảng loạn vì những cuộc dội bom của phi cơ đồng minh xuống thành phố, dân chúng lo chạy tránh bom, thì góc đường đó, chàng trai sửa xe vẫn cứ bám trụ với “cơ ngơi của mình, gồm 4 chiếc xe đạp vừa mới ráp, cộng với một thùng phụ tùng mới. Với cậu giữa cái chết do bom đạm và chết đói, cậu ta sợ chết đói hơn, vả lại trong đầu cậu trai nghèo này, chừng như còn nuôi một hoài bão...


Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, cũng là lúc người ta ngạc nhiên khi thấy chàng trai đó đứng ra thuê hẳn một góc nhà (chỗ căn phố mà suốt mấy năm qua cậu ta vẫn ngồi phía trước hiên nhà để hành nghề) và khai trương bảng hiệu: “Nguyễn Thành Niệm, sửa xe và bán phụ tùng xe đạp”. Thì ra, do khéo dành dụm trong nhiều năm qua, đến lúc đó cậu ta đã có được số vốn nho nhỏ, đủ để “dựng tiệm”. Cậu tâm sự với những người quen biết “Cái nghèo nó làm cho mình phải bỏ dở chuyện học hành, mà không học thì khó bề lập thân. Bây giờ chỉ có một cách là phải chí thú làm ăn phải đi lên con đường thương mại....”. 5 năm sau, đầu thập niên 50, cả một dãy phố từ đầu đường Nguyễn Cư Trinh chạy dọc theo đường Trần Hưng Đạo, đến gần đường hẻm Nguyễn Văn Dụng, đã quy về một mối, do một người làm chủ: Nguyễn Thành Niệm!


Cậu ta trúng nghề phụ tùng xe đạp là chủ yếu, nhưng cũng phải kể đến yếu tố cần kiệm và óc nhạy bén với thị trường. Chỉ trong vòng 10 năm, từ một chàng sửa xe đạp tầm thường, Nguyễn Thành Niệm tậu được đến gần 30 căn phố mặt tiền đường Galliéni (Trần Hưng Đaọ). Có người nói, sở dĩ Nguyễn Thành Niệm mua được nhiều nhà như thế là bởi vì thời đó mọi người vừa trải qua một giai đoạn khủng hoảng do cuộc chiến tranh, bị lung lạc tinh thần, muốn bán rẻ nhà cửa để hồi hương lập nghiệp, nên giá nhà rẻ, và Niệm đã chộp đúng thời cơ.


Con đường “lập thân” của Nguyễn Thành Niệm đã mở rộng. Anh ta chuyển sang kinh đoanh đa dạng hơn, gồm cả phụ tùng xe gắn máy, xe hơi, máy móc cơ giới nói chung. Và thế là một công ty nhập khẩu phụ tùng xe, máy được hình thành. Công ty Indo - Comptoir của Nguyễn Thành Niệm cuối thập niên 50 là một trong 10 công ty xuất nhập khẩu phụ tùng xe cơ giới lớn nhất Sài Gòn có chi nhánh ở khắp miền Nam, vươn tới Nam Vang, Vientian, Pakse (Lào). Nguyễn Thành Niệm trở thành một tỷ phú.

Đầu thập niên 60, tại dãy phố góc đường Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo, cạnh trụ sở của công ty Nguyễn Thành Niệm, người ta thấy mọc lên một toà nhà đồ sộ với chữ hiệu trên mặt tiền rất nổi: Rạp hát Hưng Đạo. Thì ra, đúng nơi mấy chục năm trước Niệm ngồi sửa se đạp, giờ đã được dựng lên một rạp hát lớn nhất thành phố, lại do chính ông làm chủ. Có lần Nguyễn Thành Niệm đã nói với bạn bè “Cuộc đời cũng giống như một sân khấu, mình cố làm sao cho sân khấu lộng lẫy thì càng hay...”
Thượng Hồng Bài 8: Lý Long Thân và cơn sốt chim cút Chợ Bến Thành năm 1925 - Ai đã từng sống ở Sài Gòn từ đầu thập niên 60 đến 1975, đều ít nhiều đã nghe tiếng Lý Long Thân, một doanh nghiệp giàu có và thế lực “nghiêng trời” trên một vùng rộng lớn từ Chợ Lớn đến lục tỉnh và hầu như toàn bộ miền Nam lúc đó.

Lý Long Thân là ai, làm gì mà giàu có và thế lực như vậy?Tìm hiểu để có những thông tin về Lý Long Thân quả là khó vì ông ta cũng giống như những người giàu có ở Sài Gòn – Chợ Lớn lúc đó, tất cả nhuốm một màu bí ẩn khó hiểu và như dân trong vùng thường nói, họ như trên trời rơi xuống. Bởi họ sống khá bình dị và có phần bí ẩn, hoạt động thương trường kín đáo, chặt chẽ khôn lường. Có thể thấy nếu kể về chuyện làm ăn của Lý Long Thân thì có rất nhiều, nhưng có câu chuyện về “sốt chim cút” được giới máu mặt Sài Gòn những ngày đầu thập niên 70 kể như một chiến tích thương trường của Lý Long Thân.



Ban đầu từ nguồn tin “chim cút đẻ ra vàng”, lúc đó có nhiều người cười mũi, vì mỗi ngày ở Sài Gòn có hàng tỷ thứ tin thất thiệt, mức độ chính xác nhiều khi là số không, nên chẳng ai dại gì mà đi tin ba cái vụ tầm bậy đó. Nhưng sự đời vốn không đơn giản, cái tin vịt kia bỗng chốc có tác dụng khi có vài kẻ thập thò hết ngõ này ngách nọ trên khắp vùng Sài Gòn – Chợ Lớn rỉ tai đám người muốn được giàu có, mua ngay những cặp chim cút của ai đó đang đẻ trứng vàng. Thật hư ra sao chẳng biết nữa, chỉ biết rằng một đồn mười, mười đồn trăm… làm cho thị trường chim cút tăng giá vùn vụt. Và từng phút, từng giờ, ở đầu này, đầu nọ của thành phố Sài Gòn, đi đâu người ta cũng bàn tán chỉ một đề tài: Chim cút. 
Ban đầu chim cút đẻ được giá, sau đó đến cút đực, cút con, ngay cả trứng cút cũng leo giá tận trời… Cơn sốt chim cút ngày đó không chỉ là đối với dân muốn làm giàu từ nuôi cút, mà ngay đến tiệm ăn, đại lý phân phối trứng, thịt cút cũng rầm rộ ăn theo cơn sốt chim cút. Có người ví Sài Gòn lúc đó nóng như chảo rang bởi cơn sốt cút. Cơn sốt như nạn “đại hồng thủy” lần đầu tiên xảy ra ở Sài Gòn và có thể nói, là đầu tiên xảy ra trên thế giới. Cơn sốt cút được các hãng truyền thông vỉa hè truyền đi những thông tin như: “ông A, nhờ nuôi 5 cặp chim cút đẻ mà trúng lớn, mua được căn nhà 4 tầng” đã làm thiên hạ cứ sốt vó lên, bỏ cả đống tiền ra để rước về cả ngàn con chim “thần” với giấc mộng sẽ làm giàu... Và ước mơ làm giàu đó được trả lời là chỉ 2 tuần, 1 ngàn con chim cút mua bằng một cây vàng đó biến thành ngàn con chim cút rô-ti, mồi nhậu cho mấy quán cóc vỉa hè.


Thì ra chuyện “con chim đẻ ra vàng” chỉ là một trò lừa của bọn bịp bợm. Chúng đó tung ra thủ đoạn đánh vào tâm lý thích làm giàu đơn giản của số đông người Sài Gòn lúc đó, bị lừa do những chiêu tuyên truyền rỉ tai nên họ đã tranh nhau chen lấn tìm cơ hội để rồi tự đẩy nhau vào thế phá sản. Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, cơn sốt chim cút đã làm cho hàng ngàn người thất nghiệp, hạng vạn người điêu đứng phá sản, mất nhà cửa, tan nát hạnh phúc gia đình, bè bạn, người thân. Làm cho một số hoạt động xã hội ngưng trệ. Và dĩ nhiên là trong vụ lừa đảo này đủ cho ai đó thực hiện những ý đồ thâm độc, làm giàu bất chính.“Ai đó ”chính là Lý Long Thân, một trùm tư bản vốn đã từ lâu khống chế nhiều hoạt động thương nghiệp của Chợ Lớn.


Nhưng tại sao Lý Long Thân lại tung ra độc chiêu đó? Bởi vì chỉ có biến loạn thị trường thì việc ra “đòn” tiếp theo, địch thủ mới không đỡ được, đó là sự tăng giá sắt thép, phân bón và cả lương thực, những thứ này vốn nằm trong vòng khống chế của họ Lý và một số trùm khác. Chỉ cần một cú nhỏ “dịch chim cút” thôi, nền kinh tế dưới chế độ Sài Gòn đã nằm trong vòng “cương tỏa” của họ. Thực sự, như chính Bộ trưởng kinh tế của chế độ Sài Gòn vào năm 1973 đã than thở: “Mọi chủ trương, mọi sắc luật của Chính phủ, chỉ cần một cơn “sốt lên” của Chợ Lớn là thành khói”.


Lý Long Thân là một tỷ phú mà tài sản không thể nào thống kê nổi. Nghe nói, ông ta có chân trong một tập đoàn tư bản của châu Á, chứ không riêng ở Sài Gòn. Tiền của, tài sản riêng của ông ta được gửi ở nhiều ngân hàng trên thế giới, để nếu cần, sẽ rút đi êm. Quả vậy, khi Sài Gòn được giải phóng năm 1975, Lý Long Thân đã cao chạy xa bay.
 
Bài 9: 3 thợ in trở thành tỷ phú 

Ảnh minh họa




Trong giới kinh doanh nhà in ở Sài Gòn những năm thập kỷ 60 thế kỷ trước đều biết đến ba nhân vật được xem là tiền bối của ngành in ấn, đó là Đinh Thái Sơn, Nguyễn Văn Viết và Nguyễn Văn Của. Họ là ba tỷ phú của ngành in xuất thân từ công nhân in.

Người đầu tiên là ông Đinh Thái Sơn người gốc Nghệ An vào Sài Gòn mưu sinh từ thủa niên thiếu, do theo đạo thiên chúa nên ông dễ dàng xin vào học việc ở nhà in thuộc nhà thờ Tân Định. Nhờ sáng dạ nên chỉ một thời gian ngắn, Đinh Thái Sơn đã trở thành một thợ giỏi và may mắn lọt mắt xanh ông Trương Vĩnh Ký giới thiệu lãnh thầu một số công việc ngành in, trong đó có dịch vụ đóng sách. Dich vụ đóng sách thời đó giá cả công xá khá cao nên trong một thời gian ngắn ông Sơn đã phất lên. Cùng với việc phất lên đó ông đã được ông chủ nhà in Câu Toán (một nhà in lớn lúc đó) ở góc đường d”Ormay (Mạc Thị Bưởi ngày nay), gả con gái rượu cho và công việc làm ăn của ông cứ thế phất lên, cho tới khi ông quyết định thành lập một nhà in riêng lấy tên là Phát Toán và cùng lúc được bố vợ cho cả nhà in Câu Toán. Ông Sơn liền nhập hai nhà in làm một và phát triển ngày một qui mô lớn hơn nhiều lần cũ. Do lúc đó là giao thời nên việc in ấn Việt ngữ tỏ ra thuận lợi, ông Sơn càng ngày làm ăn càng phát triển mạnh. Có tiền ông mua thêm căn nhà 157 đường Catinat, khai trương ấn quán mới, lấy tên là Đồng Hiệp Ấn Thư Cuộc (Union)


Người thứ hai là ông Nguyễn Văn Viết thân hữu thủa hàn vi của ông Đinh Thái Sơn đã góp vốn tham gia nhà in cùng ông Sơn. Là bạn hữu,thông cảm và chia sẻ với nhau, ông Viết xuất hiện vào công việc sản xuất kinh doanh của ông Sơn như một định mệnh. Chính vì vậy nên khi đã gần như đồng sở hữu nhà in cùng ông Sơn, hai người cùng đồng tâm hiệp lực phát huy thế mạnh giỏi tay nghề, tài kinh doanh nên chỉ sau một thời gian ngắn đã làm cho Đồng Hiệp Ấn Thư Cuộc phát triển ngang ngửa và giới doanh thương Sài Gòn – Chợ Lớn phải nể mặt. Có thể nói nếu ông Đinh Thái Sơn là người đặt viên gạch đầu tiên cho ngành in ấn thương mại Sài Gòn thì ông Nguyễn Văn Viết là người làm cho công trình đó khang trang hoành tráng hơn. Sau một thời gian hoạt động mạnh mẽ, chiếm thế thượng phong nhà in Union chuyển về cùng trường Tabert (đối diện với hông trái Bưu điện Sài Gòn) và tiếp tục chiếm thế độc tôn nhiều năm nữa.


Tiếp theo hai ông Sơn và Viết nổi lên trong giới doanh thương in ấn Sài Gòn đầu thế kỷ 20 là ông Nguyễn Văn Của, ông này về sau còn được gọi là Huyện Của. Thủa thiếu thời ông Của nghèo khó lắm, ông phải sống cơ cực ở xóm ổ chuột, làm lụng vất vả ban ngày, ban đêm lại phải xách đèn lồng theo người chị gái đi bán chè rong ruổi khắp thành phố. Mỗi khi đi qua Trà đình Tửu quán thấy thiên hạ ăn chơi song cậu ta không hề ham muốn mà luôn cháy bỏng trong người ước muốn có được vài đồng cắc để giúp đỡ gia đình. Nghèo khó như vậy và ý chí làm giàu đã giúp ông chọn nghề in làm để thử tài sức vận mệnh của mình. Đầu tiên cậu xin vào làm thợ in cho nhà in của ông Đinh Thái Sơn và Nguyễn Văn Viết. Chăm chỉ làm lụng, có nhiều sáng ý nên đã được hai ông Sơn và Viết phát hiện rèn rũa và dần giao cho những công việc quan trọng, phức tạp. Dù được giao bắt cứ việc gì, ông Của vẫn hoàn thành một cách mau lẹ và tốt hơn mong đợi của chủ. Quyết tâm cao, ý chí làm giàu nung nấu và bản thân chịu thương chịu khó đã giúp ông Của đạt được ý nguyện của mình, lấy được niềm tin của hai ông Sơn và Viết. Đối với hai ông Sơn và Viết thì ông Của là một bảo vật quí hiếm tin cậy, nên hai ông đã giao cho ông Của những việc chính trong nhà in. Không phụ lòng tin của hai ông, ông Của đã biết khai thác và phát huy làm giàu cho nhà in và từng bước tích lũy cho mình. Và vào những năm đầu của thế kỷ, ông Của đã sánh vai cùng ông Viết, ông Sơn trở thành 3 trong số 10 doanh thương giàu có nhất Sài Gòn thời bấy giờ.


Từ câu chuyện làm giàu của những doanh nhân Sài Gòn thủa trước đã cho thấy, sự giàu có ngoài yếu tố may mắn còn phải được làm từ mồ hôi công sức lao động mới bền và phát triển được. Có một yếu tố mặc dù không ai nói ra nhưng qua cách tính, bước đi của những người giàu có khi đó là sự nhẫn nại, biết nắm bắt cơ hội để có thể đứng vững trên thương trường. Về mặt này mặt nọ, những người giàu có của Sài Gòn xưa chưa phải là nhân tố tích cực của giới tư bản ngày đó, nhưng dù sao chuyện biết “làm giàu bằng công sức lao động” của họ là điều đáng trân trọng.

No comments: