Monday, June 5, 2017

VÕ PHƯỚC HIẾU * NỖI BUỒN HOÀI NIỆM



NỖI BUỒN HOÀI NIỆM

VÕ PHƯỚC HIẾU


Tôi vào năm thứ nhất trường Trung học Trương Vĩnh Ký thường gọi là trường Pétrus Ký, niên khóa đầu tiên khi trường được quân đội viễn chinh Pháp sang tái chiếm Đông Dương sau thế chiến thứ hai, giao hoàn lại chánh quyền Việt Nam. Đó là năm 1947 sau một thời gian trường ăn nhờ ở đậu nơi nhiều cơ sở giáo dục khác như trường Sư Phạm ở cạnh Sở Thú, trường Nữ Trung học Gia Long, chủng viện Mossard, trường Marie Curie…

Chính nơi trường Marie Curie nguy nga đồ sộ nầy, thấp thoáng đó đây nhiều khuôn mặt tây đầm oai vệ với quần áo thẳng thớm phẳng phiu, thằng nhỏ nhà quê là tôi chưa hoàn hồn khi đang ngơ ngác, chới với giữa đô thành tráng lệ, lại ngỡ ngàng âu lo lúc dự thi tuyển vào trường Pétrus Ký. Và cũng trong năm 1947 đó, trường mở lại chế độ nội trú sau nhiều năm gián đoạn vì thời cuộc và chiến tranh.

Một may mắn khác là tôi thuộc thành phần học sinh nội trú này. Chẳng qua nhờ ăn "dưa leo chấm nước cá kèo" nên theo chân "mấy anh học trò nghèo học buộc xi ê". Nhờ ông trời thương vì với lớp nghèo như tôi thi tuyển vào trường Pétrus Ký lúc bấy giờ mà trợt một keo thì cuộc đời kể như đi đứt. Nói theo ngôn ngữ dân gian chân quê của bà con tôi là kể như tôi sụm bà chè luôn. Lý do là tôi đâu còn cơ hội nào nữa để được dự thi lần thứ hai.

Chế độ tuyển chọn thời thực dân thịnh trị vô cùng khắc khe nghiệt ngã. Bao nhiêu nam nữ hiếu học cầu tiến thời đó đã mất hết tuổi thanh xuân mộng mơ của mình và đành chấp nhận định mệnh phải bỏ dở dang việc học hành để tiến thân khi dứt cấp sơ học.

Thực tình cũng nhờ tôi tốt số do nhờ ơn trên và hồng phúc dòng tộc hay sao mà tôi lại đậu có hạng trong kỳ thi tuyển khó khăn đó. Và tôi đương nhiên được ban giám đốc nhà trường chọn vào chế độ nội trú. Một thành quả tôi không hề dám ước mơ nhưng đã là sự thật. Một nỗi mừng không bút mực nào tả được đối với tôi lúc bấy giờ. Không như ở mẫu quốc này hiện nay, gia đình nào không có thu nhập cao, con cái đều được cấp học bổng do chánh sách nâng đỡ và khuyến khích học hành của chánh quyền. Cho dù kết quả của chúng nơi trường ốc có đạt như ý muốn hay không.

Mấy năm ở nội trú, tôi giữ rất nhiều kỷ niệm, những kỷ niệm đầu đời này khó quên, không sao kể xiết. Chính nơi đây, tôi đã gặp "anh hùng tứ xứ", từ cuối mũi quê hương Bạc Liêu, Cà Mau quanh năm rì rào sóng vỗ đến Tây Ninh ngất nghểu Núi Bà huyền thoại, Biên Hòa bắp ngon bưởi ngọt... từ vùng biển mặn Gò Công, Mỹ Tho đến Hà Tiên với Đông Hồ ấn nguyệt, Thạch Động thôn vân v.v... trong Hà Tiên thập cảnh, Châu Đốc những ngày Vía Bà "ngựa xe như nước, áo quần như nêm"... Toàn là những tay hiếu học say mê cầu tiến.

Trường bãi bỏ hẳn chế độ nội trú khoảng năm 1951 sau đám tang Trần Văn Ơn được tổ chức trong khuôn viên nhà trường với thành phần nồng cốt là học sinh nội trú. Đây là một trong những đám tang lịch sử trọng thể hiếm có sau đám tang vĩ đại của chí sĩ Phan Châu Trinh thuở trước. Từ năm đó trở về sau, trường chỉ nhận duy nhứt học sinh ngoại trú mà thôi.

Gần năm mươi năm tuần tự tiếp nối, kẻ mất người còn, trải qua lắm biến cố biển dâu, đất nước đổi đời. Bao nhiêu bè bạn bằng hữu ngày xưa, nay dở sống dở chết nơi "xứ tù chung thân" Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bao nhiêu tri âm tri kỷ lưu đày nơi xứ lạ, ngậm đắng nuốt cay khắp năm châu, canh cánh trong lòng nỗi hờn ly hương mãi mãi quặn xoáy không nguôi. Tuy nhiên dù hoàn cảnh có oái oăm nghiệt ngã đến thế nào nhưng trong tâm tư tình cảm của chúng tôi vẫn in sâu, đậm nét câu đối chữ Hán do giáo sư Ưng Thiều viết và được khắc trên hai cột trụ đứng hoành tráng ở cổng chánh của trường:


«Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt
Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm».

Lật bật chúng tôi đã trang bị đầy đủ rương hòm để vào nhập học năm thứ nhứt, khởi sự cuộc sống tập đoàn với những sinh hoạt râm rấp theo một nội qui chặt chẽ. Chương trình học giao tiếp giữa hai bậc tiểu học và trung học nhằm giúp đám học sinh "ra ràng" còn non chèo chúng tôi làm quen với nề nếp, phương pháp và nhịp độ sinh hoạt mới của trường ốc. Do vậy, chưa có những gò bó, bức bách khắc khe như mấy năm sau này khi phải chuẩn bị trần thân khổ ải, thi cử trầy vi tróc vảy do chính sách giáo dục của thực dân Pháp.

Họ chủ trương hạn chế nhân tài bản địa vì sợ nguy cơ tiếp xúc nền tảng văn chương văn hóa phóng khoán cùng những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng, bác ái và tự do, dân chủ Tây Phương. Nhưng trong thực tế, họ đành chấp nhận thất bại chua cay. Dù họ có trăm mưu ngàn kế dùng những thủ đoạn và biện pháp độc tài độc đoán thất nhân tâm cách nào đi nữa vẫn không sao thoát khỏi nấm mồ ô nhục, nấm mồ phũ phàng chôn chính chế độ của họ sau thế chiến thứ hai.


Chúng tôi học tà tà. Hằng ngày, đa số chúng tôi mặc bộ đồ bà ba trắng phao được ủi xếp nếp. Giống như dáng vóc các anh công tử bột miệt vườn, chúng tôi đều mang guốc dông nhẹ hêu, lũ năm lũ ba kéo lẹp xẹp đến lớp học, qua dãy hành lang vừa dài hun húc, vừa khoản khoát, lúc nào cũng sạch sẽ lộng gió. Vài đứa thuộc hàng giàu có, con cái các địa chủ lục tỉnh khét tiếng, mang guốc lồng mức rắng chắc, nặng ì, mỗi bước đi nện mạnh xuống sàn gạch nghe lốp cốp lốp cốp như tiếng ngựa phi nơi đại đạo.


Bài vỡ đã ít. Tuy vậy, sáng nào chúng tôi cũng có lệ "ngồi ê tuýt" ôn lại bài học trong ngày hay chuẩn bị chu đáo sách vỡ hoặc dụng cụ cần thiết... trước khi đến lớp. Ngán nhứt là lúc "ngồi ê tuýt" bắt buộc vào buổi tối. Thì giờ quá dư giả, thừa mứa. Không biết phải làm gì. Chập chập chúng tôi cứ nhìn đồng hồ tay, thấy kim đồng hồ dường như ngừng chạy hẳn.


Thật chán phèo! Những lúc ấy, tôi thường hay nhớ lại những ngày tháng dài mài đủng quần ở ghế nhà trường tiểu học tại quận nhà. Nơi đây có quá nhiều thoải mái, tự do nên trong lòng tôi thoáng dậy vu vơ bao nhiêu tiếc nuối ngậm ngùi, phảng phất rất nhiều khuôn mặt bạn bè nối khố nay đã chia tay tản lạc, thằng góc biển, đứa chơn trời mù tăm.


Giờ đây, có đứa học hành xuôi chèo mát mái, đổ đạt thành danh thành tài. Chúng ăn nên làm ra, cuộc đời lên hương như diều gặp những ngày lộng gió, lúc nào cũng ăn trên ngồi trước. Thật tâm mừng cho chúng nó. Và chúng tôi cũng tự hào và hãnh diện chung cho tăm tiếng của nhà trường mẹ nữa.

Nhưng đại đa số còn lại, ngày ngày tất bật bon chen kiếm sống, chắt chiu từng đồng xu cắt bạc mà vẫn chưa yên thân yên phận. Nơi đây, tôi xin được chia xẻ nỗi niềm với những đồng môn bất hạnh này. Từng đứa từng tên cứ mãi ẩn hiện vấn vương trong tôi những lúc bâng quơ ngoái nhìn về dĩ vãng. Mới hay những hình ảnh mất đi bao giờ cũng dễ nhớ và đòng đọng dài lâu trong mỗi con người chúng ta.

