Monday, July 31, 2017

KHO LƯU TRỮ PHÁP

Lịch sử Việt Nam thời thuộc địa trong kho Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp

 

Lịch sử Việt Nam thời thuộc địa trong kho Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp, Aix-en-Provence.Archives Nationales

Vấn đề lưu trữ tài liệu của chính quyền Pháp tại các thuộc địa được đặt ra ngay những năm 1950, khi hàng loạt quốc gia nằm dưới sự bảo hộ của Pháp lần lượt giành được độc lập. Bắt đầu từ Việt Nam với các thoả thuận ngày 08/03/1949, sau đó là quyết định trao trả các khu nhượng địa của Pháp cho Ấn Độ vào tháng 09/1954 và tại châu Phi là cuộc trưng cầu dân ý năm 1958.

Ngay năm 1959, Cơ quan Lưu trữ Pháp được giao nhiệm vụ quản lý hồ sơ lưu trữ và các bộ sưu tập từ bộ Hải Ngoại Pháp và cơ quan quản lý thuộc địa, bị xóa bỏ năm 1960. Khối lượng tài liệu rất lớn vì ngoài hồ sơ của riêng bộ Hải Ngoại Pháp, còn có kho lưu trữ thuộc địa ở các xứ Viễn Đông hay châu Phi, lúc đó bị phân tán khắp nước Pháp, ở Paris, Vincennes, Bordeaux, Marseille. Đến năm 1961, khối lượng tài liệu đồ sộ này còn tiếp nhận thêm lưu trữ được chuyển từ Algeria, sau khi quốc gia Bắc Phi giành được độc lập.
Trước nhu cầu cấp bách này, giám đốc Lưu trữ Pháp thời kỳ đó quyết định xây dựng một trung tâm nghiên cứu nằm trong một quần thể đại học ở miền Nam Pháp để bảo quản và xử lý tài liệu lưu trữ của các chính quyền thuộc địa. Kết quả là năm 1966, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại (Archives nationales d’Outre-mer, ANOM) được khánh thành tại Aix-en-Provence, nằm trong dự án mở rộng chi nhánh của đại học Aix-en-Provence, trên đường Moulin de Testas.
Giới thiệu với RFI tiếng Việt về ANOM, bà Olivia Pelletier, phụ trách kho « Đông Dương », cho biết :
« Ở đây, chúng tôi bảo quản hồ sơ lưu trữ của bộ Thuộc Địa và nhiều cơ cấu hành chính tiền thân của bộ này từ giữa thế kỷ XIX liên quan đếnĐông Dương.
Những kho đó chủ yếu là tài liệu hành chính, bổ sung cho những kho lưu lại ở Việt Nam, Cam Bốt, Lào và nhiều kho khác được lưu trữ tại Pháp trong bộ Quốc Phòng và bộ Ngoại Giao ».

Toàn bộ kho liên quan đến chính quyền Nam Kỳ được lưu tại thành phố Hồ Chí Minh. Tài liệu lưu trữ Đông Dương được chính quyền thuộc địa thảo tại chỗ được chuyển về Pháp từ năm 1954, sau khi Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ. Thế nhưng, theo bà Olivia Pelletier, trước đó cả hai bên đã có một quá trình đàm phán dài để phân chia tài liệu :
« Ngay năm 1950, các chuyên viên lưu trữ Pháp và Việt Nam, Lào, Cam Bốt, đã cùng ngồi đàm phán. Những tài liệu được cho là thuộc chủ quyền về đến Pháp ngay năm 1954, còn tài liệu mang tính kỹ thuật, cho phép các nước độc lập tiếp tục quản lý bộ máy hành chính, trong đó có các hồ sơ về công chính, địa bạ, y tế, cảnh sát, thì được để lại tại chỗ. Hiện nay, những tài liệu này có thể tra cứu được ở các trung tâm lưu trữ khác nhau ở Việt Nam, Lào và Cam Bốt ».

 
Chùa Một Cột, Hà Nội. Ảnh chụp khoảng năm 1895-1899.ANOM
Tài liệu lưu trữ liên quan đến Đông Dương tại ANOM được chia thành hai kho lớn : Kho lưu trữ của bộ Thuộc địa (Fonds ministériels) và Kho địa phương. Kho địa phương lại được chia thành ba kho nhỏ : Kho tài liệu đô đốc và toàn quyền (1858-1945), kho Cao ủy Pháp tại Sài Gòn (1946-1954) và kho thống sứ và ủy viên Cộng hòa Pháp. Bà Olivia Pelletier cho biết rõ hơn :
« Tại ANOM, chúng tôi bảo quản số lượng hồ sơ lưu trữ liên quan đến Đông Dương dài khoảng 4 km. Những kho tài liệu này rất thú vị vì chúng vừa liên quan đến công văn trao đổi, hồ sơ giao dịch trong mọi lĩnh vực, từ đời sống kinh tế đến đời sống hành chính, xã hội trong giai đoạn Pháp. Ngoài các kho này, còn có kho bản đồ, một thư viện và kho tranh ảnh ».

Theo đánh giá của chuyên gia phụ trách kho « Đông Dương », trong khoảng 10 năm gần đây, số lượng các nhà nghiên cứu về Đông Dương ở mức ổn định. Họ đến từ khắp nơi trên thế giới, từ châu Á đến châu Mỹ, và dĩ nhiên phải nhắc đến các nhà nghiên cứu châu Âu, từ sinh viên đến giáo sư, giảng viên đại học. Chủ đề nghiên cứu cũng rất đa dạng, như lịch sử xã hội, lịch sử kinh tế hay lịch sử văn hóa.

Để giúp các nhà nghiên cứu có thể định hướng và theo dõi trình tự niên đại đề tài nghiên cứu, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải Ngoại xuất bản rất nhiều sách hướng dẫn, thống kê các tài liệu lưu trữ, đồng thời hợp tác chặt chẽ với các trung tâm lưu trữ ở ba nước Đông Dương cũ :
« Chúng tôi có mối quan hệ chặt chẽ với các đồng nghiệp Việt Nam, vì từ vài năm nay, chúng tôi có một bản thỏa thuận được Cơ quan Lưu trữ liên bộ của Pháp và Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước Việt Nam ký kết. Thoả thuận này giúp thiết lập mối quan hệ chặt chẽ trong việc chia sẻ tài liệu được số hóa, tổ chức các triển lãm ảo, đặc biệt là trong một dự án chung sắp tới. Chúng tôi sẽ cung cấp các hình ảnh lưu trữ được bảo quản ở ANOM và sẽ tham gia vào triển lãm kỷ niệm 100 năm lưu trữ Đông Dương được tổ chức ở Hà Nội ».

ANOM, nơi chia sẻ lịch sử
Các kho tài liệu được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp rất đa dạng về nguồn gốc và phân loại, từ lưu trữ chính quốc đến địa phương, lưu trữ chính thức về sự hiện diện và bánh trướng của Pháp đến lưu trữ của các tham chánh biện, hay cá nhân và hồ sơ kinh tế.
Sự đa dạng này phản ánh muôn mặt nước Pháp ở lãnh thổ hải ngoại trong suốt quá trình xâm chiếm đến thám hiểm và khẳng định vị trí, mối quan hệ giữa người Pháp với dân địa phương từ quần đảo Antilles (Trung Mỹ) đến Mascareignes (châu Phi, ngoài khơi Ấn Độ Dương), từ lục địa Mỹ đến châu Phi, từ châu Á đến châu Đại Dương.
Ngoài khối lượng hồ sơ lưu trữ giấy dài khoảng 38 km, ANOM còn nổi tiếng với kho ảnh quan trọng, với nhiều tấm có thể tra cứu được dưới dạng album trên website, trong đó phải kể đến khối lượng ảnh lớn liên quan đến Đông Dương được tổng hợp trong một khối dữ liệu riêng.
« Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp có một phòng đọc với 80 chỗ ngồi, mỗi năm đón hơn 2.000 độc giả. Chúng tôi có một phòng đọc vi phim (microfilm).
Đặc biệt từ nhiều năm nay, ANOM chú trọng đến cổng thông tin điện tử, giúp độc giả truy cập vào các công cụ tìm kiếm về tình trạng các kho, tài liệu thống kê chung hoặc thống kê chi tiết, cho phép các nhà nghiên cứu nước ngoài, thậm chí độc giả Pháp không sống ở Aix-en-Provence có thể tham khảo được những bản thống kê. Có nghĩa là, họ có thể chuẩn bị từ nhà danh sách tài liệu cần tra cứu, chuẩn bị cho chuyến nghiên cứu và áng chừng thời gian lưu lại Aix.
Chúng tôi cũng có một phòng thống kê gồm 15 máy tính để truy cập vào website của ANOM. Trang này thường xuyên được cập nhật những thống kê mới, rất chi tiết, và có thể tra cứu được từ bất kỳ máy tính nào ».


 Vịnh Hạ Long, Bắc Kỳ. Ảnh chụp năm 1928.ANOM
Ngoài chức năng một trung tâm lưu trữ, ANOM luôn tìm cách phổ biến thông tin và tài liệu trong khối lưu trữ quan trọng này. Tháng 06/2017, ANOM phối hợp với đại học Provence đón các nhà nghiên cứu và chuyên gia tham gia hội thảo thường niên của Hội Nghiên cứu Lịch sử Thuộc địa Pháp (French Colonial History Society, FCHS) với chủ đề chính là đề cao những gương mặt nổi tiếng và chưa được biết đến trong giai đoạn thuộc địa.
Bà Olivia Pelletier cho biết ANOM và bộ Quốc Phòng Pháp sẽ kết hợp với nhau để tổ chức một cuộc triển lãm liên quan đến Đông Dương vào cuối năm 2017 tại Pháp.
« Đó là một dự án tiếp nối nhau thành nhiều chặng. Vào cuối năm 2017, bộ phận lưu trữ ở Vincennes của bộ Quốc Phòng sẽ đón một cuộc triển lãm dưới dạng tấm panô và tài liệu gốc liên quan đến biển và thuỷ thủ ở Đông Dương. Còn ANOM sẽ trưng bầy triển lãm này vào đầu năm 2018 với hình thức có thay đổi chút ít, được bổ xung thêm, với 15 tấm panô giải thích vai trò hàng hải ngoài chức năng quân sự. Triển lãm này là cơ hội để chúng tôi giới thiệu nhiều tài liệu đẹp trong kho của mình cho độc giả và khách tham quan ».

VIỆT NAM MUA VŨ KHÍ MỸ



HANOI/ BIỂN ĐÔNG -- Trong khi Biển Đông căng thẳng hơn, với tàu Trung Quốc vào biển cướp bóc ngư dân Việt thường xuyên, các quan chức chính phủ tìm mua vũ khí Mỹ với điều kiện phải hối lộ 25% tổng giá trị -- tiếng lóng Hà Nội gọi là “lại quả”...

Bản tin Digital Trends cho biết Hải quân TQ đã phóng 12 robot taù ngầm xuống Biển Đông, lấy cớ là đi tìm dữ kiện môi trường nhưng ghi nhận tất cả các chuyển động bất thường dưới mặt nước Biển Đông.

Tàu ngầm robot TQ có tên là Haiya” có thể lặn sâu 21,000 feet (gần 4 dặm), có thể chạy 635 dặm không ngừng trong vòng 30 ngày.

Trong khi đó, bản tin VOA viết theo thông tấn Shephard Media

Quan chức Việt Nam đòi Mỹ “lại quả” từ các hợp đồng mua vũ khí

Một hãng tin tình báo quốc phòng của Anh vừa tiết lộ rằng các quan chức chính phủ Việt Nam yêu cầu các đối tác của Mỹ trả 25% hoa hồng cho các thương vụ mua bán vũ khí.

Thông tin của Shephard Media trích dẫn một nguồn tin quốc phòng của Mỹ cho biết các giới chức quốc phòng Việt Nam thông báo cho phái đoàn của Mỹ biết trong một cuộc họp gần đây ở Hà Nội rằng các thương vụ mua bán vũ khí phải được “lại quả” 1/4 của tổng giá trị.

Cũng theo nguồn tin này, cuộc họp đã “đột ngột dừng lại” sau khi phía Việt Nam đưa ra yêu cầu đó. Nguồn tin quốc phòng Mỹ cho Shephard Media biết thông tin này tại một Hội nghị và triển lãm phòng thủ hàng hải IMDEX được tổ chức ở Singapore tháng 5 vừa qua.

Bản tin VOA cũng nhắc rằng trả tiền hoa hồng, “lại quả” hay “phí bôi trơn” rất phổ biến ở Việt Nam và được coi là một hình thức “hối lội” trá hình. Khảo sát về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2016 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy khoảng 66% doanh nghiệp tại Việt Nam phải trả “phí bôi trơn” cho quan chức để việc kinh doanh được thuận tiện.

Liên quan đến vấn đề tham nhũng ở Việt Nam, một nguồn tin khác của Shephard Media, hãng tin chuyên cung cấp thông tin tình báo có độ tin cậy cao về kinh doanh và quốc phòng trong 35 năm qua, từ Singapore cho biết các quan chức chính phủ Việt Nam rửa tiền ở nước Đông Nam Á này thông qua “các bà vợ” của họ. Hãng tin này không cho biết thêm chi tiết về những hoạt động rửa tiền này được tiến hành như thế nào.

Theo Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài của Mỹ được đưa ra năm 1977, các doanh nghiệm Mỹ không được phép tiến hành các thương vụ mua bán theo phương cách này, tức trả hoa hồng hoặc “lại quả” theo cách gọi ở Việt Nam. Đạo luật này khép hành vi đưa nhận hối lộ vào tội hình sự cấp liên bang.

Điều này, theo nhà báo Wendell Minnick của Shephard Media giải thích trong bài viết đăng hôm 25/7, có thể giải thích lý do vì sao “Việt Nam sẽ tiếp tục dựa vào nguồn vũ khí của Nga và chấm dứt bất kỳ mối hợp tác quân sự đích thực nào giữa Mỹ và Việt Nam.”

Theo thống kê của Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế (SIPRI) có trụ sở ở Stockholm, Thụy Điển, nhà cung cấp chính về vũ khí cho Việt Nam là Nga. SIPRI xếp Việt Nam nằm trong Top 10 của danh sách các nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất thế giới. Trong thời gian từ 2012-2016, Việt Nam nhập khẩu vũ khí với giá trị ước tính khoảng 5 tỷ USD và chiếm 3% thị phần toàn cầu.

Câu hỏi cần nêu ra đối với chính phủ CSVN rằng: trong 5 năm đó, mua vũ khí 5 tỷ USD, Đảng CSVN được lại quả 25%, tức là 1.25 tỷ USD, và tiền “lại quả” naỳ vào túi quan chức nào ở Bộ Quốc Phòng?


VOA ghi nhận, khi phản ứng về nguồn tin này, một người dùng Facebook có tên Nguyen Anh Tuan viết “Nếu dựa vào vũ khí của Nga thì sao có thể đối đầu với Trung Quốc khi mà những loại vũ khí này cũng được Nga bán cho Trung Quốc với số lượng nhiều hơn, và đôi khi là với những phiên bản còn hiện đại hơn?”


Trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 5/2016, Tổng thống Barack Obama đã tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam sau 1 thập kỷ cấm vận. Tuy nhiên, chưa có một thương vụ mua bán vũ khí nào giữa 2 chính phủ được ghi nhận trên truyền thông.


VOA cũng ghi nhận: “Nhận xét trước thông tin của Shephard Media về yêu cầu “lại quả” từ phía Việt Nam, một Facebooker có tên Hưng Ngọc Phạm viết điều này “lý giải tại sao hơn 1 năm sau khi được Mỹ gỡ bỏ cấm vận vũ khí mà Việt Nam vẫn chưa mua được món nào, bất chấp những háo hức trước đó.”...”


__._,_.___

Sunday, July 30, 2017

NGUYÊN THẠCH * VIỆC PHẢI ĐẾN

Việc gì đến, sẽ phải đến

Nguyên Thạch (Danlambao) - Việc gì đến sẽ phải đến, là kẻ sĩ phải biết thức thời, phải biết hòa mình vào trào lưu tiến bộ cùng thế giới. Bè lũ gian trá, Hèn với giặc – Ác với dân rồi sẽ có ngày đền tội. Tình trạng Trung cộng và Biển Đông đang là vấn đề “nhức nhối” của Hoa Kỳ và cả thế giới hiện nay, vấn nạn này phải được giải quyết dứt điểm. Từ lâu, Đảng Cộng Sản Vẹm Nô đã bị xem là kẻ thù của người dân quốc nội lẫn hải ngoại. Bè lũ phản quốc này hãy sớm tĩnh ngộ trước khi quá trễ. Không bạn bè, không đồng minh, không thân hữu ngoài đàn anh Trung cộng nhưng oái ăm thay, người đồng chí duy nhất cũng luôn rình mò, mưu mẹo, toan tính trở mặt và luôn chực hờ cướp giựt và thôn tính. Hiện nay CSVN cô đơn và thất thế hơn bao giờ hết, số phận của nó cũng chẳng may mắn gì hơn thằng đàn anh, thằng ông nội Tàu cộng đang bị bao vây, tứ bề thọ địch. 

*

Câu đầu tiên rất quan trọng mà người viết muốn nhấn mạnh ở đây là: Người Việt Nam dẫu đang ở hải ngoại hay quốc nội thì cũng đều không chấp nhận NÔ TÀU dưới bất cứ giá nào và hình thức nào.

Những lý do khiến người Việt nói riêng và hầu hết các dân tộc khác từ Á sang Âu, từ Mỹ sang Úc đều không công nhận và chọn Người Tàu làm tiêu chuẩn mẫu mực cho nhân loại trên hành tinh này là:

1- Lịch sử dân tộc Trung hoa không phải là lịch sử của một dân tộc nhân đạo.

2- Người Trung Hoa tự cao tự đại, tự cho mình là trung tâm của thế giới, luôn xem thường các giống dân khác.

3- Người Trung Hoa luôn mang tham vọng bành trướng và sẵn sàng đè bẹp bất cứ dân tộc nào khác.

4- Người Tàu không coi trọng và có ý bảo vệ môi trường.

5- Người Tàu đa mưu, bất chấp thủ đoạn để đạt đến mục đích, cho dẫu là mục đích bất chánh.

6- Người Tàu không xem việc từ thiện là cần thiết, cũng như không quan tâm chia sẻ những khó khăn của nhân loại.

7- Đa số dân Tàu “Sống để ăn”, trong khi đa số các dân tộc khác quan niệm ăn để sống.

8- Người Tàu luôn giữ tư tưởng hối lộ, tham ô, giấu diếm, không minh bạch trong giao thương, kinh doanh.

9- Người Trung Quốc thù dai, không thương yêu và sẵn sàn đàn áp chính dân của họ.

10- Người Tàu không xem trọng vấn đề Dân chủ, Nhân quyền, luôn có thái độ bợ phú khinh bần.

Trên là những nhận xét khách quan và ghi nhận những đặc điểm khá phổ quát và dĩ nhiên nó không mang tính cực đoa cũng như có ý xác quyết 100%. Đi sâu vào lịch sử Trung Hoa, từ xa xưa người ta vẫn không quên lịch sử đã ghi lại: Đông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, Thủy Hử…và lịch sử cận đại: Cách Mạng Văn Hóa, Thiên An Môn và sắp tới đây là “Chiến tranh Biển Đông”.


Nếu vì sự thần phục Trung cộng và xem họ là thiên triều thì Đảng Cộng Sản Việt Nô có thể gán tác giả có ý định kỳ thị, chia rẽ dân tộc, gây thù hận giữa dân tộc này với dân tộc khác thì đảng có thể nhìn vào thực thể của lịch sử, các vị anh hùng, anh thư của Việt tộc qua các thời đại Đinh Lê Lý Nguyễn Trần và gần đây nhất là sự tiếp đón từ người dân Việt Nam giữa Chủ tịch Trung cộng Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Barack Obama khi những vị này đến thăm VN thì sẽ rõ thái độ của người dân tôn trọng và yêu thích ai.

Nếu vì có sự liên quan đến việc làm ăn, lợi nhuận, kinh doanh với người Tàu mà một số nhỏ người Việt cho rằng người viết nêu lên những điều không thật và tạo bất lợi trong việc giao thương, phát tiển kinh tế thì hãy nhìn vào thực thể của những vụ việc ngăn chận đầu nguồn sông Mê Kong “Thảm họa Formosa, Lee Ann, Bô Xít Tây Nguyên… cũng như biết bao nhiêu chất độc, hóa chất tuồng sang Việt Nam có chủ đích và đang gây biết bao nhiêu mầm bệnh nhằm triệt tiêu dần mòn dân tộc này.

Một cách trung thực và khách quan là Người Việt Nam không bao giờ quên đi quá khứ của 1.000 năm nô lệ giặc Tàu phương Bắc, người Việt Nam không hề sao lãng việc Tàu cộng ngang ngược tuyên bố chủ quyền trên hầu hết diện tích Biển Đông, cũng như đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt, luôn ôm nỗi đau thương và căm hận Tàu cộng đã bắn giết, bắt bớ đòi tiền chuộc và tông chìm thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam một cách nhẫn tâm, vô ý thức.

Đảng Cộng Sản Việt Nô được lãnh đạo bởi bất cứ ai, cho dẫu là Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Linh hay Nguyễn Phú trọng mà hèn hạ nhận giặc làm cha, rước voi giày mả tổ, đan tâm bán đứng dân tộc, đẩy dân tộc vào tròng ách nô lệ… thì cũng đều bị xem là những tên phản động.


Những tướng tá trong quân đội, bất cứ tên nào quì lạy giặc ngoại bang Tàu cộng, ngấm ngầm sát hại các chiến sĩ, nối giáo cho giặc dưới bất cứ hình thức nào thì cũng đều bị xem là kẻ thù của nhân dân và sẽ phải đối mặt với những sự trừng phạt thỏa đáng.

Thời gian qua Đảng Cộng Sản Việt Nô đã tống giam những người yêu nước có tinh thần chống giặc ngoại xâm như Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim, Vi Đức Hồi, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga... cả chục năm tù là những hành vi đi ngược lại với lòng dân, liệu rằng nhà cầm quyền này có còn tồn tại được ngần ấy thời gian hay không. Đây không phải là câu hỏi mà là sự dằn mặt đến bọn tà quyền cẩu nô hèn hạ bất chính.

Đời sống là những sự thay đổi không ngừng, như bao thực thể khác sẽ thay đổi, biến hóa theo thời gian thì thể chế chính trị cũng vậy. Những tướng lãnh nào còn chút tự trọng, lấy niềm tự hào của dân tộc làm lẽ sống, lấy tương lai của nhiều thế hệ sắp đến làm nguồn hy vọng và dứt khoát không muốn bị lưu danh ố ngàn đời thì cơ hội vô cùng lớn trong tình hình hiện nay là quay về với đất nước, với dân tộc. Một cách khách quan và công bằng, tôi không nghĩ rằng 100% tướng lãnh thuộc quân đội đều là tướng hèn, một số ít nào đó vẫn còn sự tự trọng cùng bổn phận và trách nhiệm của những vị tướng lãnh. Toàn dân sẽ ủng hộ cũng như Tổ Quốc sẽ ghi ơn công lao hy sinh to tát của những vị hùng tướng.

Tình hình hiện nay là thời điểm vô cùng thuận lợi cho những ai muốn đứng lên cứu nước thoát khỏi cảnh nghèo khó, chậm tiến, tụt hậu và nô lệ ngoại bang, Những ai có khả năng, có thực quyền…hãy mau chóng nắm lấy cơ hội cùng toàn dân vùng lên giành lại nền Độc lập, Tự do, Dân chủ và Nhân quyền cho chính mình, gia đình mình và dân tộc mình.

Việc gì đến sẽ phải đến, kẻ sĩ phải biết thức thời, phải biết hòa mình vào trào lưu tiến bộ cùng thế giới. Bè lũ gian trá, Hèn với giặc – Ác với dân rồi sẽ có ngày đền tội. Tình trạng Trung cộng và Biển Đông đang là vấn đề “nhức nhối” của Hoa Kỳ và cả thế giới hiện nay, vấn nạn này phải được giải quyết dứt điểm. Từ lâu, Đảng Cộng Sản Vẹm Nô đã bị xem là kẻ thù của người dân quốc nội lẫn hải ngoại. Bè lũ phản quốc này hãy sớm tĩnh ngộ trước khi quá trễ. Không bạn bè, không đồng minh, không thân hữu ngoài đàn anh Trung cộng nhưng oái ăm thay, người đồng chí duy nhất cũng luôn rình mò, mưu mẹo, toan tính trở mặt và luôn chực hờ cướp giựt và thôn tính. Hiện nay CSVN cô đơn và thất thế hơn bao giờ hết, số phận của nó cũng chẳng may mắn gì hơn thằng đàn anh, thằng ông nội Tàu cộng đang bị bao vây, tứ bề thọ địch. Chủ không vững thì tôi tớ cũng lung lay, Những đảng viên, nhất là đảng viên cao cấp bên quân đội hãy mau nhận ra sự thật này mà sớm thức thời, nhạy bén tạo sự hợp quần với dân chúng, với đồng minh để tự bảo tồn cũng như tạo sức mạnh nhằm bảo vệ và phục vụ cho một thể chế Tự do Dân chủ Nhân quyền và hưng thịnh, không độc tài, không cộng sản. Người Việt hãy giữ vững chính nghĩa, giữ vững niềm tin xây dựng lại đất nước trong một ngày không xa.

29/7/2017


TS. MAI THANH TRUYẾT * NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN THAN

Những dự án Nhà máy Nhiệt Điện Than ở Việt Nam

Mai Thanh Truyết (Danlambao) - Trong một nhận định gần đây, Linh mục Phan Văn Lợi phát biểu: “Vụ Formosa ở Vũng Áng, vụ Tôn Hoa Sen ở Cà Ná và vụ nhiệt điện Vĩnh Tân ở Hòn Cau, Bình Thuận đang khiến dân chúng quốc nội và phong trào tranh đấu ngày càng quan tâm đến môi trường. Vấn đề môi trường quả thật cần được đại chúng hóa và thực sự đang đại chúng hóa tại Việt Nam. Đây là cuộc đấu tranh cho nhân quyền, cho một trong những quyền cơ bản là có môi trường sống trong sạch. Thái độ vô trách nhiệm của nhà cầm quyền cũng như hành vi bao che của họ (vì lợi ích phe nhóm) cho các công ty hủy hoại môi trường lại khiến cho cuộc đấu tranh đó cũng biến thành cuộc đấu tranh vì dân chủ”.

Trong khi thế giới hướng đến sử dụng nhiều hơn những nguồn năng lượng sạch, năng lượng thay thế các loại năng lượng hóa thạch, ngược lại, Việt Nam lại chú trọng phát triển nhiệt điện than. Theo số liệu năm 2015 của EVN cho thấy thủy điện chiếm 43,2% công suất lắp đặt và 34,15% sản lượng điện của toàn ngành điện. Xếp thứ hai là nhiệt điện than, chiếm 33,7% công suất lắp đặt và 34,37% sản lượng.

Theo quy hoạch Tổng sơ đồ phát triển điện lực, đến năm 2020, nhiệt điện than sẽ chiếm khoảng 50% tổng sản lượng điện cả nước, trong đó Đông bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ xây dựng 15 nhà máy nhiệt điện dọc theo lưu vực Tiền Giang và Hậu Giang. Bộ Công Thương đã ra lệnh và tăng cường nhiều biện pháp nhằm kiểm soát việc bảo vệ môi trường đối với các nhà máy nhiệt điện than như: hoàn chỉnh và sửa chữa các hệ thanh lọc nước thải, khói, bụi, và tro thải hồi vào môi trường theo quy định của Luật Môi trường và Tiêu chuẩn Việt Nam.

Hiện nay, tại các nhà máy nhiệt điện than đôi khi để đại diện nhà cầm quyền tham gia vào việc giám sát và kiểm soát các hoạt động bảo vệ môi trường của nhà máy. Ông Phương Hoàng Kim, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng, Bộ Công Thương cho biết, trước khi xây dựng, các nhà máy nhiệt điện than đều có đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, nhưng trên thực tế, tình trạng ô nhiễm môi trường do các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than ngày càng trầm trọng, nhất là những nhà máy do Tàu cộng trúng thầu xây dựng trong những năm gần đây ngoài việc tạo ra nhiều “sự cố môi trường”, ngoài ra còn lộ rõ thêm âm mưu sâu độc của TC qua sự tiếp tay của Hán ngụy như:

- Âm mưu kiểm soát những vùng chiến lược và quân sự trên lãnh thổ Việt Nam;

- Đẩy mạnh sự lệ thuộc về nguồn tài chánh cũng như những “việc bôi trơn” của TC cho Hán ngụy;

- Một khi có biến cố, TC có thể làm tê liệt ngay nguồn năng lượng nầy và giết chết phát triển trong một thời gian ngắn.

A- Hệ thống nhà máy nhiệt điện hiện tại tiêu biểu ở Việt Nam

1- Nhà máy nhiệt điện Vũng
Áng

Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1
Trung tâm điện lực Vũng Áng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) trong Khu Formosa có 5 nhà máy với tổng công suất 6.600 MW gồm:

- Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 được khánh thành ngày 17/9/2015 do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư, Tổng thầu Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (LILAMA). Nhà máy có công suất 1200 MW (2×600 MW) đã đưa vào vận hành thương mại tổ máy số 01 từ ngày 31/12/2014 và tổ máy số 02 từ ngày 12/5/2015.

- NMNĐ Formosa, công suất 1.500MW đang xây dựng 04 tổ máy (650 MW) gồm 02 tổ máy khí đốt và 02 tổ máy đốt than. Các tổ máy đã hoàn thiện và phát điện thương mại từ tháng 6 năm 2015.

- Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 có công suất 1.320 MW, gồm 2 tổ máy được xây dựng theo hình thức BOT do Tập đoàn Mitsubishi liên doanh với Công ty CP Nhiệt điện Vũng Áng 2 triển khai đầu tư. Theo dự kiến, nhà máy sẽ vận hành thương mại tổ máy số một vào năm 2018.
 
- Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 3 gồm 4 tổ máy với tổng công suất 2.400MW. Dự án này được tách thành 2 dự án độc lập, mỗi dự án thành phần công suất 1.200MW. Công trình do tổ hợp các nhà đầu tư gồm: Sông Đà, BIDV, BITEXCO và AEI khu vực châu Á triển khai. Dự kiến, thời gian hoàn thành dự án đến năm 2021.

2- Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân
Trung tâm nhiệt điện Vĩnh Tân, gồm 4 nhà máy và 1 cảng biển, với tổng công suất lên đến 5.600MW, được xây dựng tại xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong (Bình Thuận), gồm:

- Nhà máy Vĩnh Tân 1 có tổng vốn đầu tư 1,75 tỉ USD đã chính thức được khởi công ngày 18-07-2015. Công trình có công suất 1.200 MW với 2 tổ máy được đầu tư BOT do liên doanh 2 nhà đầu tư Trung Quốc là Công ty TNHH Lưới điện Phương Nam và Công ty TNHH Điện lực quốc tế TC góp 95% vốn Dự kiến, tổ máy 1 sẽ vận hành cuối năm 2018, và 2, năm 2019.
 
Nhà máy Vĩnh Tân 2 và 3 sẽ do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư và dự kiến đưa vào hoạt động trong giai đoạn từ 2011 – 2015. Được biết, nhà máy có tổng công suất lắp đặt 1.244MW với 2 tổ máy và đã chính thức vận hành thương mại ngày 21-03-2015.

- Nhà máy Vĩnh Tân 4 được khởi công vào ngày 23-4-2017. Công trình gồm 2 tổ máy, mỗi tổ công suất 600 MW. Nhà thầu triển khai dự án mở rộng này là Tập đoàn Công nghiệp nặng Doosan (Hàn Quốc), Tập đoàn Mitsubishi (Nhật Bản), Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng điện 2 và Công ty Cổ phần Tập đoàn Thái Bình Dương.
 
3- Dự án Khí - Điện - Đạm Cà Mau

Nhà máy nhiệt điện Cà Mau 
Dự án này được Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) làm chủ đầu tư. Hai nhà máy điện có công suất tổng cộng là 1500 MW và nhà máy đạm (urea) có công suất 800.000 tấn/năm. Tổng vốn dự kiến lên đến 1,4 tỷ USD. Dự kiến hoàn thành toàn bộ dự án vào năm 2009 (dự án khí hoàn thành 2006, dự án điện hoàn thành 2008 và dự án đạm hoàn thành năm 2009).

Công trình Nhà máy nhiệt điện: Chủ đầu tư: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Tổ hợp Torishima (Hồng Kông) - Colenco (Thụy Sĩ)/EDF (Pháp) - LILAMA 18. Nhà thầu phụ gói 4 (phần xây dựng): Vinci (Pháp)/CSB (Việt Nam).

Công trình bao gồm hai nhà máy nhiệt điện, 4 lò thu hồi nhiệt do tập đoàn Doosan (Hàn Quốc) cấp. Nhà máy Cà Mau 1 có DTSD: 20,4 ha; khởi công: 09/4/2006; vận hành thương mại: 20/3/2008. Nhà máy Cà Mau 2 có DTSD: 9,5 ha; khởi công: 09/4/2006; vận hành thương mại: 13/12/2008. Khánh thành cả hai nhà máy: 27/12/2008

4- Nhiệt điện Sông Hậu

Dự án Trung tâm nhiệt điện Sông Hậu được xây dựng trên diện tích 360ha, tại cụm công nghiệp Phú Hữu A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Dự án có tổng công suất thiết kế 5.200MW, sẽ được chia làm 3 giai đoạn (GĐ), GĐ1 sẽ xây dựng NMNĐ Sông Hậu 1 có công suất 1.200 MW, GĐ 2 và 3 sẽ xây dựng 2 NMNĐ có công suất mỗi nhà máy là 2.000MW.

NMNĐ Sông Hậu 1 có tổng công suất 1.200 MW gồm 2 tổ máy (2x600MW), diện tích xây dựng 115ha do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam làm chủ đầu tư, Ban QLDA Điện lực Dầu Khí Sông Hậu 1 là đại diện chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý dự án. Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) làm Tổng thầu EPC. Dự kiến sẽ được đưa vào vận hành năm 2019.

Theo thông tin cuối gần nhất, dự án NMNĐ Sông Hậu 2 đang trong đang trong giai đoạn hoàn tất các thỏa thuận cuối cùng trước khi bắt đầu thực hiện.

5- Nhiệt điện Kiên Lương

Nhà máy nhiệt điện Kiên Lương 1 được Chính phủ đồng ý cho Itaco thực hiện vào năm 2008 có quy mô 4.400-5.200 MW.

Theo kế hoạch, cuối năm 2013, NMNĐ Kiên Lương 1 có công suất 1.200 MW phát điện, hòa vào lưới điện quốc gia nhưng hiện nay trên công trường vẫn còn ngổn ngang, bừa bộn. Sau nhiều lần chính quyền thúc giục, dự án đã chính thức khởi động lại sau một thời gian dài trì trệ và còn trong thời gian xây dựng.

6- Nhiệt điện Long Phú

Trung tâm nhiệt điện Long Phú được Bộ Công Thương phê duyệt vào năm 2007, có 3 dự án NMNĐ đốt than với tổng công suất là 4.400MW.

Ngày 7/9/2015, tại xã Long Đức, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, Ban Quản lý Dự án Điện lực Long Phú 1 thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Liên doanh nhà thầu Power Machines-PTSC đã tổ chức lễ khởi công đóng cọc đại trà NMNĐ Long Phú 1. Dự án gồm 2 tổ máy có công suất 1.200MW. Theo kế hoạch, tổ máy số 1 sẽ được đưa vào vận hành thương mại vào năm 2018.

Nhà máy Long Phú 2 có tổng công suất 1.200 MW, dự kiến năm 2019 sẽ đi vào hoạt động. Và Long Phú 3 dự định sẽ đi vào hoạt động năm 2020.

7- Nhiệt điện Duyên Hải

Trung tâm điện lực Duyên Hải (Trà Vinh) có tổng công suất khoảng 4.400MW,

Dự án NMNĐ Duyên Hải 3 cũng đã được khởi công vào tháng 12/2012. Nhà máy gồm 2 tổ máy với tổng công suất 1.245 MW (2×622,5 MW)

Ngày 13/12/2015, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tổng công ty Phát điện 1 đã khởi công xây dựng NMNĐ Duyên Hải 3 mở rộng, gồm 1 tổ máy công suất 660 MW và bến cảng số 2.

Ngoài ra, còn nhiều nhà máy nhiệt điện nằm trong dự án như:

- Nhiệt điện Phú Mỹ: gồm Phú Mỹ 1, 2-1, 2-2, 3 và 4, với tổng công suất 3.900 MW. Nhà máy đặt tại thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Nhiệt điện Ô Môn: Trung tâm nhiệt điện Ô Môn được quy hoạch với tổng công suất (CS) 2.800MW với các dự án Ô Môn 1 (CS 660MW), Ô Môn 2 (CS 720MW), Ô Môn 3 (CS 700MW) và Ô Môn 4 (CS 720MW).

- Nhiệt điện Quỳnh Lập: Nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập 1 và Nhà máy Nhiệt điện Quỳnh Lập 2 (quy mô 2x600MW/nhà máy).

- Ngoài ra còn có NMNĐ Hải Hậu, Thái Bình, Nghi sơn, Nhơn Trạch, Hải Phòng, Quảng Ninh v.v…

8- Nhà máy nhiệt điện Cần Giuộc - Long An

Người dân tại xã Phước Vĩnh Đông ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An và Hiệp Phước của huyện Nhà Bè, TPHCM không khỏi lo lắng môi trường sẽ bị ảnh hưởng nặng nề trước thông tin sẽ có nhà máy nhiệt điện tỷ đô mọc lên tại Cần Giuộc.

Trung tâm nhiệt điện Long An nằm tại ấp Vĩnh Thạnh xã Phước Vĩnh Đông, Cần Giuộc với diện tích gần 250 ha.

Theo Bộ Công Thương, ngày 18/3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030 (Quy hoạch điện VII điều chỉnh). Theo đó, tại tỉnh Long An sẽ phát triển 2 dự án nhà máy nhiệt điện: Long An I (quy mô 2x600MW vận hành năm 2024-2025) và Long An II (quy mô 2x800MW vận hành năm 2026-2027).

B- Hậu quả và nguy cơ hiện tại và tương lai

1- Các nhà máy nhiệt điện Vũng Áng

Câu chuyện cá chết ở Vũng Áng xảy ra vào ngày 6/4/2016. Ngay sau đó Hội Đồng hương Kỳ Anh, Hà Tĩnh, vào ngày 19/4, cho rằng, rất có thể cá biển chết là nguồn nước xả thải từ nhà máy nhiệt điện Vũng Áng. Một nhà máy nhiệt điện rất lớn ở cụm công nghiệp nặng Formosa Hà Tĩnh có cơ chế vận hành đảm bảo môi trường đang hoàn toàn bí mật với người dân và dư luận.

Vùng đất Kỳ Anh, biển đẹp, hải sản tươi ngon, trong quá trình mưu sinh mấy chục năm nay, người dân chưa khi nào bắt gặp cảnh tượng cá biển chết hàng loạt sau khi nhà máy nhiệt điện Vũng Áng vận hành?

Ngày 19/2/2017, nơi đây lại xuất hiện một khoảng nước màu đỏ dài 50 m ở biển Vũng Áng. Theo những người chứng kiến, dải nước chỉ xuất hiện vài giờ, sau đó sóng đánh tan đi.

Chúng ta còn nhớ, ngày từ ngày phát hiện cá chết, nhà máy gang thép Hưng Nghiệp, Formosa chỉ mới vừa hoàn tất giai đoạn thử nghiệm I, nghĩa là Lò cao số I để chế biến than thành than Coke. Cho đến hiện tại (7/2017), giai đoạn II, vẫn còn trong giai đoạn xây dựng. Có 3 giả thuyết làm cho cá chết hàng loạt và kéo dài nhiều ngày cũng như cá chết tiếp tục theo dòng hải lưu xuôi Nam đến tận Phan Thiết. Các nguyên nhân có thể tập trung vào các giả thuyết sau đây, căn cứ vào các mẫu phân tích tuồn ra hải ngoại:

- Cá chết do các thử nghiệm lò cao I, phế thải phóng thích ngoài các khí thải độc hại, còn là Cyanide, Phenols, Ammonia, Muối Sắt (II) v.v…;

- Cá chết là do phế thải của các nhà máy nhiệt điện;

- Và giả thuyết thứ ba có xác suất không nhỏ là TC dùng tàu bè chở phế thải của hơn 50 nhà máy gang thép ở Tàu và đổ vào Vũng Áng?

2- Các nhà máy điện Vĩnh Tân

Một vụ nổ lớn diễn ra tại nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, hôm 7/3/2017 khiến hai người bị bỏng 20% và 35%. Bộ Công Thương phát đi thông cáo cho hay: "Lúc 10:45 hôm 7/3 tại công trường Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 xảy ra hiện tượng cháy kèm theo khói và lửa bốc lên tại cột ống khói của nhà máy." "Toàn bộ các tổ máy của Vĩnh Tân 4 đã ngừng vận hành thử nghiệm từ ngày 24/2/2017." (Đã ngừng thử nghiệm từ ngày 24/2, mà nhà máy nổ ngày 7/3. Lạ thật!)

Nên nhớ, vào đầu tháng 11/2016, công ty Điện lực Vĩnh Tân 1 xin phép "nhận chìm" hơn 1,5 triệu m3 chất thải xuống biển. Lượng chất thải này gồm bùn, đất, cát trong quá trình nạo vét. Báo Việt Nam tường thuật, diện tích biển chứa lượng chất thải này khoảng 30ha, cách đất liền khoảng 3 hải lý và gần Khu bảo tồn biển Hòn Cau.

Hôm 11/11, trả lời BBC từ Hà Nội, Tiến sĩ Chu Tiến Vĩnh, nguyên Phó Tổng cục trưởng Thủy sản nói: "Tôi phản đối, vì vụ tràn lấp bùn này sẽ ảnh hưởng nặng đến khu bảo tồn biển cạnh đó”. Tháng 7/2015, báo Việt Nam tường thuật, dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 gần như do các doanh nghiệp TC đầu tư hoàn toàn. Đó là, Cty Lưới điện Phương Nam TC là chủ đầu tư chính với 55% vốn góp và Cty Điện lực quốc tế TC góp 40% vốn, Tổng công ty điện lực Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam chỉ góp 5% vốn.

Còn tại Cty Vĩnh Tân 2, vào ngày 27/4 cũng được UBND tỉnh Bình Thuận khuyến cáo người dân gần khu vực bãi xỉ nhà máy tạm thời không nên sử dụng nguồn nước ngầm (nước giếng) vào mục đích tưới tiêu cũng như ăn uống.

Kết quả phân tích nhiều mẫu thu tại bãi thải xỉ của Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân cho thấy hàm lượng chloride trong nước ngầm của 3/4 hộ dân vượt từ 1,2 lần đến 1,8 lần, hàm lượng tổng số muối tan trong đất tại khu vực chùa Linh Sơn Tự (gần bãi thải xỉ) cho thấy đất tại khu vực này mặn và rất mặn.

Tóm lại, trong số 90% Tàu cộng nắm giữ, 20% là vốn góp của các nhà đầu tư Tàu, 80% số tiền còn lại - tương đương 1,4 tỷ USD - đến từ 5 ngân hàng TC. Sau 4 năm xây dựng, các Cty Vĩnh Tân được vận hành, kinh doanh bởi người Tàu trong 25 năm trước khi "bàn giao" lại cho Việt Nam.

3- Các nhà máy vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Theo Quy hoạch điện VII điều chỉnh, cho đến năm 2030, sẽ có 15 nhà máy nằm dọc theo tuyến sông Hậu từ thành phố Cần Thơ xuống tỉnh Hậu Giang và tiếp ra đến cửa biển giữa hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh. Hầu hết các nhà máy nhiệt điện ở ĐBSCL đều dùng nhiên liệu chính là than, số ít dùng dầu DO và khí đốt.

Theo nghiên cứu của GreenID và UNDP tại Việt Nam, trên phương diện phát triển kinh tế, ĐBSCL là vùng kinh tế ít sử dụng điện vì đây là khu vực sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản lớn nhất nước, người dân cũng đa phần là nông dân có thu nhập thấp và ở vùng nông thôn chiếm 70% dân số. Nơi đây có đặc điểm đa dạng sinh học cao, nhiều khu đất ngập nước, dự trữ sinh quyển, dự trữ quốc gia nên đặc biệt nhạy cảm với ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí.

Bên cạnh đó, các nhà máy nhiệt điện xây dựng ở gần bờ biển nên nhiều nguy cơ hư hỏng do xâm thực biển rất cao. Một ví dụ điển hình là Nhà máy nhiệt điện Duyên hải 1 ở Trà Vinh, khi xây dựng phải hút cát ven biển để đắp nền cho nhà máy với khối lượng khổng lồ là 26 triệu m3 cát. Việc làm rút cát ven biển này cộng thêm diễn biến của biến đổi khí hậu đã khiến tình trạng sạt lở ven biển Trà Vinh thêm mãnh liệt, nhất là đoạn nhà máy và kéo dài cả 14km đường bờ biển chung quanh. Hệ quả là tỉnh Trà Vinh phải bỏ ra hàng trăm tỉ đồng làm kè gia cố đường bờ để đối phó với xâm thực biển đang xảy ra, nhưng đây lại chỉ là giải pháp tạm thời.

NMNĐ Sông Hậu 1: Sau khi Chính Phủ và Bộ Công thương yêu cầu đánh giá lại toàn bộ thiết bị ở gói thầu M05 - Hệ thống xử lý lưu huỳnh thuộc dự án Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1, Tập đoàn dầu khí Việt Nam vẫn kiến nghị lựa chọn nhà thầu sử dụng nhiều thiết bị có nguồn gốc từ TC. Từ đó, có kiến nghị thu hồi chủ trương đầu tư dự án Trung tâm nhiệt điện Kiên Lương của Tân Tạo. Cho đến nay, vấn đề vẫn còn đang giằng co vì…các “nhóm lợi ích” chưa thỏa thuận với nhau trong các gói thầu dung để “bôi trơn dự án”!

4- Cty nhiệt điện Duyên Hải

Cty Nhiệt điện Duyên Hải quản lý, vận hành phát điện 2 nhà máy 2 và 4, nhưng trong năm qua nhưng đã thải ra môi trường hàng triệu tấn tro xỉ.

Trung tâm Điện lực Duyên Hải ở ấp Mù U, xã Dân Thành (thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh) được quy hoạch 4 nhà máy, tổng công suất khoảng 4.415 MW. Tổng vốn đầu tư hơn 5 tỷ USD, diện tích 878,91ha. Hiện nay đã có 2 nhà máy hoạt động là nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 và 3. Công ty Nhiệt điện Duyên Hải quản lý, vận hành phát điện 2 nhà máy này. Chỉ mới có 2 nhà máy hoạt động trong năm qua nhưng đã thải ra môi trường hàng triệu tấn tro xỉ.

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1 có 2 tổ máy, tổng thầu EPC là Tập đoàn Điện khí Đông Phương – TC, phát điện thương mại từ tháng 1-2016. Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 có 2 tổ máy, tổng thầu EPC là Công ty Chenda – TC, đốt dầu lần đầu để thử nghiệm vào tháng 8-2016.

Công ty Nhiệt điện Duyên Hải cho biết, Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1 sử dụng than cám 6A trong nước, sau khi đốt sẽ để lại khoảng 30% tro xỉ, mỗi ngày thải ra 4.500 – 5.000 tấn, mỗi năm chừng 1,8 triệu tấn. Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 có công nghệ tốt hơn và sử dụng than nhập khẩu nên sau khi đốt, lượng tro xỉ để lại 7% - 8%, thải ra 664 tấn/ngày, chừng 240.000 tấn/năm. Tổng cộng, 2 nhà máy mỗi năm thải ra hơn 2 triệu tấn tro xỉ than. Dự kiến 2 năm nữa, nếu không có giải pháp tiêu thụ thì bãi tro xỉ tại Trung tâm Nhiệt diện Duyên Hải sẽ đầy tràn và sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Không những vậy, chúng ta còn đối mặt với nguy cơ Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải trở thành căn cứ của TC thông qua Dự án Nhiệt điện Duyên Hải 2 do Cty Janakuasa của Malaysia đầu tư theo hình thức BOT, nhưng thực sự Cty trên cũng là một Cty TC.

5- Nhiệt điện Quảng Ninh

Nhiệt điện Quảng Ninh là một trong 3 công ty nhiệt điện lớn nhất miền Bắc, tuy nhiên đang ở trong tình trạng lỗ lũy kế tới 1.484 tỷ đồng (tính đến 31/12/2016). Riêng về phế thải lỏng và rắn, đặc biệt là rỉ than và bụi than đã được đổ thẳng vào vịnh Bắc Việt, ngay từ ngày bắt đầu hoạt động. Vào năm 2005, chính Viện Hải dương học, Nha Trang đã ước tính là trên 50% san hô bị tiêu hủy và hệ sinh thái biển ở Vịnh Hạ Long bị ô nhiễm trầm trọng. Dĩ nhiên, là tình trạng ngày càng tệ hại cho đến hôm nay. Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) tính toán cứ mỗi Km2 rạn san hô mang lại lợi ích kinh tế 600.000 USD/năm. Nếu đánh mất thì chi phí khôi phục cao hơn rất nhiều lần. Cụ thể như trường hợp của Maldives, trước đây họ phá hủy rạn san hô để phục vụ phát triển; bây giờ để khôi phục rạn san hô dọc bờ biển phải tốn đến 10 triệu USD/km.

C - Thay lời kết

Trên đây là sơ lược một số nhà máy nhiệt điện than chính đã và đang cũng như dự kiến hình thánh cho Quy hoạch điện VII của Việt Nam. Trước mắt, những vấn nạn và hậu quả cùng nguy cô hủy diệt môi trường rất cao. Theo Bà Ngụy Thị Khanh, Giám đốc Điều hành Trung tâm sáng tạo Xanh (GreenID), đại diện cho Liên minh Năng lượng Bền vững cảnh báo nguy cơ ô nhiễm môi trường biển là không thể tránh được trong việc khai nhiệt điện than gần bờ biển.

Chiến lược phát triển ngành điện của Việt Nam theo Quy hoạch điện VII, nhiệt điện than sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lượng. Cụ thể, tổng sản lượng nhiệt điện than chiếm tỷ lệ 49,3% vào năm 2020, ước tính sẽ tăng 55% vào năm 2025. Vào năm 2030, Việt Nam sẽ có tổng cộng 64 nhà máy nhiệt điện than có công suất tổng cộng 55.300 MW, cho sản lượng 304 tỉ KWh, chiếm 53,2% tổng sản lượng điện, tiêu thụ 129 triệu tấn than.

- Theo nghiên cứu của Liên minh Bảo vệ Nguồn nước Quốc tế, ở nhà máy điện than, để sản xuất 1MWh điện thì cần tới 4.163 lít nước. Còn Liên minh Năng lượng Bền vững Việt Nam khẳng quyết nếu tất cả 14 nhà máy điện than tại ĐBSCL hoạt động thì mỗi ngày sẽ thải ra môi trường 70 triệu m3 nước nóng 40oC. Hệ sinh thái dưới nước và các loài thủy sản sẽ bị gây hại. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và văn hóa sông nước của hàng triệu người sống ven sông, ven biển gần nhà máy điện than trong vùng.

- Nhiệt điện than gây ô nhiễm không khí, nước, đất, các bệnh đường hô hấp, ung thư, là nguồn phát các chất nguy hại như thủy ngân, selenium, arsenic, chì, cadmium, kim loại nặng, phát tro bụi, gây mưa axit phá hủy nền nông nghiệp, ngư nghiệp, gây hiệu ứng nhà kính, làm trái đất nóng lên, thay đổi khí hậu... Các tổ chức quốc tế đưa ra ước tính rằng mỗi kWh nhiệt điện than làm tốn chi phí y tế đến 0,17 đô la Mỹ.

- Một điều ít được nhắc đến là nhiệt điện than dự phần rất lớn vào việc hủy hoại môi trường biển. Vì nhiệt điện than cần một lượng nước rất lớn cho hệ thống làm mát nên các nhà máy có xu hướng đặt ven biển. Bên cạnh đó, các nhà máy đặt gần biển để thuận lợi cho việc nhập khẩu than.

- Theo số liệu được tổ chức CHANGE thu thập, trung bình 3,5 phút, một nhà máy nhiệt điện than 500 MW sẽ hút lên một lượng nước đủ để chứa trong một bể bơi tiêu chuẩn Olympic (2.500 m3) để làm mát hệ thống. Sau đó nước được trả lại sông, hồ, biển với nhiệt độ cao hơn nước đầu vào từ 8 đến 130C khiến môi trường sống của các sinh vật biển như cá, tôm, tảo, san hô… bị ảnh hưởng nặng. Việc hút nước vào hệ thống làm mát giết chết rất nhiều cá, cá bị nghiền nát và luộc chín trong các màng lọc hệ thống. Ở Mỹ, nhà máy điện than Bayshore tại bang Ohio giết 60 triệu tấn cá lớn mỗi năm, nhà máy Huntley ở New York làm kẹt 96 triệu tấn cá mỗi năm trong hệ thống làm mát của họ.

- Kết quả nghiên cứu “Các tác động liên quan đến sức khỏe do gia tăng phát thải từ than” tại Việt Nam do nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Harvard lần đầu công bố cho rằng, mỗi năm có khoảng 4.300 người Việt chết yểu liên quan đến nhiệt điện than. Dự báo, khí thải than ở Việt Nam sẽ tăng gấp 3 lần vào năm 2030. Nếu không cắt giảm, lượng khí thải được dự báo này có thể dẫn tới cái chết của hơn 25.000 người mỗi năm.

- Nên nhớ, TC đã chế tạo những trang thiết bị với công nghệ “cổ lỗ sỉ” ra cho hàng ngàn dự án không thực hiện nữa, bây giờ trở thành vô dụng và không giá trị! Họ chuyển sang Việt Nam. Nhà cầm quyền CSVN đã biết lý do đó, nhưng vì tham lam mà cúi đầu làm hán ngụy để chấp nhận làm một bãi rác công nghiệp “vĩ đại” cho TC.

- Nếu để ý, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng, tại các vị trí hiểm yếu của nước ta đều đã “mọc lên” hàng loạt công trình nhạy cảm có bàn tay của TC, như những dự án ở khu Quảng Ninh, Hải Phòng, Cửa Lò, Nghệ An, Vũng Áng (Hà Tĩnh), Cửa Việt (Quảng Trị), Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), Hải Vân (Đà Nẵng, Vĩnh Tân (Bình Thuận) và mới đây là Dự án Nhiệt điện Sông Hậu 2 (tỉnh Hậu Giang).

Tất cả, phải chăng TC đang tìm cách chiếm đoạt những vị trí quan yếu về an ninh và quốc phòng dọc theo bờ biển Việt Nam thông qua các dự án kinh tế trá hình?

Và một khi có chiến tranh xảy ra, những vị trí này vừa thuận tiện cho việc nội công ngoại kích, cho việc đổ bộ, và cũng vừa có lợi cho việc chia cắt Việt Nam thành nhiều mãnh, chận đứng sự tiếp viện của Việt Nam từ các địa phương khác.

Với dã tâm thôn tính VN của TC đã từng diễn ra trong lịch sử, họ có biến các trung tâm nhiệt điện này thành những căn cứ quân sự trá hình, dùng người lính làm công nhân, từ đó làm bàn đạp khống chế toàn khu vực miền Nam hay không?

CSVN vừa lấy quyết định chấm dứt hợp đồng khai thác dầu khí với một Cty Tây Ban Nha do sức ép của TC, và chấp nhận bồi thường 1,1 tỷ Mỹ kim do việc xóa hợp đồng trên. Điều nầy cho thấy, thêm một lần nữa, hán ngụy rắp tâm chấp nhận làm... nô lệ cho Hán tộc.

Tinh thần chống Bắc thuộc của tiền nhân cần phải được thể hiện qua Tuổi Trẻ Việt Nam.

Hỡi những con dân Việt, chúng ta không còn nhiều thời gian nữa!

30.07.2017


 

NGUYỄN TIẾN ĐẠT * DONALD TRUMP

Donald Trump đang gây hoảng loạn cho giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam?




Nguyễn Tiến Đạt (Danlambao) 

 - Trước kỳ bầu cử Thổng thống Mỹ thì truyền thông cộng sản Việt Nam ra sức ca ngợi Hillary Clinton và miệt thị Donald Trump. Họ ca ngợi Hillary Clinton, vì với chính sách của Hillary Clinton thì cộng sản Trung Quốc và cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục được cùng nhau nhảy trên nỗi đau của người dân với điệu nhạc Tango. Họ miệt thị Donald Trump, vì với chính sách của Donald Trump thì nó giống như miếng xương gà, nuốt vào cũng khốn mà nhả ra cũng tội.

Những thông tin về kỳ bầu cử Tổng thống Mỹ thì đa số là giới truyền thông cộng sản Việt Nam tiếp nhận từ các hãng truyền thông thiên tả nên dàn đồng ca hợp tính hợp nết cùng nhau ca ngợi Hillary Clinton và cùng nhau phán như đinh đóng cột là Hillary Cliton sẽ đắc cử Tổng thống Mỹ. Nhưng không ngờ đến giờ chót thì Donald Trump lại đắc cử Tổng thống Mỹ. Nhớ lại khi đang ngồi xem truyền hình Việt Nam phát trực tiếp về kết quả bầu cử, nhưng khi có thông báo Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ thì đài truyền hình tắt phụp luôn.

Ngay cả giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng yên tâm là Hillary Clinton sẽ đắc cử Tổng thống Mỹ nên chỉ chủ động liên lạc với ban vận động tranh cử của Hillary Clinton mà không liên lạc với ban bầu cử của Donald Trump. Khi Donald Trump đắc cử Tổng thống thì giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã phải khá vất vả, và phải tốn kém nhiều tiền bạc vận động mới tiếp cận được Donald Trump. Sau lần tiếp cận với Donald Trump thì giới lãnh đạo và giới truyền thông cộng sản Việt Nam đã phải cùng nhau chuyển hướng trong ngoại giao và cách đưa tin với Donald Trump.

Nhưng như đã nói là chính sách của Donald Trump thì nó giống như miếng xương gà, nuốt vào cũng khốn mà nhả ra cũng tội. Dù giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã tiếp cận được với Donald Trump và được tiếp đón hơn hẳn giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc. Tập Cận Bình thì chỉ được tiếp đón ở khu nghỉ mát, còn Nguyễn Xuân Phúc thì được tiếp đón tại Nhà Trắng. Nhưng cũng chính vì sự tiến đón này mà Donald Trump đã làm cho Tập Cận Bình đang vô cùng tức giận. Còn giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam thì rơi vào tình thế phải chọn lựa đầy khó khăn, vì chọn ngả theo Tập Cận Bình thì mất nước mà chọn ngả theo Donald Trump thì mất đảng.

Cái khổ là chính sách của Donald Trump đối đầu trực tiếp với Trung Quốc nên giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã rơi vào một tình thế vô cùng khó khăn. Donald Trump xuất thân từ một nhà kinh doanh nên mọi vấn đề thì ông luôn cần phải có sự rõ ràng và sằng phẳng như trong làm ăn kinh tế. Khi Donald Trump tiếp Nguyễn Xuân Phúc tại Nhà Trắng thì Chủ tịch Ủy ban quốc phòng của Thượng viện John McCain đã ngay lập tức đến Việt Nam để gặp Trần Đại Quang và Bộ quốc phòng của cộng sản Việt Nam, và sau đó bay vào vịnh Cam Ranh để thăm chiến hạm của Mỹ. Theo giới thạo tin thì phía Việt Nam đã buộc phải cho Mỹ thuê vịnh Cam Ranh để đối đầu với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. 

Theo nhiều nguồn tin thì giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đang bị sức ép rất lớn giữa Mỹ và Trung Quốc. Phe thân Trung Quốc thì vẫn chiêu bài cũ là đàn áp những người đấu tranh dân chủ để làm vừa lòng Trung Quốc và gây sự chú ý với Mỹ. Nhưng chiêu bài này đã không còn tác dụng, vì chính sách của Donald Trump đã đối đầu trực tiếp với Trung Quốc. Chiêu bài bắt bớ và bỏ tù những người đấu tranh dân chủ đã không còn làm cho người dân sợ hãi mà chỉ còn làm cho người dân cảm thấy bức xúc. Sự bức xúc này có thể sẽ biến thành những cuộc phản kháng mạnh mẽ hơn nếu người dân hiểu được Trung Quốc đã không còn là chỗ dựa cho cộng sản Việt Nam và Donald Trump đang tạo Thế rất lớn cho phong trào đấu tranh dân chủ.
Giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đang hoảng loạn với Donald Trump thì cũng hoàn toàn hợp lý, vì Donald Trump liên tục có những bài diễn văn lên án chủ nghĩa cộng sản và thỉnh thoảng lại cho thả mấy chiến hạm tiến về Biển Đông. Không chỉ có Mỹ mà còn cả Nhật, Anh, Pháp đều tự nguyện đưa chiến hạm tiến về Biển Đông và tuyên bố sẽ cùng kề vai sát cánh với Mỹ trong cuộc đối đầu quân sự với Trung Quốc. Trên bình diện ngoại giao thì Donald Trump bổ nhiệm đại sứ Mỹ tại Việt Nam, và ông tân đại sứ này được coi là có đường lối cứng rắn, có kinh nghiệm kỳ cựu về Châu Á, và từng nằm trong Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ. Một đại sứ Mỹ tại Việt Nam mà có hiểu biết sâu về Trung Quốc và từng làm phó đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh thì dĩ nhiên là sẽ bất lợi cho cộng sản Trung Quốc và cũng bất lợi cho cả cộng sản Việt Nam. 

Khi mà Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ đã trực tiếp đối đầu quân sự và bao vây kinh tế với Trung
Quốc thì cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn bị mất Thế từ cộng sản Trung Quốc. Giả như cộng sản Việt Nam có cố tình ngả theo cộng sản Trung Quốc thì cũng không có tương lai, vì cộng sản Trung Quốc chết thì công sản Việt Nam cũng sẽ băng hà. Do vậy, cách giải quyết vấn đề chính trị khôn ngoan nhất cho giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam là ngay lập tức trả tự do cho những người đấu tranh dân chủ, mở các cuộc đối thoại chính trị để chuyển đổi sang thể chế dân chủ đa đảng. Cách giải quyết này sẽ không có đổ máu, nó sẽ lấy lại được sự hòa hợp dân tộc và nó sẽ tạo ra được sức mạnh dân tộc để đưa Việt Nam tiến tới một quốc gia phát triển và phồn thịnh. Hãy can đảm hành động trước khi quá muộn!.

30/7/2017

CHINH SÁCH MỸ Ở BIỂN ĐÔNG

Biển Đông: Tổng thống Mỹ đồng ý kế hoạch đối phó Trung Quốc

media 
 
Khu trục hạm Mỹ USS Stethem áp sát đảo Tri Tôn, Hoàng Sa ngày 02/07/2017.Reuters
Sự kiện Mỹ tiến hành ba chiến dịch tuần tra bảo vệ quyền tự do đi lại trên Biển Đông từ hạ tuần tháng Năm 2017 đến nay, sau một thời gian dài bất động, rốt cuộc đã rõ nguyên nhân: Tổng thống Donald Trump đã chuẩn y một kế hoạch hành động cụ thể do bộ Quốc Phòng Mỹ đưa lên nhằm thường xuyên thách thức các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông.
Breitbart News, một hãng truyền thông thân cận với Nhà Trắng, ngày 20/07/2017, đã trích dẫn một quan chức Mỹ tiết lộ rằng: Ngay từ tháng Tư vừa qua, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Jim Mattis đã chuyển lên cho tổng thống Mỹ một kế hoạch nhằm đối phó với các đòi hỏi quá đáng của Trung Quốc tại Biển Đông, phác thảo cả một lịch trình dùng cho cả năm, điều động chiến hạm Mỹ đi vào những vùng biển quốc tế mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền một cách bất hợp pháp.
Theo hãng tin Breibart, mặc dù Hải Quân Hoa Kỳ đã thường xuyên tiến hành các « hoạt động bảo vệ tự do hàng hải » trên khắp thế giới từ nhiều thập niên trước đây, nhưng chính quyền Obama, vì tránh đụng chạm đến Trung Quốc, đã cho dừng các chiến dịch này ở Biển Đông từ năm 2012 đến năm 2015, chỉ thực hiện một vài vụ vào năm 2016.
Quan chức Mỹ trả lời hãng Breibart tố cáo : Dưới thời tổng thống Obama, Lầu Năm Góc đã gửi yêu cầu tiến hành chiến dịch bảo vệ tự do hàng hải tới Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, nhưng các đề nghị này đã bị chận lại. Trong thời gian đó, thì Trung Quốc rốt ráo bồi đắp các rạn san hô trong tay họ ở Biển Đông, lắp đặt ngày càng nhiều thiết bị quân sự bên trên, bất chấp việc Việt Nam, Malaysia, Brunei, Philippines và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền trên các khu vực đó.
Theo nhận xét của quan chức Mỹ nói trên, với kế hoạch mới, Nhà Trắng biết trước về các chiến dịch dự trù, do đó không bị « bất ngờ » mỗi khi có đề xuất được chuyển lên, và việc bật đèn xanh sẽ nhanh chóng hơn trước đây.
Việc chấp thuận nhanh hơn sẽ cho phép các hoạt động tuần tra được thực hiện một cách « rất bình thường » và « rất thường xuyên », mang tính chất một phần của hoạt động hải quân thông thường, trái với thời Obama là mỗi chiến dịch đề xuất đều mang tính chất cá biệt, « làm một lần rồi thôi », nhằm phản ứng lại một điều gì cụ thể mà Trung Quốc đã làm, do đó bị xem xét và phê duyệt kỹ lưỡng, mất nhiều thời gian hơn để được chấp nhận.
Trong khuôn khổ kế hoạch mới được tổng thống Donald Trunp chấp thuận, Hạm Đội 7 Hoa Kỳ là nơi đề xuất chiến dịch tuần tra, đề nghị này được chuyển lên theo hàng dọc, lần lượt đi qua Hạm Đội Thái Bình Dương, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương, Lầu Năm Góc, và sau đó đến Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.
Lầu Năm Góc cũng sẽ chuyển yêu cầu qua bộ Ngoại Giao cùng lúc với Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, để đảm bảo rằng chiến dịch sẽ không tác hại tới một hoạt động ngoại giao nào đó.
Theo ông Harry Kazianis, giám đốc nghiên cứu về quốc phòng tại trung tâm nghiên cứu National Interest, việc tiến hành thường xuyên, đều đặn các chiến dịch tuần tra bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông là một điều tốt, để cho Trung Quốc biết rằng « Hoa Kỳ sẽ hoạt động ở bất cứ nơi nào được luật pháp quốc tế cho phép, cũng giống như Bắc Kinh, khi họ tiến hành các hoạt động quanh đảo Guam, Hawaii hoặc gần Alaska ».

Chiến dịch tuần tra bảo vệ tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, cũng được Quốc Hội Mỹ ủng hộ, thậm chí vào tháng Năm vừa qua, một nhóm thượng nghị sĩ thuộc cả hai đảng còn công khai bày tỏ lo ngại trước sự kiện từ tháng 10 năm ngoái đến lúc đó, Mỹ đã không làm một cuộc tuần tra nào ở Biển Đông.
Giải thích về việc tại sao trước tháng Năm, bộ Quốc Phòng Mỹ đã bác bỏ mọi đề nghị tiến hành các chiến dịch tuần tra bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, quan chức Mỹ nói trên giải thích là vào thời điểm đó, bộ trưởng Mattis không muốn phê duyệt các chiến dịch riêng lẻ, mà muốn chờ có được kế hoạch tổng thể. 

Kế hoạch đã được thông qua, và chiến dịch bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông đầu tiên thời tổng thống Trump đã được tung ra ngày 24/05, với khu trục hạm USS Dewey tiến vào bên trong vùng 12 hải lý quanh bãi Vành Khăn (Mischief) ở Trường Sa. Qua ngày 02/07, đến lượt tàu khu trục USS Stethem áp sát đảo Tri Tôn tại Hoàng Sa. Đến ngày 06/07, hai oanh tạc cơ B-1B Lancer đã bay tuần tra ngang không phận Biển Đông và Biển Hoa Đông.

KINH TẾ MỸ

Kinh tế Mỹ lấy đà


Người tiêu thụ mua sắm trên đại lộ Michigan, thành phố Chicago, bang, Illinois. Ảnh chụp ngày 29/7/2016 (Joshua Lott/Getty Images/AFP)
Nền kinh tế Mỹ đã tăng tốc trong tháng Tư, Năm và Sáu, theo tỷ lệ hàng năm là 2,6%, theo phúc trình của Bộ Thương mại Hoa Kỳ.
Dựa trên các dữ liệu GDP công bố hôm 28/7, chi tiêu của giới tiêu thụ và doanh nghiệp đã góp phần đẩy mạnh đà tăng trưởng.
Kinh tế gia Sara Johnson của IHS Markit nói đà tăng của nền kinh tế toàn cầu cũng giúp đẩy nhanh phát triển kinh tế tại Hoa Kỳ.
GDP, tổng sản phẩm nội địa, được coi là chỉ dấu tổng quát của sức mạnh kinh tế của một nước.
Phúc trình này chủ yếu dựa trên các dữ kiện sơ khởi, và có thể được duyệt lại khi nào có những thông tin đầy đủ hơn. Chẳng hạn, mức tăng GDP trong tháng Một, Hai và Ba năm nay đã được điều chỉnh, cho thấy mức tăng trưởng vào lúc đó chậm hơn người ta nghĩ lúc ban đầu.
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã vận động tranh cử với hứa hẹn sẽ đẩy tăng trưởng kinh tế lên tới mức 3% và cao hơn nữa bằng cách giảm bớt các thủ tục hành chính, giảm thuế và cắt giảm chi tiêu cho hệ thống chăm sóc y tế trong khi đẩy mạnh chi tiêu trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng.
Trong khi ông Trump đã giảm bớt các thủ tục và quy định, phần lớn nghị trình kinh tế của ông đã dậm chân tại chỗ ở quốc hội, dù cho cả lưỡng viện quốc hội đều do Đảng Cộng hoà của ông kiểm soát.
Một cuộc khảo sát riêng rẽ do Đại học Michigan thực hiện nói mức độ tự tin của giới tiêu thụ đã giảm trong tháng Bảy, tuy vẫn được duy trì ở mức tương đối “tích cực”.
Các nhà kinh tế vẫn theo sát thái độ của giới tiêu thụ bởi vì chi tiêu của thành phần này là nhân tố quyết định trong các hoạt động kinh tế của Hoa Kỳ.

GS.PHẠM ĐƯC LIÊN * LỀU CHÕNG NGÀN XƯA

 

Lều Chõng Ngàn Xưa

GS Phạm Đức Liên
    - Kính tặng quí thầy cô - những kỹ sư tâm hồn - mà một thời đã tận tụy cho tuổi trẻ và giáo dục Việt Nam.
    - Mến tặng các CHS Trịnh Hoài Đức Bình dương.


Dẫn Nhập:

1.        Thi Hương, thi Hội, thi Đình
        Ba kỳ thi lớn - ta bình (1) êm ru!
        (khuyết danh)

    Từ ngàn xưa, Rồng Tiên là một dân tộc hiếu học, coi trọng khoa bảng: sĩ, nông, công, thương, binh. Nhân tài (matière grise = chất xám) là nguyên khí của quốc gia, nên triều đình (vua chúa) tổ chức những kỳ thi để tuyển lựa người tài giỏi để cùng nhau kiến tạo đất nước.
    Thi Hương để lấy Cử Nhân (BA/BS), Tú Tài.
    Thi Hội để lấy Tiến Sĩ (Doctorate's Degree = Ph.D = Doctor of Philosophie = bất cứ ngành học nào - học đến cùng cũng là Triết Lý - kể cả Toán Học), và Phó Bảng (DES = Diplome d'Etude Superieure = Master's Degree = Cao Học, có thời gọi là Sous-Docteur = Phó Tiến Sĩ).
    Thi Đình để chọn Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa và Hoàng Giáp (TN, BN. TH trước 1975 là Thạc Sĩ = Agrégé = Post Doctor với ít nhất 11 năm college).

Trường thi Nam Định


Sĩ tử đi thi Hương ở Nam Định

2.
    - Nhà Lý, năm Ất Mão (1075) mở khoa thi Tam Trường (sĩ tử phải làm 3 bài thi) chọn được 10 người văn học bổ ra làm quan. Thủ khoa khóa nầy là Lê văn Thịnh. Kỳ thi năm Ất Mão là kỳ thi Hương đầu tiên của nước ta ngày xưa (1075).
    - Nhà Nguyễn, năm Kỷ Mùi (1919) cho mở khoa thi Hội/ thi Đình cuối cùng ( ngay sau khi có kết quả thi Hội - quí vị Tiến Sĩ vào chầu vua để thi Đình) để rồi nền Hán Học của nước ta cáo chung!
        Nào có ra gì cái chữ Nho,
        Ông Nghè ông Cống cũng nằm co
        Sao không đi học làm Thông (2), Phán,
        Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò
        (Trần Tế Xương 1870-1906 chữ Hán và văn Nôm tuyệt vời. Ông thi Hương từ khóa Giáp Ngọ (1894) đến khoa Bính Ngọ (1906) thế nhưng lần nào cũng chỉ đậu đến Tú Tài. Đúng là học tài thi phận!. Đậu Tú Tài 2 lần gọi là Ông Kép, 3 lần gọi là Ông Mền, 4 lần gọi là Ông Đụp. Tú Xương là Ông Đụp).
    - Từ năm 1705 đến năm 1919 là 844 năm. Ông cha chúng ta đã trải qua gần 1000 năm khoa cử Nho học. Bảng vàng bia đá nghìn thu - Lều chõng ngàn xưa phải qua nhiều kỳ thi với chi tiết như sau:

I. Đại Cương về Thi Hương (còn gọi là Đại Tị):

1. Kỳ thi Đại Tị có ở những thành phố lớn. Dưới triều Nguyễn (1802-1945) trường thi Hương được tổ chức tại 8 nơi: Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên, Gia Định và An Giang. Từ nhà Lý (1010-1225) qua nhà Trần (1225-1400) - nhà Hồ (1400-147) - nhà Lê (1428-1178) đến nhà Tây Sơn (1788-1801) thì cứ 6 năm mở một khóa thi Hương. Từ năm 1822, vua Minh Mạng (1820 -1840) ấn định cứ 3 năm có một kỳ thi Hương và thi vào những năm Tí, Mão, Ngọ, Dậu. Năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội. Bộ Lễ tổ chức thi Hội và những năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất.

2. Thi Hương có 3 bài thi (Tam Trường) - cho những khóa đầu tiên - là: bài Kinh Nghĩa và Văn Sách, bài thơ, phú, và bài Chiếu, Chế, Biểu. Dần dần, khoa bảng được kiện toàn, và thi Đại Tị có 4 bài thi (Tứ Trường). Nhà Hồ có thêm bài thi Toán (Ngũ Trường).
    * Kỳ đệ nhất trường: bài thi Kinh Nghĩa. Đó là bài luận văn (essay, dissertation) hay bài bình giảng (tối thiểu 1,000 chữ hay 3, 4 trang giấy bản). Thay vì bài Kinh Nghĩa - thí sinh có thể làm bài Tứ Thư Nghĩa 4 bài, mỗi bài tối thiểu 300 chữ - tức là 1,200 chữ hay 4, 5 trang). Thí dụ một đề thi "bài Kinh Nghĩa đệ nhất trường":  Bình giảng câu: "Giảo thố tử, tẩu cẩu phanh". Tạm dịch: "Thỏ chết thì chó săn bị ăn thịt".
    Khi làm bài Kinh Nghĩa, thí sinh phải thuộc những lời nghị luận ở Kinh (Ngũ Kinh) là 5 bộ sách trọng yếu của Nho Giáo: Kinh Dịch, Khi Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu - lịch sử nước Lỗ do Khổng Tử soạn), ở Thư (Tứ Thư là bốn bộ sách truyện: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử), và nhất là phải thông minh, lập luận vững chắc, hành văn khúc chiết. Đây là một bài trường thiên vấn đáp qua tay 4 vị giám khảo. Thí sinh còn phải thuộc nằm lòng Sử Bắc, Sử Nam, và bộ Tính Lý Đại Toàn ...
    * Kỳ đệ nhị trường: thi bài thơ, phú. Bài thi có nhiều câu đối. Mỗi câu có 8, 9, 10 chữ. Hội đồng thi cho vế 1, và thí sinh phải đối lại vế 2.
    Thí dụ một câu vế 1: "Quài thư bích thượng - tận thu tứ hải sơn hà" (Treo tranh trên vách thu hết non sông bốn bể). Đề thi được mô tả là dài (trên 10 chữ) và khó.
    Một thí sinh đã đối đáp - vế 2: "Tẩy túc trì trung - giao động cửu thiên tinh đẩu" (Rửa chân trong ao - lay động trăng sao chín tầng).
    Đối lại như thế là trên cả tuyệt vời chắc chắn sẽ được điểm 4 ưu .
    * Kỳ đệ tam trường: làm bài Chiếu, Chế, Biểu.
    Bài Chiếu: mệnh lệnh của vua, thay lời vua mà ban bố cho thần dân.
    Bài Chế: là lời vua, phong thưởng cho công thần, như sau khi thắng quân Minh, vua Lê Thái Tổ (1428-1433) phong thưởng cho các quan văn võ (đứng đầu hàng văn là Nguyễn Trãi, bên võ là Lê Vấn).
    Bài Biểu: thay lời thần dân mà chúc mừng vua (hạ biểu) hoặc tạ ơn (tạ biểu) hoặc bày tỏ điều gì.
    Chiếu, chế, biểu có niêm lệ nhất định và phải chen nhau, đối nhau ...
    * Kỳ thi đệ tứ trường: làm bài Văn Sách. Bài làm phải dài (ít nhất là 1,000 chữ hay 3, 4 trang giấy) về cổ văn và kim văn.

3.     Thí sinh đậu kỳ đệ nhất trường (4 điểm ưu, 4 điểm bình hay 4 thứ) mới được vào thi đệ nhị. Đỗ kỳ đệ nhị mới được vào thi đệ tam. Đậu kỳ đệ tam mới được vào thi đệ tứ.
    Đỗ cả 4 trường được gọi là Cử Nhân (thời nhà Nguyễn gọi là Hương Cống).
    Hỏng kỳ đệ tứ trường được gọi là Tú Tài ( nhà Nguyễn gọi là Sinh Đồ).
    Đứng đầu nhiều lần Tú Tài (ít nhất là 2): được coi như đậu Cử Nhân.
    Đỗ đầu kỳ thi Đại Tị gọi là Giải Nguyên. (Lê Quý Đôn, năm 1744, đậu thủ khoa lúc 18 tuổi - Phan Bội Châu đỗ Giải Nguyên năm 1900 ở Nghệ an với 20 ưu vì quá xuất sắc (thay vì tối đa là 4 điểm ưu x 4 bài = 16 điểm ưu)
    Đậu thứ hai kỳ thi Đại Tị gọi là Á Nguyên. (Á Khôi)
    Trung bình cứ 3 năm ở nước ta có 400 cử nhân (50x8 trường) và 1,200 tú tài (150 x 8 trường). Nhiều trường hợp sĩ tử đậu Tam Trường với Ưu, Bình, Thứ, nhưng ở Tứ Trường bài thi bị phê "liệt": Không đỗ Tú Tài!.

4. Học hành và thi cử quá nặng về văn chương nên dưới thời nhà Hồ, năm 1444, Hồ Hán Thương làm một cuộc cách mạng giáo dục: thêm Toán Pháp trong chương trình học và trong Hương Thí có bài thi Toán đố - dầu chỉ là toàn về số học. Bài thi Toán được coi như thi đệ ngũ trường.
    Thí dụ đầu đề bài toán đố: (bằng chữ Hán, xin tạm dịch: "Vừa gà vừa chó có 36 con, Bó lại cho tròn đếm đủ 100 chân" Hỏi có bao nhiêu con gà, bao nhiêu con chó. Đáp số: 22 gà, 14 chó.

5. Muốn được tham dự kỳ ti Đại Tị, thí sinh phải qua kỳ thi sát hạch ở tỉnh hay lộ, do quan Đốc Học (Cử Nhân, chánh ngũ phẩm) tổ chức.
    Nếu đỗ kỳ thi nầy thì được gọi là Cậu Khóa.
    Thí sinh đậu đầu là Tỉnh Nguyên.
    Thi Hương tại địa phương (8 tỉnh) do Đốc Học tổ chức về hành chánh, nhưng Hội Đồng Giám Khảo (20 đến 26 vị cho mỗi trường thi) do triều đình cử về. Quan Đại Thần (Chánh Nhất Phẩm (3)) làm Chánh Chủ Khảo, và quan Ngự Sử (Chánh Nhị Phẩm) làm Giám Sát. Quí vị Giám Khảo thường rất nghiêm khắc, điển hình là quan giám khảo Trần Sĩ Trác...

6. Tùy theo nhu cầu quốc gia và thứ bậc - đậu cao thấp (ưu, bình, thứ), quí vị tân khoa được bổ ra làm quan.
    * Cử Nhân được bổ làm Tri Phủ (là huyện hay quận lớn, tòng ngũ phẩm), Tri Huyện ( huyện trung bình, chánh lục phẩm), Tri Châu (vùng thượng du/cao nguyên, tòng lục phẩm) hay Đốc Học (coi sóc việc học hành và thi cử trong một tỉnh, chánh ngủ phẩm) hay làm Hành Tẩu (tạm phái) trong Lục Bộ (Lại, Hình, Lễ, Hộ, Binh, Công) ..
    * Tú Tài được bổ làm quan Giáo Thụ (dạy học ở phủ, chánh thất phẩm), quan Huấn Đạo (trông coi việc học ở huyện, chánh bát phẩm) hay những chức vụ hành chánh khác.

7. Từ đông sang tây, tự cổ chí kim, khoa mục là đường tiến thân vinh hiển nhất. Từ Stanford University, Prof. Postdoc. Condoleezza Rice (4+2+2+1=9 năm college) hiên ngang bước  vào chánh trường  với chức Secretary of State để rồi hãnh diện về với Stanford University đầu năm 2009.
    Nho sĩ (nhà Nho) đỗ đạt ra làm quan là hiển nho.
    Thi hỏng về làm nghề dạy học, thầy thuốc, xem tử vi, lý số ... là hàn nho, túc nho.
    Nhiều người đỗ đạt, hiển hách nhưng không thích chốn quan trường: "Lên non tìm động hoa vàng ...ngủ say - thơ của Phạm Thiên Thư". Đó là ẩn nho.

II. Đại Cương về Quốc Tử Giám và Thi Hội

A. Quốc Tử Giám:

1. Quốc Tử Giám (còn gọi là Quốc Học Viện, Thái Học Viện ...) là trường quốc học đầu tiên ở nước ta được chánh thức thành lập năm 1076 tại Thăng Long. Thuở  bình minh (1076), Giám là trường công lập của hoàng gia mà người học trò đầu tiên là thái tử Lý Càng Đức (tức Lý Nhân Tông, 1072-1127). Qua thời gian, Giám được nâng cấp để trở thành trường đại học cao cấp nhất của Vạn Xuân. Vua Trần Thái Tông (1225-1258) năm 1253 đã xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Giám để nghe giảng Tứ Thư, Ngũ Kinh ... Các sĩ tử Hội thí đến kinh đô mà học và luyện thi ở Giám rất đông, để nghe Hoàng Giáp (Chánh Tiến Sĩ) Bùi Huy Bích, Nguyễn Nghiễm, Ngô Thì Sĩ .. và quí vị Tiến Sĩ Trần công Xán, Phan Huy Ích ... bình những bài văn hay của những cử nhân, tiến sĩ đậu cao trong các kỳ thi Hương, thi Hội trước. Và cống sinh (người dự thi Hội = PhD candidate) đừng quên ôn tập cổ văn, Đường thi, và các truyện Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc, Thủy Hử ..
Văn Miếu và Quốc Tử Giám ở Hà Nội

2. Giám được xây theo hướng bắc nam: "Thánh nhân nam diện nhi trị" (kẻ sĩ hướng về phía nam mà cai trị). Thái Học Viện chuẩn bị cho sĩ phu - như là những ông Hổ - hùng dũng xuống núi: "Mãnh hổ hạ sơn" - mà đứng đầu Giám (Viện Trưởng) là quan Tế Tửu (tòng tứ phẩm)
    Văn Giám và Văn Miếu (thờ Khổng Tử và Thất Thập Nhị Hiền) và được xây cất từ năm 1070) là một yếu tố quan trọng - để Đông Đô - trở thành thủ đô: "Ngàn năm văn vật"
    Năm 1802, nhà Nguyễn xây Văn Miếu và Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế. Văn Giám Tràng An thật sự bị đóng cửa vào năm 1879!. Hà Nội mất dần ưu thế!

3. Điều kiện được nhận vào học ở Quốc Học Viện Giám:
     - Những ông Cống, con cháu vua (tôn sinh), con quan (từ ngũ phẩm trở lên, gọi là ấm sinh).
     - Sinh viên ưu tú trong dân gian
     - và khoảng 300 Tam Xá Sinh là những sĩ tử thi Hội khóa trước nhưng chỉ đỗ:
        * Tam Trường (gọi là Thượng Xá Sinh) - được cấp 1 quan = 10 tiền mỗi quí - ba tháng)
        * Nhị Trường (gọi là Trung Xá Sinh) - được cấp 9 tiền mỗi quí.
        * Nhất Trường (gọi là Hạ Xá Sinh) - được cấp 8 tiền mỗi quí.
    Một quan = 10 tiền = 600 đồng. Làm thuê cả ngày được 1 tiền (mua được 4 bát gạo). Người có 6 vạn = 60.000 tiền là cự phú.


Một sĩ tử ngày xưa

4. Giám (nhất là gác Khuê Văn) sôi nổi nhất, hào hứng nhất là những buổi bình thơ phú, bình văn định kỳ (mỗi tháng 1 lần là Tiểu Tập, 3 tháng một lần là Đại Tập) dưới sự hướng dẫn của Viện Trưởng, Viện Phó (quan Tưng Hiệp, tòng ngũ phẩm) và các thầy (Trực Giảng) như lôi cuốn lòng người - lâng lâng đi vào văn chương nghệ thuật mà đắm chìm trong văn hóa dân tộc - ngàn năm dấu yêu. Bình giải kinh thư (Tứ Thư, Ngũ Kinh) luôn luôn là đề tài hấp dẫn và vô tận. Đi xa hơn, ướt át hơn là những khách mời và thầy trò cùng bình giảng" "Sắc bất ba đào, dị nịch nhân" (sắc đẹp người con gái ví như vực sâu, không thấy sóng mà người thường chết đuối vì nó!). Tình tứ hơn, lãng mạn hơn thí sinh bình giải:
    "Kim nhật bất tri hà xứ khứ,
    Đào hoa y cựu tiếu đông phong"
Thi hào Nguyễn Du dịch:
    "Trước sau nào thấy bóng người,
    Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông".
Khuyết danh dịch lã lướt hơn:
    "Tình lỡ rồi, mà hình bóng người,
    Còn như ôm mãi trong lòng tôi".

B. Thi Hội:

1. Thi Hội ở kinh đô, do Bộ Lễ (Bộ Lễ trông coi nghi lễ, tế tự và học hành thi cử) tổ chức (soạn đề thi, cử hội đồng giám khảo ...). vào mùa xuân những năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất. Ngày xưa thi Tiến Sĩ là kỳ thi tập thể (tất cả sĩ tử cùng làm một đề thi). Ngày nay, mỗi sinh viên 1 đề tài nghiên cứu thí dụ: "Thực trạng nông dân Việt Nam dưới thời Pháp Thuộc (1862-1945)" là một luận án Tiến Sĩ về Lịch Sử, "Sự phát triển giáo dục đại học của Mỹ và Đại Hàn trong thập niên 1960" là một luận án Tiến Sĩ về Giáo Dục, "Giải pháp hoàn thiện các công cụ chủ yếu cho chánh sách tiền tệ ở Việt Nam (2003)" là luận án Tiến Sĩ Kinh Tế.
    * Vua Trần Thái Tông (1225-1258), năm Nhâm Thìn (1232) cho mở khoa thi Thái Học Sinh để lấy tiến sĩ. Đó là khoa thi Hội đầu tiên của nước Văn Lang. Đỗ thứ nhất thi Hội là Hội Nguyên.
    * Vua Trần Duệ Tông (1372-1377), khóa thi Giáp Dần (1374) ban áo mão vinh qui bái tổ cho 50 tiến sĩ.
    * Qua thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) thì khoa cử Đại Việt đến cực thịnh (mỗi khóa có 3, 4 ngàn thí sinh. Nhà vua cho khắc bia Tiến Sĩ (Ông Nghè) và Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa. Tên quí vị - mỗi khóa- được khắc trên một tấm đá - và dựng ở Văn Miếu Đông Kinh (1070-1879).

2. Thi Hội có 4 bài thi (tứ trường) tương tự Hương thí nhưng bao quát rộng lớn hơn nhiều
    * Kỳ Đệ Nhất Trường: Bộ Lễ ra 7 đề thi (2 bài ở Tứ Thư, 5 đề ở Ngũ Kinh). Cống sinh chỉ phải làm 3 đề (là 1 bài Truyện và 2 bài Kinh), hoặc cả 7 đề thi (không được làm 4, 5, 6 đề).
    * Đệ Nhị Trường: thí sinh thi 3 bài (Chiếu, Biểu và bài luận văn).
    * Đệ Tam Trường: cống sinh thi bài thơ, phú: đó là thơ ngũ ngôn, Đường luật 8 vần, bài phú 8 vần.
    * Đệ Tứ Trường: thí sinh thi bài Văn Sách gồm cổ và kim văn.
Giám khảo coi thi

3. Mỗi bài thi qua tay 7 quan trường (giám khảo):
    * 4 vị quan đồng khảo, chấm riêng biệt rồi cùng nhau quyết định bao nhiêu điểm (phân) và ký tên, đóng dấu nội trường.
    * 3 vị chánh phó chủ khảo và quan Tri Cống Cử - chấm riêng rẽ - rồi cùng nhau phê quyển thi và đóng dấu ngoại trường. Nội trường chấm xong thì chuyển qua ngoại trường.
    * Bài thi (từng bài) được chấm và phê điểm từ 1 đến 10 phân:
        - quyển thi bị đánh hỏng (liệt) là dưới 1 phân, giám khảo phê: "bất cập nhất phân".
        - quyển được 1 phân, giám khảo phê: "thứ con".
        - quyển được 2 phân, giám khảo phê: "thứ lớn".
        - quyển được 3 phân, giám khảo phê: "bình thứ".
        - quyển được 4, 5 phân, giám khảo phê: "bình".
        - quyển được 6, 7, 8 phân, giám khảo phê: "bình lớn".
        - quyển được 9,10 phân, giám khảo phê: "ưu".
Khác với thi Hương,sĩ tử Hội thí:
    * dẫu bài thi đệ nhất trường bị hỏng (liệt) vẫn được vào thi kỳ đệ nhị. Nếu kỳ thi đệ nhị lại bị phê "bất cập nhất phân" thì thí sinh mới bị loại.
    * kỳ thi đệ nhất trường được 1 phân, kỳ thi đệ nhị dù bị phê là "bất cập nhất phân" thí sinh vẫn được vào thi kỳ đệ tam trường. Kỳ đệ tam trường dù chỉ được 1 phân, cống sinh vẫn được thi đệ tứ trường. Đời nhà Nguyễn, thí sinh chỉ đỗ được Tam Trường và được gọi là Phó Bảng (4) (tương đương sous docteur, từ 1829).

4. Để cho thi cử được nghiêm túc (thực ra khoa cử ngày xưa rất nghiêm minh), trong suốt thời gian khảo thí, quí vị giám khảo phải ăn ở trong trường thi, tuyệt đối không được liên lạc với bên ngoài.
Giám khảo có quyền tối hậu. Thời VNCH (1954-1975) chỉ có những năm cuối cùng, vì nhu cầu của cuộc chiến (chiến tranh quá tàn bạo từ năm 1967), Bộ Quốc Phòng cần nhiều sĩ quan nên đề nghị Bộ Giáo Dục hạ thấp điểm Tú Tài xuống còn 7/20 thay vì 10/20. Đó là Tú Tài 7 điểm (thay vì 10 điểm). Từ những năm 1968 về sau (điểm dậu Tú Tài hạ thấp từ từ: xuống 9.5, 9.0, 8.5, 8.0, 7.5 sau cùng là 7.0!.

5. Điều kiện để được gọi là Cống Sinh (thí sinh dự thi Hội thí)
    * Sĩ tử không phải qua kỳ thi sát hạch:
        - sinh viên trường Quốc Tử Giám.
        - những cử nhân, quí vị đậu 2 lần Tú Tài trở lên.
        - Giáo Thụ, Huấn Đạo, và quí vị đã đỗ kỳ sát hạch nhưng hỏng đệ tam trường kỳ thi Hội.
        - quí vị chỉ có Tú Tài và trên 40 tuổi.
    * Thí sinh phải qua kỳ thi sát hạch:
        Kỳ thi sát hạch được mở trước kỳ thi Hội 2, 3 tháng và có 3 bài thi : chiếu, biểu và bài sớ (hay luận văn). Thí sinh phải được điểm từ Bình trở lên mới được dự Hội thí. Thi Hội quả là khó vậy - nhất là cống sinh phải tự học.

6. Một bài thi Hội tiêu biểu: - khóa Tân Mùi 1871:
    * Phần nào đã thấy rõ sức mạnh súng đạn của Pháp, vua Tự Đức (1487-1883) đành chấp nhận Hòa Ước Nhâm Tuất (1862) nhường cho Pháp 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường!. Nhà vua không chủ trương đánh Tây nữa. Sĩ phu thì người muốn đánh, kẻ muốn thôi!
    * Kỳ thi Hội, khóa Tân Mùi (1871) , bài thi Văn Sách (đệ tứ trường) - phần kim văn - Bộ Lễ hỏi: "Công thủ chi sách" (Thí sinh phải tâu trình- - trong tình trạng hiện tại của đất nước đang nguy biến thì đánh hay hòa với Tây là thượng sách? ).
        -Trong số những quyển trả lời, một cống sinh phe chủ chiến - dùng những chữ quyết liệt để quyết đánh và có ý trách triều đình Huế như sau: " Triều đình ủng bách vạn quân thiết, triều đình ủng bách vạn chi tinh binh. Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã" (Triều đình có cả trăm vạn quân tinh nhuệ mà thấy việc nghĩa - không dám làm là không có dũng khí!).
        - Tân Mùi (1871) là khóa thi đặc biệt vì "Tổ quốc lâm nguy". Hội đồng giám khảo phải đệ lên "ngự lãm" (cầu cứu vua). Vua Tự Đức phê một câu Hán văn đại ý: "Hôm nay xin đánh, ngày mai xin đánh - đánh mà không thắng thì đặt trẫm vào chỗ nào?!). Quan trường cho tên thí sính nầy vào danh sách Phó Bảng (4) (sous docteur es lettres, trong Ất bảng hay Bảng đỏ). Đó là Phó Bảng Vũ Tuân. - làm quan đến Kinh Kỳ Đạo Ngự Sử (tòng tứ phẩm) rồi bất bình với vua Tự Đức mà rũ áo từ quan về quê (Hà Nam dạy học.

7. Tùy theo quan điểm cao thấp, Hội Đồng Giám Khảo tạm định 3 cấp (tam giáp) Tiến Sĩ:
    * Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ Cập Đệ (cao nhất, ngày nay là Tiến Sĩ Quốc Gia).
    * Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ Xuất Thân (Tiến Sĩ Đại Học - Docteur de lUniversité).
    * Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân (Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp - Docteur du 3 eme Cycle).

Ngay sau khi có kết quả Hội thí, qúi vị Tiến Sĩ vào sân nhà vua để thi Đình.

III. Đại cương về Thi Đình: 
Thi Đình thời Hậu Lê

A. Chú thích về hình: Kỳ thi Đình Đối năm 1685 của Samuel Baron
    1. Vua Lê Hi Tông: chánh chủ khảo
    2. 4 vị quan đại thần: phụ tá
    3. 2 vị đại thần: ngồi ghế có lọng che ở sân rồng (sân thứ nhứt)
    4. các viên chức an ninh trường thi túc trực ở sân rồng (sân thứ nhì)
    5. phòng làm việc của giám khảo
    6. thí sinh thi Đình Đối khóa Ất Sửu (1685) đang nổ lực làm bài.
    7. quan võ canh phòng cẩn mật tại sân thi (sân thứ nhất).Chú thích thêm: Kỳ thi Đình Đối (Thi Điện), khóa Ất Sửu 1865 được tổ chức dưới thời vua Lê Hi Tông (1876-1705). Bộ Lễ tập họp được 2800 thí sinh vào tháng chạp. Qua kỳ Hội thí chỉ còn lại 13 Tiến Sĩ. Tháng Giêng năm Bính Dần (1686) quí vị được Hoàng Thượng gọi vào thi Đình. Đề thi hỏi về:" Lễ trời đất muôn vật". Ngài cho đỗ:
    *Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ Cập Đệ - Đệ Tam Danh (Thám Hoa) là Vũ Thịnh. Không có Tiến Sĩ nào xứng đáng cho Đệ Nhị Danh (Bảng Nhãn) và Đệ Nhất Danh (Trạng Nguyên)
    * Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ Xuất Thân ( hay Hoàng Giáp = Tiến Sĩ Chánh): Bùi Công Tốn
    * Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân: 11 người.
Kết quả: (1+111): may mắn, kỳ Đình Đối này đậu 100%.

Sau mỗi kỳ thi Đình, kết quả có 3 danh sách
    * Danh sách thứ nhất là Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa. Đó là 3 vị đỉnh cao của khoa bảng ngày xưa (ngày nay là Post Docteural Followship = Agrégé = Thạc sĩ). Vua chúa rất kính nể
    * Danh sách thứ hai là những Chánh Tiến Sĩ hay Hoàng Giáp (cụ Nguyễn Nghiễm, thân phụ đại thi hào Nguyễn Du ...)
    * Danh sách thứ ba là quý vị Tiến Sĩ (đồng Tiến Sĩ Xuất Thân) và danh sách nầy thường dài hơn hai danh sách trên.

B. Đình Thí:

1. Năm Đinh Mùi (1247), vua Trần Thái Tông đặt ra Tam Khôi là Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa. Đó là kỳ thi Đình đầu tiên của nước ta - với Trạng Nguyên (Nguyễn Hiền), Bảng Nhãn (Lê Văn Hưu), tác giả bộ Đại Việt Sử Ký, 30 cuốn) và Thám Hoa (Đặng Ma La).
    -Thí sinh làm bài thi ở sân - trong cung điện nhà vua (Thi Điện) - trọn một ngày - từ giờ Mão (7 giờ sáng) đến giờ Thân (5 giờ chiều). Thi Điện còn gọi là Đình Đối - vì thí sinh ứng đối trước sân rồng - hiên ngang đối diện với nhà vua.
    - Thí sinh cứ người không mà vào thi. Nhà vua cung cấp bút giấy, nước trà, thực phẩm...

2. Thi Điện chỉ có 1 bài thi (Văn Đình) - nên có thể coi là Đệ Ngũ Trường của Hội thí. Vua ra đề thi, là chánh chủ khảo, là giám khảo. Thiên tử lấy quyết định sau cùng để chọn Tam Khôi và xếp bậc Tiến Sĩ. Dĩ nhiên nhà vua có các quan đại thần phụ giúp. Ngài chỉ như xem lại (double check for accuracy). Kết quả kỳ thi Hội do Bộ Lễ trình:
    - Danh sách thứ nhất, cao nhất: là 3 vị nhất, nhì ba của khóa thi
        * Đệ Nhất Giáp, Tiến Sĩ Cập Đệ - Đệ Nhất Danh: Trạng Nguyên
        * Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ Cập Đệ - Đệ Nhị Danh : Bảng Nhãn
        * Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ Cập Đệ - Đệ Tam Danh: Thám Hoa.
Vua Lê Thánh Tông, khoa Bính Tuất (1466) không lấy thí sính nào xứng đáng trong danh sách nầy. Có 1,100 thí sinh vào Thi Hội. Trúng tuyển 27 người. Vào Thi Đình với kết quả (0+ 8 +19).
    - Danh sách thứ hai là Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ Xuất Thân: Chánh Tiến Sĩ (hay Hoàng Giáp)
    - Danh sách thứ ba là Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân.
Khóa Ất Mùi(1475) có hơn 300 cống sinh vào thi. Đỗ 43 tiến sĩ. Kết quả thi Đình: (3+3+27)

3. Chấm thi và cách lấy đậu Đình thí:

    - Tuy là khoa thi của nhà vua, vua ra đề thi (gọi là chế sách) - bài giải đáp của thí sinh là đối sách (văn sách)-  thế nhưng vẫn có ban giám khảo phụ vua/chấm quyển và định đoạt thứ bậc - với dấu nội trường và ngoại trường (hay độc quyển - quyền tối hậu)
        * Bài Văn Đình được phê điểm 3 phân: đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân (điểm thi Hội liên quan chặc chẽ với thi Đình. Có thí sinh chỉ được 1, 2 phân của bài Văn Đình nhưng kết quả thi Hội là 8 phân - Hoàng thượng cho đậu trong danh sách thứ 3.
        * Nếu bài Văn Đình được 4, 5 phân: Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ Xuất Thân (chánh Tiến Sĩ), danh sách 2).
        * Nếu bài Văn Đình được 6, 7 phân: Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ Đệ Tam Danh : Thám Hoa
        * Nếu bài Văn Đình được 8, 9 phân: Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ Đệ Nhị Danh : Bảng Nhãn.
        * Nếu bài Văn Đình được phê điểm 10 phân: Đệ Nhất Giáp Tiến Sĩ Đệ Nhất Danh : Trạng Nguyên.

Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa là danh sách thứ nhất. Một cách giản dị: đó là tương đương với Thạc Sĩ (Post Doctor ngày nay với ít nhất 10 năm đại học) của kỳ thi Đình Đối.
Bảng hổ đề danh (3 bảng)

4. Phải mất gần 400 năm (từ 1075) từ đời vua Lê Thánh Tông trở đi (1460-1497) thì khoa cử nước ta mới được kiện toàn - tới cấp cao nhứt là thi Đình.
Nhà vua đặt ra lệ xướng danh (gọi tên quí vị trúng tuyển một cách trang trọng), lệ vinh qui bái tổ (rước tân khoa về nguyên quán), khắc bia Tiến Sĩ (mỗi khoa một tấm bia đá dựng ở Văn Miếu Thăng Long), còn sao khắc bia Tiến Sĩ từ khóa đầu tiên của triều Lê - Nhâm Tuất ( 1442) trở xuống, lệ cấp áo mũ - đại xiêm cho thêm phần long trọng, lệ cho vào dự yến ở Vườn  Quỳnh, đãi ngộ sĩ tử hết sức nồng hậu ... Làm gì mà quí vị Nho sĩ chẳng một lòng với vua, với dân tộc và tổ quốc Việt Nam. Thực ra, lệ vua ban áo mão vinh qui cho quí tân khoa có từ thời vua Trần Duệ Tông (1372-1377) cho 50 Tiến Sĩ, khóa Giáp Dần (1374).
    Tôi yêu nước Việt lạ thường,
    Yêu từ ngọn núi, đến từng con sông
    Ngân Sơn, châu thổ sông Hồng,
    Là nơi ấp ủ con Rồng cháu Tiên.


Lễ xướng danh

5. Học tài thi phận?
Sau khi làm xong bài Đối Sách ở Đình thí, sĩ tử chỉ còn chờ xem mình ở trong danh sách nào của Tam Giáp Tiến Sĩ (vì kết quả dự thảo của kỳ thi Hội do Bộ Lễ tổ chức là căn bản - thì mình đã đậu Tiến Sĩ rồi). Tuy nhiên có khóa thi Điện, nhiều thí sinh bị nhà vua phê "liệt", để rồi chỉ đậu Phó Bảng !. Khóa Nhâm Thìn (1772), thời vua Lê Hiển Tông, đậu 30 tiến sĩ. Vào thi Đình, thiên tử cho đỗ (0+2+11)!

Đó là bia đá Tiến Sĩ số 79 (Nhâm Thìn), niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 33, dựng năm 1772.

6. Bài thi Đình dưới thời vau Lê Tương Dực (1510-1516) khóa Tân Mùi (15110
    - Bài Văn Đình, hỏi sĩ tử: " Đường lối trị nước xưa nay": Làm sao để tô điểm sơn hà, mở mang và giáo hóa dân chúng, sắp xếp chánh sự, và trau dồi phong tục tập quán ...
    - 107 thí sinh (đã đổ thi Hội thí đã nắm bằng Tiến Sĩ - dù nắm qua không khí! - vào thi Đình Đối nhà vua cho đậu 47 vị mà thôi! (3+9+35).
    - Thường thường vua Đại Việt - "văn hay chữ tốt" - vì được học quan hướng dẫn tỉ mĩ ngay từ lúc lọt lòng mẹ - điển hình là vua Tự Đức. Cho dù "văn hay chữ đẹp"  - thế nhưng nhà vua không đi thi như thường dân - vì là Thiên Tử.

7. Chẳng bao lâu sau ngày vinh qui bái tổ - các tân khoa tuần tự được triều đình bổ nhiệm. Ai ai cũng có nhiệm vụ mà phô diễn tài năng và tiết tháo của mình. Rồi cứ 10 năm được thăng một trật và 15 năm được lên một chức. Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (Tân Hợi, 1731) lên đến Công Bộ Thượng Thư. Bảng Nhãn Lê Quí Đôn (NhâmThân 1752) Công Bộ Thượng Thư.

8. Vua Gia Long (1802-1819) , năm 1807 cho mở lại kỳ thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn. Nhưng mãi tới năm 1822 , Minh Mệnh (1820-1840) mở lại Hội Thí và Đình Thí. Vì e rằng quí Trạng Nguyên kiêu căng và lộng hành, nhà vua bỏ hẳn danh xưng Trạng Nguyên. (Nguyễn Bĩnh Khiêm (1492-1587) đỗ Trạng Nguyên thời nhà Mạc (1527-1592) làm quan đến Lại Bộ Thương Thư - Thái Phó Trình Quốc Công - vì thế người đời gọi là Trạng Trình. Ông rất giỏi văn chương và lý số. Rồi dần dần, nhà Nguyễn bỏ luôn danh sách thứ nhất của tam giáp Tiến Sĩ. Người đậu đầu thi Đình được gọi là Đình Nguyên. Bia Tiến Sĩ triều Nguyễn dựng ở Văn Miếu, kinh đô Huế (193 vị).

9. Bia Tiến Sĩ từ 1442 đến kỳ thi cuối cùng Đinh Mùi (1787 đời vua Lê Chiêu Thống) có 117 khóa (96 thời Lê, 21 triều Mạc) Nếu tính cả các khóa thi đặc biệt (Đông Các, Chế Khoa) thì tổng cộng là 124 khóa thi với 2,200 Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa và Tiến Sĩ trong 345 năm (Đông Các và Chế Khoa: không có danh sách một). Như thế trung bình mỗi khoa Đình thí ngày xưa có 18 vị. Phần vì mai một với tháng năm, phần vì tiêu thổ kháng chiến (19 tháng 12, 1946) chỉ hiện còn 82 bia ở Văn Bia Quốc Tử Giám Đông Kinh mà thôi (mất 42 bia).


Bia Tiến Sĩ ở Hà Nội

10. Nho học cáo chung, Kỷ Mùi 1919 là khoa thi Hội /thi Đình cuối cùng của nhà Nguyễn. Cũng năm 1919, vua Khải Định (1916-1925) ban sắc chỉ: bãi bỏ các kỳ thi Hán học (thi Hương, Hội thí và Đình thí) tại Trung và Bắc phần. Chữ Nho được thay thế bằng hệ thống giáo dục thuộc địa.

Lời kết:

"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai"
(Thiền Sư Đời Lý)

"Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một cành mai"
(Ngô Tất Tố dịch)

Thơ phú hay quá và chữ Hán tuyệt vời. Nhưng lối học xưa kia quá từ chương  mà quên đi Toán, Khoa Học và Kỹ Thuật. Kỹ sư, khoa học gia và các nhà kỹ thuật Mỹ chiếm dưới 5% dân số nhưng đã đóng góp 55 tổng sản lượng nội địa (Reader's Digest, 12/2005, p. 110-111). Đây là một bài học quí giá vô cùng cho "Việt Nam lục địa" - chỉ gởi sinh viên du học/ để học những ngành đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh tế quốc gia - mà quên đi các ngành "hữu danh vô thực!" nhé.

God bless Vietnam and America!

GS Phạm Đức Lien
Former Instructor
Central Piedmont Community College

Chú thích:
     

        1. Bình có 2 giải thích:
            - hạt bình địa (trong nước gọi là giải phóng mặt bằng), dễ dàng thi đỗ.
            - đậu Bình tức là Magma Cum Laude: = 3.8 + = 95+ trong thang điểm Ưu, Bình, Thứ, Liệt = yếu = rớt = dưới 50 / thang điểm 100.
2. Thông ngôn (thông dịch Pháp Việt), Phán sự (thơ ký tòa Hành chánh), Thầy trợ giáo (dạy lớp 1, 2, 3 tiểu học), Thầy ký (lục lộ = công chánh, kiểm lâm, kho bạc, giây thép, nhà thương ...): tối thiểu có bằng tiểu học (Certifica d'Etude Primaire = Xecs = Rime), lương tháng là 5 đồng (trong khi lương lính khố xanh là 2 đồng - bộ đồ Tây Âu phục giá 2.5 đồng).
3.  Quan chế ngày xưa chia làm 9 phẩm (cửu phẩm), mỗi phẩm có 2 bậc chánh và tòng.
            Cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm:
            * Chánh nhất phẩm (hay tòng nhất phẩm): quan đại thần, lương hàng năm là 470 quan tiền + 300 phương gạo.
            * Chánh nhị phẩm : quan Ngự Sử, Tổng Đốc.
            * Tòng nhị phẩm: Tuần Phủ
 ...
            * Chánh bát phẩm (tòng bát phẩm): Huấn Đạo.
            * Chánh cửu phẩm (tòng c ửu phẩm): Thơ Lại, Chánh Tổng ... lương 24 quan tiền, 16 phương gạo.
4.  Ông Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh) , năm học 1907/08 đang học lớp đệ nhất niên (tương đương lớp đệ thất, lớp sáu) trường Quốc Học Huế thì bị đuổi học vì tham gia biểu tình chống thuế tháng 4/1908. Tháng 6/1911 đi Tây làm cách mạng. Thế nhưng thân phụ (cụ Nguyễn Sinh Sắc) đậu Hương Cống và được vào học ở Quốc Tử Giám để luyện thi Hội (qua sự giúp đỡ của Thương Thư Bộ Lại là Cao Xuân Dục) . Cụ Sắc rớt kỳ thi Hội - khóa Tân Sửu (1901). Chánh chủ khảo là Cao Xuân Dục xét lại bài thi và cho đậu Phó Bảng (ngày nay tương đương với Master).