Nghĩ đến ngày may mắn gặp lại đám trời đánh, tinh nghịch khuấy phá thuở thiếu thời này thật vô cùng mong manh mà nghe xao xuyến, buồn vô hạn. Đôi khi bên tai tôi lại văng vẳng lời của thầy tôi nơi trường tiểu học, dong dài về huyền sử của dân tộc, về định mệnh của người Việt nam qua truyện kể Âu Cơ và Lạc Long Quân.

Hai ông bà đã chia tay nhau, mỗi người dẫn dắt năm mươi con theo hai ngả khác nhau. Hai ngả cách ngăn diệu vợi: rừng núi chập chùng và biển cả thẳm sâu. Những lúc đó, tôi trầm ngâm lặng thinh như cúi đầu chấp nhận định mệnh của chính mình!?


Ngồi không khơi khơi nơi phòng «ê tuýt», chúng tôi đâm ra buồn ngủ. Lại không được quyền ngủ. Chỉ còn nước tự cứu rổi lấy mình là ngủ gà ngủ gật một vài thoáng ngắn ngũi chờ tiếng chuông reo giải thoát cuối giờ. Vì đây là giờ học bắt buộc mà!

Các thầy giám thị rất dễ thương. Thầy Nguyễn Văn Tình, thầy Thân, thầy Xáng, thầy Trương Minh Ứng, thầy Hồ Văn Trị, thầy Nguyễn Gia Tốn, "papa" Lê Văn Khiêm v.v... thỉnh thoảng hò hét cầm chừng để áp đặt trật tự phòng ốc. Hoặc phân xử những vụ kiện cáo lặt vặt không đâu đâu giữa chúng tôi.

Những lúc này được nghe hai bên nguyên cáo và bị cáo cãi qua cãi lại theo kiểu móc họng, giành phần thắng về mình. Thêm mấy đứa nhân chứng lứng khứng, làm nhưn làm nhụy, nhập nhầy lải nhải trước sau bất nhứt, không ra hồn. Rồi những lời phán quyết hàng hai, huề cả làng, làm đẹp lòng tất cả của các thầy là dịp cứu tinh qua giờ giấc.

Có đêm, ông Motais de Narbonne, Tổng Giám thị người Pháp cuối cùng của trường, bách bộ hóng mát xa xa bên ngoài phòng học để nhắc nhở sự hiện diện dù chiếu lệ của ông. Lúc ấy, ông đã lụm khụm, đi đứng chậm chạp khó khăn, thêm móm xọm, sắp về hưu.
Càng về khuya càng buồn ngủ hơn. Hai mí mắt mỏng tanh, nhẹ bong cứ kéo xụp xuống nặng nề, dù chúng tôi cố nhướng cách mấy cũng không sao hé mắt được. Thỉnh thoảng, các thầy gõ thước cốp cốp rồi gọi từng tên cảnh cáo, nhắc nhở phải học bài làm bài hoặc khuyên đọc sách trao dồi kiến thức.


Lớp học lại trở nên im thin thít. Từng chập từng chập, chúng tôi nghe mấy con tắc kè sống lâu năm, to thân lớn xác, thường thập thò ở cửa chánh hướng vào "đọt toa", kêu lên những tiếng nặng nề ngắt khoảng, trầm buồn khôn tả. Những lúc ấy, tôi cảm thấy trong lòng mình dấy lên nỗi nhớ nhà nhớ quê, nhớ mái chùa xưa cong cong rong rêu, nhớ vòm me cổ thụ xum xuê, nhớ đình nhớ miễu um tùm rập rạp… Những nơi tôi từng nghe phát ra lạnh lùng tiếng những con tắc kè thân quen hằng đêm.


Ngồi học nhưng chúng tôi canh giờ. Tai lắng nghe bác lao công giè thân quen xách thùng nước trà Huế nóng đổ vào hũ da bò lớn kê bên ngoài, phía sau lớp. Thế là chúng tôi nối đuôi nhau, hết đứa này đến đứa khác, xin thầy giám thị trực đêm cho phép đi lấy nước uống. Nước trà nóng giúp tỉnh táo trở lại không mấy hồi như có phép tiên vậy.
Hơn nữa, ra được ngoài sân là một cơ hội ngàn vàng, trông chờ đỏ con mắt. Có gió mát trong lành thoang thoảng mơn trớn. Có sao trời lấp lánh nên thơ quyến rủ. Có trăng non lơ lửng đồng tình...

Tha hồ cho chúng tôi ở nán lại đấu chuyện tào lao, vội vàng hấp tấp. Khốn nỗi đôi lúc chúng tôi bị níu kéo nán lại. Vì có thằng dốt đặc cán mai cũng tập tành con cà con kê, dong dài vẽ viên những câu chuyện Chị Hằng Chú Cuội, dặm mắm thêm muối cho lâm ly lôi cuốn rồi cao hứng chúng nó lang bang vào cõi mơ hồ, nào chòm sao Đại Hùng Tiểu Hùng, nào sao vua Xử Nữ v.v... Làm như chúng nó sành sõi, thông hiểu rành rọt về khoa thiên văn địa lý vậy. Nhưng thực tình bây giờ nhớ lại lúc đó chúng nó xạo hết chỗ nói, nhưng xạo có căn cơ, gốc ngọn, nghe cũng bùi tai. Nhờ vậy chúng tôi vốn mù tịt nhưng được một cái là tỉnh táo trở lại.

Một số bạn khác lén trốn ở các dãy bàn chót để đánh cờ tướng, cờ chó, cờ ăn ừ chờ giờ. Việc này không thoát được đôi mắt rất tinh của các thầy. Nhưng các thầy cũng thương tình thông cảm, giả điếc giả mù làm ngơ. Miễn sao chúng tôi giữ yên lặng để đứa nào muốn học hành có đầy đủ điều kiện tối thiểu, sẽ không phàn nàn hay khiếu nại gởi thưa.


Nay các thầy chắc đã nằm xuống thảnh thơi toại nguyện nơi lòng đất mẹ ấm tình ruột thịt, tâm thần thanh thản vì đã làm tròn trách nhiệm một kiếp người. Vì lúc ấy các thầy cũng đã trọng tuổi, trừ thầy Nguyễn Gia Tốn hãy còn trẻ măng, chỉ lớn hơn chúng tôi chắc chưa tròn một kỷ.


Sau này, đến 30/04/1975, chúng tôi vẫn thường gặp thầy trên "chiếc xe mẫu" bốn bánh, do chính thầy vẽ kiểu và thực hiện, có lấp máy nổ. Thầy làm phương tiện di chuyển trong thành phố, trông không giống ai nhưng lúc nào cũng lôi kéo người tò mò, quến kẻ hiếu kỳ. Kể ra thầy rất có khiếu sáng chế, tiếc thay "sanh lầm thế kỷ" nên không gặp thời để cải tiến thêm và thương mãi hóa sáng kiến của mình. Các thầy không còn nữa nhưng hình ảnh các thầy vẫn đậm nét và sống mãi trong lòng tôi.


Nhưng kỷ niệm có ảnh hưởng lớn đối với tôi có lẽ là phong trào đọc tiểu thuyết ở nội trú. Gia đình tôi ở xa thành phố, không phải cuối tuần nào hay ngày lễ nào cũng về thăm nhà được. Tài chánh có giới hạn, chỉ dành cho những chi tiêu tối cần cho việc học hành thi cử. Phương tiện di chuyển thời ấy hãy còn nhiêu khê, phôi thai và quá đắt.


Vẫn những chiếc xe điện cũ kỹ nối liền Sài Gòn Chợ Lớn theo đại lộ Galliéni sau này là Trần Hưng Đạo và đường Marins tức Thủy Binh hay Đồng Khánh ở Chợ Lớn... Chúng vẫn giữ một nhịp độ bất di bất dịch từ năm này sang tháng nọ, cứ cà rịt cà tang với những tiếng chuông báo động leng keng leng keng, đêm đêm nẹt điện xèn xẹt sáng ngời, chớp tắt không nguôi.


Vẫn những chuyến xe lửa Mỹ Tho Sài Gòn đen ngòm, nặng nề, chạy bằng củi thay vì than đá do thời buổi nhiễu nhương khan hiếm nguyên liệu. Lắm khi lên dốc cầu Phú Lâm, chúng phải phải thụt tới thụt lui đôi lần ba lượt để lấy trớn từ xa. Có khi mãi tận Mũi Tàu, An Dưỡng Địa An Lạc, tức khoảng xa cảng Miền Tây bây giờ. Những lúc đó, lũ nhỏ chúng tôi tha hồ đánh đeo theo các toa xe, mặc tình đùa giỡn nói cười thỏa thích.


Thêm vào đó, còn cảnh tượng khách đi xe đông như kiến, bám đeo đầy các cửa lên xuống, cả trên mui xe rất nguy hiểm. Bỗng nhiên tôi lại nhớ hình ảnh bác gác cổng già nơi ga xe lửa Phú Lâm hấp tấp thổi mấy hơi còi dài để báo động trước khi bác cẩn thận kéo hai cổng tre sơn trắng đỏ đều khoản, xuống nhằm chận xe cộ và bộ hành qua lại.


Vẫn những chiếc xe thổ mộ lụp cụp leng keng, leng keng lụp cụp với mấy con ngựa có tuổi ốm nhôm, chạy đi chạy về không biết bao nhiêu lượt trong ngày. Chung qui các chuyến xe đã làm nên một thời đó đều bắt đầu và được đợi chờ ở hai bến ga xe lửa Sài Gòn và Chợ Lớn Mới, Chợ Lớn Cũ. Mấy chú ngựa uể oải lúc cuối đời này, phóng uế bừa bãi, rải rác ngay giữa lòng đường. Dù vậy, bà con vẫn quen mắt từ bao đời rồi nên chẳng có một phản ứng nào cả.


Vả lại, mỗi lần về thăm nhà do phương tiện di chuyển vốn trắc trở đã đành mà còn tốn kém lắm đối với hạng học sinh có tiêu chuẩn "dưa leo, cá kèo". Tiền cha mẹ cho bỏ túi mang theo không đáng giá là bao nhưng là cả một hy sinh lớn lao của một đời người.


Chồng làm quần quật trên đồng không mông quạnh, quanh năm thách thức gió mưa sương nắng. Vợ thì lam lũ ngày nắng ngày mưa, đội trên đầu hay gánh gồng oằn vai băng qua những cây cầu khỉ khập khểnh hay đường làng quanh co trơn ướt, nào là rau khoai, cây trái vườn nhà đem bán ở chợ xa.


Chúng tôi thường ở lại trường vào mỗi cuối tuần. Cả một vài tháng hay gặp lễ lớn mới có hy vọng về thăm nhà. Số học sinh nội trú bất hạnh này tương đối không đông mấy vì có những bạn may mắn tốt số hơn, nhờ kiếp trước khéo tu, lánh dữ làm lành sao đó nên bây giờ được bà con quen biết ở thành phố hay những vùng phụ cận bảo lãnh đi phép ngày thứ bảy hay chủ nhật. Sáng chúng đi trọn ngày, tối về trường trước giờ đóng cửa "đọt toa".


Thời gian rổi rảnh của chúng tôi trong hai ngày cuối tuần dài thăm thẳm, buồn thúi ruột thúi gan. Bạn bè ở lại trường thường quá ít nên quang cảnh thêm trống vắng hắt hiu. Tuy trời nắng tốt với màu xanh rộn rả thắm tươi mà sao cảnh vật đối với chúng tôi trông quá nhạt nhòa thểu não. Mới hay "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!" (Nguyễn Du).


Chép bài hộ các anh lớn, vốn tiện tặn từng giờ từng phút mài miệt chuẩn bị ngày đêm để thi "bắc on", "bắc đơ" riết cũng chán. Chúng tôi cứ lần lữa hứa cuội, cười trừ, khất tiều khất quảng kéo dài mãi khiến các anh tới lui thúc hối như đi đòi nợ ngày nợ tháng không bằng. Đôi khi các anh buông những lời chê trách cho rằng chúng tôi làm ăn chậm lụt như lục bình trôi, còn hơn ba ba lội biển.


Chúng tôi chỉ có cách đọc sách để tiêu khiển. Thường là tiểu thuyết Pháp hoặc Việt mới giết hết thì giờ. Dọc sách ở nội trú là một cái thú tuyệt vời. Nhứt là vào khoảng mười giờ ruỡi mười một giờ, chúng tôi vừa đọc sách vừa run đùi nhâm nhi loại cơm cháy chảo đụn. Các chú các bác phụ trách ẩm thực sâm soi vàng hườm, dòn rụm, còn tráng lên một lớp mỡ thịt heo kho tàu óng ánh, thêm lởm chởm hành hương xắt nhỏ, thơm ngon lạ lùng.


Sau này, rời trường lưu lạc khắp nẻo đường quê hương, lăn lóc bập bũm trong những hoàn cảnh trái ngược nhau, rồi đến hôm nay ly hương bất đắc dĩ, lặn hụp nơi xứ lạ quê người từ mấy mươi năm qua, tôi vẫn còn tiêng tiếc cái thuở “vàng son” của một đời người này. Vì chẳng cách nào tôi tìm lại được hương vị qua ư đặc thù xa xưa ấy nữa.


Sách Pháp không ngoài những tác giả chúng tôi mua ở nhà sách Khai Trí hoặc Văn Đàn ở Chợ Cũ Sài Gòn những khi đi phép hiếm hoi cuối tuần. Đại khái như các tác giả Alphonse Daudet, George Sand, René Chateaubriand, Alexandre Dumas, Victor Hugo, Hector Malot, Pierre Loti và... giáo sư Phạm Duy Khiêm với tác phẩm "Les Contes en Terre Sereine" mà các thầy dạy Pháp văn như thầy Phan Quốc Quân, thầy Lê Văn Phước, thầy Hồ Văn Kỳ Trân, thầy Nguyễn Văn Thơ, thầy Huỳnh Văn Hai, thầy Lê Chí Thiệp v.v... thường khuyến khích khuyên bảo chúng tôi cố tìm đọc.


Riêng tiểu thuyết Việt thì nhiều, nhiều lắm. Thị trường chữ nghĩa tiếng Mẹ đang phát triển mạnh mẽ và tràn ngập lúc bây giờ. Hầu như hằng tuần nào cũng đều có những tựa sách mới với kỹ thuật in ấn trình bày ngày càng cải tiến hấp dẫn. Dù sao, sách Việt cũng dễ đọc, dễ hiểu, không phải lôi thôi tra cứu tự điển, mất thì giờ và mất cả hứng thú.


Chúng tôi dành dụm, chầm khíu đồng lặn đồng mọc, hạn chế tối đa chi xài lặt vặt không cần thiết để có tiền mua sách. Mua được cuốn nào là chúng tôi trao đổi, chuyền tay nhau đọc. Đôi khi còn tranh giành đọc trước đọc sau như tôm tươi không bằng.

Lúc này, “toàn dân nghe chăng sơn hà nguy biến” nên phong trào yêu nước bừng lên mãnh liệt, sục sôi khắp mọi nơi. Các tầng lớp công dân trẻ già trai gái hạ quyết tâm hy sinh, chung một lòng kháng chiến chống Pháp xâm lăng sau thế chiến thứ hai. Từ thành phố chí đến thôn làng hẻo lánh đều vang dội những bước quân hành. Những bản hùng ca đánh động lương tâm của Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ thời cách mạng tháng Tám vẫn còn âm hưởng quẩn quanh đâu đây.

Chiều chiều, ở những giờ giải trí, các anh lớn tụ tập hòa đàn những bản Thanh Niên Hành Khúc, Việt Nam Mến Yêu, Lên Đường, An Phú Đông... lôi cuốn, quến lũ chúng tôi bu quanh rất đông đảo. Rồi động lòng sanh hứng, chúng tôi cùng nhảy vào tham gia nhưng chỉ biết vỗ ghế đập bàn ầm ầm theo nhịp hát hồn nhiên muốn vỡ cả lồng ngực.

Thời đó, ở Sài Gòn, hầu hết báo chí thống nhứt hằng ngày đồng thanh lên tiếng tỏ rõ lập trường dứt khoát chống lại nhựt báo phân ly Phục Hưng của nhà báo Hiền Sĩ, người chủ trương đòi Nam Kỳ tự trị theo đúng sách lược của thực dân. Và cây bút móc lò nổi tiếng lúc bấy giờ ký dưới bút hiệu Nam Quốc Cang, tức ký giả Nguyễn Văn Sinh, trong mục "Trớ Trêu", ví von đã kích không nương tay những tên thực dân giàu sụ. Bọn này cố bám níu quyền lợi mong manh còn sót lại. Đặc biệt là nhóm "Tam B" chọc trời khuấy nước: Béziat, Bazé và Bonvicini.

Trong khi đó, các văn nghệ sĩ ở thành hầu hết đều hướng nhìn về phía chiến khu hoặc có thiện cảm với kháng chiến. Những đề tài sáng tác của họ xoáy quanh giai đoạn lịch sử ấy nhằm khích động bấu nhiệt huyết tuổi trẻ và lương tri độc giả, thúc giục họ đứng lên "chống xâm lăng", đấu tranh giành độc lập, tự do, dân chủ cho nước nhà. Về sau nhà phê bình văn học Nguyễn Văn Sâm gọi giai đoạn này là "Phong trào Văn chương Kháng chiến Nam Bộ".

Nhiều tựa tiểu thuyết đến nay vẫn in dấu sâu đậm trong trí nhớ tôi như Người Yêu Nước của Thẩm Thệ Hà, Nửa Bồ Xương Khô của Vũ Anh Khanh, Trên Đường Nhiệm Vụ, Những Tia Nắng Mới của Đặng Thị Thanh Phương, Kòn Trô, Sương Gió Biên Thùy của Lý Văn Sâm, Manh Áo Ngự Hàn, Người Chiến Binh Bạt Mệnh của Nguyễn Đạt Thịnh, Tình và Nghĩa Vụ, Lá Cờ Hồng Thập của Nhất Tâm, Bên Mồ, Hận Người Tử Sĩ của Hoàng Kim...

Ngao Châu dịch Đường Lên Cõi Bắc trong khi ký giả nhà văn Việt Quang đi xa hơn với Xin Đắp Mặt Tôi Mảnh Lụa Hồng. Lụa hồng ở đây có ý nghĩa gì? Chẳng qua là lá cờ đỏ của Cộng sản được tác giả tô vẽ phai nhạt bớt để qua mặt kiểm duyệt lúc bấy giờ.

Chưa kể những tác giả khác như Trần Thanh Mại (Ngô Vương Quyền), Dương Tử Giang (Duyên hay Nợ), Sơn Khanh (tức cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc trong chánh phủ Nguyễn Cao Kỳ), Liên Chớp, Bùi Nam Tử, Võ Hòa Khanh, Tô Nguyệt Đình... Tôi nghĩ rằng một số anh em chúng tôi đã thực sự chịu ảnh hưởng của những tiểu thuyết đấu tranh này, hầu hết do nhà xuất bản Tân Việt in ấn và phát hành rộng rãi ở thành phố.

Vì chịu một phần ảnh hưởng ấy nên một số không nhỏ thanh niên nặng lòng yêu nước đã từ bỏ thành phố hoa lệ đi vào chiến khu với ước mơ trong sáng đem đến chiến thắng vinh quang nhanh chóng cho dân tộc, cho tổ quốc. Nhưng thảm thương thay, đa phần đều vỡ mộng, không tìm được lối thoát.

Một số nhắm mắt buông xuôi theo định mệnh để bảo toàn mạng sống rồi từng bước bị lôi cuốn vào guồng máy hận thù chém giết, đấu tranh giai cấp của cộng sản để thân bại danh liệt về sau. Một số khác kiên cường bất khuất với tâm niệm hướng thượng, vì quê hương dân tộc, vì tổ quốc trên hết nên bị Việt minh Cộng sản thanh toán, bức tử giữa lúc tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống yêu đời.


Trường hợp nhà văn tên tuổi Vũ Anh Khanh là một điển hình đến nay vẫn chưa phai nhòa trong ký ức tập thể của toàn dân Miền Nam. Anh đã vượt tuyến và bị bộ đội biên phòng bắn chết nơi sông Bến Hải, xác bị bọn chúng dập vùi đâu đó bên bờ sông?
Duy chỉ một số may mắn hơn, vượt thoát được gọng kềm quá ư khắc nghiệt và tàn nhẫn của cộng sản. Họ bất chấp hiểm nguy, quyết tâm trở về vùng đất tự do và bị chúng với ác tâm cố hữu gán cho hai chữ Việt gian nhục nhã chỉ vì không chấp nhận chủ trương và đường lối độc tài đảng trị của chúng.


Khoảng năm 1958/59, tôi có giữ một chức vụ nho nhỏ trong guồng máy chánh quyền Đệ Nhứt Cộng Hòa và có cơ hội hướng dẫn một phái đoàn nhân viên đi khảo sát Côn Đảo. Tôi lưu lại đây tròn một tháng vì thời bấy giờ mỗi tháng chỉ có một chuyến tàu duy nhứt xuất phát từ Bến Bạch Đằng để tiếp tế cho đảo. Lúc này Thiếu tá Bạch Văn Bốn làm tỉnh trưởng Côn Sơn.


Tôi được dịp thăm viếng hầu như tất cả các trại giam, cả khám biệt lập mà một thời báo chí thiên tả trong nước cũng như giới truyền thông quốc tế ác ý đồng thanh gọi là “chuồng cọp” với những mô tả thiếu khách quan. Tôi cũng có thăm khám tử hình và nơi đây tôi có gặp nhà văn nhà chánh trị Hồ Hữu Tường, ký giả Văn Lang Trần Văn Ân, chủ nhân sáng lập báo Đời Mới nổi tiếng một thời, rồi những đàn em của tướng lưu vong Bình Xuyên Lê Văn Viễn như Tư Cốc, Tiểu Lý Quảng, Chín F.M v.v...


Một nỗi buồn dấy lên trong tôi lúc đó khi trông thấy một số khuôn mặt bạn bè chung lớp hoặc biết mặt biết tên trong những năm chung sống vui vẻ dưới mái trường Pétrus Ký đang trong vòng lao lý nơi các trại giam khổ sai, ngày ngày đi đốn củi hoặc lao động nặng. Tôi suy nghĩ có thể một số nào đó vẫn còn trung thành với giấc mơ không tưởng của chủ nghĩa Mác Lê-nin. Nhưng tuyệt đại đa số khó mà chọn lựa một lối thoát thân do sự kềm kẹp rúng ép của các chi bộ đảng nhà tù.


Thuở đó, chánh sách của chánh quyền Miền Nam là mở rộng vòng tay đón nhận những người phía bên kia thành tâm trở về với chính nghĩa quốc gia. Tỉnh trưởng Bạch Văn Bốn có tổ chức một khu riêng biệt cho những người hồi tâm hối cải này. Họ được tự do thoải mái, sống chung đụng nhau và nơi khu này tôi còn nhớ có cả quán xá bán đầy đủ cà phê, hủ tiếu, thuốc lá cùng những dụng cụ cần thiết v.v...


Có nhiều người ngày ngày được cho ra sinh hoạt ngoài phạm vi của khu và chỉ trở lại đây để ngủ đêm. Cho nên anh em tù nhân gọi khu này là “thiên đường” để đối lại với các trại khổ sai hay cấm cố là “địa ngục”. Chính nơi “địa ngục” này, biết bao thanh niên trong đó có không ít bè bạn đồng song của tôi đã vĩnh viễn từ giã cõi đời, mang xuống tuyền đài giấc mơ dang dở.


Trong giai đoạn đó, tôi có cơ may và cũng chắc do định mệnh sắp sẵng là rất say mê đọc các tác phẩm bất hủ về nông thôn đồng ruộng quê mùa của nhà văn đặc sệt Miền Nam, Phi Vân. Có lẽ do gốc gác tôi chân quê, sinh trưởng và lớn lên trên thửa ruộng vồng khoai, sông nước bát ngát, quanh năm bà con tôi cày sâu cuốc bẩm, gắn bó với lũy tre xóm làng nên dễ cảm thông và cảm nhận chăng?


Tác phẩm của Phi Vân không lớn lao đồ sộ, không như đối với các tiểu thuyết gia dấn thân đương thời. Ông chỉ trình làng suốt cuộc đời khá dài cầm bút của ông, dăm ba cuốn nhưng với ngần đó cũng đủ để tên tuổi ông sáng chói trên văn đàn bấy giờ.


Những cuốn Đồng Quê (Phóng sự), Tình Quê (Truyện dài), Cô Gái Quê (Truyện ngắn), Dân Quê (Truyện dài), trước đây tôi đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần. Và lần nào cũng đầy hứng khởi say mê. Và càng say mê hứng khởi hơn từ những ngày sống ly hương, xa quê hương cội nguồn.


Tôi say mê thích thú đọc Phi Vân ở những giờ "ê tuýt" ban đêm đã đành mà ngay ở giờ giấc được tự do giải trí nữa. Đôi khi tôi quên lững tiếng chuông reo báo hiệu chuẩn bị đi ăn cơm chiều. Hoặc lúc lên "đọt toa", khi bốn bề đã yên lặng, tôi vẫn liên tục lén đọc nốt chương sách lở dở dưới ánh đèn xanh xao, mờ mờ ảo ảo, vừa đủ để phân biệt từng chữ một.


Phi Vân đã gợi trong lòng tôi cảnh đồng quê tươi đẹp rất đặc thù của Miền Nam thuở thanh bình xa xưa, thời "tiền cách mạng", qua những tập hợp phóng sự sống động trong Đồng Quê. Có thể nói trong các tác phẩm của ông, tôi tâm đắc nhất quyển này.


Tác giả đã dùng ngòi bút tài tình linh hoạt, quyến rủ lôi cuốn tôi qua những sinh hoạt quen thuộc của đời sống hằng ngày nơi thôn dã, chất chứa tình tự và tình yêu. Bao nhiêu phong tục tập quán, lề lối hành xử tình nghĩa cân phân giữa nhau, bao nhiêu tín ngưỡng hun hút một thời đã được ông mô tả nổi bậc qua hình ảnh chân quê rất dễ thương của những thầy pháp, thầy bùa, của các đám hỏi, lễ cưới...


Rồi nào là câu hát huê tình trên sông rạch rẻ nhánh chia dòng, điệu hò đối đáp bắt trả quyện nhau tuyệt vời qua khúc quanh thời đại mang đầy tính chất thơ mộng lãng mạn như ca tài tử với giọng ngân nga não nuột theo tiếng đờn ai oán réo rắc... Đến những hiện tượng đặc biệt của thời đại ông nay không còn nghe nhắc nhở nữa để nhạt nhòa trong dĩ vãng như trộm cướp trên sông rạch, như bối có tổ chức v.v...


Bàng bạc qua những dòng chữ, những trang giấy vừa mới rọc cạnh lướt dưới mắt hằng đêm trước khi ngủ, tôi hân hoan bắt gặp những bong hình ngày xưa, những sinh hoạt năm cũ. Tôi nghe tâm hồn lâng lâng xao xuyến, rộn rả ngập tràn một tình cảm luyến lưu trên nền xanh tinh anh dịu dàng, mênh mong bất tận của quê hương mình. Một quê hương ngàn đời tươi đẹp. Một quê hương muôn thuở diễm tuyệt mà tôi vừa đành lòng rời bỏ trong tiếc nuối nhớ thương, khi phải dặt chân đến ngôi trường Pétrus Ký, tiếng tăm vào bậc nhứt Miền Nam.


Đối với tôi, qua tác phẩm Đồng Quê, Phi Vân quả đã thành công vẽ lên một cách truyền thần bức tranh xã hội đất Nam Kỳ Lục Tỉnh trước biến cố lịch sử 1945: mùa thu sơn hà nguy biến. Một bức họa đầy màu sắc thắm tươi với những đường nét điêu luyện độc đáo ấy từ lâu đã tan biến trong hun húc của dĩ vãng.


Nhưng điều quan trọng hơn hết đối với cá nhân tôi là Phi Vân đã gieo trong tôi những khúc chiết thắm thiết, những kỳ bí thôi thúc, những âm vang ngân nga của tình yêu quê hương chơn chất, đậm đà bất diệt. Vì lẽ đó, tôi xin đặc biệt có đôi dòng hoài niệm mà cũng để tạ ơn người cho trọn tình và phải đạo của một độc giả trung thành và của một bạn vong niên sau này.


Vốn là người rặc nòi Miền Nam, sanh quán ở cuối mũi quê hương, vùng Bặc Liêu/Cà Mau, thừa hưởng một truyền thống xuề xòa dễ dãi, cởi mở thứ tha, sống dung dị giản đơn, quý khách, chuộng bạn bè, quấn quít cột chặt vào đồng ruộng đất nước Miền Nam nên khi phải chỉ trích đả phá một số hủ tục nào đó, Phi Vân đắn đo nâng niu ngòi bút. Ông cân phân từng chữ từng câu, bài xích rất nhẹ nhàng, vừa chọn lựa đủ lời đủ ý, không dư không thiếu, vừa cợt đùa dí dỏm dễ thương.


Chính cái tính xây dựng, chung sống hài hòa giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên vạn vật, chính cái ý hướng trong sáng gieo rắt niềm vui thanh thản nơi những người chung quanh, khiến ông tin tưởng ở việc tốt điều lành trong tình yêu, trong việc xử thế có ta có người, biết mình biết người, có trước có sau. Do vậy, ông chọn dứt khoát một thái độ đứng đắn xuất phát từ tình yêu thương chân thật, mộc mạc tinh tuyền của người dân tiêu biểu vùng quê nghèo Miền Nam.


Ông có một vốn sống quá phong phú vì trong thời thanh xuân bay nhảy, tiếu ngạo giang hồ, đã từng lăn lóc nhiều ngõ ngách xóm thôn nơi vùng sông nước bạt ngàn của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh, nhứt là ở vùng cuối mũi quê hương, nơi chôn nhau cắt rún của ông. Từ đó, những kỷ niệm sống động được lắng đọng, chắt chiu trong sâu thẳm của trí nhớ để được ông sàng lọc, chọn lựa kỹ lưỡng, đúc kết thành những cốt truyện quyến rủ lôi cuốn.


Ngay trong các tác phẩm kế tiếp như Tình Quê, Dân Quê sáng tác trong thời kỳ kháng chiến với nhu cầu tâm lý bức bách đánh động lương tâm và lương tri con người, vực dậy lòng yêu nước của mọi công dân có trách nhiệm, ông đắn đo đề cập những tình tiết, trạng huống mới cho phù hợp với trào lưu sôi động lúc bấy giờ nhưng vẫn trung thành với những réo gọi, câu thúc nội tâm của thuở ban đầu. Ông vẫn lấy bối cảnh thôn quê hữu tình của Miền Nam làm khung để những trạng huống tình tiết ấy được triển khai và diễn tiến chan chứa tình người.


Tôi có cảm tưởng như ông có sẵn trong huyết quản mình duyên tình thắm thiết với đất đai làng xóm, với bản quán xã thôn, với hương đồng vị đất thoang thoảng không ngưng trên quê hương ông. Tôi cũng có cảm tưởng như ông có nợ nần níu kéo trói buột, keo sơn gắn bó với thôn xa xóm gần, với ruộng rẫy kinh mương, với những người khuất mày khuất mặt mà vong linh lãng đãng quanh quẩn đó đây. Cái duyên tình và nợ nần đó đã được ông thăng hoa trong các tác phẩm bất hủ của ông vậy.


Khác với một số lớn cây viết đồng thời với ông trong thời kỳ dầu sôi lửa bỏng sau bao nhiêu thập niên dài bị đô hộ vừa tiếp cận cao trào quật khởi đấu tranh, đường lối sáng tác của ông không vượt ngoài những nét sâu đậm của cá tính Miền Nam. Những cá tính truyền thống nơi thôn quê căn đày kiếp đọa nhưng chân chất thật thà, thực tế như củ khoai hòn đất, như con cá con cua, không vọng tưởng mơ mơ hồ hồ xa vời, không mù quáng quá khích nông nổi.


Tôi vẫn tin rằng trong ý hướng, ông đả kích để xây dựng. Ông chỉ trích để hợp tác. Ông đề xuất góp ý để cuộc sống chung thêm hài hòa dễ chịu hơn.
Nếu như ông có đặt thành vấn đề về "sự chuyển mình" của nông dân trong thời kỳ bị điền chủ phú hào và giới chức quyền địa phương toa rập cậy thế, đàn áp bóc lột, bức bách những người thế cô ngắn cổ, ông cũng cố gắng bóp méo thành tròn, giảm thiểu những gốc cạnh dị biệt. Ông nuôi dưỡng ý hướng xóa lấp bớt lằn ranh ngăn cách giữa người giàu kẻ nghèo, giảm thiểu cái hố phân chia giữa chức dịch hội tề và người dân bình thường.


Tôi không biết mình có chủ quan trong nhận xét hay không? Nhưng công bằng mà nói, ông lấy sự rộng lượng bao dung, hỉ xả thứ tha làm khuôn vàng thước ngọc nhằm tạo cảm thông hiểu biết giữa nhau. Ông đề xướng cổ võ sự đoàn kết cần thiết trong tinh thần trong sáng có trách nhiệm, có tình thương, rốt ráo trong hai chữ "tình người".


Cái hay và cái nét đặc thù của Phi Vân theo tôi là ở chỗ đó.

Ở chỗ tiếp nối truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc Việt Nam, lấy tình nghĩa thủy chung, lấy cảm thông nhân hậu xóa bỏ tranh chấp hận thù giai cấp.


Ở chỗ ông không chủ trương cuồng tính loại trừ hoặc tận diệt một ai hay một giai từng nào trong xã hội trên cái chéo quê hương thơ mộng mỹ miều của ông. Nơi này tình nghĩa bà con, lâng bang lối xóm cột chặt vào nhau như cá với nước, không thể tách rời được. Cũng tại nơi này, ông ao ước mỗi người trên mảnh đất chung đụng hiền hòa ấy đều có một chỗ đứng trang trọng, xứng đáng. Mỗi người có bổn phận đồng hành, vui vẻ góp bàn tay cần cù lam lũ để tích cực đem mồ hôi công sức xây dựng hạnh phúc của tập thể, của cộng đồng.


Ở chỗ ông không thiển cận, không câu nệ, không hề hẹp hòi đào sâu thêm hố chia rẻ giữa nhau, làm suy yếu tiềm năng sản xuất, phục vụ cộng đồng, phục vụ nhân sinh. Ông tránh làm vấy bẩn màu xanh tươi thắm và dịu dàng của quê hương ông.


Nếu ông có đề cập đến "sự trổi dậy" tất nhiên của từng lớp người kham khổ bất hạnh, suốt đời bám đất bám làng, sống dung dị với chéo mạ vuông vườn để lập nghiệp tiến thân, nếu ông có đề cập đến những xung đột giữa chủ và tá điền nhưng vẫn không đến nổi quyết liệt phải loại trừ, khống chế, tận diệt nhau. Vì lẽ đó, sau ngày cộng sản hiếu chiến miền Bắc đã cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam bằng súng đạn hận thù, chúng đã không nương tay, từng phát biểu rất nghiêm khắc khi phê bình những tác phẩm một thời vang danh của Phi Vân.


Bọn “đỉnh cao trí tuệ” có “ba tăng” của đảng cho rằng tác giả Phi Vân đề cập "sự trổi dậy" đó của nông dân trong Liên Minh Công Nông, từng bị bốc lột tận xương tủy một cách đột phá, bọc phát. Việc mà cộng sản, vốn có manh tâm và ý đồ cướp công cướp của của người khác, không thể nào và không bao giờ chấp nhận và tha thứ được.


Vì tác giả không hề nói đến hoặc cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo "thần thánh", “bách chiến bách thắng” của Đảng Lao Động, thối thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lý do biện giải của chúng là trước đó, Đảng cộng sản đã được thành lập từ lâu (1930) và đã thực sự lãnh đạo mọi cuộc đấu tranh trên toàn quốc (sic).


Theo họ, nơi Phi Vân có sự nhân nhượng trầm trọng. Ngòi bút của Phi Vân cố tình ngừng lại ở quan điểm “tạch tạch xè” cố hữu của tuổi thanh xuân chập choạng thiếu lãnh đạo. Tác giả thiếu hẳn lập trường giai cấp dứt khoát cùng chiến đấu tính cương trì.


Và sự đấu tranh trổi dậy của nông dân đất Nam Kỳ Lục Tỉnh theo tầm nhìn của Phi Vân thiếu hẳn tính chất hận thù thâm căn cố đế, thiếu hẳn thái độ sắt máu quyết liệt như của những năm đấu tố dã man cường hào ác bá, địa chủ phú nông trong chiến dịch cải cách ruộng đất dã man, đẫm máu và nước mắt ở Miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tức thời kỳ chuẩn bị phát động chiến dịch Điện Biên Phủ.


Tôi nghĩ điều này, tác giả không bao giờ và chẳng bao giờ nghĩ đến trong quá trình xây dựng và sáng tác. Lý do nó đi ngược lại cảm thức và nguyện vọng trong sáng của dân tộc. Nó đi ngược với lương tâm và sứ mạng cao cả của người cầm bút chân chính.


Phi Vân đã nhắc nhớ tình yêu thôn làng bất diệt để bám rễ ăn sâu vào tình cảm và tâm khảm tôi trải dài từ bao nhiêu thập niên qua. Quê hương ngàn đời dấu yêu. Quê hương bao dung chan chứa tình người. Quê hương trường tồn. Quê hương trên hết.


Một tình cờ đến với tôi. Vì tôi không hề ước mơ mà đã thành sự thật. Từ sự kính trọng và ngưỡng mộ thuở thiếu thời đối với tác giả, hai mươi mấy năm sau, tôi có dịp chủ trương một nhà


xuất bản nho nhỏ thuộc loại cò con, có tính cách thủ công gia đình, đẩy đưa tôi gặp tác giả tại tòa soạn nhật báo Cấp Tiến. Tờ báo của hai cố giáo sư khả kính Nguyễn Văn Bông và Nguyễn Ngọc Huy, cơ quan ngôn luận chánh thức của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến. Nơi này, ông làm việc phụ trách trang nhứt.


Trong giới truyền thông báo chí chuyên nghiệp ở Miền Nam tự do, ông được đồng nghiệp đánh giá là một trong hàng ký giả cao thủ thuộc lớp đàn anh già giặn kinh nghiệm. Ông có tài chọn tin và "đi tít" đập mạnh ngay vào nhãn quan của độc giả. Họ so sánh ông ngang hàng với những bậc làm báo vang danh đã làm nên một thời như: Nguyễn Kỳ Nam, Trần Tấn Quốc, Nguyễn Duy Hinh, Việt Quang, Nguyễn Kiên Giang... nếu chỉ kể những người cầm bút gốc gác Miền Nam như ông.


Nhật báo Cấp Tiến vốn thối thân của nhật báo Bình Minh của ông bầu vui tánh Võ Văn Ứng, bút hiệu Võ Bình Sơn, chủ nhân nhà hàng Nam Đô ở gốc đường Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Thái Học. Các bạn ghiền bóng tròn trước năm 1975 không thể nào quên được hình ảnh bệ vệ của vị Chủ Tịch Tổng Cuộc Bóng Tròn Nam Việt quý mến và hào sãng ấy trên khán đài danh dự, mỗi khi có những cuộc tranh tài quan trọng hay quốc tế ở sân cỏ Vườn Ông Thượng hay Vận động trường Cộng Hòa sau này.


Không dè lần gặp gỡ tình cờ đó lại là khởi điểm cho một đoạn đường dài hợp tác giữa hai anh em chúng tôi. Chính tôi đã mấy lần trang trọng in lại quyển Đồng Quê, một tác phẩm đạt nhiều cảm tình và thương mến của độc giả trong nước trước ngày Miền Nam bị bức tử. Vì sách được liên tiếp tái bản trước sau hơn mười lần nếu tôi không lầm.


Mấy năm trước đây, tôi có thấy tái bản ở Hoa Kỳ, bày bán khắp nơi ở hải ngoại. Và gần đây, do sự đòi hỏi và khát khao chánh đáng của độc giả trong nước luôn luôn hướng về căn cơ cội nguồn, cộng sản phải cho tái bản qua khuôn khổ bỏ túi.


Từ dạo đó, giữa tôi và Phi Vân có mối giao tình đậm đà kéo dài đến khi tôi vượt biên ngày 5 tháng 6 năm 1979. Và anh cũng đã từ trần vào những năm sôi động đó trong hoàn cảnh cực kỳ bi ai trầm thống.


Thuở ấy, cái thuở “ngăn sông cách chợ”, “thắt lưng buột bụng” đến xác xơ rã rời thể xác lẫn tinh thần, người dân bị khống chế trong những biện pháp hận thù giai cấp, nào là chiến dịch đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, văn hóa đồi trụy, truy quét đưa đi kinh tế mới v.v... mọi di chuyển xê dịch đêm ngày bị kiểm soát, phép tắc khắc nghiệt đến nghẹt thở. Tôi được bạn bè cho biết khá muộn màng anh đi thăm người con vốn là sĩ quan chế độ cũ bị Việt cộng tập trung cải tạo. Vì chứng kiến tận mắt, thấy con mình tiều tụy đói trơ xương nơi trại tù man rợ chưa từng thấy trong lịch sử dựng nước và giữ nước, anh quá đỗi xúc động chán chường và qua đời không lâu sau đó.


Tôi đoán biết có lẽ do hậu quả nguy hại của chứng áp huyết cao mà anh đã mắc phải từ lâu lắm rồi. Vì trong đôi lần gặp gỡ nhau, anh có tâm tình với tôi: nhiều khi áp huyết lên quá cao, gia đình phải buột tay buột chân anh vào thành giường để anh nằm yên bất động. Tôi không dám tìm hiểu thêm lý do gì hay nguyên nhân nào đưa đến sự ra đi vĩnh viễn của anh để thêm ngậm ngùi đau đớn trong lòng. Dẫu sao, sự mất mát đáng tiếc này đã là sự thực rồi.


Hơn nữa, cũng vì lúc ấy tôi không còn tinh thần nào để tiếp thu và phán đoán những lời đồn đãi ấy. Tôi chỉ tha thiết mong muốn sau này bạn bè thân cận đã từng chứng kiến hay thân nhân anh sẽ làm sáng tỏ thêm. Nhưng tôi thiết nghĩ cho dù có làm sáng tỏ hay không, sự ra đi của anh trong thời điểm thương đau tột cùng ấy vẫn là một mất mát lớn lao không xóa lấp được của nền văn chương học thuật và của báo chí truyền thông Miền Nam. Do ở tuổi anh, anh vẫn còn thừa công sức và nhứt là tâm trí minh mẩn để dùng ngòi viết trân quý của mình tiếp tục phục vụ đồng bào, phục vụ nhân sinh.


Làm sao tôi quên được hình ảnh người anh lớn dễ thương dễ mến ấy. Làm sao những kỷ niệm giữa anh và tôi lại có thể nhạt nhòa nhanh chóng trong tâm khảm tôi được?
Sau ngày quốc nạn tháng Tư Đen, anh vẫn trung thành khắn khít với chiếc vespa ọp ẹp màu xanh dương nhạt để làm phương tiện di chuyển đó đây trong thành phố thay tên đổi đời, đã bắt đầu có những triệu chứng nghiệt ngã, trả thù tập thể. Anh thường hay đến thăm chúng tôi tâm tình về những đổi thay của trò đời đen bạc.


Mỗi lần đến nhà tôi, anh có thói quen hỏi vợ chồng tôi:
- Sao chị?
- Sao anh?
Chỉ đôi lời ngắn gọn rồi anh giữ im lặng một hồi lâu. Nhưng tôi nhìn nụ cười chua chát nơi gương mặt uể oải bơ phờ, không còn sức sống thuở nào, đoán biết không sai niềm thất vọng chua cay nơi anh, qua cuộc đổi đời tai hại quá trầm trọng này và nhứt là qua sự lo âu sâu lắng của cuộc sống tương lai.

Trong câu chuyện giữa nhau, thỉnh thoảng anh buông ra những tiếng thở dài cay đắng, những nức nở hoàn toàn bế tắc. Trái với những lần gặp gỡ trước thảm họa tháng Tư, những câu chuyện về văn chương chữ nghĩa, về thông tin báo chí, những toan tính về in ấn xuất bản, rồi những quan hệ giữa bạn bè kẻ mất người còn, không bao giờ được anh có can đảm đề cập đến nữa. Trong âm thầm mãi mãi gậm nhấm đay nghiếm và trong niềm đau uất hận riêng rẻ của mỗi người, chúng tôi mặc nhiên ý thức rằng cái quyền tự do sinh sống cho đáng mặt người, cái quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do phát biểu, tự do báo chí... những thứ tự do trân quý ấy đã bị bọn độc tài độc đoán tước đoạt trong thể chế lãnh đạo xích hóa tư tưởng phục vụ chế độ.


Vô hình trung, chúng tôi xem như bị bắt buộc tự mình làm lễ an táng không kèn không trống nhằm tiễn đưa để chôn vùi từ đây tất cả các thứ tự do mà mình đã được thừa hưởng trong thể chế Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi xem như đã vĩnh viễn tiễn đưa nó dưới nấm mồ của độc quyền độc tôn xã hội chủ nghĩa.


Lúc này quán cơm bình dân thường được đồng bào gọi là quán cơm xã hội của vợ chồng anh ở đường Triệu Đà trong Chợ Lớn đã bị "dẹp tiệm" từ lâu. Quán cơm này do anh lập ra và giao cho chị hoàn toàn trông nom từ những năm tháng trước 1975. Mục đích duy nhất nhằm giúp giới nghèo khó ở Đô Thành, đa số là những phu xe xích lô, xe ba bánh cùng nhân công các hảng xưởng lân cận và ngay cả sinh viên lận đận có bữa cơm trưa và chiều với giá phải chăng, vừa với túi tiền của họ. Bây giờ tìm đâu mỗi ngày mấy bao chỉ xanh gạo khi chánh sách “ngăn sông cách chợ” của cộng sản được ban hành và được kiểm tra chặt chẽ ngặc nghèo.


Anh quá đổi thất vọng. Nhưng sự thất vọng của anh được nhân lên gấp bội khi anh cộng thêm cái quyền cầm bút chuyên nghiệp bị tước đoạt, bị cấm đoán trong khi anh hoài công xuôi ngược giữa lòng thành phố đổi họ thay tên, mong tìm một phương kế sinh nhai trong tiếng thở dài. Lúc này quả thật đời sống của anh vất vả lắm. Chứng bệnh áp huyết cao không được theo dỏi thuốc men thường xuyên và đầy đủ do phần tài chánh eo hẹp đã đành mà còn vì loại thuốc này đắc giá lại khan hiếm dần.


Một nỗi buồn nằng nặng ám ảnh tôi luôn. Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 làm tiêu tan bao Nhiêu chương trình dự định mà chúng tôi ấp ủ cưu mang từ nhiều tháng trước và đang trên đà hoàn tất. Đó là bộ "Phi Vân Toàn Tập" gồm những tác phẩm chính vừa kể trên như Đồng Quê, Dân Quê, Tình Quê, Cô Gái Quê cùng một số bài viết chọn lọc như truyện ngắn, tùy bút, tạp ký, chuyện vừa v.v... mà ít người biết đến do tác giả ký dưới nhiều bút hiệu khác nhau.


Tôi đã chuẩn bị chu đáo xong một bản tiểu sử của anh Phi Vân khá đầy đủ và chính xác. Bản tiểu sử này đã được chính anh thận trọng duyệt kỹ lưỡng, thêm thắt bổ sung với những chi tiết về thân thế cũng như về sự nghiệp mà đến nay xem như chưa hề được công bố. Thêm vào đó còn có hình ảnh cá nhân qua nhiều thời kỳ và những ảnh lưu niệm gia đình phong phú. Nhưng tất cả đều bị thiêu hủy cùng chung số phận với nhiều bản thảo giá trị của các tác giả khác trong những chiến dịch đánh tư sản mại bản, kiểm kê tài sản và "chống văn hóa đồi trụy" dồn dập của cộng sản nơi thành Hồ.


Những bản thảo văn thơ và nghiên cứu giá trị của cụ Thuần Phong, của giáo sư Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy, của nhà biên khảo sử học Nguyễn Văn Xuân, của các cụ Vương Hồng Sển, thi sĩ Quách Tấn xứ Trầm Hương, sử gia kiêm giáo sư thỉnh giảng ban Sử thuộc Đại học Văn Khoa Sài Gòn, cụ Lê Thọ Xuân qua tác phẩm đồ sộ về địa danh Miền Nam, nhà văn Nguyễn Hiến Lê, học giả Bùi Đức Tịnh, giáo sư Nguyễn Văn Hầu của Viện Đại Học Hòa Hảo... đều chung số phận bị thiêu hủy phũ phàng trong cơn lốc của ngọn lửa bạo tàn hận thù giai cấp.


Tôi quên ghi chú thêm là anh Phi Vân còn là tác giả quyển "Nhà Quê Trong Khói Lửa" viết trong khi anh tham gia kháng chiến những năm đầu thời Nam Bộ chống xâm lăng. Theo anh kể thì quyển này đã được giải thưởng văn học ở chiến khu do ông Hoàng Xuân Nhị làm Chủ tịch Ban Chấm giải. Tuy nhiên từ dạo ấy đến nay, hơn nửa thế kỷ qua, tôi chưa từng thấy phổ biến tập sách này, ngay cả tựa sách, cho dù sau ngày Miền Nam bị cưỡng chiếm.


Anh còn cho biết thêm anh cũng là tác giả hai tiểu thuyết dài đã được đăng hằng ngày trên các nhật báo ở Sài Gòn thuở anh vừa bước chân chập chững vào chốn văn chương báo chí. Nhưng anh cố công tìm kiếm mãi, chẳng bao giờ được mãn nguyện. Hoặc giả anh không toại nguyện lắm về những tiểu thuyết này so với các tập truyện đã được trình làng chăng?


Anh tên thật là Lâm Thế Nhơn, sanh năm 1917 tại Cà Mau thuộc tỉnh An Xuyên trong một gia đình trung lưu. Là nhà văn nhà báo chuyên nghiệp, anh cộng tác với nhiều tạp chí văn học và nhứt là nhựt báo quan trọng như Tiếng Chuông, Dân Chúng, Tiếng Dân, Thủ Đô Thời Báo, Bình Minh, Cấp Tiến... Anh mất tại Sài Gòn vào ngày 11 tháng 1 năm 1977 theo tài liệu của nhà biên khảo Nguyễn Thiên Thụ trong Văn Học Sử Việt Nam - Văn Học Hiện Đại, tập IV do Gia Hội xuất bản ở Canada năm 2006.


Có một sự trùng hợp lý thú về danh tánh giữa anh với một nhà văn nổi tiếng khác là Đoàn Thế Nhơn. Nhà văn này hiện định cư ở Mỹ. Anh Đoàn Thế Nhơn chẳng ai khác hơn là nhà văn lớn Võ Phiến, một cây đại thụ trong chốn văn chương chữ nghĩa trong nước trước đây và ở hải ngoại sau này.


Một sự ngẩu nhiên là hai nhà văn tên tuổi cùng tên thật là Thế Nhơn. Một người là Lâm Thế Nhơn lấy bút hiệu là Phi Vân tức "Mây Bay", đã ra đi về cõi vĩnh hằng. Một người là Đoàn Thế Nhơn với bút hiệu Võ Phiến, đảo ngược lại là "Viễn Phố" báo trước một giai đoạn lưu đày xa xôi cuối đời! Giống như trường hợp của lãnh tụ Bình Xuyên Lê Văn Viễn, vì mang tên Viễn nên bỏ thây nơi đất lạ quê người.


Nhớ Phi Vân, nếu tôi thiếu sót không nói thêm Phi Vân không phải là lý thuyết gia chỉ lối dẫn đường hay một nhà văn dấn thân xu thời thế. Anh không phải là một cây viết bị ràng buộc trong khuôn khổ gò bó theo một mẫu mực qui định. Anh không sáng tác theo đơn đặt hàng dưới sự chỉ đạo như những tác giả dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.


Tác giả Đồng Quê, Dân Quê... không có tham vọng dẫn dắt dư luận thế hệ mình phải làm gì và xã hội thời mình hướng về đâu theo một chủ thuyết cố đỉnh nào đó. Nếu anh có xu hướng cổ vũ một tập thể nhỏ bé nơi thôn làng quê mùa hẻo lánh trổi dậy chống lại những bất công áp bức đương nhiên phải có, dù ở bất cứ xã hội nào hay thời đại nào, tôi nghĩ đó chỉ là một phản ứng của lương tâm, một khắc khoải trong thời điểm nhất định mà thôi.


Vì anh không thể dửng dưng trước nghịch cảnh bất công. Vì anh không thể dưng dửng trước những thay đổi trong nước, đặc biệt là ở nông thôn xa xôi mà sức mạnh đồng tiền và quyền thế lấn át tất cả.
Anh chỉ là một họa sĩ phác vẽ bức tranh quê để qua màu sắc thắm tươi độc đáo, đường nét đậm đà quyến rủ, người xem có một ý niệm khá chính xác về xã hội thời đó. Anh cố gắng ghi lại một cách trung thực để lưu hậu thế khung cảnh quê hương nay không còn nữa, những tình tiết trạng huống về phong tục tập quán, về mê tín dị đoan, về hội hè đình đám, những cái đó qua ngôn ngữ đặc thù địa phương đất Nam Kỳ Lục Tỉnh đã mất húc trong dĩ vãng.


Đúng như anh viết trong lời tác giả tập sách Đồng Quê:
“Hình ảnh những nhân vật trong chuyện - những người đã cùng tôi sống chung – ngày nay đã mờ trong ký ức “Kể lại một quãng đời phải chăng là sống lại với ngày qua? Có lẽ thế. Nhưng tôi muốn xa hơn: vẽ một bức tranh phong tục và tập quán.
“Thật là quá cao vọng !»


Nhưng tất cả những cái không còn đó, những cái mất mát đó phối hợp nhuần nhuyễn với nhau tạo nên kho tàng văn chương Nam Kỳ Lục Tình vô giá. Nó giúp rất nhiều cho những nhà nghiên cứu về nhân chủng học và xã hội học Việt Nam về sau.


Nhắc nhớ, thăng hoa hồn đất, hồn người lãng đãng trong hồn thiêng sông núi, khơi dậy thời quá khứ xa xôi với ước mơ tìm về cảnh địa, thổ địa, tìm về sinh hoạt truyền thống dằng dặt ẩn hiện bao nhiêu phong tục tập quán xưa, tôi nghĩ Phi Vân không hề thụ động. Anh không ngừng lại ở hiện tại.


Trái lại, tác giả tích cực hướng ngòi bút mình thực sự trở về với căn cơ, gốc tích, cội nguồn. Tôi có thể nói một cách trang trọng là Phi Vân quả đã đóng góp và đã thành công làm sáng danh vùng đất chôn nhau cắt rún của anh. Anh đã tích cực giúp khám phá trở lại nhân diện và giá trị đích thực của nó, bàng bạc trong tinh anh tú chất của dòng giống Rồng Tiên muôn đời muôn thuở vậy.


Nền văn hóa nông thôn đồng ruộng bề ngoài tưởng như thô sơ tầm thường, không tinh không nhả. Nhưng những nhà quan sát nghiêm túc trên thế giới chú tâm nghiên cứu và phát hiện nhiều khía cạnh đa dạng, vừa sắc sảo tinh tuyền, vừa uyển khúc thâm sâu.


Những thánh truyện, truyện thần tiên, truyện hoang đường, truyền kỳ, chuyện đời xưa, chuyện giải buồn, chuyện châm biếm, những chuyện kể dân gian nói chung, gói ghém, hàm chứa những phong tục tập quán, những suy nghĩ, những ước vọng thiết tha của một nhóm người vào một thời điểm nhứt định nào đó v.v... Tất cả kết hợp nhau nhằm bảo tồn và phát huy ngày thêm phong phú ký ức và kỷ niệm tập thể của một vùng đất.


Trong chiều hướng đó, Phi Vân đến rất gần với nhận xét của thi sĩ Patrice de la Tour du Pin của Pháp. Ông sinh ở thủ đô Paris năm 1911, được giới văn gia thi sĩ biết tới qua bài thơ "Les Enfants de Septembre" ấn hành năm 1931 lúc vừa mới hai mươi mốt tuổi. Hai năm sau, ông in thi tập "La Quête de Joie" và sau thế chiến thứ hai, ông lại in tiếp tác phẩm "Une Somme De Poésie" (1946).


Chính trong bài "Dẫn Nhập" thi tập sau cùng này, ông có viết:
"Tous les pays qui n'ont pas de légende
"Seront condamnés à mourrir...".

Do ám ảnh này, nhiều nhà văn trên khắp thế giới đã suy tư gắn bó, cột chặt sự nghiệp văn chương của mình vào ký ức tập thể đó. Những trường hợp điển hình không sao kể xiết và được giới hậu sanh nhắc nhớ luôn.


Miền Nam, sau lớp các nhà văn một thời chói sáng trên văn đàn như cụ Hồ Biểu Chánh (Hồ Văn Trung), nhà văn nhà báo Phi Vân Lâm Thế Nhơn, nhà chơi đồ cổ Vương Hồng Sển, nhà biên khảo đất Nam Kỳ Nguyễn Văn Hầu v.v... phải kể đến Sơn Nam Nguyễn Minh Tây, người đã có công đưa sông nước đồng quê Miền Nam lên đỉnh cao của nghệ thuật qua các tác phẩm nổi danh như Hương Rừng Cà Mau, Vọc Nước Giỡn Trăng, Tìm Hiểu Đất Hậu Giang, Văn Minh Miệt Vườn... và gần đây Một Mảnh Tình Riêng, đầy màu sắc địa phương, đặc thù về cảnh thổ và tình người.


Ngay ở Âu Mỹ và ngay ở thời đại tân tiến hiện tại, không thiếu gì tác giả đã giành cả một đời để ghi lại những gì đã mất nơi quê hương họ. Và đây chính là những công trình thầm lặng đóng góp vào bước tiến vững vàng trong sáng của mỗi quốc gia và của cả nhân loại.


**


Những giòng hoài niệm nào đều cũng như nhau, phảng phất chất chứa một nỗi buồn riêng. Đôi khi chỉ mình ta cảm nhận.
Nỗi buồn tưởng tiếc những người đã để lại nơi lòng mình bao nhiêu nghĩa tình, trong từng nỗi buồn vui do cuộc sống vô tình đẩy đưa tới tấp đến chóng mặt.


Nỗi buồn hồi nhớ để cố gắng vẽ lại trung thực chân dung những người đã trực tiếp tham gia đóng góp, chia xẻ với mình những thôi thúc cô đơn chán chường, những thăng trầm vinh nhục đã qua, hòa lẫn với nỗi trầm thống tận cùng và niềm hãnh diện tự hào chung của dân tộc.


Nỗi buồn bùi ngùi đứng trước thực tế phũ phàng của ngày hôm qua và của hiện tại, những khuôn mặt thân thương hay quen biết ít nhiều đã đi qua đời mình, kẻ trước người sau đều từ giã cuộc đời, từ giã cuộc chơi nhân thế để miên viễn đi vào vùng thiên thu siêu thoát. Như những tuyến sông lạch nước rải rác khắp đó đây đến những khúc quanh rẽ nhánh chia dòng bớt đi lưu lượng nguồn nước.


Tuổi trẻ của tôi mới đó với khung cảnh đầm ấm của ngôi trường Pétrus Ký nguy nga tráng lệ bậc nhứt Miền Nam, nơi có những dãy lầu nội trú hai tầng kiên cố thách thức gió sương, với những thầy cô hy sinh tận tụy, một lòng một dạ chăm lo dìu dắt thế hệ mới tấn lên của chúng tôi… những khung cảnh đầm ấm đó không mấy chốc bay vèo theo năm tháng.


Nay tóc muối tiêu, tuổi xế chiều, chân mỏi gối dùng, trong thầm lặng ngoái nhìn lại những chặn đường đã qua mà nghe lòng thêm xao xuyến nghẹn ngào. Lòng càng dằng dặt bao đắng cay tủi nhục liên tiếp bủa vây từng bước trong kiếp sống lưu vong.
Nếu trong đời, nhiều lúc đối diện với chính mình, tôi từng cám ơn Cha tôi đã ban cho tôi mảnh hình hài không thô không lịch nhưng tràn đầy sức sống và âm thầm mặc nhiên đã mớm thêm cho tôi ý nghĩa cuộc sống để hăm hở hy vọng chào đón tương lai.


Nếu tôi đã từng hoen tròng lặng lẽ cám ơn Mẹ tôi đã khổ cực cưu mang ban cho tôi hơi thở đầu đời và tiếp tục hy sinh, chắt chiu săn sóc, dưỡng nuôi tôi qua dòng sữa thương yêu trắng ngần, tinh tuyền thanh khiết.


Thì hôm nay, một mình lặng lẽ ngồi đối diện với chính mình dưới ngọn đèn bàn giấy không được sáng tỏ, tâm thần lắng đọng trong vắng vẻ quạnh hiu, tôi cũng xin cám ơn Trường xưa Thầy cũ, cám ơn bạn bè trang lức thuở tuổi hồn nhiên mộng mơ. Những tâm hồn trong trắng, cửa lòng luôn rộng mở này, đã tuần tự mang đến tôi bao nguồn vui tuổi trẻ, rộn rả tiếng cười yêu đời, từ ấy mãi đến bây giờ.


Tôi cũng xin cám ơn các văn nhân thi sĩ đã có dịp góp mặt trong cuộc sống và cuộc đời tôi để qua lời văn tim óc, qua ngôn ngữ của thi ca, qua lời hay ý đẹp đã vĩnh viễn cột chặt tâm hồn tôi vào dải đất Quê Hương mến yêu và duy nhứt này của tôi.


Tôi cũng xin đặc biệt cám ơn anh Phi Vân, người trước tiên giúp tôi thấm thía nét đẹp tuyệt vời của bản quán xóm làng, của nông thôn đồng ruộng, thơm nồng mùi rơm hương rạ. Anh cũng giúp tôi được dịp thấm đẫm tình cảm tinh ròng đối với nơi chôn nhau cắt rún cố thổ. Nơi mà mỗi con người tôi gặp gỡ lan man đâu đó trên bờ ao kinh rạch, bên liếp mía vồng khoai luống mì, ven đường mòn quanh co uốn éo tận chân trời xa thẳm... cứ vừa là lạ nhưng lại vừa quen quen. Tựa hồ như tôi đã năm lần bảy lượt đối diện chuyện trò, tựa hồ như tôi đã bao phen tâm tình thân mật trước đây lâu rồi.


Tôi lại trở về lặng lẽ, nhớ quê hương, lòng ray rứt trong cái khoảng trống không hiện tại của cuộc đời lưu lạc. Nhưng cũng may, niềm đau ray rứt ấy đôi khi mang đến tôi một chút an ủi vỗ về, thoáng ẩn thoáng hiện, đã có ma lực xoa dịu phần nào tâm tư tình cảm tôi.


Mới hay sự gắn bó với làng quê thôn xóm, bà con láng giềng, tha thiết với mỗi bến sông vàm nước, eo vịnh kinh mương, mỗi ánh nắng sớm chói chang lung linh huyền diệu, mỗi ngọn gió chiều hiu hiu se lạnh, từ chiếc lá khô úa vàng nằm im thin thít trên mặt nước ao bèo đến con cá lìm kìm thon thon nhỏ nhắn se sẽ ve vẫy đuôi làm chao động ngọn cỏ non, từ cây xoài cà lăm tróc gốc oằn nhánh say trái chua lè đến ngôi nhà từ đường xưa với nhiều thế hệ tiếp nối dóc tâm xây dựng, bất chợt tôi mang máng nhớ, tôi mang máng thấy đâu đây... phảng phất hồn đất, hồn người hòa cùng nhịp điệu của muôn tiếng reo vui của thiên nhiên, của lịch sử. Thật là linh diệu biết dường nào!


Nơi đây tôi xin ghi lại những vần thơ tôi viết cách đây hơn mười lăm năm nhưng nay trong hoàn cảnh hoài niệm nhớ nhung vẫn thấy thích hợp để tạm nói lên phần nào một chút ngậm ngùi thổn thức, một chút sắt son gắn bó đối với đất nước quê hương nơi xứ lạ quê người.


Lòng Vẫn Vương Mang

Không Xuân trang điểm xác pháo hồng,
Không mai vàng thắm trải non sông,
Không câu đối đỏ rồng phượng múa
Lòng vẫn vương mang nỗi nhớ nhung.
Không cau thiu ngủ cạnh sân đình
Không ngọn mưa rào đất nước xinh,
Không tiếng bịp kêu bờ bến vắng,
Lòng vẫn vương mang một khối tình.
Không cánh cò xa điểm trắng cành,
Không hàng dừa lửa ngắm sông xanh,
Không bóng thuyền câu soi trăng bạc
Lòng vẫn vương mang giấc mộng lành.
Không ga hoang vắng rít tàu chiều,
Không khói hoàng hôn mái tranh xiêu,
Không người viễn khách ôm trăng hận,
Lòng vẫn vương mang kiếp hẩm hiu.
Không áo thướt tha ngọn gió đùa,
Không cầu lắt lẻo bắt mương xưa,
Không bến quạnh hiu đò lỡ chuyến,
Lòng vẫn vương mang giọt lệ thừa.
Bềnh bồng biển Thái chiếc thuyền con,
Ly hương phiêu bạt mấy xuân tròn,
Kinh hoàng đeo đẳng đau trang sử,
Lòng vẫn vương mang chút sắt son.

                                                                                                                Võ Phước Hiếu

 

Trich 
VÕ PHƯƠC HIẾU-HIẾU ĐỆ * NGÀN SAO LẤP LÁNH

 

No comments: